Top 7 # Chức Năng Cơ Bản Của Insulin Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Insulin Là Gì ? Cơ Chế Tác Dụng Của Insulin

Insulin là gì ?

Cơ chế hoạt động của insulin

Truyền thuyết về insulin

Insulin có khiến chúng ta bị béo phì ?

Insulin có phải là yếu tố duy nhất gây tích mỡ ?

Protein có làm tăng insulin ?

Insulin có kích thích cơn đói ?

Insulin có giúp xây dựng cơ bắp ?

Trên môi trường internet, một số “chiên da fitness” thường cấm khách hàng hoặc người hâm mộ ăn tinh bột. Các “chiên da fitness” này cho rằng, việc ăn tinh bột sẽ khiến chúng ta bị béo phì.

Hoặc thậm chí là gây ra bệnh tiểu đường loại 2. Vậy chính xác thì insulin là gì ? Và chúng có tác dụng như thế nào trong cơ thể của chúng ta ? Liệu insulin có thật sự gây hại như những lời đồn ?

Insulin là gì ?

Insulin là một loại hormone được sản xuất (bài tiết) và giải phóng vào máu bởi tuyến tụy, một tuyến nằm phía sau dạ dày của chúng ta. Insulin cho phép cơ thể bạn sử dụng glucose để tạo năng lượng.

Trong trường hợp chưa biết đến glucose thì bạn hãy tham khảo bài viết glucose là gì của Thể Hình Vip. Về bản chất thì insulin là một loại protein. Chúng được tuyến tụy sản xuất…

Và giải phóng bất cứ khi nào bạn ăn carb, protein hoặc cả hai (nếu tuyến tụy hoạt động bình thường). Tuy nhiên, không giống như các loại protein khác với vai trò là khối (đơn vị) xây dựng vật lý của cơ bắp…

Insulin là một protein chức năng, giống như hormone tăng trưởng GH. Cũng giống như tất cả các loại protein, insulin có cấu trúc là một chuỗi các amino acid được nối lại với nhau.

Tuy nhiên, do cấu trúc của chuỗi amino acid này có nếp gấp, nên chúng hoạt động giống một cơ chế truyền tín hiệu hơn là một khối xây dựng. Nếu chưa biết về amino thì bạn hãy tham khảo bài viết amino acid là gì của Thể Hình Vip.

Cơ chế hoạt động của insulin

Tuy nhiên, chúng cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa fat và protein. Sau một bữa ăn chính hoặc bữa ăn nhẹ, lượng thức ăn mà chúng ta tiêu thụ sẽ được phân giải thành các chất dinh dưỡng cơ bản.

Cụ thể, protein sẽ được phân giải thành amino acid. Fat sẽ được phân giải thành fatty acid. Còn carbohydrate sẽ được phân giải thành glucose. Sau khi đã được phân giải, các chất dinh dưỡng cơ bản sẽ được…

Hấp thụ vào mạch máu thông qua lớp niêm mạc trong ruột non. Và khi đã ở trong mạch máu, thì nồng độ của các chất dinh dưỡng sẽ bắt đầu tăng lên và chúng cần được di chuyển vào tế bào cơ và mỡ để sử dụng hoặc dự trữ.

Và đây chính là lúc mà hormone insulin phát huy tác dụng. Khi nồng độ của các chất dinh dưỡng trong máu tăng lên, các tế bào trong tuyến tụy sẽ cảm nhận được sự gia tăng này và giải phóng insulin vào máu.

Xuất phát phát từ tuyến tụy, insulin xuôi theo mạch máu và di chuyển đến các mô trong cơ thể. Các tế bào trong cơ thể chúng ta được bao phủ bởi các thụ thể insulin (insulin receptor).

Và khi các phân tử insulin “cập bến” thụ thể insulin, thì điều này sẽ phát tín hiệu cho các transporter vận chuyển các chất dinh dưỡng vào tế bào (ví dụ như tế bào cơ bắp hoặc tế bào mỡ).

Nói một cách dễ hiểu thì khi hormone insulin tiếp xúc với tế bào, chúng sẽ “ra lệnh” mở màng tế bào (mở cửa) và cho phép tế bào tiếp nhận (hấp thụ) các chất dinh dưỡng.

Trong quá trình các chất dinh dưỡng được từ từ hấp thu vào tế bào, nồng độ insulin trong máu sẽ giảm dần. Và sau khi tất cả các chất dinh dưỡng được hấp thụ hết (glucose, amino acid trong máu giảm)…

Thì nồng độ insulin cũng sẽ trở về mức xuất phát điểm ban đầu và duy trì ổn định ở ngưỡng này. Chu kỳ này xảy ra mỗi khi chúng ta tiêu thụ thức ăn. Khi đó amino acids, fatty acids hay glucose sẽ tìm đường vào máu…

Và chờ đợi insulin tăng lên để di chuyển vào tế bào. Sau khi hoàn thành công việc, nồng độ insulin giảm xuống ngưỡng “bình thường” và tuyến tụy tiếp tục chờ chúng ta nạp thêm thức ăn để lặp lại quá trình.

Truyền thuyết về insulin

Qua những thông tin bên trên chúng ta có thể thấy rằng insulin là một loại hormone quan trọng. Và chúng ta không thể sống thiếu nó, nhất là với những người tập gym, tập luyện thể hình.

Nhiệm vụ của insulin trong trường hợp này là cản trở sự phá vỡ các tế bào chất béo, đồng thời kích thích hình thành mỡ cơ thể (body fat). Khi việc này xảy ra, insulin sẽ báo hiệu cho cơ thể dừng đốt mỡ dự trữ.

Và thay vào đó, cơ thể sẽ hấp thụ fatty acids và glucose từ máu để chuyển chúng thành mỡ. Chính vì lý do này nên insulin và carb thường bị mang tiếng xấu. Người ta thường lập luận rằng việc ăn nhiều carb sẽ khiến insulin cao.

Từ đó gây giảm đốt mỡ, tăng tích mỡ rồi dẫn đến kết quả là cơ thể ngày càng béo. Và để khắc phục cho giả thuyết trên, họ cho rằng: việc ăn ít carb sẽ giúp duy trì nồng độ insulin ở mức thấp.

Từ đó giúp tăng đốt mỡ, giảm tích mỡ thừa. Để rồi dẫn đến kết quả là cơ thể lean, săn chắc. Thoạt nhìn thì những lập luận trên có vẻ đúng. Tuy nhiên đó chỉ là những truyền thuyết thiếu chính xác.

Insulin có khiến chúng ta bị béo phì ?

Một trong những lời cáo buộc phổ biến nhất dành cho carb và insulin đó là: việc ăn nhiều carb mỗi ngày sẽ khiến insulin luôn duy trì ở nồng độ cao. Và điều được cho là sẽ khiến chúng ta bị tăng cân.

Do lúc này cơ thể đang ở trạng thái dự trữ mỡ chứ không phải trạng thái đốt mỡ. Tuy nhiên, điều này chỉ là một truyền thuyết. Sự thật là insulin khiến các tế bào mỡ tăng kích thước bởi vì chúng hấp thụ fatty acids và glucose.

Thế nhưng điều này sẽ không làm bạn trở nên béo hơn. Việc tăng mỡ hay giảm mỡ phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế cân bằng năng lượng. Cân bằng năng lượng ở đây có nghĩa là tỷ lệ giữa mức năng lượng (calo) mà bạn đốt cháy và mức năng lượng mà bạn nạp vào thông qua thức ăn.

Bây giờ, nếu bạn nạp vào một lượng calo nhiều hơn so với calo đốt cháy thì phần calo (năng lượng) dư thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ và gây tăng cân. Ngược lại, nếu bạn nạp vào một lượng calo ít hơn so với calo đốt cháy…

Thì cơ thể sẽ lấy mỡ dự trữ để làm năng lượng hoạt động, và từ đó chúng sẽ giúp bạn giảm cân. Khi chúng ta nạp và tiêu hóa thức ăn (trạng thái no), cơ thể sẽ ở trong chế độ dự trữ mỡ “fat storage mode”.

Ngược lại, khi cơ thể hấp thụ xong glucose và dưỡng chất từ thức ăn (trạng thái đói), thì cơ thể sẽ chuyển sang chế độ đốt mỡ “fat burning mode”. Trong một ngày, cơ thể chúng ta sẽ thay đổi luân phiên nhiều lần giữa 2 trạng thái no và đói.

Bây giờ nếu trạng thái no và đói cân bằng, thì cân nặng của bạn sẽ được giữ nguyên. Bởi vì lượng mỡ dự trữ sẽ tương đương với lượng mỡ bị đốt cháy. Mặt khác, nếu trạng thái no nhiều hơn trạng thái đói (do ăn quá nhiều, kéo dài thời gian hấp thu/fat storage mode) thì bạn sẽ bị tích mỡ.

Còn nếu trạng thái đói nhiều hơn, thì bạn sẽ đốt mỡ nhiều hơn tích mỡ, từ đó giúp bạn lean hơn, săn chắc hơn. Những nguyên lý này cũng chính là cơ chế nền móng của việc tích mỡ và giảm mỡ.

Không quan trọng là bạn ăn bao nhiêu carb hay nồng độ insulin trong ngày của bạn là bao nhiêu. Và nó được gọi là định luật nhiệt động lực học đầu tiên (First law of thermodynamics).

Nói tóm lại, lượng mỡ dự trữ sẽ chỉ tăng lên nếu bạn cung cấp cho cơ thể năng lượng dư thừa. Và chúng sẽ chỉ giảm đi nếu bạn tạo ra năng lượng thâm hụt. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, chỉ cần nạp một lượng calo (năng lượng) ít hơn so với calo đốt cháy thì…

Những người có chế độ ăn nhiều carb hay ít carb đều có thể giảm mỡ như nhau. Đó cũng là lý do giải thích cho việc giáo sư Mark Haub có thể giảm 27 pounds (12,2 kg) với một chế độ ăn toàn carb.

Nguồn thực phẩm chính của vị giáo sư này bao gồm: bánh ngọt Twinkies và Little Debbie cakes, khoai tây chiên Doritos và bánh quy Oreo… Để đạt được kết quả đáng kinh ngạc này, Mark Haub chỉ làm một việc rất đơn giản.

Đó là duy trì calo (năng lượng) nạp vào thấp hơn so với calo đốt cháy. Kết luận, nồng độ insulin hay số lượng carb tiêu thụ có tác động rất nhỏ đến việc tăng cân hoặc giảm cân, cân bằng năng lượng mới là cơ chế quan trọng hơn cả.

Insulin có phải là yếu tố duy nhất gây tích mỡ ?

Như đã đề cập ở trên, insulin khiến các tế bào mỡ hấp thụ glucose và fatty acids. Không chỉ vậy, còn một nguyên nhân nữa khiến insulin bị cáo buộc là nguyên nhân gây tăng cân.

Tế bào mỡ của chúng ta có chứa một loại enzyme được gọi là hormone-sensitive lipase (HSL). Loại enzyme này có tác dụng phân giải mỡ cơ thể (body fat) thành fatty acids để đốt cháy. Và insulin lại gây kìm hãm khả năng hoạt động của enzyme HSL.

Chính vì lý do này nên một lần nữa insulin lại được cho rằng chúng có thể gây tăng cân. Tuy nhiên, đa số mọi người lại bỏ qua một sự thật. Đó là, việc ăn chất béo cũng có thể gây kìm hãm HSL chứ không riêng gì insulin.

Và nhờ có enzyme “acylation stimulating protein”, cơ thể của chúng ta không cần nồng độ insulin cao để chuyển chất béo từ thức ăn thành mỡ body fat. Đây là lý do tại sao bạn không thể ăn nhiều chất béo nếu muốn giảm cân.

Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng việc tách carb và fats (chất béo) không ảnh hưởng đến việc giảm cân. Nói cách khác, việc ăn carb cùng fats hay tách riêng chúng ra đều không có ảnh hưởng đến cân nặng.

Một lần nữa, cơ chế cân bằng năng lượng mới là yếu tố quan trọng. Chỉ cần bạn có calo tiêu thụ cao hơn calo đốt cháy thì bạn sẽ tăng cân, cho dù lượng calo đó đến từ protein, carbohydrate hay fat.

Protein có làm tăng insulin ?

Theo nghiên cứu, một bữa ăn có hàm lượng protein cao và carb thấp có thể khiến cơ thể giải phóng nhiều insulin hơn so với bữa ăn có hàm lượng carb cao. Không chỉ vậy, trong một nghiên cứu của trường Lund University tại Thụy Điển, người ta tiến hành thực hiện trên whey protein.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy, whey protein có khả năng kích thích sản xuất insulin nhiều hơn so với bánh mì trắng. Không chỉ vậy, việc tiêu thụ thịt bò cũng kích thích sản xuất nhiều insulin hơn so với gạo nâu.

Tác động của protein đối với nồng độ insulin cũng khá giống với carb. Khi chúng ta nạp protein, nồng độ insulin sẽ nhanh chóng tăng lên, sau đó nhanh chóng giảm xuống. Chứ chúng không duy trì ở một mức ổn định và kéo dài.

Insulin có kích thích cơn đói ?

Ngoài truyền thuyết về khả năng tích mỡ, insulin còn có một truyền thuyết nữa đó là khả năng kích thích cơn đói. Tuy nhiên, truyền thuyết này đã được một nghiên cứu của trường University of Leipzig (Đức) bác bỏ.

Không chỉ vậy, một nghiên cứu khác cũng đã chứng minh rằng nồng độ insulin trong bữa ăn càng cao thì bạn sẽ càng cảm thấy no hơn. Bên cạnh đó, một nghiên cứu của trường University of Leeds (UK) cho thấy, bữa ăn nhiều carb tạo giác no nhiều hơn so với bữa ăn nhiều chất béo.

Insulin có giúp xây dựng cơ bắp ?

Mặc dù insulin không trực tiếp kích thích tổng hợp protein như một số loại amino acids. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chứng minh rằng chúng có khả năng chống dị hóa. Nói cách khác, khi nồng độ insulin tăng lên, thì mức độ phân giải (phá vỡ) protein trong cơ bắp sẽ được giảm xuống.

Như vậy, điều này sẽ tạo ra môi trường đồng hóa, từ đó giúp cơ bắp phát triển nhanh hơn. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng, một chế độ ăn nhiều carb có lợi hơn rất nhiều so với chế độ ăn ít carb trong việc xây dựng cơ bắp và sức mạnh.

Trong một nghiên cứu được tiến hành bởi trường University of North Carolina, các nhà nghiên cứu thấy rằng: khi kết hợp với việc tập luyện mỗi ngày, một chế độ ăn ít carb gây tăng nồng độ cortisol khi nghỉ ngơi và làm giảm mức free testosterone.

Trong trường hợp bạn chưa biết cortisol là gì thì đó là một loại hormone gây phá vỡ các mô trong cơ thể, trong đó có mô cơ. Xét trên khía cạnh phát triển cơ bắp thì cortisol là một hormone có hại và chúng ta cần giữ chúng ở một nồng độ thấp.

Chính những nghiên cứu bên trên đã góp phần lý giải những khám phá về chế độ ăn low carb trong một số nghiên cứu khác. Ví dụ, trong một nghiên cứu của trường University of Rhode Island…

Các nhà khoa học tiến hành kiểm tra việc nạp nhiều carb và ít carb ảnh hưởng như thế nào đến việc tập luyện. Trong đó, các yếu tố được đánh giá bao gồm mức độ phá hủy cơ, khả năng phục hồi sức mạnh, khả năng chuyển hóa protein sau một buổi tập nặng.

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, nhóm có chế độ ăn ít carb (226 grams 1 ngày so với 353 grams) mất đi nhiều sức mạnh hơn, phục hồi chậm hơn và mức độ tổng hợp protein cũng thấp hơn so với nhóm ăn nhiều carb.

Không chỉ dừng lại ở đó, trong một nghiên cứu của trường McMaster University, người ta tiến hành so sánh chế độ ăn nhiều carb và ít carb khi thực hiện các buổi chân. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy…

Nhóm ăn ít carb có mức độ phá vỡ (phân giải) protein cao hơn, mức độ tổng hợp protein thấp hơn, đồng thời khả năng phát triển cơ bắp tổng thể cũng kém hơn so với nhóm ăn nhiều carb.

Insulin Là Gì? Vai Trò Của Insulin Với Cơ Thể

1. Insulin là gì?

Insulin là một loại hormone do các tế bào đảo tụy của tuyến tụy tiết ra ngoài việc tác dụng chuyển hóa carbohydrate thì còn chuyển hóa mô mỡ và gan thành năng lượng ATP cung cấp cho các hoạt động sống của cơ thể.

Quá trình hình thành và phân hủy

Quá trình tổng hợp insulin bắt đầu từ tổng hợp RNA, dịch mã để tổng hợp các tiền hormone (preprohormone), gọi là preproinsulin, tại hệ thống lưới nội nguyên sinh,  biến đổi preproinsulin hình thành các tiền insulin (proinsulin), hình thành insulin tại bộ máy golgi, được tổng hợp và gói trong các hạt tiết để qua màng tế bào và vào máu. Khoảng 1/6 proinsulin không biến đổi thành insulin. Ở người bệnh đái tháo đường do thiếu insulin vẫn có sự hiện diện của proinsulin nhưng không may  nó không thực hiện bù được chứng năng của insulin. Sau khi vào máu, insulin ở dạng tự do và có thời gian bán phân huỷ trong huyết tương khoảng 6 phút, chính vì vậy, sau khi tiết khoảng 10-15 phút insulin sẽ không còn hiện diện trong máu nữa. Nếu không kết hợp được với các thụ quan, insulin sẽ bị phân huỷ tại gan và một phần nhỏ tại thận.

Trong quá trình tiêu hóa, thức ăn có chứa carbohydrate được tiêu hóa và chuyển đổi thành glucose. Khi đó lượng đường huyết sẽ gia tăng. Sự gia tăng lượng đường phát tín hiệu đến tuyến tụy để sản xuất insulin nhằm kiểm soát nồng độ đường trong máu. Khi cơ thể sản xuất insulin, glucagon sẽ bị ức chế. Insulin kích thích các tế bào khắp cơ thể của bạn hấp thụ glucose từ máu. Sau đó, các tế bào sử dụng glucose làm năng lượng. Để cung cấp năng lượng cho cơ thể giữa các bữa ăn, glucose dư thừa được lưu trữ trong các tế bào gan và cơ dưới dạng glycogen. Khi glucose được chuyển đổi thành năng lượng hoặc được lưu trữ trong gan và cơ, nồng độ glucose trong máu sẽ giảm đi.

Insulin và chất béo trong cơ thể

Khi tuyến tụy tiết insulin thì cơ thể sẽ biết được là nó vừa được cung cấp dinh dưỡng, nó sẽ tạm dừng hoặc làm chậm lại việc tiêu hóa chất béo dự trữ trong cơ thể làm năng lượng mà tiêu thụ ngay các chất dinh dưỡng vừa được hấp thu. Ngoài ra insulin cũng tác động trên tế bào chất béo giống hệt cách nó tác động trên tế bào cơ, do đó nó làm tăng việc tích lũy mỡ. Sự gia tăng glucose và chất béo làm tăng dự trữ béo trong cơ thể. Chất béo lưu trữ nhiều, sử dụng ít, cơ thể sẽ cảm thấy khó chịu về điều này nếu nồng độ insulin cao suốt ngày. Nếu lưu lượng đường máu thấp sẽ có khả năng gây ra 1 bệnh lý nghiêm trọng đó là triệu chứng tụt đường huyết.

2. Công dụng của Insulin

Insulin là hormone duy nhất  làm giảm được nồng độ glucose trong máu còn glucagon có nhiệm vụ làm tăng nồng độ glucose trong máu. Cortisol, Adrenaline và các hormon của tuyến giáp trạng cũng có tác dụng tăng nồng độ glucose trong máu.

Tác động của insulin tới chức năng dự trữ đường ở gan

Hàm lượng glucose trong máu tăng sau khi ăn nhiều tinh bột và đường sẽ kích thích tế bào beta của đảo tụy tiết insulin. Insulin sẽ tác động đến các quá trình dự trữ và sử dụng glucose bởi các loại mô trong cơ thể như tại gan, cơ và mô mỡ.

Khi nồng độ glucose trong máu tăng cao (sau khi ăn, uống đồ uống có nhiều đường, truyền glucose) glucose sẽ được dự trữ trong gan dưới dạng glycogen. Khi hàm lượng đường trong máu giảm (khi đói, giữa hai bữa ăn…) glycogen sẽ biến đổi trở lại thành glucose để đi vào máu giữ cho lượng đường trong máu (gọi tắt là đường huyết) không hạ quá thấp. Các tác động này làm tăng lượng glycogen dự trữ trong gan (có thể chiếm 5-6% khối lượng của gan hay khoảng 100 gram glycogen). Quá trình này như sau:

Insulin ức chế phosphorylase là enzyme biến đổi glycogen thành glucose

Insulin làm tăng cường hấp thu glucose của các tế bào gan thông qua tác động của enzyme glucokinase, tăng cường phosphoryl hoá giữ glucose không qua được màng tế bào để đi ra ngoài.

Tăng cường hoạt tính của enzyme tổng hợp glycogen bao gồm phosphofructokinase dẫn đến giai đoạn hai của quá trình phosphoryl hoá phân tử glucose và glucose synthetase có tác dụng tạo chuỗi từ các monosaccharide để hình thành phân tử glycogen.

Nếu lượng đường trong máu của bạn tăng cao hơn mức bình thường, insulin sẽ giúp cơ thể bạn dự trữ đường ở gan và giải phóng đường khi lượng đường trong máu thấp hoặc khi cơ thể bạn cần nhiều đường, như khoảng thời gian giữa các bữa ăn hoặc khi bạn tập thể dục. Do đó, insulin giúp cân bằng lượng đường trong máu và duy trì lượng đường này ở mức bình thường.

3. Nhu cầu

Người bệnh đái tháo đường thường do bị thiếu insulin (tiểu đường loại I) hoặc có đề kháng insulin (tiểu đường loại II). Thuốc insulin thường là thuốc chích dưới da, có nhiều loại nhưng nằm trong hai dạng chính tùy theo tác dụng nhanh hay chậm. Dạng tác dụng nhanh dùng ngay trước bữa ăn, để tăng độ insulin trong cơ thể phù hợp với độ carbohydrate sắp nhập vào. Dạng tác dụng chậm dùng vào buổi tối, để giữ lượng đường trong máu không tăng vọt trong nhiều giờ hôm sau.

Những tác dụng phụ của insulin là:

Làm bầm tím hay cứng da thịt chỗ chích thường xuyên.

Làm lượng đường hạ quá thấp làm bệnh nhân mệt hay xỉu.

Phát ban ở chỗ tiêm hoặc toàn thân (hiếm gặp).

4. Hàm lượng

Thuốc insulin có những dạng và hàm lượng sau: hai thương hiệu thuốc insulin phổ biến nhất là insulin Mixtard và insulin Lantus (có chứa insulin glargine).

Ống tiêm;

Bút tiêm;

Bơm insulin;

Ống hít insulin;

Dạng phun.

5. Phân loại Insulin

Nhiều loại insulin được dùng để trị tiểu đường gồm:

Insulin tác dụng nhanh: hoạt động khoảng 15 phút sau khi tiêm và đạt đỉnh khoảng sau 1 giờ và kéo dài tác dụng trong 2 đến 4 giờ, nên tiêm insulin trước bữa ăn và thường tiêm trước insulin tác dụng kéo dài. Những loại insulin tác dụng nhanh gồm: insulin glulisine (Apidra®), insulin lispro (Humalog®) và insulin aspart (NovoLog®);

Insulin tác dụng ngắn: loại insulin này bắt đầu có tác dụng khoảng 30 phút sau khi tiêm và đạt đỉnh sau khoảng 2 đến 3 giờ và có tác dụng kéo dài trong 3 đến 6 giờ, nên tiêm insulin trước bữa ăn và trước khi tiêm insulin tác dụng kéo dài. Những loại insulin tác dụng ngắn gồm: Humulin R, Novolin R;

Insulin tác dụng trung bình: loại insulin này thường bắt đầu có tác dụng khoảng 2 đến 4 giờ sau khi tiêm và đạt đỉnh khoảng 4 đến 12 giờ sau đó, kéo dài tác dụng trong 12 đến 18 giờ, nên sử dụng loại insulin này 2 lần một ngày kèm với insulin tác dụng nhanh hoặc insulin tác dụng ngắn. Những loại insulin tác dụng trung bình gồm: NPH (Humulin N, Novolin N);

Insulin tác dụng kéo dài: bắt đầu có tác dụng nhiều tiếng sau khi tiêm và đạt đỉnh sau khoảng 24 giờ. Nếu cần thiết, nên sử dụng loại insulin này phối hợp với insulin tác dụng nhanh hoặc insulin tác dụng ngắn. Những loại insulin tác dụng kéo dài gồm: Insulin detemir (Levemir) và insulin glargine (Lantus).

6. Các vấn đề thường gặp

Tiểu đường tuýp 1

Tiểu đường tuýp 2

Tiểu đường thai kỳ

7. Những vấn đề cần lưu ý

Các vấn đề thường gặp

Hạ đường huyết là tình trạng lượng đường trong máu khá thấp. Nếu đang dùng insulin, hàm lượng đường trong máu có thể xuống mức khá thấp nếu tập luyện quá mức hoặc ăn không đủ hoặc ăn uống không đều đặn hoặc sử dụng quá nhiều insulin. Phản ứng với insulin và hạ đường huyết gồm dấu hiệu sau:

Mệt mỏi;

Ngáp thường xuyên;

Không thể nói hoặc suy nghĩ rõ ràng;

Mất khả năng phối hợp cơ;

Ra mồ hôi nhiều;

Co giật;

Động kinh;

Đột nhiên cảm thấy như bạn đang đi ra ngoài;

Trở nên nhợt nhạt, xanh xám;

Mất nhận thức.

Rối loạn cân bằng insulin: Sự điều hòa đường huyết trong cơ thể là một quá trình trao đổi chất tuyệt vời. Tuy nhiên, mọi hoạt động dường như không diễn ra như đã được thiết lập. Bệnh tiểu đường được biết như một tình trạng mất cân bằng đường huyết. Bệnh tiểu đường ám chỉ một tổ hợp nhiều bệnh.

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là dạng ít phổ biến. Bệnh là một rối loạn tự miễn, trong đó hệ thống miễn dịch phá hủy các tế bào trong tuyến tụy, nơi sản sinh ra insulin. Trước đây được gọi là “bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin,” những người bị bệnh tiểu đường tuýp 1 phải dùng insulin để duy trì sự sống.

Bệnh tiểu đường tuýp 2 phát triển khi các tế bào  không phản ứng với insulin. Theo thời gian, cơ thể sẽ giảm sản xuất insulin và lượng đường huyết sẽ tăng lên. Những người bị bệnh béo phì có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2, chiếm 90 đến 95% của tất cả các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường, theo trung tâm thông tin tiểu đường quốc gia. Bệnh tiểu đường tuýp 2 có thể được kiểm soát bằng thuốc và thay đổi trong lối sống, chẳng hạn như giảm cân, chế độ dinh dưỡng và tập thể dục hợp lí.

Bệnh tiểu đường thai kỳ: Một số phụ nữ dễ mắc bệnh tiểu đường thai kì vào cuối giai đoạn mang thai. Bệnh tiểu đường xảy ra trong thai kì là do sự can thiệp của hormone sản sinh khi mang thai. Bệnh tiểu đường thai kì thường biến mất sau khi sinh, nhưng những phụ nữ đã bị bệnh tiểu đường này có nguy cơ phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2 trong tương lai.

Tiền tiểu đường: Nếu mắc bệnh tiểu đường, cơ thể sản xuất insulin nhưng không sử dụng đúng cách. Kết quả là, nồng độ đường trong máu sẽ tăng, nhưng chưa cao đến mức để có thể kết luận là bệnh tiểu đường tuýp 2. Nhiều người có tiền tiểu đường không phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2. Tuy nhiên, với những thay đổi trong lối sống, bao gồm cả kiểm soát cân nặng, tập thể dục, và một chế độ ăn uống lành mạnh, có thể ngăn chặn bệnh tiểu đường tuýp 2.

8. Những vấn đề cần lưu ý

Liệu pháp insulin phải được thực hiện tại bệnh viện trong giai đoạn đầu.

Bảo quản thuốc insulin chính xác để đảm bảo thuốc có thể hoạt động:

Nên bảo quản insulin ở những nơi không có ánh sáng và nhiệt. Nếu không bảo quản insulin trong tủ lạnh thì hãy bảo quản nó ở mức độ lạnh vừa đủ (nhiệt độ từ 13,330C và 26,670C);

Không được để insulin đông lạnh. Nếu insulin bị đông thì không được dùng nó, kể cả khi nó được rã đông;

Bảo quản chai insulin không sử dụng, hộp đựng và bút tiêm insulin trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 2,220C đến 7,780C, nếu bảo quản hợp lý thì insulin sẽ có tác dụng tốt đến ngày hết hạn in trên chai;

Hãy giữ hộp đựng và bút tiêm insulin đang sử dụng gần đây ở nhiệt độ phòng (từ 13,330C và 26,670C)

Trước khi dùng thuốc insulin nên báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ nếu:

Bị dị ứng với insulin hoặc bất kì thành phần nào hoặc thuốc nào;

Những loại thuốc đang sử dụng bao gồm thuốc kê toa và không kê toa, thực phẩm chức năng và những loại thảo dược;

Bị tổn thương nghiêm trọng do tiểu đường hoặc bất kì tình trạng y khoa nào, bao gồm bệnh gan và thận;

Đang mang thai, dự định có thai hoặc cho con bú;

Đang phẫu thuật, kể cả phẫu thuật nha khoa;

Đang bị ốm, hoặc bị căng thẳng hoặc thay đổi mức độ tập luyện và vận động

Tương tác thuốc có thể làm thay đổi khả năng hoạt động của thuốc hoặc gia tăng ảnh hưởng của các tác dụng phụ. Không được tự ý dùng thuốc, ngưng hoặc thay đổi liều lượng của thuốc mà không có sự cho phép của bác sĩ. Một số thuốc có thể gây hạ đường huyết nghiêm trọng khi dùng kèm với insulin, với các triệu chứng như choáng váng, đói hoặc ra mồ hôi nhiều.

Nguồn: Vinmec

Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước

Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau. Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội. Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

a) Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội

Chức năng thống trị chính trị của giai cấp – chức năng giai cấp – là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó. Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất có vai trò chi phối chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Giai cấp thống trị bao giờ cũng biết giới hạn kiện toàn cách thực hiện chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình. Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp; bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph. Ăngghen viết “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”1.

b) Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại.Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục…) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị. Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt. Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

Chức Năng Cơ Bản Của Môi Trường

1. Thứ nhất phải kể đến đó là môi trường chính là không gian sống của con người và các loài sinh vật.

Hằng ngày mỗi người chúng ta cũng cần có những khoảng sống như nhà ở, nơi nghỉ, sản xuất,… Điều đó đòi hỏi môi trường cần phải có phạm vi không gian thích hợp với mỗi người. Và không gian này lại đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, sinh học, hóa học, cảnh quan,…Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ khoa học và công nghệ. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ như hiện nay thì môi trường cũng thay đổi một cách rất lớn và đang theo chiều hướng xấu và ảnh hưởng rất nhiều đến hệ sinh thái.

2. Tiếp đến môi trường chính là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống cũng như sản xuất của con người.

Loài người chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, bắt đầu từ khi con người biết canh tác đến khi công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển trong mọi lĩnh vực thì nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên lại không ngừng tăng lên về cả chất lượng, số lượng và mức phát triển của xã hội. Và môi trường chính là nguồn tạo ra và chứa đựng những tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người. Rừng: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn độ phì nhiêu và đa dạng sinh học của đất, cung cấp nguồn củi gỗ , dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái. Động, thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm. Các thủy lực: cung cấp dinh dưỡng, nước, nguồn thủy hải sản và nơi vui chơi giải trí. Không khí, nhiệt độ, nước, gió, năng lượng mặt trời có chức năng duy trì các hoạt động trao đổi chất. Dầu mỏ, quặng, kim loại cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất.

3. Môi trường còn là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra trong quá trình sống và lao động sản xuất.

Tại đây dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường mà các chất thải được phân hủy từ những chất phức tạp thành những chất đơn giản hơn, tham gia vào các quá trình sinh địa hóa. Tuy nhiên với sự gia tăng dân số đến chóng mặt như hiện nay cộng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa thì lượng chất thải lại tăng lên không ngừng dẫn đến môi trường bị ô nhiễm ở nhiều nơi do chức năng tái tạo của của môi trường bị quá tải. Khả năng thu nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm, tuy nhiên khi lượng chất thải bị vượt quá khả năng đệm hoặc trong chất thải có chứa nhiều chất độc thì vi sinh vật sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy chất thải, từ đó chất lượng môi trường sẽ giảm và bị ô nhiễm.

4. Ngoài ra môi trường còn có chức năng lưu trữ và cung cấp nguồn thông tin cho con người.

Điều đó được giải thích vị chính môi trường và trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hóa và phát triển văn hóa của loài người. Môi trường cung cấp và lưu trữ cho con người những nguồn gen, các loài động thực vật, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo.

5. Và cuối cùng, môi trường chính là nơi bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài

Môi trường bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoàinhư tầng ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ lại những tia cực tím có hại cho sức khỏe con người từ năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất.

Môi trường có nhiều chức năng quan trọng là thế tuy nhiên hiện nay có cũng đang dần bị đe dọa bởi sự phát triển của xã hội làm cho môi trường không còn được như trước, không khí bị ô nhiễm, nguồn nước cũng bị ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước sạch, rừng bị chặt phá rất nhiều, hệ sinh thái bị biến đổi nghiêm trọng. Hơn lúc nào hết mọi người cần nâng cao ý thức để bảo vệ môi trường để giúp cho nguồn sống của chúng ta được tốt đẹp hơn.

Mua bán piano Nhật

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun