Top 16 # Chức Năng Cơ Bản Của Quốc Hội / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Quốc Hội Là Cơ Quan Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quốc Hội Việt Nam? / 2023

Quốc hội là cơ quan gì? Chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam?

1. Khái quát về sự ra đời và phát triển của Quốc hội nước ta

Quốc dân đại hội được triệu tập vào ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào gồm có 60 đại biểu của các tổ chức, đoàn thể cách mạng đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương (tức Chính phủ lâm thời).Vì vậy, Quốc dân đại hội được coi là tiền thân của Quốc hội nước ta. Thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do ngày 06 tháng 01 năm 1946, nhân dân cả nước đã bầu ra Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa – Quốc hội đầu tiên, Quốc hội khoá I của nước ta.

Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta trong phiên họp ngày 9 tháng 11 năm 1946. Sau khi Hiến pháp được thông qua, lẽ ra Quốc hội phải giải tán và bầu ra Nghị viện nhân dân, bởi vì theo Sắc lệnh số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 của Hồ Chủ Tịch chỉ là “Tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến” nhưng do tình hình khẩn cấp lúc bấy giờ nên Quốc hội chưa thể giải tán mà vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến năm 1960.

Để phù hợp với tình hình thay đổi của cách mạng, tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội ngày 31 tháng 12 năm 1959 bản Hiến pháp sửa đổi đã được thông qua – Hiến pháp năm 1959. Theo Hiến pháp năm 1959, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không gọi là Nghị viện nhân dân như trong Hiến pháp 1946, mà gọi là Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa.

Từ năm 1960 đến năm 1976 là nhiệm kỳ của Quốc hội các khoá tiếp theo (Quốc hội khóa II: 1960 – 1964; Quốc hội khóa III: 1964 – 1971; Quốc hội khóa IV: 1971 – 1975; Quốc hội khóa V: 1975 – 1976) . Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập thống nhất. Ngày 25 tháng 4 năm 1976 nhân dân cả nước đã tiến hành bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, đó là Quốc hội khoá VI của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ bảy đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1980 trong phiên họp ngày 18 tháng 12 năm 1980. Quốc hội khóa VII kéo dài từ năm 1981 đến năm 1987, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1980, Quốc hội đã phát huy vai trò cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân trong việc củng cố và hoàn thiện chế độ làm chủ tập thể. Quốc hội khoá VIII (1987 – 1992 ) là Quốc hội của thời kỳ đổi mới. Tại kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội khoá VIII, bản Hiến pháp thứ tư của nước ta được thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng tư năm 1992. Sau khi Hiến pháp 1992 được ban hành, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội khoá IX (1992 – 1997), từ 1997 – 2002 là nhiệm kỳ của Quốc hội khoá X – đây là Quốc hội sẽ tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Quốc hội khoá XI (2002-2007) là Quốc hội có nhiều đổi mới, hướng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thử thách đặt ra cho đất nước ta.

2. Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội

Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2), nhưng nhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước được cho nên phải bầu ra các cơ quan đại diện để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy, các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước.

Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đều nêu rõ vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra, bao gồm các đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân và mọi vùng lãnh thổ. Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân, nói lên tiếng nói và thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Ở nước ta, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước.

Với vị trí, tính chất như thế nên chức năng của Quốc hội bao gồm những phương diện lớn như sau:

– Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

– Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

– Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, nhằm đảm bảo cho những qui định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả.

Chức năng nói trên của Quốc hội được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội.

3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

Quyền lực của nước ta được thực hiện theo chế độ tập quyền, theo nguyên tắc tập trung.

Quyền lực nhà nước tập trung chủ yếu vào Quốc hội; nhưng có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng.

Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong Điều 84 của Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung và cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam 2001. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được phân thành các lĩnh vực sau:

3.1. Lập hiến và lập pháp

Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp nên Quốc hội cũng có quyền sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi luật, các hoạt động này đều được qui định cụ thể và chặt chẽ.

Còn sáng kiến lập pháp, tức là quyền trình dự án luật trước Quốc hội được giao cho nhiều Cơ quan nhà nước như: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Đại biểu Quốc hội còn có quyền trình kiến nghị về luật ra trước Quốc hội. Cơ quan trình dự án luật phải chuẩn bị, xây dựng hoàn chỉnh và trình bày trước Quốc hội dự án đó để Quốc hội xem xét.

Quốc hội còn có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đây là điểm mới mà Hiến pháp 1980 chưa quy định, Hiến pháp 1992 đã bổ sung quyền này nhằm đảm bảo cho hoạt động lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn.

3.2. Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nên Quốc hội có quyền quyết định những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; những vấn đề quốc kế dân sinh; những vấn đề đối nội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh quốc gia.

Trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế.

Quốc hội quyết định những vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước như quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; qui định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước; quyết định đại xá; quyết định trưng cầu ý dân.

Quốc hội còn có nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.

4. Tổ chức bộ máy nhà nước

Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Bộ máy nhà nước ta từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nước đến các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào, nguyên tắc tổ chức hoạt động ra sao đều do Quốc hội xem xét lựa chọn, quyết định tại các kỳ họp và được thể hiện trong Hiến pháp và luật tổ chức các cơ quan này.

Ngoài việc qui định chung về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan nhà nước, Quốc hội còn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Quốc hội còn qui định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước trong các lĩnh vực khác; qui định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.

5. Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do nhiều Cơ quan nhà nước tiến hành như: Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thanh tra nhà nước… Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất. Nhiệm vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho những qui định của Hiến pháp, pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của các Cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được qui định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, có hiệu lực, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, cửa quyền.

Các hình thức giám sát tối cao của Quốc hội:

Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xét báo cáo kết quả điều tra của Ủy ban.

Bên cạnh đó, một hoạt động mới của Quốc hội được ghi nhận tại Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003 là việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

6. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

Tổ chức của Quốc hội là cơ cấu bên trong được lập ra để giúp Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Tổ chức của Quốc hội do Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội quy định. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội là một trong những yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Các cơ quan của Quốc hội bao gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

6.1. Ủy ban thường vụ Quốc hội

Theo Hiến pháp 1959, trong tổ chức của Quốc hội có Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Nhưng theo qui định của Hiến pháp 1980, Ủy ban thường vụ Quốc hội được thay thế bằng Hội đồng Nhà nước. Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.

Để phân định rõ chức năng nguyên thủ quốc gia và chức năng thường trực Quốc hội, Hiến pháp 1992 đã qui định về Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chủ tịch nước đảm nhận chức năng nguyên thủ quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm có:

Chủ tịch Quốc hội

Các Phó chủ tịch Quốc hội

Các uỷ viên

Số thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Để bảo đảm cho hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội được khách quan, Luật tổ chức Quốc hội 2001 qui định: Thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội là đại biểu chuyên trách và không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được qui định trong Điều 91 của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và cụ thể hoá tại Điều 7 Luật tổ chức Quốc hội 2001.

Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ban hành các pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ thi hành các văn bản của các cơ quan trên nếu các văn bản này trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội huỷ bỏ đồng thời có quyền huỷ bỏ các văn bản này nếu trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội có vai trò tích cực trong việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và giải tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân.

Trong trường hợp Quốc hội không họp được, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Do Quốc hội không hoạt động thường xuyên nên Hiến pháp còn quy định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội được giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và các uỷ viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách.

Chủ tịch Quốc hội

Trong tổ chức của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có vị trí rất quan trọng. Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; bảo đảm thi hành qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, nội qui kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội, lãnh đạo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong liên minh Quốc hội thế giới.

Các Phó chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội.

6.2. Hội đồng dân tộc

Vấn đề dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta, cho nên Hiến pháp năm 1980 đã nâng Ủy ban dân tộc của Quốc hội thành Hội đồng dân tộc cho xứng với tầm quan trọng của nó. Đến Hiến pháp năm 1992, vị trí, vai trò của Hội đồng dân tộc được đề cao, nhiệm vụ và quyền hạn được tăng cường.

Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các uỷ viên do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội. Hội đồng dân tộc có một số thành viên hoạt động chuyên trách.

Ngay trong Quốc hội, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số cũng chiếm một tỉ lệ thích đáng, và có xu hướng mỗi ngày gia tăng- chính điều này đã thể hiện phần nào chính sách dân tộc của nhà nước ta.

6.3. Các Ủy ban của Quốc hội

Các Ủy ban của Quốc hội được thành lập ra để giúp Quốc hội thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đồng thời các Ủy ban của Quốc hội còn là hình thức thu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác chung của Quốc hội.

Quốc hội thành lập hai loại uỷ ban: Ủy ban thường trực và Ủy ban lâm thời.

6.3.1. Ủy ban thường trực

Ủy ban thường trực là những Ủy ban hoạt động thường xuyên. Nhiệm vụ của các Ủy ban này là nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban .

Theo Điều 22 – Luật tổ chức Quốc hội 2001 (2007), Quốc hội thành lập các Uỷ ban sau đây:

Uỷ ban pháp luật;

Uỷ ban tư pháp;

Uỷ ban kinh tế;

Uỷ ban tài chính, ngân sách;

Uỷ ban quốc phòng và an ninh;

Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;

Uỷ ban về các vấn đề xã hội;

Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;

Uỷ ban đối ngoại.

Mỗi Ủy ban đều phải có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

6.3.2. Ủy ban lâm thời

Ủy ban lâm thời là những Ủy ban được Quốc hội thành lập khi xét thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định như Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội hay Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.

Để đảm bảo tính khách quan trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chấp hành của Quốc hội, các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là đại biểu Quốc hội và không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

7. Kỳ họp Quốc hội

Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội, do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập, thường lệ mỗi năm họp hai kỳ. Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.

Thành phần tham dự kỳ họp của Quốc hội bao gồm: các đại biểu Quốc hội; đại diện cho các Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang và người nước ngoài, các đại diện này tham gia với tư cách là người chứng kiến – có quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết. Với thành phần tham dự kỳ họp như thế đã thể hiện tính dân chủ, công khai của hoạt động Quốc hội.

Trước khi triệu tập kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội phải dự kiến chương trình làm việc của kỳ họp, dự kiến này phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội chậm nhất là một tháng trước khi Quốc hội họp để các đại biểu nghiên cứu và góp ý kiến.

7.1. Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Tại kỳ họp này, Quốc hội tiến hành bầu cử các chức danh lãnh đạo cao cấp nhất của Nhà nước. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo công tác từ kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá trước đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới.

Ngoài ra, Quốc hội còn bầu Đoàn thư ký kỳ họp của mỗi khoá Quốc hội.

Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.

7.2. Trình tự xem xét và thông qua các dự án tại kỳ họp Quốc hội

Tại kỳ họp, Quốc hội xem xét và thông qua các dự án kế hoạch Nhà nước, dự toán ngân sách Nhà nước, các báo cáo, dự án luật và các dự án khác theo trình tự sau đây:

Trình bày các dự án trước Quốc hội.

Thuyết trình việc thẩm tra các dự án.

Biểu quyết để thông qua dự án.

Vấn đề cần biểu quyết và cách biểu quyết do Quốc hội qui định. Các luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội và sửa đổi Hiến pháp thì phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

7.3. Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn

Chất vấn là một hoạt động thực hiện quyền giám sát của Quốc hội trong chương trình kỳ họp, Quốc hội dành thời gian thích đáng cho việc chất vấn và trả lời chất vấn.

Chất vấn là quyền của đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời.

Thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn được qui định tại điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003.

7.4. Hình thức họp Quốc hội

Quốc hội họp công khai, khi Quốc hội họp công khai công chúng có thể được đến dự theo giấy mời của văn phòng Quốc hội. Các cơ quan thông tấn, báo chí được tham dự các phiên họp công khai của Quốc hội để phản ảnh kịp thời, chính xác các hoạt động của Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội sẽ quyết định họp kín, việc công bố nội dung các phiên họp kín do Chủ tịch nước cùng với Chủ tịch Quốc hội quyết định.

7.5. Các luật, nghị quyết của Quốc hội

Các luật, nghị quyết của Quốc hội phải được Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực và Chủ tịch nước công bố, chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày thông qua.

8. Đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do. Đại biểu Quốc hội là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

Đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt, bao gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động được qui định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khoá Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội sau.

Chức năng của đại biểu Quốc hội là hướng hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu. Đại biểu Quốc hội có các chức năng cơ bản sau:

– Thu thập và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Nâng ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành ý chí Nhà nước, thành các qui định của pháp luật.

– Đưa các qui định của pháp luật vào thực tế cuộc sống.

8.1. Nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành và tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp và pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham gia quản lý Nhà nước.

Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của đại biểu để nghe nhân dân góp ý xây dựng Nhà nước đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị, khiếu nại và tố cáo.

Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ giữ mối quan hệ và thông báo tình hình hoạt động của mình với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương và tham gia các hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội.

8.2. Quyền hạn của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu chấm dứt những việc làm trái pháp luật của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang hoặc cá nhân mà gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của công dân.

Đại biểu Quốc hội có quyền tham gia bầu cử và có thể được bầu vào các Cơ quan nhà nước, các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức của Quốc hội; các đại biểu Quốc hội đều bình đẳng trong bầu cử.

Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết về các dự án luật, các nghị quyết, các dự án, các báo cáo… Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc bỏ quyền biểu quyết.

Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết.

8.3. Những đảm bảo cho hoạt động của Đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm của đại biểu. Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền đề nghị bắt giam hoặc truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định.

Đại biểu Quốc hội không thể bị cách chức, buộc thôi việc nếu không được Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý. Cơ quan, tổ chức nơi đại biểu Quốc hội làm việc phải tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ.

Đại biểu Quốc hội được cung cấp đầy đủ tài liệu và thông tin cần thiết để hoạt động, được đài thọ lương và phụ cấp trong thời gian tạm thời không làm công tác thường xuyên của mình mà để làm nhiệm vụ đại biểu, được ưu tiên khám, chữa bệnh theo tiêu chuẩn cán bộ trung cấp… và được hưởng một khoản hoạt động phí hàng năm do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

8.4. Việc bãi nhiệm, mất quyền đại biểu Quốc hội, việc đại biểu Quốc hội xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu

Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ theo mức độ sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.

Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học Pháp Luật / 2023

48973

Chức năng của mỗi bộ môn khoa học được phản ánh một cách phong phú ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học ấy với hoạt động thực tiễn xã hội. Người ta căn cứ vào nhu cầu của xã hội trong sự nhận thức và tác động đến thực tiễn xã hội để xác định chức năng của một môn khoa học. Chức năng của xã hội học pháp luật được quy định bởi nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Chức năng của xã hội học pháp luật bao gồm:

Chức năng nhận thức

Chức năng nhận thức của xã hội học pháp luật trước hết thể hiện ở chỗ, Xã hội học pháp luật trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pháp luật bằng trí thức xã hội học có việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của môn học. Trong khi chỉ ra những quy luật khách quan của sự kiện, hiện tượng pháp luật, xã hội học pháp luật đã tạo ra những tiền đề để nhận thức triển vọng phát triển cao hơn của sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu cũng như các mặt, các lĩnh vực sinh nhật của nó.

Hoạt động điều tra, khảo sát xã hội học pháp luật cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cho việc nhận thức một cách khách quan, Toàn diện, đầy đủ và chính xác về nguồn gốc, bản chất của pháp luật; thực trạng của hệ thống pháp luật; về trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của giai cấp, các tầng lớp xã hội; về tình hình vi phạm pháp luật ở từng thời điểm, từng khu vực địa lý nhất định.

Nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, hậu quả của hành vi sai lệch giúp cho các cá nhân, nhóm xã hội nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình, từ đó có thái độ, hành vi phù hợp với các quy định chuẩn mực pháp luật, phát huy tính tích cực xã hội, hạn chế hành vi sai lệch.

Xã hội học pháp luật còn là cơ sở phát triển tư duy khoa học, tạo điều kiện hình thành thói quen suy xét mọi hiện tượng xã hội và quá trình phức tạp trên cơ sở thực nghiệm khoa học. Đặc biệt, xem luyện kỹ năng cho các chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tác phong nắm bắt kịp thời thông tin, cụ thể, sâu sắc về các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống và xu hướng biến đổi của các quan hệ xã hội, chỉ ban hành pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật khi có đầy đủ thông tin và những luận chứng khoa học về nó.

Chức năng thực tiễn của xã hội học pháp luật có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức. Việc nghiên cứu xã hội học pháp luật không chỉ đơn thuần là vận dụng vào nhận thức hiện thực các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong thực tiễn mà quan trọng là đưa ra các giải pháp đúng đắn, Kịp thời kiểm soát các sự kiện, hiện tượng đó. Sự phong phú, đa dạng của xã hội học pháp luật cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, c ca ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, các của các văn bản pháp luật, của các văn bản pháp luật.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, xã hội học pháp luật cùng cố và xây dựng những luận cứ khoa học giúp cho đảng và nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình phát triển xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. Quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; dân tộc, giới tính, trình độ học vấn. Thông tin từ các cuộc khảo sát xã hội học sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Các cuộc khảo sát xã hội học pháp luật trên thế giới cho thấy, nhân tố chính làm giảm hiệu quả của pháp luật không phải là do sự thiếu vắng các cơ chế thực hiện pháp luật mà do sự không tương thích của pháp luật với những đòi hỏi khách quan trong việc điều tiết các lợi ích của xã hội. Sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào công việc xây dựng pháp luật sẽ đảm bảo được đầy đủ và toàn diện lợi ích, Ý nguyện của nhân dân và sẽ tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Thực tế đã cho thấy, các đề xuất về pháp luật như nâng giá điện, thu phí đối với xe mang biển xuống máy tính và Hà Nội, quy định vòng ngực, cân nặng đối với người tham gia giao thông hãy đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam… gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận do không phù hợp với lợi ích của đông đảo người dân.

Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật về những mặt, khía cạnh của đời sống pháp luật cung cấp những thông tin được phản ánh từ cơ sở thực tiễn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp họ cập nhật thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện được những mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật.

Chức năng dự báo

– Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập thông tin, xử lý thông tin, các nhà xã hội học pháp luật phân tích tính logic, tính khách quan, nhận diện các sự kiện, hiện tượng pháp luật trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các dự báo khoa học để làm sáng tỏ triển vọng phát triển xa hơn của những sự kiện, hiện tượng pháp luật trong tương lai.

– Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, xã hội học pháp luật thu thập thông tin định tính, định lượng đánh giá dự báo tác động pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền nhận biết những khả năng có thể xảy ra khi văn bản pháp luật được ban hành. Đặc biệt là đối với các dự thảo, dự án luật, các nghiên cứu của xã hội học pháp luật sẽ làm sáng tỏ các điều kiện cụ thể mà ở đó các văn bản pháp luật đang được dự thảo hoặc sắp ban hành. Từ việc đánh giá tác động pháp luật đối với thực tiễn xã hội, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra phương án, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

– Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng và ý thức pháp luật của các nhóm xã hội, về hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, tội phạm và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng, chống hành vi sai lệch, tìm ra nguyên nhân để đưa ra những dự báo về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội trong tương lai, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế hành vi sai lệch và tội phạm.

Chức năng dự báo của xã hội học pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Việc hiểu biết sự kiện hiện tại và xu hướng phát triển đó trong tương lai là yếu tố cần thiết giúp cho các cơ quan nhà nước thông qua các quyết định một cách đúng đắn. Lựa chọn một giải pháp tôi yêu khánh liền với việc nhận thức đúng đắn những hậu quả pháp lý và xã hội của việc ban hành quy định đó, cũng như môi trường mà ở đó quyết định được ban hành sẽ được thực hiện trong tương lai.

Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa / 2023

Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chủ yếu để thiết lập và tổ chức thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bản chất, nội dung của chủ nghĩa xã hội quyết định các chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể.

Nội dung, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa rất rộng và phức tạp, do đó những chức năng của nhà nước cũng rất phong phú và đa dạng. Chức năng nhà nước là một khái nhiệm quản lý, trong đó nội dung, mục đích của quản lý nhà nước được biểu hiện một cách cụ thể. Vì vậy có thể nói, các chức năng của nhà nước là những “con kênh” thông qua đó hoạt động quản lý của nhà nước được thực hiện. Mặc dù mỗi chức năng nhà nước đều có đối tượng tác động riêng, nhưng các chức năng đều có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, không thể tách rời nhau. Tất cả các chức năng nhà nước hợp thành một hệ thống thống nhất thể hiện bản chất và những nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa … Để thực hiện các chức năng đó, một hệ thống các cơ quan nhà nước tương ứng được thành lập. Vì các chức năng nhà nước thống nhất với nhau, cho nên các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện các chức năng đó cũng có sự quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, tạo thành hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất và đồng bộ.

Ví dụ: Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược ở nước ta là “xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đó là những nhiệm vụ bao trùm và được cụ thể hóa thành nội dung các chức năng của nhà nước ta.

Cũng cần phân biệt chức năng của nhà nước nói chung với chức năng của các cơ quan nhà nước. Chức năng nhà nước tồn tại một cách khách quan, phản ánh bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là những mặt hoạt động rộng lớn có tính chất định hướng lâu dài. Một chức năng chung của nhà nước có thể do nhiều loại cơ quan nhà nước với các chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau thực hiện. Chức năng của các cơ quan nhà nước bao giờ cũng phụ thuộc vào chức năng của nhà nước nói chung. Việc thực hiện chức năng của các cơ quan nhà nước suy cho cùng là nhằm để thực hiện chức năng của nhà nước nói chung.

Về nguyên tắc, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều có những chức năng giống nhau. Nhưng do mỗi nước có những đặc điểm và hoàn cảnh không hoàn toàn giống nhau cho nên trong mỗi nước các chức năng của nhà nước cũng có những đặc điểm khác nhau về mức độ, phạm vi, tầm quan trọng và phương pháp tổ chức thực hiện.

Trong quá trình phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của cách mạng mỗi nước, các chức năng của nhà nước sẽ có những thay đổi nhất định và có thể xuất hiện những chức năng mới

Thứ nhất, Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế

Đây là chức năng cơ bản đặc thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong chủ nghĩa xã hội, nhà nước không những là tổ chức của quyền lực chính trị, mà còn là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu; trực tiếp tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước. Việc tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, nhằm cải tạo và xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (và quan hệ sản xuất bóc lột nói chung) được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột người lao động, để xác lập củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thỏa mãn nhu cầu của người lao động.

Tổ chức và quản lý kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn các vấn đề có tính quy luật của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Đồng thời phải có những chính sách, phương pháp và biện pháp tác động phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết, trong đó công tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế là những vấn đề then chốt.

Tổ chức và quản lý kình tế là chức năng cơ bản của bất kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa nào. Nhưng do đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước không giống nhau, vì vậy việc thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế trong mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng. Ở Việt Nam trong hơn năm mươi năm qua việc thực hiện chức năng này đã được quan tâm đáng kể và đã thu được nhiều kết quả. Sau ngày miền Nam giải phóng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề tổ chức và quản lý kinh tế của nước ta đã trở thành vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và luôn luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Kết quả thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước tác động một cách trực tiếp tới tất cả các mặt của đời sống xã hội.

Trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể của nước ta trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, tổng kết việc tổ chức và quản lý kinh tế trong thời gian qua, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tả là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng chỉ đạo đó thể hiện trong các chính sách và biện pháp lớn chỉ đạo nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước ta đó là:

Phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định.

Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. .Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ cộng hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa làm cho nó thực sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất.

Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng bảo đảm tính kế hoạch trong quản lý kinh tế quốc dân, sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa tiền tệ; Sử đụng kết hợp nhiều phương pháp quản lý trong đó các phương pháp kinh tế là chủ yếu để tạo ra một cơ chế mới về quản lý kính tế “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” …

Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước …

Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” trong đó đã cụ thể hóa tư tưởng và những phương hướng nói trên, nhấn mạnh phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng: “Tiếp tục xóa bỏ cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thiết lập trật tự, kỷ cương theo cơ chế mới vừa là nội dung vừa là điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế xã hội.

Việc thiết lập trật tự, kỷ cương của cơ chế đó bao gồm những vấn đề lớn là

-Phải hình thành một thị trường hoàn chỉnh bao gồm cả sức lao động, vốn và tiền tệ… thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới; giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi xuất tín dụng hình thành theo cơ chế thị trường; tạo môi trường và điều kiện cho sự cạnh tranh hợp pháp và sự hợp tác, liên doanh, tự nguyện, bình đẳng giữa các đơn vị trực thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và vốn nước ngoài; cả nước chấp hành luật kinh doanh thống nhất; nâng cao khả năng tiếp thị (marketing) của các doanh nghiệp.Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nước với chức năng quản lý vĩ mô tập trung thực hiện các vấn đề: Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế xã hội, duy trì trật tự pháp luật, xây dựng cơ sở hạ tầng … Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển; hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia.

-Đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước bao gồm: Đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội theo cơ chế thị trường; tăng cường kế hoạch hóa vĩ mô, chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang kế hoạch hóa định hướng; xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và thông tin kinh tế đáp ứng nhu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và từng bước hiện đại hóa; đổi mới căn bản hệ thống tài chính – tiền tệ.

-Thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh, bảo đảm cho xí nghiệp thực hiện đẩy đủ các quyền; chủ động tổ chức sản xuất kinh doanh; Tự chủ về tài chính; tuyển chọn, sắp xếp lao động, trả lương và cho thôi việc theo luật lao động; giao dịch với khách hành trong và ngoài nước; lựa chọn các hình thức liên kết, liên doanh…

Đồng thời với việc đổi mới cơ chế quản lý cần thực hiện các chính sách và giải pháp về vốn, về dân số và việc làm, về thu nhập, bảo hiểm xã hội …

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện đường lối đổi mới đã khẳng định một số nhận thức mới về cơ chế quản lý mới, đồng thời chỉ rõ: “Từ nay đến năm 2000, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trong quan liêu bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, trong thời gian tới nhà nước ta phải

-Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh

-Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa. Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả.

-Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.

Thứ hai, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đô và âm mưu phản cách mạng khác:

Đây là một chức năng hết sức quan trọng, nhất là trong giai đoạn đầu sau khi cách mạng thành công.Mặc dù sau cách mạng các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ, chính quyền đã về tay của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhưng do bản chất phản động và trên thực tế giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn còn giữ được trong một thời gian nhất định một số ưu thế như điều kiện sinh hoạt giàu có, học vấn, kính nghiệm quản lý và nghệ thuật quân sự. Vì vậy chúng luôn tìm mọi cách để “phản kháng lại một cách lâu dài, dai dẳng và liều mạng”. V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ lịch sử lâu dài trong đó cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt. Chừng nào mà thời kỳ đó chưa chấm dứt thì bọn bóc lột vẫn còn nuôi hy vọng phục hồi địa vị thống trị của mình và những hy vọng này sẽ biến thành mưu đồ phục hồi. Giai cấp bóc lột có thể sẵn sàng “lao mình vào cuộc chiến với một nghị lực tăng gấp mười lần, với một sự cuồng nhiệt và lòng hận thù tăng gấp tỉ am lần để chiếm lại cái thiên đường đã mất”. Mặt khác các thế lực đế quốc và phản động quốc tế luôn tìm mọi cách để tấn công và làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, nuôi dưỡng và khuyến khích bọn phản cách mạng tiến hành các âm mưu phá hoại và bạo loạn gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện tốt chức năng trấn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và mọi âm mưu phá hoại của bọn phản cách mạng để giữ vững chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc thực hiện chức năng này phải được tiến hành một cách kiên quyết, không khoan nhượng, mơ hồ.

Để thực hiện chức năng này nhà nước xã hội chủ nghĩa phải không ngừng tăng cường sức mạnh về mọi mặt, phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Nước ta, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, đã là một thực tiễn sinh động để chứng minh nguyên lý nói trên. Các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn có sự phản kháng quyết liệt và dai dẳng. Bọn phản động được sự giúp đỡ của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã không từ bỏ một thủ đoạn nào để phá hoại, mong muốn làm suy yếu chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước và nhân dân ta đã kịp thời đập tan mọi âm mưu phá hoại và mọi sự phản kháng của bọn phản cách mạng giữ vững chính quyền, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động ngày càng được phát huy.

Tuy vậy, cho đến nay chúng vẫn chưa từ bỏ mọi mưu đồ đen tối và phản động của chúng. Vì vậy, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới”.

Thực hiện tết chức năng trấn áp sẽ tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho việc thực hiện các chức năng khác của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, kết quả thực hiện các chức năng khác sẽ có tác động tích cực đến việc thực hiện chức năng trấn áp.

Thứ ba, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghe

Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoả học và công nghệ là một trong những chức năng quan trọng, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước trên ba lĩnh vực nhằm:

Nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.

Khuyến khích sự phát triển của khoa học, công nghệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học, kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các cơ sở văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu toàn dân. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa không những đề ra và cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học, mà còn có đủ điều kiện để thực hiện tốt chức năng đó.

Thứ tư, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp, thể hiện trên các mặt với những vấn đề cơ bản là:

– Về văn hóa: Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới, thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội; đấu tranh chống những tư tưởng, văn hóa lạc hậu và thù địch. Để thực hiện tết nhiệm vụ đó, phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hóa. Cuộc cách mạng văn hóa tiến hành trong mỗi nước cũng có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của nước đó. Ơ nước ta cách mạng về tư tưởng văn hóa được xác định là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa.

Để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng văn hóa cần phải giải quyết tết những vấn đề cơ bản sau đây:

Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học của nhân loại để xây dựng nền văn hóa hiện đại mang bản sắc Việt Nam.

Dùng nhiều hình thức và phương tiện, trong đó chú trọng sử dụng và phát huy vai trò của pháp luật để giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng của nhân dân, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của nhân dân; ngăn chặn các văn hóa phẩm và hoạt động văn hóa nghệ thuật độc hại. Hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng đạo đức bảo vệ nhân phẩm con người, chống những tư tưởng lạc hậu, lối sống thấp hèn, suy đồi đạo đức.

Khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hóa, vun đắp tài năng. Giữ gìn và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hóa, lịch sử. Nhà nước cần có những đầu tư thỏa đáng và có cơ chế quản lý bằng pháp luật, các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng hành chính hóa các đơn vị hoạt động văn hóa nghệ thuật, cũng như thương mại hóa đơn thuần trong lĩnh vực này. Tăng cường, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng thông tin đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin và nâng cao sự hiểu biết của nhân dân.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước phải có chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài; phải xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, những nhà kinh doanh, người quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề cho trước mắt và lâu dài.

Đại hội Đảng lần thứ VIII trên cơ sở đánh giá về công tác giáo dục và đạo tạo những năm qua, căn cứ vào tình hình thực tiễn hiện nay, dự báo sự phát triển tiếp theo đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đồng thời Đại hội cũng đã xác định những nội dung cơ bản mà Nhà nước cần tiến hành trong những năm tới là: Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo.

– Về khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chết trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. khoa học và công nghệ còn là động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới trình độ tiên tiến của thế giới. Vì vậy, nhà nước cần đặc biệt quan tâm, có chính sách đúng đắn và quản lý có hiệu quả bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

Tại đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định rõ vai trò của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, đồng thời đề ra những phương hướng và biện pháp lớn để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong những năm tới, cụ thể là:

Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường, quan điểm, ý thức và nhân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm. Phải nhanh chóng khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy; phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học … Đặc biệt là khoa học quản lý nhà nước và quản lý kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xã hội trong những năm tới là nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết MÁC-LÊNIN, tư tưởng HỒ CHÍ MINH, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học thế giới để triển khai thực hiện thắng lợi những phương hướng mới do đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra.

Đối với khoa học tự nhiên và công nghệ cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng – an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ơ những khâu quyết định.

Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học, trong đó phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu đàn. Kiện toàn hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, sắp xếp và bố trí cán bộ khoa học và công nghệ một cách hợp lý theo hướng gắn khoa học và công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn.

Để phát triển khoa học và công nghệ, nhà nước cũng phải tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật; xây dựng và thực hiện tết hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó cần chú trọng tới chính sách ưu đãi nhân tài, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ…

Thứ năm, chức năng bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ

Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thiết lập, củng cố và điều chỉnh hệ thống các quan hệ xã hội bảo đảm sự phát triển đúng hướng, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, việc bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không những chỉ đề ra pháp luật quy định quyền và lợi ích của công dân, mà còn tạo những điều kiện và có những biện pháp để bảo đảm cho các quyền lợi đó được thực hiện. Muốn thực hiện tết chức năng này nhà nước cần phải có những biện pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời phải giáo dục để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

3. Các chức năng đối ngoại

Thứ nhất, chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản trên phạm ví toàn thế giới. Điều đó xuất phát từ sự còn tồn tại trong một thời gian dài những lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc với bản chất xâm lược và phản động, luôn ngoan cố bám giữ những mục tiêu của chúng. Chúng không từ một âm mưu và thủ đoạn nào từ khiêu khích, phá hoại đến bao vây lật đổ và tiến hành chiến tranh xâm lược, để phản kích các lực lượng cách mạng và hòa bình, chống các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều phải chú trọng tới chức năng bảo vệ Tổ quốc, coi việc củng cố quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện hòa bình ổn định cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên lâu dài. Nền quốc phòng trong các nước xã hội chủ nghĩa là nền quốc phòng vì mục đích tự vệ, nhưng đòi hỏi phải có đầy đủ sức mạnh và khả năng tác chiến cao để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại và xâm lược của các thế lực đế quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã lần lượt đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, giành độc lập tự do cho dân tộc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đã đập tan nhiều âm mưu quân sự và chính trì của bọn phản động trong nước và các thế lực phản động quốc tế, tạo điều kiện hòa bình ổn đình cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, trong thời gian tới nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục nêu cao cảnh giác cách mạng phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước và xã hội, quyết tâm ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại và xâm lược của kẻ thù. Trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và quốc tế trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ các tư tưởng chỉ đạo đối với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong tình hình mới:

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Kết hợp quốc phòng và an ninh với kình tế. Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá ta.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng an ninh.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an, đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh.

Đây là chức năng rất quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại. Nội dung của chức năng này bao gồm những điểm cơ bản sau đây:

-Củng cố và tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Các nước xã hội chủ nghĩa có cùng bản chất và có nhiều điểm tương đồng như cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và có cùng mục đích là phát huy quyền lực nhân dân, đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, xây đựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không những tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho mỗi nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn góp phần vào việc tăng cường thế và lực của chủ nghĩa xã hội nói chung.

Mở rộng quan hệ với các nước có chê độ chính trị khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau bình đẳng và cùng có lợi. Đây là mặt hoạt động có ý nghĩa quan trọng, tạo ra môi trường hòa bình và điều kiện quốc tế thuận lợi để mỗi nước đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền của mỗi nước, đồng thời để các nước xã hội chủ nghĩa góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tình hình hiện nay mặt hoạt động đối ngoại này của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất sôi động nhưng cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhạy bén trong việc xác định tình hình, đề ra chính sách phù hợp và xử lý các vấn đề chính xác để một mặt, giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; mặt khác, củng cố vị trí của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế, tranh thủ được những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước.

-Mở rộng mối quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế. Trong xã hội hiện đại, các tổ chức quốc tế ngày càng phát triển mạnh về số lượng và phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng. Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường quan hệ với các nhà nước, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mở rộng quan hệ và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế. Mặt hoạt động này có những đặc thù riêng, nhưng nhìn chung nó vẫn dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

-Ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thê giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Xuất phát từ bản chất của mình và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tham gia và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Có thể nói đây là vấn đề có tính quy luật và việc thực hiện tết mặt hoạt động đối ngoại này là trách nhiệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng HỒ CHÍ MINH, trên cơ sở tổng kết tình hình trong nước và quốc tế trong thời gian vừa qua và nhận định về xu hướng phát triển của thế giới trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã vạch ra chính sách đối ngoại của nhà nước ta trong thời gian tới là:

-Tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Thực hiện chính sách hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

-Tăng cường quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố mối quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và trung tâm kinh tế – chính trị trên thế giới, đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết với các nước đang phát triển, với phong trào không liên kết.

-Tăng cường hoạt động ơ Liên hợp quốc, tích cực tham gia các tổ chức tài chính, thương mại và các diễn đàn quốc tế.

-Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền khác.

-Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ.

Tổ bộ môn Luật Dân sự – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

Liên kết đào tạo và hợp tác việc làm giữa Trường Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest là hoạt động cần thiết để giải quyết thực trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và sự đáp ứng của nhà trường. Hướng đến mục tiêu đào tạo 100% sinh viên có việc làm sau khi trường, Trường Đại học Hòa Bình triển khai liên kết chặt chẽ với Công ty Luật TNHH Everest trong công tác đào tạo sinh viên và tạo điều kiện việc làm cho sinh viên mới ra trường. Để được tư vấn pháp luật, Quý khách vui lòng gọi tới tổng đài 19006198.

Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo / 2023

Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non, Tổ Chức Hoat Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Module Gvmn 19, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Theo Thong Tư 12, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Theo Thông Tư 12, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Kỹ Năng Hướng Dẫn Tư Vấn Phát Triển Năng Lực Nghề Nghiệp Cho Giáo Viên Mầm , Nâng Cao Hiệu Năng Chuyển Giao Trong Mạng Mobile Ip, 2013, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Ngữ Pháp Chức Năng, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, Chức Năng Quản Lý, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Ky Nang To Chuc Su Kien, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Chức Năng Gia Đình, chúng tôi Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng R&d, 5 Chức Năng Cơ Bản Của Văn Bản Hành Chính, Phục Hồi Chức Năng Sau Bỏng, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Ban, Chức Năng Nhiệm Vụ Quản Đốc Nhà Máy, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Nâng Cao Tổ Chức Đãi Ngộ Nhân Lực Của Khách Sạn, Chức Năng Thay Đổi Lời Nhắc, Vị Trí Pháp Lí, Chức Năng Của Quốc Hôj, Chức Năng Kiểm Soát, Chức Năng Cơ Bản Của Hệ Thống Tài Chính, Đề Cương Phục Hồi Chức Năng, Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Hãy Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Chức Năng Của Cơ Thể, Suy Giảm Chức Năng Thận Trong Suy Tim, Thực Phẩm Chức Năng, Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ, Ngữ Pháp Chức Năng Hoàng Văn Vân, Kỹ Năng Tư Vấn, Mua Bán, Tổ Chức, Thành Lập Lại Doanh Nghiệp, Bài 35 Dùng Chức Năng Trộn Văn Bản Để In Giấy Mời, Chức Năng Của Hành Chính Nhà Nước, Chủ Nghĩa Mác Lênin Có Những Chức Năng Nào, Chức Năng Của An Toàn Sức Khẻ Nghề Nghiệp, Tờ Trình Nâng Ngạch Công Chức, Vị Trí Pháp Lí Và Chức Năng Của Chủ Tịch Nước, Đơn Xin Tham Gia Dịch Vụ Phục Hồi Chức Năng (bản In Chữ Lớn), Chức Năng Chính Của Hệ Điều Hành, Tìm Phần Văn Bản Có Chức Năng Gì?các Bước Để Tìm Kiếm?, Phân Tích Chức Năng Của Đại Lý Lữ Hành?, Kỹ Năng Lập Kế Hoạch Và Tổ Chức Công Việc, Chức Năng Cửa Lưới Điện Quốc Gia, Phục Hồi Chức Năng Tổn Thương Tuỷ Sống, Chức Năng Cất Trữ Giá Trị Của Tiền Có Thể Được Mô Tả Một Cách Cụ Thể Là, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Sản Xuất, Hãy Kể Tên Và Chức Năng Các Bộ Phận Chính Của Máy Tính, Đơn Đăng Ký Dự Thi Nâng Ngạch Công Chức, Mẫu Đơn Đề Nghị Dự Thi Nâng Ngạch Công Chức, Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Nhà Nước, Thông Tư Gmp Thực Phẩm Chức Năng, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Chức Năng Tâm Lý Của Hội Bạn Thiếu Niên Ngang Hàng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Quân Nhân, Phân Phối Thực Phẩm Chức Năng, Thực Phẩm Chức Năng Sức Khỏe Bền Vững, Thủ Tục Đăng Ký Quảng Cáo Thực Phẩm Chức Năng, Vụ án Về Người Lập Di Sản Thừa Kế Theo Di Chúc Khi Bị Mất Năng Lực Hành Vi Dân Sự, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Hãy Giải Thích Để Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Chức Năng Của Cơ Thể, Phân Tích 6 Chức Năng Của Marketing Hiện Đại, Tiếng Anh Chuyên Ngành Phục Hồi Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Chăm Sóc Khách Hàng, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Nâng Ngạch Công Chức, Phục Hồi Chức Năng Dựa Vào Cộng Đồng (phcndvcĐ), Phục Hồi Chức Năng Bàn Chân Khoèo Bẩm Sinh, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Hãy Chứng Minh Mối Quan Hệ Giữa Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Quy Trình Kỹ Thuật Chuyên Ngành Phục Hồi Chức Năng, Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Phục Hồi Chức Năng, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Nguyên Tắc Công Tác Tuyên Huấn,

Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non, Tổ Chức Hoat Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Module Gvmn 19, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Theo Thong Tư 12, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Theo Thông Tư 12, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Kỹ Năng Hướng Dẫn Tư Vấn Phát Triển Năng Lực Nghề Nghiệp Cho Giáo Viên Mầm , Nâng Cao Hiệu Năng Chuyển Giao Trong Mạng Mobile Ip, 2013, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Ngữ Pháp Chức Năng, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, Chức Năng Quản Lý, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Ky Nang To Chuc Su Kien, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Chức Năng Gia Đình, chúng tôi Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng R&d, 5 Chức Năng Cơ Bản Của Văn Bản Hành Chính, Phục Hồi Chức Năng Sau Bỏng, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Ban, Chức Năng Nhiệm Vụ Quản Đốc Nhà Máy, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Nâng Cao Tổ Chức Đãi Ngộ Nhân Lực Của Khách Sạn, Chức Năng Thay Đổi Lời Nhắc, Vị Trí Pháp Lí, Chức Năng Của Quốc Hôj, Chức Năng Kiểm Soát, Chức Năng Cơ Bản Của Hệ Thống Tài Chính, Đề Cương Phục Hồi Chức Năng,