Thỏa Thuận Thời Gian Thi Công, Biện Pháp Tổ Chức Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Thi Công Các Dự Án Cải Tạo, Nâng Cấp, Mở Rộng Đường Bộ Trên Đường Tỉnh Đang Khai Thác (Sở Giao Thông Vận Tải Làm Chủ Đầu Tư)

--- Bài mới hơn ---

  • Thỏa Thuận Thời Gian, Biện Pháp Tổ Chức Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Khi Thi Công Trong Phạm Vi Đất Dành Đường Bộ Đối Với Đường Tỉnh Đang Khai Thác
  • Indonesia Với Làn Sóng Bùng Nổ Dân Số Hậu Covid
  • Chống Bạo Hành Gia Đình: Cần Sự Chung Tay Của Toàn Xã Hội
  • Pháp: 5 Biện Pháp Mới Trong Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình
  • 10 Cách Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình Phụ Nữ Phải Ghi Nhớ
  • Thông tin thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Cách thực hiện thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Trình tự thực hiện

    Bước 1:

    Ban quản lý dự án hoặc nhà thầu nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

    Bước 2:

    Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả : Hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, viết Phiếu nhận hồ sơ hẹn ngày trả kết quả

    Bước 3:

    Phòng Quản lý Giao thông : Kiểm tra hồ sơ, trình ký văn bản thoả thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công

    Bước 4:

    Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả : Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho Ban quản lý dự án hoặc nhà thầ

    Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Văn bản đề nghị thoả thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công

    Quyết định phê duyệt dự án

    Hồ sơ thiết kế thi công được duyệt

    Phương án thi công, biện pháp tổ chức thi công bảo đảm an toàn giao thông

    Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    Lược đồ Thỏa thuận thời gian thi công, biện pháp tổ chức bảo đảm an toàn giao thông thi công các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường bộ trên đường tỉnh đang khai thác (Sở Giao Thông Vận Tải làm chủ đầu tư) – An Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự Atgt Đường Bộ
  • Cần Thơ Triển Khai Các Giải Pháp Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Đường Thủy
  • Bình Ổn Giá Xăng Dầu: Dùng Tiền Của Dân, Nhưng Dân Không Được Hưởng
  • “không Có Căn Cứ” Để Lập Quỹ Bình Ổn Giá Xăng Dầu
  • Các Phương Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu ?
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đánh Giá Xếp Loại Tổ Chức Đảng Đảng Viên Cuối Năm

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Thực Hiện Quyết Liệt Các Giải Pháp Bảo Đảm Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Triển Khai Các Giải Pháp Cấp Bách Bảo Đảm Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Chủ Động Các Giải Pháp Bảo Đảm Trật Tự An Toàn Giao Thông Ngay Từ Đầu Năm
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Các Giải Pháp Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông Tết 2021
  • Xác định việc đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên và tổ chức đảng là một trong những giải pháp quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; là cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đề ra chủ trương, giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ; là căn cứ để thực hiện tốt các nội dung về công tác cán bộ, đảng viên, thời điểm này, tất cả các cấp ủy trong toàn tỉnh đang tích cực chuẩn bị để tiến hành việc kiểm điểm tập thể, cá nhân gắn với đánh giá phân loại đảng viên, tổ chức đảng.

    Thực tế cho thấy trong những năm vừa qua, công tác đánh giá, xếp loại chất lượng, khen thưởng tổ chức đảng và đảng viên trong cấp ủy các cấp ngày càng được thực hiện có nền nếp và chất lượng. Hằng năm, trên cơ sở Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, cấp ủy các cấp đã kịp thời hướng dẫn kiểm điểm tập thể, cá nhân gắn với đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Nội dung, tiêu chí xếp loại chất lượng tổ chức đảng đã được lượng hóa cụ thể phù hợp với tình hình đặc điểm của từng đơn vị, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực.

    Tuy nhiên, thực tế trong quá trình kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Công tác tự đánh giá, xếp loại của một số ít cấp ủy cơ sở chưa chặt chẽ, chưa phản ánh đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ của đảng viên và tổ chức đảng nên phải điều chỉnh kết quả sau khi Ban Thường vụ Đảng ủy cấp trên thẩm định; việc đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và xếp loại của các tổ chức đoàn thể có lúc còn chậm nên có ảnh hưởng đến tiến độ; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của một bộ phận đảng viên còn hạn chế thể hiện qua việc ngại góp ý, đặc biệt là đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

    Từ những kinh nghiệm rút ra qua triển khai thực hiện trong những năm qua, để tiếp tục làm tốt hơn nữa việc nâng cao chất lượng công tác đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên cuối năm 2021 và những năm tiếp theo, thời gian tới cần tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và đảng viên về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên cuối năm. Trong tổ chức kiểm điểm phát huy dân chủ của cá nhân, vai trò của các tổ chức đoàn thể của cơ quan, đơn vị trong tham gia xây dựng tổ chức Đảng, đóng góp ý kiến, phê bình cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ gắn liền với việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, từ đó nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đảng viên, qua đó phát huy ý thức trách nhiệm của mỗi đảng viên trong góp ý xây dựng cho đồng chí, đồng nghiệp, xây dựng tổ chức đảng nơi mình sinh hoạt. Thực hiện nghiêm túc việc phân công nhiệm vụ của đảng viên ngay từ đầu năm để làm cơ sở đánh giá, xếp loại cuối năm. Nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nội dung, phương pháp, yêu cầu, tiêu chí đánh giá, quy trình đánh giá, xếp loại chất lượng, khen thưởng đảng viên và tổ chức đảng. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc kiểm điểm, đánh giá, phân loại đối với tập thể và cá nhân các tổ chức cơ sở đảng; có kế hoạch và biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.

    Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, tin tưởng rằng công tác đánh giá, xếp loại chất lượng, khen thưởng đảng viên và tổ chức đảng hằng năm sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, phản ánh thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng đảng viên và từng tổ chức đảng, qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đảng viên trong toàn Đảng bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Thể, Cá Nhân Cán Bộ Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Sự Suy Thoái Về Tư Tưởng, Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống Của Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Sinh Hoạt Chi Bộ Trường Tiểu Học Ea Bông
  • Nâng Cao Vai Trò Của Tổ Chức Công Đoàn Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Qui Định Trách Nhiệm Nêu Gương Đi Vào Cuộc Sống?
  • Giải Pháp Nào Để Quy Định Trách Nhiệm Nêu Gương Đi Vào Cuộc Sống?
  • Giải Pháp Nào Để Trách Nhiệm Nêu Gương Đi Vào Cuộc Sống?
  • 5 Giải Pháp Để Cán Bộ Lãnh Đạo, Chỉ Huy Công An Nhân Dân Nêu Gương Có Hiệu Quả Trong Công Tác Đấu Tranh, Phòng, Chống Tội Phạm
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên
  • Dự và chủ trì hội thảo có các đồng chí: Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Chủ tịch LĐLĐ Thành phố; Lê Đình Hùng, Phó Chủ tịch LĐLĐ Thành phố; Nguyễn Thanh Minh, Phó Bí thư quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Nam Từ Liêm.

    Theo báo cáo đề dẫn tại hội thảo, thời gian qua, căn cứ vào các Chỉ thị của Đảng, Nghị định của Chính phủ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố Hà Nội, hướng dẫn của Tổng LĐLĐ Việt Nam, LĐLĐ Thành phố luôn tích cực chỉ đạo và hướng dẫn các cấp công đoàn chủ động tham gia với chính quyền, chuyên môn, phối hợp với MTTQ và các đoàn thể chính trị, xã hội đồng cấp tổ chức thực hiện tốt QCDC ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

    Ban chỉ đạo Quy chế dân chủ LĐLĐ Thành phố thường xuyên được củng cố và kiện toàn khi có sự thay đổi về nhân sự và tổ chức hoạt động theo quy định. Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở cấp nào cũng đều có thành viên là đồng chí Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch công đoàn cấp đó tham gia.

    Dưới sự phối hợp chỉ đạo chặt chẽ giữa UBND và LĐLĐ Thành phố, hàng năm có trên 98 % cơ quan, đơn vị tổ chức Hội nghị cán bộ công chức viên chức (CBCCVC), trên 60% doanh nghiệp, đơn vị ngoài nhà nước tổ chức Hội nghị Người lao động (NLĐ); 584/584 CĐCS cơ quan xã, phường, thị trấn phối hợp chuyên môn tổ chức Hội nghị cán bộ công chức (CBCC). Cùng đó, các hội nghị tiếp xúc, đối thoại giữa lãnh đạo Thành phố với CNLĐ được tổ chức thường niên. Bình quân hàng năm có trên 30% đơn vị, doanh nghiệp tổ chức đối thoại có sự hướng dẫn của công đoàn cấp trên cơ sở.

    Ngoài ra, hiện toàn thành phố có 3.388/3.495 CĐCS cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp bầu được ban Thanh tra nhân dân (TTND), có 3.381/3.388 Ban TTND đang hoạt động, số Ban thanh tra hoạt động tốt đạt tỉ lệ 40%; Ban thanh tra hoạt động bình thường đạt tỉ lệ 15%.

    Các đơn vị đã tiến hành rà soát, hoàn thiện, các nội quy, quy chế của đơn vị với tinh thần đề cao tính dân chủ, tính công khai, phù hợp với nội dung của QCDC. Đối với việc xây dựng QCDC tại cơ sở hiện cũng đã có 98% cơ quan, đơn vị HCSN, DNNN đã xây dựng được quy chế; 58% DNNNN xây dựng được quy chế. Nội dung quy chế đã quy định được những nội dung cơ bản: về những vấn đề người lao động biết, đư­ợc bàn bạc và góp ý kiến và người lao động kiểm tra giám sát.

    Những kết quả trên đã thể hiện rõ được vai trò của tổ chức công đoàn trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp thực hiện QCDC ở cơ sở.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở trong các cấp công đoàn vẫn còn những tồn tại, hạn chế, trong đó có việc triển khai mở hội nghị dân chủ của một số đơn vị chậm, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa công đoàn và chính quyền, chuyên môn; việc thực hiện Nghị định 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ đối với các loại hình doanh nghiệp chưa được triệt để, tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng các quy chế và tổ chức đối thoại định kỳ theo quy định của pháp luật còn thấp v.v…

    Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Thanh Minh, Phó Bí thư Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Nam Từ Liêm bày tỏ: hội thảo ngày hôm nay là dịp các cấp công đoàn quận Nam Từ Liêm được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, đặc biệt là các giải pháp, cách làm hay của LĐLĐ các quận, huyện, thị xã, công đoàn ngành, công đoàn Tổng Công ty, công đoàn cấp trên cơ sở trên địa bàn Thành phố, từ đó nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức công đoàn trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

    Kết luận hội thảo, Chủ tịch LĐLĐ Thành phố Nguyễn Thị Tuyến đánh giá cao những tham luận trí tuệ, xác đáng của các đại biểu; nhất là đối với các đề xuất, giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong thực hiện QCDC ở cơ sở. Một lần nữa nhấn mạnh vai trò quan trọng của công đoàn- một tổ chức chính trị xã hội rộng rãi- đối với việc thực hiện QCDC, Chủ tịch Nguyễn Thị Tuyến chỉ đạo các cấp công đoàn Thủ đô tập trung thực hiện 7 nhiệm vụ, trong đó, các cấp công đoàn cần tiếp tục tục nâng cao nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở, thường xuyên kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện QCDC cơ sở ở các cấp công đoàn; chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền đồng cấp tổ chức đối thoại với công đoàn và người lao động; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng thỏa ước lao động tập thể…

    Phạm Diệp

    Nguồn :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Trong Khối Doanh Nghiệp
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Trong Doanh Nghiệp
  • Vĩnh Long: Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Quyền Trẻ Em Và Bảo Vệ Trẻ Em
  • Triển Khai Các Giải Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Quyền Trẻ Em Và Bảo Vệ Trẻ Em
  • Cần Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Đảm Bảo Quyền Trẻ Em
  • Một Số Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Của Tổ Chức Đảng Trong Các Học Viện, Nhà Trường Quân Đội Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyển Biến Tích Cực Trong Triển Khai Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Thi Hành Kỷ Luật Đảng
  • Các Biện Pháp Kế Hoạch Hóa Gia Đình Mọi Cặp Vợ Chồng Nên Biết
  • Các Biện Pháp Thực Hiện Kế Hoạch Hóa Gia Đình Phổ Biến Hiện
  • Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Dân Số
  • Triển Khai Một Số Biện Pháp Thực Hiện Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu, Bia Trong Cơ Quan Văn Phòng
  • Trong thời gian qua, Đảng ủy các học viện, nhà trường Quân đội đã lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và thực hiện nghiêm quy định Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định, quy định, hướng dẫn của trên; Nắm vững đặc điểm, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ xây dựng kế hoạch kiểm tra giám sát tổ chức đảng, đảng viên nhiệm kỳ và hằng năm, kịp thời điều chỉnh bổ sung phù hợp với sự phát triển của tình hình nhiệm vụ của đơn vị.

    Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm giáo dục, đào tạo và công tác xây dựng đảng. Các cuộc kiểm tra giám sát bảo đảm chặt chẽ, đúng quy trình; kết luận thông báo rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát.

    Công tác kiểm tra, giám sát đã thực sự góp phần quan trọng tăng cường đoàn kết thống nhất, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng; ngăn ngừa từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; ngăn ngừa, khắc phục hạn chế vi phạm kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, và chất lượng công tác cán bộ, đảng viên; bảo đảm cho cấp ủy, tổ chức đảng luôn trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo ở các học viện, nhà trường, góp phần quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội.

    Qua thực tiễn hoạt động công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng ở các học viện, nhà trường Quân đội rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

    Thứ nhất, th­ường xuyên quán triệt, chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và hướng dẫn của cấp ủy, Thứ hai, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên trách, đặc biệt là đồng chí bí thư cấp ủy; phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình trong quá trình kiểm tra, giám sát. ủy ban kiểm tra cấp trên về công tác kiểm tra, giám sátThứ ba, không ngừng đổi mới, hoàn chỉnh quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, hiệu lực hiệu quả cao. . Thứ tư, luôn củng cố, kiện toàn cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ ủy viên ủy ban kiểm tra, bảo đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

    Quán triệt, chấp hành nghiêm Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên là vấn đề có tính nguyên tắc, sợi chỉ đỏ xuyên suốt chỉ đạo mọi hoạt động công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời là điều kiện, nguyên nhân chủ yếu, sâu sa dẫn đến thành công của công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng.

    Thực tiễn cho thấy, ở học viện, nhà trường mà cấp ủy cơ sở coi trọng tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng, chỉ thị, quy định, quy chế, h­ướng dẫn của cấp trên, đội ngũ cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát thì ở đó công tác kiểm tra, giám sát đ­ược tăng cường, hoạt động có hiệu quả và có tác dụng sâu sắc.

    Vì vậy, để không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy cơ sở trong các học viện, nhà trường phải thư­ờng xuyên quán triệt sâu sắc nghị quyết của Đảng, chỉ thị, quy định, quy chế, hư­ớng dẫn của cấp trên, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cấp ủy viên về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát; tự giác làm công tác kiểm tra, giám sát để tạo các điều kiện thuận lợi và làm chỗ dựa vững chắc cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở thực hiện có kết quả công tác kiểm tra, giám sát

    Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.

    Công tác kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là trách nhiệm của mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, song trước hết là của cấp ủy, cán bộ chủ trì, đặc biệt là bí thư cấp ủy. Là người chủ trì mọi hoạt động ở các tổ chức đảng, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng phụ thuộc rất lớn vào tinh thần, trách nhiệm, trình độ, năng lực, phương pháp công tác của đội ngũ bí thư cấp ủy.

    Trung tá Bùi Mạnh Tấn Học viện Chính trị

    Do vậy, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi cấp ủy, bí thư cấp ủy phải có kiến thức năng lực về công tác kiểm tra, giám sát; thường xuyên nghiên cứu nắm chắc nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, hướng dẫn của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên, tình hình đơn vị, lựa chọn đúng đối tượng, xác định nội dung kiểm tra, giám sát phù hợp, trao đổi, bàn bạc, đề xuất để cấp ủy quyết định nội dung, biện pháp lãnh đạo khả thi và kiên quyết trong tổ chức thực hiện, làm tròn chức trách, nhiệm vụ được phân công.

    Đồng thời, trong tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, chỉ ra những­ ưu điểm, khuyết điểm, làm rõ đúng, sai và nguyên nhân dẫn đến những sai trái của đối tư­ợng đ­ược kiểm tra, giám sát; khắc phục các biểu hiện né tránh, ngại va chạm, e dè, nể nang, giấu khuyết điểm, dẫn đến kết luận thiếu chính xác, không đạt đư­ợc mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát.

    Đây là hoạt động rất quan trọng trong nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng trong các học viện, nhà trường Quân đội. Do vậy, việc đổi mới phải bảo đảm giữ vững nguyên tắc, công khai, dân chủ, cụ thể, dễ thực hiện và ngày càng được quy chuẩn hóa. Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cơ sở căn cứ vào quy chế, quy trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên để ban hành quy trình của cấp mình cho phù hợp. Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng trong các học viện, nhà trường phải duy trì và thực hiện có nền nếp, theo đúng chế độ; thư­ờng xuyên quán triệt nghiêm và vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nguyên tắc, ph­ương pháp, hình thức của công tác kiểm tra, giám sát sát với đặc điểm từng tổ chức đảng, từng đảng viên.

    Nếu các cấp ủy cơ sở trong các học viện, nhà trường Quân đội thực sự quan tâm bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho cấp ủy viên ủy ban kiểm tra, kiện toàn ủy ban kiểm tra, bố trí cán bộ đủ về số l­ượng, đảm bảo chất l­ượng, ủy viên ủy ban kiểm tra; đặc biệt là đồng chí chủ nhiệm ủy ban kiểm tra có tâm huyết, có trách nhiệm, có bản lĩnh, giữ vững nguyên tắc, nắm chắc tình hình, chủ tr­ương nghị quyết, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ chính trị của đơn vị thì nhiệm vụ kiểm tra, giám sát được tiến hành có tính chủ động, có tác dụng và hiệu quả cao.

    Cấp ủy các cấp trên cơ sở phải hiểu đặc điểm tình hình của đảng bộ, chi bộ, nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình, để bồi dư­ỡng phẩm chất, năng lực cho các cấp ủy viên, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở. Đồng thời, đội ngũ cấp ủy viên và ủy viên ủy ban kiểm tra phải thường xuyên học tập, tu dư­ỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, tác phong công tác và cũng luôn cần tự kiểm tra, tự chỉnh đốn mình, tự đổi mới chính bản thân, không để những lợi ích cá nhân và bất cứ tác động tiêu cực nào chi phối nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, chức trách đư­ợc giao.

    Mọi hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng đều đ­ược biểu hiện cụ thể trong thực tiễn. Những việc làm đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực, dù bộc lộ dưới hình thức nào, trực tiếp hay gián tiếp, trong hay ngoài đơn vị đều không thể che dấu đư­ợc mọi ngư­ời. Trong đó, các tổ chức trong đơn vị là lực lư­ợng chủ yếu cung cấp thông tin, có độ tin cậy cao và là thành phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin cho cấp ủy và đoàn kiểm tra. Do đó, cấp ủy các tổ chức đảng phải phát huy đư­ợc vai trò của các tổ chức, các lực lượng, nhất là chú trọng đến công tác vận động quần chúng tích cực tham gia xây dựng Đảng, tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng là nhân tố quan trọng, đồng thời là một trong những phư­ơng pháp cơ bản để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát có hiệu quả.

    Thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy các tổ chức đảng thời gian qua cho thấy, các thông tin về đối tượng kiểm tra, giám sát mà cấp ủy, ủy ban kiểm tra thu thập được chủ yếu dựa vào các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong đơn vị. Do vậy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các tổ chức đảng phải phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lư­ợng trong tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.

    Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng trong các Học viện, nhà trường Quân đội là nhiệm vụ của các cấp ủy, các tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở và mọi đảng viên. Để không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát cấp ủy cơ sở cần phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, có chư­ơng trình, kế hoạch khoa học, nắm vững t­­ư tưởng chỉ đạo, nội dung, phư­­ơng pháp, hình thức kiểm tra, giám sát và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn. Thường xuyên quan tâm phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Rút Ra Và Những Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Kiểm Tra, Giám Sát Trong Thời Gian Tới
  • Giải Pháp Thực Hiện Dân Chủ Trong Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Kỷ Luật Đảng
  • Báo Cáo 5 Năm Thực Hiện Kết Luận 62
  • Thực Hiện Kết Luận Số 62
  • Báo Cáo Sơ Kết 05 Năm Thực Hiện Kết Luận Số 62
  • Các Yếu Tố Cấu Thành Năng Lực Thực Thi Công Vụ Của Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Kết Cấu Nhà Cao Tầng Bê Tông Cốt Thép
  • Phương Pháp Lựa Chọn Hệ Kết Cấu Nhà Cao Tầng
  • 6 Phương Pháp Gia Cố Nền Móng
  • Kết Cấu Móng Băng Nhà 2 Tầng Mà Chủ Đầu Tư Nhất Định Phải Biết
  • Quy Trình, Cách Làm Móng Nhà An Toàn Và Lưu Ý Chớ Bỏ Qua
  • (Quanlynhanuoc.vn) – Năng lực thực thi công vụ chính là khả năng thực tế của mỗi công chức trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Có nhiều yếu tố cấu thành nên năng lực, trong đó: kiến thức; kỹ năng; thái độ, hành vi là những yếu tố cốt lõi. Điều quan trọng là phải biết kết hợp, biết tổng hòa các yếu tố đó trong quá trình thực thi công vụ.

    Năng lực của mỗi con người là một yếu tố khó định lượng. Nó được hình thành và tổng hợp hài hòa bởi nhiều yếu tố. Theo Christian Batal (nhà nghiên cứu người Pháp): “Năng lực thực thi công vụ là khả năng của mỗi công chức trong việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như: kiến thức; kỹ năng, trình độ; thái độ, hành vi để làm được công việc được giao, xử lý tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ trong mục tiêu xác định” 1. Theo cách diễn giải này, năng lực của công chức sẽ là tổng hòa các yếu tố cơ bản sau:

    Kiến thức là những hiểu biết về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức của mỗi người có được do quá trình học tập, lao động, tạo nên cho người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét, khả năng tư duy, xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ và đúng thời cơ.

    Thông thường trình độ kiến thức của mỗi công chức được đánh giá qua các yếu tố: trình độ giáo dục phổ thông, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước và trình độ chuyên mô, nghiệp vụ.

    Trình độ giáo dục phổ thông (ở Việt Nam thường gọi là: trình độ văn hóa) là yếu tố cơ bản và là yêu cầu tối thiểu đối với mỗi công chức. Trên thực tế, trình độ giáo dục phổ thông được biểu hiện trên những văn bằng đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    Trình độ lý luận chính trị là những kiến thức mà công chức được trang bị nhận thức về chế độ xã hội, về bản chất của Nhà nước và về những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Có được những kiến thức đó, cán bộ, công chức sẽ hoạt động đúng định hướng chính trị, giúp cho quá trình tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách đó vào trong quần chúng đạt hiệu quả cao hơn.

    Trình độ quản lý nhà nước: hoạt động của các công chức là hoạt động quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực họ phụ trách nên mỗi công chức phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất về quản lý nhà nước. Những kiến thức này sẽ cho họ hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và qua đó cũng cung cấp những công cụ, kỹ năng, phương pháp quản lý điều hành giúp họ giải quyết công việc có kết quả và đúng pháp luật.

    Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức, khả năng chuyên môn của mỗi người trên lĩnh vực mà họ phụ trách. Nó tạo nên nét đặc thù trong công việc của mỗi cán bộ công chức, nhất là công chức chuyên môn.

    Kiến thức không phải là yếu tố duy nhất tạo nên năng lực nhưng nó có một vai trò rất quan trọng. Trong quá trình thực thi công vụ, kiến thức sẽ là nền tảng cho sự nhận thức tiếp thu đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng những chủ trương, chính sách đó vào cuộc sống. Kiến thức cũng là nền tảng để phát triển kỹ năng, thái độ và hành vi của công chức.

    Kỹ năng là khả năng làm chủ các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải quyết công việc. Kỹ năng hành chính được quan niệm một cách khái quát là cách thức mà công chức vận dụng những kiến thức, đặc biệt kiến thức thuộc lĩnh vực hành chính để đạt được kết quả trong thực hiện công vụ.

    Thái độ, hành vi.

    Thái độ, hành vi chính là làm chủ thái độ, hành vi; làm chủ trạng thái tinh thần của bản thân. Việc đánh giá khách quan loại hình năng lực thái độ, hành vi khó hơn đánh giá các loại năng lực khác, tuy nhiên càng ngày nó càng được các nhà quản lý và khách hàng của nền công vụ quan tâm hơn, bởi đây là một yếu tố không kém phần quan trọng trong khi thực hiện nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức. Thực tế cho thấy, một người có đầy đủ kiến thức, kỹ năng làm việc nhưng không tâm huyết với công việc thì kiến thức, kỹ năng đó cũng trở nên ít ý nghĩa.

    Thái độ, hành vi chính là sự biểu hiện cụ thể nhất của đạo đức công chức. Ở mỗi vị trí công việc, công chức phải hành động theo những giá trị, những hành vi chuẩn mực được pháp luật công vụ quy định. Đối với các công chức, mà đặc trưng công việc là sử dụng quyền lực nhà nước trong thực thi công vụ thì khả năng làm chủ thái độ, hành vi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

    Thái độ, hành vi được hình thành trong cùng một điều kiện như hình thành kỹ năng. Nhưng việc học tập các “thái độ, hành vi” đó đòi hỏi mỗi công chức phải ý thức được tầm quan trọng của yếu tố ‘thái độ, hành vi” trong công việc, đồng thời việc học tập các “thái độ, hành vi” còn là nghĩa vụ theo luật định đối với công chức.

    Ngoài ra, để cấu thành năng lực thực thi công vụ còn một số yếu tố khác như: tác phong, sức khoẻ… Nhưng khung năng lực với 3 yếu tố trên vẫn là quan điểm được nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và công nhận.

    Tuy nhiên năng lực thực thi công vụ không phải là tổng của các yếu tố trên. Mà quan trọng nó là sự quy tụ đồng thời, là sự phối kết hợp chặt chẽ các yếu tố trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    Năng lực thực thi công vụ chính là khả năng thực tế của mỗi người công chức trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Có nhiều yếu tố cấu thành nên năng lực nhưng nói tóm lại thì có 3 yếu tố chính: kiến thức; kỹ năng; thái độ, hành vi. Điều quan trọng là phải biết kết hợp, biết tổng hòa các yếu tố đó trong quá trình thực thi công vụ.

    Nhận thức năng lực giúp hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước có khả năng đạt hiệu quả, bởi năng lực được xác định dựa trên những yếu tố có thể định lượng được. Với cách nhận thức về năng lực nêu trên, các nhà quản lý có thể tiến hành các hoạt động như tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công chức có căn cứ cụ thể, sát thực, giảm thiểu những lãng phí nguồn lực của tổ chức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Đô Thị R&d
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Cơ Sở Ở Tỉnh Hậu Giang
  • Công Ty & Tin Tuyển Dụng Từ Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Giải Pháp Thi Thiên
  • Đánh Giá Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Giải Pháp Thi Thiên, Có Nên Làm Việc Tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Giải Pháp Thi Thiên?
  • Tuyển Nhân Viên Kinh Doanh Làm Việc Tại Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Giải Pháp Thi Thiên
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Lập Hồ Sơ Hiện Hành Ở Các Cở Quan, Tổ Chức Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bvpl: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ban Hành Quyết Định Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra
  • Khắc Phục Khó Khăn Trong Quản Lý Đảng Viên
  • Luận Văn: Quản Lý Đảng Viên Của Đảng Bộ Phường Tại Tphcm, Hay
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thanh, Quyết Toán Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Sử Dụng Nguồn Vốn Ngân Sách Nhà Nước Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Nâng cao chất lượng lập hồ sơ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tài liệu giao nộp vào lưu trữ cơ quan cũng như giao nộp vào lưu trữ lịch sử. Vì vậy, cần có biện pháp đồng bộ để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác lập hồ sơ hiện hành. Một trong những biện pháp cơ bản và quan trọng là sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan quản lý Nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ, cũng như sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan Trung ương và địa phương. Nếu không có sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, của lãnh đạo các cơ quan thì công tác lập hồ sơ sẽ thực hiện một cách tự phát, thiếu sự thống nhất và khoa học về nghiệp vụ.

    Tại Điều 9, Luật Lưu trữ quy định trách nhiệm lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan; Điều 23, Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ quy định trách nhiệm đối với công tác lập hồ sơ và giao nộp tài liệu vào lưu trữ hiện hành; Điều 13, Thông tư 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 11 năm 2012 Quy định Lập danh Mục hồ sơ ; Quyết định số 34/2012/QĐ-UBND ngày 19/9/2012 của UBND tỉnh Bình Định về Quy định công tác văn thư, lưu trữ của UBND các cấp, các ngành thuộc tỉnh và Chỉ thị 02/2011/CT-UBND ngày 20/4/2011 của UBND tỉnh về việc lập hồ sơ công việc và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan, lưu trữ lịch sử các cấp.

    Thực hiện các văn bản trên, trong thời gian qua đã có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác lập hồ sơ công việc (hồ sơ hiện hành). Tuy nhiên, cũng không ít cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa tuân thủ các quy định của pháp luật về việc lập hồ sơ hiện hành của cơ quan, tổ chức vẫn còn nhiều hạn chế đã dẫn đến hậu quảkhi cần tra cứu tài liệu không tìm thấy hoặc tìm thấy thì cũng mất rất nhiều thời gian, công sức và làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ công việc của cơ quan, tổ chức cần thực hiện thống nhất phương pháp lập hồ sơ như sau:

    TÊN CQ CHỦ QUẢNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨCĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

    DANH MỤC HỒ SƠ CỦA … (tên cơ quan, tổ chức)

    …………….(2) hồ sơ bảo quản vĩnh viễn;

    ……………(2) hồ sơ bảo quản có thời hạn.

    QUYỀN HẠN, CHỨC VỤ CỦA NGƯỜI KÝ

    Hướng dẫn sử dụng:

    Cột 1: Ghi số và ký hiệu của hồ sơ bao gồm số thứ tự được đánh bằng chữ số Ả rập và ký hiệu được ghi bằng các số viết tắt của đề mục lớn, khi đánh số hồ sơ có thể áp dụng một trong hai cách sau:

    – Số của hồ sơ được đánh liên tục trong phạm vi từng đề mục lớn (đơn vị tổ chức hoặc mặt hoạt động), bắt đầu từ số 01, cuối mỗi đề mục cũng để một số dòng trống để ghi bổ sung những hồ sơ phát sinh.

    Cột 2: Ghi số thứ tự và tên đề mục lớn, đề mục nhỏ; tiêu đề hồ sơ. Các đề mục lớn được đánh số liên tục bằng chữ số La mã; các đề mục nhỏ được đánh số liên tục bằng chữ số Ả rập, riêng trong từng đề mục lớn. Các tiêu đề trong hồ sổtng mỗi đề mục cần được sắp xếp theo trình tự từ những tiêu đề hồ sơ về các công việc chung, mang tính tổng hợp đến những tiêu đề hồ sơ về các công việc cụ thể.

    Cột 3: Ghi thời hạn bảo quản của hồ sơ: vĩnh viễn hoặc thời hạn bằng sốnăm cụ thể;

    Cột 4: Ghi tên đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm lập hồ sơ;

    Cột 5: Ghi những thông tin đặc biệt về thời hạn bảo quản, về người lập hồ sơ, hồ sơ chuyển từ năm trước sang, hồ sơ loại mật v.v….

    Để nắm, hiểu những vấn đề trên, cần phải nghiên cứu các văn bản sau đây:

    – Các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và các đơn vị, tổ chức.

    – Các văn bản về phân công trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nói chung.

    – Loại bỏ những văn bản xét thấy không cần phải tiếp tục lưu giữ (không còn giá trị) và những văn bản trùng lặp thông tin.

    – Sắp xếp các văn bản trong hồ sơ theo một trật tự hợp lý để tra cứu được thuận tiện.

    – Đánh số tờ để cố định thứ tự các văn bản trong hồ sơ như đã sắp xếp.

    – Bổ sung những yếu tố thông tin còn thiếu ở ngoài bìa hồ sơ như ngày tháng bắt đầu và kết thúc, số tờ của hồ sơ…

    – Viết chứng từ kết thúc.

    + Nắm được chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và công việc của từng cán bộ, công chức trong cơ quan.

    + Nắm vững Kế hoạch hoạt động của cơ quan, các chế độ hội họp, chế độ báo cáo, tổ chức công tác văn thư, quan hệ giữa cơ quan, đơn vị mình với cơ quan, đơn vị khác; chương trình, kế hoạch của cơ quan, đơn vị …

    + Nắm được các loại văn bản, tài liệu của cơ quan làm ra và văn bản, tài liệu của các cơ quan khác gửi đến, các loại hồ sơ đã lập trong năm trước.

    Tóm lại: Để làm tốt công tác lập hồ sơ hiện hành, ngoài ra cần phải có những biện pháp khác như: Sự tăng cường quan tâm của Lãnh đạo cơ quan, tổ chức; ý thức trách nhiệm và sự kiên trì của cán bộ chuyên trách văn thư, lưu trữ trong việc hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị và cá nhân trong cơ quan và ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tự giác và chấp hành pháp luật lập hồ sơ hiện hành, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, tiết kiệm chi phí cho việc chỉnh lý tài liệu tích đống và lựa chọn giữ lại được những hồ sơ, tài liệu có giá trị để phục vụ nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài của cơ quan, tổ chức.

    Hy vọng rằng, với ý kiến trao đổi, đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ hiện hành trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn./.

    Theo website Chi cục Văn thư – Lưu trữ tỉnh Bình Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Khai Thác Hồ Sơ Cán Bộ Tại Vksnd Tỉnh Nghệ An
  • Hoàn Thiện Cơ Chế Thực Hiện Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Để Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giám Sát Của Quốc Hội
  • Đề Xuất Nhiều Sáng Kiến Và Giải Pháp Thiết Thực Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Quốc Hội
  • Tổ Chức Phiên Tòa Hình Sự Rút Kinh Nghiệm: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tố, Kiểm Sát Xét Xử

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Kiểm Sát Triển Khai Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tranh Tụng Của Kiểm Sát Viên Tại Phiên Tòa
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tranh Tụng Của Kiểm Sát Viên Đối Với Những Vụ Án Viện Kiểm Sát Cấp Trên Ủy Quyền Viện Kiểm Sát Cấp Dưới Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Xét Xử Sơ Thẩm Hình Sự
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên
  • Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên
  • Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên Theo Tinh Thần Chỉ Thị Số 28
  • (BGĐT) – Nhiều năm nay, ngành kiểm sát duy trì việc tổ chức các phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm. Qua đó, kiểm sát viên (KSV) nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử cũng như kỹ năng tranh luận tại phiên tòa.

    Kiểm sát viên Trần Văn Mạnh, Viện KSND huyện Lạng Giang đọc bản luận tội tại phiên tòa.

    Theo quy định từ năm 2021, mỗi KSV gồm cả lãnh đạo đơn vị làm công tác hình sự mỗi năm phải tham gia từ 1-2 phiên tòa rút kinh nghiệm (những năm trước chỉ một phiên). Các đơn vị có thể lựa chọn nhiều hình thức như: Tổ chức ở cấp phòng chuyên môn của Viện KSND tỉnh, các huyện, TP; lãnh đạo đơn vị kiểm tra đột xuất các phiên tòa; Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án phúc thẩm hình sự (Phòng 7) cùng bộ phận thanh tra của Viện KSND tỉnh kiểm tra đột xuất các phiên tòa; rút kinh nghiệm trực tuyến. Phiên tòa lựa chọn để rút kinh nghiệm là những phiên xét xử vụ án có sự tranh luận về chứng cứ, tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, về áp dụng pháp luật. Đặc biệt, có luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho bị cáo hoặc bị hại.

    Mới đây, TAND huyện Lạng Giang mở phiên tòa xét xử các bị cáo: Bùi Văn Anh, Nguyễn Hoàng Sơn và Hoàng Mạnh Đức đều ở thôn Nguyên, xã Mỹ Thái về tội “Cướp giật tài sản”. Phiên tòa được tổ chức trực tuyến nên các điểm cầu ở Viện KSND tỉnh, 10 huyện, TP, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội thuận tiện trong theo dõi, đóng góp ý kiến. KSV Trần Văn Mạnh, Viện KSND huyện Lạng Giang thực hiện quyền công tố và kiểm sát xét xử. Trong quá trình điều tra vụ án, ông Mạnh đã theo sát, nắm chắc từng thông tin. Khi phiên tòa diễn ra, ông chuẩn bị kỹ tài liệu, các tình huống tranh luận phát sinh.

    Từ đầu năm đến nay, ngành kiểm sát tỉnh đã tổ chức 99 phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm. Theo đánh giá, các kiểm sát viên đều có tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành tốt việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Trình độ chuyên môn của nhiều kiểm sát viên nâng lên rõ rệt.

    Theo dõi diễn biến phiên tòa, lãnh đạo Viện KSND tỉnh đánh giá KSV Trần Văn Mạnh có trang phục, tư thế, tác phong chuẩn mực, tự tin; chuẩn bị tốt bản luận tội, nêu rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội của ba bị cáo. Đặc biệt, đã nhấn mạnh vai trò chủ mưu của bị cáo Bùi Văn Anh, đồng thời phân tích rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ông Mạnh chia sẻ: “Qua mỗi phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm, tôi thấy được nhiều bài học, nhất là trong xây dựng bản luận, kỹ năng đối đáp, tranh luận với luật sư. Vì có sự chuẩn bị chu đáo trước mỗi phiên tòa nên nhiều năm nay bản thân và đồng nghiệp không để xảy ra án oan sai, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật”.

    Tại phiên tòa hình sự trực tuyến do Viện KSND huyện Lục Nam phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức vào tháng 3-2017, nhiều ý kiến đóng góp tại các điểm cầu cũng được nêu ra. Theo đó, đại diện các phòng chuyên môn của Viện KSND tỉnh và Viện KSND cấp huyện nhận xét, KSV làm nhiệm vụ tại phiên tòa có trang phục đúng quy định của ngành; làm chủ trong việc kiểm sát các hoạt động tố tụng của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng; chủ động xét hỏi để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên các ý kiến cũng cho rằng KSV nêu một số nội dung còn chưa sát với quy định; chuẩn bị bản luận tội còn dài, nội dung quy kết hành vi phạm tội của bị cáo chưa có tính quy nạp cao. KSV không dự kiến tình huống bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng hình phạt do Viện KSND huyện đề nghị Hội đồng xét xử đối với bị cáo là cao.

    Qua những đóng góp, trao đổi của đồng nghiệp, các KSV nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ thẩm vấn, kỹ năng tranh luận, xử lý tình huống phát sinh. Đồng thời, KSV nhận thức rõ hơn vai trò, vị trí của mình tại phiên tòa. Theo tổng hợp của Viện KSND tỉnh, từ khi tổ chức phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm, KSV các cấp đều chú trọng nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra vụ án, chất lượng bản cáo trạng; 100% vụ án đều chuẩn bị bản luận tội. Tại phiên tòa, KSV chủ động xét hỏi, làm rõ vụ án; 100% các vụ án có luật sư tham gia phiên tòa, KSV đều chuẩn bị dự kiến tình huống tranh luận. Vì vậy, chất lượng xét xử, tranh tụng nâng lên rõ rệt.

    Cũng từ phiên tòa rút kinh nghiệm, lãnh đạo các đơn vị thấy được những mặt mạnh và điểm yếu của KSV để theo dõi, đánh giá cán bộ chính xác. Từ đó, phân công cán bộ, KSV phù hợp với từng phiên tòa và có hướng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tranh Tụng Tại Phiên Tòa Phải Được Xác Định Là…
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tranh Tụng Của Kiểm Sát Viên Tại Phiên Tòa Hình Sự Sơ Thẩm Hiện Nay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kiểm Tra, Giám Sát Cán Bộ Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kiểm Tra Giám Sát
  • Cần Có Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh Ở Trạm Y Tế
  • Đẩy Mạnh Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 14: Xây Dựng Đảng Thật Sự Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Phương Hướng, Nhiệm Vụ Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh, Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Đảng Trong Văn Kiện Đại Hội Xii
  • 4 Nhóm Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Và Chỉnh Đốn Đảng
  • Kết Hợp Giữa Xây Và Chống Trong Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt cấp tỉnh để quán triệt, triển khai các văn bản của Trung ương. (Ảnh: Đức Lam)

    Cùng với gìn giữ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, khẳng định và nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình luôn coi trọng vị trí, vai trò quan trọng của các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên, coi tổ chức cơ sở Đảng là yếu tố nền tảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân.

    Vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở Đảng có nhiều chuyển biến, thể hiện trong việc quán triệt, thực hiện Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và giải quyết các vấn đề nảy sinh ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, bảo đảm quốc phòng-an ninh, tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh.

    Chất lượng đảng viên được quan tâm cả về trình độ học vấn, lý luận chính trị, ý thức và tinh thần trách nhiệm của người đảng viên. Công tác kết nạp đảng viên hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, trong đó quan tâm phát triển đảng viên đối với người theo tôn giáo, học sinh, sinh viên, chủ doanh nghiệp và công nhân lao động. Ngoài ra, thường xuyên, nghiêm túc thực hiện rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng…

    Thêm vào đó, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kỹ năng công tác, cập nhật kiến thức cho đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy các cấp cũng được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình và các cấp ủy chú trọng. Hàng năm, ngoài việc bồi dưỡng theo kế hoạch của cấp ủy cấp huyện, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy còn mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp ủy viên, bí thư các tổ chức cơ sở đảng và bí thư chi bộ khu dân cư; hướng dẫn các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Tỉnh ủy và các cấp ủy cũng phối hợp chặt chẽ với các trường, cơ sở đào tạo của tỉnh Ninh Bình và của Trung ương để mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức.

    Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm được các cấp ủy thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ; gắn việc xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên với kết quả kiểm điểm tập thể, cá nhân và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên có chuyển biến tích cực, bảo đảm thực chất và khách quan hơn, sát với kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    Đảng ủy thị trấn Nho Quan quán triệt, triển khai các nội dung về công tác rà soát, sàng lọc, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. (Ảnh: Minh Ngọc)

    Công tác kiểm tra, giám sát, việc đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được thực hiện nghiêm túc. Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên, tỷ lệ chi, đảng bộ yếu kém, tỷ lệ đảng viên vi phạm tư cách, không hoàn thành nhiệm vụ giảm đáng kể. Các trường hợp vi phạm đều được làm rõ và xử lý, kỷ luật theo đúng quy định.

    Những kết quả nỗ lực đạt được đã khẳng định vai trò quan trọng của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống người dân; qua đó, tạo động lực để Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên để xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Trong Doanh Nghiệp Tư Nhân, Doanh Nghiệp Nước Ngoài
  • Giải Pháp Hiệu Quả Xây Dựng Tổ Chức Đảng Vững Mạnh
  • Đảng Bộ Tp Uông Bí: Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Tiếp Tục Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Công Tác Kế Toán Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tại Các Đơn Vị Trực Thuộc Sở Tài Nguyên Và Môi Trường:
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Thúc Đẩy Công Tác Đổi Mới Trong Nhà Trường
  • Cty Cp Giải Pháp Tinh Hoa Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh
  • Khó Khăn Và Giải Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Giải Pháp Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Đặt vấn đề

    Hiện nay, đại đa số các nhà quản trị doanh nghiệp (DN) còn hạn chế về trình độ quản lý, chưa coi trọng đúng mực về vấn đề tổ chức công tác kế toán trong DN. Những quyết định kinh doanh chủ yếu được đưa ra dựa trên cảm tính, ít khi có căn cứ cụ thể dựa trên tình hình tài chính của DN, tình hình thị trường, từ đó ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh và vị thế của các DN trên thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.

    Bối cảnh này đòi hỏi nhà quản trị DN cần chú trọng đến tổ chức công tác kế toán trong DN. Để phát huy vai trò của công tác này, đòi hỏi mỗi DN phải có sự thích ứng, linh hoạt với điều kiện về quy mô, đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại đơn vị mình. Các nội dung về tổ chức công tác kế toán trong DN cần được hiểu rõ và vận dụng một cách phù hợp, qua đó góp phần quan trọng vào việc quản lý tại DN.

    Tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp

    Để thu nhận, xử lý thông tin kế toán, phải thông qua một hệ thống các phương pháp khoa học nhất định là phương pháp kế toán. Đồng thời, phải có yếu tố tổ chức bộ máy kế toán với những cán bộ làm công tác kế toán hiểu biết về chuyên môn và được phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng trong thực hiện các công việc kế toán. Hay nói cách khác, phải có tổ chức bộ máy, tổ chức con người làm kế toán.

    Trên góc nhìn nghiên cứu, tổ chức công tác kế toán trong DN là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực, chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán cho các đối tượng cần sử dụng.

    Trên quan điểm của DN, tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của DN trên cơ sở vân dụng các phương pháp kế toán và tổ chức bộ máy kế toán tại DN, nhằm quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán là việc xây dựng các quy trình hạch toán, phân công, quy định mối liên hệ giải quyết công việc giữa các nhân viên kế toán cũng như với các bộ phận khác trong DN.

    Như vậy, tổ chức công tác kế toán tại DN vừa giải quyết được việc thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương pháp, phương tiện tính toán, nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán; vừa phải đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán hợp lý.

    Ý nghĩa và nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Về ý nghĩa

    Kế toán là việc thu thập, xử lý và kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin giúp nhà quản lý có thể nắm bắt mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Do vậy, tổ chức công tác kế toán trong đơn vị hợp lý, khoa học có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị. Việc tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng đối với DN, thể hiện trên các khía cạnh sau:

    – Là công cụ thiết yếu để phân tích, đánh giá, tham mưu cho nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.

    – Cung cấp chính xác, kịp thời và đầy đủ các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị cho lãnh đạo đơn vị và các đối tượng quan tâm để có các quyết định đúng đắn, kịp thời.

    – Đảm bảo ghi chép, theo dõi, phản ánh và giám sát chặt chẽ các loại tài sản, nguồn vốn kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nguồn vốn trong đơn vị. Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại DN.

    – Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc, các chính sách, chế độ, thể lệ và các quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay, chế độ kế toán DN cần thực hiện theo Luật Kế toán sửa đổi 2021, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán; và 3 thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính (Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán DN; Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 về chế độ kế toán DN nhỏ và vừa; Thông tư số 132/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018 hướng dẫn chế độ kế toán đối với DN siêu nhỏ). Các DN cần nắm rõ các quy định để áp dụng đúng với loại hình DN của mình.

    – Đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa các bộ phận kế toán trong đơn vị, giữa đơn vị chính với các đơn vị thành viên và các đơn vị nội bộ, giữa tổ chức công tác kế toán ở công ty mẹ và các công ty. Nguyên tắc thống nhất thể hiện ở các phương diện như: Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý; Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán; Thống nhất giữa các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán với nhau…

    – Đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả. Theo đó, trên phương diện quản lý, phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đổi tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp. Trên phương diện kế toán, phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải đảm bảo tính tin cậy, khách quan, đầy đủ, kịp thời, có thể so sánh được và đảm bảo tính khoa học, tiết kiệm, tiện lợi cho thực hiện khói lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán…

    – Tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán là sự sắp xếp, phân công công việc cho từng kế toán viên và tổ chức luân chuyển chứng từ trong phòng kế toán của DN. Một bộ máy kế toán được tổ chức tốt sẽ giúp cho các thủ tục hành chính của DN hoạt động hiệu quả (đúng thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí thuế DN…). Việc lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán khoa học, hợp lý sẽ làm giảm bớt khối lượng công việc kế toán, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều này giúp cho việc tổ chức công tác kế toán thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, qua đó phát huy được vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, tài chính của DN. Theo quy định hiện hành, DN phải bố trí người làm kế toán đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Luật Kế toán, số lượng người làm kế toán tùy theo quy mô hoạt động, yêu cầu quản lý, chức năng nhiệm vụ hoặc biên chế của đơn vị.

    – Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Theo quy định của Luật Kế toán, tài khoản kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế. Hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản kế toán cần sử dụng. Mỗi đơn vị kế toán chỉ được sử dụng một hệ thống tài khoản kế toán cho mục đích kế toán tài chính theo quy định của Bộ Tài chính. Để thực hiện đúng quy định, DN cần nắm rõ các quy định tại các thông tư quy định chế độ kế toán DN của Bộ Tài chính như: Thông tư số 200/2014/TT-BTC, Thông tư số 133/2016/TT-BTC, Thông tư số 132/2018/TT-BTC.

    – Lập và phân tích báo cáo kế toán: Nhà nước có quy định thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian lập và gửi đối với các báo cáo kế toán định kỳ, đó là các báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, sử dụng thông tin kế toán với những mục đích khác nhau để đưa ra các quyết định phù hợp. BCTC của DN gồm: Báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo khác theo quy định của pháp luật. Ngoài BCTC, hệ thống báo cáo kế toán của DN còn bao gồm các báo cáo kế toán quản trị, không mang tính chất bắt buộc, nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ ngành, nội bộ đơn vị. Do vậy, nội dung, hình thức trình bày, kỳ báo cáo được quy định tùy theo yêu cầu quản trị trong từng DN.

    – Tổ chức công tác kiểm tra kế toán: Việc kiểm tra kế toán nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng đắn các phương pháp kế toán, các chế độ kế toán hiện hành; Tổ chức công tác chỉ đạo công tác kế toán tại DN đảm bảo thực hiện đúng vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, tài chính. Việc kiểm tra kế toán sẽ tăng cường tính đúng đắn, hợp lý, khách quan của thông tin kế toán được cung cấp.

    – Ứng dụng công nghệ xử lý thông tin trong công tác kế toán: Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán của DN không chỉ giải quyết được vấn đề xử lý và cung cấp thông tin nhanh chóng, thuận lợi, mà nó còn làm tăng năng suất lao động của bộ máy kế toán, tạo cơ sở để tinh giảm bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác kế toán. Hiện nay, hầu hết DN đều có các phần mềm kế toán riêng để phục vụ cho công tác kế toán tại DN. Phần mềm kế toán sử dụng phải phù hợp với chế độ kế toán hiện hành, được thiết kế phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

    Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

    Nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong DN, trong thời gian tới, công tác này cần chú ý một số nội dung sau:

    – Về tổ chức bộ máy kế toán: Hiện nay, trong các DN việc tổ chức công tác, bộ máy kế toán có thể tiến hành theo một trong 3 hình thức: Tổ chức bộ máy kế toán tập trung; Tổ chức bộ máy kế toán phân tán và Tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán). Thông thường, việc tổ chức bộ máy kế toán cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau: Phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán; Gọn nhẹ, hợp lý, đúng năng lực và hiệu quả; Phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh, điều kiện hoạt động của DN trên cơ sở tổ chức phân cấp và phân công rõ ràng nhiệm vụ thực hiện các phần hành kế toán cho từng cán bộ kế toán cụ thể của đơn vị.

    – Về hệ thống chứng từ kế toán: Hiện nay, hệ thống chứng từ kế toán hiện hành do Bộ Tài chính quy định, DN có thể tự thiết kế chứng từ kế toán nhưng phải đảm bảo các yếu tố để thu nhận và cung cấp thông tin kế toán. Đồng thời, biểu mẫu chứng từ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, đảm bảo rõ ràng, minh bạch, dễ kiểm tra, kiểm soát. Cần xây dựng hệ thống chứng từ đơn giản, rõ ràng, phù hợp với quy định của chế độ kế toán, bên cạnh đó, các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ phải thể hiện được yêu cầu quản lý nội bộ. Tất cả các chứng từ kế toán được lập từ trong đơn vị hay từ các đơn vị bên ngoài phải tập trung vào phòng kế toán và chỉ sau khi kiểm tra xác minh tính pháp lý của chứng từ thì mới dùng ghi sổ kế toán.

    – Về hệ thống tài khoản kế toán: Theo quy định hiện hành, DN có thể lựa chọn hệ thống tài khoản do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC, Thông tư số 133/2016/TT-BTC, Thông tư số 132/2018/TT-BTC. Như vậy, DN cần dựa vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành, DN căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động, cũng như đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý để nghiên cứu, lựa chọn các tài khoản kế toán phù hợp để hình thành một hệ thống tài khoản kế toán cho đơn vị mình.

    – Về kiểm tra, giám sát trong công tác tổ chức kế toán: Việc kiểm tra, giám sát công tác tổ chức kế toán trong DN, nhằm đảm bảo cho công tác kế toán trong các DN thực hiện tốt các yêu cầu nhiệm vụ và chức năng của mình trong công tác quản lý. Đây là việc làm thường xuyên và đòi hỏi bắt buộc tại DN nhằm đảm bảo công tác tổ chức kế toán thực hiện đúng quy định của pháp luật gắn với việc tổ chức hướng dẫn các cán bộ, nhân viên trong đơn vị hiểu và chấp hành chế độ quản lý kinh tế, tài chính nói chung và chế độ kế toán nói riêng và tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ tổ chức.

    – Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức kế toán: Để ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào công tác kế toán, DN cần tổ chức trang bị thiết bị, phương tiện kỹ thuật, kiến thức tin học cho bộ phận kế toán để kế toán viên có thể sử dụng thành thạo thiết bị, vận hành được các chương trình trên thiết bị từ đó phục vụ tốt công tác kế toán.

    Kết luận

    Kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý của DN. Trong khoa học quản lý, kế toán được nhìn nhận là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Kế toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong DN, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của DN. Tuy nhiên, vai trò quan trọng của kế toán chỉ được phát huy khi đơn vị kế toán tổ chức công tác kế toán khoa học và hiệu quả.

    Việc tổ chức công tác kế toán tại DN cần gắn với tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế độ kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kế toán hợp lý, chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, thông lệ kế toán và các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán của đơn vị.

    1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13;

    2. Chính phủ (2016), Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán năm 2021;

    3. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp;

    4. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa;

    5. Đào Ngọc Hà (2018), Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo quy định của Luật Kế toán 2021;

    6. Kế toán Đức Minh (2019), Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác kế toán doanh nghiệp?.

    7. Đặng Hữu Khánh Trung (2020), Bàn về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo quy định hiện hành, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 11/2019.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tài Sản Cố Định Hữu Hình Tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phú Thái
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Trong Nghiệp Vụ Hóa Đơn
  • Đã Có Hơn 500 Đội Tham Gia Cuộc Thi “tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam”
  • Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam
  • Pokemon Đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Bằng Công Nghệ
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng Ở Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Loạt Bài: Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Mới Ở Địa Bàn Khu Dân Cư (Phần 2)
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Khu Dân Cư Tại Đảng Bộ Huyện Lâm Thao
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Ở Huyện Thạch Thành
  • Giải Pháp Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Mới
  • Kim Sơn Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Là Người Có Đạo
  • Ngày đăng: 10/03/2018 03:08

    Chất lượng công tác phát triển đảng chỉ được nâng cao khi các tổ chức đảng nắm vững và vận dụng đúng đắn các quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương hướng, quy định của Đảng về công tác này; giải quyết tốt các mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng, kết nạp với củng cố, kết nạp với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên, kết nạp với sàng lọc đảng viên.

    Gần đây, công tác phát triển đảng ở một số tổ chức cơ sở đảng, nhất là ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, các tổ chức xã hội ngoài công lập… gặp nhiều khó khăn. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng các khâu, các bước trong thủ tục, quy trình phát triển đảng nên thiếu chặt chẽ và đồng bộ. Nhận thức về công tác phát triển đảng nói chung, vai trò, trách nhiệm của người đảng viên mới được kết nạp nói riêng chưa thực sự đầy đủ và chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm.

    Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt đầy đủ phương châm, phương hướng trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về công tác phát triển đảng: “Công tác phát triển đảng phải làm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng. Làm tốt công tác tạo nguồn để lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những người ưu tú, có đủ tiêu chuẩn trong đoàn viên thanh niên, công nhân, nông dân, trí thức, chiến sĩ các lực lượng vũ trang…; chú ý các cơ sở trọng yếu, những nơi còn ít và chưa có đảng viên. Coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc, đồng thời không định kiến hẹp hòi”.

    Để nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng, các cấp ủy và tổ chức đảng cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

    Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác phát triển đảng.

    Các cấp ủy, tổ chức đảng phải có nhận thức đúng; nắm vững phương châm, quan điểm và quy trình phát triển đảng cũng như các nội dung mới về tiêu chuẩn đảng viên trong thời kỳ mới; khắc phục tình trạng một số cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành công tác phát triển đảng mang nặng tính chủ quan, phiến diện; quy trình, thủ tục không được tuân thủ nghiêm túc, còn tùy tiện, giản đơn.

    Hai là, chủ động làm tốt công tác phát hiện, tạo nguồn phát triển đảng.

    Đây là khâu đầu tiên trong quy trình phát triển đảng, là giải pháp quan trọng nhưng còn không ít cấp ủy, tổ chức đảng bộc lộ những bất cập, lúng túng, bị động. Một quần chúng tốt, có động cơ phấn đấu vào Đảng đúng đắn, nếu không được sự quan tâm của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc bồi dưỡng, rèn luyện để kết nạp thì ý chí, động cơ phấn đấu có thể bị mai một, mất đi cơ hội đứng trong hàng ngũ của Đảng.

    Công tác tạo nguồn phải bắt đầu từ việc xác định kế hoạch, lựa chọn đúng đối tượng. Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, hàng năm, cấp ủy phải xác định rõ kế hoạch phát triển đảng, lựa chọn đối tượng để đưa vào nguồn bồi dưỡng, thử thách. Yêu cầu lựa chọn phải chính xác, mang tính toàn diện cả về cơ cấu thành phần, lai lịch chính trị, động cơ phấn đấu; khắc phục việc lựa chọn theo ý chí chủ quan hoặc chỉ làm cho xong kế hoạch. Bên cạnh việc lựa chọn đúng phải làm tốt các bước tiếp theo như bồi dưỡng nhận thức về Đảng, giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, giao nhiệm vụ, thử thách, định hướng hoạt động thực tiễn…, để quần chúng luôn xác định đúng đắn động cơ phấn đấu vào Đảng, quá trình phấn đấu rèn luyện diễn ra bền bỉ, vững vàng. Khi quần chúng đã có nhận thức tốt, có quá trình phấn đấu đạt đủ tiêu chuẩn của người đảng viên theo quy định thì cấp ủy và tổ chức đảng phải chủ động có kế hoạch kết nạp quần chúng vào Đảng. Làm tốt khâu này trong quy trình phát triển đảng sẽ góp phần khắc phục tư tưởng bè phái, cục bộ địa phương, chủ quan, đồng thời ngăn chặn những người cơ hội, thực dụng chui vào hàng ngũ của Đảng.

    Ba là, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy trình phát triển đảng.

    Để thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy trình, thủ tục, hướng dẫn về công tác phát triển đảng, cần thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn cụ thể cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, tổ chức trong công tác phát triển đảng. Quy trình, thủ tục phát triển đảng được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, ngăn chặn những phần tử cơ hội vào hàng ngũ của Đảng. Cần thường xuyên, tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình, thủ tục phát triển đảng, kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa tốt.

    Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp đảng viên với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và sàng lọc đảng viên.

    Phát triển đảng phải đi đôi với củng cố Đảng, tăng cường bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên mới kết nạp, đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất, làm cho tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, tạo niềm tin của mỗi đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

    Đảng viên mới được kết nạp cần tiếp tục được giáo dục, rèn luyện, thử thách, qua đó để tôi luyện và tự khẳng định mình. Thực tế những năm qua, ở không ít đảng viên mới sau khi được kết nạp đã xuất hiện tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng… Đây là một nguyên nhân làm cho một số tổ chức đảng có số lượng đảng viên đông nhưng vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu không cao.

    Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải có kế hoạch tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện và thử thách đảng viên; tin tưởng, mạnh dạn giao những nhiệm vụ nặng nề hơn, yêu cầu đòi hỏi cao hơn, qua đó để đảng viên tự vươn lên, tự khẳng định mình đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn người đảng viên như Điều lệ Đảng quy định.

    Cùng với kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt việc sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội, những đảng viên thoái hóa, biến chất, không đủ tiêu chuẩn, những đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu để xây dựng nội bộ Đảng thực sự trong sạch, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

    Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong công tác phát triển đảng.

    Phát triển đảng là nhiệm vụ của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tuy nhiên, để công tác này thực sự có chất lượng, đạt mục tiêu đề ra, phải biết khơi dậy và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong xã hội, trước hết là các tổ chức quần chúng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tổ chức công đoàn. Đây là các tổ chức mà trước khi vào Đảng, quần chúng đã trực tiếp tham gia hoạt động. Một trong những vai trò của các tổ chức này là rèn luyện, bồi dưỡng thành viên của mình và giới thiệu với cấp ủy, tổ chức đảng. Với vai trò lãnh đạo của mình, cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên chỉ đạo, định hướng các tổ chức quần chúng thực hiện tốt công tác phát triển đảng thông qua nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và chương trình hành động. Các cấp ủy đảng cần động viên, khơi dậy sự quan tâm xây dựng đảng của các tầng lớp dân cư trong xã hội; tham gia giám sát quá trình phấn đấu, rèn luyện của quần chúng và đảng viên tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

    ThS. Cao Duy Đông – Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Thông Minh Tại Tp.hcm
  • Phương Hướng, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Những Năm Tới
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Bối Cảnh Mới
  • Đẩy Mạnh Đấu Tranh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Giải Pháp Phòng, Chống Diễn Biến Hòa Bình Hiện Nay
  • Tin tức online tv