Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Thông Tin Liên Lạc

--- Bài mới hơn ---

  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)
  • Thượng tướng Nguyễn Phương Nam phát biểu tại hội nghị.

    Hội nghị đánh giá, trong năm 2022, được sự quan tâm, đầu tư của Bộ Quốc phòng (BQP), sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trong và ngoài quân đội, sự cố gắng của lực lượng thông tin toàn quân, hệ thống TTLL quân sự phát triển đồng bộ, nhất là quy hoạch mạng thoại. Bộ đội thông tin toàn quân đã phát triển, bổ sung kết nối nâng cao tính vững chắc cho các mạng truyền dẫn quang trên địa bàn một số quân khu; duy trì hệ thống TTLL hoạt động ổn định, vững chắc; bảo đảm tốt TTLL cho các nhiệm vụ. Công tác quản lý, điều hành, khai thác, bảo đảm trang bị, khí tài thông tin có nhiều chuyển biến tích cực. Các đơn vị đều thực hiện tốt công tác huấn luyện, tổ chức lực lượng, nghiên cứu khoa học, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Quán triệt Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và nhiệm vụ BQP giao, lực lượng thông tin toàn quân đã đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ trong năm 2022. Qua tổng kết đánh giá, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm TTLL, SSCĐ có Bộ đội Thông tin Quân chủng Hải quân, Quân khu 9, Quân đoàn 1, Binh chủng Hóa học; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện thông tin có Bộ đội Thông tin Quân khu 3, Quân khu 2, Quân chủng Phòng không-Không quân, Binh chủng Tăng thiết giáp; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác kỹ thuật có Bộ đội Thông tin Quân khu 1, Quân đoàn 2, Tổng cục Kỹ thuật…

    Hội nghị xác định nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022 của Bộ đội thông tin toàn quân là tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tham mưu đề xuất và quy hoạch, phát triển hệ thống TTLL quân sự đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; duy trì hệ thống TTLL hoạt động ổn định, thông suốt, an toàn. Tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện theo phương châm cơ bản, thiết thực, vững chắc; chú trọng nâng cao chất lượng tập huấn, bồi dưỡng cán bộ các cấp, nhất là cán bộ trực tiếp huấn luyện. Huấn luyện cho bộ đội khai thác hết tính năng trang bị, khí tài có trong biên chế…

    Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Phương Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng biểu dương những kết quả, thành tích đạt được trong năm 2022 của Bộ đội Thông tin toàn quân. Trong đó Binh chủng TTLL đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho QUTƯ, BQP quy hoạch và phát triển lực lượng thông tin, bảo đảm thông tin quân sự; triển khai bảo đảm thông tin các cấp, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin thường xuyên, SSCĐ, có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

    Đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng đề nghị trong năm 2022, Binh chủng TTLL và Bộ đội Thông tin toàn quân tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ quân sự quốc phòng, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 8, Khóa XI về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết của QUTƯ về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng năm 2022… Coi trọng xây dựng Đảng bộ Binh chủng TTLL và đảng bộ các đơn vị thông tin trong toàn quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng thông tin tiến thẳng lên hiện đại.

    Đồng chí đề nghị các chủ nhiệm thông tin nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình, làm tốt chức năng dự báo, tham mưu giúp cho QUTƯ và BQP trong quản lý, chỉ huy, điều hành hệ thống TTLL quân sự; lực lượng thông tin toàn quân thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTLL. Tiếp tục thực hiện quy hoạch, phát triển hệ thống TTLL quân sự đồng bộ, vững chắc, hiện đại, phù hợp với điều kiện tác chiến bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Chủ động xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh các phương án tác chiến theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu; tập trung bảo đảm tốt TTLL cho BQP nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý tình huống, đặc biệt là bảo vệ các sự kiện lớn của Đảng và Nhà nước trong năm 2022…

    Tin, ảnh: MINH MẠNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Hiện Nay
  • Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Hoạt Động Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Các Đơn Vị Sự Nghiệp Phục Vụ Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Khái Niệm Chức Năng Của Nhà Nước Và Bộ Máy Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Chức Năng Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Usb Otg Là Gì Và 5 Chức Năng Tuyệt Vời Của Nó Trên Android
  • 5 Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Chức năng của nhà nước là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.

    Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:

    Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước. Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế … là những chức năng đối nội của các nhà nước.

    Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác. Ví dụ: phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác …

    Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn phải xuất phát từ tình hình thực hiện các chức năng đối nội. Đồng thời, kết quả của việc thực hiện các chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức năng đối nội.

    Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nahf nước sử dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động chính là: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong mỗi nhà nước, việc sử dụng ba hình thức hoạt động này cũng có những đặc điểm khác nhau. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế. Trong các nhà nước bóc lột, cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng của nhà nước. Ngược lại, trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, thuyết phục là phương pháp cơ bản, còn cưỡng chế được sửu dụng kết hợp và dựa trên cơ sở của thuyết phục và giáo dục. Các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước.

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương xuống địa phương, bao gồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp … Toàn bộ hoạt động của bộ máy nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan cũng có những chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao. Vì vậy, cần phân biệt chức năng nhà nước với chức năng của mỗi cơ quan nhà nước cụ thể. Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của toàn thể bộ máy nhà nước, trong đó mỗi cơ quan khác nhau của nhà nước đều tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau. Chức năng của một cơ quan chỉ là những mặt hoạt động chủ yếu của riêng cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện những chức năng và nhiệm vụ chung của nhà nước.

    Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng nên chức năng của các nhà nước thuộc mỗi kiểu nhà nước cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có những đặc điểm riêng. Vì vậy, khi nghiên cứu các chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước phải xuất phát từ bản chất nhà nước trong mỗi kiểu nhà nước cụ thể để xem xét.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Nhà Nước
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Công Tác Mặt Trận
  • Phát Huy Vai Trò Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh
  • Bộ Máy Nhà Nước Chxhcn Việt Nam Gồm Mấy Cấp?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cải Cách Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Cấp Trung Ương Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Tư Sản
  • Nguyên Tắc Phân Quyền Trong Tổ Chức Và Hoạt Động Của Bộ Máy Nhà Nước Tư Sản
  • #1 Chức Năng Bảo Vệ Tổ Quốc Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay
  • Giáo Trình: Đại Cương Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • – Bộ máy nhà nước gồm có 4 cấp :

    + Bộ máy nhà nước cấp trung ương

    * Quốc hội : Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có nhiệm vụ : Làm Hiến Pháp, sửa đổi Hiến Pháp; làm Luật, sửa đổi Luật; quyết định các chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại. Những nguyên tắc cơ bản, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của công dân.

    * Chính phủ : Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất do Quốc Hội bầu ra, có nhiệm vụ chấp hành Hiến Pháp và Pháp Luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thống nhất việc quản lí kinh tế, chính trị, văn hóa,..của đất nước, ổn định và nâng cao đời sống vật chất văn hóa của nhân dân.

    * Tòa án nhân dân tối cao : Là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    * Viện kiểm sát nhân dân tối cao : Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    + Bộ máy nhà nước cấp tỉnh ( thành phố )

    * HĐND tỉnh ( thành phố ) : Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ : Đảm bảo thi hành nghiêm Hiến Pháp; Pháp luật ở địa phương, quyết định kế hoạch phát triển về mọi mặt của địa phương.

    * UBND tỉnh ( thành phố ) : Do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, phải chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp; Pháp luật, các văn bản của các cơ quan cấp trên và Nghị Quyết của HĐND.

    * Tòa án nhân dân tỉnh ( thành phố ) : Là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    * Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ( thành phố ) : Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    + Bộ máy nhà nước cấp huyện ( quận )

    * HĐND huyện, quận : Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ : Đảm bảo thi hành nghiêm Hiến Pháp; Pháp luật ở địa phương, quyết định kế hoạch phát triển về mọi mặt của địa phương.

    * UBND huyện, quận : Do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, phải chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp; Pháp luật, các văn bản của các cơ quan cấp trên và Nghị Quyết của HĐND.

    * Tòa án nhân dân huyện, quận : Là cơ quan xét xử của huyện quận có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    * Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố : Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    + Bộ máy nhà nước cấp xã, phường, thị trấn

    * HĐND xã, phường, thị trấn : Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ : Đảm bảo thi hành nghiêm Hiến Pháp; Pháp luật ở địa phương, quyết định kế hoạch phát triển về mọi mặt của địa phương.

    * UBND xã, phường, thị trấn : Do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, phải chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp; Pháp luật, các văn bản của các cơ quan cấp trên và Nghị Quyết của HĐND.

    CHÚC BẠN HỌC TỐT !!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Luận Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Thương Mại Dịch Vụ
  • Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước?
  • Khái Niệm Chức Năng Nhà Nước? Các Loại Chức Năng Nhà Nước?
  • Vai Trò Của Kiểm Toán Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế
  • Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Vai Trò Của Tổ Chức Công Đoàn Tham Gia Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Trình Bày Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Tin Học 10 Bài 3: Giới Thiệu Về Máy Vi Tính
  • Lý Thuyết: Giới Thiệu Về Máy Tính Trang 19 Sgk Tin Học 10
  • Cau Truc Va Chuc Nang Cua May Tinh
  • Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    năng Nhà nước.Chức năng kinh tế của Nhà nước cũng là thể thống nhất giữa các

    dấu hiệu phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế, năng lực thực tế của

    bộ máy nhà nước và phạm vi hoạt động hợp pháp của Nhà nước trên lĩnh vực kinh

    tế.

    Tổ chức quản lí kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt của bất kì

    Nhà nước XHCN nào. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lí kinh tế của Nhà

    nước XHCN rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết,

    trong đó công tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN

    và cơ chế quản lí là những vấn đề then chốt.

    Vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương hướng (hay

    phương diện, mặt) hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu

    nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng XHCN.

    Vai trò của nhà nước rất quan trọng và không thể thiếu vắng trong mỗi mô

    hình kinh tế nhưng vấn đề đặt ra ở đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn về vai

    trò kinh tế của Nhà nước trong bước chuyển từ nền kinh tế hóa tập trung sang nền

    kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam cần phải được làm sáng tỏ từ mối

    quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế thông qua phạm trù chức năng kinh tế của Nhà

    nước XHCN. Chức năng kinh tế của nhà nước XHCN nói chung là hoạt động của

    nhà nước thể hiện vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế xã hội .Chúng ta có thể

    khái quát những vấn đề thuộc về lí luận chức năng kinh tế của nhà nước XHCN

    Việt Nam thành những điểm nhận xét sau:

    1. Lịch sử kinh tế cũng như lịch sử nhà nước ở các nước trên thế giới và ở

    Việt Nam qua những thời địa với những mô hình kinh tế khác nhau là lịch sử xác

    định vai trò kinh tế của nhà nước đồng thời cũng là lịch sử tìm kiếm sự tối ưu trong

    các chính sách kinh tế của nhà nước .Dựa trên cơ sở kinh tế chế độ công hữu về tư

    liệu sản xuất, nhà nước XHCN có chức năng quản lí nền kinh tế một cách có kế

    hoạch và chức năng này đã từng được coi là chức năng đặc thù của nhà nước

    XHCN. Tuy nhiên, trong thời kì quá độ, với những bước quanh co của lịch sử,

    4

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    nhà nước, thể hiện ở sự thay đổi căn bản về vai trò kinh tế của Nhà nước. Đặc trưng

    của mô hình kinh tế ấy đã quy định những vai trò kinh tế tương ứng của Nhà nước

    Việt Nam. Nền kinh tế quốc dân của Việt Nam ngày nay là nền sản xuất hàng hóa

    có nhiều thành phần tham gia theo cơ chế thị trường.Trong cơ chế thị trường, trên

    nguyên tắc tự do kinh doanh, các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh độc lập về

    tài sản, nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ kinh tế một cách bình đẳng

    theo nguyên tắc tự định đoạt. Mặt khác, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được

    xác định là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.Việc xây dựng nền kinh tế thị

    trường ở Việt Nam không chỉ nhằm mục đích đơn thuần về tăng trưởng kinh tế mà

    phải lấy sự tăng trưởng kinh tế làm cơ sở, làm điều kiện để phát triển hài hòa, đáp

    ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội, phát triển con người toàn diện.

    Những đặc điểm trên đã quyết định sự thay đổi vai trò kinh tế của Nhà nước

    khi chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường

    định hướng XHCN. Trong cơ chế kinh tế hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò

    lãnh đạo thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân đồng thời cũng vừa là người điều

    hành, tổ chức các hoạt động kinh tế. Còn trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu đặt

    ra là phải xác định rõ tư cách của Nhà nước là người quản lí nền kinh tế quốc dân

    trên tầm vĩ mô.Hoạt động kinh tế và quản lí sản xuất kinh doanh là quyền của chủ

    thể hoạt động kinh tế. Nhà nước tác động, điều chỉnh các hoạt động kinh tế với tư

    cách là cơ quan công quyền mà không can thiệp một cách trực tiếp vào các quan hệ

    thị trường.

    Phạm vi và nội dung hoạt động thể hiện vai trò kinh tế của nhà nước trong

    nền kinh tế thị trường đã có những thay đổi cơ bản. Xét trên tổng thể, Nhà nước

    quản lí kinh tế chính là nhà nước trực tiếp tổ chức hoạt động kinh tế trên các lĩnh

    vực khác nhau

    Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc trưng vai trò kinh tế

    của Nhà nước được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

    6

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    XHCN, vai trò đó lại được thể hiện một cách gián tiếp trên cơ sở thừa nhận và tôn

    trọng vai trò của thị trường.

    Các cơ sở lí luận, pháp lí và thực tiễn vừa nêu về vai trò kinh tế của nhà

    nước, cho phép xác định cơ sở chức năng kinh tế của Nhà nước theo những nội

    dung và phương thức thực hiện tương ứng với vai trò của Nhà nước ở mỗi mô hình

    kinh tế.

    Thật ra kinh tế nhà nước đều có tính tất yếu khách quan ở các mô hình kinh

    tế thế giới (Xem: Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi,

    Nxb chính trị quốc gia, H.1998,tr.41). Nhưng với bản chất của dân, do dân, vì dân,

    Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không phải nhà tư bản lớn và kinh tế nhà

    nước ở Việt Nam không phải là hình thức biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước

    mà là hình thức của nền kinh tế công hữu phục vụ cho lợi ích của nhân dân trong

    đó Nhà nước là người đại diện.Vì thế thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà

    nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề thực tiễn và lí luận

    mới ở Việt Nam hiện nay. Về mặt nhận thức cần thấy vai trò chủ đạo của kinh tế

    nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là “sản phẩm” của sự tồn tại

    nhiều thành phần kinh tế phát triển theo định hướng XHCN; nếu không có sự phân

    công, phối hợp tốt vai trò của các thành phần kinh tế thì cũng không có đựơc vai trò

    chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

    Vai trò của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện

    nay được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

    – Kinh tế nhà nước là cơ sở vật chất cho việc thực hiện chức năng kinh tế của

    nhà nước; là công cụ để hướng dẫn, điều tiết các thành phần kinh tế phát triển theo

    định hướng XHCN;

    – Kinh tế nhà nước là công cụ hỗ trợ và phục vụ cho các thành phần kinh tế,

    tạo điều kiện và thúc đẩy các thành phần kinh tế đều phát triển;

    – Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác tạo thành nền tảng của nền kinh

    tế quốc dân.

    8

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    Nhìn chung cơ cấu kinh tế đất nước đang được chuyển đổi theo hướng công

    nghiệp háo, hiện đại hóa; cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch theo

    hướng sắp xếp lại và đổi mới kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng kinh tế ngoài

    quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong

    GDP: khoảng 39%, kinh tế tập thể: 8,5%, kinh tế tư nhân: 3,3%, kinh tế cá thể :

    32%, kinh tế hỗn hợp: 3,9%, kinh tế có vốn đầu tư nứơc ngoài: 13,3%. (Đảng cộng

    sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc

    gia, H,tr.229)

    *Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo

    Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo như cân đối

    giữa tích lũy và tiêu dùng, trong đó tiỉệ tích lũy để phát triển tăng; cân đối tài

    chính-tiền tệ. Chính sách của Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi cho việc huy

    động các nguồn vốn phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước.Năng lực của các

    ngành sản xuất, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được nâng lên rõ rệt.

    *Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển

    Nhờ có những đổi mới trong những chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà

    nước, đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việ Nam được bổ sung, sửa đổi ngày

    càng thông thoáng hơn; Luạt thương mại đuợc ban hành và có hiệu lực mà hoạt

    động xuất nhập khẩu những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực

    tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội

    của đất nước; vôốnhỗ trợ phát triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát

    triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng

    đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài

    *Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ

    chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới

    Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của

    Nhaànước đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp,

    Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước

    10

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    nước Châu Á mà hậu quả của nó đối với Việt Nam cũng khá nặng nề, tình hình

    chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường.

    3.2. Những tồn tại và bất cập trong tổ chức, quản lí kinh tế của Nhà nước

    Cộng hòa XHCN Việt Nam

    Mỗi bước phát triển kinh tế đều thể hiện mặt thành công và những tồn tại,

    bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, những

    tồn tại và bất cập trong hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước hiên nay thể hiện

    trên những điểm chủ yếu sau:

    *Về hệ thống pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác của Nhà nước

    Biểu hiện chung là chính sách đối với các thành phần kinh tế của Nhà nước

    hiện nay chưa thật sự đồng bộ và nhất quán. Trong thực tế từ các nguyên tắc hiến

    pháp cho đến các đạo luật, các văn bản duới luật và hoạt động thực thi chính sách

    hàng ngày của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước… là cả chặng đường dài

    mà ở đó có thể có sự khúc xạ, biến tướng so với các chủ trương, chính sách lớn.

    Chẳng hạn, giá dịch vụ các loại, giá thuê đất, chế độ tín dụng khác nhau giữa các

    loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu

    tư nước ngoài. Đến nay, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hình thành

    đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa đượctạo lập đầy đủ. Trong

    chính sách, thể chế quản lí của Nhà nước còn tồn tại những hình thức bao cấp, vẫn

    mang tính chất “xin-cho” gắn với thủ tục phiền hà, thiếu công khai nhưng lại có

    nhiều mặt buông lỏng quản lí, không giữ được trật tự, kỉ cương (Báo cáo của Chính

    phủ tại kì họp Quốc hội khóa X, 2000)

    Từ năm 2000, Việt Nam đã khắc phục đượ tình trạng suy giảm nhuưg nhìn

    chung, cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Việt Nam chưa có sự chuyển

    biến rõ rệt. Lao động trong nông nghiệp chiếm 67%; xuất khẩu chủ yếu là hàng

    nguêyn liệu thô hoặc hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức

    xúc, tình trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành

    thị và nông thôn còn cao.. (theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”, Cải

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử Nhân Loại
  • Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử
  • Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Thể Hiện Khái Niệm Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam(Có Thể Sử Dụng Màu Để Tô) Câu Hỏi 234497
  • Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?
  • Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước
  • Phòng Quản Lý Đô Thị Có Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Lĩnh Vực Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Quản Lý Đô Thị
  • Phòng Quản Lý Đô Thị Thành Phố
  • Phòng Quản Lý Đô Thị Quận 8
  • Chức Năng Và Hoạt Động Của Quỹ Đầu Tư
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Ngày 05/05/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    Theo đó, Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định ngoài 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 7 của Nghị định này, tổ chức một số cơ quan chuyên môn để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện như sau:

    Ở các quận:

    – Phòng Kinh tế: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại;

    – Phòng Quản lý đô thị: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông.

    Ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh:

    – Phòng Kinh tế: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối; tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại;

    – Phòng Quản lý đô thị: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông.

    Lê Hải

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Viên Quản Lý Trật Tự Đô Thị Quận, Huyện: Chỉ Là Tai Mắt, Không Có Quyền Xử Phạt!
  • Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Quản Lý Đô Thị
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Quản Lý Đô Thị
  • Vietinbank Thành Lập Khối Tài Chính Và Văn Phòng Hội Đồng Quản Trị
  • Tổng Hợp Các Phần Mềm Quản Lý Khách Sạn Tốt Nhất 2022
  • Tiểu Luận Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Tìm Hiểu Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Cụ Thể Hóa Chức Năng Tổ Chức Của Quản Trị Văn Phòng
  • Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Gia Lai: Lập Đoàn Kiểm Tra Dấu Hiệu Vi Phạm Đối Với Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • tế của nhà nước Cộnghòa XHCN Việt Nam hiện nay 3.1.Khái quát về thành tựu đạt được trong việc tổ chức, quản lí kinh tế của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Bằng chính sách, pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác, qua gần hai thập kỉ dổi mới đất nước, Nhà nước ta thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo ra những chuyển biến to lớn về mọi mặt của đất nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu rõ nét và đồng bộ, trong đó tốc độ tăng trưởng khá cao ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.Nếu tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 1976-1980 chỉ có 0,4% thì từ năm 1991-1999, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 7,7%.Nếu nhìn khái quát giai đoạn từ 1996 đến nay thì những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: *Nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân được duy trì Sản xuất nông nghiệp liên tục phát triển, sản lượng lương thực bình quân đầu người đã tăng từ 360kg năm 1995 lên trên 444kg năm 2000.Các ngành công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức đạt được nhiều tiến bộ với nhịp độ tăng trưởng bình quân 13,5%/năm; giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm *Cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã có chuyển biến tích cực Nhìn chung cơ cấu kinh tế đất nước đang được chuyển đổi theo hướng công nghiệp háo, hiện đại hóa; cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong GDP: khoảng 39%, kinh tế tập thể: 8,5%, kinh tế tư nhân: 3,3%, kinh tế cá thể : 32%, kinh tế hỗn hợp: 3,9%, kinh tế có vốn đầu tư nứơc ngoài: 13,3%. (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,tr.229) *Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo như cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, trong đó tiỉệ tích lũy để phát triển tăng; cân đối tài chính-tiền tệ. Chính sách của Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn vốn phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước.Năng lực của các ngành sản xuất, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được nâng lên rõ rệt. *Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển Nhờ có những đổi mới trong những chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước, đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việ Nam được bổ sung, sửa đổi ngày càng thông thoáng hơn; Luạt thương mại đuợc ban hành và có hiệu lực mà hoạt động xuất nhập khẩu những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; vôốnhỗ trợ phát triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài *Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Nhaànước đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp, Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam(sửa đổi), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật lao động, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật khoa học và công nghệ … Nhiều loại thị trường hàng hóa dịch vụ như thị trường vốn, tiền tệ, tài chính, lao động, bất động sản, khoa học và công nghệ đã được thừa nhận và bước đầu được tạo lập khuôn khổ pháp lí. Cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô của nhà nước đã được định hình; hành lang pháp lí cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế dã đựoc xác lập. Các thủ tục hành chínhđã giảm bớt, tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới một bước quan trọng theo các yêu cầu của việc đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh. Chính sách chủ động hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực đang được tăng cường trên cơ sở phát huy năng lực của nền kinh tế đất nước. Đánh giá tình hình chung sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đó là tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế . Đặc biệt là nhà nước đã kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; cơ cấu nền kinh tế quốc dân từ chỗ chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nay đã huyển sang nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần trong đó nền kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đời sống nhân dân những năm qua được cải thiện, đất nước đã ra khỏi khủng hoaảng kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và các nước Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, không để bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế ở một số nước Châu Á mà hậu quả của nó đối với Việt Nam cũng khá nặng nề, tình hình chính trị-xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. 3.2.Những tồn tại và bất cập trong tổ chức, quản lí kinh tế của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Mỗi bước phát triển kinh tế đều thể hiện mặt thành công và những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, những tồn tại và bất cập trong hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước hiên nay thể hiện trên những điểm chủ yếu sau: *Về hệ thống pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác của Nhà nước Biểu hiện chung là chính sách đối với các thành phần kinh tế của Nhà nước hiện nay chưa thật sự đồng bộ và nhất quán. Trong thực tế từ các nguyên tắc hiến pháp cho đến các đạo luật, các văn bản duới luật và hoạt động thực thi chính sách hàng ngày của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước… là cả chặng đường dài mà ở đó có thể có sự khúc xạ, biến tướng so với các chủ trương, chính sách lớn. Chẳng hạn, giá dịch vụ các loại, giá thuê đất, chế độ tín dụng khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hình thành đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa đượctạo lập đầy đủ. Trong chính sách, thể chế quản lí của Nhà nước còn tồn tại những hình thức bao cấp, vẫn mang tính chất “xin-cho” gắn với thủ tục phiền hà, thiếu công khai nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng quản lí, không giữ được trật tự, kỉ cương (Báo cáo của Chính phủ tại kì họp Quốc hội khóa X, 2000) Từ năm 2000, Việt Nam đã khắc phục đượ tình trạng suy giảm nhuưg nhìn chung, cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Việt Nam chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Lao động trong nông nghiệp chiếm 67%; xuất khẩu chủ yếu là hàng nguêyn liệu thô hoặc hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, tình trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn còn cao.. (theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”,Cải cách kinh tế, tài chính Việt Nam& Trung Quốc và thành tựu và triển vọng, Nxb. Tài chính,tác giả Nguyễn Công Nghiệp, H, tr.14) Trong gần 20 năm đổi mới đất nước, bên cạnh những kết quả đã đạt được, về xây dựng hệ thống pháp luật cũng như hoạt động thi hành pháp luật và giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục để phát triển kinh tế-xã hội theo chiều sâu của sự nghiệp đổi mới đất nước. So với nhu cầu của đất nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội hiên nay thì có thể thấy hệ thống pháp luật còn những khuyết điểm như sau : Chúng ta vẫn còn thiếu pháp luật trong một số lĩnh vực quan trọng như cạnh tranh, chốn độc quyền; chứng khoán; kiểm toán; kế toán, thốn kê; kinh doanh bất động sản Luật pháp của nhà nước ta vẫn chưa đồng bộ, phần lớn chỉ dưừnglại ở các nguyên tắc chung, muốn đi vào cuộc sống phải ban hành nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn chi tiết mà nhiều khi việc này còn chậm trễ. Pháp luật về kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh thậm chí còn mâu thuẫn ,thiếu tính minh bạch và tính xác định gây khó khăn cho việc sử dụng pháp luật của các nhà đầu tư. Nhà nước ta có bộ máy thi hành pháp luật khá đồ sộ nhưng hiệu lực và hiệu quả còn chưa tương xứng; năng lực cán bộ, công chức nhà nước còn yếu; việc giải quyết các treanh chấp kinh tế, dân sự còn chậm . Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật còn kém, trong đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vi phạm nư kinh doanh trái phép, buôn lậu, hàng giả, trốn thuế, nợ đọng thuế … Cùng đó, Luật pháp nhà nước ta hay phải sửa đổ,i bổ sung cũng có mặt trái là không đảm bảo được tính ổn định cho sự vận hành của các quan hệ kinh tế Thêm nữa, pháp luật kinh tế thiếu nhiều cơ chế kiểm soát thông qua thị trường, ít mang tính chất cuủa”luật tư” (xem “Mấy điều về pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay”-Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Luật học, số 3/1999, tr.25).Nhìn chung pháp luật hiện hành còn đang thể hiện những điểm mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước. Đó là mâu thuẫn trong việc thừa nhận nền kinh tế thị trường theo nguyên tắc tự do kinh doanh mà trên thực tế các cơ chế chính sách, các quy định cụ thể vẫn còn nặng về thủ tục hành chính.Ngaòi ra, hệ thống pháp luật kinh tế của VIệt Nam còn nhiều sự khác biệt với hệ thống pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới. * Về việc thực hiện chức năng quản lí đối với kinh tế Nhà nước Tình hình chung hiện nay của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam cho thấy một số doanh nghiệp vươn lên thích ứng với cơ chế thị trường và phát huy được tác dụng tích cực nhưng nhìn chung hiệu quả kinh doanh cảu các doanh nghiệp nhà nước còn thấp, việc sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước còn hạn chế và lãng phí. Nhiều daonh nghiệp thua lỗ kéo dài, chưa được sắp xếp lại.Chủ trương cổ phần hóa, đổi mới quan hệ sở hữu và cơ chế quản lí doanh nghiệp nhà nước tiến hành vẫn còn chậm.Hệ thống cơ chế, chính sách đối với kinh tế nhà ước vẫn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, chưa tạo ra được cơ sở pháp lí vững chắc đẻ cho các chủ thể kinh tế nhà nước tham gia cạnh tranh. Hiện nay, các tổng công ty nhà nước còn nhiều vấn đề bất cập về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động, chưa thật sự thể hiện được vai trò của mình như là tất yếu kinh tế-xã hội mà còn mang nặng tính hành chính. Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhận dịnh là khu vực nhà nước chậm được sắp xếp củng cố và đổi mới… Còn một bộ phận không ít doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thiếu năng động, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.52) *Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Từ nguyên tắc chung về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở tập trung thống nhất quyền lực nhà nước. Hiện nay cũngcòn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn những bất hợp lí, thiếu cơ sở khoa học, tình trạng chồng lấn chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền còn khá phổ biến.Các bộ quản lí ngành kinh tế và bộ tổng hợp chưa có tiêu chí khoa học để phân biệt, có bộ chỉ thực hiện một chức năng. Sự phân công, phối hợp giữa các bộ với nhau, giữa bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lí kinh tế-xã hội chưa thật rõ ràng và hợp lí. Nhìn chung, như nhận định của chính phủ VIệt Nam về htực trạng nền hành chính hiện nay là tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng, nấc: phương thức quản lí hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt (theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010) Trong điều kiện hiện nay, hoạt động tư pháp ngày càng được nhà nước chú trọng là điều tất yếu, bởi lẽ tính hoàn chỉnh và cân đối của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một trong những biểu hiện cho tính thống nhất của quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Tuy nhiên cũng phải thấy việc kiểm soát các quan hệ kinh tế -xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường là lĩnh vực còn mới đối với cơ quan tư pháp Việt Nam. Hiệu quả hoạt động tư pháp hiện nay phản ánh tình trạng hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy cũng như năng lực quản lí cán bộ của ngành tư pháp Việt Nam đang còn nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức quản lí kinh tế của Việt Nam hiện nya có nhiều bất cập mà Nhà nước đang từng bước khắc phục. Đó là tình trạng quá nhiều người trong các cơ quan hành chính chế độ chức trách còn chưa cụ thể, trình độ năng lực còn hạn chế, tình trạng quna liêu, tham nhũng không phải ít. Nhiều người không muốn xóa bỏ cơ chế làm việc cũ vì sợ mất đi những đặc quyền đặc lợi qua các khoản thu bất chính từ cơ chế “xin-cho”.Mặt khác, đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế hiện nay đông nhưng không đồng bộ, vừa htừa lại vừa thiếu, trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo quản lí chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới nhất là quản lí kinh tế thị trường .Nhìn chung thực trạng về bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công hcức hiên nay đang là thách thức lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước . 3.3.Nguyên nhân những tồn tại và bất cập Ngoài các nguyên nhân khách quan là do xuất phát từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với những hậu quả của nhiều năm chiến tranh ác liệt và htiên tai nặng nề thì nhưữngtồn tại và bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước hiên nay còn do các nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân chủ quan bao gồm nhận thức và hành động của con người thể hiện trong cả tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các cơ quan cũng như cán bộ, công chức nhà nước. Đó là các nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là do ảnh hưởng tư tưởng cũ trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng từ cơ sở trước đó vốn là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Vì thế những nếp nghĩ thói quen hành động của con người đã mấy chục năm vẫn còn ảnh huởng rất lớn và không dễ dàng thoát khỏi ngay đựơc.Trong tình hình hiện nay, tàn dư của chủ nghĩa nhà nước trong quản lí kinh tế thể hiện ở chỗ vẫn còn tàn dư tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế mà không thấy vai trò tự điều chỉnh của xã hội và những sự cần thiết của sự điều chỉnh mang tính nhà nước. Biểu hiện của tàn dư này có thể gặp khá phổ biến trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước như trong hoạt động xây dựng các đạo luật, các văn bản duới luật như nghị định của Chính phủ là văn bản nào cũng thấy có phần, chương quy định về quản lí nhà nước trong lĩnh vực ấy mà nhiều khi thiếu cơ sở vững chắc và thiếu tính khả thi. Biểu hiện khác về sự ảnh hưởng của tư tưởng quản lí nhà nước trong cơ chế cũ là về tính chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo về bản chất khác với tính tập trung của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Nhưng hiện vãn còn quan niệm cho rằng kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo nghĩa là kinh tế nhà nước phải nắm giữ hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và nếu như vậy thì mới thể hiện định hướng XHCN của nền kinh tế. Từ đó mà người ta vẫn chưa hoàn toàn gột bỏ được tư tưởng về chế độ bao cấp của Nhà nước thể hiện ở chế độ bảo hộ doanh nghiệp nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan nghiêm ngặt. Về quản lí nhà nước với các chủ thể kinh tế nhà nước, đến nay trong việc xây dựng và tổ chức bộ máy chủ quản lí hành chính với doanh nghiệp nhà nước với kiểu quản lí đơn chức năng, cồng kềnh nhiều tầng nấc, nhiều người. Thứ hai, do nhận thức chưa thống nhất về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây một phần cũng là hệ quả của nguyên nhân trên và mặt khác còn do việc sao chép kinh nghiệm của nước ngoài một cách máy móc không phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Biểu hiện của sự không thống nhất trong nhận thức về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay trước hết là tính không đồng bộ của hệ thống chính sách của Nhà nước. Các chính sách lớn thì mở nhưng việc thực thi hàng ngày thì lại bị vướng mắc hay cản trở bởi hàng loạt các quy định, các thủ tục hành chính rườm rà, ách tắc. Đó là biểu hiện về tư tưởng cục bộ của các ngành, các cơ quan, các địa phương trong quá trình thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước. Nhiều người muốn níu kéo cơ chế cũ là do những lợi ích cá nhân trong cơ chế đó nhưng ngay trong nhận thức chung của xã hội, của các cán bộ, công chức nhà nước cũng chưa đạt đến sự thống nhất về những vấn đề như xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chính sách đất đai, kinh tế trang trại, nội dung và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (theo Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,2001,tr.17). Về vấn đề vait rò chủ đạo của nền kinh tế hiện nay vẫn có sự nhận thức chưa thống nhất, chẳng hạn không ít người vẫn coi trọng số lượng hơn chất lượng, cho rằng cần phải thành lập doanh nghiệp nhà nước hơn nữa để làm đối trọng với doanh nghiệp dân doanh nhằm tạo ra thế cạnh tranh,… Thứ ba, do trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức còn chưa thật sự đáp ứng được yêu cấu của nhiệm vụ. Việ Nam xây dựng nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN vốn từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều cán bộ, công chức nhà nước được đào tạo theo mô hiình kinh tế cũ không còn phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước tuươg xứng với yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mới đạt được kết quả bước đầu, chưa thật sự vững chắc. Vì thế, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì những bất cập về trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là điều dễ hiểu. 4.Phương hướng nâng cao hiệu quả chức năng kinh tế 4.1.Chiến lược phát triển pháp luật và hoàn thiện hệ thống kinh tế Trong quản lí kinh tế, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ tất cả các công cụ trong đó pháp luật là nền tảng.Từ đường lối chính sách của Đảngvà Nhà nước để xây dựng hệ thống pháp luật, không phải chỉ có việc là chuyển thành ngôn từ pháp lí hay đem lại cho chúng hình thức của văn bản pháp luật mà đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu thích đáng những nhu cầu, mức độ cần điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội. Không phải toàn bộ nội dung đường lối, chính sách đếu được đưa vào nội dung văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải qua quá trình thể chế hóa với những yêu cầu đặc thù. Điều này đòi hỏi cần phải khắc phục tình trạng văn bản pháp luật được ban hành vội vã, mang tính chủ quan, chưa đủ độ chín muồi, kém tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Lĩnh vực kinh doanh là lĩnh vực hết sức năng động và phức tạp nên các chính sách của nhà nước, các biện pháp kế hoạch cũng phải đa dạng và linh hoạt. Tuy nhiên, pháp luật của Nhà nước phản ánh đầy đủ cái đa dạng phong phú ấy bằng phương pháp riêng của mình; pháp luật mang trong nó cái “hồn” của chính sách chứ không thể sao chép chính sách một cách gượng ép. Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của nước ta là chính sách, kế hoạch phát triển tổng thể của Nhà nước gồm cả lập pháp, thi hành pháp luật nhằm giáo dục nâng cao ý thức pháp luật để hoàn thiện các giải pháp đồng bộ về pháp luật để điều chỉnh các hoạt động kinh tế-xã hội; tạo thế chủ động về hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của Nhà nước; ổn định hóa chính sách pháp luật.Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của Nhà nước trong điều kiện hiện nay cũng cần phải được hoàn thiện trên cơ sở coi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ như là tất yếu khách quan của thời đại..Chiến lược phát triển pháp luật của Nhà nước phải xác định được những vấn đề cơ bản, có tính định hướng cũng như chương trình hóa dài hạn gồm: -Hướng phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội và nhu càu mức độ điều chỉnh một cách tổng quát; -Các nhu cầu điều chỉnh trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội quan trọng. -Chương trình xây dựng các lĩnh vực pháp luật; -Chương trình tổ chức thực hiện pháp luật, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật. Có thể quan niệm hệ thống pháp luật về kinh tế được cấu trúc theo hai mảng lớn sau: Thứ nhất là hệ thống các qui phạm pháp luật xác định chế độ quản lí của Nhà nước với hoạt động kinh tế. Hệ thống này điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế, xác dịnh phạm vi thẩm quyền của Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế. Đặc trưng của quan hệ xã hội trong mảng này là quan hệ giữa một bên là Nhà nước-cơ quan công quyền đại diện cho lợi ích của xã hôi, của người tiêu dùng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc các chủ thể kinh tế phải thực hiện những nghĩa vụ do pháp luật quy định, còn các chủ thể kinh tế có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải thực hiện những công việc theo luật định đảm bảo cho hoạt động kinh tế được thuận lợi. Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước chỉ được thực hiện những hành vi do luật định không được can thiệp quá giới hạn thẩm quyền, làm cản trở các hoạt động kinh tế. Chủ thể kinh tế chỉ phải thực hiện những nghĩa vụ do luật định một cách rõ ràng, công khai, ngoài ra không có nghĩa vụ bắt buộc nào khác. Thứ hai là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giao dịch giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng. Đây là mảng lớn thứ hai trong hệ thống pháp luật về kinh tế và cũng là mảng còn yếu, Nhà nước cần tập trung khắc phục. Đặc trưng của mảng quan hệ xã hội giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng là lợic ích kinh tế quyết định sự tham gia quan hệ đồng thời nó trực tiếp quyết định hành vi của họ. Do vậy, các nguyên tắc quan trọng hàng đầu của hệ thống các quy phạm trong mảng này là nguyên tắc tự định đoạt, nguyên tắc tự do thỏa thuận trên cơ sở không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực này, chủ thể được tự do thỏa thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm, tất cả những gì ngoài phạm vi pháp luật quy định phải có điều kiện, pahỉ xin phép… Nhà nước tôn trọng tất cả những thỏa thuận như vậy và đảm bảo cho các thỏa htuận, cam kết hợp pháp được tuân thủ như ý chí của cá bên. Đồng thời, vai trò to lớn của nhà nước còn được htể hiện ở chỗ Nhà nước chủ động nghiên cứu và hoàn thiện các mô hình, các hình thức pháp lí cho cá loại hình thị trường, cá giao dịch kinh tế hoặc khắc phục những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, tạo môi trường pháp lí thông htoáng và thuận lợi cho cá chủ thể kinh tế hoạt động. HIện nay, một trong những vấn đề bức xúc trong mảng pháp luật này là vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng. Mặt khác, mảng pháp luật về các loại hình doanh nghiệp nhất là luật về công ti cũng cần phải được hoàn thiện để đảm bảo tính “tự hành” cho các quan hệ về tổ chức nội bộ của công ty. Hệ thống pháp luật về kinh tế được coi là hoàn chỉnh là hệ thống phải phát triển đầy đủ cả hai mảng pháp luật kể trên..Nguyên tắc xuyên suốt hệ thống pháp luật về kinh tế là dành sự thuận lợi nhất cho hoạt động của các chủ thể kinh tế chứ khong phải chỉ dành thuận lợi cho hoạt động quản lí nhà nước mà gây trở ngại cho hoạt động kinh tế.. Bởi vậy, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng: -Phát huy vai trò các yếu tố cơ bản của thị truờng gồm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế; tự do kinh doanh; sự vận động tự do của vốn và hàng hóa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. -Đảm bảo sự quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế; -Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật; -Đảm bảo hiệu lực thực hiện của hệ thống pháp luật; -Đảm bảo sự tương thích với pháp luật và thông lệ quốc tế của hệ thống pháp luật. Từ các yêu cầu cơ bản trên, cần tập trung vào các giải pháp sau đây cho việc hoàn thiện và nâng cao vai trò của hệ thống pháp luật kinh tế : Thứ nhất, hoàn thiện và tăng cường bảo đảm các quy định của pháp luật về quyền tự do kinh doanh.Quyền tự do kinh doanh bao gồm tự do thành lập doanh nghiệp và tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thì nhu cầu mở rộng quyền tự do kinh doanh và tăng cường tính hiện thực của quyền ấy là đòi hỏi tiên quyết của nhà nước trong tất cả các hoạt động từ xây dưng pháp luật đến bảo vệ pháp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Cấu Tổ Chức, Điều Hành Và Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Xây Dựng Một Số Quân Binh Chủng Tiến Thẳng Lên Hiện Đại
  • Giáo Án Lịch Sử 7 Bài 20: Nước Đại Việt Thời Lê Sơ (1428
  • Binh Chủng Liên Lạc Tổ Chức Hội Nghị Quân Chính Năm 2022
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Mối Liên Hệ Với Chức Năng Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Nature Made Triple Omega 3 6 9 180 Viên
  • Viên Uống Triple Omega 3 6 9 Nature Made Chính Hãng Của Mỹ
  • ( Tất Tần Tật) Về Thuốc Fish Oil 1000Mg Của Mỹ
  • Omega 3 Fish Oil 1000Mg Kirkland
  • Cc, Bcc Trong Email Là Gì? Khi Nào Sử Dụng Cc, Bcc?
  • Phân tích khái niệm bộ máy nhà nước (Bộ máy nhà nước là gì?). Trình bày mối liên hệ giữa bộ máy nhà nước với chức năng của nhà nước.

    1 – Phân tích khái niệm bộ máy nhà nước

    a – Bộ máy nhà nước là gì?

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    b – Phân tích các đặc điểm của bộ máy nhà nước

    – Bộ máy nhà nước là hệ thống cơ quan nhà nước, bao gồm nhiều cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương:

    + Trong bộ máy nhà nước bao gồm khá nhiều cơ quan nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước là một yếu tố, một đơn vị cấu thành bộ máy nhà nước. Chẳng hạn, bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay gồm nhiều cơ quan từ trung ương tới địa phương như Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân…

    + Giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một thể thống nhất, trong đó mỗi cơ quan nhà nước được xem như là một mắt xích của hệ thống đó.

    – Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và trên cơ sở những nguyên tắc nhất định.

    + Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo có tính then chốt, xuất phát điểm, làm cơ sở cho toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

    + Bộ máy nhà nước thường bao gồm nhiều cơ quan có vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động… khác nhau, do vậy, khó có thể phát huy được sức mạnh và hiệu quả hoạt động của bộ máy nếu không được tổ chức một cách chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ. Vì thế, để thiết lập trật tự trong bộ máy nhà nước nhằm tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất trong hoạt, động giữa các cơ quan nhà nước, tăng cường sức mạnh của cả bộ máy nhà nước, đòi hỏi quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy này phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và những nguyên tắc chung nhất định. Ví dụ, bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc như: chủ quyền nhân dân, tập trung dân chủ, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật…

    – Bộ máy nhà nước được thiết lập để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, khi nhà nước cần phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ nào đó, nhà nước thành lập ra các cơ quan tương ứng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ ấy. Chẳng hạn, khi môi trường của đất nước bị ô nhiễm thì nhà nước phải thành lập cơ quan quản lý và bảo vệ môi trường để xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn môi trường nhằm hướng dẫn mọi người bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể và phát hiện, xử lý các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường…

    2 – Mối liên hệ giữa bộ máy nhà nước với chức năng của nhà nước

    Bộ máy nhà nước được thành lập và hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước, do vậy, quy mô, cơ cấu của bộ máy nhà nước cũng như cách thức tổ chức và hoạt động của từng cơ quan nhà nước… chịu sự chi phối có tính chất quyết định của chức năng nhà nước. Chẳng hạn, nếu chức năng chủ yếu của nhà nước là trấn áp thì trong bộ máy nhà nước các cơ quan cưỡng chế, trấn áp cũng là chủ yếu và được coi trọng nhất; ngược lại, nếu chức năng chủ yếu của nhà nước là tổ chức và quản lý kinh tế, xã hội thì trong bộ máy nhà nước cũng chủ yếu bao gồm các cơ quan quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chức năng của nhà nước càng nhiều, càng đa dạng, phong phú thì bộ máy nhà nước càng đồ sộ, phức tạp, số lượng các cơ quan và nhân viên trong bộ máy nhà nước càng đông hơn và cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước càng phải khoa học và hợp lý hơn. Ví dụ, chức năng của Nhà nước Việt Nam hiện nay nhiều hơn, đa dạng và phong phú hơn so với chức năng của các nhà nước phong kiến Việt Nam, do vậy, bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay đồ sộ và phức tạp hơn nhiều so với các nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây.

    Do được thành lập để thực hiện các chức năng của nhà nước nên hiệu quả thực hiện các chức năng của nhà nước lại phụ thuộc vào sự hợp lý trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu bộ máy nhà nước được tổ chức hợp lý, phù hợp với chức năng, hoạt động có hiệu quả thì hiệu quả thực hiện các chức năng của nhà nước sẽ cao và ngược lại, nếu tổ chức của bộ máy nhà nước không hợp lý, hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả thì hiệu quả thực hiện chức năng của nhà nước sẽ thấp.

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Chính Trị Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Trung Tâm Hành Chính Công
  • Một Trưởng Khối Dân Vận Tiêu Biểu
  • Khối Dân Vận Đảng Ủy
  • Nhiệm Vụ Và Chức Trách Của Thủ Quỹ Trong Cơ Quan Nhà Nước
  • Chức Năng, Hình Thức, Bộ Máy Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Nhà Nước ?
  • Trình Bày Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử Thế Giới
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Các Kiểu Và Hình Thức Của Nhà Nước
  • Quy Luật Thay Thế Các Kiểu Nhà Nước Theo Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Mác
  • Bản chất và vai trò của nhà nước thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ và chức năng ấy.

    a) Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà nhà nước cần giải quyết.

    b) Chức năng của nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.

    Chức năng của nhà nước là phương tiện, công cụ để thực hiện nhiệm vụ, được quy định trực tiếp bởi nhiệm vụ.

    Một nhiệm vụ cơ bản chiến lược thường được thực hiện bởi nhiều chức năng. Ví dụ: nhiệm vụ chung xây dựng CNXH, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội. Một chức năng có thể là phương tiện thực hiện nhiều nhiệm vụ cụ thể, cấp bách. Ví dụ: chức năng kinh tế thực hiện nhiều nhiệm vụ như: đảm bảo tự túc lương thực trong nước và xuất khẩu, chống lạm phát, ổn định đời sống nhân dân…

    Xét ở phạm vi bao quát hơn, chức năng nhà nước được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế- xã hội(kết cấu giai cấp).

    Ví dụ: Chức năng cơ bản của kiểu nhà nước bóc lột (bảo vệ, duy trì chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trấn áp phản kháng của giai cấp bị trị, tiến hành xâm lược hòng nô dịch các dân tộc khác…) bị quy định bởi quyền tư hữu tư liệu sản xuất và chế độ bóc lột nhân dân lao động.

    Chức năng nhà nước XHCN khác chức năng nhà nước bóc lột: thể hiện ở nội dung và phương thức thực hiện. Cơ sở kinh tế của nhà nước XHCN là chế độ công hữu với tư liệu sản xuất và nhà nước là tổ chức chính trị thể hiện ý chí, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân lao động, là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Các chức năng cơ bản của nhà nước luôn được bổ sung bằng những nội dung mới phù hợp với nhiệm vụ và tình hình của mỗi giai đoạn phát triển xã hội.

    Ví dụ: nhiệm vụ quan trọng hiện nay là xây dựng nền kinh tế phát triển- nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế có nhiều nội dung mới và phương thức thực hiện năng động nhạy bén phù hợp với cơ chế quản lý mới.

    Chức năng nhà nước và chức năng cơ quan nhà nước:

    Chức năng nhà nước là phương diện chủ yếu của cả bộ máy nhà nước mà mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau.

    Ví dụ: chức năng bảo vệ pháp luật và tăng cường pháp chế thuộc về các cơ quan: Quốc Hội, Tòa án, Viện kiểm sát…

    Chức năng của một cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động của cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện chức năng chung của nhà nước.

    Ví dụ: Tòa án thực hiện chức năng xét xử vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp. Chức năng của Viện kiểm sát là công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

    Căn cứ vào tính chất chức năng phân thành:

    a) Chức năng cơ bản

    b) Chức năng không cơ bản.

    Căn cứ vào thời gian thực hiện chức năng:

    a) Chức năng lâu dài

    b) Chức năng tạm thời

    Căn cứ vào đối tượng của chức năng:

    a) Chức năng đối nội (là chức năng cơ bản)

    b) Chức năng đối ngoại.

    2 loại chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, các chức năng đối ngoại luôn xuất phát từ việc thực hiện chức năng đối nội và phục vụ chức năng đối nội. Thực hiện tốt chức năng đối nội sẽ thuận lợi cho thực hiện chức năng đối ngoại và ngược lại.

    Chức năng đối nội quan trọng và có vai trò quyết định đối với sự tồn tại của nhà nước.

    3. Hình thức và phương pháp thực hiện chức năng:

    Hình thức thực hiện chức năng:

    Hình thức mang tính pháp lý:

    Hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật.

    Tổ chức thực hiện pháp luật .

    Bảo vệ pháp luật

    Hình thức mang tính tổ chức kỹ thuật- kinh tế- xã hội.

    Phương pháp thực hiện chức năng: 2 phương pháp : thuyết phục và cưỡng chế.

    Sự khác nhau căn bản giữa nhà nước XHCN và nhà nước bóc lột: phương pháp chủ yếu của nhà nước XHCN là thuyết phục, giáo dục còn cưỡng chế chỉ được áp dụng khi thuyết phục, giáo dục không đạt kết quả và cũng chỉ với mục đích cải tạo người xấu thành người tốt có lợi ích cho xã hội, ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực chứ hoàn toàn không mang tính chất đàn áp.

    Nhà nước bóc lột: cưỡng chế là phương pháp cơ bản, được áp dụng rộng rãi mà chủ yếu là để áp bức , bóc lột nhân dân lao động.

    Hình thức nhà nước:

    Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, là phương thức chuyển ý chí giai cấp thống trị thành ý chí nhà nước.

    Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất nhà nước.

    Có hai loại:

    Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.

    Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản:

    Chính thể quân chủ: quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước ( vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế.

    Chính thể quân chủ được chia thành:

    Chính thể quân chủ tuyệt đối: người đứng đầu nhà nước ( vua, hoàng đế…) có quyền lực vô hạn.

    Chính thể quân chủ hạn chế: quyền lực tối cao được trao cho người đứng đầu nhà nước và một cơ quan cấp cap khác.

    Chính thể cộng hòa: quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện do bầu ra trong một thời gian nhất định.

    Chính thể cộng hòa có 2 hình thức:

    Chính thể cộng hòa dân chủ: pháp luật quy định quyền của công dân tham gia bầu cử thành lập cơ quan đại diện của nhà nước. Nhưng vấn đề này thực hiện được hoặc không thực hiện được còn phụ thuộc vào nhà nước thuộc giai cấp nào.

    Chính thể cộng hòa quý tộc: quyền tham gia bầu cử để thành lập các cơ quan đại diện của nhà nước chỉ dành riêng cho giới quý tộc (dưới chế độ nô lệ và phong kiến).

    Là sự tổ chức nhà nước theo đơn vị hành chính lãnh thổ và tổ chức quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương.

    Có 2 hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu:

    Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất, các bộ phận hợp thành nhà nước là các đơn vị hành chính lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia và các đặc điểm của nhà nước. Có hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương. Ví dụ: Việt Nam, Lào, Trung Quốc…

    Nhà nước liên bang: không chỉ liên bang có dấu hiệu nhà nước mà các nhà nước thành viên ở mức độ này hay mức độ khác cũng có các dấu hiệu của nhà nước, chủ quyền quốc gia. Nhà nước liên bang có 2 hệ thống cơ quan nhà nước và 2 hệ thống pháp luật.

    Ví dụ: Mỹ, Liên Xô cũ, Braxin…

    Có một loại hình nhà nước khác nữa là nhà nước liên minh: nhà nước liên minh chỉ ra là sự liên kết tạm thời của các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nhất định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục đích. Nhà nước liên minh tự giải tán. Cũng có trường hợp phát triển thành nhà nước liên bang.

    Ví dụ: Từ năm 1776 đến năm 1787, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên minh sau trở thành nhà nước liên bang.

    Bộ máy nhà nước.

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.

    Bộ phận cấu thành nhà nước là cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước là tổ chức chính trị có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức, bao gồm những cán bộ, viên chức nhà nước. Cán bộ, viên chức nhà nước là những con người được giao quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ, chức năng trong phạm vi luật định.

    Phân loại cơ quan nhà nước.

    Theo chức năng: cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    Theo vị trí, tính chất, thẩm quyền: cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, Tòa án, Viện kiểm sát.

      Sự phát triển của bộ máy nhà nước qua các kiểu nhà nước trong lịch sử.

    a) Tính tất yếu khách quan của sự phát triển bộ máy nhà nước.

    Bộ máy nhà nước là phạm trù năng động, luôn vận động, biến đổi để thích nghi với điều kiện khách quan của xã hội.

    Bộ máy nhà nước chịu sự quy định của yếu tố kinh tế, bản chất nhà nước, tương quan lực lượng chính trị- xã hội, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán.

    Bộ máy nhà nước chịu sự quy định của yếu tố chủ quan: quan điểm, nhận thức. b) Quy luật phát triển của bộ máy nhà nước qua các kiểu nhà nước.

    Bộ máy nhà nước được tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện trên cơ sở thừa kế những điểm tiến bộ của bộ máy nhà nước trước đó.

    Bộ máy nhà nước luôn được cải cách, đổi mới để thích nghi.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Kiểu Nhà Nước Phong Kiến Là Gì ? Tìm Hiểu Về Kiểu Nhà Nước Phong Kiến
  • Kiểu Nhà Nước Tư Sản Và Kiểu Nhà Nước Phong Kiến
  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Phong Kiến
  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế
  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Một Số Vấn Đề Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Nhận Vệ Sinh Pin Mặt Trời Trọn Gói Cho Nhà Máy Điện Mặt Trời
  • Tuy nhiên, so với yêu cầu quản lý, vẫn chưa có luật để điều chỉnh các vấn đề: an toàn truyền máu; phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; quản lý trang thiết bị, sức khoẻ tâm thần, phòng chống tai nạn thương tích…

    b) Xây dựng, ban hành chính sách về y tế

    “Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định”.

    Trước đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách như chính sách quốc gia về thuốc, Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá … nhưng nay lại có xu hướng chuyển sang công cụ kế hoạch. Ví dụ như Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2022 hay Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược… Hiện nay, chỉ còn 01 chính sách là Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2022 ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

    Như vậy, ở các quốc gia khác, người ta chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật và chính sách nhưng ở nước ta, trong lĩnh vực y tế, công cụ chính sách lại ít được sử dụng. Mặt khác, về hình thức các chính sách và chiến lược đều tương đối giống nhau nên khó phân biệt sự khác nhau giữa chính sách và chiến lược.

    c) Xây dựng, ban hành kế hoạch về y tế

    “Kế hoạch là các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định do Nhà nước đặt ra”. Hệ thống kế hoạch của Nhà nước bao gồm: Chiến lược (hệ thống các đường lối và biện pháp chủ yếu nhằm đưa hệ thống đạt đến các mục tiêu dài hạn); Quy hoạch (tổng thể các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực để thực hiện mục tiêu theo không gian và thời gian); Các kế hoạch trung hạn (thường là kế hoạch 5 năm để cụ thể hoá các mục tiêu, giải pháp được lựa chọn trong chiến lược); Các chương trình mục tiêu (được xây dựng rất phổ biến nhằm xác định đồng bộ các mục tiêu, các chính sách, các bước cần tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng để thực hiện một ý đồ lớn, một mục đích nhất định nào đó của Nhà nước. Chương trình thường gắn với ngân sách cụ thể cần thiết, có nhiều chương trình bộ phận và được giao cho những đơn vị khác nhau thực hiện); Các kế hoạch năm (cụ thể hoá nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược, vào kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu để điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch) và các dự án (nhằm triển khai, thực thi các chương trình mục tiêu).

    – Trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá nhiều chiến lược như: Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 , Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 .. Đây là các chiến lược mang tính tổng thể về ngành y tế. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành các chiến lược riêng như Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược về Chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và một số chiến lược khác. Như vậy, việc ban hành các chiến lược trên dẫn đến chồng chéo về mục tiêu, giải pháp và làm cho việc triển khai thực hiện bị phân tán.

    – Bên cạnh đó, về quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2022 nhưng sau đó lại chuẩn bị có thêm quy hoạch khác như Quy hoạch phát triển 5 bệnh viện tuyến Trung ương… dẫn đến tính thống nhất của hệ thống quy hoạch bị thay đổi. Mặt khác, một số địa phương cũng không tuân thủ đúng quy hoạch này làm cho quy hoạch bị ảnh hưởng.

    – Về chương trình mục tiêu quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số – Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2012-2015 , Chương trình mục tiêu y tế quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015 . Các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tăng thêm nguồn kinh phí cho việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm về y tế mà Nhà nước cần giải quyết nhưng theo Kế hoạch cải cách tài chính công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì dần dần Nhà nước sẽ cắt bỏ khoản chi này vì việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên thường dễ làm cho các địa phương ỷ lại vào nguồn tài chính từ Trung ương mà không chịu đầu tư cho y tế từ ngân sách của tỉnh.

    2. Nhà nước là nòng cốt, kết hợp xã hội hóa trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Hoạt động y tế là một trong những hoạt động thể hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nên Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về y tế. Để thể hiện vai trò nòng cốt này, Nhà nước đã tập trung ngân sách trong khả năng có thể cho lĩnh vực y tế để chi cho phát triển hệ thống y tế công, trong đó có xây dựng cơ bản, trang thiết bị, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, do ngân sách không đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành y tế nên Nhà nước đã thực hiện chủ trưởng xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động các nguồn lực của xã hội tham gia, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, tới nay, hầu hết các bệnh viện công lập sẽ được chuyển sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ, cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích, không bao cấp tràn lan và không nhằm mục đích lợi nhuận, đồng thời phát triển mạnh các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, trong đó có phát triển các bệnh viện tư nhân. Việc xã hội hóa này đã tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Rõ ràng, chủ trương này chủ yếu dựa vào các lợi ích vật chất, các đòn bảy kinh tế để dung hoà các lợi ích của đội ngũ CCVC y tế, của tập thể và của Nhà nước bằng cách xác lập cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ sở KCB công, nâng cao chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, phát triển y tế tư nhân, từng bước thực hiện BHYT toàn dân để thúc đẩy việc dành ngân sách y tế chi cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách. Đây là phương pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý trong lĩnh vực y tế.

    Tuy nhiên, chủ trương xã hội hóa cũng đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ như chế độ tự chủ về tài chính đã làm cho một số bệnh viện công lạm dụng kỹ thuật cận lâm sàng, giữ người bệnh… dẫn đến quá tải ở tuyến trên hay liên doanh, liên kết đặt trang thiết bị dẫn đến vấn đề đa sở hữu trong nội bộ bệnh viện, vấn đề minh bạch hóa tài chính công cũng khó xác định. Bên cạnh đó, việc tự chủ về nhân lực cũng ảnh hưởng đến cơ cấu bác sỹ với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên. Một số bệnh viện chủ yếu tuyển dụng bác sỹ mà ít tuyển dụng điều dưỡng viên nên vấn đề chăm sóc người bệnh toàn diện cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác, xã hội hóa cũng chỉ tập trung nhiều ở khu vực khám bệnh, chữa bệnh mà ít phát huy ở khu vực dự phòng vì lý do lợi nhuận. Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là trong lĩnh vực y tế công, các khuyết tật xã hội nảy sinh nhiều hơn so với khu vực tư nhân như vấn đề thái độ phục vụ người bệnh, vấn đề y đức, vấn đề xây dựng cơ bản, đấu thầu thuốc…

    3. Nhà nước là người tổ chức, chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng, hiệu quả giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Nhà nước trong bất kỳ thể chế chính trị nào, hình thái tổ chức nào cũng đều là người tổ chức và chịu trách nhiệm cao nhất về chăm sóc sức khỏe cho người dân và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, tuy theo mô hình tổ chức nhà nước, vấn đề trách nhiệm thực hiện được phân công khác nhau. Mô hình nhà nước Việt Nam là đơn nhất nên việc phân công trách nhiệm cũng khác nhau. Bộ trưởng Bộ Y tế là tư lệnh ngành nhưng không phải là người chịu trách nhiệm duy nhất về vấn đề chất lượng, hiệu quả của công tác y tế. Do đó, phải thực hiện nguyên tắc “Kết hợp quản lý nhà nước theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ”. Xuất phát từ việc phân định chức năng khác nhau giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.

    Chính quyền địa phương có hai tư cách:

    – Là người thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trong phạm vi địa phương của nhân dân sống và làm việc trên đơn vị hành chính – lãnh thổ, đại biểu cho quyền lợi của nhân dân ở địa phương.

    – Là một bộ phận của quyền làm chủ trên phạm vi cả nước của nhân dân sống và làm việc trên lãnh thổ, là bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, tức là người đại diện của Nhà nước trung ương ở địa phương. Do đó, chính quyền địa phương vừa phải phục tùng vừa phải làm chủ, tính chủ động sáng tạo rất cao của chính quyền và của nhân dân ở địa phương; vừa phục tùng và bảo đảm lợi ích chung của Nhà nước, vừa bảo đảm lợi ích của địa phương; hai mặt kết hợp hài hòa trên lãnh thổ, trong cùng một thể thống nhất.

    Chức năng quản lý của Nhà nước Trung ương là quản lý toàn diện, (thẩm quyền chung của Chính phủ) hoặc ngành, lĩnh vực (thẩm quyền riêng của Bộ) trên phạm vi cả nước. Còn chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương theo thẩm quyền chung là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính – lãnh thổ. Hai loại chức năng đó không tách biệt nhau; không phải Bộ chỉ quản lý theo ngành mà không có trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ cũng như không phải chính quyền địa phương chỉ quản lý theo lãnh thổ tách khỏi quản lý ngành.

    Trên cơ sở xác định nội dung quản lý nhà nước theo ngành, quản lý nhà nước theo lãnh thổ và phân tích chức năng quản lý nhà nước về y tế cho thấy nhất thiết phải kết hợp quản lý nhà nước theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ. Trên cơ sở phân định rõ ràng chức năng quản lý, các quy định về phân công, phân cấp và xây dựng nội dung, mức độ quản lý theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ nhằm phát huy cao độ nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả nước, của từng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất những lợi thế của địa phương. Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lý chủ yếu được thể hiện:

    – Tổ chức sự điều hòa, phối hợp các hoạt động y tế trên phạm vi cả nước cũng như trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ, nhằm xây dựng và phát triển hệ thống y tế một cách đồng bộ.

    – Quản lý công việc chung, lợi ích chung của Nhà nước về sự nghiệp y tế, kết hợp hài hòa lợi ích chung cả nước và lợi ích của từng địa phương.

    – Quản lý và phục vụ tốt những tổ chức và hoạt động của các cơ quan y tế trực thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành khác đóng trên trên lãnh thổ để cũng chăm lo cho sức khỏe của nhân dân địa phương.

    – Song trùng trách nhiệm quản lý nhà nước giữa Bộ Y tế với UBND tỉnh.

    Sự kết hợp giữa quản lý theo ngành của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và quản lý trên đơn vị hành chính lãnh thổ của chính quyền địa phương về y tế được pháp luật quy định; các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương chấp hành không được tùy tiện, thay đổi hay làm trái.

    Tuy nhiên, vấn đề ai, tổ chức chịu trách nhiệm cao nhất nếu xảy ra những vấn đề về y tế lại cần phải bàn luận thêm như:

    – Chế độ tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật công chức, viên chức y tế

    Trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và theo phân cấp quản lý, việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật công chức, viên chức y tế đều thuộc về thẩm quyền của chính quyền địa phương, Bộ Y tế không có thẩm quyền can thiệp và khi các tiêu chuẩn, chức danh công chức, viên chức y tế do Bộ Y tế, Bộ Nội vụ ban hành mà địa phương thực hiện chưa đúng, Bộ Y tế cũng chỉ kiến nghị mà không có thẩm quyền giải quyết cụ thể.

    – Chế độ tài chính dành cho công tác y tế

    Theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện nay, các tỉnh đều được quyền phân chia ngân sách được cấp cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế… trên địa bàn tỉnh. Trong lĩnh vực y tế, để tuân thủ quy chuẩn bệnh viện, cơ sở y tế, các quy định chuyên môn, kỹ thuật y tế, ngân sách của tỉnh phải đáp ứng đầy đủ để thực hiện đúng các quy định đó. Ngoài ra, Nhà nước còn có cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quốc tế (viện trợ, vốn vay ODA), trái phiếu Chính phủ để chi cho hệ thống y tế ngoài nguồn ngân sách nhà nước. Như vậy, rõ ràng chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm về các điều kiện kinh phí cho hoạt động y tế trên địa bàn lãnh thổ phụ trách.

    – Tổ chức thi hành pháp luật về y tế

    Với phương thức quản lý hiện nay, chính quyền địa phương được toàn quyền tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn và chịu trách nhiệm về toàn bộ các vấn đề y tế xảy ra.

    Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra, mối quan hệ phối hợp giữa Sở Y tế với UBND huyện, xã cần phải được tiến hành đồng bộ dưới gậy chỉ huy của UBND tỉnh.

    Vấn đề cơ bản là các cơ sở y tế, các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về y tế.

    – Trách nhiệm công vụ trong quản lý nhà nước về y tế

    Mô hình hệ thống tổ chức nhà nước hiện nay là phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: Các cơ sở y tế vừa trực thuộc Bộ về quản lý chuyên môn y tế, vừa trực thuộc lãnh đạo địa phương về tổ chức, nhân lực, tài chính…. Mô hình này còn được gọi là mô hình Xô viết (Bộ thì quản lý ngành dọc, địa phương quản lý ngành ngang). Song trùng trực thuộc thì chế độ trách nhiệm phải được xác lập song trùng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định trách nhiệm công vụ chưa rõ ràng, cụ thể, minh bạch nên khi có vấn đề xảy ra, việc quy trách nhiệm công vụ không dễ. “Vừa qua, quá bức xúc trước cách quản lý của một giám đốc sở, một Bộ trưởng cũng chỉ làm được một việc duy nhất là “dọa” sẽ đề nghị cách chức. Trong một mô hình như vậy, quy trách nhiệm cho Bộ trưởng không chỉ rất khó khăn, mà còn rất không công bằng” . Như vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải luật hóa trách nhiệm công vụ để quy trách nhiệm tập thể, cá nhân (Bộ trưởng, Giám đốc Sở, UBND…) một cách cụ thể, rõ ràng, minh bạch trên cơ sở giám sát của nhân dân và các cơ quan chức năng theo mô hình tổ chức nhà nước đã được Hiến định hiện nay.

    4. Quản lý theo pháp luật kết hợp thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao của nhân dân đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả của việc QLNN bằng pháp luật, góp phần đưa các hoạt động y tế vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật và phát triển ổn định. Bên cạnh việc đưa pháp luật về y tế vào cuộc sống, phải gắn thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    5. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. a) Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế

    Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, khắc phục, phòng ngừa những vi phạm pháp luật. Kiểm tra nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục cho CCVC y tế tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh theo pháp luật; phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các VBQPPL để đề nghị bổ sung, sửa đổi, phát hiện những hành vi sai lệch trong việc thực hiện pháp luật; có biện pháp uốn nắn, khắc phục và phát hiện những việc làm vi phạm pháp luật; có biện pháp xử lý nghiêm minh, kịp thời; đồng thời phát hiện những điển hình thực hiện pháp luật tốt để động viên, khen thưởng. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những hạn chế sau đây:

    – Hiện tại, Bộ Y tế, các Sở Y tế, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế đều tổ chức kiểm tra trong phạm vi quản lý hoặc khi có sự chỉ đạo của cấp trên hoặc khi có vụ việc xảy ra do các cơ quan thông tin đại chúng cung cấp nhưng đều chưa có kế hoạch, chưa chủ động trong công tác kiểm tra nên thường bị động và mang tính đối phó.

    – Qua thực tiễn, Bộ Y tế, Sở Y tế thường tiến hành kiểm tra thực hiện pháp luật về y tế theo định kỳ 6 tháng hoặc một năm một lần và chỉ tiến hành kiểm tra đột xuất khi có vụ việc xảy ra nên công tác kiểm tra thường không bài bản, mục đích kiểm tra chưa theo chuyên đề cụ thể, chưa có quy trình kiểm tra cụ thể…

    – Việc kiểm tra hiện nay đều theo cùng một phương thức là đơn vị được kiểm tra báo cáo, sau đó các thành viên trong Đoàn kiểm tra hỏi, đi thị sát đơn vị và sau đó đưa ra nhận xét, kết luận, cũng như chưa xây dựng bảng kiểm theo từng chuyên đề kiểm tra, căn cứ vào các quy định pháp luật để đưa ra bảng hỏi và chấm điểm cụ thể nên hoạt động này còn mang tính hình thức, kết quả kiểm tra không được định lượng và không phân loại được mức độ thực thi pháp luật của các đơn vị, địa phương.

    – Việc chỉ đạo các đơn vị dưới quyền thực hiện tự kiểm tra mới chỉ được phổ biến, nhắc nhở trong các hội nghị hoặc các đợt công tác mà chưa có chỉ đạo cụ thể bằng văn bản nên việc tự kiểm tra của các đơn vị ít được quan tâm tiến hành.

    – Sau khi kiểm tra, hầu hết các điểm yếu kém chỉ bị nhắc nhở, không phát hiện được sai phạm lớn, chưa có trường hợp nào bị xử lý kỷ luật hoặc đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền XPVPHC nên công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế còn mang tính hình thức, xuê xoa, chưa thể hiện được tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật y tế.

    – Trên cơ sở Luật Thanh tra, hệ thống thanh tra chuyên ngành về y tế đã được thiết lập ở Bộ Y tế, Sở Y tế nhưng chưa có cơ sở pháp lý cho việc thiết lập tổ chức thanh tra chuyên ngành ở tuyến huyện, xã nên việc kiểm soát ATTP, hành nghề y tế tư nhân…không được hiệu quả.

    – Hằng năm, Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế đều có kế hoạch thanh tra, thực hiện phối hợp liên ngành trong thanh tra nhưng còn bị động, hiệu quả chưa cao, hoạt động tự thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ quan, tổ chức nhà nước chưa được chú trọng và đủ mạnh trong việc tự phòng ngừa các vi phạm pháp luật về y tế.

    – Hiện cả nước có 229 thanh tra viên và chuyên viên thanh tra y tế nên số lượng này còn quá thấp so với chức năng, nhiệm vụ được giao. Chất lượng thanh tra viên và chuyên viên thanh tra y tế cũng còn hạn chế về kỹ năng, kinh nghiệm thanh tra do 25,2% người chưa được đào tạo về nghiệp vụ thanh tra, 14,2% người mới được tập huấn nghiệp vụ thanh tra trên 1 tháng… nên đã ảnh hưởng không ít đến quá trình hoạt động và kết quả thanh tra.

    c) Xử lý vi phạm

    Việc xử lý này thực chất là bảo vệ các giá trị của pháp luật về y tế không bị vi phạm trong thực tiễn cuộc sống, giúp cho công tác QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế đạt hiệu quả cao hơn.

    Các hành vi vi phạm pháp luật gắn với từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau: Tội phạm và trách nhiệm hình sự; vi phạm pháp luật dân sự và trách nhiệm dân sự; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; vi phạm kỷ luật và trách nhiệm kỷ luật. Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công nên Luận án này không nghiên cứu vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm bồi thường dân sự.

    Xử lý kỷ luật đối với CCVC là một trong những công cụ, biện pháp quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ CCVC. Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC phải bảo đảm theo đúng các hình thức kỷ luật, bảo đảm khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng thời hiệu và theo đúng các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về CCVC.

    Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những hạn chế sau đây:

    * Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế

    – Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế đều bảo đảm đúng thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, thủ tục XPVPHC nhưng ngoài thanh tra viên y tế, quản lý thị trường thì việc áp dụng thẩm quyền này của chủ tịch UBND các cấp, công an còn rất hạn chế.

    – Việc XPVPHC về y tế đã bảo đảm đúng hình thức và mức phạt theo quy định của pháp luật nhưng có sự nương nhẹ trong XPVPHC, chưa có sự công bằng trong XPVPHC.

    – Đa số các đối tượng bị XPVPHC trong lĩnh vực y tế đã nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử phạt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng cũng có trường hợp chưa tự giác chấp hành quyết định XPVPHC, việc thực hiện cưỡng chế trên thực tế cũng rất khó khăn do người vi phạm quá nghèo, nếu cưỡng chế thì chi phí để cưỡng chế lại cao hơn giá trị tài sản đó.

    * Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế chủ yếu căn cứ theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức nhưng vẫn còn một số đơn vị khi xử lý kỷ luật lại căn cứ thêm vào quy định 12 điều y đức do Bộ Y tế ban hành hoặc theo Nghị quyết Đại hội CNVC của đơn vị.

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế nhìn chung đều đúng thẩm quyền nhưng vẫn còn một số đơn vị khi xem xét kỷ luật đã để kéo dài quá lâu nên có một số vụ việc bị hết thời hiệu kỷ luật hoặc có một số bộ phận khoa, phòng trong đơn vị khi phát hiện vi phạm chế độ kỷ luật đã tự giải quyết nội bộ sai với thẩm quyền quy định.

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế đều bảo đảm nguyên tắc, trình tự thủ tục nhưng có một số đơn vị ghi biên bản kỷ luật lại sơ sài, đơn giản, không ghi rõ hành vi sai phạm tương xứng với hình thức kỷ luật nên đã có trường hợp kiện ngược sau khi đã quyết định kỷ luật.

    – Các hành vi vi phạm kỷ luật chủ yếu là gây mất đoàn kết nội bộ kéo dài trong đơn vị, sa sút về phẩm chất đạo đức, y đức, thoái hoá biến chất, nghiện ma túy; thu tiền người bệnh sai nguyên tắc tài chính; vi phạm quy chế chuyên môn, vi phạm kỷ luật lao động… nhưng để định rõ các hành vi cụ thể phải bị xử lý kỷ luật thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể.

    – Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đều bảo đảm công bằng, đúng người, đúng hành vi vi phạm nhưng có đơn vị còn áp dụng hình thức giảm mức xếp loại lao động, cắt tiền thi đua (A,B,C) hàng tháng, trừ tiền thu nhập tăng thêm và tiền thưởng đối với CCVC vi phạm giờ giấc lao động, vi phạm quy chế trực… hoặc còn vận dụng hình thức phê bình trước tập thể không ghi lý lịch hoặc kéo dài thời gian nâng lương, không cử đi học…

    – Khi CCVC y tế làm mất mát, hư hỏng hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của Nhà nước hoặc gây thiệt hại cho người khác đều được các cơ quan, đơn vị xử lý bồi thường trách nhiệm vật chất nhưng có một số đơn vị còn chưa thực hiện được việc này, chủ yếu là không thu hồi lại được chi phí đào tạo theo quy định đối với trường hợp được hỗ trợ kinh phí đào tạo nhưng sau khi học xong lại không trở về làm việc.

    d) Tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Việc tôn vinh thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế được thể hiện qua các phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân. Tuy nhiên, phương thức này cần phải xem xét một cách nghiêm túc vì phần lớn khen thưởng không qua phong trào thi đua và nếu có phát động thi đua thì lại hình thức nên không linh thiêng hóa việc tôn vinh.

    Trích: Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 3 tháng 9/2014​

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Chuyên Đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Tại Bộ Thương Mại
  • Bốn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Bộ Chqs Tp Hải Phòng
  • Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản
  • Đề Tài Tìm Hiểu Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cụ Thể Hóa Chức Năng Tổ Chức Của Quản Trị Văn Phòng
  • Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Gia Lai: Lập Đoàn Kiểm Tra Dấu Hiệu Vi Phạm Đối Với Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Bổ Nhiệm Phó Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy Bạc Liêu
  • nhà nước đối với kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như trênthị trường quốc tế của các chủ thể kinh tế nhà nước đã và đang là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1996, tr93-94) 3. Thực trạng tổ chức, quản lí kinh tế của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay 3.1. Khái quát về thành tựu đạt được trong việc tổ chức, quản lí kinh tế của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Bằng chính sách, pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác, qua gần hai thập kỉ dổi mới đất nước, Nhà nước ta thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo ra những chuyển biến to lớn về mọi mặt của đất nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu rõ nét và đồng bộ, trong đó tốc độ tăng trưởng khá cao ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.Nếu tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 1976-1980 chỉ có 0,4% thì từ năm 1991-1999, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 7,7%.Nếu nhìn khái quát giai đoạn từ 1996 đến nay thì những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: *Nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân được duy trì Sản xuất nông nghiệp liên tục phát triển, sản lượng lương thực bình quân đầu người đã tăng từ 360kg năm 1995 lên trên 444kg năm 2000.Các ngành công nghiệp và xây dựng vượt qua những khó khăn, thách thức đạt được nhiều tiến bộ với nhịp độ tăng trưởng bình quân 13,5%/năm; giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,8%/năm *Cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã có chuyển biến tích cực Nhìn chung cơ cấu kinh tế đất nước đang được chuyển đổi theo hướng công nghiệp háo, hiện đại hóa; cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong GDP: khoảng 39%, kinh tế tập thể: 8,5%, kinh tế tư nhân: 3,3%, kinh tế cá thể : 32%, kinh tế hỗn hợp: 3,9%, kinh tế có vốn đầu tư nứơc ngoài: 13,3%. (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,tr.229) *Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo Các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân được đảm bảo như cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, trong đó tiỉệ tích lũy để phát triển tăng; cân đối tài chính-tiền tệ. Chính sách của Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn vốn phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước.Năng lực của các ngành sản xuất, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được nâng lên rõ rệt. *Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển Nhờ có những đổi mới trong những chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước, đặc biệt là Luật đầu tư nước ngoài tại Việ Nam được bổ sung, sửa đổi ngày càng thông thoáng hơn; Luạt thương mại đuợc ban hành và có hiệu lực mà hoạt động xuất nhập khẩu những năm qua được đánh giá là phát triển khá, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; vôốnhỗ trợ phát triêểnchính thức (ODA) tiếp tục tăng góp phần phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đồng thời các doanh nghiệp VIệt Nam cũng đang từng bước mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài *Cơ chế quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác lập, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới Các chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Nhaànước đang dần được thể chế hóa bằng các đạo luật như Luật doanh nghiệp, Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng, Luật đất đai(sửa đổi), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam(sửa đổi), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật lao động, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật khoa học và công nghệ … Nhiều loại thị trường hàng hóa dịch vụ như thị trường vốn, tiền tệ, tài chính, lao động, bất động sản, khoa học và công nghệ đã được thừa nhận và bước đầu được tạo lập khuôn khổ pháp lí. Cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô của nhà nước đã được định hình; hành lang pháp lí cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế dã đựoc xác lập. Các thủ tục hành chínhđã giảm bớt, tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước đã được đổi mới một bước quan trọng theo các yêu cầu của việc đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh. Chính sách chủ động hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực đang được tăng cường trên cơ sở phát huy năng lực của nền kinh tế đất nước. Đánh giá tình hình chung sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đó là tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế . Đặc biệt là nhà nước đã kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; cơ cấu nền kinh tế quốc dân từ chỗ chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nay đã huyển sang nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần trong đó nền kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đời sống nhân dân những năm qua được cải thiện, đất nước đã ra khỏi khủng hoaảng kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và các nước Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, không để bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế ở một số nước Châu Á mà hậu quả của nó đối với Việt Nam cũng khá nặng nề, tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. 3.2. Những tồn tại và bất cập trong tổ chức, quản lí kinh tế của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Mỗi bước phát triển kinh tế đều thể hiện mặt thành công và những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, những tồn tại và bất cập trong hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước hiên nay thể hiện trên những điểm chủ yếu sau: *Về hệ thống pháp luật và các công cụ quản lí vĩ mô khác của Nhà nước Biểu hiện chung là chính sách đối với các thành phần kinh tế của Nhà nước hiện nay chưa thật sự đồng bộ và nhất quán. Trong thực tế từ các nguyên tắc hiến pháp cho đến các đạo luật, các văn bản duới luật và hoạt động thực thi chính sách hàng ngày của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước… là cả chặng đường dài mà ở đó có thể có sự khúc xạ, biến tướng so với các chủ trương, chính sách lớn. Chẳng hạn, giá dịch vụ các loại, giá thuê đất, chế độ tín dụng khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hình thành đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa đượctạo lập đầy đủ. Trong chính sách, thể chế quản lí của Nhà nước còn tồn tại những hình thức bao cấp, vẫn mang tính chất “xin-cho” gắn với thủ tục phiền hà, thiếu công khai nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng quản lí, không giữ được trật tự, kỉ cương (Báo cáo của Chính phủ tại kì họp Quốc hội khóa X, 2000) Từ năm 2000, Việt Nam đã khắc phục đượ tình trạng suy giảm nhuưg nhìn chung, cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Việt Nam chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Lao động trong nông nghiệp chiếm 67%; xuất khẩu chủ yếu là hàng nguêyn liệu thô hoặc hàng gia công, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, tình trạng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn còn cao.. (theo “Kinh tế Việt Nam trong quá trình cải cách”, Cải cách kinh tế, tài chính Việt Nam& Trung Quốc và thành tựu và triển vọng, Nxb. Tài chính, tác giả Nguyễn Công Nghiệp, H, tr.14) Trong gần 20 năm đổi mới đất nước, bên cạnh những kết quả đã đạt được, về xây dựng hệ thống pháp luật cũng như hoạt động thi hành pháp luật và giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục để phát triển kinh tế-xã hội theo chiều sâu của sự nghiệp đổi mới đất nước. So với nhu cầu của đất nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội hiên nay thì có thể thấy hệ thống pháp luật còn những khuyết điểm như sau: Chúng ta vẫn còn thiếu pháp luật trong một số lĩnh vực quan trọng như cạnh tranh, chốn độc quyền; chứng khoán; kiểm toán; kế toán, thống kê; kinh doanh bất động sản. Luật pháp của nhà nước ta vẫn chưa đồng bộ, phần lớn chỉ dưừnglại ở các nguyên tắc chung, muốn đi vào cuộc sống phải ban hành nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn chi tiết mà nhiều khi việc này còn chậm trễ. Pháp luật về kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh thậm chí còn mâu thuẫn ,thiếu tính minh bạch và tính xác định gây khó khăn cho việc sử dụng pháp luật của các nhà đầu tư. Nhà nước ta có bộ máy thi hành pháp luật khá đồ sộ nhưng hiệu lực và hiệu quả còn chưa tương xứng; năng lực cán bộ, công chức nhà nước còn yếu; việc giải quyết các treanh chấp kinh tế, dân sự còn chậm. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật còn kém, trong đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều vi phạm nư kinh doanh trái phép, buôn lậu, hàng giả, trốn thuế, nợ đọng thuế … Cùng đó, Luật pháp nhà nước ta hay phải sửa đổ,i bổ sung cũng có mặt trái là không đảm bảo được tính ổn định cho sự vận hành của các quan hệ kinh tế Thêm nữa, pháp luật kinh tế thiếu nhiều cơ chế kiểm soát thông qua thị trường, ít mang tính chất cuủa”luật tư” (xem “Mấy điều về pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay”-Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Luật học, số 3/1999, tr.25).Nhìn chung pháp luật hiện hành còn đang thể hiện những điểm mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước. Đó là mâu thuẫn trong việc thừa nhận nền kinh tế thị trường theo nguyên tắc tự do kinh doanh mà trên thực tế các cơ chế chính sách, các quy định cụ thể vẫn còn nặng về thủ tục hành chính.Ngaòi ra, hệ thống pháp luật kinh tế của VIệt Nam còn nhiều sự khác biệt với hệ thống pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới. * Về việc thực hiện chức năng quản lí đối với kinh tế Nhà nước Tình hình chung hiện nay của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam cho thấy một số doanh nghiệp vươn lên thích ứng với cơ chế thị trường và phát huy được tác dụng tích cực nhưng nhìn chung hiệu quả kinh doanh cảu các doanh nghiệp nhà nước còn thấp, việc sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước còn hạn chế và lãng phí. Nhiều daonh nghiệp thua lỗ kéo dài, chưa được sắp xếp lại.Chủ trương cổ phần hóa, đổi mới quan hệ sở hữu và cơ chế quản lí doanh nghiệp nhà nước tiến hành vẫn còn chậm.Hệ thống cơ chế, chính sách đối với kinh tế nhà ước vẫn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, chưa tạo ra được cơ sở pháp lí vững chắc đẻ cho các chủ thể kinh tế nhà nước tham gia cạnh tranh. Hiện nay, các tổng công ty nhà nước còn nhiều vấn đề bất cập về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động, chưa thật sự thể hiện được vai trò của mình như là tất yếu kinh tế-xã hội mà còn mang nặng tính hành chính. Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhận dịnh là khu vực nhà nước chậm được sắp xếp củng cố và đổi mới… Còn một bộ phận không ít doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thiếu năng động, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.52) *Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Từ nguyên tắc chung về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở tập trung thống nhất quyền lực nhà nước. Hiện nay cũngcòn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn những bất hợp lí, thiếu cơ sở khoa học, tình trạng chồng lấn chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền còn khá phổ biến. Các bộ quản lí ngành kinh tế và bộ tổng hợp chưa có tiêu chí khoa học để phân biệt, có bộ chỉ thực hiện một chức năng. Sự phân công, phối hợp giữa các bộ với nhau, giữa bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lí kinh tế-xã hội chưa thật rõ ràng và hợp lí. Nhìn chung, như nhận định của chính phủ VIệt Nam về htực trạng nền hành chính hiện nay là tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng, nấc: phương thức quản lí hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt (theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010) Trong điều kiện hiện nay, hoạt động tư pháp ngày càng được nhà nước chú trọng là điều tất yếu, bởi lẽ tính hoàn chỉnh và cân đối của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một trong những biểu hiện cho tính thống nhất của quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Tuy nhiên cũng phải thấy việc kiểm soát các quan hệ kinh tế -xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường là lĩnh vực còn mới đối với cơ quan tư pháp Việt Nam. Hiệu quả hoạt động tư pháp hiện nay phản ánh tình trạng hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy cũng như năng lực quản lí cán bộ của ngành tư pháp Việt Nam đang còn nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức quản lí kinh tế của Việt Nam hiện nya có nhiều bất cập mà Nhà nước đang từng bước khắc phục. Đó là tình trạng quá nhiều người trong các cơ quan hành chính chế độ chức trách còn chưa cụ thể, trình độ năng lực còn hạn chế, tình trạng quna liêu, tham nhũng không phải ít. Nhiều người không muốn xóa bỏ cơ chế làm việc cũ vì sợ mất đi những đặc quyền đặc lợi qua các khoản thu bất chính từ cơ chế “xin-cho”.Mặt khác, đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế hiện nay đông nhưng không đồng bộ, vừa htừa lại vừa thiếu, trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo quản lí chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới nhất là quản lí kinh tế thị trường .Nhìn chung thực trạng về bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công hcức hiên nay đang là thách thức lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước . 3.3. Nguyên nhân những tồn tại và bất cập Ngoài các nguyên nhân khách quan là do xuất phát từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với những hậu quả của nhiều năm chiến tranh ác liệt và htiên tai nặng nề thì nhưữngtồn tại và bất cập trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước hiên nay còn do các nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân chủ quan bao gồm nhận thức và hành động của con người thể hiện trong cả tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các cơ quan cũng như cán bộ, công chức nhà nước. Đó là các nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là do ảnh hưởng tư tưởng cũ trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN ở Việt Nam được xây dựng từ cơ sở trước đó vốn là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Vì thế những nếp nghĩ thói quen hành động của con người đã mấy chục năm vẫn còn ảnh huởng rất lớn và không dễ dàng thoát khỏi ngay đựơc.Trong tình hình hiện nay, tàn dư của chủ nghĩa nhà nước trong quản lí kinh tế thể hiện ở chỗ vẫn còn tàn dư tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế mà không thấy vai trò tự điều chỉnh của xã hội và những sự cần thiết của sự điều chỉnh mang tính nhà nước. Biểu hiện của tàn dư này có thể gặp khá phổ biến trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước như trong hoạt động xây dựng các đạo luật, các văn bản duới luật như nghị định của Chính phủ là văn bản nào cũng thấy có phần, chương quy định về quản lí nhà nước trong lĩnh vực ấy mà nhiều khi thiếu cơ sở vững chắc và thiếu tính khả thi. Biểu hiện khác về sự ảnh hưởng của tư tưởng quản lí nhà nước trong cơ chế cũ là về tính chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo về bản chất khác với tính tập trung của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Nhưng hiện vãn còn quan niệm cho rằng kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo nghĩa là kinh tế nhà nước phải nắm giữ hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và nếu như vậy thì mới thể hiện định hướng XHCN của nền kinh tế. Từ đó mà người ta vẫn chưa hoàn toàn gột bỏ được tư tưởng về chế độ bao cấp của Nhà nước thể hiện ở chế độ bảo hộ doanh nghiệp nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan nghiêm ngặt. Về quản lí nhà nước với các chủ thể kinh tế nhà nước, đến nay trong việc xây dựng và tổ chức bộ máy chủ quản lí hành chính với doanh nghiệp nhà nước với kiểu quản lí đơn chức năng, cồng kềnh nhiều tầng nấc, nhiều người. Thứ hai, do nhận thức chưa thống nhất về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây một phần cũng là hệ quả của nguyên nhân trên và mặt khác còn do việc sao chép kinh nghiệm của nước ngoài một cách máy móc không phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Biểu hiện của sự không thống nhất trong nhận thức về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay trước hết là tính không đồng bộ của hệ thống chính sách của Nhà nước. Các chính sách lớn thì mở nhưng việc thực thi hàng ngày thì lại bị vướng mắc hay cản trở bởi hàng loạt các quy định, các thủ tục hành chính rườm rà, ách tắc. Đó là biểu hiện về tư tưởng cục bộ của các ngành, các cơ quan, các địa phương trong quá trình thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước. Nhiều người muốn níu kéo cơ chế cũ là do những lợi ích cá nhân trong cơ chế đó nhưng ngay trong nhận thức chung của xã hội, của các cán bộ, công chức nhà nước cũng chưa đạt đến sự thống nhất về những vấn đề như xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chính sách đất đai, kinh tế trang trại, nội dung và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (theo Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H,2001,tr.17). Về vấn đề vait rò chủ đạo của nền kinh tế hiện nay vẫn có sự nhận thức chưa thống nhất, chẳng hạn không ít người vẫn coi trọng số lượng hơn chất lượng, cho rằng cần phải thành lập doanh nghiệp nhà nước hơn nữa để làm đối trọng với doanh nghiệp dân doanh nhằm tạo ra thế cạnh tranh,… Thứ ba, do trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức còn chưa thật sự đáp ứng được yêu cấu của nhiệm vụ. Việ Nam xây dựng nền kinh tế thị truờng định hướng XHCN vốn từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều cán bộ, công chức nhà nước được đào tạo theo mô hiình kinh tế cũ không còn phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước tuươg xứng với yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mới đạt được kết quả bước đầu, chưa thật sự vững chắc. Vì thế, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì những bất cập về trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là điều dễ hiểu. 4. Phương hướng nâng cao hiệu quả chức năng kinh tế 4.1. Chiến lược phát triển pháp luật và hoàn thiện hệ thống kinh tế Trong quản lí kinh tế, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ tất cả các công cụ trong đó pháp luật là nền tảng.Từ đường lối chính sách của Đảngvà Nhà nước để xây dựng hệ thống pháp luật, không phải chỉ có việc là chuyển thành ngôn từ pháp lí hay đem lại cho chúng hình thức của văn bản pháp luật mà đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu thích đáng những nhu cầu, mức độ cần điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội. Không phải toàn bộ nội dung đường lối, chính sách đếu được đưa vào nội dung văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải qua quá trình thể chế hóa với những yêu cầu đặc thù. Điều này đòi hỏi cần phải khắc phục tình trạng văn bản pháp luật được ban hành vội vã, mang tính chủ quan, chưa đủ độ chín muồi, kém tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Lĩnh vực kinh doanh là lĩnh vực hết sức năng động và phức tạp nên các chính sách của nhà nước, các biện pháp kế hoạch cũng phải đa dạng và linh hoạt. Tuy nhiên, pháp luật của Nhà nước phản ánh đầy đủ cái đa dạng phong phú ấy bằng phương pháp riêng của mình; pháp luật mang trong nó cái “hồn” của chính sách chứ không thể sao chép chính sách một cách gượng ép. Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của nước ta là chính sách, kế hoạch phát triển tổng thể của Nhà nước gồm cả lập pháp, thi hành pháp luật nhằm giáo dục nâng cao ý thức pháp luật để hoàn thiện các giải pháp đồng bộ về pháp luật để điều chỉnh các hoạt động kinh tế-xã hội; tạo thế chủ động về hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của Nhà nước; ổn định hóa chính sách pháp luật.Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật của Nhà nước trong điều kiện hiện nay cũng cần phải được hoàn thiện trên cơ sở coi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ như là tất yếu khách quan của thời đại..Chiến lược phát triển pháp luật của Nhà nước phải xác định được những vấn đề cơ bản, có tính định hướng cũng như chương trình hóa dài hạn gồm: – Hướng phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội và nhu càu mức độ điều chỉnh một cách tổng quát; – Các nhu cầu điều chỉnh trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội quan trọng. – Chương trình xây dựng các lĩnh vực pháp luật; – Chương trình tổ chức thực hiện pháp luật, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật. Có thể quan niệm hệ thống pháp luật về kinh tế được cấu trúc theo hai mảng lớn sau: Thứ nhất là hệ thống các qui phạm pháp luật xác định chế độ quản lí của Nhà nước với hoạt động kinh tế. Hệ thống này điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế, xác dịnh phạm vi thẩm quyền của Nhà nước và quyền của các chủ thể kinh tế. Đặc trưng của quan hệ xã hội trong mảng này là quan hệ giữa một bên là Nhà nước-cơ quan công quyền đại diện cho lợi ích của xã hôi, của người tiêu dùng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc các chủ thể kinh tế phải thực hiện những nghĩa vụ do pháp luật quy định, còn các chủ thể kinh tế có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải thực hiện những công việc theo luật định đảm bảo cho hoạt động kinh tế được thuận lợi. Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước chỉ được thực hiện những hành vi do luật định không được can thiệp quá giới hạn thẩm quyền, làm cản trở các hoạt động kinh tế. Chủ thể kinh tế chỉ phải thực hiện những nghĩa vụ do luật định một cách rõ ràng, công khai, ngoài ra không có nghĩa vụ bắt buộc nào khác. Thứ hai là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giao dịch giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng. Đây là mảng lớn thứ hai trong hệ thống pháp luật về kinh tế và cũng là mảng còn yếu, Nhà nước cần tập trung khắc phục. Đặc trưng của mảng quan hệ xã hội giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng là lợic ích kinh tế quyết định sự tham gia quan hệ đồng thời nó trực tiếp quyết định hành vi của họ. Do vậy, các nguyên tắc quan trọng hàng đầu của hệ thống các quy phạm trong mảng này là nguyên tắc tự định đoạt, nguyên tắc tự do thỏa thuận trên cơ sở không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực này, chủ thể được tự do thỏa thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm, tất cả những gì ngoài phạm vi pháp luật quy định phải có điều kiện, pahỉ xin phép… Nhà nước tôn trọng tất cả những thỏa thuận như vậy và đảm bảo cho các thỏa htuận, cam kết hợp pháp được tuân thủ như ý chí của cá bên. Đồng thời, vai trò to lớn của nhà nước còn được htể hiện ở chỗ Nhà nước chủ động nghiên cứu và hoàn thiện các mô hình, các hình thức pháp lí cho cá loại hình thị trường, cá giao dịch kinh tế hoặc khắc phục những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, tạo môi trường pháp lí thông htoáng và thuận lợi cho cá chủ thể kinh tế hoạt động. HIện nay, một trong những vấn đề bức xúc trong mảng pháp luật này là vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng. Mặt khác, mảng pháp luật về các loại hình doanh nghiệp nhất là luật về công ti cũng cần phải được hoàn thiện để đảm bảo tính “tự hành” cho các quan hệ về tổ chức nội bộ của công ty. Hệ thống pháp luật về kinh tế được coi là hoàn chỉnh là hệ thống phải phát triển đầy đủ cả hai mảng pháp luật kể trên..Nguyên tắc xuyên suốt hệ thống pháp luật về kinh tế là dành sự thuận lợi nhất cho hoạt động của các chủ thể kinh tế chứ khong phải chỉ dành thuận lợi cho hoạt động quản lí nhà nước mà gây trở ngại cho hoạt động kinh tế.. Bởi vậy, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng: – Phát huy vai trò các yếu tố cơ bản của thị truờng gồm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế; tự do kinh doanh; sự vận động tự do của vốn và hàng hóa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. – Đảm bảo sự quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế; – Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật; – Đảm bảo hiệu lực thực hiện của hệ thống pháp luật; – Đảm bảo sự tương thích với pháp luật và thông lệ quốc tế của hệ thống pháp luật. Từ các yêu cầu cơ bản trên, cần tập trung vào các giải pháp sau đây cho việc hoàn thiện và nâng cao vai trò của hệ thống ph

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Cơ Cấu Tổ Chức, Điều Hành Và Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Xây Dựng Một Số Quân Binh Chủng Tiến Thẳng Lên Hiện Đại
  • Giáo Án Lịch Sử 7 Bài 20: Nước Đại Việt Thời Lê Sơ (1428
  • Binh Chủng Liên Lạc Tổ Chức Hội Nghị Quân Chính Năm 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100