Enzyme Cắt Giới Hạn

--- Bài mới hơn ---

  • Enzym Giới Hạn Trong Phân Tích Adn
  • Tái Tổ Hợp Enzym Giới Hạn Mới Sử Dụng Gene Tương Tự Mae843Orf8180 Phân Lập Từ Mẫu Nước Tự Nhiên Ở Hà Nội
  • Đặc Tính Hóa Sinh Của Protease Và Tác Động Của Nó
  • Vital Enzyme Thanh Lọc Cơ Thể Hỗ Trợ Tiêu Hóa Khỏe Mạnh
  • Vital Enzyme Có Tốt Không?
  • Enzyme cắt giới hạn là gì?

    Enzyme cắt giới hạn (restriction endonuclease) hay gọi tắt là enzyme giới hạn (restrictase) là loại enzyme có khả năng nhận biết đoạn trình tự nucleotide đặc hiệu trên các phân tử DNA và cắt cả hai sợi DNA bổ sung tại  các vị trí đặc thù.

    Vai trò của các enzyme cắt giới hạn

     Từ 1953 người ta đã phát hiện thấy rằng, khi đưa DNA của một nòi vi khuẩn E. coli này vào tế bào thuộc một nòi khác thường thì DNA được đưa vào, gọi là DNA ngoại lai hay DNA lạ, mất hẳn hoạt tính di truyền và hầu như bao giờ cũng bị phân cắt thành các đoạn ngắn. Chỉ trong một số ít trường hợp DNA lạ đó mới không bị phân cắt và do đó nó có thể tái bản trong tế bào chủ. Điều đó chứng tỏ DNA lạ được sửa đổi bằng cách nào đó dưới sự kiếm soát của tế bào chủ. Các hiện tượng nói trên xảy ra chủ yếu khi các thể thực khuẩn (phage) xâm nhiễm các tế bào vi khuẩn.

     Cho đến đầu thập niên 1970 người ta mới biết rõ rằng các tế bào vi khuẩn là những hệ thống chứa cả hai loại enzyme: các enzyme sửa đổi và các enzyme cắt giới hạn. Chúng đều có đối tượng nhận biết là các đoạn trình tự của DNA vật chủ và DNA ngoại lai, nhưng có vai trò khác nhau.

    Cụ thể, các enzyme sửa đổi (methylase) đóng vai trò bảo vệ DNA vật chủ bằng cách gắn thêm nhóm methyl (-CH3) ở một số base nhất định trong đoạn nhận biết (recognition sequence) hay  đoạn  đích (target sequence).

    Hiện tượng methyl hoá (methylation) này thường xảy ra đối với adenine và biến đổi nó thành N-6 methyladenine. Trong khi đó, các enzyme giới hạn lại đóng vai trò vô hiệu hoá hoạt tính di truyền của các DNA lạ bằng cách phân cắt ở các vị trí đặc thù chừng nào nó chưa được sửa đổi cho giống với DNA vật chủ. Như vậy,  các enzyme giới hạn  đóng vai trò là hàng rào bảo vệ tự nhiên của các vi khuẩn nhằm chống lại sự xâm nhập của các phage lạ.

    Tính chất chung của các enzyme giới hạn

        Trước tiên, cần lưu ý rằng các enzyme giới hạn chỉ phát hiện thấy ở các vi khuẩn mà không có ở các eukaryote. Vì vậy, tên gọi của các enzyme giới hạn thông dụng là tên hệ thống, được biểu thị bằng ba hoặc bốn chữ cái viết tắt của vi khuẩn mà từ đó enzyme được chiết xuất. Chữ cái đầu tiên được viết hoa để chỉ chi (genus) và hai chữ cái tiếp theo viết thường để chỉ loài (species), và khi cần thiết thêm chữ cái thứ tư để chỉ nòi hoặc chủng (strain, type). Ngoài ra,  để phân biệt các enzyme cùng một nòi người ta dùng số La Mã kèm theo sau tên hệ thống (xem bảng 10.1).

    Enzim giới hạn

     Tính chất quan trọng nhất của các enzyme giới hạn là tính đặc hiệu vị trí, nghĩa là chúng có thể  nhận biết đoạn trình tự DNA đặc thù để cắt ở vị trí xác định. Tuỳ theo vị trí cắt so với đoạn nhận biết mà chia ra hai loại: loại I bao gồm các enzyme giới hạn cắt bên ngoài phạm vi đoạn nhận biết và loại II bao gồm các enzyme cắt đặc hiệu bên trong đoạn nhận biết. Ở đây chúng ta chỉ xét các enzyme giới hạn loại II vốn được xem là công cụ hiệu năng (giống như con dao mổ tinh vi) cho phép thao tác trên các gene trong kỹ thuật DNA tái tổ hợp (hình 10.1).

    Eim giới hạn 2

      Đặc trưng nổi bật của các đoạn đích là có kích thước ngắn, 4-8 cặp base, và có tính đối xứng xuôi ngược (palindrome).

      Nhìn chung, các enzyme giới hạn khác nhau có hai kiểu cắt sau đây: cắt lệch và cắt thẳng. Với kiểu cắt lệch tức là các vị trí cắt trên hai sợi của DNA sợi kép là so le, tạo ra các đoạn DNA có các đầu sợi đơn gồm một số base bổ sung gọi là các đầu dính (cohesive/sticky ends). Các enzyme giới hạn như thế có vai trò to lớn trong việc kiến tạo DNA tái tổ hợp  in vitro (hình 10.1). Điển hình ở đây là EcoRI và BamHI (bảng 10.1). Với kiểu cắt thẳng, tức cắt cùng vị trí trên cả hai sợi của DNA sợi kép, do đó tạo ra các đoạn DNA có các đầu bằng (blunt ends); ví dụ, SmaI…(bảng 10.1).

      Các enzyme giới hạn khác nhau có đoạn đích giống nhau, mặc dù vị trí và kiểu cắt có thể giống hoặc khác nhau, gọi là các enzyme giới hạn tương ứng (isoschizomers); ví dụ, SmaI và XmaI (bảng 10.1).

    Enzyme cắt giới hạn (restriction endonuclease) hay gọi tắt là enzyme giới hạn (restrictase) là loại enzyme có khả năng nhận biết đoạn trình tự nucleotide đặc hiệu trên các phân tử DNA và cắt cả hai sợi DNA bổ sung tại các vị trí đặc thù.Từ 1953 người ta đã phát hiện thấy rằng, khi đưa DNA của một nòi vi khuẩn E. coli này vào tế bào thuộc một nòi khác thường thì DNA được đưa vào, gọi là DNA ngoại lai hay DNA lạ, mất hẳn hoạt tính di truyền và hầu như bao giờ cũng bị phân cắt thành các đoạn ngắn. Chỉ trong một số ít trường hợp DNA lạ đó mới không bị phân cắt và do đó nó có thể tái bản trong tế bào chủ. Điều đó chứng tỏ DNA lạ được sửa đổi bằng cách nào đó dưới sự kiếm soát của tế bào chủ. Các hiện tượng nói trên xảy ra chủ yếu khi các thể thực khuẩn (phage) xâm nhiễm các tế bào vi khuẩn.Cho đến đầu thập niên 1970 người ta mới biết rõ rằng các tế bào vi khuẩn là những hệ thống chứa cả hai loại enzyme: các enzyme sửa đổi và các enzyme cắt giới hạn. Chúng đều có đối tượng nhận biết là các đoạn trình tự của DNA vật chủ và DNA ngoại lai, nhưng có vai trò khác nhau.Cụ thể, các enzyme sửa đổi (methylase) đóng vai trò bảo vệ DNA vật chủ bằng cách gắn thêm nhóm methyl (-CH3) ở một số base nhất định trong đoạn nhận biết (recognition sequence) hay đoạn đích (target sequence).Hiện tượng methyl hoá (methylation) này thường xảy ra đối với adenine và biến đổi nó thành N-6 methyladenine. Trong khi đó, các enzyme giới hạn lại đóng vai trò vô hiệu hoá hoạt tính di truyền của các DNA lạ bằng cách phân cắt ở các vị trí đặc thù chừng nào nó chưa được sửa đổi cho giống với DNA vật chủ. Như vậy, các enzyme giới hạn đóng vai trò là hàng rào bảo vệ tự nhiên của các vi khuẩn nhằm chống lại sự xâm nhập của các phage lạ.Trước tiên, cần lưu ý rằng các enzyme giới hạn chỉ phát hiện thấy ở các vi khuẩn mà không có ở các eukaryote. Vì vậy, tên gọi của các enzyme giới hạn thông dụng là tên hệ thống, được biểu thị bằng ba hoặc bốn chữ cái viết tắt của vi khuẩn mà từ đó enzyme được chiết xuất. Chữ cái đầu tiên được viết hoa để chỉ chi (genus) và hai chữ cái tiếp theo viết thường để chỉ loài (species), và khi cần thiết thêm chữ cái thứ tư để chỉ nòi hoặc chủng (strain, type). Ngoài ra, để phân biệt các enzyme cùng một nòi người ta dùng số La Mã kèm theo sau tên hệ thống (xem bảng 10.1).Enzim giới hạnTính chất quan trọng nhất của các enzyme giới hạn là tính đặc hiệu vị trí, nghĩa là chúng có thể nhận biết đoạn trình tự DNA đặc thù để cắt ở vị trí xác định. Tuỳ theo vị trí cắt so với đoạn nhận biết mà chia ra hai loại: loại I bao gồm các enzyme giới hạn cắt bên ngoài phạm vi đoạn nhận biết và loại II bao gồm các enzyme cắt đặc hiệu bên trong đoạn nhận biết. Ở đây chúng ta chỉ xét các enzyme giới hạn loại II vốn được xem là công cụ hiệu năng (giống như con dao mổ tinh vi) cho phép thao tác trên các gene trong kỹ thuật DNA tái tổ hợp (hình 10.1).Eim giới hạn 2Đặc trưng nổi bật của các đoạn đích là có kích thước ngắn, 4-8 cặp base, và có tính đối xứng xuôi ngược (palindrome).Nhìn chung, các enzyme giới hạn khác nhau có hai kiểu cắt sau đây: cắt lệch và cắt thẳng. Với kiểu cắt lệch tức là các vị trí cắt trên hai sợi của DNA sợi kép là so le, tạo ra các đoạn DNA có các đầu sợi đơn gồm một số base bổ sung gọi là các đầu dính (cohesive/sticky ends). Các enzyme giới hạn như thế có vai trò to lớn trong việc kiến tạo DNA tái tổ hợp in vitro (hình 10.1). Điển hình ở đây là EcoRI và BamHI (bảng 10.1). Với kiểu cắt thẳng, tức cắt cùng vị trí trên cả hai sợi của DNA sợi kép, do đó tạo ra các đoạn DNA có các đầu bằng (blunt ends); ví dụ, SmaI…(bảng 10.1).Các enzyme giới hạn khác nhau có đoạn đích giống nhau, mặc dù vị trí và kiểu cắt có thể giống hoặc khác nhau, gọi là các enzyme giới hạn tương ứng (isoschizomers); ví dụ, SmaI và XmaI (bảng 10.1).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Esim Là Gì? Tổng Hợp Những Lợi Ích Của Esim
  • √ Khóa Và Mở Khóa (Protect/unprotect) Vùng Dữ Liệu Trong Bảng Tính Excel
  • Phá Pass Excel ? Cách Bỏ Protect Workbook Trong Excel
  • Excel Shared Workbook: How To Share Excel File For Multiple Users
  • Hướng Dẫn Cách Vẽ Shapes Giữ Đúng Định Dạng Trong Excel
  • Enzym Giới Hạn Trong Phân Tích Adn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tái Tổ Hợp Enzym Giới Hạn Mới Sử Dụng Gene Tương Tự Mae843Orf8180 Phân Lập Từ Mẫu Nước Tự Nhiên Ở Hà Nội
  • Đặc Tính Hóa Sinh Của Protease Và Tác Động Của Nó
  • Vital Enzyme Thanh Lọc Cơ Thể Hỗ Trợ Tiêu Hóa Khỏe Mạnh
  • Vital Enzyme Có Tốt Không?
  • Enzym Tiêu Hóa Và Cần Bổ Sung Enzyme Tiêu Hóa Như Thế Nào Cho Thích Hợp?
  • Trong các tế bào, phần lớn các nhiễm sắc thể thường là một phân tử ADN dài chứa hàng trăm thậm trí hàng nghìn gen khác nhau. Vì vậy, để có thể phân lập và phân tích từng gen, người ta phải cắt các phân tử ADN kích thước lớn thành các phân đoạn nhỏ. Công việc này được thực hiện bởi một nhóm các enzym đặc biệt gọi là enzym giới hạn.

    Tất cả các enzym giới hạn đều có hai đặc tính: 1) nhận biết một trình tự đặc hiệu trên phân tử ADN (gọi là trình tự giới hạn); và 2) cắt bên trong phân tử ADN tại vị trí đặc hiệu (hoặc ngay tại vị trí giới hạn như đối với nhóm enzym giới hạn loại ; hoặc cách vị trí giới hạn một số nucleotit nhất định như đối với các nhóm enzym giới hạn thuộc các nhóm và ). Trong các nhóm enzym giới hạn, nhóm thường được dùng trong các nghiên cứu di truyền phân tử và kỹ nghệ gen là nhóm nhờ vị trí và trình tự cắt của chúng được xác định rõ. Vì vậy chúng ta chỉ đề cập đến việc ứng dụng của nhóm enzym giới hạn này. Các trình tự giới hạn của enzym nhóm thường gồm 4 – 8 bp, thông thường có tính đối xứng và vị trí cắt thường nằm trong trình tự giới hạn này. Ví dụ như enzym giới hạn coR được tìm thấy ở vi khuẩn E. coli có trình tự giới hạn là 5’-GAATTC- 3’ với vị trí cắt ở giữa G và A. Tên enzym gồm 3 ký tự đầu chỉ tên loài vi khuẩn mà từ đó enzym được tìm thấy (Eco = Escherichia coli), các ký tự sau chỉ tên của chủng vi khuẩn và số thứ tự của enzym được tìm thấy ở loài vi khuẩn đó (EcoRI là enzym giới hạn đầu tiên được tìm thấy ở E. coli).

    Một enzym giới hạn có trình tự giới hạn gồm 6 bp giống EcoRI thông thường được trông đợi sẽ có trung bình một vị trí cắt trong một đoạn trình tự có kích thước khoảng 4 kb (bởi theo nguyên tắc xác suất tại một vị trí nhất định xác suất để có một loại nucleotit nhất định là 1/4, vì vậy xác suất để có một trình tự nhất định gồm 6 bp sẽ là 1/46 = 1/4096). Giả sử có một phân tử ADN mạch thẳng có 6 vị trí cắt của enzym EcoRI. Việc cắt phân tử ADN này bằng EcoRI sẽ cho ra 7 phân đoạn ADN khác nhau. Do đó, khi điện di trên gel sản phẩm cắt, 7 phân đoạn ADN sẽ phân tách nhau ra do chúng khác nhau về khối lượng (vì chúng khác nhau về thành phần và trình tự các nucleotit). Như vậy, một phân đoạn ADN sẽ tương ứng với một vùng của phân tử ADN ban đầu.

    Việc sử dụng một enzym giới hạn khác, chẳng hạn HindIII cũng có trình tự giới hạn gồm 6 bp, nhưng có trình tự giới hạn thay đổi (5’-AAGCTT- 3’) sẽ cho ra các sản phẩm cắt khác với khi sử dụng EcoRI (với cùng phân tử ADN ban đầu). Như vậy, việc sử dụng đồng thời nhiều enzym giới hạn sẽ tạo ra một kiểu hình phổ điện di các phân đoạn cắt giới hạn đặc thù đối với từng gen phân tích.

    Đối với một số enzym giới hạn khác, chẳng hạn như Sau3A1 (tìm thấy ở vi khuẩn Staphylococcus aureus) có trình tự giới hạn ngắn hơn (5’-GATC-3’), nên tần số cắt của chúng thường cao hơn các enzym có trình tự giới hạn dài. Theo xác suất, Sau3A1 có trung bình 1 vị trí cắt trong một đoạn trình tự khoảng 250 bp (1/44 = 1/256). Ngược lại, enzym NotI có trình tự giới hạn dài (5’-GCGGCCGC-3’) trung bình cứ một đoạn trình tự dài khoảng 65 kb, mới có 1 vị trí cắt (1/48 = 1/65536).

    Các enzym giới hạn không chỉ khác nhau về trình tự giới hạn và độ dài đoạn trình tự giới hạn đặc trưng của chúng, mà chúng còn khác nhau về cách “cắt” phân tử ADN. Chẳng hạn như enzym HpaI tạo ra các phân tử ADN dạng đầu bằng (đầu tù), còn các enzym RcoRI, HindIII và PsIt cắt phân tử ADN tạo ra các phân đoạn có đầu dính. Sở dĩ gọi là “đầu dính” bởi phần các trình tự ở hai đầu sau khi được enzym cắt ra bổ trợ với nhau theo nguyên tắc Chargaff và vì vậy chúng có xu hướng “dính” trở lại với nhau, hoặc với các phân tử ADN được cắt bởi cùng một loại enzym giới hạn. Tính chất này được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ ADN tái tổ hợp và các kỹ thuật tách dòng phân tử.

     

    Thư viện sinh hoc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Enzyme Cắt Giới Hạn
  • Esim Là Gì? Tổng Hợp Những Lợi Ích Của Esim
  • √ Khóa Và Mở Khóa (Protect/unprotect) Vùng Dữ Liệu Trong Bảng Tính Excel
  • Phá Pass Excel ? Cách Bỏ Protect Workbook Trong Excel
  • Excel Shared Workbook: How To Share Excel File For Multiple Users
  • Enzyme Giới Hạn: 5 Điều Cần Nhớ Trước Khi Sử Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Enzyme Helicase Arn Ở Giun Tròn Làm Tăng Vòng Đời Của Chúng Gấp Đôi Có Thể Ứng Dụng Kéo Dài Tuổi Thọ Của Con Người
  • Bài 1. Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn
  • Su Tu Nhan Doi Adn
  • Các Đặc Tính Lý Hóa Của Phân Tử Adn
  • Chuyên Đề: Cơ Chế Can Thiệp Rna ( Rna Interference
  • Việc phân tích trình tự DNA sử dụng enzyme giới hạn đã được áp dụng phổ biến từ những năm 1970. Ngày nay, công nghệ tưởng như “lỗi thời” này vẫn được coi là một trong những phương pháp phân tích trình tự DNA nhanh chóng và đơn giản hơn cả. Giống như hầu hết các hóa chất trong phòng thí nghiệm, enzyme giới hạn cũng có thể bị biến đổi, do đó bạn cần phải ghi nhớ một vài điều khi sử dụng và bảo quản. Thông thường, các enzyme cắt đầu dính hoạt động hiệu quả hơn các enzyme cắt đầu bằng. Chúng thường được sử dụng phổ biến trong các ứng dụng tách dòng do góp phần giảm khả năng tự đóng vòng của vector trong quá trình gắn (ligation).

    1. Bạn có sử dụng enzyme ở đúng điều kiện phản ứng không? 2. Sự methyl hóa: Thiên thần và ác quỷ

    Mặt khác, quá trình methyl hóa plasmid có thể được xem như 1 phần của giai đoạn khởi đầu phản ứng. Ví dụ như, trong suốt quá trình SDM (Site-directed mutagenesis -SDM là một kỹ thuật dùng để gây đột biến trên một vài bazo của plasmid. Cách này cũng có thể làm thay đổi thành phần amino acid, phả hủy các vị trí liên kết với nhân tố phiên mã hoặc tạo ra các protein cộng gộp), sử dụng phản ứng PCR và tách dòng để gây đột biến 1 phần trong trình tự DNA, chúng ta có thể tìm ra được bản chất của của DNA plasmid sẽ được methyl hóa trong khi phản ứng PCR (nếu khuếch đại thành công) không làm được. Do đó, quy trình thực hiện sẽ bao gồm bước cắt DNA plasmid khuôn bằng Dpn I, chỉ để lại sản phẩm PCR dùng cho phản ứng gắn nối (ligation) tạo thành plasmid.

    3. Tránh phản ứng không đặc hiệu: hạn chế phản ứng không đặc hiệu ở mức tối thiểu 4. Vị trí cắt quá gần – hãy để cho enzyme một vài khoảng trống 5. Isochizomers và Neoschizomer

    Isochizomers: cặp enzyme giới hạn có chung trình tự nhận biết và vị trí cắt.

    Neoschizomers: cặp enzyme giới hạn có chung trình tự nhận biết nhưng lại cắt ở 2 vị trí khác nhau.

    Một isochizomer là một enzyme giới hạn nhận biết cùng 1 vị trí cắt với 1 enzyme giới hạn khác nhưng lại có đặc tính hoàn toàn khác enzyme kia. Ví dụ như: cả SinIAvalI đều nhận biết trình tự cắt là G/G(A hoặc T)CC nhưng AvalI lại nhạy với methyl hóa còn SinI thì không. Vì thế, nếu bạn muốn cắt trình tự này mà không muốn sử dụng chủng chúng tôi không nhạy cảm với methyl hóa, thì bạn phải chọn SinI chứ không chọn AvalI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Enzyme Và Vai Trò Của Enzyme Trong Chuyển Hóa Vật Chất
  • Enzym Là Gì ? Các Loại Enzyme Tiêu Hóa Tốt Cho Cơ Thể
  • Enzym Tiêu Hóa Là Gì? Thành Phần, Tác Dụng Và Cách Sử Dụng
  • Esim Là Gì? Esim Có Lợi Ích Gì? Cách Chuyển Từ Sim Thường Sang Esim?
  • Esim Là Gì? Esim Với Nano Sim Có Điểm Gì Khác Nhau?
  • Chức Năng Của Protein Enzyme Là Gì? Chức Năng Enzyme Protein: Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Điểm Khác Nhau Giữa Adn Và Proteina. Cấu Trúc Adn Và Prôtêin Khác Nhau Ở Những Điểm Cơ Bản Nào? Những Chức Năng Cơ Bản Của Protein ? B. Sự Khác Nhau Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn ; Arn Và Protein .
  • Đâu Không Phải Là Một Trong Những Chức Năng Chính Của Prôtêin ?
  • Huyết Tương Là Gì? Chức Năng Của Huyết Tương
  • Huyết Tương Là Gì? Chức Năng Của Protein Huyết Tương
  • Protein Máu Là Gì? Chỉ Số Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Công việc của cơ thể chúng ta – một quá trình rất phức tạp, trong đó hàng triệu tế bào tham gia, hàng ngàn chất khác nhau. Nhưng có một khu vực mà là hoàn toàn phụ thuộc vào các protein cụ thể, mà không có đời sống con người hoặc động vật sẽ hoàn toàn không thể. Như bạn có thể đoán, chúng ta đang nói bây giờ về các enzym.

    Hôm nay chúng ta sẽ xem xét các enzyme chức năng của protein. Đây là một khu vực chủ yếu của hóa sinh.

    Kể từ khi nền tảng của các chất này chủ yếu là protein, sau đó họ có thể được xem xét bởi chúng. Bạn nên biết rằng đối với các enzym lần đầu tiên được phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ 19, chỉ có các nhà khoa học mất hơn một thế kỷ, để đi đến một định nghĩa nhiều hay ít thống nhất cho họ. Vì vậy, những gì chức năng được thực hiện bởi các enzyme protein? Về vấn đề này, cũng như cấu trúc và các phản ứng trong những ví dụ của họ, bạn sẽ học hỏi từ bài viết này.

    Bạn cần phải hiểu rằng không phải tất cả các protein có thể là một enzyme, ngay cả về mặt lý thuyết. protein hình cầu chỉ tạo khả năng trưng bày hoạt động xúc tác đối với các hợp chất hữu cơ khác với. Như với tất cả các hợp chất tự nhiên trong lớp này, các enzym được cấu tạo của amino acid. Lưu ý rằng chức năng enzyme protein (ví dụ trong số đó sẽ được trong bài viết) có thể được thực hiện chỉ bởi một người có khối lượng phân tử nhỏ hơn 5000.

    một loại enzyme, là gì định nghĩa hiện đại

    Enzym – một chất xúc tác sinh học của xứ. Họ có khả năng tăng tốc phản ứng, do sự tiếp xúc gần gũi giữa các chất phản ứng (chất nền). Chúng tôi có thể nói rằng chức năng enzyme protein – một quá trình một số xúc tác các phản ứng sinh hóa mà là duy nhất cho một cơ thể sống. Chỉ một phần nhỏ trong số họ có thể được sao chép trong phòng thí nghiệm.

    Cần lưu ý rằng trong lĩnh vực này đã có một số bước đột phá trong những năm gần đây. Các nhà khoa học đã dần dần đến gần để tạo ra các enzym nhân tạo có thể được sử dụng không chỉ cho các mục đích kinh tế, mà còn thuốc. Nó được phát triển enzym có hiệu quả có thể tiêu diệt thậm chí khu vực nhỏ của ung thư phôi thai.

    Phần nào của các enzym tham gia trực tiếp trong phản ứng?

    Lưu ý rằng, tiếp xúc với bề mặt không bao gồm toàn bộ cơ thể của enzyme, nhưng chỉ một phần nhỏ trong số đó được gọi là vị trí hoạt động. Đây là tài sản chính của họ về bổ sung. Khái niệm này ngụ ý rằng các enzyme là lý tưởng để các chất nền trong các hình thức và tính chất vật lý và hóa học của chúng. Chúng tôi có thể nói rằng chức năng của enzyme trong trường hợp này là như sau:

    • nước của họ đi xuống từ bề mặt vỏ.
    • Có một biến dạng nhất định (phân cực, ví dụ).
    • Sau đó họ được sắp xếp theo một cách đặc biệt trong không gian, trong khi di chuyển gần hơn với nhau.

    Những yếu tố dẫn đến sự tăng tốc của phản ứng. Bây giờ, chúng ta hãy làm một so sánh giữa các enzym và các chất xúc tác vô cơ.

    Như bạn có thể thấy, các chức năng của enzyme protein đòi hỏi đặc hiệu. Bởi chính nó cũng sẽ bổ sung thêm rằng nhiều người trong các protein này cũng có loài cụ thể. Đơn giản chỉ cần đặt, các enzym con người hầu như không thích hợp cho một con lợn guinea.

    Thông tin quan trọng về cấu trúc của enzyme

    Cấu trúc của các hợp chất này được tách ra ngay lập tức ba cấp độ. Cấu trúc chính có thể được xác định bởi các amino acid là một phần của các enzym. Kể từ khi chức năng enzyme protein, ví dụ về mà chúng tôi đã nhiều lần được trích dẫn trong bài viết này, có thể được thực hiện chỉ bởi một số loại hợp chất, để xác định chúng một cách chính xác trên cơ sở đó là khá thực tế.

    Đối với cấp trung học, các phụ kiện sung được xác định bằng phương pháp loại bổ sung của trái phiếu có thể xảy ra giữa các amino acid. hydro này thông tin liên lạc, điện, kỵ nước, và der Waals tương tác Van. Như một kết quả của sự căng thẳng gây ra những kết nối này trong các phần khác nhau của enzyme sản xuất α-xoắn, vòng lặp và β-sợi.

    Cấu trúc đại học là kết quả của sự kiện là phần tương đối lớn của chuỗi polypeptide đơn giản là gấp. Những sợi kết quả là được gọi là lĩnh vực. Cuối cùng, sự hình thành cuối cùng của cấu trúc này diễn ra chỉ sau khi một sự tương tác ổn định thành lập giữa các lĩnh vực khác nhau. Nên nhớ rằng sự hình thành của các lĩnh vực mình đi một cách hoàn toàn độc lập với nhau.

    Một số đặc điểm miền

    Thông thường, các chuỗi polypeptide mà từ đó chúng được hình thành, bao gồm khoảng 150 amino acid. Khi lĩnh vực tương tác với nhau, tạo thành giọt. Kể từ khi chức năng được thực hiện bởi các trang web hoạt động enzyme dựa vào chúng, nên hiểu tầm quan trọng của quá trình này.

    Tên miền riêng của mình được đặc trưng bởi thực tế là giữa amino acid trong cấu trúc của nó có rất nhiều tương tác. số của họ là cao hơn rất nhiều đối với những phản ứng giữa bản thân lĩnh vực. Như vậy, khoang giữa chúng tương đối “dễ bị tổn thương” cho hành động của dung môi hữu cơ khác nhau. Khối lượng của trật tự từ 20-30 angstrom khối phù hợp với nhiều phân tử nước. lĩnh vực khác nhau thường có một cấu trúc ba chiều hoàn toàn độc đáo, đó là liên kết với việc thực hiện các chức năng hoàn toàn khác nhau.

    các trang web hoạt động

    Như một quy luật, các trang web hoạt động đều nằm đúng giữa các lĩnh vực. Theo đó, mỗi trong số đó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phản ứng. Do sự sắp xếp này của các lĩnh vực tìm thấy sự linh hoạt đáng kể, sự nhanh nhẹn trong lĩnh vực enzyme. Đây là cực kỳ quan trọng, vì các chức năng enzym được thực hiện chỉ có những hợp chất phù hợp có thể thay đổi vị trí không gian của nó.

    Giữa chiều dài trái phiếu polypeptide trong cơ thể của enzyme, và bởi các chức năng như thế nào phức tạp mà họ thực hiện, có một liên kết trực tiếp. vai trò phức tạp cả đạt được bằng cách hình thành các vị trí hoạt động của phản ứng giữa miền xúc tác và do sự hình thành các lĩnh vực hoàn toàn mới.

    Một số protein, enzyme (ví dụ – lysozyme và glycogen) có thể khác nhau rất nhiều về kích thước (129 và 842 amino acid, tương ứng), mặc dù phản ứng được xúc tác phân cắt của liên kết hóa học của các loại tương tự. Sự khác biệt là các enzym lớn hơn và lớn có thể kiểm soát tốt hơn vị trí của nó trong không gian, đảm bảo sự ổn định lớn hơn và tốc độ của phản ứng.

    Việc phân loại chính của các enzym

    1. Oxidoreductases. Chức năng của các enzyme trong trường hợp này – kích thích các phản ứng oxi hóa khử.

    2. Transferases. Có thể thực hiện các chất chuyển giữa các nhóm sau:

    • đơn vị One-carbon.
    • Còn lại của aldehyt và xeton.
    • Acyl và glycosyl thành phần.
    • Alkyl (như là một ngoại lệ không thể chịu đựng CH3) dư lượng.
    • căn cứ đạm.
    • Nhóm có chứa phốt pho.

    3. Hydrolases. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme là để tách các protein của các loại sau đây của các hợp chất:

    • Este.
    • Glycosides.
    • Este và thioesters.
    • trái phiếu loại peptide.
    • loại mối quan hệ CN (trừ các peptide giống nhau).

    4. Lyases. Có khả năng tách rời nhóm với hình tiếp theo của một liên kết đôi. Hơn nữa, có thể thực hiện quá trình nghịch đảo: tham gia nhóm được lựa chọn để tăng gấp đôi trái phiếu.

    5. isomerase. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme protein phức tạp phản ứng xúc tác đồng phân. Nhóm này bao gồm các enzym sau:

    • Racemase, epimerase.
    • Tsistransizomerazy.
    • oxidoreductases nội phân tử.
    • transferases nội phân tử.
    • lyase nội phân tử.

    6. ligases (hay còn gọi là synthetase). Chúng được sử dụng để tách của ATP trong khi hình thành một số kết nối.

    Nó rất dễ dàng để nhận thấy rằng các chức năng của enzyme protein là vô cùng quan trọng, vì họ là đối với một số kiểm soát mức độ hầu như tất cả các phản ứng diễn ra mỗi giây trong cơ thể bạn.

    Những gì còn lại của enzyme sau khi tương tác với các chất nền?

    Thông thường, các enzyme là một protein có nguồn gốc hình cầu, trung tâm hoạt động trong số đó được thể hiện bằng cùng một amino acid của nó. Trong mọi trường hợp khác, ở phần trung tâm kết nối vững chắc với nó nhóm giả hoặc coenzyme (ATP, ví dụ), mối quan hệ là yếu hơn nhiều. Một chất xúc tác gọi là holoenzyme, và dư lượng của nó, sau khi loại bỏ các apoenzyme ATP hình thành.

    Như vậy, theo tính năng này enzyme phân thành các nhóm sau:

    • Đơn giản hydrolase, lyase, và isomerase, mà nói chung không chứa cơ sở coenzyme.
    • protein enzyme (ví dụ – một số transaminase) bao gồm một nhóm giả (axit lipoic, ví dụ). Nhóm này bao gồm nhiều peroxidase.
    • Enizmy mà cần tái tạo coenzyme. Chúng bao gồm kinase, cũng như hầu hết các oxidoreductases.
    • chất xúc tác khác, các thành phần trong đó là không hiểu chưa đầy đủ.

    Tất cả các chất mà là một phần của nhóm đầu tiên, được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Tất cả các chất xúc tác khác đòi hỏi điều kiện rất cụ thể để kích hoạt nó, và do đó chỉ có tác dụng trong cơ thể, hoặc trong một số thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Như vậy, chức năng của enzyme – đây là một phản ứng rất cụ thể, trong đó bao gồm trong việc kích thích (xúc tác) phản ứng trong một số loại điều kiện rõ ràng của cơ thể con người hoặc động vật.

    Chuyện gì xảy ra tại vị trí hoạt động, hoặc lý do tại sao các enzym làm việc rất hiệu quả?

    Chúng tôi đã nhiều lần nói rằng chìa khóa để hiểu biết về xúc tác enzyme là việc tạo ra các trung tâm hoạt động. Chính ở đó mà những ràng buộc cụ thể của bề mặt, mà trong điều kiện như vậy là nhiều tích cực hơn phản ứng. Để cho bạn hiểu sự phức tạp của các phản ứng được thực hiện ở đó, đưa ra một ví dụ đơn giản để xảy ra quá trình lên men glucose, nó là cần thiết một lần 12 enzyme! Tương tự tương tác khó khăn trở thành có thể chỉ do thực tế rằng một loại protein mà thực hiện chức năng của enzyme có mức độ cao nhất của đặc hiệu.

    Các loại enzyme đặc hiệu

    Nó là tuyệt đối. Trong trường hợp này, các đặc trưng được hiển thị chỉ có một, được xác định đúng loại enzyme. Như vậy, urease chỉ tương tác với urê. Với sữa lactose như nó đi vào phản ứng dưới bất kỳ điều kiện. Đó là những gì chức năng được thực hiện bởi các protein, enzyme trong cơ thể.

    Bên cạnh đó, nhóm không phải là phổ biến đặc hiệu tuyệt đối. Như có thể hiểu từ tên gọi, trong trường hợp này có “tiếp nhận” Nghiêm một lớp học của các hợp chất hữu cơ (este, trong đó có rượu phức tạp hoặc aldehyt). Ví dụ, pepsin, đó là một trong những enzyme quan trọng của dạ dày, chỉ cho thấy đặc hiệu cho quá trình thủy phân của liên kết peptide. Alcohol dehydrogenase tương tác độc quyền với rượu và laktikodegidraza không chia bất cứ điều gì khác hơn là axit alpha-hydroxy.

    Nó cũng xảy ra rằng các đặc tính chức năng của enzyme của một nhóm đặc biệt các hợp chất, nhưng trong điều kiện nhất định, các enzym có thể hoạt động trên khá khác biệt so với chính “mục đích” của họ về một chất. Trong trường hợp này, chất xúc tác “xu hướng” tới lớp nhất định các chất, nhưng trong điều kiện nhất định nó có thể tách và các hợp chất khác (không nhất thiết phải tương đương). Tuy nhiên, trong trường hợp này, phản ứng sẽ đi chậm hơn.

    Rộng rãi biết đến với khả năng của trypsin để hành động liên kết peptide, nhưng ít người biết rằng protein này mà thực hiện chức năng của enzym trong đường tiêu hóa, cũng có thể phản ứng với các hợp chất este khác nhau.

    Cuối cùng, có tính đặc hiệu của quang. Những enzyme có thể tương tác với một loạt các chất liệt kê hoàn toàn, nhưng chỉ với điều kiện họ có một tính chất quang học được xác định rõ. Như vậy, chức năng của enzyme protein trong trường hợp này rất giống với nguyên tắc hành động không phải là enzyme, chất xúc tác và nguồn gốc vô cơ.

    Những yếu tố nào xác định hiệu quả của xúc tác?

    Ngày nay, người ta tin rằng yếu tố quyết định một mức độ rất cao về hiệu quả của các enzym là:

    • tập trung có hiệu lực.
    • không gian hiệu lực định hướng.
    • Sự linh hoạt của trung tâm phản ứng tích cực.

    Nói chung, ảnh hưởng của nồng độ chất không khác với trong các phản ứng xúc tác vô cơ. Trong trường hợp này, nồng độ chất nền như vậy, mà là lớn hơn một giá trị tương tự cho tất cả những thứ khác thể tích dung dịch ở trung tâm hoạt động nhiều lần. Ở trung tâm phản ứng một cách chọn lọc phân loại chất phân tử mà phải phản ứng với nhau. Nó không phải là khó để đoán rằng hiệu ứng này dẫn đến sự gia tăng tốc độ phản ứng hóa học vài bậc.

    Khi một quá trình hóa học tiêu chuẩn diễn ra, nó là vô cùng quan trọng, là một phần của các phân tử tương tác sẽ va chạm với nhau. Một cách đơn giản, chất của phân tử tại thời điểm va chạm phải được định hướng đúng tương đối với nhau. Do thực tế là được thực hiện dưới sức ép, sau đó tất cả các thành phần tham gia được sắp xếp theo một đường nhất định, phản ứng xúc tác được tăng tốc lên khoảng ba đơn đặt hàng của một lượt như vậy trong vị trí hoạt động của enzyme.

    Dưới multifunctionality trong trường hợp này nó đề cập đến một tài sản của tất cả các thành phần của trang web hoạt động cùng một lúc (hoặc Nghiêm phối hợp) hành động trên phân tử “điều trị” chất. Trong đó một (phân tử) không chỉ cố định phù hợp trong không gian (xem. Trên), nhưng thay đổi cũng rất đặc trưng của nó. Tất cả điều này cùng dẫn đến một thực tế là enzyme đang trở thành dễ dàng hơn để hoạt động trên bề mặt khi cần thiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Protein (Đạm) Là Gì? Vai Trò Của Đạm Với Cơ Thể
  • Phát Biểu Nào Dưới Đây Về Protein Là Không Đúng?
  • Vai Trò Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Protein Là Gì Và Chúng Có Chức Năng Như Thế Nào?
  • Protein Là Gì? Vai Trò Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Chức Năng Của Enzym. Vai Trò Của Các Enzyme Trong Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Vital Enzyme’s Thanh Lọc Cơ Thể Hiệu Quả
  • Kể Tên 5 Loại Enzim Mà Em Biết Và Chức Năng Của Nó. Câu Hỏi 117367
  • 18 Câu Trắc Nghiệm Phần Nhân Đôi Adn ( Có Đáp Án )
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 14: Enzim Và Vai Trò Của Enzim Trong Quá Trình Chuyển Hóa Vật Chất Giáo Án
  • Tất Tần Tật Kiến Thức Về Tiểu Cầu Là Gì?
  • Enzym – một protein hình cầu, giúp vượt qua tất cả quá trình tế bào. Giống như tất cả các chất xúc tác, họ không thể quay lưng lại phản ứng, và được sử dụng để thúc đẩy nó.

    Nội địa hóa của các enzym trong tế bào

    Hầu như tất cả các enzyme của glycolysis nằm trong tế bào chất. Enzyme Krebs chu kỳ – trong ma trận của ty lạp thể. Các hoạt chất chứa trong lysosome thủy phân.

    Một số mô và cơ quan của động vật và thực vật không chỉ trên một tập hợp các enzym, mà còn cho hoạt động của họ. Tính năng này sử dụng các loại vải trên lâm sàng trong chẩn đoán các bệnh nhất định.

    Ngoài ra còn có các tính năng với lứa tuổi cụ thể trong hoạt động và tập hợp các enzym trong các mô. Họ rõ ràng nhất có thể nhìn thấy trong giai đoạn phát triển phôi thai khi mô khác biệt.

    Có rất nhiều hệ thống chức danh, mỗi trong số đó sẽ đưa vào tài khoản các thuộc tính của enzyme mức độ khác nhau.

    • Tầm thường. Tên của các chất được trao cho nhân vật ngẫu nhiên. Ví dụ, pepsin (pepsis -. “Tiêu hóa”, Gr) Và trypsin (tripsis – “loãng” Hy Lạp.)
    • Rational. Tên của enzyme bao gồm bề mặt và kết thúc của “-ase”. Ví dụ, amylase tăng tốc độ quá trình thủy phân tinh bột (amylo -. “Tinh bột”, tiếng Hy Lạp).
    • Moscow. Nó đã được thông qua năm 1961 của Ủy ban Quốc tế về danh pháp của các enzym tại V International Congress Sinh hóa. Tiêu đề chất bao gồm một chất nền và phản ứng được xúc tác (gia tốc) bởi các enzyme. Nếu chức năng của enzyme là để chuyển một nhóm các nguyên tử từ một phân tử (chất nền) khác (người chấp nhận), chất xúc tác bao gồm tên và tên hóa học của người chấp nhận. Ví dụ, trong phản ứng chuyển nhóm amin từ alanin axit 2-oksiglutarovuyu tham alanin enzyme: 2-oksoglutarataminotransferaza. Tên này phản ánh:
      • chất nền – alanin;
      • chấp nhận – axit 2-oxoglutaric;
      • amin dung nạp trong phản ứng.

    Ủy ban quốc tế đã biên soạn một danh sách tất cả các enzym được biết đến, được cập nhật liên tục. Điều này là do việc phát hiện ra các chất mới.

    phân loại enzyme

    Chia sẻ enzyme thành các nhóm theo hai cách. Là người đầu tiên đưa ra hai lớp học của các chất:

    • rất đơn giản – chỉ gồm các protein;
    • phức tạp – có chứa một phần protein (apoenzyme) và phi protein gọi là coenzyme.

    Vitamin có thể được bao gồm trong phần phi protein của enzyme phức tạp. Tương tác với các chất khác xảy ra thông qua các trang web hoạt động. Tổng số phân tử enzyme không tham gia vào quá trình này.

    Tính chất của enzyme, cũng như các protein khác, được xác định bởi cấu trúc của chúng. Tùy thuộc vào các chất xúc tác nó chỉ được thúc đẩy phản ứng của họ.

    Phương pháp phân loại thứ hai chia vấn đề của thực tế, những gì chức năng được thực hiện bởi các enzyme. Kết quả là sáu lớp:

    nhóm truyền thống này, chúng khác nhau không chỉ trong các loại phản ứng mà điều tiết enzyme bao gồm trong đó. Trong chất của các nhóm khác nhau của cấu trúc là khác nhau. Và chức năng của các enzyme trong tế bào, do đó, có thể không giống nhau.

    Oxidoreductases – oxi hóa khử

    Chức năng chính của nhóm đầu tiên của enzyme – tăng tốc các phản ứng oxy hóa khử. Một tính năng đặc trưng: khả năng để tạo thành một chuỗi các enzyme oxy hóa, trong đó việc chuyển giao của các electron hay các nguyên tử hydro từ các chất nền đầu tiên người chấp nhận chính thức. Các hợp chất này được tách ra theo nguyên tắc hoạt động hoặc hoạt động trong các phản ứng.

    1. Aerobic dehydrogenase (oxidase) đẩy nhanh tiến độ chuyển của các electron hay proton trực tiếp với các nguyên tử oxy. Kỵ khí cũng thực hiện hành động tương tự, nhưng trong các phản ứng xảy ra mà không cần chuyển electron hoặc các nguyên tử hydro vào các nguyên tử oxy.
    2. dehydrogenase chính quá trình xúc tác nguyên tử hydro rút từ các chất oxy hóa (chất nền chính). Secondary – Đẩy mạnh việc loại bỏ các nguyên tử hydro từ một bề mặt thứ đã được chuẩn bị bằng cách sử dụng dehydrogenase chính.

    Một tính năng: là một chất xúc tác hai thành phần với một tập hợp rất hạn chế về coenzyme (nhóm hoạt động), họ có thể đẩy nhanh tiến độ bộ của một loạt các phản ứng oxy hóa khử. Điều này đạt được bởi một số lượng lớn các biến thể: coenzyme tương tự có thể tuân thủ apofermentami khác nhau. Trong mỗi trường hợp, một đặc biệt oxidoreductase với những đặc tính riêng của mình.

    Transferase – hãng

    Những enzyme có chức năng như các phản ứng chuyển tốc dư lượng phân tử và các nhóm chức năng. Ví dụ, phosphofructokinase.

    Phân bổ Tám nhóm chất xúc tác, dựa trên các nhóm chấp nhận được. Xem xét chỉ là một số trong số họ.

    1. Phosphotransferase – giúp chuyển dư lượng axit photphoric. Họ được chia thành các lớp con theo đến đích (rượu, axit cacboxylic, vv).
    2. Aminotransferase – tăng tốc phản ứng của axit amin transamination.
    3. Glycosyl – chuyển dư lượng glycosyl của các phân tử với các phân tử của este phosphoric của mono- và polysaccharides. Cung cấp một phản ứng phân hủy và tổng hợp các oligo- hoặc polysaccharides trong các nhà máy và cơ thể động vật. Ví dụ, họ tham gia vào phản ứng của sự sụp đổ sucrose.
    4. Acyltransferase chuyển dư lượng axit cacboxylic để amin, rượu và axit amin. Acyl-coenzym-A là một nguồn linh hoạt của các nhóm acyl. Nó có thể được coi là một nhóm hoạt động của acyltransferases. Thông thường dung nạp axit axetic acyl.

    Hydrolase – tiêu hóa với sự tham gia của nước

    Nơi địa hóa của các enzym này là lysosome. Họ thực hiện chức năng bảo vệ của các enzym trong tế bào: các chất lạ cleave đã đi qua màng. Họ cũng tiêu thụ các chất đó không còn cần thiết tế bào, mà các lysosome được mệnh danh là vệ sinh.

    Một của “biệt danh” của họ – tự tử di động, vì chúng là công cụ chính cho autolysis tế bào. Nếu có một nhiễm trùng, quá trình viêm đã bắt đầu, màng trở nên thấm và lysosome hydrolase ra vào tế bào chất, phá hủy tất cả mọi thứ trên đường đi của nó và phá hủy tế bào.

    Được chia sẻ bởi một số loại chất xúc tác từ nhóm này:

    • esterase – chịu trách nhiệm về quá trình thủy phân các este của rượu;
    • Glycosidaza – thúc đẩy quá trình thủy phân của glycosides, tùy thuộc vào chất đồng phân họ hoạt động, phát ra α- hay β-glycosidaza;
    • peptide hydrolase – chịu trách nhiệm về thủy phân liên kết peptide trong protein, và trong điều kiện nhất định và để tổng hợp của họ, nhưng phương pháp này không được sử dụng trong tổng hợp protein trong tế bào sống;
    • amidase – chịu trách nhiệm về quá trình thủy phân của amit, ví dụ, urease xúc tác sự phân hủy của urê thành amoniac và nước.

    Isomerase – chuyển đổi phân tử

    Những chất này thúc đẩy những thay đổi trong một phân tử. Họ có thể cấu trúc hoặc hình học. Điều này có thể xảy ra theo nhiều cách khác nhau:

    • chuyển của các nguyên tử hydro;
    • di chuyển một nhóm phosphate;
    • thay đổi vị trí của các nhóm nguyên tử trong không gian;
    • sự chuyển động của liên kết đôi.

    Các đồng phân có thể được tiếp xúc với các axit hữu cơ, carbohydrates hoặc axit amin. Isomerase có thể chuyển đổi aldehyt và xeton, ngược lại, hình thức cis tái tạo thành một dạng xuyên và ngược lại. Để hiểu rõ hơn những gì chức năng được thực hiện bởi các enzym của nhóm này, bạn cần phải biết sự khác biệt đồng phân.

    Lyase kết nối rách

    Những enzyme thúc đẩy sự phân hủy không thủy phân của mối quan hệ hợp chất hữu cơ:

    • trái phiếu carbon-carbon;
    • phốt pho-oxy;
    • carbon-lưu huỳnh;
    • cacbon-nitơ;
    • carbon oxy.

    Trong trường hợp này bao gồm các sản phẩm đơn giản như vậy chẳng hạn như carbon dioxide, nước, amoniac, và liên kết đôi khép kín. Vài trong số các phản ứng có thể đi theo hướng ngược lại, tương ứng với các enzyme trong điều kiện thích hợp cho quá trình này không chỉ xúc tác cho sự tan rã, nhưng tổng hợp.

    Phân loại lyase xảy ra loại kết nối, họ phá vỡ. Họ là các enzym phức tạp.

    ligase crosslinked

    Chức năng chính của các enzym của nhóm này – sự tăng tốc của các phản ứng tổng hợp. tính đặc thù của họ – tạo kết hợp với sự tan rã của các chất có khả năng đem lại năng lượng cho quá trình sinh tổng hợp. Có sáu bộ phận hình thành theo kiểu kết nối. Năm trong số đó là các phân nhóm giống hệt lyases, và thứ sáu là chịu trách nhiệm cho việc thiết lập giao tiếp “nitơ-kim loại”.

    enzyme này cũng được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật di truyền. Nó cho phép các nhà khoa học Crosslink phân tử DNA trong những phần cần thiết của họ, tạo ra một chuỗi độc đáo của axit deoxyribonucleic. Họ có thể đặt bất kỳ thông tin, do đó tạo ra một nhà máy để sản xuất protein cần thiết. Ví dụ, nó có thể may một mảnh DNA của một loại vi khuẩn chịu trách nhiệm cho quá trình tổng hợp insulin. Và khi các tế bào sẽ phát sóng các protein riêng của mình, cô đồng thời chúng ta hãy thực hiện và khoáng chất cần thiết cho mục đích y tế. Nó chỉ còn lại để xóa, và nó sẽ giúp nhiều người bệnh.

    Vai trò to lớn của các enzyme trong cơ thể

    Họ có thể làm tăng tốc độ phản ứng hơn mười lần. Nó là điều cần thiết cho hoạt động tế bào bình thường. Một enzyme tham gia vào mỗi phản ứng. Do đó, chức năng của các enzyme trong cơ thể đa dạng như tất cả các quá trình xảy ra. Một sự phá vỡ các chất xúc tác dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

    Enzyme được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm, công nghiệp nhẹ, y học: sử dụng để sản xuất pho mát, xúc xích, thực phẩm đóng hộp, có trong bột giặt. Họ cũng được sử dụng trong sản xuất vật liệu nhiếp ảnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Enzym Catalase Có Vai Trò Gì Đối Với Cơ Thể Sống
  • Giá Nhà Máy Tinh Khiết Enzyme Catalase
  • Enzyme Catalase Là Gì, Hướng Đi Mới Của Khoa Học Ứng Dụng Catalase Giúp Người Tóc Bạc Chia Tay Với Thuốc Nhuộm Tóc
  • Enzyme Catalase Trong Bonihair, Hướng Đi Mới Của Khoa Học Giúp Chia Tay Với Thuốc Nhuộm Tóc
  • Enzyme Catalase Là Gì? Ứng Dụng Enzyme Catalase Trong Cải Thiện Tóc Bạc.
  • Cấu Tạo, Chức Năng Của Máy Cắt Decal Tem Nhãn

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Cắt Rau Củ Đa Chức Năng 3A600W
  • Những Công Dụng Và Lợi Ích Của Máy Cắt Sắt Đa Năng.
  • Nguyên Lý Hoạt Động Và Cấu Tạo Của Máy Cắt Điện
  • Tìm Hiểu Chức Năng Máy Cắt Nhôm Xingfa
  • Radius Server Là Gì? Cách Cấu Hình, Sự Hoạt Động Của Radius Server
  • Máy cắt decal là thiết bị dùng để cắt giấy decal phục vụ cho nhu cầu cắt dán trang trí và nhiều mục đích khác trong nhiều lĩnh vực đời sống.

    1. Máy cắt decal dùng để làm gì?

    • Cắt decal làm bảng hiệu, hộp đèn: Máy cắt decal có thể cắt chữ, logo, đường viền, hoa văn, hình ảnh đơn sắc để làm bảng hiệu, hộp đèn, dán kính, dán tường, dán xe, dán tàu,…
    • Cắt vật liệu rập may: Những chiếc máy cắt decal loại tốt (Mimaki, Graphtec) hỗ trợ rất tốt cho các công ty may mặc. Máy có thể cắt các vật liệu rập may thay vì bạn phải cắt tay hay đầu tư mua những máy chuyên dùng hàng tỷ bạc.
    • Khắc chữ nổi, hoa văn, hình ảnh cho ghế đá, bia mộ: Một máy cắt decal kết hợp với một máy bắn cát có thể thay thế cho một máy CNC khắc bia mộ, làm ghế đá với chi phí chỉ bằng 1/5.
    • Vẽ kiến trúc, vẽ bản đồ, vẽ sơ đồ: Thay vì phải mua một máy in khổ lớn về chuyên vẽ sơ đồ, kiến trúc, xây dựng – bạn có thể đầu tư một máy cắt decal. Máy cắt Decal có thể làm rất tốt công việc này nhờ chế độ vẽ với bút vẽ kèm theo.
    • Cắt bế tem xe, tem nhãn hàng hóa, tem bảo hành, tem mã vạch: Với khổ cắt lớn, tốc độ nhanh,độ chính xác cao, máy cắt decal là một công cụ không thể thiếu cho các ngành: Tem xe, các công ty xuất nhập khẩu, các công ty sản xuất,…
    • Máy cắt decal còn dùng được nhiều việc: Tất cả những công việc cần cắt, bế decal hay giấy đều có thể dùng máy cắt decal.

    2. Cấu tạo của máy cắt Decal

    Máy cắt decal gồm hai phần chính: Phần điều khiển và phần chấp hành.

    Phần điều khiển

    Phần điều khiển gồm chương trình điều khiển và các cơ cấu điều khiển.

    • Chương trình điều khiển: Là tập hợp các tín hiệu (gọi là lệnh) để điều khiển máy, được mã hóa dưới dạng chữ cái, số và một số ký hiệu khác như dấu cộng, trừ, dấu chấm, gạch nghiêng…
    • Các cơ cấu điều khiển: Nhận tín hiệu từ cơ cấu đọc chương trình, thực hiện các phép biến đổi cần thiết để có được tín hiệu phù hợp với điều kiện hoạt động của cơ cấu chấp hành, đồng thời kiểm tra sự hoạt động của chúng thông qua các tín hiệu được gửi về từ các cảm biến liên hệ ngược.

    Bao gồm các cơ cấu đọc, cơ cấu giải mã, cơ cấu chuyển đổi, bộ xử lý tín hiệu, cơ cấu nội suy, cơ cấu so sánh, cơ cấu khuếch đại, cơ cấu đo hành trình, cơ cấu đo vận tốc, bộ nhớ và các thiết bị xuất nhập tín hiệu.

    Đây là thiết bị điện – điện tử rất phức tạp, đóng vai trò cốt yếu trong hệ thống điều khiển của máy cắt decal.

    Phần chấp hành

    Phần chấp hành gồm máy cắt decal và một số cơ cấu phục vụ vấn đề tự động hóa như các cơ cấu tay máy, ổ chứa dao, bôi trơn, tưới trơn, hút thổi phôi, cấp phôi …

    Cũng như các loại máy cắt khác, đây là bộ phận trực tiếp tham gia cắt decal để tạo hình chi tiết. Tùy theo khả năng công nghệ của loại máy mà có các bộ phận : Hộp tốc độ, hộp chạy dao, thân máy, sống trượt, bàn máy, trục chính, ổ chứa dao, các tay máy…

    Kết cấu từng bộ phận chính có những đặc điểm riêng để đảm bảo quá trình điều khiển tự động được ổn định, chính xác, năng suất và đặc biệt là mở rộng khả năng công nghệ của máy.

    • Hộp tốc độ: Phạm vi điều chỉnh tốc độ lớn, thường là truyền động vô cấp, trong đó sử dụng các ly hợp điện từ để thay đổi tốc độ được dễ dàng.
    • Hộp chạy dao: Có nguồn dẫn động riêng, thường là các động cơ bước. Trong xích truyền động, sử dụng các phương pháp khử khe hở của các bộ truyền như vít me – đai ốc bi…
    • Thân máy: cứng vững, kết cấu hợp lý để dễ thải phoi, tưới trơn, dễ thay dao tự động. Nhiều máy có ổ chứa dao, tay máy thay dao tự động, có thiết bị tự động hiệu chỉnh khi dao bị mòn.

    3. Phân loại máy cắt Decal

    Máy cắt decal được chia ra làm 2 loại chính: máy cắt decal dạng cuộn và máy cắt decal dạng phẳng.

    • Máy cắt decal dạng cuộn: Sử dụng đầu dao cắt chạy qua lại thông qua dây curoa kéo kết hợp trục nhám lăn kéo decal. Máy cắt dạng cuộn có thể cắt, vẽ mọi đường nét chúng ta vẽ từ máy tính. Đây là loại máy cắt decal phổ thông nhất.
    • Máy cắt decal dạng phẳng: Máy cắt dạng phẳng có bàn cắt cố định, chỉ có đầu dao cắt chạy qua lại thông qua phần mềm điều khiển từ máy tính.

    Máy cắt phẳng thường được dùng trong ngành may mặc, giày da, túi xách và bao bì.

    4. Những loại giấy nào có thể cắt được bằng máy cắt decal?

    • Giấy decal nhựa: Giấy có tráng sẵn lớp keo dính dính ở mặt sau và được bảo vệ bằng một lớp giấy đế khác, sau khi lột lớp đế, lớp decal được đè nhẹ dính vào bề mặt sản phẩm.
    • Giấy decal phản quang: Một loại giấy decal nhưng khác là được mạ một lớp kẽm kim loại có tính chất phản quang mặt trên nhằm đáp ứng cho những sản phẩm đặc thù như máy móc, điện tử hay những loại nhãn mác cảnh báo.
    • Film nhựa: cũng là một loại decal phản quang nhưng được làm từ chất liệu film nhựa trong mờ như kính. Đây là dòng decal đang được sử dụng rộng rãi trên thị trường, áp dụng tại văn phòng, các tòa nhà cao ốc, xe hơi,.. có tác dụng làm dịu ánh sáng do nắng chiếu trực tiếp và làm mát không gian bên trong hay dùng làm khuôn ép hạt cườm trong lĩnh vực thời trang.
    • Một số loại giấy khác: Không chỉ có giấy decal, máy cắt decal còn là “cây kéo đa năng” khi cắt được trên nhiều loại giấy trang trí , bìa các-tông,… phục vụ cho nhu cầu tạo hình sản phẩm.

    5. Những thương hiệu máy cắt Decal uy tín

    • Máy cắt Decal Graphtec – Nhật Bản (dòng FC8600, CE6000 Plus)
    • Máy cắt Decal Mimaki – Nhật Bản (dòng CG SRIII, CG FXII)
    • Máy cắt Decal Summa – Bỉ
    • Máy cắt Decal Roland – Nhật Bản
    • Máy cắt Decal GCC – Đài Loan
    • Máy cắt Decal Pcut
    • Máy cắt Decal Refine
    • Máy cắt Decal Rabbit

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Công Nghệ 12 Bài 20: Máy Thu Hình (Hay, Chi Tiết).
  • Bài 20. Máy Thu Hình
  • Có Được Mang Thức Ăn Lên Máy Bay Không?
  • Mang Theo Thực Phẩm Tết Lên Máy Bay
  • Mang Theo Thực Phẩm Tết Lên Máy Bay Cần Làm Những Thủ Tục Gì?
  • Tìm Hiểu Chức Năng Máy Cắt Nhôm Xingfa

    --- Bài mới hơn ---

  • Radius Server Là Gì? Cách Cấu Hình, Sự Hoạt Động Của Radius Server
  • Quản Lý Xác Thực Radius Với Unifi
  • Bảo Mật Wlan Bằng Radius Server Và Wpa2
  • Bài Giảng Các Chức Năng Của Isa Server 2004
  • Dns Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Dns Trong Thế Giới Mạng
  • Các loại máy cắt nhôm Xingfa

    Máy cắt 1 đầu Xingfa

    Đây là loại máy có giá thành rẻ, có 1 đầu cắt nên năng suất cho ở mức trung bình thấp. Sử dụng 1 lưỡi cắt 450 hợp kim, mỗi khi tiến hành cắt thì có chụp che đậy xuống nên rất an toàn. Có thể dùng cho nhiều hệ nhôm khác nhau như: Xingfa, Zhongkai, Việt Pháp, PMI… Phù hợp với các nhà đầu tư có ít vốn hoặc ít đơn hàng.

    Máy cắt 2 đầu Xingfa

    Loại máy có giá thành vừa phải (khoảng 70tr VNĐ). Gồm có 2 đầu cắt nên tốc độ cắt nhanh chóng hơn so với máy cắt 1 đầu. Chủ sản xuất có thể thoải mái nhận các đơn hàng có số lượng nhiều vì mỗi tháng máy có thể cắt tới hơn 2000m² nhôm.

    Đây là chiếc máy có 2 đầu cắt, được tích hợp thêm bộ phận cắt ke nhôm. Ke nhôm phục vụ cho công đoạn ép góc cửa nhôm, tạo độ chắc chắn và đây là thứ không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Nếu bạn đã sử dụng chiếc máy này thì sẽ không cần phải trang bị thêm máy cắt ke nhôm chuyên dụng nữa.

    Máy cắt quay đa góc

    Loại máy mang lại sự tiện lợi vì góc cắt rộng tới 135 độ, có thể mở rộng để cắt ngửa. Bạn sẽ không cần phải bê rồi xoay lại thanh nhôm như các dòng máy trên, mà chỉ cần ấn các nút được lập trình sẵn CNC, máy sẽ tự động thực hiện mở rộng góc và cắt. Cực kỳ hữu ích, nhanh chóng, giúp giảm nhiều thời gian gia công.

    Máy cắt nhôm Xingfa nào tốt nhất hiện nay ?

    Nếu để trả lời câu hỏi máy cắt Xingfa nào tốt nhất thì các bộ máy chức năng càng cao thì càng tốt. Ví dụ như: máy cắt tích hợp hoặc quay đa góc… Nhưng để chọn được bộ máy tốt nhất thì chính sự lựa chọn phù hợp với nhu cầu sản xuất của mình mới là quan trọng nhất.

    Để được tư vấn kỹ càng và chọn được các dòng máy phù hợp với mục đích sản xuất của bạn, hãy liên hệ tới Kho Máy Nhôm để nhận được những câu trả lời hợp lý nhất từ các chuyên gia sản xuất của chúng tôi.

    Hotline phục vụ 24/24: 0972 389 089

    Nguồn: khomaynhom.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Hoạt Động Và Cấu Tạo Của Máy Cắt Điện
  • Những Công Dụng Và Lợi Ích Của Máy Cắt Sắt Đa Năng.
  • Máy Cắt Rau Củ Đa Chức Năng 3A600W
  • Cấu Tạo, Chức Năng Của Máy Cắt Decal Tem Nhãn
  • Lý Thuyết Công Nghệ 12 Bài 20: Máy Thu Hình (Hay, Chi Tiết).
  • Máy Hàn 3 Chức Năng , Tig ,que , Cắt Plasma

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Hàn Tig Công Nghệ Inverter Igbt
  • Tìm Hiểu Về Giá Máy May Công Nghiệp 2 Kim
  • 1 Kim Là Gì?tất Tần Tật Về Máy May Một Kim
  • Máy May Công Nghiệp Và Một Số Bạn Cần Biết
  • Tìm Hiểu Về Máy May Công Nghiệp 1 Kim Jack
  • máy hàn 3 chức năng bao gồm hàn tig , hàn que và cắt plasma 

    giảm giá  bình khí co2 trị giá 1500.000đ khi mua theo sản phẩm 

    MÁY MỚI LÊN ĐẾN 85%

    Chu kỳ làm việc định mức

    %

    60

    điện áp không tải                                                                                                                                                           

    v

    64

     

    Điện áp vào

    V

    1pha220v/50/60Hz

    Công suất định mức

    KVA

    9,6

    Điện áp ra

    V

    64

    Phạm vi dòng hàn

    A

    4-300

     

    Kích thước máy

    mm

    đang cập nhât

    Trọng lượng                                                                                                              kg

                                                                                                                                      34

     

    Bước 1: Truy cập website và lựa chọn sản phẩm cần mua để mua hàng

    Nếu bạn muốn tiếp tục mua hàng: Bấm vào phần tiếp tục mua hàng để lựa chọn thêm sản phẩm vào giỏ hàng

    Nếu bạn muốn xem giỏ hàng để cập nhật sản phẩm: Bấm vào xem giỏ hàng

    Nếu bạn muốn đặt hàng và thanh toán cho sản phẩm này vui lòng bấm vào: Đặt hàng và thanh toán

    Bước 3: Lựa chọn thông tin tài khoản thanh toán

    Nếu bạn đã có tài khoản vui lòng nhập thông tin tên đăng nhập là email và mật khẩu vào mục đã có tài khoản trên hệ thống

    Nếu bạn chưa có tài khoản và muốn đăng ký tài khoản vui lòng điền các thông tin cá nhân để tiếp tục đăng ký tài khoản. Khi có tài khoản bạn sẽ dễ dàng theo dõi được đơn hàng của mình

    Nếu bạn muốn mua hàng mà không cần tài khoản vui lòng nhấp chuột vào mục đặt hàng không cần tài khoản

    Bước 4: Điền các thông tin của bạn để nhận đơn hàng, lựa chọn hình thức thanh toán và vận chuyển cho đơn hàng của mình

    Bước 5: Xem lại thông tin đặt hàng, điền chú thích và gửi đơn hàng

    Sau khi nhận được đơn hàng bạn gửi chúng tôi sẽ liên hệ bằng cách gọi điện lại để xác nhận lại đơn hàng và địa chỉ của bạn.

    Trân trọng cảm ơn.

    Với mong muốn mang lại sự hài lòng cho quý khách khi mua hàng, chúng tôi có những quy định trong vận chuyển, nhằm đảm bảo rằng những sản phẩm quý khách mua là sản phẩm mà vừa ý nhất.

    1. Chúng tôi sẽ được thực hiện và chuyển phát dựa trên mẫu khách hàng đã chọn. Trường hợp không có đúng sản phẩm Quý khách yêu cầu chúng tôi sẽ gọi điện xác nhận gửi sản phẩm tương tự thay thế.

    2. Thời gian chuyển phát tiêu chuẩn cho một đơn hàng là 12 giờ kể từ lúc đặt hàng. Chuyển phát sản phẩm đến các khu vực nội thành thành phố trên toàn quốc từ 4 giờ kể từ khi nhận hàng, chuyển phát ngay trong ngày đến các vùng lân cận (bán kính từ 10km – 50km).

    3. Các đơn hàng gửi đi quốc tế: không đảm bảo thời gian được chính xác như yêu cầu, không đảm bảo thời gian nếu thời điểm chuyển phát trùng với các ngày lễ, tết và chủ nhật tại khu vực nơi đến.

    4. Trường hợp không liên lạc được với người nhận, người nhận đi vắng:

    – Nếu chưa rõ địa chỉ chúng tôi sẽ lưu lại trong vòng 6 tiếng và liên lạc lại với người nhận, trong trường hợp ko liên lạc được đơn hàng sẽ bị hủy và không được hoàn lại thanh toán.

    – Nếu địa chỉ là công ty, văn phòng, nhà ở… Chúng tôi sẽ gửi đồng nghiệp, người thân nhận hộ và ký xác nhận

    – Để tại một nơi an toàn người nhận dễ nhận thấy tại nhà, văn phòng, công ty… Trường hợp này không có ký nhận.

    5. Trường hợp người nhận không nhận đơn hàng:

    – Chúng tôi sẽ hủy bỏ đơn hàng. Trường hợp này sẽ không được hoàn trả thanh toán.

    6. Trường hợp không đúng địa chỉ, thay đổi địa chỉ:

    – Không đúng địa chỉ: trường hợp sai địa chỉ chúng tôi sẽ lưu lại 6 tiếng và liên lạc với người gửi và người nhận để thỏa thuận về địa điểm, thời gian, nếu địa chỉ mới không quá 3km sẽ phát miễn phí. Trường hợp địa chỉ mới xa hơn 3km sẽ tính thêm phí theo quy định chuyển phát.

    7. Trường hợp không tồn tại người nhận tại địa chỉ yêu cầu: đơn hàng sẽ được hủy và không được hoàn lại thanh toán.

    8. Chúng tôi không vận chuyển sản phẩm đến các địa chỉ trên tàu hỏa, máy bay, tàu thủy, khu vực nguy hiểm, các khu vực cấm…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Hàn Mig Que Đa Năng Jasic Nb 200E Giá Rẻ
  • Máy Hàn Bán Tự Động Mig Nb
  • Máy Hàn Mig Không Dùng Khí Jasic Nb 200E
  • Máy Hàn Mig Hãng Nào Nên Mua Nhất?
  • Đại Lý Máy Hàn Lincoln Electric
  • Cách Bỏ Giới Hạn 40 Phút Trên Zoom Để Dùng Không Giới Hạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Người Tham Gia Cuộc Họp
  • 8 Thứ Hay Ho Của Ứng Dụng Học Online Zoom: Sống Ảo Bằng Filter, React Như Facebook… Thứ Gì Cũng Có
  • Hướng Dẫn Ghi Âm Tự Động Phần Mềm Zoom
  • Cách Ghi Âm Trên Máy Tính Không Cần Phần Mềm
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Zoom
  • Các thầy cô có thể sử dụng phần mềm Zoom để dạy học trực tuyến cho học sinh, tuy nhiên có một vấn đề nhỏ là khi dùng Zoom bản miễn phí sẽ bị giới hạn 40 phút/lần truy cập. Việc này dẫn đến gián đoạn quá trình học của học sinh, mất thời gian của cả thầy và trò mỗi lần ra/vào lại ứng dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học.

    Trước nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, Zoom đã có chính sách hỗ trợ các thầy cô bằng cách gỡ giới hạn 40 phút khi các thầy cô đăng nhập Zoom bằng email có miền @edu.vn. Bài viết này sẽ hướng dẫn thầy cô loại bỏ giới hạn 40 phút trên Zoom để có thể dạy học không giới hạn trên Zoom.

    Tải Zoom cho PC Tải Zoom cho iOS Tải Zoom cho Android

    Cách sử dụng Zoom không bị giới hạn thời gian

    Bước 1:

    Thầy cô vào địa chỉ zoom.us/signup, nhập email do trường hoặc sở giáo dục cấp vào ô email đăng ký: Your work email address, thầy cô cũng có thể sử dụng email có đuôi @msedu.edu.vn để đăng ký.

    Bước 2:

    Sau khi đăng ký tài khoản Zoom xong bạn bạn truy cập đường dẫn xác nhận trường học này, nhập thông tin về trường học nơi thầy cô công tác để ứng dụng xác nhận.

    Link xác nhận trường học

    • School Email Address: Địa chỉ email của trường
    • School Name: Tên trường
    • First Name: Tên
    • Last Name: Họ
    • School Size: Số lượng học sinh của trường
    • School website: Trang web của trường
    • Phone number: Số điện thoại của trường
    • Country/Region: Quốc gia

    Khi nhập xong hãy nhấn Submit.

    Bước 3:

    Thầy cô sẽ phải chờ 72 tiếng (khoản 3 ngày) để được loại bỏ giới hạn 40 phút nếu Zoom xác minh trường học của thầy cô đủ điều kiện là trường học chính thức của hệ thống giáo dục.

    Khi xác nhận thành công, thầy cô đăng nhập vào ứng dụng Zoom sẽ nhận được thông báo giới hạn 40 phút đã bị gỡ bỏ trên tài khoản của mình.

    Ngoài cách trên, nếu không có email giáo dục, các thầy cô có thể mua gói Pro của Zoom với giá 15$/tháng (khoảng 360.000VNĐ) để tăng giới hạn mỗi lần truy cập lên 24 giờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phần Mềm Họp Trực Tuyến Thay Thế Zoom
  • Cách Sử Dụng Zoom Dành Cho Host (Chủ Phòng), Giáo Viên
  • Zoom Cloud Meeting Là Gì? Lợi Ích Khi Họp Qua Phần Mềm Zoom
  • 9 Mẹo Sử Dụng Tính Năng “ẩn” Ít Người Biết Của Zoom
  • Hướng Dẫn Phần Mềm Zoom Meeting Trên Máy Tính Và Điện Thoại Từ A
  • Chức Năng Của Hệ Sinh Sản Nữ Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyến Tiền Liệt Là Gì? Có Chức Năng Trong Hệ Sinh Sản
  • Những Quan Trọng Về Hệ Sinh Sản Của Nữ Giới
  • Tài Sản Tài Chính Là Gì?
  • Chức Năng Của Thị Trường Tài Chính
  • Phân Tích Bản Chất Của Tư Bản Thương Nghiệp Và Lợi Nhuận Thương Nghiệp?
  • So với bộ phận sinh dục nam, bộ phận sinh dục nữ có cấu tạo phức tạp và cầu kì hơn. Hệ sinh sản phụ nữ có các chức năng: sản xuất trứng, thực hiện giao hợp, bảo vệ và nuôi dưỡng trứng được thụ tinh đến khi phát triển đầy đủ và sinh sản.

    Quá trình sinh sản không thể nào diễn ra nếu không có các cơ quan sinh sản, hay còn gọi là tuyến sinh dục. Hầu hết mọi người đều cho rằng tuyến sinh dục chỉ có ở nam giới, nhưng thực chất nó tồn tại ở cả nam lẫn nữ. Trong cơ thể phụ nữ, tuyến sinh dục là buồng trứng. Tuyến sinh dục ở nữ sản sinh ra giao tử cái (trứng). Trứng sau khi được thụ tinh bởi tinh trùng được gọi là hợp tử.

    Khi một bé gái chào đời, buồng trứng của bé mang hàng trăm trứng không hoạt động cho tới tuổi dậy thì. Khi dậy thì, tuyến yên ở trung tâm não bộ bắt đầu tiết ra hormone sinh dục nữ estrogen. Chất tiết ra từ hormone này khiến bé gái phát triển thành một thiếu nữ.

    Kinh nguyệt là gì?

    Đến cuối giai đoạn dậy thì, cơ thể bé gái bắt đầu quá trình rụng trứng diễn ra hằng tháng, quá trình này gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Khoảng một lần mỗi tháng, trong suốt chu kỳ kinh nguyệt, trứng rụng vào một trong những ống dẫn trứng. Khi ở trong ống dẫn trứng, nếu trứng không được thụ tinh bởi tinh trùng, khoảng 2 tuần sau đó trứng sẽ tự khô lại và ra khỏi cơ thể qua tử cung. Quá trình này gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Máu và mô từ lớp màng tử cung kết hợp đào thải ra khỏi cơ thể, quá trình này gọi là nguyệt san. Thông thường nguyệt san kéo dài từ 3 tới 5 ngày ở hầu hết nữ giới.

    Hầu hết nữ giới đều cảm thấy không thoải mái vào những ngày đầu của chu kỳ. Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) bao gồm những thay đổi về cả thể chất lẫn tâm trạng như là nổi mụn, trương nở, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực, nhức đầu, táo bón, tiêu chảy, thèm ăn, trầm cảm, khó chịu, khó tập trung hoặc dễ cảm thấy căng thẳng. Những triệu chứng trên nặng nhất vào khoảng 7 ngày trước chu kỳ và kết thúc ngay lúc chu kỳ bắt đầu.

    Nhiều bé gái cũng bị đau bụng suốt vài ngày trước chu kỳ. Vì trong cơ thể bé có chứa axit béo không thể bão hòa, chất này khiến các cơ mềm trong tử cung co thắt. Những cơn co thắt này có thể gây ra đau âm ỉ hoặc đau quặn.

    Có thể mất đến 2 năm sau tuần nguyệt san đầu tiên thì chu kỳ của một bé gái mới phát triển ổn định được. Trong suốt thời gian đó, cơ thể bé gái thích nghi với hormone được tạo ra trong quá trình dậy thì. Trung bình, các chu kỳ hằng tháng của phụ nữ thường cách nhau 28 ngày, nhưng thực tế cho thấy nó có thể dao động khoảng 23 tới 35 ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rừng Sản Xuất (Production Forests) Là Gì? Phân Loại Rừng Sản Xuất
  • Sơ Đồ Tổ Chức Của Bimbo Và Chức Năng Của Các Phòng Ban / Làm Việc
  • Thiết Kế Sản Phẩm (Product Design) Là Gì?
  • Fibrotic Là Sản Phẩm Gì ? Tác Dụng Của Fibrotic Jeunesse
  • Câu Hỏi Tư Vấn Về Đăng Ký Bảo Hộ Chức Năng Sản Phẩm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100