Chức Năng Econo Của Điều Hòa Daikin Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Chế Độ Econo Cool Tiết Kiệm Điện Trên Điều Hòa Daikin
  • Tìm Hiểu Chế Độ Econo Cool Tiết Kiệm Điện Trên Điều Hòa Đaikin
  • Công Nghệ Inverter Trên Điều Hòa Daikin
  • Chế Độ Econo Máy Lạnh Là Gì?
  • Ý Nghĩa Các Chế Độ Tiết Kiệm Điện Trên Máy Lạnh
  • Daikin là một trong những hãng sản xuất điều hòa lớn nhất thế giới đến từ Nhật Bản được thành lập vào năm 1924. Daikin sản xuất từ các dòng điều hòa đến môi chất lạnh, tạo nên một “đế chế” phát triển mạnh mẽ ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới.

    Đôi nét về tính năng Econo Cool

    Tính năng Econo Cool là một nét nổi bật của điều hòa Daikin được người tiêu dùng và chuyên gia đánh giá cao. Tương tự như công nghệ Inverter, đây cũng là một tính năng hỗ trợ người dùng tiết kiệm điện năng tiêu thụ, cũng như giảm thiểu chi phí tối đa. Trên các dòng điều hòa, chế độ này thường được viết tắt là ECO, người dùng có thể quan sát trên remote điều hòa Daikin.

    Cơ chế hoạt động của tính năng Econo Cool tiết kiệm điện

    Ở những dòng máy lạnh thông thường, khi máy vận hành, hơi lạnh sẽ tỏa ra đều khắp phòng, nên dù nhiệt độ thấp nhưng người dùng vẫn chưa cảm thấy đủ lạnh như mức độ mong muốn. Với dòng máy lạnh Daikin có tích hợp tính năng Econo Cool tiết kiệm điện năng, máy có khả năng phát hiện nhưng nơi có nhiệt độ cao hơn để tự động điều chỉnh hướng gió, đảm bảo được hiệu quả làm lạnh cho người dùng, giúp người dùng nhanh cảm thấy dễ chịu, mát mẻ và điện năng cũng bị hao tốn vô ích khi hơi lạnh bị tỏa ra những nơi không cần thiết, đồng thời cũng đảm bảo được khả năng vận hành và tuổi thọ của điều hòa.

    Công dụng của tính năng Econo Cool tiết kiệm điện năng

    Tính năng Econo hoạt động theo cơ chế tiết kiệm điện năng, hạn chế để điều hòa chạy ở công suất tối đa khi mới khởi động, rất hiệu quả khi điều hòa được gắn ở những nơi đông người như phòng làm việc, không gian quá rộng, hoặc có tiếp xúc với ánh nắng. Bên cạnh đó, tính năng Econo Cool còn giúp hạn chế tình trạng CB bị quá tải, từ đó duy trì được độ bền, tránh gây hư hỏng cho điều hòa, đồng thời có thể giúp tiết kiệm lượng điện năng tiêu thụ lên đến 20%.

    Các dòng máy lạnh Daikin có tích hợp tính năng Econo Cool

    Chế độ tiết kiệm điện năng Econo Cool được Daikin tích hợp trên hầu hết các dòng điều hòa dân dụng và bán công nghiệp giúp đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiện nghi của người dùng. Một số dòng điều hòa Daikin có tính năng Econo Cool người dùng có thể tham khảo như điều hòa Daikin FTKX25QVMV, điều hòa Daikin FTKJ25NVMVS, điều hòa Daikin FTKJ35NVMVS,..

    Một số tính năng tiên tiến khác có trên điều hòa Daikin

    Công nghệ biến tần tiết kiệm điện Inverter

    Công nghệ tiết kiệm điện biến tần này đã khá quen thuộc với người dùng khi mà hầu hết các dòng máy lạnh hiện nay trên thị trường như Samsung , Sharp , Panasonic , Toshiba ,..đều có tích hợp tính năng này. Tính năng này cho phép máy đạt được hiệu quả làm lạnh tối ưu nhất, có khả năng làm tăng/giảm nhiệt độ trong khoảng thời gian chỉ 20 đến 30 phút cũng như giúp tiết kiệm điện tối đa.

    Công nghệ mắt thần Intelligent Eye

    Đây là một tính năng công nghệ tiên tiến và hoàn toàn mới được tích hợp trên điều hòa Daikin. Mắt thần Intelligent Eye sử dụng cảm biến hồng ngoại để nhận biết được chuyển động trong phòng để tự điều chỉnh mức nhiệt độ thích hợp dựa theo số người có mặt trong phòng, nhằm đảm bảo không gian phòng luôn đạt được độ mát thích hợp nhất. Khi phòng không có người, máy sẽ tự động tăng thêm 2 độ C để giúp tiết kiệm điện năng tối đa.

    Phin lọc Apatit Titan khử mùi xúc tác quang

    Phin lọc Apatit Titan là vật liệu xúc tác quang mới xuất hiện gần đây, có khả năng hấp thụ cực mạnh các hạt bụi mịn nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy được cũng như tiêu diệt gần 99% lượng vi khuẩn có trong không khí. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng thì phin lọc dễ bị bám đầy bụi cũng như xảy ra hiện trạng nấm mốc bám đặc quanh màng phin, vừa ảnh hưởng đến sức khỏe lại có thể gây ra mùi hôi ẩm khó chịu.

    Nhờ tác động của ánh sáng mặt trời, chất xúc tác quang titan sẽ hoạt động theo cơ chế làm phân hủy toàn bộ lượng vi khuẩn, bụi bẩn độc hại cũng như làm sạch lớp nấm mốc bám trên màng phin lọc, từ đó hạn chế được các chất gây hại đến sức khỏe thoát ra ngoài không khí, mang đến bạn một bầu không khí trong lành và an toàn tối đa cho sức khỏe.

    Công nghệ này được giới chuyên gia đánh giá cao về khả năng kháng khuẩn và khử mùi, lại rất tiết kiệm cho người dùng khi tuổi thọ màng phin có thể sử dụng đến 3 năm mà không cần phải thay thế thường xuyên, chỉ với điều kiện người dùng cần chú ý vệ sinh và bảo dưỡng định kì 6 tháng một lần.

    Phin lọc kháng thể sinh học

    Phin lọc kháng thể sinh học có chức năng tương tự với phin lọc khử mùi xúc tác quang Apatit Titan, giúp hấp thụ và tiêu diệt các vi khuẩn có trong không khí bởi các kháng thể sinh học, từ đó mang đến bầu không khí trong lành cũng như đảm bảo được sức khỏe người dùng.

    Công nghệ tạo ion lọc không khí

    Công nghệ này sử dụng các phân tử ion để làm sạch không khí, giữ lại các hạt bụi nhỏ khó có thể thấy bằng mắt thường bằng tấm lọc e-ion tích điện dương, giúp không gian nhà bạn luôn sạch khuẩn.

    Hệ thống lọc bụi mịn 2.5M

    Trong không khí vẫn luôn tồn tại rất nhiều tác nhân gây hại đến hệ hô hấp và sức khỏe con người như phấn hoa, vi khuẩn, bụi mịn,. với kích thước cực kì nhỏ, chỉ khoảng 2.5 Micromet. Tuy nhiên, với máy lạnh Daikin có tích hợp hệ thống lọc không khí có thể lọc được bụi mịn 2.5M 2 lớp, các chất độc hại sẽ được giữ lại trên bề mặt tấm lọc để trả lại cho không gian bầu không khí sạch và trong lành.

    Công nghệ luồng khí Comfortable Airflow

    Công nghệ Comfortable Airflow trên máy lạnh Daikin là sự kết hợp giữa nhiều kĩ thuật cánh quạt khác nhau, nhằm mang đến luồng gió sảng khoái và thoải mái nhất với các chế độ cánh quạt:

    Chế độ đảo gió tự động kết hợp cùng luồng khí lạnh 3 chiều

    Điều hòa sở hữu 2 cánh đảo gió mạnh mẽ giúp tạo nên luồng khí lạnh 3 chiều có thể tự động đảo theo hướng lên xuống, trái phải, từ đó luồng khí lạnh có thể trải dàn đều trong toàn bộ không gian của căn phòng chỉ trong thời gian tích tắc, cực kì tiết kiệm điện năng và thời gian làm mát.

    Cánh hướng gió rộng

    Góc hắt gió rộng cùng với các cánh hướng gió có hình dạng cong giúp chuyển lưu luồng khí lạnh và dàn trải đều luồng khí ra khắp phòng theo các phương ngang và phương đứng mà không bị ảnh hưởng bởi vị trí lắp đặt thiết bị.

    Luồng gió thổi sảng khoái

    Tính năng này cho phép luồng gió tỏa ra từ máy thổi theo hướng ngược lên trên để tránh hơi lạnh phả trực tiếp vào người dùng, hạn chế các bệnh về đường hô hấp mà điều hòa thường là tác nhân chính như viêm mũi, viêm phế quản hay viêm phổi,..

    Kết

    Tại Nguyễn Kim, chúng tôi có đầy đủ các sản phẩm điện tử từ điện thoại di động, máy tính để bàn , laptop , tablet ,..đến các sản phẩm gia dụng như tủ lạnh , máy giặt , máy lạnh ,.. với đa dạng mẫu mã, mức giá cũng như tính năng sử dụng. Khi chọn mua tại Nguyễn Kim, bạn có thể hoàn toàn yên tâm về nguồn gốc xuất xứ cũng như chất lượng, chế độ bảo hành hậu mãi cực kì uy tín. Còn chần chừ gì nữa mà không đến ngay Nguyễn Kim để lựa chọn cho mình một sản phẩm phù hợp nhu cầu sử dụng của bản thân và gia đình. Hãy truy cập ngay trang web chúng tôi hoặc nhấc máy và gọi đến hotline miễn phí 1800 6800 để được đội ngũ chuyên viên tư vấn và hỗ trợ. Đừng quên theo dõi các chương trình ưu đãi hấp dẫn được cập nhật liên tục trên fanpage Nguyễn Kim cũng như đón xem các bài đăng Blog Nguyễn Kim để có thêm những mẹo hay trong cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viêm Dây Thần Kinh Ngoại Biên Số 7 Là Bệnh Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Liệt Dây Thần Kinh Số 7 Phải Làm Sao?
  • Dây Thần Kinh Số 7 Nằm Ở Đâu?
  • Liệt Dây Thần Kinh Số Vii (Liệt Mặt) Có Nguy Hiểm Không?
  • Chữa Liệt Dây Thần Kinh Số 7 Ngoại Biên
  • Điều Hòa Hoạt Động Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Dry Của Điều Hòa Là Gì? Nó Có Thực Sự Tiết Kiệm Điện Như Lời Đồn
  • Nên Để Điều Hòa Ở Chế Độ Cool Hay Dry? Chế Độ Nào Tốt, Tiết Kiệm Hơn?
  • Sự Thật Về Chế Độ Dry Trên Điều Hòa Giúp Tiết Kiệm Điện 10 Lần
  • Chế Độ Dry Của Điều Hòa Là Gì?
  • Chế Độ Điều Hòa Phù Hợp Những Ngày Ẩm
  • Gen hoạt động không đều và không giống nhau. Hoạt động của gen bị kiểm soát bởi cơ chế điều hòa. Điều hòa hoạt động của gen là điều hòa lượng sản phẩm của gen được tạo ra trong tế bào đảm bảo cho hoạt động sống của tế bào phù hợp với từng giai đoạn sống.

    Ở sinh vật nhân sơ, điều hòa hoạt động của gen chủ yếu diễn ra ở cấp phiên mã theo mô hình điều hòa giống như của Operon Lac. Ở sinh vật nhân thực, sự điều hòa diễn ra rất phức tạp và theo nhiều cấp độ khác nhau.

    Ví dụ Operon Lac ở vi khuẩn chúng tôi được F. Jacôp và J. Mônô phát hiện năm 1961 có chưc năng điều hòa tổng hợp enzim giúp chúng sử dụng lactôzơ.

    – Một nhóm gen cấu trúc Z, Y, A quy định sự tổng hợp các enzim tham gia phân giải đường lactoôơ.

    – Vùng vận hành O (Operator): đứng trước nhóm gen cấu trúc, là vị trí tương tác với protein ức chế làm ngăn cản sự phiên mã của nhóm gen cấu trúc.

    – Vùng khởi động P (promotor): đứng trước gen vận hành, là nơi enzim ARN-polimeraza bám vào để khởi đầu phiên mã.

    Ngoài ra cón có gen điều hòa R (regulator) tuy không nằm trong thành phần của operon, song có vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động các gen của operon. * Khi môi trường dinh dưỡng không có đường lactôzơ

    Gen điều hòa điều khiển tổng hợp protêin ức chế (repssor), prôtêin này kết hợp với vùng vận hành (O) ngăn cản quá trình phiên mã làm cho các gen cấu trúc Z, Y, A không hoạt động.

    * Khi môi trường dinh dưỡng có đường lactôzơ (chất cảm ứng)

    – Một số phân tử lactôzơ tác dụng với prôtêin ức chế làm biến đổi cấu trúc của prôtên này nên không liên kết được với vùng vận hành, do vậy ARN-polimeraza liên kết được với vùng khởi động (P) làm quá trình phiên mã của các gen cấu trúc được thực hiện.

    – Khi lactôzơ bị phân giải hết thì thì prôtêin ức chế lại liên kết với vùng vận hành (O) và quá trình phiên mã dừng lại.

    Vậy sự kiểm soát hoạt động của gen được thực hiện ở khâu phiên mã (tổng hợp mARN).

    Do sự khác biệt trong cấu trúc hệ gen, cấu trúc NST và cấu trúc tế bào nên sự điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân thực cũng phức tạp hơn so với sinh vật nhân sơ. Có 5 mức độ điều hòa hoạt động gen ở sinh vật nhân thực.

    – Điều hòa trước phiên mã.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Hòa Không Khí Và Thông Gió
  • Nguyên Lý Làm Việc Của Điều Hòa, Những Kiến Thức Cơ Bản Nên Biết
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Các Chức Năng Của Quạt Điều Hoà Không Khí
  • Lý Do Nên Chọn Điều Hòa Không Khí Có Kiểm Soát Độ Ẩm
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Electrolux Đạt Hiệu Quả Cao Nhất
  • Fan Speed Là Gì ? Sử Dụng Chức Năng Fan Speed Của Điều Hòa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Chế Độ Fan Speed Điều Hòa
  • Những Tính Năng Hữu Ích Của Điều Hòa Hay Bị Bỏ Sót
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Remote Điều Khiển Điều Hòa Funiki
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Điều Hoà Funiki
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Funiki 1 Chiều, 2 Chiều Đúng Cách, Tiết Kiệm Điện
  • Fan Speed là một chế độ trên Remote của điều hòa. Những thông số tốc độ quạt hiển thị trên remote chính là Fan speed. Bạn có thể dễ dàng điều chỉnh tốc độ quay của quạt gió cục lạnh bằng cách ấn nút fan speed trên điều khiển.

    Fan Speed trong điều hòa là gì? Khi nào thì ấn chọn chức năng này ?

    Fan speed là một chế độ không thể thiếu, bất cứ hãng điều hòa nào hiện nay cũng trang bị (Một chế độ trên Remote của điều hòa). Những thông số tốc độ quạt hiển thị trên remote chính là Fan speed. Bạn có thể dễ dàng điều chỉnh tốc độ quay của quạt gió cục lạnh bằng cách ấn nút fan speed trên điều khiển.

    Chức năng của Fan speed khá tuyệt vời bạn đã biết ?

    Đây là một chế độ tuyệt vời trong điều hòa của bạn. Phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, bạn có thể điều chỉnh chế độ Fan Speed phù hợp để tận hưởng cảm giác dễ chịu nhất.

    Hướng dẫn sử dụng fan speed trong điều hòa

    Nhiều người có thói quen bật điều hòa rồi để chế độ Auto mà chưa biết cách bật/tắt, điều chỉnh tốc độ quạt gió theo mong muốn của mình. Fan Speed trong điều hòa sẽ giúp bạn làm được những điều này. Làm thế nào để kích hoạt chế độ Fan speed trên Remote?

    Cách kích hoạt chế độ Fan Speed trên Remote

    Hãy để ý trên Remote điều hòa sẽ có nút Fan speed. Muốn kích hoạt chế độ Fan speed, điều chỉnh tốc độ quạt theo ý muốn, bạn chỉ cần nhấn vào nút đó lần lượt:

    • Nhấn 1 lần: Chế độ quạt thấp
    • Nhấn 2 lần: Chế độ quạt ở mức trung bình
    • Nhấn 3 lần: Chế độ quạt cao
    • Nhấn 4 lần: Chế độ tự động

    Khi nắm rõ Fan Speed là gì, việc sử dụng chế độ này cũng trở nên dễ dàng hơn.

    Mẹo hay cho bạn: Cách sử dụng điều hòa tiêu tốn ít điện năng

    Tốc độ quạt gió Fan Speed trong điều hòa

    • Nhấn nút : Điều chỉnh hướng gió
    • AUTO: cánh đảo gió lên xuống tự động
    • Nhấn vào để chọn các nấc hướng gió tùy chọn
    • AUTO: Chế độ tự động làm nóng hay lạnh, phụ thuộc vào cài đặt chế độ làm việc hiển thị trên điều khiển
    • COOL: Chế độ làm lạnh phụ thuộc vào cài đặt nhiệt độ và các chức năng trên điều khiển như mong muốn của bạn
    • DRY: Làm khô nhẹ (hút ẩm). Sẽ có một làn gió nhẹ ,quạt chạy ở mức thấp nhất.
    • HEAT: Chế độ làm nóng (chỉ dùng cho các mẫu điều hòa 2 chiều) quá trình hoạt động máy có thể chạy hay dừng phụ thuộc vào nhiệt độ phòng và quá trình phá băng của cục ngoài
    • PAN: Chế độ đảo gió (Chỉ dùng cho các mẫu máy làm lạnh). Khi nhiệt độ phòng đạt được theo nhiệt độ đã đặt. Quạt sẽ chạy chậm lại hay dừng khi nhiệt độ trong phòng giảm xuống 2 độ C so với nhiệt độ đã cài đặt

    Bạn đã hiểu Fan speed là gì rồi chứ? Nếu bạn đã bật điều hòa xuống , rất có thể điều hòa nhà bạn đã bị hỏng hoặc hết ga. Tốt hơn cả, hãy nhờ sự trợ giúp của thợ sửa điều hòa của Điện nước Đô Thị để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.

    Dịch vụ bảo dưỡng điều hòa tại Ba Đình

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Điều Hòa Fujiaire Và Casper
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Fujiaire Đạt Hiệu Quả Cao Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Điều Hòa Fujiaire Các Chức Năng Tiết Kiệm Điện
  • Nhưng Câu Lệnh Cơ Bản Trên Điều Khiển Của Máy Điều Hòa Electrolux
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Electrolux Inverter 2 Chiều
  • Điều Hòa Biểu Hiện Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Cấu Tạo Và Chức Năng Của 23…
  • Protein Màng Cấu Trúc – Chức Năng
  • Protein Là Gì? Tác Dụng Của Protein Và Các Thực Phẩm Giàu Protein Cho Cơ Thể
  • Huyết Tương Là Gì? Thành Phần, Chức Năng, Vai Trò Chính
  • Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Như chúng ta đã biết ba quá trình thiết yếu cho sự tồn tại của tế bào, đó là: tái bản, phiên mã và dịch mã. Tuy nhiên, tế bào không thể tồn tại độc lập với môi trường chung quanh. Như vậy, sẽ nảy sinh một vấn đề quan trọng: tế bào sẽ điều chỉnh hoạt động của mình như thế nào cho phù hợp với các biến đổi của môi trường bên ngoài để có thể tồn tại thích ứng? Chương này sẽ đề cập đến các phương thức điều chỉnh đó, tức là các cơ chế điều hòa sự biểu hiện của gen ở các sinh vật prokaryote và eukaryote.

    Trong mọi tế bào, tất cả các gen đều không hoạt động đồng thời. Ví dụ: tế bào E. coli có khoảng 107 phân tử protein gồm 3.000 loại khác nhau. Nhiều loại protein có đến 500.000 phân tử, tuy nhiên một số loại khác chỉ khoảng 10 phân tử. Như vậy, không phải loại protein nào cũng được tổng hợp với số lượng lớn như nhau và tế bào phải có những cơ chất để tổng hợp protein một cách tiết kiệm và hợp lý nhất.

    Một số gen hoạt động thường xuyên cung cấp sản phẩm liên tục, một số khác chỉ biểu hiện ở những giai đoạn nhất định trong chu trình sống và có thể chỉ hoạt động trong điều kiện môi trường không bình thường. Một số protein cần được tổng hợp với số lượng lớn, một số khác chỉ cần có một phân tử. Do vậy, hoạt tính của gen được điều hòa bởi nhiều cơ chế khác nhau để có hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nguồn năng lượng của tế bào.

    I. Các hiện tượng điều hòa

    Để duy trì nội cân bằng (homeostasis) và sự phát triển của cơ thể, các sinh vật đã có các cơ chế điều hòa khác nhau. Các kiểu điều hòa đều bắt nguồn từ sự biểu hiện của các gen.

    1. Điều hòa thích nghi

    Một số amip (ameba) biểu hiện sự thay đổi hình thái và sinh lý đặc biệt để đáp lại các điều kiện môi trường khác nhau. Khi các amip được cho vào nước, chúng chuyển từ dạng amip sang dạng có lông để bơi. Khi môi trường thiếu dinh dưỡng chúng có thể chuyển thành các dạng tương tự như biểu bì.

    Vi khuẩn trong môi trường dinh dưỡng tối thiểu có khả năng tổng hợp amino acid. Nhưng khi bổ sung amino acid vào môi trường nuôi, vi khuẩn sẽ ngừng tổng hợp amino acid. Lúc nguồn amino acid từ ngoài bổ sung vào đã hết, tế bào vi khuẩn lại tự tổng hợp lại amino acid cho bản thân.

    Các biến đổi nêu trên là thuận nghịch, chứng tỏ sự thay đổi chức năng ở đây không phải do biến dị di truyền. Các hiện tượng trên còn cho thấy việc xuất hiện hay biến mất các cấu trúc mới không làm ảnh hưởng đến tiềm năng di truyền sẵn có. Có thể cho rằng, có trường hợp một số gen hoạt động, nhưng cũng có trường hợp một số gen ngừng biểu hiện. Các hiện tượng được đề cập trên đều do cơ chế điều hòa thích nghi (adaptive regulation) chi phối.

    2.

    Hoạt động nối tiếp của các gen

    Khi bacteriophage xâm nhiễm vi khuẩn, DNA của nó lúc đầu sẽ tái bản, sau đó các protein khác nhau mới được tổng hợp nên để tạo thành vỏ. Như vậy, có các gen “sớm” tạo ra enzyme tái bản DNA và các gen “muộn” xác định các thành phần vỏ protein. Điều đó chứng tỏ có cơ chế điều hòa chức năng của gen diễn ra theo một trình tự nghiêm ngặt. Đây là kiểu điều hòa nối tiếp (sequential regulation). Hoạt động nối tiếp của các gen còn thể hiện rõ trong quá trình phát triển cá thể của các sinh vật eukaryote đa bào.

    3.

    Biệt hóa tế bào

    Nhiều sinh vật bậc cao như con người chứa nhiều tỷ tế bào bắt nguồn từ một hợp tử do phân chia nguyên nhiễm. Từ một hợp tử ban đầu đến khi trưởng thành, cơ thể người có khoảng 200 loại tế bào khác nhau. Mỗi loại tế bào chỉ biểu hiện một phần thông tin của mình. Quá trình chuyên môn hóa chức năng của tế bào được gọi là sự biệt hóa hay phân hóa (differentiation).

    Tuy có sự biệt hóa, nhưng tế bào vẫn giữ nguyên vẹn khả năng di truyền của mình. Một ví dụ rất rõ là nuôi cấy mô tế bào thực vật (plant tisue and cell culture): người ta có thể nuôi cấy một phần mô phân sinh trong môi trường dinh dưỡng tổng hợp cho đến khi chúng phát triển thành cây in vitro hoàn chỉnh (plantlet), các cây này sau đó được đưa ra trồng trong điều kiện tự nhiên và đã ra hoa kết quả.

    4. Khái quát về điều hòa ở prokaryote và eukaryote

    Có sự khác nhau đáng kể giữa prokaryote và eukaryote trong điều hòa biểu hiện của gen. Các tế bào eukaryote có cấu tạo phức tạp hơn nhiều nên cơ chế điều hòa cũng phức tạp hơn prokaryote.

    Ở prokaryote, mục đích của sự điều hòa biểu hiện gen là nhằm điều chỉnh hệ enzyme cho phù hợp với các tác nhân dinh dưỡng và lý hóa của môi trường, đảm bảo được hai yêu cầu chính của tế bào là sinh trưởng và sinh sản. Sự điều hòa ở đây rất linh động và có tính thuận nghịch. Ở eukaryote, do tế bào không tiếp xúc trực tiếp với môi trường, nên sự điều hòa ở đây không còn nhằm mục đích đối phó với các biến động ở ngoại bào. Sự điều hòa ở eukaryote hướng đến việc chuyên biệt hóa từng loại tế bào vào từng cấu trúc và chức năng riêng và vì thế không mang tính thuận nghịch.

    Ba thành phần chính của sự điều hòa biểu hiện gen là: 1) Tín hiệu gây ra đáp ứng làm thay đổi biểu hiện gen; 2) Giai đoạn được thực hiện sự điều hòa trong quá trình từ tái bản đến dịch mã; và 3) Cơ chế phân tử của sự điều hòa biểu hiện gen.

    4.1. Sự biểu hiện của gen ở prokaryote

    Bộ máy di truyền của sinh vật prokaryote là một DNA mạch vòng chứa một số lượng gen giới hạn được phiên mã ở trạng thái tiếp xúc trực tiếp với tế bào chất (Hình 8.1).

    Chu trình tế bào ngắn và không có sự biệt hóa tế bào. Vì thế, hoạt động của các gen được điều hòa do các nhu cầu của tế bào khi cần thiết. Tác động của các nhân tố môi trường làm những gen tương ứng được mở để phiên mã, dịch mã tổng hợp protein hay có hiệu quả ngược làm dừng lại.

    Hình 8.1. Sự biểu hiện gen ở prokaryote

    4.2. Sự biểu hiện của gen ở eukaryote

    Khác với prokaryote, nhiễm sắc thể của eukaryote có cấu trúc phức tạp. Ngay trên cấu trúc nhiễm sắc thể có sự tham gia của các protein histone có vai trò điều hòa biểu hiện của gen. Sự điều hòa biểu hiện gen ở eukaryote phải qua nhiều mức điều hòa phức tạp hơn so với prokaryote và qua nhiều giai đoạn như: nhiễm sắc thể tháo xoắn, phiên mã, biến đổi hậu phiên mã, mRNA rời nhân ra tế bào chất, dịch mã và biến đổi hậu dịch mã (Hình 8.2).

    Ngoài ra, đa số eukaryote có cơ thể đa bào và mỗi tế bào có biểu hiện sống không phải tự do, mà chịu sự biệt hóa theo các chức năng chuyên biệt trong mối quan hệ hài hòa với cơ thể.

    Các vi khuẩn thường phản ứng trực tiếp với môi trường và biểu hiện gen thuận nghịch, như có đường lactose thì mở operon để phân hủy, khi hết đường thì operon đóng lại. Trong khi đó, các tế bào eukaryote có những con đường biệt hóa khác nhau và sự chuyên hóa là ổn định thường xuyên trong đời sống cá thể. Ngoài sự biệt hóa tế bào, các cơ thể eukaryote đa bào còn trải qua quá trình phát triển cá thể với nhiều giai đoạn phức tạp nối tiếp nhau, trong đó có những gen chỉ biểu hiện ở phôi và sau đó thì dừng hẳn.

    Tất cả những điểm nêu trên cho thấy sự điều hòa biểu hiện của gen eukaryote phức tạp hơn nhiều, mà hiện nay lại được biết ít hơn prokaryote.

    Hình 8.2. Sự biểu hiện gen ở eukaryote

    II. Các mức độ điều hòa

    Các cơ chế điều hòa sự biểu hiện của gen có thể tác động ở một hay nhiều mức độ khác nhau. Sự điều hòa có thể xảy ra ở mức độ gen bằng sự kiểm soát thời gian và tốc độ phiên mã. Các cơ chế khác có thể hoạt động lúc dịch mã hoặc sau dịch mã.

    1. Mức độ chất nhiễm sắc

    Ngay trên chất nhiễm sắc có thể thực hiện các kiểu sau:

    DNase cắt một số vùng trên genome làm tháo xoắn để các gen biểu hiện. Hai vùng được lưu ý đó là các vùng nhạy cảm (sensible) và siêu nhạy cảm (hypersensible).

    Methyl hóa các base. Ở các prokaryote sự methyl hóa có thể thực hiện đối với A và C, còn ở eukaryote sự methyl hóa chỉ thực hiện với C vị trí thứ 5. Methyl hóa làm gen ngừng hoạt động. Ví dụ: nhiễm sắc thể X bất hoạt ở người thuộc loại siêu methyl hóa. Nói chung, sự thay đổi cấu hình (reconfiguration) có thể ảnh hưởng đến sự biểu hiện của gen.

    2. Mức độ phiên mã

    Đây là sự điều hòa ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở hoặc đóng của gen. Kiểu điều hòa này thường gặp trong điều hòa trao đổi chất, cũng như các quá trình biệt hóa tế bào.

    Sự tác động của các trình tự cis (gần kề, liền kề) nằm trên cùng mạch DNA như enhancer (vùng tăng cường) làm tăng sự phiên mã.

    Điều hòa bởi các nhân tố trans (cách quãng, từ xa) do các nhân tố không nằm cùng trên một mạch DNA.

    Chọn lựa promoter thích hợp.

    Sự suy yếu/suy thoái.

    3.

    Mức độ hậu phiên mã

    Splicing khác nhau.

    Điểm polyadenine hóa khác nhau (polyadenylation). – Đột biến trên phân tử mRNA.

    Bán chu kỳ phân hủy của mRNA. – Sự bảo tồn các RNA trong tế bào.

    4.

    Mức độ dịch mã

    Sự biến đổi của các nhân tố khởi đầu IF (inititation factor). Là các protein kết hợp với tiểu đơn vị của ribosome vào giai đoạn khởi động của quá trình dịch mã.

    5.

    Mức độ hậu dịch mã

    Ở đây có sự điều hòa hoạt tính của protein. Sau khi mạch polypeptide được tổng hợp, các protein nhiều khi phải trải qua các biến đổi thứ cấp trước khi biểu hiện hoạt tính (chức năng). Ví dụ: trypsin là enzyme phân giải protein trong dạ dày chỉ có được hoạt tính sau khi chất tiền thân của nó (pro-enzyme không có hoạt tính) bị cắt mất một đoạn polypeptide.

    Các protein có thể chịu những biến đổi lập thể như sự kết hợp các enzyme với một số sản phẩm đặc biệt có thể làm thay đổi cấu trúc không gian của chúng dẫn đến mất hoạt

    tính.

    Các quá trình glycosylation, phosphorylation… tức là gắn thêm các nhóm chất như đường, phosphor… để protein có hoạt tính/chức năng sinh học.

    Peptide tín hiệu là đoạn gồm khoảng 20 amino acid nằm gần phía đầu N của polypeptide, có vai trò gắn polypeptide và ribosome đang tổng hợp mạch này với mạng lưới nội sinh chất. Trong bộ máy Golgi, polypeptide được phóng thích ra ngoài.

    Sự phóng thích ra protein có chức năng sinh học từ một phức hợp, như từ proinsulin thành insulin.

    III. Điều hòa biểu hiện gen ở prokaryote

    Các gen được phiên mã tạo RNA, được gọi là các gen cấu trúc. Các protein được dịch mã từ mRNA có thể là enzyme hoặc không phải enzyme. Trong số các protein không phải enzyme có các protein điều hòa (regulatory protein), chúng tương tác với các trình tự DNA đặc hiệu để kiểm soát hoạt tính phiên mã của các gen cấu trúc. Các gen tổng hợp các protein điều hòa được gọi là các gen điều hòa (regulatory gen). Phía trước mỗi gen cấu trúc (hoặc một nhóm gen) có một trình tự promoter, nơi RNA polymerase nhận biết (Hình 8.3). Cơ chế điều hòa ở prokaryote chủ yếu được thực hiện thông qua operon. Đây là khái niệm chỉ tồn tại ở prokaryote.

    Hình 8.3. Phương thức chung điều hòa biểu hiện gen ở prokaryote

    1.

    Cấu trúc của promoter

    Thực chất của khởi sự phiên mã là quan hệ trực tiếp giữa RNA polymerase và promoter. Khi RNA polymerase gắn vào promoter, nó sẽ phiên mã tạo phân tử RNA.

    Phần lớn promoter ở E. coli về căn bản có cùng cấu trúc:

    Nếu base đầu tiên được phiên mã thành mRNA (luôn là purine, thường là adenine) được đánh số +1, thì tất cả các base phía 5’ hay “phía trước” so với nó không được phiên mã là số trừ (-). Ngay phía trước +1 có 6 base thường với trình tự TATAAT ở xung quanh -10, và trình tự TTGACA (trình tự liên ứng-consensus sequence) ở xung quanh -35. Cả hai trình tự phối hợp nhau cho phép RNA polymerase gắn vào và khởi sự dịch mã, trình tự -35 tạo điều kiện đầu tiên cho việc gắn vào.

    2.

    Cấu trúc của operon

    Operon là đơn vị phiên mã gồm ít nhất một promoter và mRNA ở bước tiếp theo để mã hóa cho các trình tự của một hay nhiều chuỗi polypeptide. Tuy nhiên, operon có thể có một hay nhiều điểm điều hòa khác với promoter. Các gen không chịu sự điều hòa do tác động môi trường, tạo sản phẩm thường xuyên, được gọi là các gen cấu trúc. Số lượng sản phẩm của các gen này có thể dao động phụ thuộc vào ái lực tương đối của các promoter của chúng đối với RNA polymerase. Các promoter có ái lực mạnh (strong promoter) tạo ra nhiều sản phẩm của gen hơn các promoter có ái lực yếu. Các gen mà sản phẩm protein của chúng được tổng hợp đáp lại với các nhân tố môi trường, thường được điều khiển bởi một hay nhiều protein điều hòa. Trình tự DNA bên trong operon, nơi mà protein ức chế gắn vào, được gọi là operator (điểm điều hành). Việc gắn protein ức chế lên operator ngăn cản sự phiên mã của tất cả các gen cấu trúc trên cùng một operon. Sự kiểm soát như vậy đối với với gen gọi là kiểm soát âm. Các operon của vi khuẩn thường tạo ra các mRNA đa gen, nhưng mRNA của eukaryote chỉ một gen.

    Các protein cần thiết cho biểu hiện gen được gọi là chất hoạt hóa. Chúng có thể gắn với các điểm khởi sự nằm bên trong của promoter của operon hay điểm tăng cường hoặc có thể gắn ở những trình tự xa operon. Việc gắn của protein điều hòa vào điểm khởi đầu (initiator) hay enhancer, kích thích sự phiên mã của các gen cấu trúc, được gọi là cơ chế kiểm soát dương. Sự kích thích để các gen điều hòa phản ứng có thể là từ các phân tử tương đối nhỏ như đường, amino acid đến các phân tử lớn hơn như các phức hợp hormone steroid và các protein thụ thể (receptor). Chất làm cho gen phiên mã được gọi là chất cảm ứng, có tác động ngược với chất kìm hãm. Các gen cảm ứng thường tham gia vào các phản ứng thoái dưỡng (catabolic reaction), như phân hủy các polysaccharide thành đường đơn. Các gen ức chế thường tham gia vào các phản ứng biến dưỡng thực hiện việc tổng hợp các chất như amino acid từ các tiền chất đơn giản hơn.

    3.

    Điều hòa thoái dưỡng: Kiểm soát âm-cảm ứng

    Trong thoái dưỡng, các chất thức ăn được phân hủy dễ dàng tạo năng lượng hoặc các chất cần thiết cho quá trình tổng hợp. Cơ chế điều hòa ở đây là sự có mặt của cơ chất (ví dụ lactose) dẫn tới tổng hợp các enzyme phân hủy.

    Ví dụ điển hình cho trường hợp này là operon lactose của E. coli. 

    β

    -galactosidase là enzyme có chức năng đôi. Chức năng đầu tiên của nó là thoái dưỡng lactose thành glucose và galactose. Chức năng thứ hai của nó là chuyển liên kết 1-4 của glucose và galactose thành liên kết 1-5 của allolactose. Bình thường enzyme này không hiện diện ở nồng độ cao trong tế bào, khi vắng mặt lactose trong môi trường. Ngay sau khi cho lactose vào môi trường nuôi khi không có glucose, enzyme này bắt đầu được tạo ra. Sự vận chuyển lactose xuyên qua màng tế bào có hiệu quả nhờ protein vận chuyển galactoside permease. Protein cũng xuất hiện với nồng độ cao khi có lactose trong môi trường.

    Sự điều hòa của operon lactose còn phụ thuộc vào nồng độ glucose trong môi trường. Nồng độ glucose này lại kiểm soát nồng độ bên trong tế bào của phân tử nhỏ cAMP (cyclic adenosine monophosphate), là chất bắt nguồn từ ATP và làm tín hiệu báo động cho tế bào. Tế bào có xu hướng sử dụng glucose hơn là lactose để làm nguồn carbon vì glucose được biến dưỡng trực tiếp cung cấp carbon và tạo năng lượng. Các enzyme biến dưỡng glucose thuộc loại cấu trúc và tế bào tăng trưởng tối đa với nguồn glucose. Khi nguồn glucose cạn, tế bào phản ứng lại bằng cách tạo ra c-AMP. Việc tăng nồng độ c-AMP trong tế bào gây nên hàng loạt sự kiện, trong sự hiện diện của lactose, dẫn đến sự phiên mã các gen cấu trúc của operon lactose.

    3.1.

    Cấu trúc của operon lactose 

    Hệ thống lactose (lactose system) bình thường (Hình 8.4) gồm có gen điều hòa (i hoặc R) và operon mang trình tự promoter (P) locus operator (O) và ba gen cấu trúc cho 

    β

    -galactosidase (Z), permease (Y) và transacetylase (A). Nhiều đột biến ở các locus này đã được phát hiện.

     3.2.

    Hoạt động của hệ thống

    Điều kiện cảm ứng (có lactose). Lactose được chuyển vào tế bào rất yếu vì chỉ có vài phân tử permease làm việc. Khi vào trong tế bào, một số lactose (liên kết 

    β

    -1,4) được chuyển thành allolactose (liên kết 

    β

    -1,6) nhờ 

    β

    -galactosidase. Allolactose là chất cảm ứng, nó gắn vào protein kìm hãm và gây biến đổi cấu hình tạo phức hợp allolactoserepssor. Phức hợp này mất khả năng gắn operator. Lúc này operon được mở, RNA polymerase bắt đầu phiên mã các gen cấu trúc. Toàn bộ sự kiện diễn ra như trên hình 8.4b.

    Điều kiện không cảm ứng (không có lactose). Gen điều hòa của operon thường xuyên tổng hợp protein kìm hãm (repssor protein) ở mức độ thấp, vì nó có promoter ít hiệu quả. Sự tổng hợp các protein này bị tác động do nồng độ lactose trong tế bào. Ngược lại, promoter bình thường của operon lac gắn với RNA polymerase rất có hiệu quả. Khi không có đường lactose, protein điều hòa hoạt động (active regulator protein) cò

    n gọi là protein kìm hãm gắn vào promoter hay “đọc” trình tự operator vì protein kìm hãm chiếm đoạn này. Như vậy, sự phiên mã của tất cả các gen cấu trúc của operon lac bị dừng (Hình 8.4a).

    Do số lượng permease tăng, nên lactose vào tế bào với số lượng lớn và được phân hủy bởi -galactosidase. Khi lactose được sử dụng hết, các protein kìm hãm gắn trở lại vào operator làm operon bị đóng; sự phiên mã các gen cấu trúc bị dừng.

    Bản thân gen điều hòa lacI chỉ có một promoter (Pi) và gen cấu trúc của protein kìm hãm. Promoter này yếu, khi các protein kìm hãm có số lượng lớn, nó bị các protein này gắn vào làm dừng phiên mã.

    Hình 8.4. Operon lactose và hoạt động của nó

    4.

    Điều hòa biến dưỡng: Kiểm soát âm-ức chế

    Biến dưỡng (anabolism) là quá trình tổng hợp nên các chất cần thiết cho tế bào. Ví dụ tổng hợp các amino acid.

    Quá trình tổng hợp tryptophan bắt đầu từ tiền chất tryptophan là chorismic acid, trải qua 5 giai đoạn kế tiếp do enzyme xúc tác. Hệ thống tổng hợp amino acid tryptophan ở E.

    coli là ví dụ điển hình về operon bị kìm hãm do sự kiểm soát âm.

    4.1.

    Cấu trúc và hoạt động

    Hệ thống tryptophan cũng có cấu trúc tương tự hệ thống lactose gồm gen điều hòa trpR và operon tryptophan (promoter, operator và 5 gen cấu trúc). Các gen cấu trúc xác định 5 enzyme được xếp theo thứ tự tương ứng với chức năng xúc tác theo trình tự các phản ứng của chuỗi biến dưỡng tryptophan (Hình 8.5).

    Hình 8.5. Operon tryptophan

    Sự khác nhau căn bản với hệ thống lactose là ở gen điều hòa. Gen điều hòa của hệ thống tryptophan tổng hợp thường xuyên aporepssor protein, là chất kìm hãm mà riêng nó không có hoạt tính. Khi tryptophan dư thừa nó trở thành chất corepssor (đồng kìm hãm) và kết hợp với aporepssor thành phức hợp kìm hãm (holorepssor) có hoạt tính. Phức hợp này gắn vào operator của operon tryptophan (trp) làm dừng phiên mã các gen cấu trúc. Khi nồng độ tryptophan thấp, nó tách khỏi phức hợp kìm hãm và aporepssor mất hoạt tính. Lúc này các operator lại được mở và RNA polymerase dịch mã 5 gen cấu trúc để tổng hợp 5 enzyme tạo tryptophan (Hình 8.5). Sự điều hòa kiểu này còn gọi là điều hòa ức chế ngược (retro-inhibition) do sản phẩm cuối cùng có mối liên hệ ngược (feed-back).

    Như vậy, hoạt động của hệ thống này ngược lại với hệ thống lactose: khi có tryptophan thì operon bị đóng, thiếu tryptophan thì gen được mở.

    4.2. Sự suy yếu (attenuation)

    Kiểu điều hòa thứ hai được phát hiện ở operon tryptophan được gọi là sự suy yếu. Ở đầu 5’ của mRNA đa gen (polycistronic) của operon này có 5 enzyme. Đoạn này được gọi là trình tự leader (trình tự chỉ huy). Một phần của trình tự này được phiên mã tạo leader peptide gồm 14 amino acid, mà chức năng đến nay chưa rõ.

    Cơ chế kiểm tra mà ở đó sự tổng hợp mRNA được bắt đầu nhưng kết thúc sớm với chiều dài mRNA ngắn hơn được gọi là sự suy yếu. Ví dụ: các tế bào E. coli đang tăng trưởng trong môi trường thiếu một amino acid nào đó, nhưng chưa đủ các enzyme cần có cho sự tổng hợp của tất cả 20 amino acid cần thiết để tạo ra protein. Khi thêm một amino acid (tryptophan) vào môi trường sẽ làm giảm đáng kể sự tổng hợp của các enzyme cần cho sự tạo amino acid đó. Phản ứng này có tính thích ứng và duy trì các nguồn enzyme không còn cần nữa khi sản phẩm cuối cùng của chuỗi sinh tổng hợp (tryptophan) đang có trong tế bào (ức chế ngược).

    Operon tryptophan có phương thức điều hòa hoạt động gen thứ hai, hoàn toàn độc lập với hệ thống repssor-operator (chất kìm hãm đoạn điều hành). Ở operon tryptophan, sự tổng hợp mRNA bắt đầu từ 161 base trước codon khởi sự của trpE, enzyme cấu trúc đầu tiên được phiên mã. Đột biến do mất đoạn DNA ngay phía trước trpE, giải phóng trpE khỏi sự kìm hãm của phức hợp repsser-operator. Các đột biến này làm tăng mức độ biểu hiện của cả operon lên gấp sáu lần. Tinh sạch các DNA được phiên mã in vitro cho thấy phần lớn mRNA kết thúc ở ngay base 139 và không bao giờ đạt tới trpE. Ở đây, có sự kìm hãm phiên mã ngay trước gen cấu trúc và khi mất nó sự biểu hiện của gen có hiệu quả hơn. Đoạn dài của mRNA nằm trước trpE được gọi là leader (trpL) và đoạn kìm hãm phiên mã được gọi là attenuator (trpa, chứ không phải trpA). Cuối cùng, quan sát cho thấy sự suy yếu dao động theo nồng độ của tryptophan thấp, nhiều phân tử mRNA được tạo ra hơn qua attenuator và toàn bộ operon được phiên mã. Sự suy yếu là một phương thức khác để kiểm soát sự biểu hiện của gen.

    Hình 8.6. Sự suy yếu xảy ra khi cấu trúc thứ cấp đặc biệt tạo thành trong mRNA. mRNA được trình bày ở đây là từ trình tự leader của operon trp. Nếu tryptophan trong tế bào phong phú và trình tự leader được phiên dịch nhanh, thì mRNA sẽ tạo thành cấu trúc thân và quai (stem-andloop) hoạt động như là một tín hiệu kết thúc phiên mã.

    Attenuator có chức năng như điểm kết thúc chỉ khi tryptophan hiện diện. Sự phiên mã dừng khi trình tự leader đạt attenuator. Nếu có đủ trytophan trong tế bào, sự dịch mã của các codon được thực hiện, và cả phiên mã và dịch mã được thực hiện hoàn chỉnh cho đến lúc RNA polymerase đạt tới điểm attenuator, nơi kết thúc sự phiên mã. Khi không có trytophan, dịch mã dừng và phần leader của mRNA cuộn lại sao cho attenuator không thực hiện chức năng, trong trường hợp này sự tổng hợp của mRNA toàn vẹn cho operon tryptophan được tạo ra. Với sự hiện diện của các enzyme đó, trytophan được tích lũy với số lượng lớn trong tế bào. Attenuator là dạng tinh tế của sự ức chế, điều hòa hoạt động gen, tạo đặc hiệu cho sự tổng hợp amino acid trong tế bào.

    Cơ chế repssor điều hòa thô hệ thống tryptophan, trong khi đó hệ thống cơ chế attenuation kiểm soát nồng độ tryptophan một cách tinh tế. Sự suy yếu của operon Trp cũng nhạy cảm với nồng độ của một số amino acid như histidine và leucine.

    5. Kiểm soát dương và cảm ứng

    Cơ chế điều hòa dương, cảm ứng được tìm thấy ở operon arabinose của E. coli. Arabinose là chất đường, cần ba enzyme (được mã hóa bởi các gen araB, araA và araD) cho sự biến dưỡng. Hai gen khác nằm xa operon góp phần đưa arabinose vào tế bào. Gen điều hòa araC nằm gần các gen B, A và D. Sản phẩm của gen araC là protein kìm hãm của operon khi không có đường arabinose.

    Tuy nhiên, khi có đường arabinose trong tế bào, nó gắn với repssor (protein araC) hình thành nên phức hợp activator (hoạt tố) tạo thuận tiện cho sự phiên mã của RNA polymerase.

    Trên thực tế, các nghiên cứu cho thấy cơ chế điều hòa này rất phức tạp. Ví dụ: cAMP và protein hoạt hóa thoái dưỡng (catabolite gene activator protein) còn được gọi là CRP (cyclic AMP receptor protein-protein thể nhận cAMP) đều tham gia vào sự điều hòa của hệ thống arabinose.

    Hình 8.7. Operon arabinose của E. coli

    IV. Điều hòa hoạt tính của eukaryote

    Các cơ chế điều hòa ở eukaryote có thể xảy ra ở 5-6 mức độ khác nhau (xem mục II). Trong phần này chỉ nhấn mạnh thêm một số đặc điểm của điều hòa hoạt động gen ở eukaryote:

    Ở các operon của prokaryote, các gen điều hòa và các promoter thường nằm gần nhau, nhưng ở eukaryote các gen điều hòa ít khi nằm gần các promoter do chúng kiểm

    soát.

    Các enhancer là những trình tự cùng nằm trên một phân tử với các promoter có thể có hàng trăm cặp base ở phía trước hoặc phía sau promoter mà chúng kích thích.

    Trình tự điều hòa 5’ ở phía trước có promoter ở eukaryote thường rất dài, có khi hàng chục kilobase (kb).

    Có nhiều kiểu điều hòa ở dạng các nhân tố có tác động từ xa (trans) là các protein.

    Sự phiên mã có thể được kích thích bởi các tín hiệu khác nhau. Sự điều hòa hoạt động gen ở prokaryote phần lớn đáp ứng lại các tín hiệu bên trong.

    1. Các promoter

    Tương tự như ở vi khuẩn, các promoter của eukaryote cùng nằm phía trước điểm xuất phát của mRNA và có những trình tự được bảo tồn trong tiến hóa. Hộp TATA, định hướng cho RNA polymerase bắt đầu phiên mã, nằm khoảng dưới 30 basepair (bp) ở động vật có vú, và 60-120 ở nấm men. Hộp TATA hoạt động có hiệu quả cùng với hai trình tự tương ứng phía trước khoảng 40 bp là CCAAT và 110 bp là trình tự giàu GC.

    Sự thay đổi hộp TATA làm giảm tốc độ phiên mã. Hiệu quả của tốc độ phiên mã được đo bằng sự thay đổi của từng base trong promoter, các thay đổi base ngoài hộp TATA và các trình tự phía trước không gây hiệu quả đối với tốc độ phiên mã, trong khi đó các thay đổi ở những yếu tố được nêu trên làm giảm đáng kể tốc độ phiên mã. Khác với promoter của prokaryote, các promoter của eukaryote khó đảm bảo nhận biết các tín hiêu một cách đầy đủ để RNA polymerase khởi sự phiên mã in vitro. Hộp TATA và các trình tự phía trước phải được nhận biết bởi các protein điều hòa, và chính các protein này gắn với các điểm nhất định trên chúng và hoạt hóa sự phiên mã.

    2. Các enhancer

    Enhancer là các trình tự có tác động cis (liền kề), chúng tăng tốc độ phiên mã đáng kể từ các promoter nằm ngay trên cùng một phân tử DNA. Tính độc đáo của các enhancer là ở chỗ chúng có khả năng thực hiện một cách hiệu quả khi ở một khoảng cách rất xa, có khi đến vài nghìn cặp base. Ngoài ra, chúng có hoạt động chức năng ở bất kỳ hướng nào, dù ở phía trước hay phía sau promoter.

    Xét trên một góc độ nào đó, các enhancer tương tự promoter. Cụ thể, chúng được tổ chức gồm một dãy các trình tự có tác động cis để nhận biết các nhân tố tác động từ xa (trans) (Hình 8.8).

    3. Các protein là nhân tố có tác động trans

    Một vài protein, nhận biết hộp CCAAT, đã được xác định ở tế bào động vật có vú. Các nhân tố này có thể được phân biệt giữa các đơn vị của các phân tử CCAAT. Các hộp GC được nhận biết bởi các nhân tố phụ. Các ví dụ về các tác động trans (trans-acting factor) đã tìm thấy ở nấm men và động vật có vú. Các nhân tố trans có đặc điểm chung là gồm hai vùng cấu trúc và chức năng chính:

    Vùng gắn nhân tố trans vào DNA.

    Vùng tác động lên sự phiên mã.

    Đồng thời các nhân tố trans có bốn kiểu tác động như:

    “ngón tay kẽm” (zinc-finger)

    “xoắn-vòng-xoắn” (helix-turn-helix)

    “xoắn-nút-xoắn” (helix-loop-helix)

    “dây kéo leucine” (leucine-zipper) (Hình 8.9).

    Hình 8.8. Enhancer của DNA eukaryote

    Đặc tính chung của các cấu trúc vừa kể là chúng luôn luôn gắn lên các trình tự cis dưới dạng dimer (gồm hai dimer).

    Trình tự cis và nhân tố trans thường có các tương tác đặc hiệu do những liên kết yếu hình thành giữa các phân tử của nhân tố trans với các base của trình tự cis. Ví dụ, trường hợp tương tác giữa các hormone steroid với các enhancer.

    Nhiều protein có tác động trans tham gia vào tiến trình phát triển của cơ thể ruồi giấm, chúng có vai trò đặc biệt trong xác định sự sắp xếp các đoạn thân của ruồi.

    Như vậy, các gen eukaryote được hoạt hóa bởi hai trình tự DNA có tác động cis là promoter và enhancer, chúng nhận biết được các nhân tố protein có tác động trans, các nhân tố trans cho phép RNA polymerase khởi sự phiên mã và đạt tốc độ phiên mã tối đa.

    Hình 8.9. Các kiểu tác động của nhân tố trans

    4. Hormone

    Ví dụ rõ nhất về các chất điều hòa nội tại của hoạt tính gen là hormone. Đó là những chất tạo ra do một loạt tế bào có hiệu quả đến các tế bào khác. Các hormone thường được vận chuyển đến các phần của cơ thể nhưng chỉ tác động đến các tế bào có các receptor tương ứng.

    Sự tương tác giữa hormone với receptor gây ra tín hiệu tác động đến các vùng đặc trưng của DNA, gây hoạt hóa gen hoặc một nhóm gen tương ứng.

    Các hormone có thể kích thích phiên mã bởi một trong các cơ chế sau:

    Hormone có thể làm cho DNA tách khỏi histone và tạo điều kiện cho RNA polymerase bắt đầu phiên mã.

    Có thể làm chất cảm ứng (inducer) gây bất hoạt phân tử receptor.

    Có thể gắn trực tiếp với đoạn DNA đặc hiệu tạo thuận lợi cho việc gắn RNA polymerase hoặc protein là nhân tố phiên mã (protein transcription factor).

    Có thể hoạt hóa effector protein làm thành phức hợp gắn DNA và kích thích gắn RNA polymerase.

    Có thể gắn với protein tạo phức hợp hoạt hóa kích thích gắn RNA polymerase.

    5.

    Kiểm soát các chất thường gặp trong nhân

    Một số nhóm phân tử hiện diện rất nhiều trong mỗi tế bào eukaryote, như các histone, các chất của bộ máy dịch mã, các cấu phần của màng… Vài chương trình khác nhau được thực hiện để duy trì số lượng đủ lớn của chúng trong tế bào. Các chương trình đó gồm:

    Sự phiên mã liên tục và lặp lại trong tế bào.

    Sự lặp lại các gen.

    Sự khuếch đại ngoài nhiễm sắc thể các trình tự gen đặc hiệu.

    5.1.

    Sự phong phú 

    Các gen mã hóa cho rRNA và tRNA đã được nghiên cứu kỹ. Phản ứng lai đơn giản DNA-RNA cho thấy nhiễm sắc thể của Xenopus có vùng tổ chức hạch nhân (nucleolus organizer) chứa 450 bản sao của DNA mã hóa cho 18S và 28S rRNA. Ngược lại, trong mỗi nhân có 20.000 bản sao của các gen mã hóa cho 5S rRNA và các gen này không nằm ở vùng tổ chức hạch nhân.

    Các gen mã hóa cho histone cũng có với nhiều bản sao được lặp lại hàng trăm lần.

    Sự phong phú của các gen nêu trên đảm bảo đủ số lượng cần thiết cho dịch mã khi phải tổng hợp hàng triệu phân tử protein vào lúc cần thiết.

    5.2.

    Sự khuếch đại gen

    Một ví dụ về sự khuếch đại gen trong nhân là các chỗ phình (puff) của nhiễm sắc thể khổng lồ hay đa sợi (polytene chromosome) ở tuyến nước bọt của ruồi giấm. Ở các chỗ phình này, DNA nguyên nhiễm sắc (euchromatic) được khuếch đại khoảng vài nghìn lần.

    Trong nhân tế bào trứng của Xenopus, có hàng trăm nhân con ngoài nhiễm sắc thể (extrachromosome nucleoli) với kích thước khác nhau, mỗi nhân con chứa các vòng tròn rDNA kích thước khác nhau, mà vai trò đến nay chưa rõ. Các DNA vòng tròn này sản sinh nhiều rRNA ở mức hợp lý.

    V. Sự biệt hóa tế bào

    1.

    Các tế bào biệt hóa mang thông tin giống nhau

    Ở các sinh vật bậc cao cũng như ở người, cơ thể trưởng thành gồm nhiều loại tế bào khác nhau. Các tế bào này đều bắt nguồn từ một hợp tử ban đầu, nhưng đã qua quá trình biệt hóa trở thành các tế bào có các chức năng khác nhau. Tuy nhiên, thực nghiệm xác định rằng số lượng nhiễm sắc thể, số lượng DNA và cả tỷ lệ (A+T)/(G+C) của các tế bào thuộc các mô khác nhau của cùng một cơ thể đều giống nhau. Sử dụng kỹ thuật lai DNA cho thấy DNA từ những tế bào của các mô khác nhau của cùng một cơ thể không bị biến đổi trong quá trình biệt hóa, chúng có thể tự hồi tính (renaturation) với nhau.

    Thí nghiệm ghép nhân tế bào ruột ếch vào tế bào trứng bị hỏng nhân (do chiếu tia tử ngoại) cho thấy 1% tế bào ghép nhân phát triển thành ếch trưởng thành. Điều này chứng tỏ tế bào ruột tuy đã biệt hóa vẫn giữ nguyên vẹn thông tin di truyền để tạo ra ếch trưởng thành.

    Tóm lại, số lượng DNA của các tế bào biệt hóa về căn bản giống với các hợp tử ban đầu và chứa nguyên vẹn thông tin di truyền đủ để phát triển thành cá thể nguyên vẹn.

    2.

    Các tế bào biệt hóa tổng hợp các nhóm protein khác nhau

    Để hiểu được sự khác nhau giữa các tế bào biệt hóa, cần xét nhiều vấn đề sau:

    Thứ nhất, nhiều quá trình là chung cho tất cả các tế bào nên có nhiều protein giống nhau. Những protein này gồm số lượng nhiều, dễ phân tích như phần lớn các protein cấu trúc của thành tế bào và nhiễm sắc thể; một số protein căn bản của các bào quan (lưới nội sinh chất, bộ máy Golgi, các ribosome…). Nhiều protein có số lượng không nhiều như các enzyme khác nhau, tham gia vào các phản ứng trung tâm của quá trình trao đổi chất, đều hiện diện như nhau ở tất cả các kiểu tế bào.

    Thứ hai, một số protein có số lượng phong phú ở một số tế bào chuyên hóa mà việc phát hiện chúng cần có thử nghiệm riêng. Ví dụ, hemoglobin chỉ có thể phát hiện ở

    tế bào máu.

    Thứ ba, nếu như hơn 2.000 loại protein có số lượng dồi dào được so sánh giữa các kiểu tế bào biệt hóa của cùng một vi sinh vật với nhau bằng điện di hai chiều polyacrylamide, thì một số khác biệt đáng kể sẽ được tìm thấy. Dù sự so sánh giữa hai dòng tế bào nuôi cấy (như các dòng tế bào cơ và thần kinh) hay giữa các tế bào của cùng một mô của chuột (như gan và phổi), đại đa số các protein được phát hiện đều được tổng hợp ở cả hai loại tế bào và với tốc độ tổng hợp có thể khác nhau đến 105; chỉ có vài trăm protein hiện diện với số lượng khác nhau đáng kể ở hai kiểu tế bào.

    Các nghiên cứu cho thấy các tế bào eukaryote bậc cao tổng hợp từ 10.000-20.000 protein khác nhau. Phần lớn chúng có số lượng rất ít và khó phát hiện. Nếu các protein hiếm (minor protein) này khác nhau giữa các tế bào với mức độ tương tự các protein dồi dào, thì chỉ một số lượng nhỏ của chúng cũng đủ tạo nên nhiều khác biệt chuyên hóa lớn về hình thái và sinh lý của tế bào.

    Tế bào có thể thay đổi sự biểu hiện gen của chúng đáp lại tín hiệu bên ngoài.

    Phần lớn các tế bào chuyên hóa của sinh vật đa bào có khả năng thay đổi phương thức biểu hiện của gen để đáp lại tác động bên ngoài. Ví dụ: nếu tế bào bị tác động bởi glucocorticoid hormone, thì sự tổng hợp một số protein chuyên biệt được tăng vọt (Hình 8.10). Glucocorticoid được phóng thích ra khi bị đói bụng hay hoạt động mạnh và báo hiệu cho gan tăng cường tạo glucose từ amino acid hay các phân tử nhỏ khác nhau. Các protein, được tạo ra do các enzyme cảm ứng như tyrosine aminotransferase hỗ trợ biến tyrosine thành glucose. Khi hormone không còn nữa, sự tổng hợp các protein này giảm xuống mức bình thường.

    Các loại tế bào khác nhau phản ứng với glucocorticoid bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ ở tế bào mỡ, sự tổng hợp tyrosine transferase giảm, trong khi đó một số loại tế bào khác hoàn toàn không có phản ứng với glucocorticoid. Các ví dụ này minh họa cho tính chất chung của biệt hóa là các kiểu tế bào biệt hóa khác nhau thường phản ứng lại cùng một tín hiệu bên ngoài bằng nhiều cách khác nhau. Trên cơ sở đó, mỗi kiểu tế bào biệt hóa có một đặc tính ổn định thường xuyên. Các tính chất đó phản ánh sự biểu hiện lâu bền của các nhóm gen khác nhau.

    Hình 8.10. Tác dụng của glucocortcoid làm tăng mức độ biểu hiện của gen

    Như vậy, các tế bào biệt hóa chỉ sử dụng một phần thông tin. Nhiều loại tế bào chuyên hóa tổng hợp chủ yếu một số protein, ngoài các protein cấu trúc và protein cơ bản sử dụng cho các quá trình sinh lý bình thường. Ví dụ: tế bào cơ tổng hợp nhiều myosin, một protein quan trọng trong co cơ, hay tế bào biểu bì (epithelial) tổng hợp nhiều keratine. Như vậy, cũng như chứa thông tin di truyền giống nhau, nhưng mỗi loại tế bào biệt hóa chỉ sử dụng một phần thông tin: tổng hợp chủ yếu một số loại protein .

    3. Sự điều hòa ở mức phiên mã là nguồn gốc căn bản của các sai khác giữa những tế bào biệt hóa

    Nếu những sự biệt hóa giữa các kiểu tế bào khác nhau phụ thuộc vào các gen chuyên biệt mà tế bào biểu hiện, thì sự kiểm soát biểu hiện gen được thực hiện ở mức độ

    nào?

    Giả thuyết được chấp nhận hiện nay là trong các tế bào biệt hóa một số gen phiên mã, còn có các gen khác thì không. Không có sự kiện nào mâu thuẫn với giả thuyết này và nó giải thích hợp lý hơn cả tình trạng biệt hóa của các tế bào. Đối với phần lớn gen, sự kiểm soát phiên mã có tầm quan trọng hàng đầu, vì chỉ nó mới đảm bảo cho sự tổng hợp không dư thừa các chất trung gian.

    Việc phát hiện các gen điều hòa và các gen đóng hay mở giúp hiểu được sự điều hòa quá trình phát triển cá thể và biệt hóa tế bào. Genome đơn bội của tế bào người có số lượng DNA nhiều hơn gấp 1.000 lần so với genome của vi khuẩn. Tuy nhiên, số lượng gen cấu trúc ở người chỉ lớn hơn 10 lần số gen cấu trúc vi khuẩn. Điều đó cho thấy nhiều gen ở người tham gia vào các cơ chế điều hòa.

    Tóm lại, genome của tế bào chứa các trình tự nucleotide của DNA thông tin để tạo ra hàng nghìn các protein và phân tử RNA khác nhau. Tế bào chỉ biểu hiện điển hình một nhóm gen của nó và các kiểu tế bào biệt hóa khác nhau ở sinh vật đa bào được sản sinh ra do các nhóm gen khác nhau có sự biểu hiện không giống nhau. Hơn thế nữa, các tế bào có thể thay đổi phương thức biểu hiện các gen của chúng để đáp lại những thay đổi của môi trường, các tín hiệu đó từ các tế bào khác. Mặc dù tất cả các bước trong sự biểu hiện của gen về căn bản đều được điều hòa, nhưng đối với phần lớn các gen việc khởi sự phiên mã là điểm kiểm soát quan trọng nhất.

    1.

    Phạm Thành Hổ. 2003. Di truyền học. NXB Giáo dục, Hà Nội.

    2.

    Lê Đức Trình. 2001. Sinh học phân tử của tế bào. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

    3.

    Alberts B, Bray D, Lewis J, Raff M, Roberts K and Watson JD. 2002. Molecular Biology of the Cell. 3rd ed. Garland Publishing, Inc. New York, USA.

    4.

    Karp G. 2002. Cell and Molecular Biology: Concepts and Experiments. 3rd ed. John Wiley & Sons, Inc. New York, USA.

    5.

    Lewin B. 2000. Gene VII. Oxford University Press, Oxford, UK.

    6.

    Lodish H, Berk A, Matsudaira P, Kaiser CA, Krieger M, Scott MP,Zipursky SL and Darnell J. 2004. Molecular Cell Biology. 5th ed. Freeman and Company, New York, USA.

    7.

    Walker JM and Rapley R. 2000. Molecular Biology and Biotechnology. Chapman & Hall Limited, London, UK.

    8.

    Watson JD, Hopkins NH, Roberts JW and Weiner AM. 2004. Molecular Biology of the Gene. The Benjamin/Cummings Publishing Company, Inc. California, USA.

    9.

    Weaver RF. 2003. Molecular Biology. 2nd ed. McGraw-Hill Company, New

    York, USA

    Nguồn: Giáo trình Sinh học phân tử – Nguyễn Hoàng Lộc (chủ biên)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Di Truyền Học
  • So Sánh Adn Arn Và Protein Giống Và Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Đề Sinh Học 2 Khối 9 Từ 16
  • Cài Đặt Và Cấu Hình Zabbix Server Monitoring
  • Hướng Dẫn Cài Đặt Phần Mềm Monitor Zabbix
  • Quạt Dàn Nóng Điều Hòa Là Gì? Chức Năng Của Quạt Dàn Nóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Điều Hòa Không Khí Trên Ô Tô
  • Các Chế Độ, Tính Năng Trên Máy Lạnh Cực Hay Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Chế Độ Nào Mát Nhất Của Điều Hoà? Chế Độ Dry, Auto, Fan Hay Cool?
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Remote Điều Hòa Samsung Ar10Mvfhgwknsv
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Sử Dụng Điều Hòa Panasonic Cho Gia Đình
  • Quạt lốc điều hòa có cấu tạo gần giống như quạt điện thông thường với cánh quạt, motor quay và tụ điện. Quạt dàn nóng điều hòa có tác dụng tản nhiệt cho dàn nóng bằng cách hút không khí bên ngoài thổi vào trong dàn nóng giúp quá trình trao đổi nhiệt của dàn nóng diễn ra tốt hơn. Quá trình tản nhiệt của dàn nóng càng nhanh thì hiệu quả làm mát của điều hòa lại càng tốt. Ngược lại, nếu quá trình tản nhiệt của dàn nóng chậm sẽ khiến điều hòa không mát thậm chí làm cho điều hòa tự ngắt. Chính vì thế, quạt dàn nóng có vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động của điều hòa.

    Những chú ý về quạt dàn nóng các bạn nên biết

    2. Quạt dàn nóng chạy yếu: khi dàn nóng hoạt động, nếu bạn phát hiện quạt dàn nóng chạy yếu, chạy lờ đờ thì rất có thể quạt đã bị hỏng tụ hoặc kẹt trục khiến cho quạt chạy yếu làm giảm hiệu suất tản nhiệt ở cục nóng dẫn đến điều hòa chạy kém lạnh sau thời gian dài. Nếu phát hiện ra trường hợp này các bạn nên khắc phục sớm nhất có thể.

    3. Quạt dàn nóng chạy liên tục không dừng: quạt cục nóng chạy liên tục không dừng có rất nhiều nguyên nhân và đây cũng là một dấu hiệu bất thường của điều hòa. Tùy vào từng loại máy và nhiều yếu tố khác mới có thể kết luận tại sao quạt trong dàn nóng chạy liên tục không dừng. Tuy nhiên các bạn cần khắc phục sớm vấn đề này vì quạt chạy không dừng như vậy sẽ ảnh hưởng nhiều đến tuổi thọ của điều hòa.

    4. Quạt dàn nóng lúc chạy lúc không: nếu điều hòa của bạn vẫn làm mát bình thường nhưng bạn lại phát hiện quạt của dàn nóng lúc chạy lúc không thì đây là điều bình thường. Tuy nhiên, nếu quạt lốc dàn nóng lúc chạy lúc không và hiệu suất làm mát của điều hòa kém rõ rệt thì đây lại là vấn đề nghiêm trọng cần phải khắc phục ngay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Các Chức Năng Hoạt Động Của Hệ Thống Điều Hòa Trung Tâm
  • Những Chức Năng Nổi Trội Của Điều Hòa Daikin
  • Tìm Hiểu Về Các Chức Năng Trên Điều Hòa, Máy Lạnh Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Chức Năng Ion Của Máy Điều Hòa Nội Địa Nhật Bảo Vệ Sức Khỏe Và Hạnh Phúc Gia Đình Bạn
  • Chế Độ Powerful Là Gì? Khám Phá Tính Năng Của Nút Powerful
  • Chế Độ Dry Của Điều Hòa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Điều Hòa Phù Hợp Những Ngày Ẩm
  • Bóc Mẽ Chế Độ Dry Thần Thánh Tiết Kiệm Điện 10 Lần Của Điều Hòa
  • Khi Nào Điều Hòa Daikin Nên Sử Dụng Chế Độ Dry (Hút Ẩm)
  • Chế Độ Dry Của Điều Hòa Là Gì? Tác Dụng Thế Nào? Bấm Xem Sẽ Rõ!
  • Những Tính Năng Nổi Bật Của Điều Hòa Panasonic
  • Chế độ dry của điều hòa là chức năng làm khô, hút ẩm không khí. Vào những ngày mưa dầm, độ ẩm không khí trong phòng tăng cao thì bạn sử dụng chức năng này. Đây là chức năng mà điều hòa nào cũng có, nhưng nhiều người vẫn chưa biết cách sử dụng hiệu quả.

    Bài viết sau đây, chúng tôi xin gửi tới bạn cách sử dụng tính năng của chế độ dry máy lạnh chi tiết nhất. Xin mời các bạn cùng tham khảo.

    Điều hòa, có rất nhiều chế độ, tính năng khác nhau. Nhưng không phải ai cũng biết hết và cách sử dụng chúng ra sao

    Chế độ Dry của điều hòa là gì?

    Như đã nói, chức năng này sẽ làm giảm độ ẩm trong phòng. Khi bạn lựa chọn bật chế độ này thì quạt và hệ thống của máy lạnh vẫn chạy nhưng không phả ra khí lạnh. Chức năng phù hợp sử dụng vào thời điểm trời mưa ẩm ướt, độ ẩm trong không khí trong khoảng 70 – 90%.

    Ưu điểm của chế độ dry

    Tiết kiệm điện năng: chế độ dry góp phần duy trì nhiệt độ trong phòng, chứ không có hiệu quả làm lạnh. Vì thế chắc chắn sẽ tiết kiệm năng lượng hơn so với chế độ cool. Và đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho nhiều người khi có câu hỏi ” bật chế độ dry có tiết kiệm điện không?”.

    Hạn chế tiếng ồn: do không tạo khí lạnh nên máy nén không hoạt động. Chỉ có quạt gió nên máy hoạt động nhẹ nhàng hơn, tiếng ồn cũng giảm đi phần nào.

    Giảm độ ẩm: duy trì nhiệt độ khiến cơ thể cảm thấy thoải mái, không quá lạnh.

    – Nếu bật chế độ dry quá lâu sẽ làm khô da, gây nứt nẻ môi và tay chân.

    Vậy chế độ dry nên để bao nhiêu độ?

    Theo các chuyên gia, bạn nên để nhiệt độ phòng trong khoảng 25 – 26 độ là thích hợp nhất.

    Ví dụ, khi bạn cài đặt chế độ Dry ở 25 độ và độ ẩm trong phòng cao khoảng 70 – 90%. Lúc này, điều hòa sẽ làm khô không khí đến khi nhiệt độ xuống khoảng 25 độ và dừng lại. Đến khi độ ẩm tăng khiến nhiệt độ cao trở lại. Máy sẽ tiếp tục hoạt động để duy trì độ ẩm ổn định ở mức cài đặt.

    Cách bật chế độ dry ở điều hoà

    Để bật điều hòa chế độ dry thì nó tùy thuộc vào từng loại, từng thương hiệu. Mỗi kiểu máy lạnh sẽ có cách bật khác nhau. Nhưng muốn bật thì bạn cần phải biết được biểu tượng dry ở trên điều khiển.

    Bật chế độ dry của điều hòa panasonic

    Panasonic là thương hiệu điều hòa tốt nhất hiện nay được nhiều gia đình lựa chọn sử dụng

    Bật chế độ dry của điều hòa mitsubishi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Thật Về Chế Độ Dry Trên Điều Hòa Giúp Tiết Kiệm Điện 10 Lần
  • Nên Để Điều Hòa Ở Chế Độ Cool Hay Dry? Chế Độ Nào Tốt, Tiết Kiệm Hơn?
  • Chế Độ Dry Của Điều Hòa Là Gì? Nó Có Thực Sự Tiết Kiệm Điện Như Lời Đồn
  • Điều Hòa Hoạt Động Của Gen
  • Điều Hòa Không Khí Và Thông Gió
  • Bể Điều Hòa Là Gì? Vai Trò Của Bể Điều Hòa Trong Xử Lý Nước Thải

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Remote Máy Lạnh Casper Đơn Giản Chi Tiết
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Nagakawa Từng Bước
  • Điều Khiển Điều Hòa Fujiaire
  • Tính Năng Của Điều Hòa Fujiaire
  • Những Lý Do Nên Chọn Điều Hòa Fujiaire
  • XEM THÊM: Bể Aerotank là gì? Cấu tạo, nguyên lý hoạt động và ưu nhược điểm

    1. Bể điều hòa dùng để làm gì?

    Bể điều hòa – Thứ không thể không có trong tổng thể xử lý nước thải. Chúng được hiểu như nơi chứa các lượng nước thải phát sinh từ những nhà máy với thời gian 24 giờ.

    Việc có bể điều hòa sẽ giúp cho lượng nước thải cũng như độ PH luôn giữ ở mức ổn định trong suốt quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, nó còn góp phần giảm đi chi phí xử lý cũng như những kích thước mà các thiết bị khác mang lại.

    2. Ưu, nhược điểm của bể điều hòa

    Bể điều hòa sẽ mang lại cho bạn những ưu, nhược điểm sau đây:

    • Về ưu điểm

    – Giúp bạn hạn chế được tình trạng quá tải nguồn nước thải.

    – Giúp phần giúp bạn nâng cao khả năng xử lý sinh học.

    – Làm loãng những chất gây ức chế về sinh học.

    – Làm ổn định nồng độ PH ở trong suốt quá trình xử lý nước thải.

    – Giúp bùn trở nên đặc thêm, cải thiện chất lượng về bùn.

    – Làm giảm đi phần diện tích của bề mặt lọc, giúp xử lý thêm hiệu quả cũng như chu kỳ lọc sẽ trở nên đều hơn.

    • Nhược điểm

    – Mang diện tích xây dựng bề mặt tương đối lớn.

    – Nếu không che chắn kỹ, mùi sẽ bay trong không gian khá cao.

    – Nên có chế độ bảo dưỡng cũng như khuấy trộn thường xuyên.

    – Cần đòi hỏi chi phí đầu tư hệ thống sao cho nhiều nhất.

    3. Nguyên lý hoạt động của bể điều hòa xử lý nước thải thế nào?

    Bạn cần chắc chắn rằng, khi xử lý bể điều hòa cần đảm bảo bể không bị lắng cặn. Vì vậy, chúng ta nên xáo trộn cũng như thổi khí vào bên trong bể. Ngoài ra, bạn cũng cần bố trí bể lắng trước khi tiến hành cho nước chảy vào trong bể điều hòa nhằm hạn chế đi tình trạng cặn lắng xuống đáy.

    Bên cạnh đó, cần tiến hành châm dung dịch NAOH nhằm nâng cao độ PH nước thải. Cuối cùng, tiến hành thổi khí để tránh cho nước thải lên men, gây mùi khó chịu.

    4. Có tất cả bao nhiêu loại bể điều hòa?

    Có tổng cộng tất cả 3 bể điều hòa, đó là:

    • Bể điều hòa gắn đĩa thổi khí
    • Bể điều hòa sử dụng thiết bị khuấy chìm
    • Bể điều hòa sử dụng máy thổi khí chìm

    5. Hướng dẫn cách thiết kế bể điều hòa chuẩn nhất

    Cách thiết kế bể điều hòa sao cho chuẩn nhất là:

    • Các thông số kỹ thuật cần nhớ:

     

    T/H        

    Vào(m3)

    ∆ (m3)

    ∑∆ (m3)

    00-03

    180

    -220

    -220

    02-06

    600

    -200

    -420

    06-10

    1320

    -230

    100

    10-14

    600

    -200

    -100

    14-18

    1600

    -800

    700

    18-22

    320

    -480

    220

    22-24

    180

    -260

    0

    • Các công thức trong thiết kế bể điều hòa:

    Như vậy, chúng tôi đã cùng bạn đi sâu tìm hiểu về: Bể điều hòa là gì? Vai trò của bể điều hòa trong xử lý nước thải. Mong rằng, bạn sẽ có thêm những kiến thức hay, bổ ích sau khi đọc xong bài viết này.

    Bể điều hòa là gì? Vai trò của bể điều hòa trong xử lý nước thải

    5

    (100%)

    1

    vote

    (100%)vote

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bể Điều Hòa Trong Xử Lý Nước Thải Là Gì
  • Cách Sử Dụng Điều Hòa Aqua
  • Khám Phá Công Nghệ Iauto
  • Chế Độ Dry Trong Máy Lạnh Là Gì
  • Phân Loại Hệ Thống Điều Hòa Không Khí
  • Chức Năng Đảo Gió Của Điều Hòa

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấp Độ Gió Trên Máy Lạnh Là Gì? Tác Dụng Của Chúng Ra Sao?
  • Máy Lạnh Treo Tường Mitsubishi Heavy 1Hp(1 Ngựa)
  • Vì Sao Cánh Đảo Gió Máy Lạnh Daikin Kêu Lạch Cạch Khi Chạy
  • Cần Lưu Ý Chế Độ Đảo Gió Khi Mua Máy Lạnh
  • Cách Hẹn Giờ Bật Tắt Máy Lạnh Cực Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Chế độ đảo gió theo chiều lên/xuống, trái/phải là chế độ gió cơ bản và được trang bị trên hầu hết các dòng máy lạnh gia đình hiện nay. Chế độ này được các hãng điều hòa, máy lạnh như điều hòa Panasonic, máy lạnh Sharp, điều hòa LG, máy lạnh Samsung… tận dụng hiệu quả. Với chế độ đảo gió lên/xuống hay trái/phải, bạn sẽ chủ động trong việc điều khiển khí lạnh tỏa ra theo hướng bạn cần để có thể làm lạnh trực tiếp khu vực mong muốn nhanh hơn.

    Chế độ đảo gió này hỗ trợ đắc lực trong việc tăng thêm hiệu quả làm lạnh nhanh, giúp luồng khí lạnh tỏa ra sẽ có khả năng đi xa hơn trong phòng, tăng thêm diện tích tiếp xúc bề mặt, giúp nhiệt độ phòng đạt đến độ thoáng mát nhanh hơn, đồng thời cho cảm giác dễ chịu hơn. Sự hỗ trợ của chế độ gió này còn giúp bạn tiết kiệm điện năng hiệu quả hơn nhiều lần.

    2. Chế độ đảo gió tự động

    Chế độ đảo gió tự động trên điều hòa giá rẻ là chế độ hoạt động dựa trên sự kết hợp đồng thời của hai chức năng đảo gió theo phương đứng (lên/xuống) và phương ngang (trái/phải) một cách nhịp nhàng. Chế độ đảo gió này cho phép cánh đảo gió dàn trải hơi lạnh đều đến khắp tận cùng các góc của căn phòng. Với chế độ đảo gió tự động, cánh đảo sẽ giúp dẫn khí lạnh luân chuyển đều khắp, đồng thời có khả năng tạo ra luồng khí đa chiều tự động, cho hiệu suất làm lạnh tăng lên đáng kể.

    3. Chế độ đảo gió hướng lên

    Chế độ đảo gió hướng lên sẽ giúp các cánh đảo gió di chuyển hướng lên phía trên trần nhà, dẫn luồng khí lạnh lan tỏa từ trên xuống và bao phủ xung quanh bạn, cho phép làm mát tự nhiên và sảng khoái mà không xảy ra hiện tượng sốc nhiệt khi bạn không bị hơi lạnh thổi trực tiếp vào người.

    Chế độ này đặc biệt phù hợp cho gia đình có em bé, phụ nữ mang thai, người già hay những người có cơ thể nhạy cảm với khí lạnh, giúp bạn ngủ ngon hơn và dễ chịu hơn. Chế độ này hiện có trên các mẫu điều hòa Đaikin, máy lạnh Sharp, máy lạnh Toshiba, điều hòa Midea…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Điều Khiển Remote Máy Lạnh Wifi Gree
  • Hướng Dẫn Điều Khiển Remote Máy Lạnh Gree
  • Cách Sử Dụng Remote Máy Lạnh Gree
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Remote Máy Lạnh Gree
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Remote Máy Lạnh Gree Đơn Giản Nhất
  • Chức Năng Điều Hòa Nội Môi Của Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Học 8 Bài 57: Tuyến Tụy Và Tuyến Trên Thận
  • Tuyến Tụy Và Tuyến Trên Thận (Sinh Học 8)
  • Nêu Vi Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tuyến Trên Thận
  • Lý Thuyết Bài Tuyến Tụy Và Tuyến Trên Thận
  • Phục Hồi Chức Năng Thận Nhờ Áp Dụng Chế Độ Ăn Giảm Phospho
  • Qua sự tạo nước tiểu, thận có khả năng duy trì sự ổn định về thành phần và nồng độ các chất trong huyết tương, áp suất thẩm thấu, thể tích máu và dịch ngoại bào, độ pH và điều hòa huyết áp.

    1.1. Thận điều hòa thành phần và nồng độ các chất trong huyết tương được lọc qua tiểu cầu thận.

    Phần lớn các chất cần thiết cho cơ thể có trong dịch lọc sẽ được ống thận tái hấp thu; còn các sản phẩm thải của quá trình chuyển hóa, và các chất dư thừa như muối khoáng, nước v.v… sẽ được thải qua nước tiểu. Như vậy thông qua sự tạo nước tiểu mà thận duytrì sự ổn định về thành phần và nồng độ các chất trong huyết tương và dịch kẽ.

    1.2. Thận điều hòa áp suất thẩm thấu của dịch ngoại bào

    Áp suất thẩm thấu trung binh của dịch ngoại bào là 300 mOsm/L, nó được xác định chủ yếu iàdo nồng độ ion Na+ trong dịch ngoại bào, vl Na+ là ion dương chính, chiếm hơn 90 phần trăm, và khi nó được tái hâp thu bởi ống thận, sẽ kéo theo các ion âm. Ngoài ra glucoz và urê, là các chất hòa tan thẩm thấu không ion trong dịch ngoại bào, chỉ tạo ra khoảng ba phần trăm độ thẩm thấu toàn phần, còn Na+ chiếm trên 90 phần trăm.

    Có ba hệ thông điều hòa độ thẩm thấu ngoại bào, và nồng độ Na+, đó là (1) hormon ADH, (2) cảm giác khát, và (3) cơ chế thèm ăn muối.

    1.2.1. Hormon ADH của vùng dưới đồi

    Khi độ thẩm thâu của dịch ngoại bào tăng, nó kích thích bộ phận nhận cẳm thẩm thấu trong phần trước của vùng dưới đồi, gần nhân trên thị. Bộ phận nhận cảm này, đến lượt nó, kích thích nhân trên thị và nhân cạnh não thất, các xung thần kinh sẽ truyền theo sợi trục của các nơrôn tới đỉnh của nó, tận cùng ở thùy sau tuyến yên, gây giải phóng ADH vào máu mao mạch của thùy sau tuyến yên. Khoảng 5/6 lượng ADH được tạo thành do nhân trên thị và chỉ 1/6 được tạo thành do nhân cạnh não thất. ADH theo máu đến thận, làm tăng tính thấm của ông xa đoạn sau, ống góp vỏ và ống góp tủy đốì vđi nước, gây tăng tái hấp thu nước cho cơ thể. Thận gây giữ nước, nhưng thải Na+ và các chất thẩm thấu khác qua nước tiểu, làm giảm natri vầ các chất thẩm thấu trong dịch ngoại bào. Như vậy điều chỉnh dịch ngoại bào ban đầu cô đặc trở về độ thẩm thấu bình thường.

    Ngược lại khi dịch ngoại bào trở nên quá loãng, nhân trên thị và nhân cạnh não thất không bị kích thích, thùy sau tuyến yên sẽ tiết ít ADH, và thận thải nhiều nước qua nước tiểu, tương ứng với dịch ngoại bào loãng, như vậy làm cô đặc dịch hướng trở về bình thường.

    Một người uống 1 lít nước, 45 phút sau thì lượng nước tiểu tăng lên gấp 8 lần bình thường, và duy trì ở mức đó trong 2 giờ, cho đến khi độ thẩm thấu của dịch ngoại bào trở lại bình thường, do ức chế sự bài tiết ADH.

    Còn khi ADH tiết nhiều, nó sẽ làm giảm lượng nước tiểu và tăng thể tích máu, vì tăng tái hấp thu nước. Hậu quả là nước tiểu sẽ cô đặc và dịch ngoại bào thì loãng, vì lượng nước nhiều và nồng độ natri giảm.

    1.2.2. Cảm giác khát và sự điều hòa độ thẩm thấu dịch ngoại bào

    Trung tâm cảm giác khát nằm ở vùng dọc theo vách trước bụng của não thất ba, và ở vị trí trước bên, trong vùng trước thị của vùng dưới đồi. Tiêm dung dịch muối ưu trương vào các vùng trung tâm khát, gây thấm nước từ các tế bào thần kinh ra ngoài và gây cảm giác khát. Vì vậy chức năng của những tế bào này như là bộ phận nhận cảm thẩm thấu, hoạt hóa cơ chế khát, có lẽ đó cũng là bộ phận nhận cảm thẩm thấu hoạt hóa hệ thống ADH. Tăng áp suất thẩm thâu của dịch não tủy trong não thất III cũng gây khát nước.

    Những kích thích cơ bản gây khát là: (1) sự mất nước trong tế bào, (2) nồng độ thẩm thấu của dịch ngoại bào tăng, đặc biệt là nồng độ Na+ tăng gây thấm dịch từ tế bào thần kinh của trung tâm khát ra ngoài, (3) mất quá nhiều K+ từ cơ thể, làm giảm K+ trong các tế bào của trung tâm khát.

    Người khát uống nước vào sẽ làm giảm ngay cảm giác khát, cả khi nước chưa kịp hấp thu vào máu qua bộ máy tiêu hóa.

    Sự thực là ở người bị mở thực quản, nước uống không vào dạ dày, vẫn mất cảm giác khát, nhưng đó chỉ là tạm thời, và cảm giác khát lại trở lại sau 15 phút hay hơn. Sau khi uống nước, phải từ nửa đến 1 giờ sau, nước mới được hấp thu và phân phối đều khắp Cơ thể. Cảm giác khát nếu không tạm thời mất đi, thì người ta sẽ uống tiếp tục, và lượng nước vào sẽ quá mức cần thiết, dịch ngoại bào lại loãng quá mức bình thường, cơ thể lại phải điều hòa trong vòng lẩn quẩn là thải nước qua thận.

    1.2.3. Điều hòa sự thu thập Na+ bằng cơ chế thèm ăn muối

    Có hai tác nhân chính kích thích thèm ăn muối: (1) sự giảm nồng độ Na+ trong dịch ngoại bào, và (2) suy tuần hoàn, gây ra do giảm thể tích máu. Tuy nhiên sự khác nhau chính giữa khát và thèm ăn muối là khát thì xảy ra ngay lập tức, còn thèm ăn muối thường chậm sau nhiều giờ và tăng lên dần dần. Trung tâm thèm ăn muối ở não cũng là trung tâm khát.

    Cung phản xạ tuần hoàn tạo bởi áp suất máu thấp, hay thể tích máu giảm đều qua các trung tâm ở não, để tác dụng đến khát và thèm ăn muối.

    1.3.1. Điều hòa thể tích máu

    Khi thể tích máu tăng, làm tăng lưu lượng tim và tăng áp suất động mạch. Tăng áp suất động mạch sẽ làm tăng mức lọc tiểu cầu, và lưu lượng nước tiểu, cơ thể mất bớt nước và thể tích máu trở về bình thường. Còn khi thể tích máu giảm thì quá trình, ngược lại, thận bài xuâ’t ít nước tiểu, nước được tái hấp thu về cơ thể, và thể tích máu trở về bình thường. Có nhiều yếu tố thần kinh và nội tiết điều hòa thể tích máu.

    • Phản xạ thể tích: khi thể tích máu tăng làm áp suất động mạch tăng, áp suất động mạch phổi và áp suất các mạch khác trong lồng ngực tăng. Sức căng của thụ thể áp suất động mạch ở quai động mạch chủ và xoang động mạch cảnh gây phản kạ ức chế thần kinh giao cảm, làm giãn tiểu động mạch vào tiểu cầu thận, tăng lượng nước tiểu, và giảm thể tích máu, phản xạ này được gọi là phản xạ thể tích.
    • Tác dụng của yếu tô’ 1ỢỈ tiểu Na+ của tâm nhĩ: khi hai tâm nhĩ bị căng ra do tăng thể tích máu, nó giải phóng yếu tố lợi tiểu Na+ của tâm nhĩ (Atrial Natriuretic Factor: ANF) vào máu, châ’t này hoạt động trên thận làm tăng bài xuất Na+ gấp từ 3 đến 10 lần. Tuy nhiên tác dụng này trên lưu lượng nước tiểu không kéo dài.
    • Tầc dụng của aldosteron: làm tăng tái hấp thu Na+, kéo theo nước, làm tăng thể tích máu lên từ 10 đến 20 phần trăm, rồi áp suất động mạch tăng do tăng thể tích máu và thận bắt đầu bài xuất Na+ bằng với số lượng ăn vào hàng ngày, mặc dầu vẫn có mặt của aldosteron, .vì lợi niệu áp suất xẩy ra khi áp suất động mạch tăng.
    • Vai trò của angiotensin: không làm tăng thể tích máu lên quá từ 5 đến 10 phần trăm, mặc dù angiotensin II có cả hai tác dụng: trực tiếp trên thận, gây ứ nạ tri và nước, và gián tiếp khi nó kích thích tuyến thượng thận bài tiết aldosteron,
    • Tác dụng của ADH: truyền một lượng lớn ADH cho con vật, làm tăng thể tích máu lên từ 15 đến 25 phần trăm trong ít ngày đầu tiên. Tuy nhiên áp suất động mạch cũng tăng, và gây bài xuất nước, sau đó thể tích máu đo được không quá từ 5 đến 10 phần trăm trên bình thường, và áp suất động mạch cũng trở về bình thường. Như vậy không có sự thay đổi thể tích máu trầm trọng, nhưng con vật bị giảm nặng Na+ ngoại bào, vì thận vẫn tiếp tục đào thải Na+, trong khi nước ứ lại làm pha loang dịch.

    1.3.2. Điều hòa thể tích dịch ngoại bào

    Những yếu tố chính gây phù là: (ỉ) tăng áp suất mao mạch, (2) giảm áp suất keo huyết tương, (3) tăng áp suất keo tổ chức, và (4) tăng tính thấm của mao mạch.

    Sự phân phối bình thường của thể tích dịch giữa khoảng kẽ và hệ thống mạch là như sau: khi một lượng lổn dịch tích lại ở khoảng ngoài tế bào, do uống vào quá nhiều nước, hay do giảm lượng nước tiểu, khoảng từ 17 tới 34 phần trăm dịch quá mức này ở lại trong máu, làm tăng thể tích máu, phần còn lại của dịch sẽ ứ lại trong khoảng kẽ. Tuy nhiên, khi thể tích dịch ngoại bào tâng lên từ 30 đến 50 phần trăm trên mức bình thường, thì rất ít dịch ở lại trong máu, Hầu hết nó đi vào khoảng kẽ, áp suất dịch khoảng kẽ từ trị số âm bình thường tới trị số dương, khoảng kê trở nên quá tải, đôi khi thể tích tăng lên từ 10 đến 30 lít, gây phù nặng.

    1.4. Thận điều hòa nồng độ ion H+ và độ pH của cơ thể

    1.4.1. Sự bài tiết ion H+

    Tế bào biểu mô ống liên tục bài tiết ion H+ ra lòng ống, cơ chế là như sau: khi C0 2 từ dịch kẽ khuếch tán vào tế bào biểu mô, dưới tác dụng của. men anhydraz carbonic (car-bonic anhydrase), nó sẽ kết hợp với nước để cho axít cacbonic (carbonic acid: H-jCOj).

    Axít cacbonic là axít yếu, dễ phân ly cho ion H+ và ion HC0 3– , ion H+ được vận chuyển tích cực ra lòng ống, trong khi đó Na+khuếch tán thụ động từ lòng ông vào tế bào, theo bậc thang điện hóa. Còn ion HC0 3– khuếch tán thụ động ra dịch kẽ, do bậc thang điện thế tạo ra do sự di chuyển tích cực Na+ ra dịch kẽ. Đối với một ion H+ được bài tiết ra lòng ống, một ion HC0 3– và một ion Na+ đi ra dịck kẽ và từ đó khuếch tán qua mao mạch vào trong dòng máu Trong phần đầu của ống thận: ông gần, đoạn dày ngành lên của quai Henle, và ống xa, ion H+ được bài tiết ra lòng ống theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Còn trong phần sau của ông thận, bắt đầu từ ông xa sau, đến ống góp vỏ và ống góp đổ vào bể thận, ion H+đưực bài tiết bằng cơ chế vận chuyển tích cực nguyên phát. Nó khác với vận chuyển tích cực thứ phát ở chỗ: (1) nó chỉ chiếm dưới 5 phần trăm của toàn bộ ion H+ bài xuất, (2) nó có thể cô đặc ion H+ cao đến 900 lần, so với chỉ 3 đến 4 lần nồng độ có thể đạt được ở ống gần, và 10 đến 15 lần ở đoạn đầu ông xa. Nồng độ 900 lần của ion H+làm giảm dộ pH của dịch ống tới 4,5, đó là giới hạn thấp nhất cho phép đạt được ở nước tiểu bài xuất. Vì dịch ống càng axít càng chống lại sự bài tiết tích cực ion H mức pH bằng 4,5 làm ngừng bài tiết ion H+, và hậu quả là ion H+ ứ lại cơ thể, gây nhiễm axít. Nếu không có các chất đệm trung hòa bớt ion H+ trong dịch ông, mức pH bằng 4,5 này sẽ nhanh chóng đạt tới. Ba phản ứng quan trọng trong dịch ống, vận chuyển ion H+ tự do, cho phép nhiều axít hơn được bài tiết là: phản t?ng với HC0 3~ để tạo thành C0 2 và nước, phản ứng với P0 43‘ để tạo thành H 2P0 4 ‘ và phản ứng vơi NH3 để tạo thành

    Ion H+ được vận chuyển trực tiếp bằng protein vận chuyển đặc biệt, hydrogen – transporting adenosin triphosphataz. Năng lượng cần cho sự bơm ion H+ chống lại bậc thang nồng độ 900 lần lấy từ sự cắt ATP thành ADP

    1.4.2. Phản ứng của bicacbonat với ion H+ trong ống

    Sự tái hấp thu bicacbonat mở đầu bằng phản ứng trong ống giữa bicarbonat trong dịch lọc cầu thận xuống ống, và ion H+ được bài tiết bởi tế bào ống, để tạo thành H 2C0 3. H 2C0 3 sẽ bị phân ly cho C0 2 và H 20 dưới sự xúc tác của các men anhydraz carbonic, men này nằm trong bờ bàn chải của tế bào biểu mô ông gần, không có trong ống xa C0 2 dễ dàng khuếch tán qua màng sinh học vào trong tế bào ống. Vì vậy H+ được tiêu thụ, nên độ pH của dịch ông không thay đổi, và HC0 3– được tái hấp thu. Cho mỗi một mol HC0 3– kết hợp với H+, một mol HC0 3 ‘ khuếch tán từ tế bào ống vào máu, mặc dầu nó không phải cùng một moi mà nó đã biến mất từ dịch ống.

    1.4.3. Sự điều chỉnh của thận đối với tình trạng toan huyết – Sự tăng bicacbonat trong dịch ngoại bào

    1.4.4. Sự điều chỉnh của thận đối với tình trạng kiềm huyết – Sự giảm bicacbonat trong dịch ngoại bào

    1.4.5. Sự kết hợp của ion H+ quá mức với hệ đệm ống và thải qua nước tiểu

      Hệ phosphat: H+ phản ứng với phosphat hai kiềm (HP042~) để tạo thành phosphat một kiềm (H2P04-).

    Khi có quá nhiều ion H+ được bái tiết vào ống, nó thường không ở dạng tự do, mà kết hợp với các chất đệm trong ống và thải . qua nước tiểu, Có hai hệ đệm rất quan trọng để vận chuyển các ion H+ quá mức là hệ phosphat và ammoni, ngoài ra còn một số hệ đệm yếu khác, ít quan trọng như urat và citrat.

      Hệ ammoni: NH3 được bài tiết trong hệ thông ống thận.

    Phản ứng chủ yếu xảy ra ở ống xa và ống góp, vì phosphat thoát khỏi sự tái hấp thu của ống gần, và tập trung một lượng lớn ở đây, phosphat một kiềm NaH 2P0 4 sẽ được thải qua nước tiểu,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nội Tiết Của Thận
  • Bài 38. Bài Tiết Và Cấu Tạo Hệ Bài Tiết Nước Tiểu
  • Chức Năng Của Thận Là Gì? Quá Trình Hoạt Động Của Thận?
  • Câu 1. Cân Bằng Nội Môi Là Gì? Câu 2. Tại Sao Cân Bằng Nội Môi Có Vui Trò Quan Trọng Đối Với Cơ Thể? Câu 3. Tại Sao Các Bộ Phận Tiếp Nhận Kích Thích, Bộ Phận Điều Khiển Về Bộ? Câu 4. Cho Biết Chức Năng Của Thận Trong Cân Bằng Nội Môi? Câu 5. Trình Bày Vai Trò Của Gan Trong Điều Hòa Nồng Độ Glucôzơ Máu? Câu 6. Hệ Đệm Phổi, Thận Duy Trì Ph Máu Bằng Cách Nào?
  • Vai Trò Của Gan Và Thận Trong Cân Bằng Nội Môi Vai Tro Cua Gan Va Than Trong Cb Astt Ppt
  • Bể Điều Hòa Là Gì? Tính Toán Thiết Kế Bể Điều Hòa Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Đúng Cách
  • Cách Sử Dụng Máy Điều Hòa Tại Nhật Bản
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Điều Hòa Đaikin 1 (Đầy Đủ 100%)
  • Cách Sử Dụng Máy Điều Hòa Không Khí
  • Cách Sử Dụng Các Tính Năng Trên Remote Điều Hòa Casper Gc
  • Mục đích sử dụng bể điều hòa

    • Tác dụng nhằm đảm bảo cho quá trình xử lý nước thải khi vào các hệ thống phía sau. Đảm bảo nồng độ, lưu lượng của nước thải luôn luôn đảm bảo ổn định, duy trì ở mức hoạt động.
    • Có khả năng lưu chứa nhiều loại nước thải khác nhau. Cũng có khả năng lưu nước thải đến 24 tiếng.
    • Rất thích hợp để xử lý nước thải công nghiệp và một trong những tác dụng khác là tránh hiện tượng đóng cặn. Yêu cầu trong vận hành phải luôn duy trì tối thiểu ở mức 20 – 30% dung tích của bể..

    Phân loại bể điều hòa:

    Về chức năng điều hòa có thể phân thành 2 loại sau:

    • Bể Đ Hòa lưu lượng và chất lượng nước;
    • Bể đ. hòa lưu lượng

    Về bản chất quá trình đảo trộn có thể phân thành 3 loại như sau:

    • Bể Đ.Hòa gắn máy thổi khí;
    • Bể Đ.Hòa sử dụng máy khuấy chìm;
    • Bể Đ.Hòa sử dụng máy thổi khí chìm.

    Nguyên lý hoạt động của bể điều hòa

    • Trong bể điều hòa cần phải thực hiện liên tục quá trình đảo trộn bằng cách khuấy hoặc thổi khí nhằm đảm bảo nồng độ được cần bằng ở mọi điểm trong bể cũng như tránh tình trạng cặn lắng xảy ra.
    • Yêu cầu lượng nước thải trước khi vào bể điều hòa cần phải được xử lý sơ bộ thông qua bể lắng cát nhằm loại bỏ các chất rắn gây ảnh hưởng đến quá trình điều chỉnh lưu lượng cũng như nồng độ chất thải có trong bể.
    • Đặc biệt trong bể điều hòa cần phải sục khí liên tục nhằm ngăn chặn quá trình lên men qua đó giảm phát sinh mùi hôi. Nhằm đảm bảo hạn chế mùi hôi phát sinh thì cần đảm bảo duy trì lưu lượng khí dao động từ 10 – 15 lít khí/phút. M3 dung tích nước.

    Phân tích ưu nhược điểm của bể điều hòa trong xử lý nước thải

    Ưu điểm:

    • Tăng cường quá trình xử lý sinh học do có thể giảm được hiện tượng shock của toàn bộ hệ thống do quá trình hoạt động quá tải hoặc trong trường hợp dưới tải.
    • Có thể tăng được quá trình pha loãng chất gây ức chế sinh học, ổn định nồng độ pH nước thải,
    • Có thể cải thiện chất bùn nén nhất là trong bể lắng 2, đồng thời giúp bùn lắng hiệu quả tốt hơn và nhanh hơn
    • Bể giúp giảm diện tích được bề mặt lọc, tăng hiệu quả quá trình lọc, giúp chu kỳ rửa lọc thực hiện đều đặn
    • Bể có thể hỗ trợ quá trình xử lý hóa học bằng cách châm thêm hóa chất điều chỉnh nhằm đáp ứng các thông số cân bằng cho quá trình xử lý tiếp theo.

    Nhược điểm:

    • Diện tích xây dựng tương đối lớn
    • Có thể phát sinh mùi hôi đặc biệt khi gần các khu dân cư cần có thiết bị khử mùi đúng chuẩn và che chắn cẩn thận.
    • Phải thường xuyên khuấy trộn và bảo dưỡng thiết bị
    • Chi phí đầu tư và vận hành cao

    Tính toán thể tích bể điều hòa

    Cũng như tất cả các loại bể khác thì muốn đảm bảo quy trình hoạt động tốt thì phải được tính toán với kích thước hợp lý.

    Ngoài việc thiết kế , Thì cần phải tính diện tích của bể:

      Để tính được diện tích ta có công thức như sau:

    Dài x Rộng x Cao = L(m) x B(m) x H(m)

    Tính lượng không khí cần phải cung cấp:

    Q kk = V đh x R (l/s)

    Trong đó:

    • R: Tốc độ của khí nén, lấy R = 0,012 m3/m3 thể tích thật của bể x số phút
    • Vđh: Thể tích thực tế của bể điều hòa (m3)

    Một số chú ý khi vận hành bể điều hòa đạt được hiệu quả cao

    Do Bể có vai trò không nhỏ trong việc quyết định chất lượng nguồn nước đầu ra cũng như hiệu quả của toàn bộ quá trình xử lý.

    Đặc biệt trong trường hợp nước thải chứa một lượng lớn chất thải hữu cơ thì nếu có bể điều hòa sẽ giúp ổn định nồng độ cung như lưu lượng cho quá trình xử lý cũng như giảm tình trạng sốc tải cho toàn bộ hệ thống.

    Lưu ý kỹ thuật trước khi xây dựng bể điều hòa

    Hiện nay, để thiết kế và thi công đạt hiệu quả cao thì chúng ta cần đảm bảo những yêu cầu như sau:

    • Thành bể, đáy Bể có kết cấu bê tông cốt thép chịu lực;
    • Có sử dụng tấm chống thấm nhằm hạn chế rỉ nước, thấm nước
    • Có độ dốc thành bể: 3:1 – 2:1
    • Chiều sâu bể nước tối thiểu là 1,5 m

    Cần lắp đặt Hệ thống báo mực nước tự động

    • Nhằm ổn định cho quá trình xử lý tránh tình trạng nước tràn hoặc nước quá thấp ảnh hưởng đến các cụm xử lý sinh học phía sau.
    • Tránh tình trạng giảm hoặc tăng mực nước bất thường.

    Bể điều hòa tiếng anh là gì?

    Bể điều hòa tiếng anh đọc là air tanks như được trình bày ở trên là loại bể có vai trò rất quan trọng trong hệ thống xử lý nước thải/

    Công ty Xử lý chất thải Đà Nẵng là đơn vị chuyên nhận thi công, tư vấn lắp đặt, cải tại, bảo trì hệ thống xử lý nước thải tại Miền Trung và Tây nguyên. Công ty chúng tôi với sự chuyên nghiệp, sức trẻ, kinh nghiệm của đội ngũ kỹ sư lành nghề, luôn đặt chữ tín lên hàng đầu nên luôn luôn là sự lựa chọn của nhiều đối tác trong thời gian vừa qua.

    Hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 0935.22.17.22 để được tư vấn, báo giá nhanh chóng nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Bể Xử Lý Nước Thải
  • Bể Điều Hòa Xử Lý Nước Thải Là Gì? Ưu Nhược Điểm
  • Tìm Hiểu Bể Điều Hòa Trong Xử Lý Nước Thải
  • Bể Điều Hòa Trong Xử Lý Nước Thải
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Sử Dụng Điều Hòa Lg : 1 Chiều, 2 Chiều, Inverter
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100