Top #10 ❤️ Chức Năng Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế

Luật Kiểm Toán Nhà Nước 2022

Ktnn Có Chức Năng Minh Bạch Hóa Việc Sử Dụng Tiền

Có Nên Giao Cho Kiểm Toán Nhà Nước Thực Hiện Chức Năng Giám Định Tư Pháp?

Chuyên Đề 4: Nền Hành Chính Và Cải Cách Hành Chính Nhà Nước

Bạn biết gì về các bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam?

Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay là một hệ thống nhất, tuy làm việc một cách độc lập nhưng luôn gắn bó, đứng dưới nền của cùng một chính sách, đường lối và tư tưởng.

Các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại gồm có:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam

2. Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội khác như Công đoàn Việt Nam,Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Hệ thống chính trị Việt Nam hay bất kỳ một hệ thống, cơ quan nào muốn tồn tại và phát triển một cách bền vững đều cần phải thiết lập một quy trình cụ thể gọi là tổ chức. Tổ chức hệ thống chính trị Việt Nam đã hình thành từ lâu và vẫn đang không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với xã hội hiện nay. Vậy tổ chức hệ thống chính trị Việt Nam hoạt động như thế nào ?

Hệ thống chính trị Việt Nam – hệ thống có tổ chức.

Đảng Cộng sản Việt Nam: là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị , đề ra cương lĩnh, đường lối, những chủ trương phát triển cũng như tổ chức thực hiện những đường lối đó.

Nhà nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: là trụ cột trong hệ thống chính trị, đại diện cho các tầng lớp nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội.

Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội khác: là tổ chức chính trị hợp pháp, được thành lập để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân nhưng phải trên tinh thần tự nguyện để đại diện cho tầng lớp đó tự quản, lập ra các đường lối, tôn chỉ phù hợp với mục đích hoạt động. Tùy vào từng tổ chức mà mỗi bộ sẽ có các vai trò riêng.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – một trong những cánh tay đắc lực của Đảng

Sách chính trị tài chính Việt Nam – cái nhìn toàn diện về các bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam.

Nếu bạn là một công dân luôn hướng sự quan tâm của mình vào đất nước, đặt biệt là tình hình chính trị nước nhà thì điều không thể thiếu là hiểu rõ ràng về bản chất của hệ thống chính trị đương thời. Đồng thời qua đó, bạn cần nắm bắt một cách đầy đủ và kịp thời vai trò, nhiệm vụ cũng như tôn chỉ thực hiện của các bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam. Sách chính trị tài chính – một nguồn thông tin đảm bảo chuẩn xác về chính trị của chính đất nước mà bạn đang đặt cả niềm tự hào và hi vọng.

Nguồn kiến thức về chính trị lịch sử rộng lớn qua những đầu sách hay

Sách giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

SÁCH CHÍNH TRỊ TÀI CHÍNH

+ Liên tục cập nhật nhiều đầu sách hay về lĩnh vực chính trị tài chính có chất lượng nội dung luôn đúng và chính xác với mức giá rẻ hơn thị trường từ 20 – 30%.

+ Miễn phí giao hàng với đơn hàng 250K trở lên (đối với khách hàng ở tỉnh), miễn phí ship vận chuyển nội thành HCM (bất kì đơn giá nào – không phụ thuộc có hóa đơn VAT hay không).

+ Sản phẩm bán ra có đầy đủ hóa đơn VAT, có thể chiết khấu trên hoặc ngoài hóa đơn (tùy khách hàng lựa chọn).

+ Hỗ trợ đổi trả miễn phí hoặc hoàn tiền 100% nếu chất lượng sách không đạt yêu cầu như: sai lệch về nội dung, chất lượng sách in không rõ ràng, giấy mỏng, không đúng chuẩn ISO… trong 1 tháng.

Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra

Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​

Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra

Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế

Cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam được xây dựng một cách khoa học, logic đảm bảo tính hiệu quả trong công tác xây dựng và phát triển xã hội là nền tảng vững chắc để xây dựng đất nước.

Cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam như thế nào?

Cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam được cấu thành từ nhiều bộ phận chức năng khác nhau như: Đảng chính trị, Nhà nước, Các tổ chức chính trị – xã hội (hợp pháp). Các thành tố trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị nói chung và hệ thống chính trị nói riêng là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể (hệ thống) các thiết chế mang tính hiến định (Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội…) và không hiến định (phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ bầu cử, thể chế tôn giáo…); cùng với những quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào các quá trình hình thành các quyết sách nhà nước, thực thi quyền lực chính trị bảo đảm quyền thống trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.

Hệ thống chính trị Việt Nam được cấu thành từ nhiều bộ phận

Có thể nói hệ thống chính trị Việt Nam TCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như hệ thống chính trị nhiều nước. Trước hết tiểu hệ thống thể chế của nó bao gồm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị – xã hội… Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù:

Chức năng của hệ thống chính trị Việt Nam

Mỗi tổ chức trong cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam đều có những chức năng riêng nhưng nhìn chung là nơi thực thi quyền lực thống trị của giai cấp cầm quyền; là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Quyền làm chủ của nhân dân lao động được thực hiện thông qua hệ thống chính trị. Xét theo khía cạnh này, hệ thống chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa về bản chất là thống nhất. Trong hệ thống chính trị ở nước ta:

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nhà nước là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị Việt Nam đều có một chức năng riêng biệt

Sở hữu tủ sách chính trị tài chính giúp bạn có góc nhìn bao quát về cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam

Tuy nhiên nếu bạn muốn nghiên cứu và nắm rõ hơn về cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và cung cấp sách chính trị chính thống với mức giá tốt nhất. Với rất nhiều đầu sách hay, được biên tập và xuất bản bởi các nhà xuất bản lớn của Việt Nam, chúng tôi tin rằng sẽ mang đến cho bạn một kho tàng kiến thức vô giá về cấu trúc chính trị Việt Nam từ đó giúp bạn có được cái nhìn cận cảnh hơn về hệ thống chính trị của đất nước và xác định được hướng đi cho riêng mình trong tương lai.

Cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam ngày càng được hoàn thiện

Sách giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

SÁCH CHÍNH TRỊ TÀI CHÍNH

+ Liên tục cập nhật nhiều đầu sách hay về lĩnh vực chính trị tài chính có chất lượng nội dung luôn đúng và chính xác với mức giá rẻ hơn thị trường từ 20 – 30%.

+ Miễn phí giao hàng với đơn hàng 250K trở lên (đối với khách hàng ở tỉnh), miễn phí ship vận chuyển nội thành HCM (bất kì đơn giá nào – không phụ thuộc có hóa đơn VAT hay không).

+ Sản phẩm bán ra có đầy đủ hóa đơn VAT, có thể chiết khấu trên hoặc ngoài hóa đơn (tùy khách hàng lựa chọn).

+ Hỗ trợ đổi trả miễn phí hoặc hoàn tiền 100% nếu chất lượng sách không đạt yêu cầu như: sai lệch về nội dung, chất lượng sách in không rõ ràng, giấy mỏng, không đúng chuẩn ISO… trong 1 tháng.

Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​

Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp

Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam

Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính

Tài Liệu Ôn Tập Môn Hành Chính (Phần 3)

Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra

Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế

Luật Kiểm Toán Nhà Nước 2022

Ktnn Có Chức Năng Minh Bạch Hóa Việc Sử Dụng Tiền

Đề tài: “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” Mở đầu Qua hơn 17 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao độ của toàn Đảng, toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội và đang đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển ở tầm cao hơn trước. Trong thời kỳ phát triển mới, bên cạnh những cơ hội, thuận lợi, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn, trước tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực cao độ nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục vững bước tiến lên. Để đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta phải được kiện toàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Nhưng muốn kiện toàn, đổi mới trước hết chúng ta phải hiểu được thực trạng của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” B. Nội dung I.Khái quát về hệ thống chính trị Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. – Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. II. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta 1.. Bản chất: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau: *Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân: Nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân. Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. *Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. *Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. 2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau: *Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức. *Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta. *Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện. Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị. *Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi. Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. III. Các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Các tổ chức được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. IV. Chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị 1. Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: – Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội. – Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ… 2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam: * Quốc hội: Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sơ đồ cơ cấu tổ chức văn phòng Quốc Hội: * Chính phủ: Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp. * Cơ quan tư pháp: Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác. Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố…Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. 4. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp công nhân, có chức năng: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội tập hợp tầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng. Tổ chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho đoàn viên thanh niên 6. .Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giới nữ, có chức năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Hội đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 7. Hội Nông dân Việt Nam: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nông dân Việt Nam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam. 8. Hội Cựu chiến binh Việt Nam: Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội. Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. 9. Các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân Các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. C. Kết Luận

Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​

Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp

Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam

Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​

Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra

Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam

Mô hình, cấu trúc của hệ thống chính trị trong mối quan hệ với chức năng và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ​

1. Lý thuyết Easton về hệ thống chính trị 1.1. Khái niệm “hệ thống”:

Người đầu tiên đưa ra lý thuyết chung về hệ thống và lý giải về tầm quan trọng của việc nghiên cứu về hệ thống là nhà sinh vật học Mỹ gốc Áo Karl Ludwig Von Bertalanffy (1901-1972). Ông cho rằng, nếu như các hệ thống vật lý là những hệ thống khép kín thì hệ thống của các thực thể sống luôn luôn là những hệ thống mở, bởi cơ thể sống đòi hỏi một nguồn cung thường xuyên, không ngừng nghỉ các vật chất từ môi trường xung quanh theo nhu cầu của chính cơ thể sống đó; nhờ sự tương tác đó mà cơ thể sống có thể tạo cho mình năng lượng sống và cung cấp cho môi trường xung quanh nó những thứ hữu ích của mình.

Lý thuyết hệ thống của L. Bertalanffy đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật như điều khiển học, nhiệt động học, kỹ thuật hệ thống, lý thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ) hay còn gọi là phương pháp luận tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật mới ( G.Altshuller), động lực học v.v…

1.2. Khái niệm hệ thống chính trị

Vào năm 1965, lần đầu tiên nhà chính trị học người Mỹ David Easton (1917-2014) trong chuyên khảo ” Hệ thống chính trị” đã đưa khái niệm ” hệ thống” vào lĩnh vực khoa học chính trị và đồng thời đưa ra khái niệm ” hệ thống chính trị “, cùng với đó, đã đề xuất mô hình lý thuyết về hệ thống chính trị với mục đích chứng minh về những đặc trưng hệ thống trong lĩnh vực chính trị. Theo ông, hệ thống chính trị được hiểu trên hai phương diện: về phương diện giá trị và về phương diện cấu trúc, cơ chế vận hành. Ở nghĩa thứ nhất, hệ thống chính trị là một tập hợp nhất định các mối tương tác để qua đó mà phát hiện, xử lý, duy trì và phát triển các giá trị của quyền lực chính trị và suy rộng ra là các giá trị của chế độ chính trị. Ở nghĩa thứ hai, hệ thống chính trị được D.Easton quan niệm là một cấu trúc được đặt trong những môi trường nhất định và tương tác với nó – đó là các môi trường tự nhiên, môi trường xã hội (kinh tế, chính trị, trong nước, quốc tế v.v…) và nhờ sự tương tác đó với môi trường xung quanh mà các cấu trúc thiết chế chính trị thực hiện được chức năng đưa ra các quyết định chính trị (đường lối chính sách, pháp luật) và tổ chức thực hiện các quyết sách đó.

* Chú thích sơ đồ: – V và W: Kênh điều hòa, phối hợp, tạo đồng thuận lợi ích và yêu cầu chính trị. – I: Kênh chuyển hóa các yêu cầu (sau khi được xử lý) thành các quyết sách chính trị. – O: Đưa quyết sách vào thực tiễn (thi hành quyết sách). – D: Khu vực chuyển hóa các nhu cầu xã hội thành các yêu cầu về chính trị. – S, T, U, V, W: Các kênh chuyển tải yêu cầu chính trị, trong đó: + T: Cổng tiếp nhận. + U: Các kênh xử lý, phân loại yêu cầu để chuyển tải đến khu vực xử lý R.

Như vậy, D.Easton không coi hệ thống chính trị chỉ bao gồm các thiết chế nhà nước, mặc dù đặt chúng trong cấu phần trung tâm, có chức năng đưa ra các quyết sách chính trị và pháp luật và bảo đảm thực thi chính sách và pháp luật. Các thiết chế nhà nước như quốc hội, tổng thống, các cơ quan tư pháp và hệ thống công vụ chưa phải là cấu phần duy nhất của hệ thống chính trị, mà là một tổ hợp gồm: các thiết chế nhà nước, các yếu tố đầu vào, các yếu tố đầu ra. Đầu vào (đối với các thiết chế nhà nước), về mặt hình thức thể hiện, bao gồm trong đó dư luận xã hội, bầu cử và các hình thức của người dân tham gia vào đời sống chính trị (dân chủ tham gia), các đảng chính trị, các phong trào, các nhóm lợi ích, truyền thông. Đầu ra (của các thiết chế nhà nước) gồm pháp luật, các chương trình, dự án, các chính sách (chẳng hạn, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách quốc phòng, đối ngoại v.v…). Cả ba hợp phần: các thiết chế nhà nước, đầu vào, đầu ra đều được đặt dưới ảnh hưởng và tác động mang tính quyết định (bởi được hiến định) của các giá trị cốt lõi như sự giới hạn của quyền lực nhà nước, chế độ dân chủ đại diện, các quyền tự do, quyền dân sự v.v… (thực chất, đó là các giá trị của dân chủ và pháp quyền – tác giả chú thích). Trong một công trình nghiên cứu đồ sộ mang tên ” Nền dân chủ Mỹ” ( The American Democracy) hai nhà nghiên cứu Thomas E. Patterson và Gary M.Halter thuộc trường quản trị John F.Kennedy, ĐH Harvard đã làm rõ hơn những giá trị hiến định ở Mỹ mà D.Easton đề cập, đó là ba nhóm giá trị: nền dân chủ, chủ nghĩa hiến pháp, chủ nghĩa tư bản. Dân chủ được hiểu là quản trị bởi người dân và được thực hiện thông qua hệ thống dân chủ đại diện hình thành thông qua bầu cử.Chủ nghĩa hiến pháp được hiểu là những nguyên tắc nhằm giới hạn quyền lực của Nhà nước trong mối quan hệ với công dân. Chủ nghĩa tư bản được hiểu là một hệ thống kinh tế dựa trên nền tảng của các nguyên lý thị trường tự do.

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trên cơ sở phát triển mô hình lý thuyết của D.Easton về hệ thống chính trị, một nhóm nhà nghiên cứu chính trị học người Mỹ đứng đầu là giáo sư Gabriel Abraham Almond (1911-2002) đã cho ra đời cuốn chuyên khảo nổi tiếng trong khoa học chính trị hiện đại: ” Chính trị so sánh hiện nay” (” Comparative Politics Today“). Các tác giả này cho rằng, hệ thống chính trị là một loại hệ thống xã hội nhưng có các thẩm quyền đưa ra các quyết định quyền lực chính thức. Về cấu trúc, đó là một hệ thống các thiết chế như Nghị viện, các cơ quan quản lý, hành chính công vụ, các tòa án với các chức năng hình thành và thực hiện các mục tiêu của toàn xã hội cũng như của các bộ phận khác nhau trong xã hội. Qua định nghĩa này có thể thấy, cũng giống như D.Easton, các tác giả đã không coi các thiết chế nhà nước là tổ hợp duy nhất của hệ thống chính trị mà còn có yếu tố “các mục tiêu của toàn xã hội và của các bộ phận khác nhau trong xã hội”. Và cũng như D. Easton, nhóm của G.Almond đã coi hệ thống chính trị gồm có cả “đầu vào” và “đầu ra” với những chức năng được xác định. Theo đó, các chức năng của yếu tố “đầu vào” gồm: chức năng tập hợp, kết nối lợi ích, chức năng xã hội hóa chính trị, chức năng lựa chọn lợi ích, chức năng giao tiếp chính trị. Tập hợp và kết nối lợi ích được hiểu là một quá trình của việc hình thành và biểu hiện các yêu cầu, đòi hỏi đối với các thiết chế có chức năng đưa ra các quốc sách chính trị và quyền lực. Lựa chọn lợi ích là quá trình phân loại các yêu cầu, đòi hỏi về lợi ích, liên hệ chúng với nội dung các chương trình hành động của các chính đảng, các cuộc vận động tranh cử, các kiến nghị của dân chúng. Xã hội hóa chính trị là quá trình nhằm đưa các quy tắc, chuẩn mực và các giá trị của hệ thống chính trị đến với cá nhân công dân các giai tầng và nhóm xã hội. Giao tiếp chính trị được hiểu là việc tuyên truyền, chuyển tải các thông tin chính trị giữa các bộ phận của hệ thống chính trị và giữa hệ thống chính trị với xã hội.Những chức năng nêu trên của yếu tố “đầu vào” thuộc về các chủ thể của hệ thống chính trị như các cơ quan nhà nước, đảng chính trị, các nhóm lợi ích.

“Đầu ra” có các chức năng: xác lập chính sách và pháp luật, thực hiện chính sách và pháp luật, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chính sách và pháp luật. Những chức năng đó thuộc về các chủ thể như đảng cầm quyền, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Trong những công trình nghiên cứu về sau của D.Easton, hệ thống chính trị đã được mô tả như một quá trình hình thành và đưa ra các quyết sách chính trị, trên cơ sở ý tưởng về các yếu tố “đầu vào”, “đầu ra” và “các chức năng” của đầu vào và đầu ra của hệ thống chính trị.

Trên cơ sở lập luận về hệ thống chính trị như là sự tương tác giữa các thiết chế tổ chức chính trị và nhà nước với các yếu tố “đầu vào”, “đầu ra” của hệ thống đó, nhà xã hội học chính trị người Mỹ là Seymour Martin Lipset (1922-2006) đã đưa ra khái niệm chung và các tiêu chí hiệu quả và mức độ ổn định của hệ thống chính trị. Theo tác giả này, hiệu quả của hệ thống chính trị là khả năng phản ứng nhanh chóng và đầy đủ đối với các yêu cầu và đòi hỏi của xã hội, là việc đạt các mục tiêu đề ra trong việc quản lý các vấn đề chính trị và xã hội. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hệ thống chính trị bao gồm:

– Năng lực huy động được các nguồn lực.

– Năng lực kiểm soát được hành vi cá nhân và xã hội.

– Năng lực phân phối các nguồn lực khan hiếm cũng như các dịch vụ, các vị trí.

– Năng lực bảo tồn và phát triển các giá trị trong xã hội.

Khái niệm ” ổn định chính trị” được S.Lipset coi là một trạng thái bền vững của hệ thống chính trị có được trên cơ sở khả năng phản ứng đối với những yêu cầu và đòi hỏi mà xã hội đặt ra cho hệ thống đó và khả năng đưa ra được và thực hiện được những quyết sách một cách có hiệu quả. Điều kiện bảo đảm sự ổn định chính trị gồm hai yếu tố quan trọng là tính chính đáng và tính hiệu quả của quyền lực chính trị, khi hai yếu tố đó có những mức độ liên hệ với nhau thì sẽ cho ta những trạng thái ổn định khác nhau của hệ thống chính trị. S.Lipset chia ra 3 mức độ tính ổn định của hệ thống chính trị như sau: 1) hệ thống vừa bảo đảm tính chính đáng vừa có hiệu quả, trường hợp này hệ thống chính trị được coi là ổn định cao; 2) hệ thống chỉ có một trong hai tính chất đó – khi đó được hiểu là một hệ thống có hiệu quả nhưng không có tính chính đáng hoặc tuy có tính chính đáng nhưng không có hiệu quả; cả hai trường hợp này cho ta kết quả về một hệ thống chính trị tương đối ổn định; 3) hệ thống chính trị vừa không có hiệu quả, vừa thiếu tính chính đáng là hệ thống không ổn định.

Lý thuyết của các nhà nghiên cứu khoa học chính trị Mỹ về hệ thống chính trị đã trở thành lý thuyết phổ biến trong khoa học chính trị hiện đại. Trong các giáo trình về chính trị học xuất bản tại LB Nga trong những thập niên gần đây đã có sự tiếp cận sát vào lý thuyết của Easton cùng với việc tiếp cận những tư tưởng của các tác giả khác thuộc trường phái xã hội học chính trị Mỹ như Talcott Parsons, Gabriel Almond, Bringham Powell v.v… Đánh giá về lý thuyết này, các nhà chính trị học Nga coi đây là một bước chuyển trong nghiên cứu về chính trị từ cách nhìn theo kiểu cấu trúc hình thức về các thiết chế tổ chức sang cách nghiên cứu theo sự tương tác và nhận thức về các giá trị trong chính trị như những hợp phần của hệ thống chính trị thực tế. Với sự “mặc nhiên” thừa nhận lý thuyết Easton, trong một cuốn giáo trình chính trị học khác, các nhà nghiên cứu chính trị học Nga đã đưa ra khái niệm “hệ thống chính trị” như sau: ” Hệ thống chính trị là tổ hợp các cấu trúc, các quy tắc, các định hướng chính trị với chức năng kết nối xã hội, thích nghi với môi trường xa hội, có khả năng đưa ra được những quyết sách chính trị quan trọng nhất “.

Trong một công trình đồ sộ giới thiệu hầu hết các hệ thống chính trị tại các quốc gia trên thế giới (192 quốc gia) của hai nhà chính trị học Anh là J.Denis Derbyshire và Ian Derbyshire do nhà xuất bản Helicon ấn hành năm 1999, một định nghĩa về hệ thống chính trị đã được đưa ra và qua định nghĩa đó có thể thấy được ảnh hưởng có tính quyết định của lý thuyết Easton. Các tác giả viết: ” Hệ thống chính trị của một đất nước – đó là một cái gì đó nhiều hơn là các thiết chế tổ chức. Hệ thống đó thực chất là sự tương tác năng động giữa các tư tưởng và lợi ích: một quá trình phản ánh các nhu cầu, đòi hỏi; và đánh giá việc thực hiện các nhu cầu và đòi hỏi đó là quá trình chuyển tải các sự kiện chính trị.

Qua nghiên cứu lý thuyết hiện đại về hệ thống chính trị bước đầu có thể rút ra một nhận xét như sau:

Trong quan điểm về hệ thống chính trị đã có bước chuyển từ quan điểm truyền thống nặng về mô tả cấu trúc nội tại, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế tổ chức chính trị, sang quan điểm mang đậm dấu ấn của xã hội học chính trị, xem hệ thống chính trị dưới ba phiên bản (hay là ba phương diện):

(1) Là một hệ thống các giá trị làm nền tảng tư tưởng, làm mục đích phụng sự của cả hệ thống chính trị. Những giá trị đó thường được chính thức xác định bởi Hiến pháp (hiến định) và cũng là tiêu chí cao nhất để đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị và các thiết chế trong hệ thống đó.

(2) Là một hệ thống kết nối giữa các thiết chế chính trị (đảng, nhà nước v.v…) với đời sống xã hội thông qua các hình thức và thiết chế phản ánh các nhu cầu, đòi hỏi của xã hội trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trong nước và quốc tế.

(3) Là một hệ thống các cách thức của sự tương tác, những cơ chế phản ánh, ghi nhận sàng lọc nhu cầu và lợi ích đa dạng, và trên cơ sở đó hình thành các quyết sách chính trị như các chính sách, pháp luật và thực hiện chính sách và pháp luật.

2. Cấu trúc của hệ thống chính trị

Quan điểm về hệ thống chính trị như là một quá trình tương tác của nhiều yếu tố khác nhau là cơ sở cho một cách nhìn đa dạng và toàn diện về cấu trúc của hệ thống chính trị.

Hệ thống chính trị có thể được coi là một hệ thống tương tác và kết nối chủ thể các quan hệ về chính trị.Hệ thống chính trị có thể được xây dựng trên cơ sở tương tác giữa phía quản lý (chính quyền) với đối tượng quản lý (người dân) theo những nguyên tắc khác nhau, chẳng hạn như nguyên tắc đồng thuận xuất phát từ sự thừa nhận và chia sẻ giá trị công bằng, thể hiện qua các chính sách, pháp luật của các thiết chế lãnh đạo chính trị và nhà nước (chẳng hạn, các quy định về bầu cử công bằng, các chính sách về tiếp cận công vụ và tiếp cận công lý công bằng v.v…).Trường hợp này được gọi là cấu trúc đồng thuận giá trị.

Một hệ thống chính trị bao gồm những bộ phận thiết chế tổ chức với sự phân công, phối hợp nhất định để tạo thành một cơ chế chung, đây là cấu trúc tổ chức của hệ thống chính trị. Cấu trúc tổ chức dựa trên nguyên tắc phân định chức năng chính trị. Theo đó, Nhà nước luôn là thiết chế quyền lực công, có vai trò và chức năng bảo đảm lợi ích chung; tại các quốc gia có hệ thống chính trị đa đảng thì các đảng chính trị đại diện cho lợi ích lâu dài, phổ biến của những giai cấp, tầng lớp khác nhau; còn các nhóm vận động hàng lang tại các nước đó có vai trò đại diện và phản ánh các lợi ích, yêu cầu phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định.

Trong bất kỳ hệ thống chính trị nào cũng có những cấp độ vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và thực hiện các quyết sách chính trị: cấp chiến lược (đảng cầm quyền, cơ quan lập pháp), cấp thực thi áp dụng pháp luật (hành pháp, tư pháp), các đại diện và phản ánh lợi ích, yêu cầu và thụ hưởng các kết quả của chính sách và pháp luật (công dân thông qua các thiết chế xã hội). Trường hợp này được gọi là cấu trúc phân tầng của hệ thống chính trị.

GS. TSKH. Đào Trí Úc,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp

Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam

Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính

Tài Liệu Ôn Tập Môn Hành Chính (Phần 3)

Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?

🌟 Home
🌟 Top