Hệ Thống Thông Tin Marketing

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Hệ Thống Marketing
  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Hệ Thống Marketing Và Nghiên Cứu Marketing
  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Social Media Là Gì? Những Kiến Thức Các Đặc Điểm Cần Nắm Rõ
  • Hệ thống thông tin marketing được thiết lập nhằm phục vụ nhà quản trị. Quản trị được cho là một công việc vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật. Tính nghệ thuật thể hiện ở chỗ nhà quản trị có sự khéo léo, sáng tạo trong xử lý tình huống. Tính khoa học ở chỗ, các quyết định của nhà quản trị có thể được hỗ trợ bởi các kết quả nghiên cứu về khoa học quản trị và hệ thống thông tin marketing (MIS).

    Bài này nói về hệ thống thông tin được triển khai để hỗ trợ nhà quản trị trong xử lý cộng việc, đặc biệt là hiểu biết và ra quyết định marketing.

    MIS được thiết lập để phục vụ tổ chức, cụ thể là cung cấp thông tin cho nhà quản trị

    Định kỳ, nhà quản trị cần quyết định như phát triển một sản phẩm mới. Trong mỗi quyết định như vậy, khi triển khai cần ra các quyết định cụ thể hơn như: tính năng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ… Nhà quản trị cần các thông tin hỗ trợ để thực hiện vai trò của mình.

    MIS ra đời nhằm phục vụ nhu cầu đó. Vì vậy để thiết kế MIS tốt, cần xác định rõ nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Để xác định cần biết:

    Những kiểu quyết định nào NQT thường xuyên thông qua

    • Thông tin nào cần có để ra quyết định
    • NQT thường nhận được thông tin nào
    • NQT yêu cầu định kỳ nghiên cứu vấn đề gì
    • Thông tin nào NQT muốn nhưng vẫn chưa có
    • NQT muốn có/đã có những thông tin nào định kỳ

    Dựa trên nhu cầu đó của NQT, MIS sẽ tìm kiếm, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối lại cho NQT

    Hệ thống thông tin Marketing

    Hệ thống thông tin marketing là một hệ thống bao gồm con người, thiết bị, thể thức nhằm thu thập, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho người ra quyết định marketing. (Kotler, P)

    Theo mô hình trên, MIS lấy thông tin từ 3 nguồn chính

    Nguồn thông tin nội bộ

    Nguồn thông tin nội bộ của doanh nghiệp có thể gồm: thông tin đặt hàng, thanh toán, tồn kho; thông tin bán hàng hoặc cơ sở dữ liệu. Đây là nguồn thông tin có giá khá rẻ.

    Hiện một số doanh nghiệp có nguồn thông tin nội bộ rất lớn và đây cũng là lợi thế lớn trong kinh doanh hiện nay. Những doanh nghiệp có lượng user lớn, sử dụng thường xuyên (như các mạng xã hội, máy tìm kiếm, trang thương mại điện tử…) có dữ liệu vô cùng lớn. Một việc quan trọng, và cũng thách thức với những doanh nghiệp này là khả năng phân tích dữ liệu để cho ra kết quả phục vụ kinh doanh. Công việc này là data science.

    Chẳng hạn mô hình kinh doanh của Facebook có lợi thế lớn ở nguồn thông tin nội bộ khổng lồ. Một mặt Facebook xây dựng/nuôi dưỡng bổ sung thêm thông tin bằng cách phục vụ người dùng và phát triển người dùng mới. Mặt khác Facebook khai thác dữ liệu từ nguồn người dùng đó.

    Nguồn thông tin bên ngoài hay thông tin tình báo

    Thông tin bên ngoài là thông tin không có sẵn, doanh nghiệp tổ chức thu thập. DN có thể thu thập bằng nhiều cách, như:

    • Tổ chức cho nhân viên KD tìm hiểu về thị trường và báo cáo
    • Tham khảo từ các trung gian (nhà phân phối, đại lý…)
    • Thành lập bộ phận chăm sóc khách hàng
    • Tìm hiểu các báo cáo của chính quyền, các hiệp hội ngành nghề
    • Mua thông tin bên ngoài

    Nghiên cứu marketing

    Nghiên cứu marketing là hệ thống thiết kế, thu thập, phân tích dữ liệu và báo cáo về vấn đề marketing mà doanh nghiệp đang gặp phải.

    Doanh nghiệp nghiên cứu trong nhiều tình huống, như: tìm hiểu động cơ khách hàng, hành vi mua, sự thỏa mãn của khách hàng; quy mô thị trường, thị phần; hiệu quả của hoạt động định giá, sản phẩm, phân phối, chiêu thị.

    Như nói ở trên, nghiên cứu Marketing được thiết kế và triển khai một cách có hệ thống, có cơ sở. Vì vậy, có tính thuyết phục cao. Doanh nghiệp cũng có thể có các kết quả đó không thông qua nghiên cứu. Như bằng kinh nghiệm chẳng hạn.

    Phân tích thông tin

    Sau khi lấy thông tin từ các nguồn trên, DN phân tích để có được các hiểu biết hữu ích cung cấp cho nhà quản trị. Đây cũng là một bước quan trọng.

    Một số ví dụ về sự phân tích thông tin.

    Thuật toán Facebook: sử dụng thông tin về hành vi của người dùng + thông tin báo cáo (report) để đánh giá các đối tượng (user, fanpage). Người dùng có hành vi đánh ngờ có thể bị đưa vào diện xem xét (checkpoint).

    Thuật toán Google: Google muốn đưa các kết quả tìm kiếm phù hợp nhất đến với người tìm kiếm. Tuy nhiên, có quá nhiều website dùng các thủ thuật không tự nhiên để nâng cao thứ hạng của mình. Thuật toán Google (như Penguin, Panda, Pigeon, Medic…) phân tích, nhằm tìm ra những website không phù hợp đó.

    Phân phối thông tin

    Thông tin cần được phân phối đúng người, kịp thời, chính xác.

    Trong mô hình trên, người quản trị không phải chỉ làm một người. Trong mỗi tổ chức có nhiều cấp quản trị, ở mỗi cấp lại có nhiều nhà quản trị khác nhau. Thông tin MIS cung cấp cho NQT cần đúng người.

    Cụ thể: thông tin về thị trường, thị phần thì không cần phân phối cho giám đốc nhân sự. Ngược lại hồ sơ bằng cấp, quá trình làm việc, lương bổng thì không cần cung cấp cho giám đốc marketing.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược
  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Digital Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và 11 Loại Hình Chính
  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Thời Đại Số
  • Hệ Thống Marketing Và Vai Trò Nghiên Cứu Marketing Dịch Vụ
  • Hệ Thống Thông Tin Marketing Và Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Social Media Là Gì? Những Kiến Thức Các Đặc Điểm Cần Nắm Rõ
  • Hoạt Động Marketing Và Marketing Trong Việc Đẩy Mạnh Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Quản Trị Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và Công Việc Liên Quan
  • Quản Trị Marketing Là Gì? Vai Trò Và Công Việc Trong Doanh Nghiệp
  • Để quản trị tốt một doanh nghiệp thì phải quản trị được tương lai của nó, mà muốn quản trị tương lai của nó thì phải quản trị thông tin. Cũng như vậy, chừng nào mà doanh nghiệp chưa quản trị tốt thông tin marketing thì nó không thể quản trị hoạt động marketing một cách có hiệu quả.

    Ngày nay, nhu cầu thông tin về khách hàng và đối thủ cạnh tranh đã trở thành một nhu cầu tất yếu phải có để có thể đưa ra các quyết định marketing có tính khả thi. Các doanh nghiệp cần phải biết được những thông tin về hành vi mua sắm của khách hàng, như họ làm gì, ở đâu, mua khi nào, mua như thế nào và tại sao mua. Ví dụ, Coca – Cola biết rằng có một triệu người Mỹ uống Coke hàng ngày vào bữa ăn sáng, và họ thích loại hộp khi mở có tiếng nổ bốp. Mỗi người Mỹ trong một năm ăn hết 156 suất hamburger, 95 cái xúc xích, 283 quả trứng, 4 kg ngũ cốc, mỗi ngày bỏ ra 90 phút để nấu ăn và 40 phút để ăn, và tất cả họ đã chi ra 650 triệu USD mỗi năm để mua thuốc giảm axít giúp tiêu hóa những thứ đã ăn. 38 % số người Mỹ thà chịu đi nhổ răng còn hơn phải đưa xe của mình đi sửa chữa, 51 % số đàn ông khi mặc quần xỏ chân trái trước và 65 % số phụ nữ thì làm điều ngược lại là xỏ chân phải trước, và nếu để cho ông chồng và bà vợ đi mua bia riêng lẽ, thì có đến 90 % số trường hợp là họ chọn những nhãn hiệu khác nhau.

    Các doanh nghiệp đều phải nghiên cứu những nhu cầu thông tin của các nhà quản trị và thiết kế các hệ thống thông tin marketing đáp ứng những nhu cầu đó.

    Hệ thống thông tin marketing(MIS) bao gồm con người, phương tiện thiết bị

    và qui trình thu thập, xử lý, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác và đáng tin cậy cho những người có thẩm quyền ra các quyết định marketing.

    Để tiến hành phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra, những người quản trị marketing cần những thông tin diễn biến của môi trường marketing. Vai trò của MIS là xác định nhu cầu thông tin của người quản trị, phát triển những thông tin cần thiết và cung cấp thông tin đó kịp thời cho những người quản trị marketing.

    Thông tin cần thiết được phát triển thông qua hệ thống ghi chép nội bộ trong doanh nghiệp, hoạt động tình báo marketing, nghiên cứu marketing và phân tích hỗ trợ quyết định marketing

    Hệ thống thông tin cơ bản được những người quản trị marketing sử dụng là hệ thống báo cáo nội bộ. Chúng gồm có các báo cáo về đặût hàng, bán hàng, giá cả, mức dự trữ, những khoản phải thu, những khoản phải trả,… Phân tích các thông tin này, những người quản trị có thể nhận thức được những cơ hội và những vấn đề marketing quan trọng.

    Khác với hệ thống báo cáo nội bộ cung cấp những số liệu về các kết quả, hệ thống tình báo marketing cung cấp những thông tin về tình hình đang diễn ra trong môi trường marketing.

    Hệ thống tình báo marketing là tập hợp những cách thức và những nguồn cung cấp dữ liệu mà những người quản trị marketing sử dụng để có được những thông tin cần thiết về diễn biến thường ngày của môi trường marketing.

    Có bốn cách thức chủ yếu mà những người quản trị marketing thường sử dụng để nghiên cứu môi trường marketing :

    Xem xét thông tin không có chủ đích. Tiếp xúc chung với những thông tin mà nhà quản trị không có mục đích rõ ràng nào trong suy nghĩ của mình.

    Xem xét thông tin có chủ đích. Tiếp xúc có định hướng, không cần phải tìm kiếm nhiều, những lĩnh vực hay loại thông tin ít nhiều đã được xác định rõ ràng.

    Tìm kiếm thông tin chính thức. Một nỗ lực có chọn lọc, thường là tiếp theo sau một kế hoạch, một trình tự hay một phương pháp đã xây dựng trước, để có được một thông tin nhất định.

    Các nguồn thông tin tình báo marketing mà những người quản trị marketing thường sử dụng là : sách báo, các ấn phẩm thương mại, trao đổi với khách hàng, những người cung ứng, những người phân phối, những người quản trị khác và các nhân viên của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, hệ thống thu thập thông tin này có hạn chế là những thông tin có giá trị có thể bị thất lạc hay nhận được quá trễ so với yêu cầu cần thiết cho việc ra các quyết định marketing. Chẳng hạn như những người quản trị marketing nhận được những thông tin về hành động của đối thủ cạnh tranh hay sự thay đổi trong hành vi của khách hàng quá muộn nên đã không thể đưa ra những quyết định phản ứng kịp thời và có hiệu quả.

    Để nâng cao chất lượng của việc cung cấp những thông tin kịp thời và có giá trị, nhiều doanh nghiệp đã tiến hành một số cải tiến hệ thống cung cấp thông tin của họ. Những cải tiến chủ yếu là :

    – Huy động và huấn luyện lực lượng bán hàng phát hiện và cung cấp nhanh những thông tin về diễn biến của tình tình thị trường, khách hàng theo những mẫu báo cáo cho trước và phân loại những thông tin nào thì cần gửi cho nhà quản trị nào.

    – Động viên những người phân phối, những người bán lẻ và những người trung gian khác cung cấp những thông tin tình báo quan trọng cho doanh nghiệp; cử người tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh thông qua việc mua các sản phẩm của các đối thủ, dự khai trương các cửa hàng và các cuộc triển lãm thương mại, đọc các tài liệu được công bố của các đối thủ cạnh tranh, dự đại hội các cổ đông của họ, nói chuyện với những nhiên viên cũ và những người đang làm việc cho họ, các đại lý, những người phân phối, những người cung ứng và các đại lý vận tải của họ,…

    – Mua thông tin của những người cung cấp từ bên ngoài, như các công ty tư vấn, các trung tâm nghiên cứu marketing,… Do tính chất chuyên nghiệp của mình, những tổ chức này có thể thu thập những số liệu điều tra nghiên cứu về các doanh nghiệp và người tiêu dùng với chi phí rẻ hơn nhiều so với việc từng doanh nghiệp

    tự làm lấy.

    – Thành lập trung tâm marketing nội bộ để thu thập và cung cấp tin tức tình báo marketing. Chức năng chính của bộ phận này là duy trì và nâng cao mức độ chính xác, đầy đủ kịp thời và đáng tin cậy của các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định marketing. Về phương thức hoạt động, trung tâm này cần phải nghiên cứu, thu thập các dữ liệu sơ cấp, xử lý và lưu trữ một cách có hệ thống những thông tin marketing cần thiết, giúp cho những người quản trị marketing tra cứu những thông tin hiện có một cách nhanh chóng và phân tích, đánh giá những thông tin mới. Những công việc này đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả các thông tin cung cấp cho những người quản trị marketing của doanh nghiệp.

    Nghiên cứu marketing là thiết kế và tổ chức thực hiện một cách có hệ thống tiến trình nghiên cứu các vấn đề marketing, từ việc phát hiện vấn đề, xác định mục tiêu, phạm vi và nội dung nghiên cứu, cho đến việc lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu, thiết kế bảng câu hỏi, tổ chức thu thập, xử lý dữ liệu, phân tích, đánh giá thông tin và đề xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề marketing đặt ra.

    Nguồn dữ liệu

    Phương pháp nghiên cứu

    Công cụ nghiên cứu

    Kế hoạch lấy mẫu

    Mẫu phi xác suất

    Phương pháp tiếp xúc

    Bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu marketing là phân tích dữ liệu đã thu thập để có được những kết quả thích hợp. Người nghiên cứu tiến hành bảng hóa các số liệu rồi dựng các phân bố tần suất một chiều, tính giá trị trung bình và độ phân tán cho những biến số chính. Người nghiên cứu cũng áp dụng một số phương pháp thống kê và mô hình ra quyết định tiên tiến với hy vọng phát hiện thêm được những kết quả bổ sung.

    Theo Philip Kotler, tổ chức tốt công tác nghiên cứu marketing cần phải đáp ứng những yêu cầu chủ yếu sau đây:

    Khi lần đầu tiên cà phê hòa tan được tung ra thị trường, các bà nội trợ đã phàn nàn rằng vị của nó không giống cà phê thực. Dù vậy, trong các lần kiểm nghiệm có bịt mắt, các bà nội trợ đã không thể phân biệt được tách cà phê hòa tan với tách cà phê thực. Điều này cho thấy rằng phần lớn các trường hợp phản đối chỉ là do tác động tâm lý. Một thử nghiệm được tiến hành bằng cách đưa ra hai sổ ghi chép mua hàng, trong đó một sổ ghi cà phê thường đưa cho một nhóm các bà nội trợ, còn sổ kia ghi cà phê hòa tan được đưa cho một nhóm khác tương tự. Cả hai nhóm đều được yêu cầu đoán nhận những đặc điểm xã hội và cá nhân của người phụ nữ có sổ mua hàng mà họ được xem. Những lời nhận xét gần như hoàn hoàn giống nhau, chỉ có một điểm khác biệt lớn: Phần lớn các bà nội trợ xem sổ mua hàng ghi cà phê hòa tan đều mô tả đối tượng là “một người vợ lười biếng, hoang phí và kém cỏi, không biết thu xếp công việc gia đình “. Hiển nhiên là những người phụ nữ này đã gán cho bà nội trợ hư cấu kia những nỗi băn khoăn và những ý nghĩ xấu của chính mình về chuyện dùng cà phê hòa tan. Biết được thực chất của sự phản đối đó, công ty cà phê hòa tan có thể triển khai một chiến dịch nhằm làm thay đổi hình ảnh của một bà nội trợ sử dụng cà phê hòa tan.

    – Mô hình hóa vấn đề và cấu trúc của nó một cách rõ ràng. Việc mô hình hóa vấn đề và cấu trúc của nó một cách rõ ràng sẽ giúp cho việc nhận thức một cách đầy đủ và có hệ thống vấn đề nghiên cứu, các mối quan hệ nguyên nhân và kết quả, cũng như giúp tìm kiếm đễ dàng những thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra.

    Ngày càng có nhiều tổ chức bổ sung thêm dịch vụ thông tin thứ tư, hệ thống hỗ trợ quyết định marketing (MDSS), để giúp những nhà quản trị marketing của mình thông qua những quyết định đúng đắn hơn.

    Little đã định nghĩa MDSS như sau : một bộ dữ liệu có phối hợp, các hệ thống, công cụ và phương pháp cùng với phần mềm và phần cứng hỗ trợ mà một tổ chức sử dụng để thu thập và giải thích những thông tin hữu quan phát ra từ doanh nghiệp và môi trường rồi biến nó thành cơ sở để đề ra biện pháp marketing.

    Hình dưới minh họa khái niệm về MDSS. Giả sử một người quản trị marketing cần phân tích một vấn đề và thông qua một biện pháp. Người quản trị đặt các câu hỏi cho mô hình tương ứng trong MDSS. Mô hình đó rút ra những số liệu đã được phân tích thống kê. Sau đó nhà quản trị có thể sử dụng một chương trình để xác định cách triển khai biện pháp một cách tối ưu. Nhà quản trị thi hành biện pháp đó và biện pháp đó cùng với các lực lượng khác sẽ tác động lên môi trường và cho kết quả là những số liệu mới.

    Những công cụ định lượng chủ yếu được sử dụng trong hệ thống hỗ trợ quyết định marketing gồm có :

    TÓM TẮT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Bài 1: Hệ Thống Marketing
  • Hệ Thống Marketing
  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược
  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Bài 1: Hệ Thống Thông Tin Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Hệ Thống Marketing Và Nghiên Cứu Marketing
  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Social Media Là Gì? Những Kiến Thức Các Đặc Điểm Cần Nắm Rõ
  • Hoạt Động Marketing Và Marketing Trong Việc Đẩy Mạnh Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Tóm tắt lý thuyết

    Thông tin marketing là một yếu tố cực kỳ quan trọng, đảm bảo marketing có hiệu quả như một kết quả của xu hướng marketing toàn quốc và quốc tế; chuyển từ nhu cầu của người mua sang mong muốn của người mua và chuyển từ cạnh tranh bằng giá cả sang cạnh tranh phi giá cả. Người bán đòi hỏi những thông tin marketing ngày càng nhiều để phục vụ cho việc kế hoạch hóa và ra các quyết định marketing. Những thông tin này bao gồm cả thông tin lịch sử, hiện tại và tương lai, thông tin bên trong và bên ngoài. Tinh hình đó buộc các doanh nghiệp phải có hệ thống thông tin và tổ chức nghiên cứu marketing.

    Hệ thống thông tin marketing bao gồm con người, thiết bị và các thủ tục dung để thu thập, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối thông tin cần thiết một cách chính xác, kịp thời cho các nhà quyết định Marketing (Philip Kotler).

    Trên cơ sở tham khảo định nghĩa trên, yếu tố con người và thiết bị có vai trò thiết yếu trong hệ thống thông tin marketing. Có thể nhận dạng một hệ thống thông tin marketing lý tưởng có khả năng sau:

    Tạo ra các báo cáo thường xuyên và các nghiên cứu đặc biệt khi cần thiết;

    Kết hợp các số liệu củ và mới để cung cấp các thông tin cập nhật và xác định các xu hướng thị trường;

    Phân tích số liệu (dùng các mô hình toán học);

    Giúp cho các nhà quản lý trả lời các câu hỏi dạng “Nếu… thì…?” Ví dụ “Nếu công ty giảm giá 10% thì doanh số tăng bao nhiêu?”…

    Do máy tính cá nhân ngày càng được sử dụng rộng rãi và dễ dàng với chi phí thấp và khả năng nối mạng các máy tính ở các địa điểm khác nhau nên hệ thống thông tin marketing từ mạng máy tính mang lại những tiềm năng to lớn hơn cho các nhà quản trị marketing.

    Một hệ thống thông tin marketing trên cơ sở ứng dụng mạng máy tính có thể cung cấp nhanh chóng các thông tin marketing cần thiết với chi phí thấp. Giá trị và sự thành công của hệ thống thông tin marketing phụ thuộc vào ba yếu tố:

    Bản chất và chất lượng của các số liệu sẵn có;

    Độ chính xác, tính hiện thực của các mô hình và kỹ thuật phân tích các số liệu;

    Mối quan hệ công tác giữa nhà khai thác hệ thống thông tin và các nhà quản lý marketing sử dụng thông tin.

    Như nói trên, vì thông tin marketing là một yếu tố cực kỳ quan trọng nên tất cả các công ty đều có một hệ thống thông tin marketing, nhưng những hệ thống này khác nhau rất nhiều về mức độ tinh vi.

    Trong rất nhiều trường hợp thông tin không có hoặc đến chậm hay không thể tin cậy được. Ngày nay, ngày càng có nhiều công ty đang cố gắng cải tiến hệ thống thông tin marketing của mình.

    Hệ thống thông tin marketing trong các doanh nghiệp

    Một hệ thống thông tin marketing được thiết kế tốt gồm bốn hệ thống con:

    Hệ thống thông tin cơ bản nhất mà những người quản lý marketing sử dụng là hệ thống ghi chép nội bộ. Nội dung gồm có những báo cáo về đợt đặt hàng, tĩnh hình tiêu thụ, giá cả, mức dự trữ, nhũng khoản phải thu, những khoản phải chi,… Khi phân tích những thông tin này, những nhà quản trị marketing có thể xác định được những cơ hội và vấn đề quan trọng.

    Trái tim của hệ thống ghi chép nội bộ là chu kỳ đặt hàng – chuyển tiền. Các đại diện bán hàng, đại lý và khách hàng gửi đơn đặt hàng cho công ty. Bộ phận đặt hàng chuẩn bị hóa đơn và gửi bản sao cho các bộ phận khác nhau. Những mặt hàng trong kho hết sẽ được đặt làm. Hàng gửi đi có kèm theo chứng từ gửi hàng và vận đơn. Những giấy tờ này cũng được sao thành nhiều bản và gửi cho các bộ phận khác nhau.

    Ngày nay các công ty cần thực hiện nhanh chóng và chính xác ba bước này. Khách hàng ưa thích những công ty có thể đảm bảo giao hàng kịp thời. Các đại diện bán hàng cần gửi đơn đặt hàng của mình vào mỗi buổi tối, và có những trường hợp phải gửi ngay lập tức. Bộ phận thực hiện đơn hàng phải xử lý nhanh chóng các đơn hàng đó. Kho phải xuất hàng ngay khi có thể. Các chứng từ hóa đơn cần được lập ngay tức thì. Hiện nay những công ty năng động đang thực hiện những chương trình cải tiến chất lượng tổng hợp nhằm nâng cao tốc độ và độ chính xác giải quyết các công việc giữa các bộ phận, và nhiều báo cáo đã nâng được chất lượng đáng kể.

    Người quản lý marketing cần có những hệ thống báo cáo tình hình tiêu thụ như báo cáo cập nhật về tình hình tiêu thụ hiện thời. Các công ty hàng tiêu dùng đóng gói có thể nhận được báo cáo tình hình bán lẻ hai tháng một lần. Các cán bộ điều hành của các công ty cứ khoảng mười ngày cần nhận được báo cáo về tình hình tiêu thụ. Song nhiều cán bộ điều hành vẫn phàn nàn là tình hình tiêu thụ không được báo cáo kịp thời về công ty.

      Hệ thống thu thập thông tin marketing thường xuyên bên ngoài.

    Ngoài ra, để có thông tin bên ngoài thường xuyên, kịp thời các doanh nghiệp còn huấn luyện, khuyến khích những người bán hàng ghi chép và cung cấp các sự kiện đang xảy ra; khuyến khích các nhà phân phối bán lẻ thông báo những tin tức quan trọng khác. Nhiều doanh nghiệp còn tự tổ chức bộ phận thu phát thông tin hàng ngày. Thậm chí công ty có thể mua thông tin của các bộ phận, tổ chức, cá nhân chuyên cung cấp dịch vụ thông tin marketing.

    Hệ thống tình báo marketing là một tập những thủ tục và nguồn mà nhà quản trị sử dụng để nhận được thông tin hàng ngày về diễn biến cần biết trong môi trường marketing.

    Một số công ty kinh doanh giỏi đã tiến hành thêm một số bước nhằm nâng cao chất lượng và số lượng của công tác tình báo marketing.

    Một là, họ huấn luyện và động viên lực lượng bán hàng phát hiện và báo cáo những diễn biến mới.

    Hai là, công ty động viên những người phân phối, những người bán lẻ, những người trung gian khác cung cấp những tin tức tĩnh báo quan trọng.

    Ba là, công ty mua thông tin của những người cung cấp ở bên ngoài, như các công ty nghiên cứu thị trường, của A c. Nielsen Company và Information Resources, Inc. Các công ty nghiên cứu này có thể thu thập những số liệu điều tra nghiên cứu về cửa hàng và người tiêu dùng với chi phí rẻ hơn nhiều so với trường hợp từng công ty tự làm lấy.

    Bốn là, một số công ty đâ thành lập một trung tâm thông tin marketing nội bộ để thu thập và cung cấp tin tức tình báo marketing. Đội ngủ này nghiên cứu những ấn phẩm chủ yếu và các bản tin hữu quan, rồi sau đó biên soạn tổng luận một bản tin để cung cấp cho nhà quản trị marketing. Họ thu thập, lưu trữ những thông tin hữu quan và giúp nhà quản trị trong việc đánh giá các thông tin mới. Dịch vụ này đã nâng cao đáng kể chất lượng thông tin cung cấp cho nhà quản trị marketing.

      Hệ thống nghiên cứu marketing

    Nghiên cứu marketing là việc xác định một cách có hệ thống những tài liệu cần thiết về hoàn cảnh marketing của công ty; là thu thập, phân tích và báo cáo kết quả về các thông tin đó. Có thể nói, nghiên cứu marketing là chìa khóa cho sự thành công của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào theo đuổi định hướng khách hàng cũng cần đến các nghiên cứu marketing để thực hiện phương châm bán những thứ mà khách hàng cần. Như vậy nghiên cứu marketing nhằm xác định một cách có hệ thống những tư liệu cần thiết do tình huống marketing đặt ra cho công ty; thu thập, phân tích chúng và báo cáo kết quả.

    Nghiên cứu marketing có thể được thực hiện bằng hai cách là bản thân công ty tự làm lấy hoặc công ty thuê ngoài làm. Các công ty nhỏ thường không có đủ nhân lực để tiến hành các nghiên cứu marketing cho mình. Họ có thể thuê sinh viên, giáo viên các trường đại học, hoặc thuê các tổ chức chuyên nghiên cứu marketing thực hiện theo yêu cầu đặt ra của công ty. Các công ty lớn thường có đủ tiềm lực để tổ chức một bộ phận nghiên cứu marketing chuyên nghiệp. Như vậy, công ty sẽ chủ động trong nghiên cứu marketing.

    Nhà quản trị nghiên cứu marketing thường làm việc dưới quyền phó chủ tịch phụ trách marketing – là người chỉ đạo quản lỹ nghiên cứu, cố vấn của công ty và người bào chữa. Các công ty thường cấp kinh phí cho công tác nghiên cứu marketing trong khoảng từ 1 đến 2% doanh số bán của công ty. Khoảng từ 50% đến 80% số tiền này do bộ phận nghiên cứu marketing trực tiếp chi, số còn lại được sử dụng để mua những dịch vụ của các công ty nghiên cứu marketing ở bên ngoài.

      Hệ thống phân tích thông tin marketing

    Hệ thống phân tích thông tin marketing là tập các phương pháp phân tích, xử lý thông tin marketing thu thập được nhằm đưa ra các kết luận cần thiết cho quá trình ra quyết định marketing. Hệ thống này bao gồm ngân hàng thống kê và ngân hàng mô hình.

    Ngân hàng thống kê là tổng hợp những phương pháp hiện đại của việc xử lý thống kê các thông tin, cho phép khám phá một cách đầy đủ sự phụ thuộc lẫn nhau trong phạm vi lựa chọn tài liệu và xác lập mức độ tin cậy thống nhất của chúng. Nhờ những phương pháp đó người lãnh đạo nhận được lời đáp về những vấn đề sau:

    Biến số cơ bản nhất ảnh hưởng đến việc tiêu thụ, mỗi biến số đó có ý nghĩa như thế nào?

    Đặc trưng nào là tiêu chuẩn quan trọng nhất về khách hàng lựa chọn mua hàng hóa của doanh nghiệp?

    Việc phân đoạn thị trường theo tham số nào đó tốt nhất, thị trường của doanh nghiệp sẽ là bao nhiêu đoạn?

    Ngân hàng mô hình

    Ngân hàng mô hình là tập hợp nhũng mô hình toán học giúp cho nhà quản trị thông qua các quyết định marketing tối ưu hơn. Ví dụ:

    • Mô hình tính toán giá;

    Mỗi mô hình gồm tập hợp các biến số liên hệ qua lại với nhau, biểu diễn một hệ thống tồn tại thực sự nào đó, một quá trình có thực hay một kế hoạch nào đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Marketing
  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược
  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Digital Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và 11 Loại Hình Chính
  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Thời Đại Số
  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Thông Tin Và Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Marketing Và Nghiên Cứu Marketing
  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Social Media Là Gì? Những Kiến Thức Các Đặc Điểm Cần Nắm Rõ
  • Hoạt Động Marketing Và Marketing Trong Việc Đẩy Mạnh Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Quản Trị Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và Công Việc Liên Quan
  • Làm thế nào ban lãnh đạo công ty có thể nắm được những mong muốn luôn thay đổi của khách hàng, những sáng kiến mới của đối thủ cạnh tranh, các kênh phân phối luôn thay đổi, v…v.? Câu trả lời đã rõ ràng: Ban lãnh đạo phải phát triển và quản trị thông tin.

    1. Khái niệm và các bộ phận cấu thành của một hệ thống thông tin Marketing.

    Mọi công ty đều phải tổ chức dòng thông tin Marketing dẫn đến những người quản trị Marketing của mình. Các công ty đang nghiên cứu những nhu cầu thông tin của người quản trị và thiết kế các hệ thống thông tin Marketing của mình (MIS) để đáp ứng những nhu cầu đó. Ta định nghĩa hệ thống thông tin Marketing như sau:

    Hệ thống thông tin Marketing (MIS) bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời và chính xác cho những người soạn thảo các quyết định Marketing.

    Khái niệm hệ thống thông tin Marketing được minh họa trong hình H.2.1. Để tiến hành phân tích lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra, những nhà quản trị Marketing cần những thông tin về tình hình diễn biến của môi trường Marketing. Vai trò của MIS là xác định những nhu cầu thông tin của người quản trị, phát triển những thông tin cần thiết và phân phối thông tin đó kịp thời cho những nhà quản trị Marketing.

    Thông tin cần thiết được phát triển thông qua ghi chép nội bộ ở công ty, hoạt động tình báo Marketing, nghiên cứu Marketing và phân tích hỗ trợ quyết định Marketing. Bây giờ ta sẽ mô tả từng hệ thống con chủ yếu trong MIS của công ty.

    Hình 2.1: Hệ thống thông tin Marketing

    2. Hệ thống ghi chép nôi bộ

    Hệ thống thông tin cơ bản nhất mà những người quản lý Marketing sử dụng là hệ thống ghi chép nội bộ. Nội dung gồm có những báo cáo về đợt đặt hàng, tình hình tiêu thụ, giá cả, mức dự trữ, những khoản phải thu, những khoản phải chi, v…v. Khi phân tích những thông tin này, những nhà quản trị Marketing có thể xác định được những cơ hội và vấn đề quan trọng.

    Chu kỳ đặt hàng – chuyển tiền

    Trái tim của hệ thống ghi chép nội bộ là chu kỳ đặt hàng – chuyển tiền. Các đại diện bán hàng, đại lý và khách hàng gửi đơn đặt hàng cho công ty. Bộ phận đặt hàng chuẩn bị hóa đơn và gửi bản sao cho các bộ phận khác nhau. Những mặt hàng trong kho hết sẽ được đặt làm. Hàng gửi đi có kèm theo chứng từ gửi hàng và vận đơn. Những giấy tờ này cũng được sao thành nhiều bản và gửi cho các bộ phận khác nhau.

    Ngày nay các công ty cần thực hiện nhanh chóng và chính xác ba bước này. Khách hàng ưa thích những công ty có thể đảm bảo giao hàng kịp thời. Các đại diện bán hàng cần gửi đơn đặt hàng của mình vào mỗi buổi tối, và có những trường hợp phải gửi ngay lập tức. Bộ phận thực hiện đơn hàng phải xử lý nhanh chóng các đơn hàng đó. Kho phải xuất hàng ngay khi có thể. Các chứng từ hóa đơn cần được lập ngay tức thì. Hiện nay những công ty năng động đang thực hiện những chương trình cải tiến chất lượng tổng hợp nhằm nâng cao tốc độ và độ chính xác giải quyết các công việc giữa các bộ phận, và nhiều báo cáo đã nâng được chất lượng đáng kể.

    Hệ thống báo cáo tình hình tiêu thụ

    Những người quản lý Marketing cần có những báo cáo cập nhật về tình hình tiêu thụ hiện thời. Những công ty hàng tiêu dùng đóng gói có thể nhận được báo cáo tình hình bán lẻ hai tháng một lần. Các cán bộ điều hành của các công ty cứ khoảng mười ngày cần nhận được báo cáo về tình hình tiêu thụ của mình. Song nhiều cán bộ điều hành vẫn phàn nàn là tình hình tiêu thụ không được báo cáo kịp thời về công ty.

    Các đại diện bán hàng của Mead có thể nhận được ngay lập tức những giải đáp cho những câu hỏi cuả khách hàng về những loại giấy hiện có trong kho bằng cách liên lạc với trung tâm máy tính của Mead Paper. Máy tính sẽ xác định xem loại giấy đó đang có ở kho nào gần nhất và khi nào có thể gửi hàng đi. Nếu trong kho không còn thì máy tính sẽ kiểm tra lượng dự trữ ở các kho lân cận cho đến khi nào tìm được nó. Nếu không có kho nào còn loại giấy đó thì máy tính sẽ xác định loại giấy đó có thể sản xuất ở đâu và khi nào. Người đại diện bán hàng sẽ nhận được câu trả lời trong vài giây đồng hồ và nhờ vậy có lợi thể hơn các đối thủ cạnh tranh.

    Thiết kế một hệ thống báo cáo theo yêu cầu người sử dụng

    Khi thiết kế một hệ thống thông tin tình hình tiêu thụ tiên tiến, công ty cần tránh một số điểm nguy hiểm nhất định. Thứ nhất, nó có thể tạo ra một hệ thống cung cấp quá nhiều thông tin. Mỗi sáng, khi đến cơ quan những nhà quản trị nhận được rất nhiều số liệu thống kê và tình hình tiêu thụ mà họ sẽ hoặc là cho qua hoặc là phải mất quá nhiều thời gian để đọc. Thứ hai, nó có thể tạo ra một hệ thống cung cấp những thông tin quá mới mẻ! Những nhà quản trị có thể có những phản ứng quá mức cần thiết đối với những biến động lặt vặt của tình hình tiêu thụ.

    Hệ thống thông tin Marketing của công ty phải cung cấp đầy đủ tất cả những gì mà những nhà quản trị nghĩ rằng họ cần, những gì mà những nhà quản trị thực sự cần và những gì mà có thể thực hiện được về mặt kinh tế. Một bước hữu ích là chỉ định ra một ban phụ trách hệ thống thông tin Marketing nội bộ để hỏi ý kiến tất cả các cán bộ điều hành Marketing, như những người quản lý sản phẩm, những nhà quản trị tiêu thụ, các đại diện bán hàng, v…v để phát hiện những nhu cầu thông tin của họ.

    Bảng 2.1. Bảng câu hỏi để xác định những nhu cầu thông tin marketing

    • 1. Những kiểu quyết định nào mà bạn phải thường xuyên thông qua?
    • 2. Những kiểu thông tin nào bạn cần để thông qua những quyết định đó?
    • 3. Bạn thường nhận được những kiểu thông tin nào?
    • 4. Bạn yêu cầu định kỳ phải nghiên cứu những vấn đề gì?
    • 5. Những kiểu thông tin nào mà bạn muốn nhưng hiện nay vẫn không nhận được.
    • 6. Hàng ngày bạn muốn có những thông tin gì? (tuần, tháng….)
    • 7. Những tạp chí và thông báo thương mại nào bạn thich đọc và được gửi đến cho bạn thường xuyên?
    • 8. Những chuyên đề nào bạn muốn được thông tin thường xuyên?
    • 9. Những kiểu chương trình phân tích số liệu nào bạn muốn đọc và có sẵn?
    • 10. Theo ý kiến của bạn thì trong hệ thống thông tin marketing hiện nay bốn cải tiến bổ ích nhất có thể làm được là gì?

    3. Hệ thống tình báo Marketing

    Trong khi hệ thống ghi chép nội bộ cung cấp những số liệu về các kết quả, thì hệ thống tình báo Marketing lại cung cấp những số liệu về tình hình đang diễn ra. Ta định nghĩa hệ thống tình báo Marketing như sau:

    Hệ thống tình báo Marketing là một tập những thủ tục và nguồn mà những nhà quản trị sử dụng để nhận được những thông tin hàng ngày về những diễn biến cần biết trong môi trường Marketing.

    Những nhà quản trị nghiên cứu môi trường theo bốn cách:

    • Xem xét không có chủ đích: Tiếp xúc chung với những thông tin mà nhà quản trị không có mục đích rõ ràng trong đầu.
    • Xem xét có chủ đích: Tiếp xúc có định hướng, không cần phải tìm kiếm nhiều, với lĩnh vực hay kiểu thông tin ít nhiều đã được xác định rõ ràng.
    • Tìm kiếm không chính thức: Một nỗ lực tương đối hạn chế và không định trước để có được một thông tin xác định hay một thông tin phục vụ cho một mục đích xác định.
    • Tìm kiếm chính thức: Một nỗ lực có cân nhắc, thường là tiếp sau một kế hoạch, một thủ tục hay một phương pháp đã xây dựng trước, để có được một thông tin nhất định.

    Những nhà quản trị Marketing tiến hành công tác tình báo Marketing chủ yếu qua việc tự đọc sách, báo và các ấn phẩm thương mại, từ khách hàng, những người cung ứng, những người phân phối và những người khác ở bên ngoài, cũng như nói chuyện với những nhà quản trị khác và nhân viên trong công ty. Song hệ thống này vẫn mang tính chất tuỳ tiện và những thông tin có giá trị có thể bị thất lạc hay đến quá muộn. Những nhà quản trị có thể nhận thức ra một hành động của đối thủ cạnh tranh, một nhu cầu của khách hàng mới hay một vấn đề của đại lý quá muộn nên không thể đáp ứng tốt nhất được.

    Những công ty kinh doanh giỏi đã tiến hành thêm một số bước nữa nhằm nâng cao chất lượng và số lượng của công tác tình báo Marketing.

    Thứ nhất, họ huấn luyện và động viên lực lượng bán hàng phát hiện và báo cáo những diễn biến mới. Các đại diện bán hàng là “tai mắt” của công ty. Cương vị công tác của họ rất thuận lợi cho việc thu lượm những thông tin mà các phương tiện khác đã bỏ sót. Song vì quá bận nên thường không cung cấp được những thông tin quan trọng. Công ty phải xác định cho lực lượng bán hàng cần được phát những mẫu báo cáo in sẵn để dễ dàng điền thông tin vào. Các đại diện bán hàng cần phải biết những kiểu thông tin nào thì gửi cho cán bộ quản trị nào

    Thứ hai, công ty động viên những người phân phối, những người bán lẻ và những người trung gian khác cung cấp những tin tức tình báo quan trọng.

    Thứ ba, công ty mua thông tin của những người cung cấp ở bên ngoài, như các công ty nghiên cứu thị trưòng, của A C. Nielsen Company và Information Resources, Inc. Những công ty nghiên cứu này có thể thu thập những số liệu điều tra nghiên cứu về cửa hàng và người tiêu dùng với chi phí rẻ hơn nhiều so với trường hợp từng công ty tự làm lấy.

    Thứ tư, một số công ty đã thành lập một trung tâm thông tin Marketing nội bộ để thu thập và cung cấp tin tức tình báo Marketing. Đội ngũ này nghiên cứu những ấn phẩm chủ yếu và những bản tin hữu quan rồi biên soạn một bản tin để cung cấp cho những nhà quản trị Marketing. Họ thu thập và lưu trữ những thông tin hữu quan và giúp những nhà quản trị trong việc đánh giá những thông tin mới. Những dịch vụ này đã nâng cao đáng kể chất lượng thông tin cung cấp cho những nhà quản trị Marketing.

    4. Hệ thống nghiên cứu Marketing

    Nghiên cứu Marketing là thiết kế có hệ thống, thu thập, phân tích và thông báo những số liệu và kết quả tìm được về một tình huống Marketing cụ thể mà công ty đang gặp phải.

    Những nguồn cung ứng nghiên cứu Marketing

    Một công ty có thể xúc tiến nghiên cứu Marketing theo một số cách. Những công ty nhỏ có thể thuê sinh viên hay giáo sư của một trường đại học tại địa phương thiết kế và thực hiện đề án, hay họ có thể thuê một công ty nghiên cứu Marketing riêng cho mình. Nhà quản trị nghiên cứu Marketing thường làm việc dưới quyền phó chủ tịch phụ trách Marketing và là người chỉ đạo quản lý nghiên cứu, cố vấn của công ty và người bào chữa.

    Các công ty thường cấp kinh phí cho công tác nghiên cứu Marketing trong khoảng từ 1 đến 2% doanh số bán của công ty. Khoảng từ 50% đến 80% số tiền này do bộ phận nghiên cứu Marketing trực tiếp chi, số còn lại được sử dụng để mua những dịch vụ của các công ty nghiên cứu

    Marketing ở bên ngoài.

    Phạm vi nghiên cứu Marketing

    Những người nghiên cứu Marketing đã phát triển vững chắc các hoạt động và phương pháp của mình. Phạm vi nghiên cứu của marketing bao gồm từ sản phẩm, định giá, phân phối, khuyên mại cho đến các hành vi mua sắm của khách hàng. Những hoạt động này được hưởng lợi nhiều của những phương pháp ngày càng hoàn hảo. Nhiều phương pháp nghiên cứu, như xây dựng các phiếu câu hỏi và chọn mẫu địa bàn, đã xuất hiện ngay từ buổi đầu và đã được những người nghiên cứu Marketing ứng dụng nhanh và rộng rãi. Những phương pháp khác, như nghiên cứu động cơ và các phương pháp toán học, gặp nhiều trở ngại hơn, và đã gây ra những cuộc tranh cãi kéo dài và sôi nổi trong giới hoạt động thực tiễn về ích lợi thực tế của chúng. Song chúng cũng được chấp nhận là những phương pháp nghiên cứu Marketing.

    Quá trình nghiên cứu Marketing

    Nghiên cứu Marketing có hiệu quả gồm năm bước được thể hiện trong H.2.2. Ta sẽ minh họa năm bước này thông qua tình huống của công ty American Airlines.

    Công ty American Airlines không ngừng tìm kiếm những cách mới để phục vụ hành khách đi máy bay. Một cán bộ quản lý nảy ra ý tưởng cung ứng dịch vụ điện thoại cho khách hàng. Các cán bộ quản lý khách rất hững thú với ý tưởng đó và đều nhất trí rằng cần phải nghiên cứu tiếp. Nhà quản trị Marketing tình nguyện tiến hành nghiên cứu sơ bộ. Ông ta liên hệ với một công ty viễn thông lớn để tìm hiểu xem việc đảm bảo dịch vụ đó trên các chuyến bay xuyên lục địa của B-747 tốn mất bao nhiêu tiền. Công ty viễn thông cho biết rằng thiết bị này đòi hỏi hãng hàng không phải chi khoảng 1.000 USD cho mỗi chuyến bay. Hãng hàng không có thể hòa vốn nếu tính giá 25 USD một lần gọi điện và ít nhất có 40 hành khách gọi điện trong mỗi chuyến bay. Sau đó nhà quản trị Marketing đó đã yêu cầu người quản trị nghiên cứu Marketing của công ty tìm hiểu xem hành khách đi máy bay sẽ hưởng ứng dịch vụ này như thế nào.

    H.2.2. Quá trình nghiên cứu Marketing

    Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

    Bước đầu tiên đòi hỏi nhà quản trị Marketing và người nghiên cứu Marketing phải xác định vấn đề một cách thận trọng và thống nhất với nhau về mục tiêu nghiên cứu. Tục ngữ xưa có câu “Xác định rõ được vấn đề là đã giải quyết được một nửa”.

    Ban lãnh đạo phải dẫn dắt để tránh xác định vấn đề quá rộng hay quá hẹp. Nếu nhà quản trị Marketing bảo người nghiên cứu Marketing “Hãy tìm hiểu mọi thứ mà anh có thể làm được về những nhu cầu của hành khách đi máy bay” thì nhà quản trị đó sẽ nhận được nhiều thông tin không cần thiết. Mặt khác, nếu nhà quản trị Marketing yêu cầu “Hãy tìm hiểu xem liệu có đủ số hành khách trên các chuyến bay B-747 sẵn sàng trả 25 USD một cuộc gọi điện để đảm bảo American Airlines hòa vốn khi cung ứng dịch vụ này”, thì cách nhìn nhận vấn đề như vậy lại quá hẹp. Người nghiên cứu Marketing có thể nêu vấn đề: “Tại sao một lần gọi điện phải trả 25 USD? Tại sao American Airlines lại cần phải đảm bảo hòa vốn trong việc cung ứng dịch vụ này? Vì dịch vụ mới đó có thể thu hút thêm hành khách mới cho hãng đủ để ngay cả trong trường hợp họ không gọi điện đủ số lần yêu cầu thì hãng vẫn kiếm được tiền nhờ vào số vé bán được thêm”.

    Khi tiếp tục xem xét vấn đề, các cán bộ quản lý đã phát hiện ra một vấn đề mới. Nếu dịch vụ mới này thành công thì bao lâu sau các hãng hàng không khác sẽ bắt chước mình? Trong lịch sử cạnh tranh Marketing của ngành hàng không đã có quá nhiều ví dụ về trường hợp các dịch vụ mới đã được các đối thủ cạnh tranh bắt chước rất nhanh đến mức độ là không có hãng hàng không nào giành được lợi thế cạnh tranh lớn. Việc đi đầu quan trọng đến mức độ nào và có thể duy trì được vị trí đi đầu trong bao lâu?

    Nhà quản trị Marketing và người nghiên cứu Marketing nhất trí xác định vấn đề như sau: “Việc cung ứng dịch vụ điện thoại trong khi bay có tạo được mức độ ưa thích và lợi nhuận tăng thêm đủ để cho American Airlines bù đắp lại chi phí của mình với mức độ thỏa đáng so với những khả năng đầu tư khác mà hãng có thể thực hiện? Sau đó họ thống nhất với nhau về những mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

    • 1. Những lý do chủ yếu nào để hành khách phải gọi điện thoại trong khi bay?
    • 2. Những loại hành khách nào có nhiều khả năng gọi điện thoại nhất?
    • 3. Có bao nhiêu hành khách có thể gọi điện với mức giá đã định khác nhau?
    • 4. American Airlines có thể có thêm bao nhiêu hành khách do có dịch vụ mới này?
    • 5. Dịch vụ này sẽ cải thiện được hình ảnh của American Airlines trong thời gian bao lâu?
    • 6. Dịch vụ điện thoại có tầm quan trọng như thế nào so với những yếu tố khác, như lịch bay, chất lượng bữa ăn và cách thức giải quyết hành lý?

    Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

    Giai đoạn thứ hai của công tác nghiên cứu Marketing đòi hỏi phải xây dựng một kế hoạch có hiệu quả nhất để thu thập những thông tin cần thiết. Nhà quản trị Marketing không thể nói với người nghiên cứu Marketing một cách đơn giản là “Hãy tìm một số hành khách và hỏi họ xem họ có sử dụng điện thoại trong khi bay không, nếu có dịch vụ đó”. Người nghiên cứu Marketing có kỹ năng thiết kế phương pháp nghiên cứu. Nhà quản trị Marketing cần có đủ trình độ hiểu biết về nghiên cứu Marketing để có thể đánh giá kế hoạch nghiên cứu và những kết quả thu được.

    Nhà quản trị Marketing cần biết yêu cầu kinh phí của kế hoạch nghiên cứu trước khi thông qua nó. Giả sử công ty đánh giá việc tung ra dịch vụ điện thoại trong khi bay mà không nghiên cứu Marketing sẽ đem lại lợi nhuận lâu dài là 50.000 USD. Nhà quản trị tin chắc rằng việc nghiên cứu sẽ đưa đến một kế hoạch khuyến mãi hoàn hảo hơn và lợi nhuận lâu dài là 90.000 USD. Trong trường hợp này, nhà quản trị phải sẵn sàng chi tới 40.000 USD cho việc nghiên cứu đó. Nếu việc nghiên cứu tốn hơn 40.000 USD thì không đáng để tiến hành.

    Việc thiết kế một kế hoạch nghiên cứu đòi hỏi phải quyết định về nguồn số liệu, phương pháp nghiên cứu, công cụ nghiên cứu, kế hoạch lấy mẫu và phương pháp tiếp xúc.

    Nguồn số liệu. Kế hoạch nghiên cứu có thể đòi hỏi phải thu thập những số liệu thứ cấp, những số liệu sơ cấp hay cả hai loại. Số liệu thứ cấp bao gồm những thông tin đã có trong một tài liệu nào đó, đã được thu thập cho một mục đích khác. Số liệu sơ cấp bao gồm những thông tin gốc được thu thập cho mục đích nhất định.

    – Số liệu thứ cấp. Những người nghiên cứu thường bắt đầu điều tra từ việc xem xét có số liệu thứ cấp để xem vấn đề của mình có thể giải quyết một phần hay toàn bộ mà không phải tốn kém để thu thập những số liệu sơ cấp không.

    Số liệu thứ cấp là điểm xuất phát để nghiên cứu và có ưu điểm là đỡ tốn kém và có sẵn. Mặt khác, những số liệu mà người nghiên cứu cần lại có thể không có, hay có, nhưng đã lỗi thời, không chính xác, không hoàn chỉnh, hay không tin cậy.

    – Số liệu sơ cấp bao gồm những thông tin gốc được thu thập cho mục đích nhất định. Hầu hết các đề án nghiên cứu đều đòi hỏi phải thu thập số liệu sơ cấp. Phương pháp bình thường là phòng vấn trực tiếp từng người hay nhóm người để có được ý niệm sơ bộ về cảm nghĩ của mọi người về máy bay và dịch vụ rồi sau đó phát triển một công cụ nghiên cứu chính thức, loại bỏ những sai sót của nó rồi đưa ra áp dụng trong thực tế.

    Phương pháp nghiên cứu.

    Những số liệu sơ cấp có thể thu thập theo bốn cách: Quan sát, nhóm tập trung, điều tra và thực nghiệm.

    – Nghiên cứu quan sát: Những số liệu mới có thể thu thập bằng cách quan sát các nhân vật và khung cảnh tương ứng. Những người nghiên cứu của American Airlines đi lang thang khắp các sân bay, văn phòng hãng hàng không và công ty du lịch để nghe ngóng khách hàng du lịch nói chuyện với nhau về các hãng hàng không khác nhau. Những người nghiên cứu có thể đi các máy bay của hãng American Airlines và các đối thủ cạnh tranh để quan sát chất lượng dịch vụ trên chuyến bay . Những nghiên cứu thăm dò này có thể gợi ý một số giả thiết bổ ích về khách du lịch lựa chọn các hãng hàng không.

    – Nghiên cứu nhóm tập trung: Nhóm tập trung là một cuộc họp mặt của từ sáu đến mười người được mời đến trong một vài giờ để cùng với một người chủ trì khôn khéo trao đổi với nhau về sản phẩm, dịch vụ, tổ chức hay một thực tế Marketing khác. Người chủ trì cần có thái độ khách quan, hiểu biết vấn đề và hiểu biết những động thái của nhóm và hành vi của người tiêu dùng.

    Ví dụ tại American Airlines người chủ trì cuộc họp có thể mở đầu bằng một câu hỏi chung chẳng hạn như “Bạn cảm thấy như thế nào về chuyện đi du lịch bằng máy bay?” Sau đó các câu hỏi sẽ chuyển dần sang những vấn đề mọi người nhìn nhận như thế nào về các hãng hàng không khác nhau, các dịch vụ khác nhau và dịch vụ điện thoại trong khi bay.

    – Nghiên cứu điều tra. Nghiên cứu điều tra nằm giữa một bên là nghiên cứu quan sát và nhóm tập trung và một bên là nghiên cứu thực nghiệm. Quan sát và nhóm tập trung thích hợp nhất với nghiên cứu thăm dò, còn nghiên cứu điều tra lại thích hợp nhất với nghiên cứu mô tả, và thực nghiệm thì thích hợp nhất với nghiên cứu nguyên nhân. Các công ty tiến hành điều tra để nắm được trình độ hiểu biết, niềm tin, sở thích, mức độ thỏa mãn v…v của công chúng và lượng định các đại lượng này trong nhân dân. Vì vậy những người nghiên cứu của American Airlines có thể muốn điều tra xem có bao nhiêu người biết về hãng, ưa thích hãng, v…v. Ta sẽ nói nhiều hơn về nghiên cứu điều tra khi trình bày các công cụ nghiên cứu, kế hoạch lấy mẫu và các phương pháp tiếp xúc.

    – Nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhất là nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải tuyển chọn các nhóm đối tượng tương xứng, xử lý các nhóm đó theo những cách khác nhau, khống chế các biến ngoại lai, và kiểm tra xem những sai lệch trong các kết quả quan sát được có ý nghĩa thống kê không. Trong trường hợp các yếu tố ngoại lai bị loại trừ hay khống chế, thì khi xử lý theo những cách khác nhau đều có thể thu được cùng những kết quả quan sát. Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là nắm được quan hệ nhân quả bằng cách loại trừ những cách giải thích khác nhau về các kết quả quan sát được.

    Ví dụ, American Airlines có thể tổ chức dịch vụ điện thoại trong khi bay trên một trong những chuyến bay thường xuyên từ New York đến Los Angeles với giá 25 USD một lần gọi. Ngày hôm sau trên chuyến bay đó hãng thông báo có dịch vụ này, nhưng với giá 15 USD một lần gọi. Nếu máy bay đó chuyên chở số lượng và loại hành khách như nhau trên mỗi chuyến bay, và các ngày trong tuần không có gì khác nhau, thì mọi chênh lệch lớn về số lần gọi có thể xem là do giá cả. Thí nghiệm có thể phát triển tiếp bằng cách áp dụng thử những giá khác nữa, lặp lại cùng một giá trên một số chuyến bay, bổ sung thêm những tuyến khác vào thí nghiệm.

    Công cụ nghiên cứu.

    Những người nghiên cứu Marketing có thể lựa chọn một trong hai công cụ nghiên cứu chính để thu thập những số liệu ban đầu: Phiếu câu hỏi và các công cụ hỗ trợ.

    Phiếu câu hỏi. Phiếu câu hỏi là công cụ phổ biến nhất để thu thập những số liệu ban đầu. Phiếu câu hỏi là một bản liệt kê những câu hỏi để cho người nhận phiếu trả lời chúng. Phiếu câu hỏi rất linh hoạt vì có thể sử dụng mọi cách nêu ra các câu hỏi. Phiếu câu hỏi cần được soạn thảo một cách thận trọng, thử nghiệm và loại trừ những sai sót trước khi đưa ra áp dụng đại trà. Thông thường có thể phát hiện được ngay những sai sót trong những phiếu câu hỏi được chuẩn bị một cách thiếu suy nghĩ.

    Hình thức của câu hỏi có thể ảnh hưởng đến cách trả lời. Những người nghiên cứu Marketing phân biệt ra câu hỏi có trả lời sẵn và câu hỏi để ngỏ. Những câu hỏi có trả lời sẵn là những câu hỏi có kèm theo những phương án trả lời có thể có và người được hỏi chỉ cần lựa chọn một trong những câu hỏi có trả lời sẵn.

    Câu hỏi để ngỏ là những câu hỏi để cho người được hỏi trả lời bằng những lời lẽ của mình. Những câu hỏi này có nhiều hình thức khác nhau. Nói chung các câu hỏi để ngỏ thường có khả năng khám phá nhiều hơn vì người trả lời không bị hạn chế trong các câu trả lời của mình. Những câu hỏi để ngỏ đặc biệt có ích trong giai đoạn nghiên cứu thăm dò, khi người nghiên cứu đang muốn tìm hiểu sâu hơn những suy nghĩ của công chúng chứ không phải là lượng định xem có bao nhiêu người suy nghĩ theo một cách nhất định nào đó.

    Cần thận trọng trong cách sử dụng từ ngữ của câu hỏi. Người nghiên cứu phải sử dụng những ngôn từ đơn giản, trực tiếp, không thiên lệch. Các câu hỏi cần được thử nghiệm trước với một mẫu những người trả lời, trước khi đem ra sử dụng.

    Cũng cần thận trọng trong việc xếp sắp thứ tự các câu hỏi. Câu đầu tiên cần cố gắng tạo ra được hứng thú. Những câu hỏi khó hay riêng tư nên để xuống cuối phiếu câu hỏi để làm sao cho những người trả lời không cảm thấy cần phải dè dặt.

    Kế hoạch lấy mẫu.

    Người nghiên cứu Marketing phải thiết kế kế hoạch lấy mẫu và để làm việc này cần thông qua ba quyết định sau:

    • 1. Đơn vị mẫu: Quyết định này trả lời câu hỏi: Ai là đối tượng điều tra? Người nghiên cứu Marketing phải xác định công chúng mục tiêu sẽ được chọn làm mẫu . Trong trường hợp điều tra về hãng American Airlines thi đơn vị mẫu sẽ là hành khách đi công tác, hành khách đi nghỉ, hay cả hai loại? Có phỏng vấn những hành khách dưới 21 tuổi không? Có phỏng vấn cả hai vợ chồng không? Một khi đã xác định được đơn vị mẫu thì phải xây dựng khung lấy mẫu làm sao để mọi người trong số công chúng mục tiêu đều có khả năng ngang nhau hay đã biết để được chọn làm mẫu.
    • 2. Quy mô mẫu: Quyết định này trả lời câu hỏi: Cần điều tra bao nhiêu người? Các mẫu lớn cho kết quả đáng tin cậy hơn so với mẫu nhỏ. Tuy nhiên không nhất thiết phải lấy toàn bộ hay một phần lớn số công chúng mục tiêu làm mẫu thì mới có được những kết quả tin cậy. Những mẫu dưới 1% số công chúng thường đã cho kết quả khá tin cậy, miễn là quy trình lấy mẫu có thể tin cậy được.
    • 3. Quy trình lấy mẫu: Quyết định này trả lời câu hỏi: Phải chọn lựa những người trả lời như thế nào? Để có được một mẫu có tính đại diện, phải lấy mẫu xác suất trong công chúng. Việc lấy mẫu xác suất cho phép tính toán những giới hạn tin cậy cho sai số lấy mẫu. Ba kiểu lấy mẫu xác suất bao gồm: mẫu đơn ngẫu nhiên, mẫu phân lớp ngẫu nhiên và mẫu theo nhóm (khu vực). Khi chi phí và thời gian cần thiết để lấy mẫu xác suất quá lớn, thì người nghiên cứu Marketing sẽ lấy mẫu không xác suất. Mẫu không xác suất bao gồm: mẫu thuận tiện, mẫu phán đoán và mẫu theo nhóm. Một số người nghiên cứu Marketing cảm thấy rằng trong nhiều trường hợp, ngay cả khi sai số lấy mẫu không thể đo được, các mẫu không xác suất có thể rất hữu ích.

    Phương pháp tiếp xúc.

    Vấn đề này giải đáp câu hỏi: Phải tiếp xúc với đối tượng như thế nào? Có thể chọn cách phỏng vấn bằng thư, điện thoại hay trực tiếp.

    Phiếu câu hỏi gửi qua bưu điện là cách tốt nhất để tiếp cận với những cá nhân không chấp nhận phỏng vấn trực tiếp hay nội dung trả lời của họ có thể bị người phỏng vấn làm thiên vị hay sai lệch đi. Song phiếu câu hỏi gửi qua bưu điện đòi hỏi những câu hỏi phải đơn giản, rõ ràng, và việc nhận được phiếu trả lời thường đạt tỷ lệ thấp và/ hay chậm.

    Phỏng vấn qua điện thoại là phương pháp tốt nhất để thu thập thông tin nhanh chóng và người phỏng vấn cũng có khả năng giải thích rõ thêm các câu hỏi nếu người được phỏng vấn không hiểu. Tỷ lệ trả lời thường cao hơn so với trường hợp gửi phiếu câu hỏi qua bưu điện. Hai nhược điểm chính là chỉ có thể phỏng vấn được những người có điện thoại, và cuộc phỏng vấn phải ngắn gọn cũng như không quá đi sâu vào chuyện riêng tư.

    Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp linh hoạt nhất trong số ba phương pháp. Người phỏng vấn có thể đưa ra nhiều câu hỏi hơn và có thể ghi lại những điều quan sát thêm được về người trả lời, chẳng hạn như cách ăn mặc và vóc dáng. Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp đắt tiền nhất và đòi hỏi phải có kế hoạch quản lý cùng giám sát kỹ hơn. Nó cũng có thể bị người phỏng vấn làm thiên lệch hay méo mó kết quả trả lời.

    Phỏng vấn trực tiếp có hai dạng, phỏng vấn có thỏa thuận trước và phỏng vấn chặn đường. Trong trường hợp phỏng vấn có thỏa thuận trước, những người trả lời được lựa chọn một cách ngẫu nhiên rồi sau đó gọi điện hay đến tận nhà hoặc cơ quan để xin phỏng vấn. Thường có trả một số tiền nhỏ hay có quà tặng cho người trả lời vì đã mất thời gian. Phỏng vấn chặn đường là chặn những người bắt gặp ở một khu thương mại hay một góc phố đông người để xin phỏng vấn. Phỏng vấn chặn đường có nhược điểm của mẫu sẽ là mẫu không xác suất và cuộc phỏng vấn phải rất ngắn gọn.

    Thu thập thông tin

    Bây giờ người nghiên cứu phải thu thập số liệu. Giai đọan này nói chung là tốn kém nhất và có nhiều nguy cơ phạm sai sót nhất. Trong trường hợp điều tra có bốn vấn đề chính phát sinh. Một số người trả lời không ở nhà và phải liên hệ lại hay thay đổi địa điểm. Một số người trả lời từ chối hợp tác. Một số người trả lời thiên lệch hay không trung thực. Cuối cùng đôi khi những người đi phỏng vấn thiên vị hay không trung thực.

    Trong trường hợp nghiên cứu thực nghiệm người nghiên cứu phải đảm bảo các nhóm thí nghiệm và đối chứng tương ứng với nhau, không để sự có mặt của mình ảnh hưởng đến những người tham gia, đối xử theo một cách thống nhất và khống chế những yếu tố ngoại lại.

    Nhờ có các máy tính hiện đại và hệ thống viễn thông các phương pháp thu thập số liệu đã được cải tiến nhanh chóng. Một số công ty nghiên cứu thực hiện phỏng vấn từ một cơ sở trung tâm. Những người phỏng vấn ngồi trong phòng điện thoại và chọn số điện thoại một cách ngẫu nhiên ở một nơi nào đó trong cả nước. Khi cú gọi được tiếp nhận người phỏng vấn đưa ra một số câu hỏi được đọc trên màn hình. Người phỏng vấn nhập các câu trả lời của người được phỏng vấn vào máy tính. Cách làm này loại bỏ được các việc soạn thảo và mã hóa, giảm bớt được số lỗi, tiết kiệm thời gian và cho tất cả những số liệu thống kê cần thiết.

    Phân tích thông tin

    Bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu Marketing là rút ra từ những số liệu đó những kết quả thích hợp. Người nghiên cứu tiến hành bảng hóa các số liệu rồi dựng các phân bố tần suất một chiều và hai chiều. Lấy trung bình và tính độ phân tán cho những biến chính. Người nghiên cứu cũng áp dụng một số phương pháp thống kê và mô hình ra quyết định tiên tiến với hy vọng phát hiện thêm được những kết quả phụ.

    Giả sử những kết quả điều tra chủ yếu đối với những trường hợp của American Airlines cho thấy rằng:

    • 1. Những lý do chủ yếu để sử dụng dịch vụ điện thoại trong khi bay là những trường hợp khẩn cấp, những giao dịch kinh doanh gấp, có sự nhầm lẫn về thời gian bay, v…v. Rất hiếm có trường hợp gọi điện thoại để giết thì giờ. Hầu hết các cuộc gọi là của những người đi công tác và được thanh toán bằng tiền cơ quan.
    • 2. Cứ mỗi 200 hành khách thì có khoảng 5 người gọi điện thoại trong khi bay với giá 25 USD một lần gọi và khoảng 12 người gọi khi giá mỗi cuộc gọi là 15 USD. Như vậy là khi tính giá 15 USD doanh thu sẽ lớn hơn (12 x 15 USD = 180 USD) so với trường hợp tính giá 25 USD (5 x 25 USD = 125 USD). Dù thế đi nữa thì vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với mức hòa vốn là 1.000 USD.
    • 3. Việc khuếch trương dịch vụ điện thoại trong khi bay đã thu hút thêm cho American Airlines khoảng hai hành khách trên mỗi chuyến bay. Thu nhập ròng từ hai hành khách tăng thêm này sẽ bằng khoảng 620 USD, và vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hòa vốn.
    • 4. Việc cung ứng dịch vụ điện thoại trong khi bay sẽ củng cố thêm hình ảnh của American Airlines trong công chúng là một hãng hàng không đổi mới và tiên tiến. Tuy nhiên hãng American phải chi khoảng 200 USD cho mỗi chuyến bay để tạo thêm được tín nhiệm đó.

    Tất nghiên những kết quả thu được này vẫn có thể bị ảnh hưởng của sai số khi lấy mẫu và ban lãnh đạo có thể muốn nghiên cứu thêm nữa vấn đề này. Song rõ ràng là nếu dịch vụ điện thoại trong khi bay sẽ làm tăng chi phí nhiều hơn là thu nhập lâu dài, thì trong thời gian trước mắt chưa nên thực hiện dịch vụ này. Như vậy là một đề án nghiên cứu Marketing được cân nhắc kỹ đã giúp những nhà quản trị hãng American thông qua quyết định đúng đắn so với trường hợp thông qua quyết định theo cảm tính.

    Những yêu cầu của công tác nghiên cứu Marketing

    Bây giờ ta sẽ trình bày rõ sáu đặc điểm của công tác nghiên cứu Marketing.

    Phương pháp khoa học

    Nghiên cứu Marketing có hiệu quả cần sử dụng những nguyên tắc của một phương pháp khoa học: Quan sát kỹ lưỡng, xây dựng các giả thiết, dự đoán, và kiểm nghiệm.

    Khi cà phê hòa tan mới được tung ra lần đầu, các bà nội trợ đã phàn nàn rằng vị của nó không giống cà phê thực. Dù vậy, trong các lần kiểm nghiệm bịt mắt các bà nội trợ đã không thể phân biệt được tách cà phê hòa tan với tách cà phê thực. Điều này cho thấy rằng phần lớn các trường hợp phản đối chỉ là do tác động tâm lý. Người nghiên cứu quyết định thiết kế hai sổ mua hàng gần như giống nhau hoàn toàn, chỉ khác là một sổ ghi cà phê thường, còn số kia thì ghi cà phê hòa tan. Loại sổ ghi cà phê thường được đưa cho một nhóm các bà nội trợ, còn sổ ghi cà phê hòa tan được đưa cho một nhóm khác, nhưng tương tự. Cả hai nhóm đều được yêu cầu đoán nhận những đặc điểm xã hội và cá nhân của người phụ nữ có sổ mua hàng mà họ được thấy. Những lời nhận xét gần như hoàn toàn giống nhau, chỉ có một điểm khác biệt lớn là: Phần lớn các bà nội trợ xem sổ mua hàng ghi cà phê hòa tan đều mô tả đối tượng là một người vợ lười biếng, hoang phí và kém cỏi, không biết thu xếp việc gia đình cho tốt. Hiển nhiên là những người phụ nữ này đã gán cho bà nội trợ hư cấu kia những nỗi băn khoăn và những ý nghĩ xấu của chính mình về chuyên dùng cà phê hòa tan. Bây giờ thì công ty cà phê hòa tan đã biết được thực chất của sự phản đối và có thể triển khai một chiến dịch nhằm làm thay đổi hình ảnh của một bà nội trợ sử dụng cà phê hòa tan.

    Sử dụng nhiều phương pháp

    Những người nghiên cứu Marketing có trình độ đều vứt bỏ quan điểm quá tin tưởng vào một phương pháp bất kỳ nào, rồi cố gắng làm cho phương pháp đó thích ứng với vấn đề chứ không đi theo một con đường khác. Họ cũng thừa nhận rằng nên thu thập thông tin từ nhiều nguồn để có được độ tin cậy lớn hơn.

    Sự phụ thuộc lẫn nhau của các mô hình và số liệu

    Những người nghiên cứu Marketing có trình độ đều thừa nhận rằng ý nghĩa của các sự kiện đều được rút ra từ các mô hình của vấn đề. Những mô hình đó đã giúp tìm kiếm kiểu thông tin và vì vậy cần được xây dựng hết sức rõ ràng.

    Giá trị và chi phí của thông tin

    Những người nghiên cứu Marketing có trình độ đều tỏ ra quan tâm đến việc xác định giá trị của thông tin so với chi phí để có thông tin đó. Tỷ số giá trị chi phí giúp bộ phận nghiên cứu Marketing xác định nên thực hiện đề án nghiên cứu nào, nên sử dụng phương thức nghiên cứu nào và có nên thu thập thêm thông tin nữa không sau khi đã có những kết quả ban đầu. Chi phí nghiên cứu thường dễ định lượng, song giá trị thì khó dự đoán hơn. Giá trị phụ thuộc vào độ tin cậy và tính có căn cứ của những kết quả nghiên cứu thu được và mức độ ban lãnh đạo sẵn sàng chấp nhận và hành động theo các kết quả thu được đó.

    Đạo đức Marketing

    Hầu hết các công tác nghiên cứu Marketing đều có lợi cho cả công ty bảo trợ lẫn khách hàng của nó. Thông qua nghiên cứu Marketing các công ty hiểu nhiều hơn những nhu cầu của người tiêu dùng và có khả năng cung ứng những sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn đầy đủ hơn. Tuy nhiên, việc lạm dụng nghiên cứu Marketing cũng có thể gây thiệt hại hay khó chịu cho người tiêu dùng (xem Marketing đạo đức xã hội).

    5. Hệ thống hỗ trợ quyết định Marketing (MDSS)

    Ngày càng có nhiều tổ chức đã bổ sung thêm dịch vụ thông tin thứ tự, hệ thống hỗ trợ quyết định Marketing, để giúp những nhà quản trị Marketing của mình thông qua những quyết định đúng đẵn hơn.

    Hệ thống hỗ trợ marketing là một bộ các dữ liệu có phối hợp, các hệ thống, công cụ và phương pháp cùng với phần mềm và phần cứng hỗ trợ mà một tổ chức sử dụng để thu thập và giải thích những thông tin hữu quan phát ra từ doanh nghiệp và môi trường rồi biến nó thành cơ sở để đề ra biện pháp Marketing.

    Hình 2.3. hệ thống hỗ trợ quyết định Marketing

    H.2.3 minh họa khái niệm về MDSS. Giả sử một nhà quản trị Marketing cần phân tích một vấn đền thông qua một biện pháp. Nhà quản trị đặt các câu hỏi cho mô hình tương ứng trong MDSS. Mô hình đó rút ra những số liệu đã được phân tích thống kê. Sau đó nhà quản trị có thể sử dụng một chương trình để xác định cách triển khai tối ưu biện pháp. Nhà quản trị thi hành biện pháp đó và biện pháp đó cùng với các lực lượng khác, tác động lên môi trường và cho kết quả là những số liệu mới.

    Phần 2, còn nữa… Theo Philip Kotler

    :tdquangcao2:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Hệ Thống Marketing
  • Hệ Thống Marketing
  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược
  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Digital Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và 11 Loại Hình Chính
  • Hệ Thống Thông Tin Marketing Và Vai Trò Nghiên Cứu Marketing Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Thời Đại Số
  • Digital Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và 11 Loại Hình Chính
  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược
  • Hệ Thống Marketing
  • Kết quả

    Hệ thống thông tin Marketing và vai trò nghiên cứu Marketing dịch vụ:

    Hệ thống thông tin Marketing được Phillip Kotler định nghĩa như là ” Một hệ thống bao gồm con người, thiết bị và các thủ tục để thu thập, phân loại, phân tích, đánh giá và phân phối các thông tin cần thiết, chính xác và kịp thời cho các nhà ra quyết định Marketing”.

    Hệ thống thông tin Marketing cần phải thu thập các thông tin bên ngoài cần thiết , cùng với các thông tin sinh ra từ bên trong doanh nghiệp, chắt lọc loại bỏ các thông tin không phù hợp đối với vấn đề đang nghiên cứu, sau đó trình bày chúng dưới dạng lô gíc, dễ hiểu để cung cấp cho các nhà quản lý.

    Nguồn thông tin cho nghiên cứu Marketing được chia thành 2 loại: thông tinthông tin bên trong bên ngoài. Lưu ý rằng, đối với nhiều doanh nghiệp lớn, các thông tin bên trong như chi phí, doanh số… không thuộc chức năng nghiên cứu Marketing. Tuy nhiên, nghiên cứu Marketing có thể tạo ra các thông tin mới từ bên trong doanh nghiệp bằng cách thu thập các thông tin chuyên biệt từ các nhóm đối tượng khác nhau như các nhà quản lý, lực lượng bán hàng và các nhân viên phục vụ ở tuyến đầu.

    Trong thực tế, các hoạt động nghiên cứu Marketing trong hầu hết các doanh nghiệp DV tập trung chủ yếu vào việc thu thập các thông tin bên ngoài (nhu cầu thị trường về DV của doanh nghiệp). Trong các doanh nghiêp DV nhỏ, chức năng nghiên cứu có thể bao gồm cả thiết lập và vận hành ngân hàng thông tin (dữ liệu) và phát triển các mô hình và hệ thống nghiên cứu để xử lý các thông tin thu được.

    Nghiên cứu Marketing có 2 mục đích.

    Thứ nhất, nó cung cấp cho các nhà quản trị thông tin về thị trường và DV, giúp cho họ giảm đến mức thấp nhất độ không chắc chắn trong việc hoạch định các hoạt động Marketing.

    Thứ hai, nghiên cứu Marketing có chức năng kiểm tra, cho phép các nhà quản trị kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch Marketing. Từ đó, sau khi kiểm tra, họ có thể thực hiện các quyết định cần thiết nếu quá trình thực hiện sai lệch so với kế hoạch.

    Nguồn: TS. Nguyễn Thượng Thái (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm & Bản Chất Của Marketing
  • Vai Trò Của Marketing Đối Với Nhiều Nền Doanh Nghiệp
  • Marketing Là Gì? 9 Chức Năng Của Marketing Đối Với Doanh Nghiệp?
  • Logictic Là Gì? 4 Chức Năng Của Logictic Trong Doanh Nghiệp.
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Iv Các Chức Năng Của Hệ Thống Thông Tin Địa Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết Tin Học 12 Bài 13: Bảo Mật Trong Các Hệ Cơ Sở Dữ Liệu (Hay, Chi Tiết).
  • Bao Bì Là Gì? Tác Dụng, Chức Năng Và Phân Loại Bao Bì Công Nghiệp
  • Tìm Hiểu Chức Năng Của Bao Bì Sản Phẩm
  • Bao Bì (Packaging) Là Gì? Chức Năng Của Bao Bì
  • Đối Tượng, Chức Năng Và Tính Chất Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • IV Các chức năng của hệ thống thông tin địa lý:

    IV. 1. Nhập dữ liệu

    – Nhập từ bàn phím;

    – Quét ảnh (Scan);

    – Số hóa (Digitizing);

    – Dữ liệu viễn thám;

    – Các cơ sở dữ liệu số.

    IV. 2. Quản lý dữ liệu

    – Dữ liệu không gian;

    – Dữ liệu thuộc tính;

    – Hỏi đáp, tra cứu dữ liệu theo không gian và thuộc tính;

    – Chuyển đổi khuôn dạng (Forrmat), ví dụ: TAB SHP, DGN SHP….; chuyển đổi từ vector sang raster và ngược lại;

    – Chuyển đổi hình học: từ hệ tọa độ giả định (tương đối) sang hệ tọa độ địa lý (tuyệt đối), và ngược lại;

    – Biên tập, ghép biên, tách các mảnh bản đồ.

    – Biên tập thuộc tính;

    – Hỏi đáp dữ liệu thuộc tính.

    IV.5. Tích hợp dữ liệu phi không gian và thuộc tính:

    Đây là các chức năng quan trọng nhất của GIS, để phân biệt với các các hệ khác, nhất là các hệ vẽ bản đồ tự động và các hệ CAD (Computer-Added Design-thiết kế bằng máy tính) là những hệ cũng làm việc với bản đồ số trên máy tính:

    Chiết xuất thông tin: tách, lọc các thông tin quan tâm trong tập dữ liệu;

    Nhóm các thông tin theo một tiêu chuẩn nhất định;

    Đo đạc: xác định nhanh các thông số hình học của đối tượng được thể hiện như diện tích, độ dài, vị trí….;

    Chồng ghép:

    + Các phép tính toán giữa các bản đồ (số học, đại số, lượng giác…);

    + Các phép tính logic;

    + Các phép so sánh điều kiện;

    – Các phép tính toán lân cận (quan hệ không gian): lọc, phân tích vùng đệm, phân tích xu thế, tính toán độ dốc, hướng phơi, phân chia lưu vực, chiết xuất dòng chảy.

    – Các phép nội suy: từ điểm, từ đường.

    – Dựng mô hình 3 chiều và phân tích trên mô hình 3 chiều (3D): tạo lát cắt, phân tích tầm nhìn….

    Tính toán mạng để tìm khoảng cách, đường đi.

    IV.6. Xuất bản:

    +Lập chú giải: xử lý văn bản, các kiểu đường, thư viện biểu tượng…;

    Sử dụng GIS để tạo và lưu trữ dữ liệu địa lý-tạo cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu địa lý được tạo và quản lý bằng GIS cho phép các ứng dụng đa ngành có thể được thực hiện trên cùng một nền dữ liệu thống nhất

    Ví dụ

    – Bản đồ thích nghi cây trồng được tính toán dựa trên việc chồng xếp có trọng số các thông tin: bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ độ dốc.

    – Bản đồ hiện trạng rừng hai thời kỳ được chồng xếp để có bản đồ về biến động rừng giữa hai thời kỳ;

    Theo các mô hình lý thuyết (mang tính giả định), GIS còn có ứng dụng trong các bài toán mô phỏng như các ví dụ sau:

    – Với một chiều cao đập cho trước, GIS có thể mô phỏng được mức, lượng, diện tích nước ngập.

    – Với các chiều rộng mở đường khác nhau trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất, GIS cho phép mô phỏng các phương án mở đường và tiền đền bù.

    – Như tính toán phạm vi quan sát từ điểm phục vụ cho các yêu cầu quân sự hoặc đặt trạm ăng ten viễn thông (điện thoại di động)

    – Các thông số của địa hình được xác định như độ cao, độ dốc còn phục vụ cho công tác qui hoạch (ví dụ phân cấp phòng hộ đầu nguồn) và các khoa học trái đất (địa mạo, địa lý).

    Để giải quyết các bài toán tìm đường ngắn nhất hay thời gian thích hợp để bật tắt đèn xanh đèn đỏ trong giao thông đô thị.

    V.5. Các phân tích khoảng cách

    Có thể ứng dụng tìm đặt vị trí (allocation) như trạm xe buýt, trạm xăng, siêu thị hay trường học một cách hiệu quả nhất.

    Các ứng dụng trên có thể coi là “cổ điển” và đã được áp dụng thành công. Ngày nay GIS đang phát triển mạnh theo hướng tổ hợp, phát triển GIS lớn (enterprise), liên kết mạng, ứng dụng thành quả của các ngành khoa học khác vào GIS, như ứng dụng trí tuệ nhân tạo, lý thuyết mờ vào trong việc xử lý dữ liệu GIS, tích hợp GIS với các thông tin chuyên đề để hình thành hệ thông tin giải quyết một vấn đề cụ thể cũng như trợ giúp quyết định, nhất là trong quản lý lãnh thổ….

    I.1. Định nghĩa:

    Viễn thám (Remote sensing) được định nghĩa bằng nhiều từ ngữ khác nhau, nhưng nói chung đều thống nhất theo quan điểm chung là khoa học và công nghệ thu thập thông tin của vật thể mà không tiếp xúc trực tiếp với vật thể đó. Định nghĩa sau đây có thể coi là tiêu biểu: “Viễn thám là khoa học và công nghệ mà theo đó các đặc tính đối tượng quan tâm được nhận diện, đo đạc, phân tích các tính chất mà không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng“. Đối tượng trong định nghĩa này có thể hiểu là một đối tượng cụ thể, một vùng hay một hiện tượng.

    Viễn thám điện từ là khoa học và công nghệ sử dụng sóng điện từ để chuyển tải thông tin từ vật cần nghiên cứu tới thiết bị thu nhận thông tin cũng như công nghệ xử lý để các thông tin thu nhận có ý nghĩa. Viễn thám điện từ bao gồm viễn thám quang học và viễn thám rada.

    Trong khoảng 3 thập kỷ gần đây khi công nghệ vũ trụ đã cho ra đời các ảnh số thu nhận từ các vệ tinh trên quỹ đạo của trái đất viễn thám đã thực sự phát triển mạnh mẽ. Nhưng thực ra viễn thám đã có lịch sử lâu đời. Ảnh chụp (film) được sử dụng cho nghiên cứu mặt đất đã xuất hiện từ thế kỷ 19. Năm 1839, Louis Daguere (1789-1881) đưa ra báo cáo về thí nghiệm hoá ảnh của mình khởi đầu cho ngành chụp ảnh. Ảnh chụp về bề mặt trái đất từ khinh khí cầu bắt đầu sử dụng từ năm 1858. Bức ảnh chụp đầu tiên về Trái đất từ khinh khí cầu chụp vùng Bostom vào năm 1860 bởi James Wallace Black, 1860.

    Giai đoạn phát triển ngành chụp ảnh photo từ xa đánh dấu bằng sự ra đời của ngành hàng không. Chụp ảnh từ máy bay tạo điều kiện cho việc chồng phủ ảnh, chỉnh lý ảnh và chiết suất thông tin từ ảnh nổi. Ảnh chụp từ máy bay đầu tiên mà lịch sử ghi nhận được thực hiện vào năm 1910 bởi Wilbur Wright bằng việc chụp ảnh di động trên vùng gần Centoceli tại Italia.

    Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đánh dấu giai đoạn khởi đầu cho việc chụp ảnh từ máy bay phục vụ các mục đích quân sự. Những năm sau đó, các thiết kế khác nhau về các loại máy chụp ảnh được phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, kỹ thuật giải đoán không ảnh và đo đạc từ ảnh cũng đã phát triển mạnh tạo nên sự hình thành một ngành khoa học mới tên là đo đạc ảnh.

    Trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) không ảnh đã được sử dụng chủ yếu cho mục đích quân sự. Trong thời kỳ này ảnh RADAR đã được sử dụng đồng thời với việc phát hiện phổ hồng ngoại. Các ảnh chụp trên kênh phổ hồng ngoại cho phép chiết lọc thông tin được nhiều hơn. Ảnh mầu chụp bằng máy ảnh đã được sử dụng trong thế chiến thứ hai.

    Việc chạy đua vào vũ trụ giữa Liên Xô cũ và Hoa Kỳ đã thúc đẩy việc nghiên cứu trái đất bằng viễn thám với các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Các trung tâm nghiên cứu trái đất bằng công nghệ viễn thám đã ra đời, như cơ quan vũ trụ châu Âu ESA ( European Space Agency), chương trình vũ trụ của Mỹ NASA ( National Aeronautics and Space Administration). Ngoài ra có thể kể đến các chương trình nghiên cứu trái đất bằng viễn thám tại các nước như Canada, Nhật, Pháp, Ấn Độ và Trung Quốc.

    Bức ảnh đầu tiên từ vũ trụ chụp về trái đất được cung cấp bởi Explorrer-6 vào năm 1959. Tiếp theo là chương trình vũ trụ Mercury (1960) cho ra các sản phẩm ảnh chụp từ quỹ đạo chất lượng cao, ảnh mầu kích thước 70 mm từ một máy tự động. Vệ tinh khí tượng đầu tiên (TIOS-1) được phóng lên quỹ đạo trái đất vào tháng tư năm 1960 mở đầu cho việc quan sát dự báo khí tượng trái đất. Ảnh chụp từ vệ tinh khí tượng NOAA ( National Oceanic & Atmospheric Administration) đã được sử dụng từ sau năm 1972 đánh dấu cho việc nghiên cứu khí tượng trái đất từ vũ trụ một cách tổng thể và cập nhật hàng ngày.

    Sự phát triển của viễn thám đi liền với sự phát triển của công nghệ vũ trụ phục vụ cho việc nghiên cứu trái đất và vũ trụ. Các ảnh chụp nổi stereo theo phương đứng và xiên cung cấp bởi GEMINI (1965) đã thể hiện ưu thế của công việc nghiên cứu Trái đất bằng các bức ảnh của nó . Tiếp theo, tầu Apolo cho ra sản phẩm ảnh chụp nổi và đa phổ kích thước 70 mm. Ngành hàng không vũ trụ của Liên Xô cũ và hiện nay là Nga góp phần tích cực vào việc nghiên cứu trái đất từ vũ trụ. Các nghiên cứu đã được thực hiện trên các con tàu vũ trụ có người như Soynz, các tàu Meteor, Cosmos hoặc trên các trạm “Chào mừng” (Salyut). Sản phẩm thu được là các ảnh chụp trên các thiết bị quét đa phổ phân dải cao như MSU_E. Ảnh chụp từ vệ tinh Cosmos trên 5 kênh phổ khác nhau với kích thước ảnh 18*18 cm. Ngoài ra các ảnh chụp từ thiết bị chụp KATE-140, MKF-6M trên trạm quỹ đạo Salyut cho ra sau kênh ảnh thuộc dải phổ 0.40 đến 0.89 m với độ phân giải mặt đất tại tâm ảnh đạt 20*20 m .

    Tiếp theo với vệ tinh nghiên cứu trái đất ERTS-1( Earth Reosourcer Technology Satellite) được phóng lên quỹ đạo trái đất vào năm 1972. Sau vệ tinh này đổi tên là Landsat 1, rồi các vệ tinh thế hệ mới hơn là Landsat 2, Landsat 3, Landsat 4 và Landsat 5. Ngay từ đầu ERTS-1 mang theo bộ cảm MSS (máy quét đa phổ) với bốn kênh phổ khác nhau và bộ cảm RBV (Return Beam Vidicon) với ba kênh phổ khác nhau. Ngoài Landsat 2, Landsat3 còn có các vệ tinh khác như SKYLAB (1973) và HCMM (1978). Từ 1982 là các ảnh chuyên đề được thực hiện trên các các vệ tinh Landsat TM 4 và Landsat TM 5 với 7 kênh phổ khác nhau từ dải sóng nhìn thấy đến hồng ngoại nhiệt. Điều này cho phép nghiên cứu trái đất từ nhiều dải phổ khác nhau. Đồng thời với việc phát triển của các ảnh vệ tinh Landsat, các ảnh vệ tinh của Pháp là vệ tinh SPOT (1986) đã đưa ra sản phẩm ảnh số thuộc hai kiểu ảnh đơn kênh với độ phân giải không gian 10*10 m và ảnh đa kênh SPOT-XS với ba kênh (hai kênh thuộc dải phổ nhìn thấy, một kênh thuộc dải phổ hồng ngoại) với độ phân giải không gian 20*20 m. Đặc tính của ảnh vệ tinh SPOT là cho ra các cặp ảnh nổi Stereo cung cấp một khả năng tạo ảnh nổi ba chiều. Điều này giúp cho việc nghiên cứu bề mặt trái đất đạt kết quả cao, nhất là việc nghiên cứu bề mặt địa hình.

    Các ảnh vệ tinh của Nhật như MOS-1 phục vụ cho quan sát biển ( Marine Observation Satellite) và các ảnh chụp từ các vệ tinh của Ấn Độ I-1A tạo ra các ảnh vệ tinh như LISS thuộc nhiều hệ khác nhau.

    Sự phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu trái đất bằng viễn thám được đẩy mạnh do áp dụng kỹ nghệ mới với việc sử dụng các ảnh RADAR. Viễn thám RAĐAR tích cực thu nhận ảnh bằng việc phát sóng dài siêu tần và thu tia phản hồi cho phép thực hiện các nghiên cứu độc lập không phụ thuộc vào mây. Sóng RADAR có khả năng xuyên qua mây, lớp đất mỏng và là nguồn sóng nhân tạo nên có thể hoạt động cả ngày và đêm, không chịu ảnh hưởng của năng lượng mặt trời.

    Gần đây nhất là sự ra đời của ảnh vệ tinh IKONOS của Mỹ. Các ảnh IKONOS có độ phân giải đặc biệt cao so với các loại ảnh trước đây. Hiện tại các ảnh IKONOS đã đạt tới độ phân giải 1m, trong thời gian sắp tới sẽ có các ảnh IKONOS độ phân giải 0,5 m. Ảnh IKONOS có thể được sử dụng để cập nhật và hiệu chỉnh các bản đồ tỷ lệ trung bình hay làm bản đồ ảnh về hiện trạng sử dụng đất rất tốt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Sinh Học 10 Nâng Cao Bài 11: Axitnucleic (Tt)
  • Cho Các Phát Biểu Sau:1. Phân Tử Arn Vận Chuyển Có Chức Năng Vận Chuyển Axit Amin Để Dịch Mã Và Vận Chuyển Các Chất Khác?
  • Loại Arn Nào Sau Đây Có Chức Năng Vận Chuyển Axit Amin?
  • Kiểm Tra 1 Tiết Học Kì 1 Môn Sinh Học 9: Loại Arn Nào Có Chức Năng Vận Chuyển Axit Amin Trong Quá Trình Tổng Hợp Protein?
  • Cách Chỉnh Card Màn Hình Nvidia Để Chơi Game Trong Control Panel
  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Hệ Thống Thông Tin Đất Đai

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Tả Chức Năng Của Hệ Thống Website Giới Thiệu Công Ty
  • Các Chức Năng Chính Của Một Website Bán Hàng
  • Các Chức Năng Cần Có Khi Thiết Kế Một Web Bán Hàng Online
  • Cách Trình Bày Văn Bản Và Hình Ảnh Trong Ms Word 2003
  • Cách Chèn Text Box Trong Word, Tạo Textbox Trên Word 2022, 2022, 2013,
  • Trong một hệ thống thông tin đất đai cần phải có đầy đủ các chức năng: Chức năng thu thập, lưu trữ, cập nhật và truy xuất dữ liệu; Chức năng tìm kiếm thông tin; Chức năng trao đổi thông tin; Chức năng phát triển các ứng dụng theo các đặc thù của công tác quản lý nhà nước về đất đai

    1. Đặc điểm của hệ thống thông tin đất đai

    Hệ thống thông tin đất đai có đầy đủ các tính chất, đặc điểm của một hệ thống thông tin.

    Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng trên cơ sở của hệ thống thông tin địa lý và quản trị cơ sở dữ liệu nên nó mang tính chất và đặc điểm của hệ thống thông tin địa lý và hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

    Hệ thống thông tin đất đai về bản chất có cấu trúc và tính chất của một hệ thống thông tin địa lý mang những nội dung thông tin về sử dụng và quản lý đất đai.

    Hệ thống thông tin đất đai là công cụ cho quá trình quản lý nhà nước về đất đai.

    2. Chức năng của hệ thống thông tin đất đai

    2.1. Chức năng thu thập, lưu trữ, cập nhật và truy xuất dữ liệu

    Hệ thống thông tin đất đai cho phép thu thập, nhập và lưu trữ các thông tin đất đai ban đầu như: Thông tin về thửa đất, thông tin về chủ sử dụng, thông tin về loại đất, thông tin về giá đất, thông tin về các bất động sản trên đất.

    Chức năng đăng ký ban đầu cho phép hệ thống thông tin đất đai có khả năng hỗ trợ công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua việc xây dựng hồ sơ địa chính theo các tiêu chuẩn nhà nước ban hành.

    Hệ thống thông tin đất đai có thể quản lý chi tiết đến từng thửa đất, đồng thời quản lý các loại dữ liệu khác trên cùng một cơ sở dữ liệu.

    Chức năng cập nhật dữ liệu của hệ thống thông tin đất đai bao gồm cập nhật các biến động đất đai theo từng thời kỳ và tại từng thời điểm. Các thông tin được cập nhật bao gồm cả các thông tin không gian và thuộc tính trên từng thửa đất có biến động.

    Hệ thống thông tin đất đai có khả năng truy xuất các dữ liệu như lập báo cáo thống kê theo từng loại đất, theo từng đơn vị hành chính các cấp. Các thông tin được truy xuất đảm bảo độ chính xác, độ tin cậy cao.

    2.2. Chức năng tìm kiếm thông tin

    Hệ thống thông tin đất đai có khả năng tìm kiếm thông tin theo các yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin đất đai. Hiện nay các thông tin thường để tra cứu trong hệ thống là: Mã đơn vị hành chính (từ tỉnh đến xã), mã bản đồ, số thửa trên mảnh bản đồ, số thửa phụ.

    Hệ thống thông tin đất đai tìm kiếm theo các chủ sử dụng đất gắn liền với từng thửa đất. Theo quy định của nhà nước thì mỗi thửa đất phải có một số thửa duy nhất.

    Các thông tin tìm kiếm bao gồm: Các thông tin về đồ họa như hình dạng, kích thước, diện tích của thửa đất.

    – Các thông tin thuộc tính về chủ sử dụng đất, địa chỉ, các bất động sản trên đất, giá đất, các quyền về đất đai…

    2.3. Chức năng trao đổi thông tin

    Hệ thống thông tin đất đai có chức năng trao đổi thông tin với các hệ thống thông tin khác, đảm bảo tính hòa hợp, tương thích về dữ liệu.

    2.4. Chức năng phát triển các ứng dụng theo các đặc thù của công tác quản lý nhà nước về đất đai

    Hệ thống thông tin đất đai có chức năng này làm cho hệ thống mềm dẻo hơn và phục vụ tốt hơn cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại các địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Chính Của Hệ Thống
  • Website Tin Tức Cần Có Những Chức Năng Gì?
  • Các Chức Năng Cần Có Khi Thiết Kế Website Giới Thiệu Công Ty
  • Thiết Kế Website Trường Học Giáo Dục Chuyên Nghiệp
  • Các Chức Năng Thông Minh Cần Phải Có Của Website Thương Mại Điện Tử
  • Hệ Thống Thông Tin Marketing Là Gì? Vai Trò Của Nó Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và 3 Chức Năng Của Marketing
  • Hội Nông Dân Tỉnh Ninh Bình
  • Thông Báo Phân Công Nhiệm Vụ Đối Với Chủ Tịch Và Các Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mttq Việt Nam Tỉnh Khóa Xiii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Nhiệm Vụ Và Chức Trách Của Thủ Quỹ Trong Cơ Quan Nhà Nước
  • Khối Dân Vận Đảng Ủy
  • Với việc sử dụng máy tính ngày càng nhiều, các công ty ngày càng quan tâm đến việc phát triển hệ thống thông tin quản lý tích hợp, rộng khắp của công ty. Mục đích của một hệ thống như vậy là đưa tất cả các luồng thông tin được ghi lại trong toàn bộ công ty thành một thể thống nhất. Do đó, hy vọng rằng khả năng lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của công ty sẽ được cải thiện. Một hệ thống như vậy thường được coi là một cải tiến rõ rệt so với các thủ tục hiện tại.

    1. Hệ thống thông tin marketing là gì

    Hệ thống thông tin marketing (MIS) đề cập đến việc thu thập, phân tích, giải thích, lưu trữ và phổ biến thông tin thị trường một cách có hệ thống, từ cả nguồn bên trong và bên ngoài, đến các nhà marketing một cách thường xuyên, liên tục.

    Hệ thống thông tin marketing là gì

    2. Đặc điểm của hệ thống thông tin marketing

    • Hệ thống thông tin marketing là một quá trình và nó diễn ra liên tục
    • Hệ thống thông tin marketing hoạt động như một ngân hàng dữ liệu và tạo điều kiện cho người quản lý ra quyết định nhanh chóng.
    • Hệ thống thông tin marketing hoạt động một cách hợp lý và có hệ thống và cung cấp thông tin cần thiết.
    • Hệ thống thông tin marketing là định hướng tương lai. Nó dự đoán và ngăn ngừa các vấn đề cũng như giải quyết các vấn đề marketing. Nó vừa là một quá trình phòng ngừa cũng như chữa bệnh trong marketing.
    • Dữ liệu thu thập được xử lý với sự trợ giúp của các kỹ thuật nghiên cứu hoạt động. Modem công cụ toán học và thống kê có sẵn để giải quyết vấn đề trong lĩnh vực marketing.
    • Hệ thống thông tin marketing là một phương pháp thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu dựa trên máy tính.
    • Quản lý có được một luồng thông tin ổn định một cách thường xuyên – thông tin đúng, cho đúng người, đúng thời điểm và chi phí.

    Hệ thống thông tin marketing đứng giữa môi trường marketing và người ra quyết định marketing. Dữ liệu marketing chảy từ môi trường đến hệ thống thông tin marketing. Dữ liệu marketing được hệ thống xử lý và chuyển đổi thành luồng thông tin marketing, đi đến các nhà marketing để ra quyết định.

    Trước đây, hầu hết các quyết định được đưa ra trên cơ sở các báo cáo được chuẩn bị thông qua lao động thủ công. Ngày nay, các nhà quản lý, với sự giúp đỡ của các chuyên gia, có thể sử dụng các kỹ thuật toán học và thống kê tinh vi, như mô phỏng, mô hình phân bổ, mạng PERT, mô hình hàng tồn kho và các mô hình định lượng tương tự để giảm thiểu rủi ro khi kinh doanh trong môi trường hệ thống thông tin marketing.

    Đặc điểm của hệ thống thông tin marketing

    Họ có thể làm điều này trên cơ sở thông tin cập nhật được thu hồi hoặc truy xuất từ ​​cơ sở dữ liệu của máy tính. Máy tính hiện được coi là một người tính toán sẵn sàng không thể thiếu để ra quyết định quản lý hiệu quả. Sự ra đời của máy tính đã tạo điều kiện cho việc thiết lập Hệ thống hỗ trợ quyết định marketing (MDSS).

    Hệ thống bao gồm thu thập, lưu trữ, phân tích và báo cáo dữ liệu marketing. Hệ thống thông tin marketing thường được tập trung hóa, trong khi MDSS được phân cấp và cho phép các nhà quản lý marketing và bán hàng tương tác trực tiếp với cơ sở dữ liệu.

    Hệ thống hỗ trợ quyết định chứa dữ liệu về khách hàng, thị trường, đối thủ cạnh tranh, điều kiện kinh tế và xã hội và hiệu quả bán hàng của công ty. Bằng cách sử dụng máy tính và phần mềm cá nhân, người quản lý có thể độc lập truy xuất dữ liệu, phân tích và giải thích thông tin và thậm chí tạo báo cáo để đáp ứng các yêu cầu riêng.

    Hệ thống hỗ trợ quyết định có dữ liệu từ các nguồn bên trong và bên ngoài. Nhiều công ty vượt ra ngoài cơ sở dữ liệu bằng cách tạo ra khối lượng dữ liệu phức tạp lớn cho khách hàng sử dụng và sử dụng riêng. Ví dụ- Các công ty thẻ tín dụng có lịch sử của mọi giao dịch cá nhân được thực hiện bởi mỗi chủ thẻ.

    3. Tầm quan trọng của hệ thống thông tin marketing

    3.1. Dự đoán nhu cầu của người tiêu dùng

    Sản xuất hàng loạt và phân phối hàng loạt tại các thị trường ngày càng mở rộng dựa trên dự đoán nhu cầu của người tiêu dùng. Theo phương pháp marketing hướng đến khách hàng, mỗi nhà marketing cần có kiến ​​thức cập nhật về nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Trong một nền kinh tế năng động, thị hiếu của người tiêu dùng, thời trang và sở thích luôn thay đổi.

    Không có thông tin chính xác về bản chất, đặc điểm và quy mô của nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà marketing sẽ chỉ đơn giản là mò mẫm trong bóng tối. Các quyết định dựa trên linh cảm, phỏng đoán, trực giác hoặc truyền thống không thể mang lại kết quả mong muốn trong nền kinh tế hiện đại. Họ phải được hỗ trợ bởi các sự kiện và số liệu.

    3.2. Sự phức tạp của Marketing

    Quy trình marketing hiện đại đã trở nên phức tạp và công phu hơn nhiều. Thị trường ngày càng mở rộng và các hoạt động marketing đa quốc gia đòi hỏi dịch vụ tình báo thị trường đầy đủ và hệ thống thông tin có tổ chức.

    3.3. Ý nghĩa của các chỉ số kinh tế

    Lực lượng cung và cầu luôn thay đổi. Chúng xác định giá cả và điều kiện thị trường chung. Trong một nền kinh tế rộng lớn và phức tạp, sự biến động về nhu cầu, nguồn cung và giá cả là rất lớn. Nhà marketing phải có thông tin mới nhất về xu hướng thay đổi của cung, cầu và giá cả.

    3.4. Ý nghĩa của cạnh tranh

    Thị trường hiện đại có tính cạnh tranh. Kinh doanh hiện đại là một trò chơi nhiều mặt, trong đó các đối thủ và đối thủ liên tục cố gắng xây dựng các chiến lược để giành lợi thế hơn nhau.

    Dự đoán hành vi của đối thủ cạnh tranh và vượt qua đối thủ cạnh tranh sẽ cần các dịch vụ của trí tuệ marketing. Một nhà marketing không thể tồn tại dưới sự cạnh tranh sắc sảo mà không có thông tin thị trường cập nhật, đặc biệt là về bản chất, tính chất và quy mô của cạnh tranh sẽ được đáp ứng.

    3.5. Lập kế hoạch marketing

    Chúng ta đang sống trong thời đại lập kế hoạch và lập trình. Các kế hoạch và chương trình của chúng tai dựa trên thông tin được cung cấp bởi nghiên cứu kinh tế (dự báo kinh tế) và nghiên cứu marketing (dự báo marketing), cung cấp thông tin cần thiết về điều kiện kinh tế và marketing trong tương lai.

    Kinh doanh hiệu quả hơn với phần mềm quản lý bán hàng Nhanh.vn 

    Quản lý chặt chẽ tồn kho, đơn hàng, khách hàng và dòng tiền

    4. Các thành phần của hệ thống thông tin marketing

    Các thành phần của hệ thống thông tin Marketing

    4.1. Hồ sơ nội bộ

    Thông tin có thể được thu thập từ các tài liệu như hóa đơn, truyền bản sao, chứng từ thanh toán do các công ty chuẩn bị khi họ nhận được đơn đặt hàng và dịch vụ từ khách hàng, đại lý hoặc đại diện bán hàng.

    Dữ liệu bán hàng hiện tại nên được duy trì một cách thường xuyên, đóng vai trò là trợ lý của Hệ thống thông tin marketing. Các báo cáo về doanh số hiện tại và mức tồn kho giúp ban quản lý quyết định các mục tiêu của mình và các nhà marketing có thể sử dụng thông tin này để thiết kế chiến lược bán hàng trong tương lai của họ.

    Các công ty duy trì một số cơ sở dữ liệu như

    • Cơ sở dữ liệu khách hàng – trong đó thông tin đầy đủ về tên, địa chỉ, số điện thoại của khách hàng, tần suất mua hàng, tình hình tài chính, v.v. được lưu lại.
    • Cơ sở dữ liệu sản phẩm – trong đó thông tin đầy đủ về giá, tính năng, biến thể của sản phẩm được lưu trữ.
    • Cơ sở dữ liệu nhân viên bán hàng, trong đó thông tin đầy đủ về nhân viên bán hàng, tên, địa chỉ, số điện thoại, mục tiêu bán hàng, v.v. được lưu lại.

    Các công ty lưu trữ dữ liệu của họ trong kho dữ liệu từ đó dữ liệu có thể được lấy bất cứ khi nào có nhu cầu. Sau khi dữ liệu được lưu trữ, các chuyên gia thống kê khai thác nó bằng cách áp dụng một số phần mềm và kỹ thuật máy tính để chuyển đổi nó thành thông tin có ý nghĩa cung cấp thông tin và số liệu.

    4.2. Hệ thống marketing thông minh

    Để có một Hệ thống thông tin marketing hiệu quả, các công ty nên tích cực làm việc để cải thiện hệ thống thông tin marketing bằng cách thực hiện các bước sau:

    Cung cấp đào tạo phù hợp và thúc đẩy lực lượng bán hàng để kiểm tra xu hướng thị trường, tức là thay đổi thị hiếu và sở thích của khách hàng và đưa ra đề xuất về các cải tiến, nếu có.

    Các công ty cũng có thể cải thiện hệ thống tình báo marketing của họ bằng cách nhận được ngày càng nhiều thông tin về các đối thủ cạnh tranh. Điều này có thể được thực hiện bằng cách mua sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, tham dự các triển lãm thương mại, đọc các bài báo được xuất bản của đối thủ cạnh tranh trên các tạp chí, tạp chí, báo cáo tài chính.

    Các công ty có thể có một hệ thống thông tin marketing hiệu quả bằng cách thu hút các khách hàng trung thành trong hội đồng tư vấn khách hàng, những người có thể chia sẻ kinh nghiệm của họ và đưa ra lời khuyên cho các khách hàng tiềm năng mới.

    Ngoài ra, các công ty có thể mua thông tin về môi trường marketing từ các công ty nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về tất cả những người chơi trên thị trường.

    4.3. Nghiên cứu Marketing 

    Nghiên cứu Marketing là tập hợp, tổ chức, phân tích và giải thích dữ liệu chính hoặc dữ liệu thứ cấp để tìm ra giải pháp cho các vấn đề marketing. Các công ty tiếp tục nghiên cứu marketing để phân tích môi trường marketing bao gồm những thay đổi trong thị hiếu của khách hàng và các ưu tiên, chiến lược của đối thủ cạnh tranh, phạm vi ra mắt sản phẩm mới, v.v. bằng cách áp dụng một số công cụ thống kê. Để tiến hành nghiên cứu thị trường, dữ liệu phải được thu thập có thể là dữ liệu chính (dữ liệu đầu tay) hoặc dữ liệu thứ cấp (dữ liệu cũ, có sẵn trong sách, tạp chí, báo cáo nghiên cứu, tạp chí, v.v. )

    Dữ liệu thứ cấp có sẵn công khai, nhưng dữ liệu chính sẽ được nhà nghiên cứu thu thập thông qua các phương pháp nhất định như bảng câu hỏi, phỏng vấn cá nhân, khảo sát, hội thảo, v.v.

    Một nghiên cứu marketing đóng góp rất nhiều trong hệ thống thông tin marketing vì nó cung cấp dữ liệu thực tế đã được các nhà nghiên cứu thử nghiệm nhiều lần.

    4.4. Hệ thống hỗ trợ quyết định marketing 

    Nó bao gồm một số chương trình phần mềm mà các nhà marketing có thể sử dụng để phân tích dữ liệu, được thu thập cho đến nay, để đưa ra quyết định marketing tốt hơn. Khi sử dụng máy tính, người quản lý đánh dấu có thể lưu dữ liệu khổng lồ dưới dạng bảng và có thể áp dụng các chương trình thống kê để phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định phù hợp với kết quả nghiên cứu.

    Vì vậy, các nhà marketing cần kiểm tra môi trường marketing, tức là cả bên trong (bên trong tổ chức) và bên ngoài (bên ngoài tổ chức, để có thể thiết kế các chính sách, thủ tục, chiến lược marketing phù hợp.

    Phần kết

    Hệ thống thông tin marketing là một phần quan trọng trong việc hoạch định chiến lược marketing của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc thực hiện các chính sách marketing cũng quan trọng không kém. Ngày nay các doanh nghiệp hay tập trung vào marketing hiện đại hơn nói cách khác là digital marketing. Trong đó chúng tôi đặc biệt cung cấp đến cho doanh nghiệp của bạn một sản phẩm hỗ trợ marketing dành cho doanh nghiệp của bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Dược Là Gì? Vai Trò Của Marketing Dược Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Vai Trò Của Digital Marketing Trong Marketing Communications Là Gì?
  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Kinh Doanh
  • Digital Marketing Là Gì? Tầm Quan Trọng Và Các Hình Thức Của Digital Marketing
  • Digital Marketing Là Gì – Toàn Tập Về Tiếp Thị Số!
  • Chức Năng Của Hệ Thống Thông Tin Quản Lý Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Phần Mềm Quản Lý Nhân Sự Chấm Công Tính Lương
  • Erp Phần Mềm Hỗ Trợ Quản Lý Nhân Sự Và Tính Lương Hiệu Quả
  • 11 Chức Năng Quản Lý Nhân Sự Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Phát Triển
  • 5 Chức Năng Của Phần Mềm Quản Lý Nhân Sự Hrm
  • Quản Trị Văn Phòng Là Gì?
  • Công tác quản lý nhân sự được đánh giá là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong mọi tổ chức, đơn vị. Đặc biệt, nó còn có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Vì vậy, việc quản lý nhân sự đòi hỏi phải có sự linh hoạt, chính xác để có thể tạo nên một môi trường làm việc hiệu quả nhất.

    Trước thực tế này, nhiều doanh nghiệp đã tiến hành xây dựng hệ thống thông tin quản lý nhân sự và kết quả thu được rất khả quan. Điều này, đã đáp ứng được các nhu cầu cần thiết, đa dạng của con người và thực hiện đúng mục tiêu của tổ chức.

    1. Chức năng của hệ thống thông tin quản lý nhân sự

    Hệ thống thông tin quản lý nhân sự mang đến nhiều chức năng hữu ích cho doanh nghiệp

    Chức năng của hệ thống này là thực hiện việc huy động nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả những người lao động cho doanh nghiệp. Các hệ thống thông tin quản lý nhân sự không những trợ giúp cho bộ phận quản trị nhân lực lưu giữ các thông tin về nhân sự, lập các báo cáo định kỳ,…mà còn thực hiện việc lập kế hoạch và chiến lược bằng cách cung cấp cho bộ phận quản lý công cụ để mô phỏng, dự báo, phân tích, thống kê, truy vấn và thực hiện các chức năng quản lý nhân lực khác….

    Các quyết định, điều hành nhân sự cần có hỗ trợ của hệ thống thông tin quản lý nhân sự bao gồm:

    • Đánh giá các ứng viên và người lao động của tổ chức
    • Lựa chọn, đề bạt hay luân chuyển người lao động
    • Tuyển chọn người lao động
    • Đào tạo và phát triển người lao động
    • Quản lý lương, thưởng và các kế hoạch bảo hiểm, trợ cấp của người lao động
    • Cung cấp báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước theo yêu cầu
    • Lên kế hoạch ngắn và dài hạn về nhu cầu nhân lực
    • Phân tích, sắp xếp và phân công công việc một cách hợp lý

    Hệ thống thông tin quản lý nhân sự của một tổ chức, doanh nghiệp đóng vai trò như một hệ thống tài liệu phản ánh đầy đủ và toàn diện những tiềm năng về thể lực, trí lực của từng con người trong một tập thể, đơn vị. Chúng bao gồm cả về mặt số lượng, chất lượng được đánh giá đầy đủ trong mọi thời điểm quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Xây dựng hệ thống tin quản lý nhân sự là một việc cần thiết ở mọi doanh nghiệp

    Hệ thống này được gắn liền với các phân hệ thông tin khác của tổ chức như hệ thống thông tin kế toán tài chính, hệ thống thông tin sản xuất và hệ thống thông tin marketing…

    Có thể nói, chức năng mà hệ thống thông tin quản lý nhân sự mang lại là thật sự cần thiết để các tổ chức, doanh nghiệp phát triển một cách toàn diện và bền vững theo thời gian

    2. Tại sao nên sử dụng phần mềm để tạo hệ thống thông tin quản lý nhân sự cho doanh nghiệp?

    + Ứng dụng phần mềm nhân sự để quản lý hiệu quả và dễ dàng hơn

    Phần mềm quản lý nhân sự HRPRO7 chính là công cụ để nhà quản lý nắm được tình hình nhân sự một cách tổng quát và chính xác nhất. Từ đó, có những sự điều chỉnh hợp lý để phát triển nguồn nhân sự một cách hiệu quả.

    Ứng dụng phần mềm HRPRO7 để xây dựng hệ thống quản lý nhân sự doanh nghiệp

    Phần mềm nhân sự HRPRO7 cũng giúp nhà quản lý tiết kiệm nhiều thời gian, công sức sắp xếp, lãnh đạo hơn là phương pháp làm thủ công, trên giấy tờ truyền thống. Bằng việc tự động kết nối các dữ liệu chấm công, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân, các khoản trích nộp và kết xuất ra bảng lương tổng hợp, phiếu lương cho từng nhân viên…

    + Ứng dụng phần mềm nhân sự để đảm bảo tính an ninh và bảo mật

    So với việc lưu trữ bằng giấy tờ, những thông tin của nhân viên, tổ chức được lưu trữ thống nhất tại một nơi và được đảm bảo an ninh vững chắc, tránh khỏi sự truy cập trái phép của người không có quyền hoặc những người bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp.

    Ngoài ra, phần mềm nhân sự này cũng có khả năng mở rộng để tích hợp với các phần mềm khác như quản trị sản xuất, quản trị quan hệ khách hàng, kế toán,… nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị toàn diện cho doanh nghiệp.

    Thông qua bài viết này, chắc hẳn bạn cũng biết được tầm quan trọng mà hệ thống thông tin quản lý nhân sự mang lại cho doanh nghiệp. Thay vì xây dựng hệ thống thông tin trên giấy theo cách thủ công, bạn hoàn toàn có thể ứng dụng phần mềm HRPRO7 để thực hiện đảm bảo nhanh chóng, tiện lợi và chuẩn xác đến 100%.

    Mọi thông tin cần tư vấn về phần mềm nhân sự HRPRO7, Quý doanh nghiệp hãy nhấc máy lên và liên hệ ngay đến Công ty giải pháp Tinh Hoa qua hotline: 0919.397.169 (gặp Nguyễn Nhã) hoặc 0919.039.665 (gặp Quỳnh Như) để được hỗ trợ một cách cụ thể, tận tình!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Doanh Nghiệp Và Chức Năng Quản Lý Nguồn Nhân Lực
  • Nội Dung Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Của Việt Nam Gồm Những Điểm Gì?
  • Các Cơ Sở Khoa Học Của Công Tác Quản Lý Môi Trường
  • Hệ Thống Quản Lý Mua Hàng Siêu Thị Mini
  • Vai Trò Và Nội Dung Của Quản Trị Mua Hàng Trong Doanh Nghiệp Thương Mại
  • Mô Tả Chức Năng Của Hệ Thống Website Tin Tức

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 4. Hướng Dẫn Chức Năng Thêm Mới Sản Phẩm Trên Website WordPress
  • Mẫu Thiết Kế Website Thực Phẩm Chức Năng Chuyên Nghiệp Chuẩn Seo
  • Thiết Kế Website Thực Phẩm Chức Năng Uy Tín Giá Tốt
  • Mẫu Website Thực Phẩm Chức Năng
  • Thiết Kế Web Thực Phẩm Chức Năng
  • CÔNG TY CỔ PHẦN TÍCH HỢP DỊCH VỤ SỐ

    Địa chỉ: D6, ngõ 61/23, Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

    ĐT: 04 6 2950 929 Email: Website: chúng tôi – Ghi nhớ website, favorite: Chức năng này cho phép người dùng lưu địa chỉ

    url đang xem vào favorite để truy cập nhanh lần sau.

    Quản lý liên hệ

    Thêm, Sửa, Xóa & Cập nhật thông tin liên hệ của các phòng ban, bộ phận kinh

    doanh,…

    Các module tiện ích

    Banner Flash: Hiển thị Chữ và Hình ảnh động theo nhu cần

    Thông tin cần thiết:

    Cập nhật liên tục hàng ngày các thông tin về:

     Thời tiết

     Giá vàng

     Tỷ giá ngoại tệ

    Thống kê số lần truy cập

    Đếm số người Online

    Thống kê tổng số lần truy cập

    Cài đặt thống kê của Google Analytics

    – Module Liên hệ: trình bày thông tin liên hệ và form gửi thông tin từ website. Quản lý thông tin liên hệ.

    sx

    – Module bình chọn: Tạo bình chọn trên wiebste, quản lý bình chọn, xem lượt bình chọn.

    – Module RSS: Xuất bản tin theo chuẩn RSS để người dùng sử dụng phần mềm để đọc tin.

    – Module thư viện hình ảnh: có thể tích hợp thư viện hình ảnh vào website và cung cấp nhiều hiệu ứng

    slide show cho thư viện, nơi chia sẻ ảnh trực tuyến…

    – Module thống kê website: thống kê số người truy cập, số người đang truy cập trực tuyến, thống kê vị trí

    địa lý, thời gian truy cập, các bài viết được truy cập nhiều nhất …

    – Module phân quyền người sử dụng: Với 01 hệ thống tin tức thì việc phân quyền người sử dụng sẽ giúp

    đội ngũ quản trị dễ dàng trong việc phát triển nội dung,

    Mô tả chi tiết gói dịch vụ:

    STT Dịch vụ Thời gian hoàn thiện

    1

    Hệ thống website hoàn thiện, bao gồm các khâu thiết kế giao diện ,

    code website và test hoàn chỉnh

    20 ngày

    ( kể từ khi ký hợp đồng )

    CÔNG TY CỔ PHẦN TÍCH HỢP DỊCH VỤ SỐ

    Địa chỉ: D6, ngõ 61/23, Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

    ĐT: 04 6 2950 929 Email:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Website Tin Tức Là Gì? Đặc Điểm Của Việc Thiết Kế Web Tin Tức
  • Chức Năng Hệ Thống Website Tòa Soạn Báo Điện Tử Trực Tuyến
  • Những Điều Cần Biết Về Yêu Cầu Chức Năng Của Website
  • Các Chức Năng Chính Khi Xây Dựng Website Du Lịch, Website Resort
  • Những Chức Năng Không Thể Thiếu Với Website Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100