Top 5 # Chức Năng Của Hormon Insulin Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Của Hormon Tuyến Giáp

Hormon tuyến giáp có hai ảnh hưởng chính trong cơ thể: (1) làm tăng cường các phản ứng trao đổi chất (TĐC) và (2) kích thích tăng trưởng đối với trẻ em.

Hormon tuyến giáp làm tăng TĐC ở hầu hết các loại mô bào loại trừ một ở não, lách, dịch hoàn và phổi. Nếu một lượng lớn hormon tuyến giáp được tiết ra, tốc độ các phản ứng trao đổi chất có thể tăng 60-100% so với bình thường, khả năng sử dụng thức, quá trình tổng hợp protein cũng như sử dụng protein tăng. Tỷ lệ tăng trưởng ở người trẻ tuổi tăng nhanh. Hoạt động tinh thần dễ hưng phấn; hoạt động của hầu hết các tuyến nội tiết khác cũng được tăng cường. Tuy nhiên, nhiều cơ chế dẫn đến tác động này vẫn đang đang được tìm hiểu.

Khi tiêm hormon tuyến giáp (thyroyxine hay triiodothyronine) cho động vật, tổng hợp protein tăng rất sớm ở hầu hết các mô do qua trình dịch mã được tăng cường và sự hình thành protein tại các ribosome tăng lên. Ở giai đoạn sau (vài giờ đến vài ngày), quá trình sao mã hình thành RNA từ các gene tăng lên dẫn đến tăng tổng hợp protein theo phương thức: (1) hormon (chủ yếu là triiodothyronine từ deiodinated thyroxine trong tế bào kết hợp với các receptor protein trong tế bào; (2) Phức hợp receptor-hôrmn hoạt hóa các gene, xúc tiến sao mã và tổng hợp RNA dẫn đến tăng cường tổng hợp protein.

Ít nhất có khoảng 100 enzyme trong tế bào tăng về số lượng do tổng hợp protein được tăng cường dưới tác động của hormon tuyến giáp. Ví dụ α -glycerophosphate dehydrogenase có thể tăng đến 6 lần so với bình thường. Enzyme này đóng vai trò quan trọng trong phân giải carbonhydrate nên có thể cho rằng hormon tuyến giáp làm tăng sử dụng carbonhydrate. Bên cạnh đó, các enzyme oxi hóa và các hệ thống vận chuyển electron nội bào cũng được tăng cường (cả hai được thể hiện trong các ty thể).

Dưới tác động của hormo tuyến giáp, ty thể tăng cả về số lượng lẫn kích thước. Diện tích bề mặt của màng ty thể tăng cùng với tăng cường trao đổi chất. Như vậy tác dụng của hormonn tuyến giáp đến TĐC thông qua ảnh hưởng đến hệ thống ty thể của tế bào từ đó tăng ATP cung cấp năng lượng cho tế bào. Tuy vậy tăng số lượng và hoạt động của ty thể cũng có thể là kết quả của tăng hoạt động của tế bào.

Nếu tiêm một lượng lớn hormon tuyến giáp cho động vật, ty thể có thể phồng lên một cách bất thường nhưng không đi cùng với quá trình phosphoryl hóa, sinh nhiệt nhưng số lượng ATP ít. Tuy vậy, ở điều kiện bình thường câu hỏi được đặt ra là hormon ở nồng độ nào có thể gây ra ảnh hưởng này kể cả ở những người bị nhiễm độc tuyến giáp.

Dưới tác động của hormon, một trong những enzyme tăng về số lượng và hoạt tính là Na-K ATPase làm tăng vận chuyển Na và K qua màng tế bào ở một số mô. Mặc dù quá trình vận chuyển này cấn đến năng lượng và sinh nhiệt, nó có thể được coi là một trong các cơ chế qua đó hormon tuyến giáp làm tăng cường trao đổi chất của cơ thể.

Tóm lại: Một điều rõ ràng là nhiều ảnh hưởng của hormon tuyến giáp đến tế bào đã được quan sát nhưng cơ chế đặc hiệu để dẫn đến những ảnh hưởng đó vẫn cần được làm rõ. Một trong những cơ chế ứng cử viên là khả năng hoạt hóa quá trình sao mã của các DNA trong nhân tế bào dẫn đến làm tăng cường quá trình tổng hợp protein.

Hormon tuyến giáp có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cơ thể. Đã từ lâu chúng ta biết rằng chúng cần thiết cho quá trình biến thái (metaphormic change) của nòng nọc.

Ở người, ảnh hưởng rõ ràng nhất là đối với quá trình sinh trưởng trong gia đoạn trẻ thơ. Nếu trẻ bị thiểu năng tuyến giáp, quá trình phát triển sẽ chậm thậm chí dừng lại. Nếu cường tuyến giáp (tuyến hoạt động quá mức) sẽ dẫn đến hiện tượng phát triển nhanh làm trẻ cao to một cách khác thường. Tuy nhiên đĩa sinh trưởng của xương có thể hợp nhất với phần thân xương rất sớm và dẫn đến giảm chiều cao ở tuổi trưởng thành.

Một tác động quan trọng của hormon tuyến giáp là kích thích bộ não phát triển trong thời kỳ bào thai và năm đầu tiên sau khi trẻ chào đời. Nếu tuyến giáp của bào thai không tiết đủ hormon, bộ não phát triển chậm trong suốt thời kỳ bào thai và trong năm đầu tiên sau khi ra đời. Nếu trẻ không được dùng liệu pháp hormon tuyến giáp thích hợp để điều trị sẽ có thể phải sống trong tình tạng thiểu năng trí tuệ suốt đời (xem phần bệnh tuyến giáp).

Bên cạnh khả năng làm tăng cường quá trình tổng hợp protein, quá nhiều hormon tuyến giáp có thể làm tăng tốc quá trình trao đổi chất, protein đưa vào trao đổi nhiều hơn lượng được tổng hợp vì vậy kho dự trữ protein được huy động và các amino acid được giải phóng vào dịch ngoại bào.

Ảnh hưởng đến trao đổi carbohydrate

Tất cả các yếu tố trong trao đổi chất béo đều chịu ảnh hưởng của hormon tuyến giáp. Tuy nhiên, vì mô mỡ là “kho dự trữ năng lượng dài hạn” nên nếu được huy động quá mức sẽ làm tăng nồng độ các axít béo tự do trong huyết tương. Hormon tuyến giáp đồng thời cũng làm tăng cường quá trình oxi hóa các axit béo trong tế bào.

Ảnh hưởng đễn mỡ trong máu và trong gan

Vitamin là cấu phần quan trọng của một số enzyme và coenzyme. Hormon tuyến giáp làm tăng tổng hợp protein trong đó có các enzyme nên chắc chắn phải cần đến các vitamin. Vì vậy, hiện tượng thiếu các vitamin tương ứng cho tổng hợp enzyme có thể sảy ra khi tuyến giáp tăng cường hoạt động tiết mà lượng vitamin thu nhận không đủ.

Vì hormon tuyến giáp làm tăng cường TĐC ở hầu hết các loại mô bào nên thiếu hormon tuyến giáp sẽ làm giảm trầm trọng quá trình TĐC.

Tăng tiết hormon tuyến giáp thường làm giảm khối lượng cơ thể và ngược lại. Tuy nhiên, không phải điều này luôn luôn sảy ra vì hormon tuyến giáp còn có tác dụng tăng cường khẩu vị, làm ta có thể ăn nhiều hơn và có thể dẫn đến sự thay đổi của tốc độ trao đổi chất.

Ảnh hưởng đến hệ tim mạch (cardiovascular system)

Tăng cường TĐC sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng oxy và làm tăng các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi ở các mô, tăng nhịp tim, tăng tuần hoàn máu đặc biệt là tuần hoàn da giúp cơ thể thải nhiệt. Nhịp tim là một căn cứ để chẩn đoán ưu năng tuyến giáp.

Nếu nồng độ hormon tuyến giáp tăng nhẽ sẽ dẫn đến tăng cường độ tim nhưng nếu tăng quá cao sẽ giảm co bóp cơ tim có thể gây suy tim.

Có thể làm thể tích máu tăng nhẹ.

Làm giảm huyết áp tâm thu (systolic pressure) và tăng huyết áp tâm trương (diastolic pressure).

Tăng cường TĐC làm tăng nhu cầu sử dụng oxy và tạo CO2 sẽ kích thích tầm số và cường độ hô hấp.

Tăng khẩu vị, tăng tiết dịch tiêu hóa và nhu động dạ dày-ruột, có thể dẫn đến ỉa chảy. Nếu thiếu hormon, ngược lại, sẽ gây táo bón.

Thông thường hormon tuyến giáp làm tăng cường “tốc độ” các hoạt động trí não và ngược lại. Ưu năng tuyến giáp dễ có khuynh hướng gây rối loạn thần kinh chức năng, lo lắng quá mức, bồn chồn, hoang tưởng v.v.

Làm tăng cường phản ứng của cơ. Nếu nồng độ hormon cao quá mức sẽ làm yếu cơ do protein bị phân giải. Thiếu hormon tuyến giáp làm yếu cơ, cơ thể lờ đờ, uể oải do thời gian nghỉ sau khi co của cơ kéo dài.

Ưu năng tuyến giáp gây rung cơ – một dấu hiệu dễ thấy của bệnh này. Kiểu rung cơ trong trường hợp này khác với rung cơ của bệnh Parkinson hoặc khi run. Có thể kiểm tra sự rung cơ do ưu năng tuyến giáp bằng cách đặt một mảnh giấy trên các ngón tay duỗi thẳng và quan sát độ rung của mảnh giấy. Triệu chứng rung cơ được cho là do tăng độ mẫn cảm của các synap thần kinh của vùng tủy sống điều khiển trương lực cơ. Rung cơ là yếu tố để đánh giá mức độ ảnh hưởng của hormon tuyến giáp đến trung ương thần kinh.

Ưu năng tuyến giáp gây mệt mỏi do tác động đến cơ nhưng lại gây khó ngủ do các kích thích thần kinh.

Ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết khác

Tăng tiết của tuyến giáp làm tăng cường tiết hormon của hầu hết các tuyến nội tiết khác.

Cơ thể chỉ cần một lượng hormon tuyến giáp vừa đủ, không thừa không thiếu cho hoạt động sinh dục bình thường. Thiếu hormon tuyến giáp ở nam giới sẽ làm giảm hay mất ham muốn tình dục nhưng nếu quá thừa hormon này lại có thể bị liệt dương.

Ở phụ nữ, thiếu hormon tuyến giáp có thể dẫn đến chứng rong kinh (menorrhagia), loạn chu kỳ kinh nguyệt hay mất kinh. Thiểu năng tuyến giáp có thể làm giảm ham muốn tình dục. Nếu ưu năng tuyến giáp làm giảm quá trình chảy máu và thường mất kinh.

Ảnh hưởng của hormon tuyến giáp đến dịch hoàn và buồng trứng có thể thông qua các ảnh hưởng kết hợp đến trao đổi chất và ảnh hưởng đến tuyến yên.

Thảo Luận:chức Năng Của Hormon Tuyến Giáp

Chào anh Tiếp, Tôi có hơi thắc mắc một chút về thuật ngữ anh dùng, mong anh giải thích giúp. Theo tôi hiểu thì “mô bào” (histiocyte) là những tế bào của hệ miễn dịch, nói nôm na là tế bào đại thực bào cố định tại mô như tế bào hình sao ở não, tế bào Kuffer tại gan, Langerhans ở dưới da, tế bào bụi ở phế nang…Liệu chữ anh dùng ở đây (để chỉ các tế bào khác trong cơ thể) có gây nhầm lẫn cho người đọc hay không? Xin cảm ơn anh! (Cuối tuần vừa rồi tôi ở Göttingen, có ý tìm gặp anh nhưng rất tiếc là không gặp). Thân mến Vietmed 03:59, ngày 05 tháng 12 năm 2006 (CST)

Chào anh Khôi,

Tôi cũng cân nhắc mãi về cách chuyển ngữ các từ như “issue cell”, “histiocyte” v.v. vì thực tế các tài liệu của ta dùng rất khác nhau.

Tôi dùng “mô bào” để thay thế cho các cụm từ như “tissue cells” , cells of … tissue”…trong đa số tài liệu hiện nay. Nếu dùng đầy đủ phải là “tế bào của các mô…” hay “tế bào thuộc mô…”.v.v. Ở đây tôi học cách rút gọn của nhiều thầy cô đi trước dùng khi giảng bài và cả khi viết sách. Lâu rồi thành quen nên quên mất không viết đầy đủ lần đầu tiên trong bài rồi mở ngoặc ghi cách viết gọn. Tôi sẽ thêm chú thích vào bài viết. Nếu anh hoặc ai đó tìm được cách chuyển ngữ nào hay, chính xác và không gây nhầm lẫn thì ta sẽ đưa vào bài.

Cũng theo cách hiểu của tôi, histiocyte chỉ các macrophage và các dòng tế bào Langerhans (Langerhans cell lineages) (thường có mặt trong các mô liên kết). Nó cũng có tiền tố histio- mang nghĩa mạng lưới (web) và mô (tissue). Có tài liệu cho rằng nó mang giản nghĩa của histo- (tiền tố được dùng thông dụng khi nói về mô). Có lẽ vì thế nên histocyte chỉ được dùng để khi nói về các loại tế bào ở trên! Liệu histio- có mang nghĩa bao trùm để chỉ tất cả các mô không anh Khôi nhỉ? Nếu ta phải chuyển nó sang tiếng Việt thì nên dùng từ nào cho ngắn gọn lại hợp lý?

Mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi và bổ sung của anh. Veterinary

Xin lỗi anh Tiếp vì mấy bữa nay bận quá không vào VLOS,

Trong các từ điển (thông dụng lẫn y khoa), histiocyte được dịch là Mô bào. Anh Tiếp có thể kiểm tra lại điều này dễ dàng. Có lẽ anh không phản đối khi bộ môn Histology được thống nhất gọi trong tiếng Việt là Mô học. Anh cũng có thể dễ dàng kiểm tra trên một số từ điển online là Histology đồng nghĩa với Histiology mặc dù thuật ngữ đầu được sử dụng nhiều hơn.

Cũng như anh, tôi có xem trên một số tài liệu trên mạng, chủ yếu do người Việt ở nước ngoài viết, chữ mô bào được hiểu theo cách tissue cells. Tuy nhiên cái đó ít hơn. Theo tôi hiểu thì tế bào luôn thuộc một mô nào đó nên việc dùng thuật ngữ tisue cells chỉ xuất hiện hãn hữu trong một bối cảnh nhất định nào đó (như trong bài của anh là để phân biệt với tế bào có chức năng nội tiết là tế bào tuyến giáp). Cách hiểu của tôi về các tissue cells ở đây là các tế bào đích mặc dù tế bào đích thực sự là target cells nhưng ở đây là vẫn có thể hiểu như vậy được.

Tôi có một anh bạn là bác sĩ người Hy lạp nên có hỏi về vấn đề này. Anh bảo histio- vốn có nghĩa gốc trong tiếng hy lạp là cột (mast). Nhưng trong quá trình sử dụng thuật ngữ ở các nước khác thì histio- lại được sử dụng đồng nghĩa với histo-.

Chào Vietmed,

Insulin Là Gì? Vai Trò Của Insulin Đối Với Cơ Bắp

Insulin là gì? Vai trò của insulin đối với cơ bắp

Insulin là 1 loại hooc-môn chuyển glucose (đường) từ máu vào tế bào và kiểm soát đường máu cực kỳ tốt. Nó có khả năng đồng hóa rất cao đóng vai trò quan trọng để xây dựng cơ bắp. Mặc dù vậy, insulin vẫn có mặt xấu chính là có thể làm gia tăng tích trữ mỡ. Thách thức lớn nhất của những người tập thể hình là làm thế nào để phát huy hết khả năng của insulin để phục hồi từ các buổi tập và phát triển cơ bắp đồng thời kiểm soát nó để giúp tăng nạc cho cơ thể.

Insulin là gì? Vai trò của insulin đối với cơ bắp

Insulin là 1 loại protein được tuyến tụy sản sinh và tiết ra khi chúng ta hấp thụ các loại carbs (tinh bột), protein (chất đạm) hay cả hai (khi tuyến tụy hoạt động tốt và khỏe mạnh). Nhưng khác với các loại protein giúp xây dựng cơ bắp khác, insulin là loại protein đóng vai trò như hooc-môn tăng trưởng.

Giống như tất cả các loại protein khác, insulin cũng được cấu tạo từ 1 chuỗi amino axit (axit amin) liên kết với nhau. Tuy nhiên, vì cách sắp xếp các amino axit trong chuỗi protein đặc biệt này khiến nó trở thành giống với 1 hệ thống báo hiệu hơn thay vì giúp xây dựng cơ bắp.

Từ tuyến tụy, insulin đi vào máu và di chuyển tới các mô khác nhau, bao gồm cả mô cơ. Insulin sẽ phát tín hiệu cho các tế bào cơ bắp cho phép glucose, amino axit và creatine thâm nhập vào trong cơ bắp. Quá trình này là nguyên nhân chính giải thích vì sao insulin lại cực kỳ quan trọng để xây dựng cơ bắp.

Một lý do khác đó là khi insulin phát tín hiệu cho các tế bào cơ, nó làm gia tăng quá trình phản ứng sinh hóa ở trong cơ bắp, việc tổng hợp protein cũng gia tăng. Ngoài ra, insulin còn làm giảm tình trạng mất cơ bắp và kích thích sự phát triển các cơ tốt hơn.

Thêm 1 điểm nữa, insulin gián tiếp hỗ trợ phát triển cơ bắp bằng cách làm các mạch máu thư giãn và giãn nở ra, để cho lưu lượng máu nhiều hơn chạy tới các cơ bắp. Bằng cách gia tăng lượng máu, insulin có thể giúp cơ bắp nhận được nhiều dưỡng chất hơn như glucose và amino axit. Đó là lý do vì sao bạn sẽ thấy nhiều vận động viên thể hình thường nạp nhiều glucose vào ngày thi đấu để đẩy mạnh lượng insulin giúp các múi cơ to tròn căng cứng hơn và làm lộ rõ các gân mạch máu hơn.

Insulin và chất béo trong cơ thể

Khi tuyến tụy tiết insulin thì cơ thể sẽ biết được là nó vừa được cung cấp dinh dưỡng, nó sẽ tạm dừng hoặc làm chậm lại việc tiêu hóa chất béo dự trữ trong cơ thể làm năng lượng mà tiêu thụ ngay các chất dinh dưỡng vừa được hấp thu. Ngoài ra insulin cũng tác động trên tế bào chất béo giống hệt cách nó tác động trên tế bào cơ, do đó nó lằm tăng việc tích lũy mỡ.

Sự gia tăng glucose và chất béo làm tăng dự trữ béo trong cơ thể. Chất béo lưu trữ nhiều, sử dụng ít, bạn sẽ cảm thấy khó chịu về điều này nếu nồng độ insulin cao suốt ngày.

Nếu lưu lượng đường máu thấp (do cơ thể bị bệnh, ăn nhiều đơn đơn đã được hấp thu hết …) sẽ có khả năng gây ra 1 bệnh lý nghiêm trọng đó là triệu chứng “tuột đường huyết”.

Kiểm soát mức độ insulin trong cơ thể

Quy Tắc 1: Hiểu rõ GI(Glycemic Index) là gì?

Tinh bột có 2 loại: GI cao và GI thấp, GI phản ánh tốc độ tiêu hóa trong cơ thể để đi vào máu.

Thực phẩm có GI cao sẽ được hấp thu nhanh chóng vào máu điều này làm cho insulin tăng vọt nhanh chóng.

Thực phẩm có GI thấp sẽ được hấp thu từ từ, do đó lượng glucose đi vào trong máu sẽ chậm rãi hơn và insulin cũng ở 1 mức thấp hơn.

Thông thường các loại đường (đường mía) sẽ có chỉ số GI cao, ngược lại các loại ngũ cốc sẽ có chỉ số GI thấp hơn. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như đường fructose trong hầu hết các loại trái cây thì có chỉ số GI thấp.

Các loại trái cây còn chứa nhiều chất xơ sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa. Ngoài ra, đường fructose không thể được sử dụng để làm nguyên liệu như đường glucose mà chúng phải được tiêu hóa và lưu trữ ở gan, quá trình này cũng cần có thời gian để hoàn thành. Hầu hết các loại trái cây đều có GI thấp, ngoại trừ: dưa đỏ, chà là, dưa hấu là có GI cao.

Ngược lại khoai tây trắng chứa đường phức tạp nhưng lại được hấp thu rất nhanh do đó nó có chỉ sổ GI cao. Các loại bánh mì trắng và các loại gạo màu trắng cũng vậy.

Quy Tắc 2: Nạp Đường Có Chỉ Số GI Thấp Thường Xuyên

Hãy ăn các loại đường thấp suốt các bữa ăn trong ngày, điều này sẽ giúp bạn duy trì insulin thấp, qua đó cung cấp năng lượng cho bạn hoạt động suốt cả ngày và duy trì việc đốt chất béo. Đây không chỉ là những hiểu biết về insulin, mà nó còn được chứng minh qua các nghiên cứu lâm sàng.

Giữ mức insulin thấp sẽ kéo dài tuổi thọ của bạn, điều này được chứng minh trên động vật có tuổi đời dài hơn 50% với mức insulin thấp mặc dù chưa có kết luận về việc chống lão hóa này. Người ta tin rằng, insulin thấp sẽ ít gây ra tín hiệu trong tế bào hơn, do đó tế bào được sống lâu hơn.

Quy Tắc 3: Thời Điểm Nạp Đường Cao GI

Có 2 thời điểm chính để bạn nạp đường có chỉ số GI cao:

Sau giấc ngủ dài glycogen trong cơ bắp của bạn dường như đã hết, nếu điều này xảy ra thì cơ thể của bạn sẽ ra lệnh “hi sinh” mô cơ để tạo năng lượng duy trì cuộc sống.

Hãy nạp 20-40g đường cao GI để đẩy lượng insulin của bạn lên nhanh chóng, điều này sẽ giúp tổng hợp nhanh glycogen và ngăn chặn sự phá vỡ mô cơ.

Tôi khuyên bạn nên ăn trái cây vào buổi sáng vì chúng có thể cung cấp cho bạn vitamin và 1 số chất chống oxy hóa quan trọng khác. Sẽ tốt nhất nếu bạn kết hợp trái cay có chỉ số GI cao và trái cây có chỉ số GI thấp.

Mặt khác, nếu bạn đang cố gắng giảm mỡ tối đa, thì bạn có thể bỏ tinh bột hoàn toàn vào buổi sang, lúc này cớ thể bạn trong trạng thái dị hóa, nhưng bạn cũng đang đốt cháy chất béo do hàm lượng glycogen xuống thấp. Bạn uống bột protein vào lúc này sẽ ngăn chặn được một số sự cố cơ bắp đồng thời không làm giảm nhiều quá trình đốt béo của cơ thể.

Thời điểm khác để nạp đường cao GI là trong vòng 30 phút sau khi tập luyện, đây là thời điểm quan trọng. Bạn nên nạp 30g-80g đường loại này với 40g bột protein sẽ giúp isulin của bạn tăng vọt lên và điều này sẽ giúp các chất dinh dưỡng (creatine, axit amin) đến được cơ bắp nhiều hơn.

Các loại đường cao GI có tác dụng rất nhanh chóng phục hồi lại lượng glycogen đã bị mất trong lúc tập luyện. Việc mang các chất dinh dưỡng đến cơ bắp với số lượng lớn sẽ tổng hợp phục hồi cơ bắp ngăn chặn thoái hóa cơ.

Quy Tắc 4: Nhận Sự Giúp Đỡ Từ Protein

Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng nếu bạn hấp thụ đường có chỉ số GI cao kèm với 1 loại protein hấp thu nhanh như whey protein thì lượng isnsulin sẽ cao hơn so với chỉ dùng đường GI cao thôi. Điều này gây ra lo ngại có nên sử dụng whey protein giữa các bữa ăn hay trước khi tập hay không vì mức độ cao isnsulin sẽ ngăn chặn việc đốt chất béo. Nhưng cao insulin trong lúc này chủ yếu do BCAA (chủ yếu là Leucine tăng cao) sẽ không cản trở việc đốt chất béo trong thời gian dài, thực sự nó hỗ trợ cho việc giảm cân và ngăn chặn thèm ăn trong thời gian dài.

Vậy bạn có cần lo lắng về mức insulin cao khi dung kết hợp như vậy không? Thật sự là không. Nhưng nếu bạn đang cố gắng loại bỏ mỡ tại các vị trí cứng đầu nhất trên cơ thể thì bạn có thể dung Micellar Casein để thay thế whey protein vào giữa các bữa ăn, micellar casein vẫn có thể cung cấp cho bạn 1 lượng protein đầy đủ mà không làm tăng vọt insulin. Trong trường hợp sau tập luyện thì bạn có thể dung kết hợp cả whey và casein để đạt hiệu quả tối đa trong việc giảm béo.

Quy Tắc 5: Sử Dụng Thực Phẩm Bổ Sung Insulin

Có một vài thực phẩm bổ sung có thể giúp bạn tăng mức độ insulin lên cao giúp bạn tăng cơ tốt nhất sau buổi tập như là: alpha lipoic acid (ALA), and Cinnulin-PF.

ALA là một chất chống oxy hóa giúp tăng cường hoạt động của insulin ở các tế bào cơ. Cinnulin-PF bắt chước tác dụng của insulin ở các tế bào cơ.

Nếu bạn đang cố gắng để tối đa hóa ảnh hưởng của insulin trên được cơ bắp, hãy sử dụng 300-500 mg ALA và / hoặc 100-250 mg Cinnulin-PF với đường và protein. Điều này có thể giúp tăng cường hoạt động của insulin, có khả năng dẫn đến phục hồi tốt hơn và giúp cơ bắp phát triển tốt hơn sau khi tập luyện.

Giờ thì bạn đã hiểu rõ ràng nhất về tầm quan trọng của insulin giúp phát triển cơ bắp hiệu quả rồi đó.

Insulin Là Gì? Tác Dụng Của Insulin Trong Cơ Thể Con Người

Insulin là gì?

Insulin là một loại hormone do các “tế bào đảo tụy” của tuyến tụy tiết ra với tác dụng chuyển hóa carbohydrate, chuyển hóa mô mỡ và gan thành năng lượng ATP cung cấp cho các hoạt động sống của cơ thể.

Công thức hóa học của hormone insulin: C257H383N65O77S6

Được cấu tạo với 2 chuỗi polypeptid, nối với nhau bằng cầu nối disulfua, có 51 acid amin. Nếu 2 chuỗi này bị tách riêng thì các hoạt tính của hormone sẽ biến mất.

Insulin hoạt động như thế nào?

Insulin không hoạt động độc lập, để phát huy hết hoạt tính insulin cần được gắn vào tế bào đích thông qua thụ cảm thể (receptor) của insulin trên bề mặt tế bào.

Hình ảnh gắn kết của insulin với các tế bào:

Tác dụng của insulin

Hormone Insulin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình chuyển hóa glucid, lipid và protein. Bên cạnh đó thì insulin cũng là hormone duy nhất có thể làm hạ đường huyết cho người bị tiểu đường.

Insulin trong chuyển hóa glucid

Sau mỗi bữa ăn chúng ta nạp vào cơ thể 1 lượng glucose khá nhiều, điều này sẽ kích thích tiết insulin để tăng sự vận chuyển glucose vào tế bào. Glucose được chuyển sang dạng dự trữ là glycogen khi không hoạt động. Khi lượng glucose máu bị giảm, thì glycogen lại được giải phóng thành glucose vào máu nhờ insulin.

Ngoài tác dụng, chuyển hóa glucid thì insulin còn là hormon gây ức chế cho quá trình tái tạo đường trong cơ thể – đó là quá trình sử dụng acid amin trong cơ thể để tạo thành glucose.

Insulin trong chuyển hóa lipid

Insulin có tác dụng giúp làm tăng tổng hợp acid béo từ glucid và vận chuyển chúng tới các mô mỡ. Nếu thiếu insulin, sẽ dẫn đến tăng glycerol và acid béo trong máu. Cũng như dẫn đến nồng độ lipid trong máu tăng dẫn đến xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường gây biến chứng nặng.

Insulin trong chuyển hóa protein

Insulin có tác dụng tổng hợp và dự trữ protein ở hầu khắp tế bào của cơ thể. Nên nếu thiếu insulin sẽ làm giảm protein ở các mô khiến cho cơ thể gầy yếu. Điều này thể hiện rõ ở các bệnh nhân đái thái đường ăn nhiều nhưng cơ thể lại gầy yếu, sút cân nhanh.

Các chỉ số insulin bình thường

6-29 µIU/mL hay 43 – 208 µmol/L.

Khi tiến hành làm nghiệm pháp gây tăng đường máu bằng đường uống: 60 – 120 pU/L.