Top 2 # Chức Năng Của Kiểm Toán Viên Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Nhiệm Vụ Của Kiểm Toán Viên

Để hành nghề kiểm toán, các kiểm toán viên cần đảm bảo các yêu cầu:

Yêu cầu về tính độc lập

Các yêu cầu về tư chất đạo đức

Các yêu cầu về năng lực nghiệp vụ

Yêu cầu về tính độc lập

Yêu cầu này được xem như là điều kiện cần để đạt được mục tiêu của hoạt động kiểm toán, độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Kết quả kiểm toán sẽ không có giá trị khi những người sử dụng kết quả kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toán thiếu tính độc lập cho dù cuộc kiểm toán được thực hiện bởi người có trình độ cao đến đâu.

Yêu cầu về tính độc lập đòi hỏi sự trung thực và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với những người sử dụng kết quả kiểm toán, đồng thời các kiểm toán viên không bị ràng buộc trong việc tiếp xúc với các tài liệu và báo cáo của doanh nghiệp.

Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tính thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình. Mọi câu hỏi về tình hình kinh doanh hoặc các sử lý kế toán trong các giao dịch của doanh nghiệp cần được trả lời đầy đủ và đảm bảo rằng kiểm toán viên không bị hạn chế trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán.

Để đảm bảo yêu cầu này, ngoài mặt chủ quan về tư chất đạo đức của kiểm toán viên cần duy trì và đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm toán, pháp luật yêu cầu các kiểm toán viên không được thực hiện kiểm toán cho các khách hàng mà kiểm toán viên có quan hệ gia đình, họ hàng hoặc quyền lợi về mặt kinh tế.

Yêu cầu về tư chất đạo đức

Con người luôn là nhân tố quan trọng và mang tính quyết định trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, khi mà sản phẩm của hoạt động này không có khuôn mẫu định sẵn và phụ thuộc vào tính chủ quan của kiểm toán viên. Điều quan trọng là kiểm toán viên phải luôn duy trì được tính độc lập, khách quan khi tiến hành công việc cũng như khi xem xét, đánh giá các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở để đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính.

Kiểm toán viên phải là có lương tâm nghề nghiệp, luôn làm việc với sự thận trọng cao nhất với tinh thần làm việc chuyên cần. Trong quá trình kiểm toán phải đảm bảo thằng thắn trung thực và có chính kiến rõ ràng. Đồng thời kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến thiên vị.

Kiểm toán viên phải thường xuyên rèn luyện tính cẩn thận một cách thoả đáng tất cả các kỹ năng và sự siêng năng cần thiết khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Mọi sự bất cẩn đều có thể dẫn đến những rủi ro kiểm toán, theo đó gây ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên.

Kiểm toán viên phải tôn trong pháp luật. Tính tôn trọng pháp luật thể hiện trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán. Kiểm toán viên phải chấp hành đúng các chế độ, thể lệ, nguyên tắc và luật pháp của Nhà nước và những nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận. Ý kiến nhận xét của kiểm toán viên có giá trị pháp lý và các kiểm toán viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhận xét đánh giá của mình.

Yêu cầu về năng lực, nghiệp vụ

Nguyên tắc cơ bản chi phối cuộc kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện công việc với đầy đủ chuyên môn cần thiết… Để đảm bảo thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, kiểm toán viên phải:

Có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng

Có kỹ năng, kinh nghiệm về kiểm toán

Hiểu biết về pháp luật

Để đạt được các yêu cầu trên, các kiểm toán viên trước hết phải đạt được trình độ chuyên môn vững vàng về kế toán, hiểu biết về chế độ chính sách tài chính, kế toán và luật pháp đồng thời đồng thời để trở thành kiểm toán viên và có thể thực hiện công việc độc lập cần phải được các kiểm toán viên có kinh nghiệm kèm cặp, hướng dẫn trong các cuộc kiểm toán thực tế.

Theo Russell Bedford.

Kiểm Toán Nội Bộ Là Gì? Chức Năng Của Kiểm Toán Nội Bộ

Kiểm toán nội bộ là gì?

Kiểm toán nội bộ là gì? Đây được biết đến là một bộ phận của doanh nghiệp kiểm soát và giám sát hiệu quả các quá trình và hoạt động trong nội bộ. Đây là chức năng đặc biệt và cần thiết của nhiều tổ chức có quy mô lớn. Bởi đây là những công ty có quá trình vận hành phức tạp, dễ xảy ra lỗi và nhiều rủi ro không mong muốn.

Kiểm toán nội bộ cũng rất cần thiết đối với các doanh nghiệp hoạt động công khai. Việc áp dụng hình thức này để chứng thực hệ thống quản lý chặt chẽ của tổ chức đó.

Hoạt động của kiểm toán nội bộ là gì?

Trong kiểm toán nội bộ, các nhân lực phải chịu những trách nhiệm sau: Đánh giá việc giám sát nội bộ; phát hiện các hành vi gian lận; tuân thủ các quy định về pháp lý; kiểm tra quá trình; kiểm soát rủi ro và bảo vệ nguồn tài sản.

Người quản lý các hoạt động kiểm toán nội bộ có trách nhiệm liệt kê công việc cần làm, thường chú ý đến những khu vực phát sinh các vấn đề tiêu cực cao. Các kỳ thi được tổ chức nội bộ được thực hiện theo quyết định của ban giám đốc hoặc ủy ban kiểm toán. Thường thì các khu vực nằm trong diện ưu tiên sẽ được thông báo trước, để họ có thời gian chuẩn bị cho việc tập hợp tài liệu cho ban kiểm toán.

Khi phát hiện các trường hợp gian lận, kiểm toán viên sẽ nhanh chóng di chuyển đến địa điểm mà không có thông báo trước. Bộ phận kiểm toán nội bộ không chỉ tham gia giám sát hoạt động kinh doanh mà còn đưa ra đề xuất để tăng thêm giá trị của công ty.

Chức năng của kiểm toán nội bộ

Trước đây, kiểm toán nội bộ là nơi chịu trách nhiệm về việc báo cáo các khoản tài chính, quản lý kế toán và thông tin của công ty. Tuy nhiên, chức năng của bộ phận này ở thời điểm hiện tại đã được mở rộng. Thêm vào đó, kiểm toán nội bộ giám sát tính tuân thủ của các thành viên và tư vấn để hoàn thiện hiệu quả hệ thống nội bộ.

Có thể thấy, giá trị của một doanh nghiệp nằm trong tầm kiểm soát của ban kiểm toán nội bộ. Đây được xem là kiểm sát viên độc lập, đảm bảo bộ máy hoạt động theo các đạo đức nghề nghiệp, thực thi pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của công ty. Kiểm toán nội bộ còn có nhiệm vụ phát hiện những sai lệch và định hướng cho hội đồng quản trị và ban giám đốc việc kiểm soát các rủi ro.

Một chức năng cũng vô cùng quan trọng của kiểm toán nội bộ đó là giúp các doanh nghiệp khắc phục vướng mắc về hệ thống hoạt động và quản trị nhân lực. Áp dụng phương pháp kiểm tra, phân tích, giám sát các phòng ban để đưa ra lời khuyên giúp doanh nghiệp tăng năng suất trong kinh doanh.

Mọi thông tin, tin tức xin liên hệ theo địa chỉ bên dưới. Đội ngũ nhân viên của chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể Địa chỉ: 88 Vũ Tông Phan, phường An Phú, quận 2, Tp. HCM Hotline: 0822 6789 33 (Kinh doanh) Email: marketing@ankhangreal.vn

=================

Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Kiển Toán Với Trách Nhiệm Của Kiển Toán Viên Về Chất Lượng Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính

Quy trình công nghệ kế toán

Yêu cầu quản lý và phương hướng

Phương pháp

Chức năng

Hình thức cơ bản

Mục tiêu cơ bản của xác minh và điều chỉnh

Chứng từ

-Thông tin về nghiệp vụ -Minh chứng cho nghiệp vụ

Bản chứng từ

-Ghi đúng số lượng, đơn giá và thành tiền. -Tuân thủ các thủ tục chứng từ -Liên kết với các bước sau

Tính giá

-Phản ánh giá trị thực của tài sản -Tập hợp chi phí theo loại

Sổ chi tiết

-Phân loại đối tượng tính giá -Phản ánh giá trị thực của tài sản dịch vụ theo nguyên tắc hoạt động liên tục

Đối với tài khoản

-Phân loại tài sản và vốn -Phản ánh vận động của tài sản và vốn qua từng nghiệp vụ

Sổ tổng hợp

-Phân loại đúng yêu cầu quản lý -Định khoản và ghi sổ đúng, cộng dồn số dư và chuyển số chính xác

Tổng hợp – cân đối kế toán

-Khái quát các quan hệ tài chính -Cân đối tổng thể hoặc bộ phận

Bảng tổng hợp

-Phân tích quyền sở hữu (tài sản) và nghĩa vụ (vốn) với quan hệ hợp đồng (ngoài bảng) -Cân đối tài sản với vốn, thu và chi (và số dư) -Chuyển đúng với số dư (hoặt số phát sinh) vào khoản mục tương ứng

Bảng 1: Công nghệ kế toán với việc xác định mục tiêu kiểm toán Từ tất cả những điều trình bày trên, có thể thấy mục tiêu xác minh tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của BCTC cần được cụ thể hoá theo các yếu tố của hệ thống kế toán (phương pháp kế toán) trong quan hệ trực tiếp với việc hình thành các bảng này. Theo đó mục tiêu xác minh cần phải hướng tới là: Tính có thực của các thông tin với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài sản hoặc vốn phải được đảm bảo bằng sự tồn tại của tài sản, vốn hoặc tính thực tế xảy ra của các nghiệp vụ. Tính trọn vẹn của thông tin với ý nghĩa thông tin phản ánh trên bảng khai tài chính không bị sót trong quá trình xử lý. Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá tài sản cũng như giá phí (giá thành) đều được hình thành theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi để mua hoặc thực hiện các hoạt động. Tính chính xác về cơ học trong các phép tính số học cộng dồn cũng như khi chuyển số, sang trang trong công nghệ kế toán. Tính đúng đắn trong phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các quy định cụ thể trong phân loại tài sản và vốn cũng như các quá trình kinh doanh qua hệ thống tài khoản tổng hợp và chi tiết cùng việc phản ánh các quan hệ đối ứng để có thông tin hình thành BCTC. Những trường hợp đặc thù đều phải được giải trình rõ ràng. Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế toán trên BCTC với ý nghĩa tài sản phản ánh trên báo cáo phải thuộc quyền sở hữu (hoặc sử dụng lâu dài) của đơn vị, còn vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa vụ của đơn vị này. Những hướng xác minh kể trên được dùng cho mọi khoản mục mọi thành phần(gọi chung là phần hợp thành) kiểm toán như một “khung” chung nên được gọi là mục tiêu chung. Khi áp dụng vào từng phần hợp thành kiểm toán, cần xuất phát từ đặc điểm riêng của từng phần hợp thành để xây dựng “khung” cụ thể hơn cho từng phần và gọi là mục tiêu đặc thù. Đây là một trong những nội dung chính trong kiểm toán. Ở đây, cần đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa mục tiêu hợp lý chung của toàn bộ BCTC với các mục tiêu chung của kiểm toán cho mọi phần hành mà cả các nhà quản lý và KTV phải cam kết và quán triệt. Cũng như các tài liệu kế toán khác, các bảng tổng hợp kế toán được hình thành từ những người làm công tác kế toán và quản lý ở đơn vị được kiểm toán(khách thể kiểm toán) và được gọi chung là nhà quản lý. Trong một tổ chức hoặc cơ quan, người đại diện hợp pháp cao nhất là thủ trưởng (giám đốc, Tổng giám đốc các doanh nghiệp và thủ trưởng các tổ chức, cơ quan khác). Theo tính phổ biến của pháp lý, thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động trong đơn vị, trong đó có cả trách nhiệm về quá trình hình thành các BCTC. Quá trình hình thành tài liệu này bao gồm cả các công việc lập, kiểm tra, kiểm soát theo yêu cầu về pháp lý với từng tài liệu cụ thể và thuộc trách nhiệm của nhà quản lý. KTV thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến các đối tượng này. Tất nhiên, kiểm toán tài chính không phải là quá trình xét duyệt lại các nghiệp vụ theo phương pháp kế toán và kiểm tra của các nhà quản lý mà bằng phương pháp chuyên môn của kiểm toán với trách nhiệm riêng của KTV để thu được những sản phẩm riêng theo chuẩn mực của kiểm toán. Tuy nhiên,giữa quá trình hình thành các thông tin và quá trình kiểm toán các thông tin đó đều có đối tượng chung và có phần mục đích chung và phục vụ yêu cầu của những người quan tâm. Do vậy các mục tiêu kiểm toán cần được xác định trong quan hệ trong quan hệ về trách nhiệm giữa nhà quản lý và KTV.Trong quan hệ này nhà quản lý trước hết là thủ trưởng đơn vị kiểm toán phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của các thông tin. Trong quản lý hiện đại, trách nhiệm này được chuẩn hoá trong các văn bản pháp lý, trong đó quy định nhà quản lý phải lập các giải trình hoặc xác nhận hay cam đoan về độ tin cậy của các thông tin và tính tuân thủ các chuẩn mực trong việc lập và trình bày các BCTC. Trên cơ sở đó KTV xác minh lại các thông tin trên từng phần hoặc khoản mục cũng như trên toàn bộ BCTC. Có thể khái quát các mối quan hệ cơ bản qua sơ đồ:

Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu DA080 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

Tài liệu này không có hình ảnh khác

Kiểm Toán Viên Nội Bộ Là Ai ?

Kiểm toán viên nội bộ là ai ?

Theo IIA, Viện Kiểm toán Nội bộ: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.” IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu. Cần kiểm toán viên nội bộ ?

Là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp, rõ ràng kiểm toán nội bộ đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Nhờ nó mà Ban giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người. Có kiểm toán nội bộ như thêm “tai, mắt” cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Điều này làm tăng niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị doanh nghiệp.  

Thực tiễn trên thế giới cho thấy, các công ty có kiểm toán nội bộ thì thường khả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn. Đặc thù và vị trí của kiểm toán nội bộ trong công ty Là nghề đầy áp lực, thách thức, đòi hỏi tính chuyên nghiệp nhưng có thu nhập tương đối cao, được tôn trọng trong xã hội. Là nghề “kiểm tra và tư vấn cho các nghề khác” (trong cùng công ty). Theo quan điểm trước đây, kiểm toán nội bộ tập trung vào công tác kiểm tra kế toán, thông tin tài chính của công ty. Ngày nay, đối tượng của kiểm toán nội bộ gần như là toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp. Có nhiều ý kiến khác nhau về vị trí của kiểm toán nội bộ, nhưng có hai quan điểm chính là: Một là Kiểm toán nội bộ thuộc Ủy ban Kiểm toán do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn, có trách nhiệm giám sát cả hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc. Hai là Kiểm toán nội bộ do tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi được phê chuẩn của hội đồng quản trị, có trách nhiệm kiểm toán mọi hoạt động công ty theo chỉ đạo của tổng giám đốc. Như vậy, dù theo quan điểm nào thì kiểm toán nội bộ cũng là một trong những cấp kiểm soát cao nhất công ty, báo cáo trực tiếp cho ban kiểm soát, hội đồng quản trị và tổng giám đốc. Cơ hội nào cho các kiểm toán viên nội bộ ? Do được tiếp cận với các lĩnh vực hoạt động của tổ chức để thực hiện chức năng kiểm tra, phân tích, đánh giá và tư vấn, vô hình trung, kiểm toán viên nội bộ thụ đắc được vị thế mà không ai khác trong tổ chức có được. Vì thế khi hoạt động kiểm toán nội bộ ngày càng hoàn thiện và phát triển thì phòng kiểm toán nội bộ chính là một môi trường thực hành lý tưởng để đào tạo các giám đốc tương lai. Thực tế, nhiều tập đoàn đa quốc gia đã sử dụng phòng kiểm toán nội bộ như là nơi ươm mầm, rèn luyện các tài năng lãnh đạo. Kiểm toán viên nội bộ vừa là chức danh vừa nghề đòi hỏi kỹ năng và đạo đức cao. Vì thế chỉ khi người làm kiểm toán nội bộ có đủ tính chuyên nghiệp và chứng nhận đào tạo bài bản, có thâm niên thực tế thì năng lực và danh hiệu mới được công nhận. Hiện Việt Nam chưa có tổ chức nghề nghiệp dành riêng cho kiểm toán viên nội bộ. Kiểm toán viên nội bộ làm gì ? 1. Nhà tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho giám đốc điều hành và các giám đốc chức năng trong công ty. 2. Kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy và chính sách điều hành. Góp phần đảm bảo hoạt động công ty tuân thủ quy định pháp luật, phù hợp với đạo đức kinh doanh. Đảm bảo các chức năng của công ty được thực hiện nghiêm chỉnh, vận hành hợp lý. 3. Thực hiện một phần chức năng kiểm soát tài chính. Kiểm tra chất lượng thông tin, báo cáo kế toán. Rà soát tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Để trở thành kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp Tố chất phải có để trở thành kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp: Thông minh, nhạy bén nhưng phải kiên nhẫn, cẩn thận. Thận trọng nhưng quyết đoán. Có óc phân tích và phê phán. Đam mê nghề nghiệp, đặc biệt là thích khám phá rủi ro, sai sót, gian lận. Có kỹ năng giao tiếp và khai thác thông tin tốt. Điều 12, Quyết định 832/TC/QĐ/TCKT thì: “Kiểm toán viên nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước phải có các tiêu chuẩn: phẩm chất trung thực… đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, hoặc quản trị kinh doanh; đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất là 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giao nhiệm vụ kiểm toán viên. Đã qua huấn luyện về nghiệp vụ kiểm toán, kiếm toán nội bộ theo nội dung chương trình thống nhất của Bộ Tài chính và được cấp chứng chỉ.” Thực tế cho thấy phần lớn nội dung trong Quy định này là không khả thi. Trên thế giới, dù không có những tiêu chuẩn ngành về yêu cầu trình độ nghề nghiệp, nhưng thông thường các kiểm toán viên nội bộ xuất thân từ các công ty kiểm toán độc lập, có bằng cử nhân tài chính, luật hay quản trị và chứng chỉ Kiểm toán viên Công chứng (CPA) hay chứng chỉ Kiểm toán nội bộ (CIA). Có vẻ như thiếu tính sáng tạo nhưng là một giải pháp khôn ngoan và hợp lý khi xác định rằng để phát triển một nghề nghiệp mới, tham khảo thông lệ quốc tế, kế thừa những gì đã có thì vẫn tốt hơn là bắt đầu từ con số không. Vì thế theo chúng tôi, để phát triển nghề kiểm toán nội bộ tại Việt Nam, việc tiếp cận được những kiến thức nghề nghiệp cốt lõi, cập nhật, chắt lọc từ những chương trình đào tạo kiểm toán quốc tế là rất quan trọng. Những kiến thức này cùng với những trải nghiệm nghề nghiệp bản thân sẽ là hành trang cần thiết cho sự thành công. Tóm lại để trở thành một kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp phải có những tố chất mà một “Kiểm toán viên nội bộ” cần phải có (vì kiểm toán cũng là một nghệ thuật). Đồng thời, phải học những kiến thức nền tảng, cốt lõi mà một kiểm toán viên nội bộ cần phải trang bị (vì kiểm toán là một khoa học). Trên cơ sở kiến thức nền tảng đã có, phải tự đào sâu, tìm tòi nghiên cứu kiến thức và thực hành kiểm toán liên tục, không ngừng (học suốt đời – Long-life learning). Phải rèn sức khỏe để có thể “chiến đấu” lâu dài, bền bỉ trong điều kiện áp lực cao… Và cuối cùng, kiểm toán viên nội bộ phải có cái “DŨNG” vững vàng và cái “TÂM” trong sáng, để bền lòng vững bước trước mọi nguy nan và cám dỗ khi mà có lúc người kiểm toán viên nội bộ phải đối diện với những hành vi gian lận và phạm pháp…

tapchiketoan.com