Cấu Trúc Của Tế Bào Nhân Sơ

--- Bài mới hơn ---

  • Màng Nguyên Sinh – Cấu Trúc Của Tế Bào Vi Khuẩn
  • Cấu Tạo Hệ Thống Gan Mật Và Những Yếu Tố Gây Bệnh Về Gan Mật
  • Tổng Quan Về Chức Năng Mật
  • Tầm Quan Trọng Và Vai Trò Của Lá Gan Trong Cơ Thể
  • Vai Trò Của Các Chất Tăng Cường Chức Năng Gan Trong Nuôi Trồng Thủy Sản
    1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

    – 1665: Rôbớc Húc là người đầu tiên mô tả tế bào khi ông sử dụng kính hiển vi để quan sát lát mỏng của cây bấc.  Vài năm sau, nhà tự nhiên học người Hà Lan Antonie Van Lơvenhuc đã quan sát các tế bào sống đầu tiên.

    – 1838, Matias Slâyđen khi nghiên cứu các mô thực vật đã đưa ra Học thuyết về tế bào: tất cả các cơ thể thực vật đều được cấu tạo từ tế bào.  

    – 1839, Têôđo Sơvan cũng cho rằng tất cả các cơ thể động vật được xây dựng từ tế bào.  

    1. KHÁI QUÁT VỀ TẾ BÀO

    Tế bào rất đa dạng, dựa vào cấu trúc người ta chia chúng thành hai nhóm: Tế bào nhân sơ (Prokaryote) và tế bào nhân thực (Eukaryote).

    Tất cả các tế bào đều có ba thành phần cấu trúc cơ bản:

    –  Màng sinh chất bao quanh tế bào: Có nhiều chức năng, như màng chắn, vận chuyển, thẩm thấu, thụ cảm…

    –  Tế bào chất: là chất keo lỏng hoặc keo đặc (bán lỏng) có thành phần là nước, các hợp chất vô cơ và hữu cơ…

    –  Nhân hoặc vùng nhân: Chứa vật chất di truyền.

    III. CẤU TẠO TẾ BÀO NHÂN SƠ

    – So với tế bào nhân thực, thì tế bào vi khuẩn có kích thước 1- 5mm, bằng 1/10 tế bào nhân thực, tức S/V lớn ” Giúp tế bào trao đổi chất với môi trường, sinh sản một cách nhanh chóng.

    – Không có các bào quan có màng bao bọc.

    1.  Lông roi, vỏ nhầy, thành tế bào, MSC

    1. Lông, roi: (Ở một số VK)

    – Cấu tạo: bản chất là protein .

    – Chức năng lông:

    + Như thụ thể: tiếp nhận các virut.

    + Tiếp hợp: trao đổi plasmit giữa các tế bào nhân sơ.

    + Bám vào bề mặt tế bào: Một số vi khuẩn gây bệnh ở người thì lông giúp chúng bám được vào bề mặt tế bào người.

    – Chức năng Roi giúp VK di chuyển.

    1. Vỏ nhầy: (Ở một số VK)

    – Cấu tạo: Có bản chất là polysaccarit.

    – Chức năng: + Giúp vi khuẩn tăng sức tự vệ hay bám dính vào các bề mặt, gây bệnh…

                          + Cung cấp dinh dưỡng khi gặp điều kiện bất lợi.  

    1. Thành tế bào:

    – Cấu tạo: peptidoglican

    – Chức năng:

    + Giữ cho vi khuẩn có hình dạng ổn định.  

    + Bảo vệ, duy trì áp suất nội bào.

    + Dựa vào cấu tạo thành tế bào chia vi khuẩn ra làm hai loại → đề xuất các biện pháp chữa bệnh.

    Đặc điểm

    Gram

    G+

    G-

    Thành tế bào

    Dày, nhiều lớp

    Mỏng, ít lớp

    Acit teichoic

    Không

    Lớp lipopolysaccarit

    Không

    Mẫn cảm với lysozym

    Ít

    Bắt màu thuốc nhuộm Gram

    Tím

    Đỏ

    1. MSC:

    – Cấu tạo: Từ lớp kép photpholipit có 2 đầu kị nước quay vào nhau và các protein.

    – Chức năng: + Bảo vệ tế bào, kiểm soát sự vận chuyển các chất ra vào tế bào.

                          + Mang nhiều enzym tham gia tổng hợp ATP, lipit.

                          + Tham gia phân bào.

    1. Tế bào chất

    *Bào tương: Là một dạng chất keo bán lỏng, chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau.

    *Các hạt:

    – Riboxom: cấu tạo từ protein, rARN và không có màng bao bọc.  Là nơi tổng hợp nên các loại protein của tế bào.  Riboxom của vi khuẩn (30S+ 50S) nhỏ hơn riboxom của tế bào nhân thực (40S+ 60S).  

    – Các hạt dự trữ: Giọt mỡ (Lipit) và tinh bột.

    *Mesoxom:

    – Cấu trúc:

    Chủ yếu có ở Gram dương, do MSC xâm nhập, đâm sâu vào tế bào chất.

     - Chức năng:

    + Gắn với ADN và có chức năng trong quá trình sao chép ADN và quá trình phân bào.

                        

    + Quang hợp hoặc hô hấp ở một số vi khuẩn quang hợp hoặc có hoạt tính hô hấp cao.

     

     

    1. Không có

    – Không có hệ thống nội màng → không có các bào quan có màng bao bọc; khung tế bào;

    1. Vùng nhân

      – Không có màng nhân, nhưng đã có bộ máy di truyền là một phân tử ADN vòng và thường không kết hợp với protein histon.

      Ngoài ra, một số vi khuẩn còn có ADN dạng vòng nhỏ khác được gọi là plasmit.  

     

    CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN

    Câu 1. Ý nghĩa của việc nhuộm bằng phương pháp gram đối với các chủng vi khuẩn.

    Phương pháp nhuộm Gram phân lập Vi khuẩn thành 2 nhóm lớn:

    – VK Gram dương: thành tế bào dày, bắt màu tím.

    – VK Gram âm: thành tế bào mỏng, bắt màu đỏ.

    Từ những đặc điểm của 2 lnhoms vi khuẩn mà có thể nhận biết và sử dụng các thuốc kháng sinh đặc hiệu cho từng loại, ngăn ngừa sự bùng phát của chúng, bảo vệ sức khỏe con người và sinh vật khác.

    Câu 2. Plasmitlà gì? Plasmit cóvaitrò gì đối với vi khuẩn.

    Ở vi khuẩn, ngoài ADN vùng nhân còn có các ADN vòng nhỏ gọi là Plasmit.

    Các plasmid không phải là yếu tố nhất thiết phải có đối với sự sống tế bào, nhưng khi có mặt, chúng đem lại cho tế bào nhiều đặc tính chọn lọc quý giá như có thêm khả năng phân giải một số hợp chất, chống chịu với nhiệt  độ bất lợi, chống chịu với các kháng sinh…

    Câu 3. Thuốckhángsinh là gì? Nêu các tác động của thuốc kháng sinh.

    Thuốc kháng sinh(Trụ sinh)là những chất có khả năng tiêu diệtvi khuẩnhay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu.

    Thuốc kháng sinhcó tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độphân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trongquá trình phát triển của vi khuẩn. Từ đó tiêu diệtvi khuẩnhay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu. Cụ thể:

    + Ức chế quá trình tổng hợpvách của vi khuẩn(vỏ) của vi khuẩn.

    + Ức chế chức năng củamàng tế bào.

    + Ức chế quá trình sinh tổng hợpprotein.

    + Ức chế quá trình tổng hợpacid nucleic.

    Câu 4. Vì sao một số loại vi khuẩn có khả năng kháng thuốc?

    Sự kháng lại thuốc kháng sinh của vi khuẩn về cơ bản là do gen. Tức là vi khuẩn “tự nhiên” có những gen kháng thuốc trong tế bào. Nhờ có gen kháng thuốc mà vi khuẩn có đủ năng lực chống lại tác dụng của thuốc kháng sinh. Và nhờ đó mà chúng có thể tồn tại và tiếp tục gây bệnh.

    Vi khuẩn có được gen kháng thuốc là do 3 nguyên nhân:

    + Đột biến gen.

    + Lai tạo gen giữa các dòng vi khuẩn.

    + Hiện tượng chuyển gen giữa các dòng vi khuẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Thức Yhct Tại Hà Tĩnh
  • Suy Thận Là Bệnh Gì?
  • Thuốc Bổ Thận Vitatree Kidney Tonic Bổ Thận Nam, Hộp 100 Viên
  • Chức Năng Của Thận Và Các Phương Pháp Bảo Vệ Thận
  • Top 10+ Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận Tốt Nhất 2022 Đừng Bỏ Qua
  • Màng Nguyên Sinh – Cấu Trúc Của Tế Bào Vi Khuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Hệ Thống Gan Mật Và Những Yếu Tố Gây Bệnh Về Gan Mật
  • Tổng Quan Về Chức Năng Mật
  • Tầm Quan Trọng Và Vai Trò Của Lá Gan Trong Cơ Thể
  • Vai Trò Của Các Chất Tăng Cường Chức Năng Gan Trong Nuôi Trồng Thủy Sản
  • Biện Pháp Phòng Trị Bệnh Gan Tụy Và Hội Chứng Chết Sớm (Ems) Ở Tôm, Phác Đồ Điều Trị Bệnh .
    • Màng nguyên sinh (cytoplasmic membrane)

    Vị trí: màng ngụyên sinh bao quanh chất nguyên sinh và nằm trong vách tế bào vi khuẩn.

    Cấu trúc: là một lớp màng mỏng, tinh vi và chun giãn. Màng nguyêtt sinh chít của vi khuẩn bao gồm 60% protein, 40% lipid mà đa phần là phosphoìipiđ.

    Dưới kính hiển vi điện tử, màng nguyên sinh của tế bào có và không có màng nhân đều giông nhau. Chúng gồm hai lớp tối (2 lớp phospho) bị tách biệt giữa một lớp sáng (lớp lipid), sự giông nhau này dẫn tới khái nịệm đơn vị màng. Tất cả các màng như thế này hoàn toàn giông nhau về cấu trúc phân tử. Nhiều thuộc tính của màng này phụ thuộc vào sự tồn tại và cấu trúc của phospholipid. Các phân tử phospholipid này cổ cực 1 một đầu (đầu chứa phospho) và không cực 1 đầu còn lại cửa phân tử. Nó chứa nhân carborí và hydro. Đầu Cíó mang điện tích ố phía mặt ngoài và trong của màng, còn đầu không mang điện tích nằm giữa. Dung dịch nước tồn tại ỏ cả 2 mặt của màng sinh chất. Trong thực tế các màng này đóng nhiều vai trò sinh lý khác nhau. Ngoài các lớp cơ bản này ra còn cố một sô’ phân tử protein tồn tại bên trong màng, nằm giữa hai lốp phospholipid, nhờ vậy mà màng nguyên sinh chất thực hiện được các chức năng khác nhau.

    • Chức năng của màng nguyên sinh:

    Màng nguyên sinh thực hiện một sô’ chức năng quyết định sự tồn tại của tế bào vi khuẩn:

    I Màng nguyên sinh chất là cd quan hấp thụ và đào thải chọn lọc các chất, nhò 2 cơ chế khuếch tán bị động và vận chuyển chủ động. Với cơ chế bị động, các chất được hấp thu và đào thải nhờ áp lực thẩm thấu. Chỉ những chất cố phân tử lượng bé hơn vài trăm dalton và có thể hòa tan tròng nước mối có’ thể vận chuyển qua màng. Nhưng thường áp lực thẩm thẩu trong tế bào vi khuẩn- lón hơn bên ngoài nhiều lần (có những chất lớn hơn khoảng 1000 lần). Do vậy, cách khuếch tán bị động không thể thực hiện được mà phải nhò tới cách vận chuyển chủ động. Phương pháp này cần tới enzym và năng lượng. Đó là các permease đặc hiệu vối từng chất hoặc nhóm chất và ATP.

    Màng nguyên sinh chất là nơi tổng hợp các enzym ngoại bào. Những chất có phân tử lớn không thể vận chuyển qua màng được. Để tiêu hóa được các chất loại này, vi khuẩn dùng hệ thống enzym thủy phận. Biến các protein thành các aciđ amin, biến các polysaccharid thành các đưòng đơn. Các enzym thủy phân năy được tổng hợp ở màng nguỵên sinh chất và tồn tại trên màng nguyên sinh bêạ trong vách tế bào. Chúng là những enzym ngoại bào.

    Màng sinh chất cũng là nơi tổng hợp các thành phần của vách tế bào.

    Màng sinh chất cũng là nơi tồn tại của hệ thống enzym hô hấp tế bào, nơi thực hiện các quá trình năng lượng chủ yếu của tế bào thay cho chức năng của ty lạp thể.

    Màng sinh chất tham gia vào quá trình phân bào nhò các mạc thế (mesosome). Mạc thể là phần cuộn vào chất nguyên sinh của màng sinh chất, thường gặp ỏ vi khuẩn Gram (+), Khi tế bào phân chia, mạc thể tiến sâu vào chất tế bào, chia tế bào làm 2 phần. Mạc thể cũng là nơi nhiễm sắc thể gắn  Người ta còn cho rằng do sự cuộn vào của mạc thể mà làm thay đổi điện tích bể mặt của mồng nguyên sinh chất, nhờ vậy có thê tập trung được cấc chát dinh dưỡng.

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Của Tế Bào Nhân Sơ
  • Kiến Thức Yhct Tại Hà Tĩnh
  • Suy Thận Là Bệnh Gì?
  • Thuốc Bổ Thận Vitatree Kidney Tonic Bổ Thận Nam, Hộp 100 Viên
  • Chức Năng Của Thận Và Các Phương Pháp Bảo Vệ Thận
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Nhân Tế Bào

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Tiêu Chí Về Chức Năng, Tính Năng Kỹ Thuật Của Hệ Thống Phần Mềm Họp Trực Tuyến
  • Đại Tràng Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Đại Tràng
  • Hội Chứng Ruột Kích Thích (Ibs)
  • Chức Năng, Cấu Tạo Và Cách Để Có Hệ Tiêu Hóa Khỏe Mạnh
  • Router Cisco 2900 Là Gì? Tìm Hiểu Bộ Định Tuyến Cisco 2900 Series
  • Nhân tế bào là bào quan tối quan trọng trong tế bào sinh vật nhân chuẩn hay còn gọi là tế bào nhân thực. Nó chứa các nhiễm sắc thể của tế bào, là nơi diễn ra quá trình nhân đôi DNA và tổng hợp RNA. Mỗi tế bào có chứa một thể nhỏ hình cầu hoặc hình trứng gọi là nhân. Ở một số tế bào, nhân thường có vị trí khá cố định là trung tâm tế bào, ở một số tế bào khác nó lại tự do di động và có thể thấy ở bất kỳ chỗ nào.

    Chức năng của nhân tế bào

    Nhân có vai trò quan trọng trong việc điều hòa các quá trình xảy ra trong tế bào. Nó chứa các yếu tố di truyền hoặc là các gen xác định tính trạng của tế bào ấy hoặc của toàn bộ cơ thể, nó điều hòa bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhiều mặt hoạt tính của tế bào. Nhân tách biệt với tế bào chất bao quanh bởi một lớp màng kép gọi là màng nhân. Gọi là màng kép vì màng nhân có cấu tạo từ hai màng cơ bản. Màng nhân dùng để bao ngoài và bảo vệ DNA của tế bào trước những phân tử có thể gây tổn thương đến cấu trúc hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của DNA. Màng nhân điều hòa sự vận chuyển chất từ tế bào chất vào nhân và ngược lại. Trong quá trình hoạt động, phân tử DNA được phiên mã để tổng hợp các phân tử RNA chuyên biệt, gọi là RNA thông tin (mRNA). Các mRNA được vận chuyển ra ngoài nhân, để trực tiếp tham gia quá trình tổng hợp các protein đặc thù. Ở các loài sinh vật nhân sơ, các hoạt động của DNA tiến hành ngay tại tế bào chất (chính xác hơn là tại vùng nhân).

    Sơ đồ cấu tạo của nhân tế bào

    a, Cấu tạo Màng nhân

    Màng nhân ngăn cách nhân với tế bào chất bọc xung quanh nhân. Màng nhân gồm 2 lớp màng (và đó là những túi, những tế bào chứa). Một màng hướng vào nhân gọi là màng trong, một màng hướng vào tế bào chất gọi là màng ngoài. Màng nhân có cấu trúc không liên tục, nó có nhiều lỗ hình trụ, qua đó mà tế bào chất thông với nhân. Hệ thống lỗ có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất giữa nhân và tế bào chất. Vì các chất thấm qua lỗ là kết quả hoạt động tích cực của các chất chứa trong lỗ. Ngoài ra, hệ thống lỗ còn có chức năng nâng đỡ và cố định màng nhân. Màng nhân tham gia vào quá trình tổng hợp và chuyên chở các chất, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein vì mặt ngoài của màng nhân có đính các thể ribosome.

    b, Các thành phần của dịch nhân

    Dịch nhân là bộ phận vô hình, trong suốt. Thành phần của dịch nhân gần giống như chất nền ngoại bào, có nhiều men và muối vô cơ. Trong dịch nhân có hạch nhân và chất nhiễm sắc.

    c, Cấu tạo của hạch nhân

    Trong thời kỳ tế bào không phân chia (gian kỳ), bao giờ chúng ta cũng quan sát thấy hạch nhân. Ở tiền kỳ, hạch nhân hoà tan vào trong nhân và biến mất; đến đầu mạt kỳ, hạch nhân lại xuất hiện ở dạng các thể dính với nhiễm sắc thể và đến gian kỳ tiếp theo, hạch nhân được hình thành trở lại. Hạch nhân thường có dạng hình cầu, nhưng cũng có thể biến đổi. Độ lớn của hạch nhân thay đổi tuỳ theo trạng thái sinh lý của tế bào, chủ yếu là tuỳ thuộc vào cường độ tổng hợp protein. Ở tế bào mà cường độ tổng hợp protein mạnh thường hạch nhân lớn hoặc nhiều hạch nhân và ở tế bào cường độ tổng hợp protein yếu thì ngược lại. Hạch nhân tổng hợp ARN ribosom rARN, giúp việc tạo ribosom, có vai trò quan trọng trong những tế bào sản ra nhiều protein.

    d, Cấu trúc của chất nhiễm sắc

    Chất nhiễm sắc (chromatine) Khi quan sát tế bào đã được nhuộm màu, người ta thấy các cấu trúc chứa chất nhiễm sắc, đó là những chất có tính bắt màu đặc biệt đối với một số thuốc nhuộm. Ta có thể quan sát thấy từng sợi hay búi nằm trong nhân và làm thành mạng lưới. Các búi chất nhiễm sắc được gọi là tâm nhiễm sắc (chromocentre hoặc caryosome). Cấu trúc của chất nhiễm sắc có thể thay đổi ở các tế bào khác nhau của cùng 1 cơ thể, hoặc ở tế bào cùng loại của các cơ thể khác nhau. Bản chất của chất nhiễm sắc là các ADN của nhiễm sắc thể (chromosome) ở dạng tháo xoắn. Nhiễm sắc thể có hình dáng và kích thước đặc trưng chỉ ở kỳ giữa (metaphase) của sự phân bào. Nhiễm sắc thể gồm có ADN, các protein histone và các protein không histone của nhiễm sắc thể. Cả 3 thành phần gộp lại là chất nhiễm sắc. Như vậy, cấu trúc chất nhiễm sắc của nhân ở gian kỳ chính là nhiễm sắc thể ở kỳ phân chia, nhưng ở trạng thái ẩn.

     

    Thân ái!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Lỗ Nhân Cần Thiết Cho Sự Tồn Tại Của Tế Bào T
  • Hậu Giám Sát Trong Bảo Đảm Hiệu Lực, Hiệu Quả Giám Sát Của Quốc Hội
  • Nội Dung, Phương Thức Giám Sát Của Quốc Hội Đối Với Việc Thực Thi Công Vụ Của Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Hạn Chế Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Cần Được Giải Quyết Dứt Điểm
  • Lý Luận Chung: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài
  • Chức Năng Của Lỗ Nhân Cần Thiết Cho Sự Tồn Tại Của Tế Bào T

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Nhân Tế Bào
  • Bộ Tiêu Chí Về Chức Năng, Tính Năng Kỹ Thuật Của Hệ Thống Phần Mềm Họp Trực Tuyến
  • Đại Tràng Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Đại Tràng
  • Hội Chứng Ruột Kích Thích (Ibs)
  • Chức Năng, Cấu Tạo Và Cách Để Có Hệ Tiêu Hóa Khỏe Mạnh
  • Nghiên cứu mới đây miêu tả cách thức một thành phần đặc biệt trong lỗ nhân chịu trách nhiệm chính cho sự tồn tại của các tế bào T đang tuần hoàn trong máu. Những phát hiện này tìm ra một mắt xích mới trong con đường truyền tín hiệu thông qua thụ thể tế bào T và có thể mở đường cho sự phát triển của các liệu pháp miễn dịch trong tương lai.

    Các phức hợp lỗ nhân (nuclear pore complex) trên màng nhân không chỉ kiểm soát việc vận chuyển các phân tử đi vào và đi ra khỏi nhân mà chúng còn giữ một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của tế bào T. Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Y học Sanford Burnham Prebys (Sanford Burnham Prebys Medical Discovery Institute) miêu tả cách thức một thành phần đặc biệt trong lỗ nhân chịu trách nhiệm chính cho sự tồn tại của các tế bào T đang tuần hoàn trong máu. Những phát hiện này, đã được công bố trên Nature Immunology, tìm ra một mắt xích mới trong con đường truyền tín hiệu thông qua thụ thể tế bào T và có thể mở đường cho sự phát triển của các liệu pháp miễn dịch trong tương lai.

    Tiến sĩ Joana Borlido, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Y học Sanford Burnham Prebys và là trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp bằng chứng đầu tiên về vai trò của các phức hợp lỗ nhân trong điều hoà hoạt động của tế bào T. Chúng tôi đã nhận thấy rằng các tế bào T CD4+ đang tuần hoàn trong máu cần một protein trong lỗ nhân (Nup210) để nhận biết các tín hiệu phân tử cần thiết cho sự tồn tại của chúng. Đây là một phát hiện bất ngờ, có thể được phát triển cho các liệu pháp miễn dịch để điều trị các rối loạn tự miễn và viêm, các bệnh truyền nhiễm và cả ung thư”.

    Các phức hợp lỗ nhân là những con đường thông thương giúp kiểm soát hàng trăm ngàn các phân tử di chuyển chuyển qua lại giữa nhân và tế bào chất. Các phức hợp này được tạo nên từ 32 phân tử protein khác nhau (nucleoporin), mức độ của chúng có thể thay đổi giữa các loại tế bào khác nhau và giữa các mô khác nhau. Trước đây, các phức hợp lỗ nhân được xem như các cấu trúc thụ động giúp kiểm soát việc vận chuyển các phân tử – protein và RNA – giữa hai khoang trong tế bào. Nhưng trong suốt thế kỷ trước, đã có bằng chứng cho rằng chúng cũng đóng vai trò trong điều hoà hoạt động của gene và điều hoà chức năng của tế bào.

    “Chúng tôi biết rằng Nup210 hiện diện mức độ cao nhất trong mô miễn dịch (immune tissue), nhưng chúng tôi muốn tìm hiểu xem điều này mang ý nghĩa gì dưới khía cạnh sinh lý học và liệu nó có tham gia vào chức năng của các tế bào miễn dịch hay không”, Borlido cho biết.

    Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một mô hình chuột bị bất hoạt gene tổng hợp protein Nup210. Việc loại bỏ protein Nup210 làm giảm đáng kể số lượng các tế bào T CD4+ tuần hoàn trong máu. Trong khi sự phát triển và di chuyển của những tế bào này xảy ra bình thường, sự sống sót của các tế bào T CD4+ ngoại vi bị tổn hại, làm phá vỡ tính nội cân bằng (homeostasis) trong cơ thể.

    “Trạng thái cân bằng tế bào T ngoại vi đạt được nhờ việc dàn xếp cẩn thận sự tồn tại và sự phân chia tế bào. Nghiên cứu này cho thấy rõ mối liên hệ giữa việc mất Nup210 và sự thiếu hụt tế bào T CD4+ sơ khai (mature naïve CD4+ T cell), đây là những tế bào có thể giúp cơ thể tấn công chống lại sự nhiễm trùng và bệnh tật.

    Một nhóm tế bào T CD4+ khoẻ mạnh sẽ bao gồm cả các tế bào T sơ khai lẫn tế bào T nhớ – tế bào T nhớ là các tế bào đáp ứng với vi khuẩn, virus và tế bào ung thư mà bản thân chúng đã gặp phải trong quá khứ thông qua nhiễm trùng hoặc tiêm phòng. Việc duy trì sự cân bằng các tế bào T CD4+ trưởng thành là cần thiết cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh. Các tế bào T CD4+ tiết các phân tử cần thiết để kích thích các tế bào miễn dịch khác tiêu diệt mầm bệnh, sản xuất kháng thể và tắt hệ thống miễn dịch nhằm ngăn chặn các rối loạn tự miễn và viêm không kiểm soát (uncontrolled inflammation and autoimmune disorder). Nếu bạn không có những tế bào này, bạn sẽ không thể đấu tranh chống lại các bệnh nhiễm trùng và bạn sẽ có nguy cơ mắc nhiều bệnh khác, bao gồm ung thư.

    “Bước tiếp theo của chúng tôi đó là nghiên cứu cách thức protein Nup210 kích thích các chức năng giúp sống sót (pro-survival function), điều này có thể đặc biệt quan trọng trong việc điều hoà số lượng và chức năng của tế bào T trong các liệu pháp dựa trên miễn dịch và các bệnh tự miễn”, D’Angelo cho biết.

    Nguồn: 

     

    Các phức hợp lỗ nhân (nuclear pore complex) trên màng nhân không chỉ kiểm soát việc vận chuyển các phân tử đi vào và đi ra khỏi nhân mà chúng còn giữ một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của tế bào T. Một nghiên cứu mới do các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Y học Sanford Burnham Prebys (Sanford Burnham Prebys Medical Discovery Institute) miêu tả cách thức một thành phần đặc biệt trong lỗ nhân chịu trách nhiệm chính cho sự tồn tại của các tế bào T đang tuần hoàn trong máu. Những phát hiện này, đã được công bố trên Nature Immunology, tìm ra một mắt xích mới trong con đường truyền tín hiệu thông qua thụ thể tế bào T và có thể mở đường cho sự phát triển của các liệu pháp miễn dịch trong tương lai.Tiến sĩ Joana Borlido, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Y học Sanford Burnham Prebys và là trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp bằng chứng đầu tiên về vai trò của các phức hợp lỗ nhân trong điều hoà hoạt động của tế bào T. Chúng tôi đã nhận thấy rằng các tế bào T CD4+ đang tuần hoàn trong máu cần một protein trong lỗ nhân (Nup210) để nhận biết các tín hiệu phân tử cần thiết cho sự tồn tại của chúng. Đây là một phát hiện bất ngờ, có thể được phát triển cho các liệu pháp miễn dịch để điều trị các rối loạn tự miễn và viêm, các bệnh truyền nhiễm và cả ung thư”.Các phức hợp lỗ nhân là những con đường thông thương giúp kiểm soát hàng trăm ngàn các phân tử di chuyển chuyển qua lại giữa nhân và tế bào chất. Các phức hợp này được tạo nên từ 32 phân tử protein khác nhau (nucleoporin), mức độ của chúng có thể thay đổi giữa các loại tế bào khác nhau và giữa các mô khác nhau. Trước đây, các phức hợp lỗ nhân được xem như các cấu trúc thụ động giúp kiểm soát việc vận chuyển các phân tử – protein và RNA – giữa hai khoang trong tế bào. Nhưng trong suốt thế kỷ trước, đã có bằng chứng cho rằng chúng cũng đóng vai trò trong điều hoà hoạt động của gene và điều hoà chức năng của tế bào.“Chúng tôi biết rằng Nup210 hiện diện mức độ cao nhất trong mô miễn dịch (immune tissue), nhưng chúng tôi muốn tìm hiểu xem điều này mang ý nghĩa gì dưới khía cạnh sinh lý học và liệu nó có tham gia vào chức năng của các tế bào miễn dịch hay không”, Borlido cho biết.Nhóm nghiên cứu đã sử dụng một mô hình chuột bị bất hoạt gene tổng hợp protein Nup210. Việc loại bỏ protein Nup210 làm giảm đáng kể số lượng các tế bào T CD4+ tuần hoàn trong máu. Trong khi sự phát triển và di chuyển của những tế bào này xảy ra bình thường, sự sống sót của các tế bào T CD4+ ngoại vi bị tổn hại, làm phá vỡ tính nội cân bằng (homeostasis) trong cơ thể.“Trạng thái cân bằng tế bào T ngoại vi đạt được nhờ việc dàn xếp cẩn thận sự tồn tại và sự phân chia tế bào. Nghiên cứu này cho thấy rõ mối liên hệ giữa việc mất Nup210 và sự thiếu hụt tế bào T CD4+ sơ khai (mature naïve CD4+ T cell), đây là những tế bào có thể giúp cơ thể tấn công chống lại sự nhiễm trùng và bệnh tật.Một nhóm tế bào T CD4+ khoẻ mạnh sẽ bao gồm cả các tế bào T sơ khai lẫn tế bào T nhớ – tế bào T nhớ là các tế bào đáp ứng với vi khuẩn, virus và tế bào ung thư mà bản thân chúng đã gặp phải trong quá khứ thông qua nhiễm trùng hoặc tiêm phòng. Việc duy trì sự cân bằng các tế bào T CD4+ trưởng thành là cần thiết cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh. Các tế bào T CD4+ tiết các phân tử cần thiết để kích thích các tế bào miễn dịch khác tiêu diệt mầm bệnh, sản xuất kháng thể và tắt hệ thống miễn dịch nhằm ngăn chặn các rối loạn tự miễn và viêm không kiểm soát (uncontrolled inflammation and autoimmune disorder). Nếu bạn không có những tế bào này, bạn sẽ không thể đấu tranh chống lại các bệnh nhiễm trùng và bạn sẽ có nguy cơ mắc nhiều bệnh khác, bao gồm ung thư.“Bước tiếp theo của chúng tôi đó là nghiên cứu cách thức protein Nup210 kích thích các chức năng giúp sống sót (pro-survival function), điều này có thể đặc biệt quan trọng trong việc điều hoà số lượng và chức năng của tế bào T trong các liệu pháp dựa trên miễn dịch và các bệnh tự miễn”, D’Angelo cho biết.Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2018/05/180507111855.htm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hậu Giám Sát Trong Bảo Đảm Hiệu Lực, Hiệu Quả Giám Sát Của Quốc Hội
  • Nội Dung, Phương Thức Giám Sát Của Quốc Hội Đối Với Việc Thực Thi Công Vụ Của Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Hạn Chế Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Cần Được Giải Quyết Dứt Điểm
  • Lý Luận Chung: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài
  • Bàn Về Thanh Tra, Kiểm Tra Trách Nhiệm Trong Quản Lý
  • Nguồn Gốc Chức Năng Các Tế Bào Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bốn Loại Tế Bào Máu Mới Được Phát Hiện Ở Người
  • Các Chế Phẩm Máu Hồng Cầu, Tiểu Cầu
  • Câu Nghi Vấn Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • Câu Cảm Thán Là Gì? Sử Dụng Câu Cảm Thán Trong Câu Có Tác Dụng Như Thế Nào? – Biabop.com
  • 1 Câu Nghi Vẫn Câu 1 Ngoài Mục Đích…
  • Tổng quan về nguồn gốc chức năng các tế bào máu

    Máu được tim bơm vào hệ thống mạch máu và đi khắp cơ thể. Trong công tác chăm sóc sức khoẻ, máu đặc biệt được quan tâm vì có nhiều xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện trên máu.

    Máu được cấu tạo bởi huyết tương và thành phần hữu hình. Huyết tương là thành phần dịch chiếm 55-60%. Huyết tương gồm nước và các chất hoà tan, trong đó chủ yếu là các loại protein, ngoài ra còn có các chất điện giải, chất dinh dưỡng, enzym, hormon, khí và các chất thải. Thành phần hữu hình chiếm 40-45%, gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

    Sự hiện diện của các thành phần hữu hình và protein làm máu có độ quánh gấp năm lần so với nước. Máu có độ pH khoảng 7,35-7,4, tùy thuộc vào lượng CO2 trong máu. Về khối lượng, máu chiếm khoảng 8% so với toàn cơ thể.

    Máu lưu thông trong hệ mạch và có ba chức năng chính như sau:

    1.

         

    Chức năng v

    ận chuyển

    –    Máu vận chuyển khí O2 và khí CO2.

    –    Vận chuyển chất dinh dưỡng, các sản phẩm đào thải.

    –    Vận chuyển hormon từ tuyến nội tiết đến các tế bào đích.

    –    Ngoài ra máu còn vận chuyển nhiệt.

    2.

          

    Chức năng 

    Bảo vệ

    –    Máu có thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh và các độc tố.

    –    Có thể chống mất máu khi tổn thương thành mạch nhờ quá trình cầm máu.

    3.

         

    Chức năng

     

    Điều hoà

    –    Máu tham gia điều hoà pH nội môi thông qua hệ thống đệm của nó.

    –    Điều hoà lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu keo của máu.

    –    Máu còn tham gia điều nhiệt.

    II. Q

    uá trình tạo máu

    1. Cơ quan tạo máu

    Trong suốt thời kỳ phôi thai, lần lượt túi noãn hoàng, gan, lách, tuyến ức, hạch bạch huyết và tuỷ xương tham gia hình thành các tế bào máu. Tuy nhiên, sau khi sinh quá trình tạo máu chỉ xảy ra ở tuỷ xương.

    Dưới 5 tuổi, tuỷ của tất cả các loại xương đều là tuỷ đỏ, nghĩa là đều có khả năng tạo máu. Sau lứa tuổi này, các tuỷ xương dài (trừ hai đầu xương cánh tay và xương đùi) bị mỡ xâm lấn dần và từ tuổi hai mươi trở đi chúng hoàn toàn trở thành tuỷ vàng không tham gia tạo máu nữa. Như vậy sau 20 tuổi, chỉ có tuỷ xương dẹt và hai đầu xương đùi, hai đầu xương cánh tay tham gia tạo máu.

    Tuỷ xương chứa các tế bào gốc tạo máu đa năng (pluripotential hemopoietic stem cell). Các tế bào này sinh sản liên tục trong suốt cuộc đời. Một phần nhỏ sẽ được giữ lại như là các tế bào nguồn, tuy rằng số lượng sẽ giảm dần theo tuổi. Phần lớn được biệt hoá thành các tế bào máu khác nhau.

    2. Quá trình biệt hoá   

    Các tế bào gốc tạo máu đa năng được biệt hoá thành các loại tế bào gốc biệt hoá (committed stem cell). Quá trình sinh sản và biệt hoá tiếp tục để tạo thành mỗi loại tế bào máu sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn (xem hình 1). Các quá trình này cần sự tham gia của các chất kích thích khác nhau như:

    –    Erythropoietin (EPO): kích thích tạo hồng cầu

    –    Thrombopoietin (TPO): kích thích tạo tiểu cầu

    –    Các yếu tố kích thích tạo cụm (CSFs: colony-stimulating factors) và các interleukin (IL): kích thích tạo bạch cầu, riêng IL-3 có tác dụng tăng sinh sản tất cả các loại tế bào gốc.

    –    Yếu tố tế bào gốc (SCF: stem cell factor): kích thích sự sinh sản của các tế bào gốc biệt hoá, nó có hiệu quả lên nhiều dòng tế bào.

    III.

     Hồng cầu

    1. Hình dạng – cấu trúc

    Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Đó là những tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7-8mm, bề dày phần ngoại vi 2-2,5 mm và phần trung tâm 1 mm, thể tích trung bình 90-95 mm3. Hình dạng này có hai lợi điểm như sau:

    –    Tăng diện tích bề mặt tiếp xúc làm tăng khả năng khuếch tán khí thêm 30% so với hồng cầu cùng thể tích mà có dạng hình cầu.

    –    Làm cho hồng cầu trở nên cực kỳ mềm dẽo, có thể đi qua các mao mạch hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như bản thân hồng cầu.

    Hồng cầu không có nhân cũng như các bào quan. Thành phần chính của hồng cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng (nồng độ 34 g/dl trong dịch bào tương). Cấu trúc của hồng cầu đặc biệt thích ứng với chức năng vận chuyển khí oxy.

    2. Số lượng

    Ở người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi là:

                                                    Nam:   5.400.000 ± 300.000 /mm3

                                                    Nữ:      4.700.000 ± 300.000/mm3

                Theo kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam năm 1996, số lượng hồng cầu trong máu của người Việt Nam bình thường có khác nhau tuỳ theo tác giả. (bảng 1).

    Bảng 1: Số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi của người Việt Nam

    Tác giả

    Đỗ Trung Phấn

    (miền Bắc)

    Nguyễn Ngọc Minh

    (miền Trung)

    Trần Văn Bé

    (miền Nam)

    Nam

     (/mm

    3

    )

    5.110.000 ± 300.000

    4.510.000 ± 410.000

    4.920.000 ± 680.000

    Nữ (/mm3)

    4.600.000 ± 250.000

    4.320.000 ± 210.000

    4.520.000 ± 540.000

    Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý. Ở trẻ sơ sinh, số lượng hồng cầu cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó có hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý. Ngoài ra, số lượng hồng cầu có thể tăng ở những người lao động nặng, sống ở vùng cao.

     

    Hình 1: Quá trình biệt hoá các dòng tế bào máu

    3. Chức năng

    Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển oxy tới các tổ chức. Ngoài ra hồng cầu còn có các chức năng sau: vận chuyển một phần CO2 (nhờ hemoglobin), giúp huyết tương vận chuyển CO2 (nhờ enzym carbonic anhydrase), điều hoà cân bằng toan kiềm nhờ tác dụng đệm của hemoglobin.

    3.1. Cấu trúc của hemoglobin

    Hemoglobin còn gọi huyết sắc tố, đó là chromoprotein gồm hai thành phần là nhân heme và globin. (hình 2)

    Heme là một sắc tố đỏ. Mỗi heme gồm một vòng porphyrin và một Fe2+ chính giữa. Một phân tử hemoglobin có bốn nhân heme, chiếm 5%.

    Globin là một protein gồm bốn chuỗi polypeptid giống nhau từng đôi một. Hemoglobin người bình thường là HbA gồm hai chuỗi a và hai chuỗi b. Hemoglobin thời kỳ bào thai là HbF gồm hai chuỗi a và hai chuỗi g.

    Hình 2: Cấu tạo phân tử hemoglobin

    Sự bất thường của các chuỗi globin sẽ làm thay đổi đặc điểm sinh lý của phân tử Hb. Ví dụ, trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, acid amin valin thay thế cho glutamic tại một vị trí trong mỗi chuỗi b làm HbA trở thành HbS.

    Nồng độ hemoglobin của người bình thường là:

                                                         Nam:        13,5-18 g/100 ml (g%)

                                                         Nữ:          12-16 g/100 ml (g%)

                                                         Trẻ em:     14-20 g/100 ml (g%)

                Nồng độ hemoglobin của người Việt Nam bình thường được nghiên cứu năm 1996 có trị số khác nhau tuỳ theo từng tác giả. (bảng 2)

    Bảng 2: Nồng độ hemoglobin của người Việt Nam bình thường.

      Tác giả

    Đỗ Trung Phấn

    (miền Bắc)

    Nguyễn Ngọc Minh

    (miền Trung)

    Trần Văn Bé

    (miền Nam)

    Nam

    157 ± 7 g/l

    133,9 ± 9,8 g/l

    142,8 ± 10,8 g/l

    Nữ

    135 ± 7 g/l

    130 ± 5,7 g/l

    128,5 ± 10,8 g/l

    3.2. Chức năng vận chuyển khí

    3.2.1. Vận chuyển khí O

    2

    Hồng cầu vận chuyển O2 từ phổi đến tổ chức nhờ phản ứng sau:

    Hb +  O

    Û

     HbO

    2

     (oxyhemoglobin)

    Trong đó O2 được gắn lỏng lẻo với Fe2+. Đây là phản ứng thuận nghịch, chiều phản ứng do phân áp O2 quyết định. Trong phân tử Hb, O2 không bị ion hoá mà nó được vận chuyển dưới dạng phân tử O2.

    –          Khi hít phải không khí nhiều CO (carbon monoxide), hemoglobin sẽ kết hợp CO để tạo ra carboxyhemoglobin theo phản ứng:

    Hb + CO  

    Þ

      HbCO

    Ái lực của Hb đối với CO gấp hơn 200 lần đối với O2, vì vậy một khi đã kết hợp với CO thì Hb không còn khả năng vận chuyển O2 nữa. Dấu hiệu đầu tiên là da đỏ sáng, bệnh nhân rơi vào trạng thái kích thích, rồi buồn ngủ, hôn mê và tử vong. Khí CO thường được sinh ra khi đốt cháy nhiên liệu không hoàn toàn. Điều trị bằng cách đưa bệnh nhân ra khỏi môi trường nhiều CO, đồng thời cho thở O2.  LượngCO trong không khí là chỉ số đo mức độ ô nhiễm môi trường.

    –          Khi máu tiếp xúc với những thuốc hoặc hoá chất có tính oxy hoá, Fe2+ trong nhân heme chuyển thành Fe3+và hemoglobin trở thành methemoglobin không còn khả năng vận chuyển O2. Methemoglobin khi hiện diện trong máu nhiều sẽ gây triệu chứng xanh tím. Tình trạng này xảy ra khi ngộ độc một số dẫn chất của anilin, sulfonamide, phenacetin, nitroglycerin, nitrate trong thực phẩm …

    3.2.2. Vận chuyển khí CO

    2

    Hồng cầu vận chuyển CO2 từ tổ chức về phổi theo phản ứng sau:

    Hb + CO2   Û   HbCO2 (carbaminohemoglobin)

    CO2 được gắn với nhóm NH2 của globin. Đây cũng là phản ứng thuận nghịch, chiều phản ứng do phân áp CO2 quyết định. Chỉ khoảng 20% CO2 được vận chuyển dưới hình thức này, còn lại là do muối kiềm của huyết tương vận chuyển.

    4. Sự sinh sản hồng cầu

    4.1. Quá trình biệt hoá dòng hồng cầu    

    Sơ đồ 1: Quá trình biệt hoá dòng hồng cầu

    Tiền nguyên hồng cầu là tế bào đầu tiên của dòng hồng cầu mà chúng ta nhận dạng được. Quá trình biệt hoá từ tiền nguyên hồng cầu diễn ra theo sơ đồ 1.

    Các giai đoạn từ tế bào gốc đến hồng cầu lưới diễn ra trong tuỷ xương, sau đó hồng cầu lưới được phóng thích ra máu ngoại vi 24-48 giờ thì mạng lưới biến mất và trở thành hồng cầu trưởng thành. Tỷ lệ hồng cầu lưới trong máu ngoại vi không quá 1%. Tỷ lệ này cho phép đánh giá tốc độ sinh hồng cầu của tuỷ xương sau liệu trình điều trị thiếu máu hoặc sau khi bị mất máu cấp.

    Sự tổng hợp hemoglobin xảy ra từ giai đoạn tiền nguyên hồng cầu và ngày càng tăng dần. Đến giai đoạn nguyên hồng cầu ưa acid thì đạt mức bão hoà.

    4.2. Sự  điều hoà sinh sản hồng cầu

    Số lượng hồng cầu trong hệ thống tuần hoàn được điều hoà chặt chẽ để nó chỉ thay đổi trong một phạm vi hẹp. Số lượng hồng cầu phải đảm bảo hai yêu cầu sau:

    –          Đủ cung cấp oxy cho tổ chức.

    –          Không quá nhiều để tránh cản trở sự lưu thông máu.

    Nồng độ oxy tổ chức là yếu tố chính kiểm soát tốc độ sinh hồng cầu. Tốc độ sinh hồng cầu sẽ tăng trong những trường hợp lượng oxy vận chuyển đến tổ chức không đáp ứng đủ nhu cầu của tổ chức và ngược lại. Tốc độ sinh hồng cầu sẽ tăng trong các trường hợp sau:

    –          Khi thiếu máu do mất máu, tuỷ xương sẽ tăng sinh sản hồng cầu. Ngoài ra, ở những người bị thương tổn tuỷ xương một phần do liệu pháp tia X chẳng hạn, phần tuỷ xương còn lại sẽ tăng sinh sản hồng cầu để đáp ứng nhu cầu cơ thể.

              

    Những người sống ở vùng cao.

    –          Các trường hợp suy tim kéo dài hoặc những bệnh phổi mạn tính.

    Yếu tố kích thích sinh sản hồng cầu là nội tiết tố erythropoietin. Ở người bình thường, 90% erythropoietin do thận tiết ra, phần còn lại chủ yếu do gan sản xuất. Khi thiếu oxy tổ chức, erythropoietin sẽ được tăng tiết trong máu và chính nó đã thúc đẩy quá trình tạo tiền nguyên hồng cầu từ tế bào gốc tạo máu trong tuỷ xương. Khi tiền nguyên hồng cầu đã được hình thành thì erythropoietin lại thúc đẩy nó nhanh chóng chuyển qua các giai đoạn nguyên hồng cầu để hình thành hồng cầu trưởng thành. Ngoài ra erythropoietin còn tăng tổng hợp Hb trong nguyên hồng cầu và tăng vận chuyển hồng cầu lưới ra máu ngoại vi.

    4.3. Các thành phần dinh dưỡng tham gia tạo hồng cầu

    Để tạo hồng cầu, cần phải cung cấp đầy đủ protein, sắt, và các vitamin B12, B9 (acid folic).

    –          Protein cần cho sự tổng hợp các chuỗi globin và các thành phần cấu trúc của hồng cầu.

    –          Sắt cần để tạo nhân heme: nhu cầu sắt hàng ngày là 1 mg ở nam giới và 2 mg ở nữ. Đối với phụ nữ có thai nhu cầu sắt càng tăng cao nên phải cung cấp thêm viên sắt mỗi ngày.

    –          Vitamin B12 và acid folic cần cho quá trình tổng hợp DNA để phục vụ sự phân chia tế bào. Nhu cầu B12 mỗi ngày là 1-3mg.

    5. Đời sống hồng cầu

    Đời sống trung bình của hồng cầu trong máu ngoại vi là 120 ngày. Theo thời gian, màng hồng cầu sẽ mất dần tính mềm dẻo và cuối cùng hồng cầu sẽ vỡ khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách. Hemoglobin phóng thích ra từ hồng cầu vỡ sẽ bị thực bào bởi các đại thực bào cố định của gan, lách và tuỷ xương.

    Đại thực bào sẽ giải phóng sắt vào máu; sắt này cùng với sắt từ thức ăn do ruột non hấp thu, được vận chuyển dưới dạng transferrin dến tuỷ xương để tạo hồng cầu mới, hoặc đến gan và các mô khác để dự trữ dưới dạng ferritin và hemosiderin.

    Phần porphyrin của heme sẽ được chuyển hoá qua nhiều giai đoạn trong đại thực bào để tạo thành sắc tố bilirubin, chất này được giải phóng vào máu, đến gan rồi bài tiết vào mật. Sự chuyển hoá của bilirubin sẽ được nghiên cứu kỹ trong chương tiêu hoá.

    Ngoài ra phần globin của hemoglobin được giáng hoá thành các acid amin mà sẽ được sử dụng để tổng hợp các protein cho cơ thể.

    6. Một số rối loạn lâm sàng của dòng hồng cầu

    6.1. Thiếu máu

    Theo Tổ chức Y tế thế giới, thiếu máu là giảm nồng độ hemoglobin:

    Nam:                  < 13 g/100 ml máu

    Nữ:                     < 12 g/100 ml máu

    Trẻ sơ sinh:         < 14 g/100 ml máu

    Thiếu máu có thể do giun móc, xuất huyết, huyết tán, suy tuỷ …

    6.2. Bệnh Đa hồng cầu

    Còn gọi là bệnh Vaquez, gây ra do sự khiếm khuyết gen xảy ra trong dòng nguyên bào tạo máu. Những nguyên bào này không ngừng tạo hồng cầu dù số lượng đã quá đủ. Số lượng hồng cầu thường là 7-8 triệu/mm3.

    IV. Bạ

    ch cầu

    Bạch cầu là những tế bào máu có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.

    1. Các loại bạch cầu

    Dựa vào hình dáng, cấu trúc và cách bắt màu phẩm nhuộm, người ta chia bạch cầu ra làm hai nhóm chính là bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt.

    1.1. Bạch cầu hạt

    Chứa những hạt trong bào tương mà có thể thấy dưới kính hiển vi quang học. Tuỳ theo cách bắt màu phẩm nhuộm của các hạt mà chúng có tên là bạch cầu hạt trung tính, ưa acid, ưa kiềm. Ngoài ra, do nhân của các bạch cầu hạt này có nhiều thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đa nhân.

    1.2. Bạch cầu không hạt

    Trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy được dưới kính hiển vi quang học do kích thước chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém. Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho và bạch cầu mono. Nhân của các bạch cầu không hạt này không chia thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đơn nhân.

    2. Sự sinh sản và đời sống bạch cầu   

    2.1. Bạch cầu hạt và bạch cầu mono

    Toàn bộ quá trình sinh sản và biệt hoá tạo nên các loại bạch cầu hạt và bạch cầu mono diễn ra trong tuỷ xương. Chúng được dự trữ sẵn ở tuỷ xương, khi nào cơ thể cần đến, chúng sẽ được đưa vào máu lưu thông.

    Bạch cầu hạt sau khi rời tuỷ xương thì lưu hành trong máu khoảng 4-8 giờ rồi xuyên mạch vào tổ chức, tồn tại thêm khoảng 4-5 ngày. Khi bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của minh, chẳng hạn chống nhiễm trùng, thì nó sẽ chết sớm hơn.

    Bạch cầu mono cũng có thời gian lưu hành trong máu ngắn, khoảng 10-20 giờ. Sau đó sẽ xuyên mạch vào tổ chức. Tại tổ chức chúng sẽ tăng kích thước và trở thành đại thực bào tổ chức. Ở dạng này chúng có thể sống hàng tháng, thậm chí hàng năm.

    2.2. Bạch cầu lympho

    Các tế bào lympho đều có chung nguồn gốc từ trong bào thai là tế bào gốc tạo máu đa năng. Các tế bào này sẽ biệt hoá thành tế bào gốc biệt hoá của dòng lympho để tạo ra tế bào lympho. Trước khi trở thành các tế bào lympho trưởng thành khu trú ở các tổ chức bạch huyết, chúng được “xử lý” tại những nơi khác nhau trong cơ thể. Một số di trú đến tuyến ức để được “xử lý” ở đó và được gọi là lympho T. Một số khác được “xử lý” ở gan trong những tháng giữa của thai kỳ, ở tuỷ xương trong những tháng sau của thai kỳ và sau khi sinh, chúng được gọi là lympho B.

    Từ các tổ chức bạch huyết, bạch cầu lympho vào hệ tuần hoàn liên tục theo dòng bạch huyết. Sau vài giờ, chúng xuyên mạch vào tổ chức rồi vào dòng bạch huyết để trở về tổ chức bạch huyết hoặc vào máu lần nữa rồi lần nữa … Các bạch cầu lympho có thời gian sống hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm tuỳ thuộc nhu cầu của cơ thể.

    3. Chức năng của bạch cầu

    Chức năng chung của bạch cầu là chống lại các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể. Nhìn chung, chúng có các đặc tính sau để thích hợp với chức năng này:

    –    Xuyên mạch: tự biến đổi hình dạng để chui qua giữa các tế bào nội mô mạch máu vào tổ chức xung quanh.

    –     Vận động: theo kiểu a-míp (bằng chân giả) để đến các tổ chức cần nó.

    –    Hoá ứng động: bạch cầu bị hấp dẫn đến vị trí tổn thương khi có các hoá chất được giải phóng ra bởi tế bào tổn thương hoặc vi khuẩn, và khi có các phức hợp miễn dịch.

    –    Thực bào: bắt các vật lạ đưa vào trong bào tương rồi tiêu hoá chúng.

    Tuy nhiên không phải loại bạch cầu nào cũng có đầy đủ các đặc tính trên. 

    Hình 3: Các tế bào thực bào di chuyển từ máu đến tổ chức tổn thương

    3.1. Chức năng của bạch cầu hạt trung tính

    Bạch cầu hạt trung tính là hàng rào của cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn sinh mủ. Chúng rất vận động và thực bào tích cực.

    Bạch cầu trung tính có thể tiêu hoá, huỷ hoại nhiều loại vi khuẩn, những thành phần nhỏ, và fibrin. Hầu hết các hạt bào tương của chúng là các tiêu thể chứa enzym thuỷ phân. Các hạt khác chứa các protein kháng khuẩn. Ngoài ra, bạch cầu hạt trung tính còn chứa các chất oxy hoá mạnh có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn.

    Bạch cầu hạt trung tính là bạch cầu đầu tiên đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng lớn. Trong quá trình thực bào vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính bị chết và tạo thành mủ tại vị trí tổn thương. Mỗi bạch cầu này thực bào tối đa khoảng 5-20 vi khuẩn.

    3.2. Chức năng của bạch cầu hạt ưa kiềm

    Bạch cầu hạt ưa kiềm rất giống một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch gọi là dưỡng bào (mast cell).

    Bạch cầu hạt ưa kiềm và dưỡng bào có thể phóng thích heparin ngăn cản quá trình đông máu và thúc đẩy sự vận chuyển mỡ từ máu sau bữa ăn nhiều chất béo.

    Các tế bào này đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng. Do các kháng thể gây phản ứng dị ứng (loại IgE) có khuynh hướng đến gắn trên bề mặt dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm. Khi có sự kết hợp giữa kháng thể này với dị ứng nguyên, dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm sẽ vỡ ra và giải phóng histamine, cũng như bradykinin, serotonin, chất phản ứng chậm của sốc phản vệ (slow-reacting substance of anaphylaxis), enzym tiêu protein….tạo nên bệnh cảnh điển hình của dị ứng.

    3.3. Chức năng bạch cầu hạt ưa acid

    Bạch cầu hạt ưa acid ít vận động hơn bạch cầu trung tính và thực bào cũng ít tích cực hơn, chúng không thực bào vi khuẩn.

    Chức năng đầu tiên của bạch cầu hạt ưa acid là khử độc protein lạ nhờ các enzym đặc biệt trong hạt bào tương. Bạch cầu ưa acid thường tập trung nhiều ở niêm mạc đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu-sinh dục để ngăn chặn các tác nhân lạ xâm nhập cơ thể.

    Chúng có thể tiết ra các chất độc đối với ký sinh trùng. Đặc biệt là các loại sán máng (schistosomum) hoặc giun xoắn (trichinella).

    Bạch cầu hạt ưa acid còn tập trung ở nơi có phản ứng dị ứng xảy ra, chúng tiết ra các enzym để chống lại tác dụng của histamine và các chất trung gian khác trong phản ứng dị ứng. Ngoài ra, chúng còn có khả năng thực bào các phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Vì vậy, chúng ngăn cản không cho tiến trình viêm lan rộng.

    3.4. Chức năng bạch cầu mono – đại thực bào

    Các bạch cầu mono chưa thực sự trưởng thành, khả năng tiêu diệt tác nhân nhiễm khuẩn của chúng còn kém. Nhưng khi vào trong tổ chức, trở thành đại thực bào với kích thước lớn hơn và nhiều tiêu thể trong bào tương, chúng có khả năng chống tác nhân gây bệnh rất mãnh liệt. Khả năng thực bào của chúng mạnh hơn bạch cầu hạt trung tính nhiều, chúng có thể thực bào khoảng 100 vi khuẩn. Đại thực bào còn có thể thực bào các thành phần lớn hơn như hồng cầu chết, ký sinh trùng sốt rét. Ngoài ra, chúng còn có lipase giúp tiêu hoá các vi khuẩn có vỏ bọc lipid dày. Sau khi thực bào, chúng có thể đẩy các sản phẩm ra và thường sống sót vài tháng.

    Các đại thực bào còn có chức năng trình diện kháng nguyên cho các tế bào có thẩm quyền miễn dịch.

    3.5. Chức năng bạch cầu lympho

    Có 3 loại tế bào lympho là:

    3.5.1. Tế bào diệt tự nhiên (

    NK: natural killer)

    Các tế bào NK hiện diện ở lách, hạch, tuỷ xương đỏ và máu. Chúng thường tấn công các vi sinh vật gây bệnh và một số tế bào khối u tiên phát. Cơ chế tác dụng của chúng chưa được rõ ràng.

    3.5.2. Lympho B

    Bạch cầu lympho B bảo vệ cơ thể bằng đáp ứng miễn dịch dịch thể (qua trung gian kháng thể). Nó chống lại các loại vi khuẩn và một số virus.

    Khi có các vi khuẩn xuất hiện, lympho B nhận diện kháng nguyên tương ứng và được hoạt hoá. Khi đó nó có khả năng phân bào và biệt hoá thành tương bào (plasma cell). Các tương bào này sẽ sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn đã xâm nhập. Kháng thểï tiêu diệt  các vi khuẩn hoặc bất hoạt độc tố của chúng.

    Một số lympho B được sinh ra ở trên không trở thành tương bào mà trở thành lympho B nhớ sẵn sàng đáp ứng nhanh và mạnh khi có cùng loại vi khuẩn xâm nhập lần sau.

    3.5.3. Lympho T

    Bạch cầu lympho T là tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Lympho T có khả năng chống lại các tác nhân như virus, nấm, tế bào mảnh ghép, tế bào ung thư và vài loại vi khuẩn. Khi có các tác nhân đó xuất hiện trong cơ thể, các lympho T sẽ nhận diện kháng nguyên đặc hiệu với nó và được hoạt hoá. Sau đó chúng trở nên lớn hơn, sinh sản tạo nên hàng ngàn lympho T có thể nhận diện kháng nguyên xâm nhập này. Có 3 loại lympho T chính:

    –          T giúp đỡ (Th: helper):  kích thích sự phát triển và sinh sản của các lympho T độc, T ức chế. Th còn kích thích sự phát triển và biệt hoá lympho B thành tương bào. Ngoài ra, Th còn tiết các chất làm tăng cường hoạt động bạch cầu trung tính và đại thực bào.

    –          T độc (Tc: cytotoxic): tiêu diệt trực tiếp các tế bào bị nhiễm tương ứng. Tc cũng tiết các chất khuếch đại khả năng thực bào của đại thực bào.

    –          T ức chế (Ts: suppssor): phát triển chậm hơn, nó có tác dụng ức chế lympho Tc và Th làm cho đáp ứng miễn dịch không phát triển quá mức.

    Một số lympho T trở thành tế bào T nhớ có khả năng khởi phát một đáp ứng miễn dịch tương tự khi có cùng loại tác nhân gây bệnh (kháng nguyên) xâm nhập nhưng ở mức độ nhanh, mạnh hơn nhiều, gọi là đáp ứng miễn dịch lần hai.

    Lưu ý:

    –          Các Th thuộc loại lympho T4, còn Tc và Ts thuộc loại lympho T8.

    –          Tế bào Th đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình miễn dịch trung gian tế bào lẫn miễn dịch dịch thể. Trong bệnh AIDS các HIV tấn công dòng T4 (chủ yếu là Th) nên các đáp ứng miễn dịch bị tê liệt và cơ chế bảo vệ không đặc hiệu cũng bị suy giảm. Bệnh nhân sẽ chết do nhiễm trùng cơ hội.

    –          Đáp ứng miễn dịch lần sau nhờ vai trò của T nhớ hoặc B nhớ là cơ sở miễn dịch của việc chủng ngừa để phòng bệnh.

    4. Số lượng bạch cầu – Công thức bạch cầu

    4.1. Số lượng bạch cầu

    Bình thường số lượng bạch cầu trong máu trung bình khoảng 7000/mm3.

    Tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp, viêm hoặc Leukemia

    Giảm trong các trường hợp suy tuỷ.

    4.2. Công thức bạch cầu

    Công thức bạch cầu là tỷ lệ phần trăm của các loại bạch cầu. Có nhiều loại công thức bạch cầu nhưng trên lâm sàng thường sử dụng công thức bạch cầu thông thường. Người bình thường có thể có công thức bạch cầu như sau:

    –          Bạch cầu đa nhân trung tính: 60-70 %

    –          Bạch cầu đa nhân ưa acid:      2-4 %

    –          Bạch cầu đa nhân ưa kiềm:     0,5-1 %

    –          Bạch cầu mono:                      3-8 %

    –          Bạch cầu lympho:                   20-25 %

    Sự thay đổi tỷ lệ các loại bạch cầu giúp các nhà lâm sàng chẩn đoán nguyên nhân.

    4.2.1. Bạch cầu trung tính

    –          Tăng khi nhiễm khuẩn cấp, bỏng, stress, viêm.

    –          Giảm khi nhiễm tia xạ, sử dụng một vài loại thuốc (như thuốc kháng giáp), bệnh Lupus ban đỏ.

    4.2.2. Bạch cầu ưa acid

    –          Tăng khi có phản ứng dị ứng, nhiễm ký sinh trùng, bệnh tự miễn, suy thượng thận.

    –          Giảm khi sử dụng một số thuốc (corticoid), hội chứng Cushing, stress.

    4.2.3. Bạch cầu ưa kiềm

    –          Tăng trong một số trường hợp dị ứng, bệnh bạch cầu, suy giáp.

    –          Giảm  trong trường hợp mang thai, rụng trứng, stress, cường giáp (vì bạch cầu này chiếm tỷ lệ thấp nên rất khó phát hiện giảm).

    4.2.4. Bạch cầu lympho

    –          Tăng trong nhiễm virus, bệnh miễn dịch, bệnh bạch cầu.

    –          Giảm khi bị bệnh nặng kéo dài, tăng nồng độ steroid, bị ức chế miễn dịch.

    4.2.5. Bạch cầu mono

    –          Tăng khi bị nhiễm virus, nấm, lao, một số bệnh bạch cầu và bệnh mạn tính.

    –          Giảm bạch cầu mô-nô rất hiếm xảy ra.

    5. Một số rối loạn lâm sàng dòng bạch cầu

    5.1. Giảm bạch cầu

    Giảm bạch cầu thường xảy ra khi tuỷ xương ngừng sản xuất bạch cầu, làm vi khuẩn và tác nhân gây bệnh khác có điều kiện thuận lợi xâm nhập vào cơ thể.

    Bệnh nhân có thể chết trong vòng 1 tuần do nhiễm khuẩn nặng.

    Nguyên nhân thường do bị nhiễm tia gam-ma (phóng xạ nguyên tử), hoá chất có nhân benzene, anthracene. Ngoài ra có thể do một số thuốc như chloramphenicol, thiouracil, barbiturate.

    5.2. Bệnh bạch cầu (Leukemia, ung thư máu)

    Đó là sự sinh sản bạch cầu không thể kiểm soát gây nên do đột biến ung thư của các tế bào dòng tuỷ hoặc dòng lympho. Bệnh bạch cầu được đặc trưng bởi sự gia tăng quá mức số lượng bạch cầu bất thường trong máu.

    Bệnh nhân thường bị nhiễm trùng, thiếu máu nặng, dễ xuất huyết

    Bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp có thể chết sau ít tháng không điều trị, còn bệnh bạch cầu mạn có thể sống 10-20 năm.

    Xét nghiệm nguồn gốc chức năng các tế bào máu nên thực hiện tại đâu ?

    Khi lựa chọn chúng tôi “xetnghiemthanhhoa.com” bạn xẽ được phục vụ tốt nhất, uy tín nhất, chất lượng nhất. Bạn sẽ được xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa hoặc các Labo xét nghiệm có uy tín do các giáo sư, tiến sỹ hàng đầu trong nghành xét nghiệm đảm nhiệm (nếu có yêu cầu).

    Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa với:

    • 3 Khoa/ trung tâm xét nghiệm được trang bị máy xét nghiệm tiên tiến hiện đại nhất hiện nay
    • Được công nhận tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 15189:2012.

    Khi có kết quả xét nghiệm bạn sẽ được tư vấn chu đáo.

    Quy trình đăng ký như thế nào?

    Chúng tôi sẽ lấy máu tại nhà và trả kết quả tại nhà, Liên hệ trực tiếp để đăng ký với Tôi qua số hotline: 0919.625.486/ 0373.050.878  hoặc Facebook

    Bảng giá dịch vụ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa.

    Các bệnh lây qua đường tình dục

    Bệnh viêm gan B

    Xét nghiệm bệnh viêm gab B

    Bệnh ung thư phổi

    Kiểm tra sức khỏe tổng quát

    xét nghiệm tiền hôn nhân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Hoạch Định Chiến Lược Thành Công Cho Doanh Nghiệp
  • Top 3 Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone 6 Đơn Giản Nhất
  • Chủ Tịch Công Ty Tnhh Một Thành Viên
  • Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Là Gì?
  • Bản Mô Tả Công Việc Trưởng Bộ Phận Buồng Phòng
  • Ứ Mật Ở Trẻ Sơ Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sử Dụng Bullet Và Numbering Trong Word 2010
  • Cách Kẻ Khung Và Tô Mầu Cho Đoạn Văn Bản Trong Microsoft Word 2010
  • Hướng Dẫn Cách Kẻ Khung Trong Word 2010 2013 2022
  • Màu Nền, Đường Viền Trong Microsoft Word
  • Bài 7. Đường Viền Và Màu Nền
    • Xét nghiệm Bilirubin toàn phần và trực tiếp

    • Xét nghiệm chức năng gan

    • Xét nghiệm tìm các nguyên nhân chuyển hóa, nhiễm trùng và di truyền

    • Siêu âm gan

    • Chụp scan gan mật

    • Có thể sinh thiết gan hoặc các mô khác (ví dụ như môi), chụp đường mật qua da, hoặc xét nghiệm di truyền.

    Bất cứ trẻ nào có vàng da sau sinh 2 tuần đều cần phải nghĩ đến ứ mật và cần làm xét nghiệm Bilirubin toàn phần và trực tiếp. Một số chuyên gia cho rằng những trẻ sơ sinh bị vàng da mà bú sữa mẹ thì không cần kiểm tra cho đến khi trẻ được 3 tuần tuổi. Cách tiếp cận ban đầu cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị có thể điều trị được cho trẻ (ví dụ, trong teo đường mật ngoài gan nên phẫu thuật luôn cho trẻ để rút ngắn thời gian hồi phục).

    Siêu âm ổ bụng thường là xét nghiệm đầu tiên; đây là không xâm lấn và có thể đánh giá kích thước gan và một số bất thường của túi mật và ống mật chung. Tuy nhiên, siêu âm ổ bụng không đặc hiệu. Chụp sacn gan mật bằng acid hydroxy iminodiacetic (Chụp HIDA); khi HIDA có thể bài xuất vào trong đường ruột sẽ lọai trừ hẹp đường mật, nhưng sự giảm bài xuất mật có thể xảy ra với cả hẹp đường mật, viêm gan bẩm sinh nặng và những nguyên nhân gây ứ mật khác. Trẻ bị ứ mật thường được cho phenobarbital trong 5 ngày trước khi chụp HIDA nhằm kích thích sự bài xuất.

    Khi không thể chẩn đoán, cần sinh thiết gan sớm, đôi khi cần phải chụp đường mật qua da. Trẻ có teo đường mật thường có giãn tĩnh mạch cửa, tăng sản xuất thêm các ống mật và tăng xơ hóa. Viêm gan sơ sinh được đặc trưng bởi sự đảo lộn các tiểu thuy gan với các tế bào đa nhân khổng lồ. Bệnh gan tự miễn được đặc trưng bởi sự tăng cao dự trữ sắt (tăng sắt cũng có thể được chứng minh bằng cách sử dụng sinh thiết môi nếu không cần sinh thiết gan ).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rối Loạn Chức Năng Gan: “Điềm Báo” Trước Khi Mắc Bệnh Lý Về Gan
  • Rối Loạn Chức Năng Gan: Nguyên Nhân, Biểu Hiện Và Cách Điều Trị
  • Hơn 20 Năm Phát Triển Vững Mạnh
  • Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Cơ Chế Tài Chính Của Ngân Hàng Trung Ương Một Số Nước
  • Dịch Vụ Ngân Quỹ Là Gì? Dịch Vụ Ngân Quỹ Các Ngân Hàng Như Thế Nào?
  • Tế Bào Thần Kinh: Cấu Tạo, Hoạt Động Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổn Thương Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay
  • Viêm Dây Thần Kinh Thị Giác
  • Teo Dây Thần Kinh Thị Giác: Bệnh Thường Gặp Ở Người Lớn Tuổi
  • Khoa Khoa Nội Thần Kinh
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Giác Mạc
  • Tế bào thần kinh là một trong các loại tế bào quan trọng nhất của con người. Chúng chịu trách nhiệm nhận và truyền đạt thông tin từ khắp các vùng trên cơ thể. Thông qua các tín hiệu điện và hóa học, tế bào thần kinh đã phối hợp để tạo ra các chức năng cần thiết cho sự sống.

    Từ đó, nó quyết định các phản ứng của cơ thể và thay đổi trạng thái của các cơ quan nội tạng (ví dụ như thay đổi nhịp tim). Đồng thời hệ thần kinh cũng cho phép con người suy nghĩ và ghi nhớ những gì đang diễn ra. Để làm điều này, hệ thần kinh cần có một mạng lưới tinh vi. Đó là sự kết nối phức tạp giữa các tế bào thần kinh.

    1. Tế bào thần kinh là gì?

    Tế bào thần kinh còn được gọi là neuron (theo tiếng Pháp). Chúng là những tế bào có chức năng dẫn truyền xung điện. Các tế bào thần kinh chiếm khoảng mười phần trăm não bộ. Phần còn lại bao gồm các tế bào thần kinh đệm và tế bào hình sao. Những tế bào này giúp hỗ trợ và nuôi dưỡng tế bào thần kinh.

    Người ta ước tính rằng có khoảng 86 tỷ tế bào thần kinh trong não. Để đạt được con số khổng lồ này, một bào thai đang phát triển phải tạo ra khoảng 250.000 tế bào thần kinh mỗi phút. Đây là loại tế bào dài nhất cơ thể và được biệt hóa cao. Vì vậy chúng không có khả năng phân chia. Bù lại chúng có khả năng tái sinh một phần của tế bào nếu bị tổn thương.

    Mỗi neuron được kết nối với 1.000 neuron khác, tạo ra một mạng lưới giao tiếp cực kỳ phức tạp. Tế bào thần kinh được xem là đơn vị cơ bản của hệ thống thần kinh.

    2. Cấu trúc tế bào thần kinh bao gồm những thành phần nào?

    Các tế bào thần kinh chỉ có thể được nhìn thấy bằng kính hiển vi, được chia thành ba phần:

    • Thân tế bào: là chỗ phình to của neuron. Bao gồm nhân tế bào, lưới nội sinh chất, ty thể, ribosom, lysosom, bộ máy Golgi, tơ thần kinh, ống siêu vi và các bào quan khác. Thân tế bào cung cấp dinh dưỡng cho neuron, có thể phát sinh xung động thần kinh và có thể tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền tới neuron.
    • Sợi nhánh, còn gọi là đuôi gai: là các tua ngắn mỏng manh mọc ra từ thân tế bào. Mỗi neuron đều có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai được chia thành nhiều nhánh. Chúng có chức năng tiếp nhận các xung thần kinh từ tế bào khác, truyền chúng tới thân tế bào. Đây là tín hiệu hướng tâm. Tác động của các xung này có thể là kích thích hoặc ức chế.
    • Sợi trục: sợi đơn dài mang thông tin từ thân tế bào và chuyển đến các tế bào khác. Đường kính của các sợi trục thường có kích thước khác nhau, dao động từ từ 0,5 μm – 22 μm. Dọc sợi trục được bao bọc bởi một lớp vỏ myelin, tạo thành bởi các tế bào Schwann. Bao myelin không liền mạch mà được chia thành từng đoạn. Giữa các bao myelin là các eo Ranvier. Khoảng cách giữa 2 eo Ranvier khoảng 1,5 – 2 mm. Còn diện tích tiếp xúc giữa các nhánh nhỏ phân từ cuối sợi trục của nơ-ron này với sợi nhánh của nơ-ron khác hoặc các cơ quan thụ cảm được gọi là Synapse (khớp thần kinh).

    Cả sợi nhánh và sợi trục đôi khi được gọi chung là sợi thần kinh.

    Chiều dài các sợi trục có sự chênh lệch rất nhiều. Một số sợi có thể rất ngắn, trong khi một số khác có thể dài hơn 1 mét. Các sợi trục dài nhất còn được gọi là hạch rễ lưng. Đây là một cụm các tế bào thần kinh mang thông tin từ da đến não. Ở người cao, một số sợi trục trong hạch rễ lưng xuất phát từ ngón chân cho đến thân não có thể dài tới 2 mét.

    3. Phân loại các tế bào thần kinh như thế nào?

    Các neuron có thể được chia thành các loại khác nhau theo từng cách phân loại.

    Theo hướng dẫn truyền xung thần kinh:

    • Các neuron ly tâm. Chúng lấy các thông điệp từ hệ thống thần kinh trung ương (não và tủy sống
    • Các neuron hướng tâm. Nhận thông điệp từ phần còn lại của cơ thể và đưa chúng đến hệ thống thần kinh trung ương.
    • Neuron trung gian. Truyền tải những thông điệp chuyển tiếp giữa các tế bào thần kinh trong hệ thống thần kinh trung ương.

    Theo chức năng của tế bào:

    • Tế bào thần kinh cảm giác. Mang tín hiệu từ các giác quan đến hệ thống thần kinh trung ương.
    • Loại tế bào chuyển tiếp. Mang tín hiệu từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống thần kinh trung ương.
    • Tế bào thần vận động. Mang tín hiệu từ hệ thống thần kinh trung ương đến các cơ.

    4. Chức năng của tế bào thần kinh là gì?

    Chức năng cơ bản của neuron là cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh. Cụ thể:

    • Cảm ứng là khả năng tiếp nhận và phản ứng lại các kích thích bằng hình thức phát xung thần kinh.
    • Dẫn truyền là khả năng lan truyền xung thần kinh theo một chiều từ nơi phát sinh. Hay là tiếp nhận về thân nơron và truyền đi theo dọc sợi trục.

    5. Quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh như thế nào?

    Một tế bào thần kinh nhận được tín hiệu đầu vào từ các tế bào thần kinh khá. Các tín hiệu này cộng lại cho đến khi chúng vượt quá một ngưỡng cụ thể.

    Vượt quá ngưỡng, tế bào thần kinh được kích hoạt, gửi một xung điện dọc theo sợi trục của nó. Quá trình này được gọi là điện thế hoạt động. Một điện thế hoạt động được tạo ra bởi sự chuyển động của các nguyên tử tích điện (ion) trên màng sợi trục.

    Các tế bào thần kinh khi nghỉ ngơi, bên trong tích điện âm nhiều hơn bên ngoài màng tế bào. Điều này tạo nên điện thế màng, hoặc là điện thế nghỉ. Độ lớn thường khoảng -70 millivolts (mV).

    Khi thân tế bào của một dây thần kinh nhận đủ tín hiệu để kích hoạt, một phần sợi trục gần thân tế bào sẽ khử cực. Điện thế màng nhanh chóng tăng lên và sau đó giảm xuống (trong khoảng 1.000 giây). Sự thay đổi điện thế này kích hoạt quá trình khử cực trong phần sợi trục bên cạnh nó. Và cứ thế tiếp tục, cho đến khi đã đi dọc theo toàn bộ chiều dài của sợi trục.

    Sau khi mỗi phần được hoạt hóa, nó đi vào một trạng thái siêu phân cực ngắn. Đây là thời kì trơ, do đó nó ít có khả năng được kích hoạt lại ngay lập tức.

    Thông thường, ion kali (K +) và natri (Na +) đóng vai trò chính tạo ra điện thế hoạt động. Các ion di chuyển vào và ra khỏi các sợi trục thông qua kênh và bơm ion có điện thế.

    Đây là mô tả ngắn gọn quá trình điện thế hoạt động:

    • Các kênh Na + mở cho phép Na + tràn vào tế bào, làm cho điện thế dương hơn.
    • Khi tế bào đạt đến một điện tích nhất định, các kênh K + sẽ mở. Các kênh mở cho phép K + thoát ra khỏi tế bào.
    • Kênh Na + sau đó đóng, kênh K + vẫn mở cho phép điện tích dương rời khỏi tế bào. Điện thế màng giảm dần.
    • Khi điện thế màng trở về trạng thái nghỉ, các kênh K + sẽ đóng lại.

    Cuối cùng, bơm natri / kali vận chuyển Na + ra khỏi tế bào và K + trở lại tế bào. Hoạt động này cần thiết để sẵn sàng cho tiềm năng hành động tiếp theo.

    Điện thế hoạt động sẽ làm việc theo nguyên tắc “tất cả hoặc là không”. Nếu kích thích trên ngưỡng thì có hiện tượng khử cực, và ngược lại. Ở các kích thích trên ngưỡng, độ lớn kích thích sẽ thể hiện qua tần số phát xung. Kích thích mạnh hơn sẽ có tần số phát sinh xung điện lớn hơn.

    6. Tín hiệu thần kinh dẫn truyền qua các synapse như thế nào?

    Các neuron được kết nối với nhau và liên hệ với mô khác để có thể gửi các tín hiệu. Tuy nhiên, nó không được kết nối bằng cách tiếp xúc trực tiếp. Kết nối luôn thông qua khớp nối giữa các tế bào, được gọi là synape.

    Các synapse này có thể là điện hoặc hóa học. Nói cách khác, tín hiệu được truyền từ sợi thần kinh đầu tiên (tế bào thần kinh tiền synapse) đến tế bào thần kinh tiếp theo (tế bào sau synapse) được truyền qua synapse bằng tín hiệu điện hoặc hóa học.

    Synapse hóa học

    Một khi tín hiệu dẫn truyền đến đầu tận sợi trục, nó sẽ kích hoạt tế bào thần kinh tiền synapse giải phóng các hóa chất (chất dẫn truyền thần kinh) vào khoảng cách giữa hai tế bào. Khoảng cách này được gọi là khe synapse.

    Chất dẫn truyền thần kinh khuếch tán qua khe synap. Chất này tương tác với các thụ thể trên màng tế bào thần kinh sau synapse, gây ra phản ứng.

    Các synapse hóa học được phân loại tùy thuộc vào các chất dẫn truyền thần kinh mà chúng giải phóng:

    • Glutamergic – giải phóng glutamine. Chúng thường có tính kích thích, có nghĩa là chúng có nhiều khả năng kích hoạt điện thế hoạt động.
    • GABAergic – giải phóng GABA (axit gamma-Aminobutyric). Chúng thường có tính ức chế. Có nghĩa là chúng làm giảm khả năng tế bào thần kinh sau synapse sẽ dẫn truyền xung điện.
    • Cholinergic – giải phóng acetylcholine. Chúng được tìm thấy giữa các tế bào thần kinh vận động và các sợi cơ (synapse thần kinh cơ).
    • Adrenergic – giải phóng norepinephrine (adrenaline)

    Synapse điện

    Synapse điện ít phổ biến hơn, nhưng được tìm thấy trên khắp hệ thống thần kinh trung ương. Trong các synapse điện, các màng sau và trước synapse được đưa lại gần nhau hơn nhiều so với các synapse hóa học, nghĩa là chúng có thể truyền trực tiếp dòng điện.

    Các synapse điện hoạt động nhanh hơn nhiều so với các khớp thần kinh hóa học. Vì vậy chúng được tìm thấy ở những nơi cần hành động nhanh, ví dụ như trong các phản xạ phòng thủ.

    Các synapse hóa học có thể kích hoạt các phản ứng phức tạp. Nhưng các khớp thần kinh điện chỉ có thể tạo ra các phản ứng đơn giản. Tuy nhiên, không giống như các khớp thần kinh hóa học, synapse điện có thể dẫn truyền hai chiều – nghĩa là thông tin có thể đi theo một trong hai hướng.

    Tế bào thần kinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hòa hoạt động cơ thể. Gần như tất cả hoạt động sống đều chịu sự điều khiển của tế bào này. Đó là cả mạng lưới liên kết phức tạp nhưng nhịp nhàng và có tốc độ dẫn truyền cao. Điều đó đảm bảo cho cơ thể hoạt động đồng bộ và chính xác.

    Bác sĩ Lương Sỹ Bắc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dây Thần Kinh Phế Vị (Tiếng Ba Lan: Nerw Błędny) – Làm Thế Nào Để „Đánh Thức” Nó Sao Cho Có Lợi Cho Sức Khỏe?
  • Đặc Điểm Tổn Thương Dây Thần Kinh Quay, Thần Kinh Giữa Và Thần Kinh Trụ Từ Giải Phẫu Đến Lâm Sàng
  • Tìm Hiểu Top 3 Chất Làm Suy Giảm Chức Năng Hệ Thần Kinh
  • Bệnh Rối Loạn Thần Kinh Tim
  • Rối Loạn Thần Kinh Tim Điều Trị Thế Nào?
  • Thuốc Silymarin Bảo Vệ Tế Bào Gan, Phục Hồi Chức Năng Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • Chăm Sóc Người Bệnh Bong Gân
  • Vật Lý Trị Liệu Điều Trị Viêm Gân Gót (Gai Gót Chân)
  • Thuốc Giải Độc Gan, Mát Gan Được Tin Dùng
  • Hoạt Động Trị Liệu Cho Bệnh Nhân Đứt Gân Gấp
  • Đứt Gân Gấp Bàn Tay – Sự Dính Gân Sau Phẫu Thuật Và Khó Khăn Trong Tập Phục Hồi Chức Năng
  • Thuốc silymarin thuộc nhóm thông mật, tan sỏi mật & bảo vệ gan. Vậy, silymarin là thuốc gì và hỗ trợ điều trị bệnh gì?

    1. Tìm hiểu bệnh gan nhiễm mỡ 

    Viêm gan nhiễm mỡ là tình trạng gan có chất béo tích tụ và bị viêm. Có nhiều lý do gây ra bệnh, nhưng trong trường hợp bệnh không gây ra do uống rượu thì bệnh có tên là NASH (bệnh Gan nhiễm mỡ không do rượu). Bệnh thường phổ biến hơn ở những người thừa cân, nhưng nguyên nhân cụ thể thì chưa được xác định. NASH không lây truyền từ người sang người hoặc di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Gan nhiễm mỡ căn bản là không có hại, nhưng việc kéo dài các triệu chứng viêm của gan  có thể dẫn đến xơ gan và làm giảm chức năng của gan. Gan nhiễm mỡ có 3 cấp độ: cấp độ 1, cấp độ 2 và cấp độ 3.

    • Gan nhiễm mỡ độ 1: gan nhiễm mỡ độ 1 là tình trạng mỡ chiếm 5-10% tổng trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ độ 1 là gia đoạn đầu của bệnh, vì vậy thường nhẹ và không gây nguy hiểm tới sức khỏe. Để điều trị gan nhiễm mỡ độ 1 bạn cần thay đổi chế độ ăn uống, tăng cường vận động và kết hợp với điều trị của bác sĩ.

    • Gan nhiễm mỡ độ 2: gan nhiễm mỡ độ 2 là giai đoạn thứ 2 của bệnh với lượng mỡ chiếm 10-25% trọng lượng của gan. Lúc này các mỡ đã lan rộng ra như mô gan, cơ hoành và giảm các đường bờ của các tĩnh mạch trong gan. Đối với gan bị nhiễm mỡ độ 2, các triệu chứng vẫn chưa xuất hiện rõ, vì vậy người bệnh thường không biết họ bị mắc bệnh. Gan nhiễm mỡ độ 2 vẫn chưa gây nguy hiểm đến sức khỏe, nhưng nếu không được điều trị sớm có thể tiến triển thành gan nhiễm mỡ độ 3. Hiện nay, vẫn chưa có thuốc điều trị hoàn toàn gan nhiễm mỡ độ 2.

    • Gan nhiễm mỡ độ 3: gan nhiễm mỡ độ 3 là giai đoạn cuối cùng và nguy hiểm nhất trong bệnh. Khi đã tiến triển đến giai đoạn này, bệnh rất khó điều trị và phục hồi, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Gan nhiễm mỡ độ 3 có thể dẫn đến các biến chứng về gan như xơ gan, ung thư gan. Các biến chứng này thường không thể chữa trị được.

    Đối tượng có thể mắc gan nhiễm mỡ

    Gan nhiễm mỡ là một bệnh phổ biến và có thể xảy ra ở bất kỳ ai. Riêng NASH (bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu) thường gặp nhất ở trẻ vị thành niên và là nguyên nhân cao thứ ba gây ra bệnh gan ở người lớn.

    Dấu hiệu và triệu chứng gan nhiễm mỡ 

    Hầu hết các bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ hay NASH không biết họ mắc bệnh bởi vì bệnh thường không có triệu chứng. Một số triệu chứng gan nhiễm mỡ có thể xảy ra như cảm thấy mệt mỏi, bị đau và khó chịu ở vùng bụng hoặc bị giảm cân.

    Có thể có các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

    2. silymarin là thuốc gì? và hỗ trợ điều trị bệnh gì?

    2.1. Tác dụng của thuốc Silymarin là gì?

    Silymarin có công dụng tăng cường khả năng khử độc của gan; kích thích hoạt động tái tạo tế bào gan; tăng cường đáp ứng sinh miễn dịch; bảo vệ gan khỏi các thương tổn do rượu hoặc các thuốc độc cho gan (acetaminophen, kháng sinh…), phục hồi chức năng gan, cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ.

    Silymarin được chỉ định cho các trường hợp sau:

    • Viêm gan cấp và mạn tính, suy gan, gan nhiễm mỡ.

    • Bảo vệ và phục hồi chức năng gan cho những người uống rượu bia, Ngộ độc thực phẩm, hóa chất.

    • Người đang dùng các thuốc có độc cho gan, như thuốc trị bệnh lao, ung thư, đái tháo đường…

    • Người bị rối loạn chức năng gan với triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, khó tiêu…

    • Phòng và hỗ trợ Xơ gan và ung thư gan.

    2.2. Liều dùng thuốc silymarin

    Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi quyết định dùng thuốc.

    Liều dùng thuốc silymarin cho người lớn như thế nào?

    Liều thông thường cho người bị bệnh gan và xơ gan do rượu

    • Bạn dùng 140mg/lần, 2–3 lần/ngày. Liều duy trì: bạn dùng 70mg/lần, 3 lần/ngày.

    Liều dùng thuốc silymarin cho trẻ em như thế nào?

    Liều dùng cho trẻ em vẫn chưa được nghiên cứu, tốt nhất bạn hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để biết thêm thông tin chi tiết.

    2.3. Silymarin có thể gây ra những tác dụng phụ nào?

    Một vài người có thể bị đau đầu và tiêu chảy khi mới dùng thuốc này. Nếu bạn thấy bất cứ dấu hiệu nào bất thường trong khi dùng thuốc, hãy đến gặp bác sĩ ngay.

    2.4. Trước khi dùng thuốc silymarin, bạn nên lưu ý gì?

    Trước khi dùng thuốc silymarin, bạn nên báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ nếu:

    • Bạn bị dị ứng với bất kì thành phần nào của thuốc

    • Bạn đang gặp bất kì vấn đề nào về sức khỏe

    • Bạn bị dị ứng với thức ăn, hóa chất, thuốc nhuộm hoặc bất kì con vật nào

    • Bạn đang mang thai hoặc cho con bú.

    Thuốc chống chỉ định cho người bị hôn mê gan, vàng da tắc mật và xơ gan ứ mật tiên phát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Tập Phục Hồi Chức Năng Ngón Tay Hiệu Quả Sau Chấn Thương
  • Bài Tập Với Banh Có Gai Giúp Phục Hồi Gân Và Cơ Khớp Tay
  • Đứt Gân Gấp Ngón Tay
  • Khám Gan Ở Đâu Tốt? 7 Địa Chỉ Bệnh Viện Và Phòng Khám Gan Uy Tín Và Chất Lượng Tp.hcm
  • Kết Quả Xét Nghiệm Chức Năng Gan Và Chẩn Đoán Hình Ảnh Có Giá Trị Như Thế Nào Trong Bệnh Lý Gan?
  • Protein Màng Cấu Trúc – Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Protein Là Gì? Tác Dụng Của Protein Và Các Thực Phẩm Giàu Protein Cho Cơ Thể
  • Huyết Tương Là Gì? Thành Phần, Chức Năng, Vai Trò Chính
  • Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Kháng Thể Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Kháng Thể
  • Xem Xét Một Cách Hệ Thống Về Sự Dung Hợp Các Tín Hiệu Của Protein Kinase A
  •  KHÁI NIỆM

     Protein trong màng sinh chất chiếm 25 – 75%. Tùy dạng tế bào mà hàm lượng và bản chất protein có thể khác nhau và thực hiện các chức năng rất đa dạng, phong phú: hoạt tính enzyme, vận chuyển các chất qua màng…

    Tùy theo cách sắp xếp của protein trong màng mà chia làm 2 loại protein:

    + Protein xuyên màng

    + Protein rìa màng (bám ở phía ngoài của màng hoặc phía trong màng).

    Protein xuyên màng:

    – Các protein xuyên màng thường liên kết với hydratcacbon tạo nên các glicoproteit nằm ở phía ngoài màng.

    – Những protein này nằm xuyên qua chiều dày của màng và liên kết rất chặt chẽ với lớp kép lipit qua chuỗi axit béo.

    – Phần nằm trong màng là kỵ nước và liên kết với đuôi kỵ nước của lớp kép lipit.

    – Các đầu của phân tử protein thò ra phía rìa ngoài và rìa trong là ưa nước và có thể là tận cùng nhóm amine hoặc carboxyl.

    – Có loại protein xuyên màng 1 lần hoặc nhiều lần

    PROTEIN RÌA MÀNG:

    – Thường liên kết với lớp lipit kép bằng liên kết hóa trị với 1 phân tử photpholipit

    – xếp ở rìa ngoài (rìa tiếp xúc với môi trường ngoại bào), hoặc rìa trong của màng (rìa tiếp xúc với tế bào chất).

    – Các protein rìa ngoài thường liên kết với gluxit tạo nên các glycoproteit.

    – Protein rìa trong thường liên kết với các protein tế bào chất như ankyrin và qua ankyrin liên hệ với bộ xương tế bào tạo nên hệ thống neo màng và điều chỉnh hình dạng tế bào.

    1. CHỨC NĂNG CỦA PROTEIN MÀNG

    2.1. Chức năng vận chuyển

    2.1.1 Khuếch tán và thẩm thấu

    2.1.2. Vận chuyển nhờ protein chuyên chở

    Hình : Các đồ tả hoạt động của các protein vận chuyển màng

    PROTEIN CHUYÊN CHỞ

    – Bơm protein (pumps):

    Các máy bơm ATP (hay đơn giản là bơm ) là các ATPase sử dụng năng lượng của quá trình thủy phân ATP để di chuyển các ion hoặc các phân tử nhỏ qua một màng chống lại gradient nồng độ hóa học hoặc điện thế gọi là vận chuyển tích cực

    Các máy bơm này duy trì nồng độ ion Ca2+và Na+ ở hầu như tất cả các tế bào động vật so với môi trường, và tạo ra độ pHthấp bên trong các tế bào động vật lysosomes, các tế bào thực vật và lumen của dạ dày.hành năng lượng.

    – Kênh protein (channels):

    Các protein kênh vận chuyển nước hoặc các loại ion cụ thể giảm nồng độ hoặc gradient điện tiềm năng, một phản ứng thuận lợi hăng hái

    Chúng tạo thành một đường dẫn protein dẫn qua màng nhờ đó nhiều phân tử nước hoặc ion di chuyển cùng một lúc, với tốc độ rất nhanh – lên đến 10 8/giây.

    – Protein mang (carriers)

    2.1.2 Cơ chế hoạt động của protein mang

    – Vận chuyển qua các protein mang không có tính chất Enzyme

    Hình thức vận chuyển: thụ động theo lối khuếch tán.

    Chất được vận chuyển: chất hữu cơ có kích thước lớn như glucose, acid amin.

    Cơ chế: chất được vận chuyển gắn vào protein mang làm cho proten mang thay đổi cấu hình và mở ra ở phía bên kia màng. Do lực liên kết giữa các chất được vận chuyển và protein mang yếu nên chuyển động nhiệt của chất được vận chuyển sẽ tách nó ra khỏi protein màng và giải phóng vào phía đối diện.

    VẬN CHUYỂN QUA  CÁC PROTEIN CÓ TÍNH CHẤT ENZYME

    Hình thức vận chuyển: chủ động theo lối sơ cấp

    Chất được vận chuyển: Na+, K+, Ca2+, H+, Cl-

    Cơ chế: protein mang vừa đóng vai trò là chất chuyên chở để chất được vận chuyển gắn vào vừa đóng vai trò là 1 Enzyme thủy phân ATP để lấy năng lượng. Năng lượng đó sẽ làm thay đổi cấu hình của protein mang giúp chúng bơm các chất được vận chuyển qua màng.

    Tốc độ vận chuyển: Khi nồng độ chất được vận chuyển thấp, tốc độ vận chuyển tỉ lệ thuận với nồng độ chất được vận chuyển qua màng. Ở nồng độ cao, sự vận chuyển đạt mức tối đa (Vmax) (bão hòa).

    PHỐI HỢP QUA CÁC PROTEIN CÓ VÀ KHÔNG CÓ TÍNH CHẤT ENZYME

    Hình thức: vận chuyển chủ động theo lối sơ cấp.

    Chất được vận chuyển: glucose, acid amin, và các ion.

    Vận tốc vận chuyển: tương tự vận chuyển chủ động sơ cấp.

    Cơ chế: protein mang thứ nhất có tính chất Enzyme hoạt động theo cơ chế vận chuyển chủ động sơ cấp tạo ra bậc thang của nồng độ ion. Năng lượng dược giải phóng từ bậc thang cho phép protein thứ 2 không có tính chất vận chuyển ion theo bậc thang nồng độ và các chất cùng vận chuyển khác ngược bậc thang nồng độ.

    2.2 Chức năng trao đổi thông tin

     2.2.1 Tiếp nhận thông tin qua màng

    – Trên màng tế bào có protein thụ quan tiếp nhận thông tin → điều chỉnh hoạt động sống

    -Thông tin dưới dạng những tín hiệu hóa học (nội tiết-hormone; cận tiết – tế bào phát thông tin và tế bào nhận thông tin cạnh nhau; tự tiết)

    -Thụ quan là những pro xuyên màng, có đầu ngoài khớp với các phân tử tín hiệu, đầu trong hướng vào môi trường nội bào

    -Cơ chế: phântử tín hiệu + đầu ngoài thụ quan, dẫn đến biến đổi đầu trong làm hoạt động của tế bào thay đổi

    -Ý nghĩa: Thực vật tạo ra tính hướng. Động vật tiếp nhận tín hiệu điều khiển, điều hòa của thần kinh, hormone, nhận biết được chất lạ để sản sinh ra kháng thể đặc hiệu… Các tế bào đứng gần nhau có thể trao đổi thông tin, nhận ra nhau trên cơ sở đó tạo thành mô và cơ quan

    2.2.2 Các chất hòa tan trong nước

    Chất gắn (VD hormone adrenarin) liên kết với thụ quan màng đặc trưng.

    Thông tin được truyền qua chất trung gian là protein G khu trú trong màng kèm với thụ quan (có tên gọi là G bởi vì protein này được hoạt hóa bởi GTP – guanozintriphotphat).

    Hoạt động thu nhận thông tin và truyền thông tin nhờ các thụ quan màng được tế bào điều chỉnh để thích nghi với trạng thái của tế bào cũng như với thay đổi của môi trường.

    2.2.3 Các chất hòa tan trong lipid

    Các chất mang thông tin là các chất hòa tan trong lipid (hormone steroid, vitamin D, retinoid…) sẽ được vận chuyển qua màng vào tế bào chất. Ở đây chúng sẽ liên kết với các thụ quan nội bào tạo thành phức hệ hormone – thụ quan nội bào.

    Phức hệ này sẽ đi vào nhân tế bào và có tác động hoạt hóa các gen.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Cấu Tạo Và Chức Năng Của 23…
  • Điều Hòa Biểu Hiện Gen
  • Tổng Quan Về Di Truyền Học
  • So Sánh Adn Arn Và Protein Giống Và Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Đề Sinh Học 2 Khối 9 Từ 16
  • Bốn Loại Tế Bào Máu Mới Được Phát Hiện Ở Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chế Phẩm Máu Hồng Cầu, Tiểu Cầu
  • Câu Nghi Vấn Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • Câu Cảm Thán Là Gì? Sử Dụng Câu Cảm Thán Trong Câu Có Tác Dụng Như Thế Nào? – Biabop.com
  • 1 Câu Nghi Vẫn Câu 1 Ngoài Mục Đích…
  • Câu Trần Thuật Là Gì
  • Cơ thể con người là hệ thống sinh học được nghiên cứu nhiều nhất từ trước tới nay. Vừa qua, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bốn loại tế bào máu mới mà trước giờ chúng ta chưa biết về sự tồn tại của chúng.

    Tế bào tua là một loại tế bào quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể (Nguồn internet).

    Trước đây, các loại tế bào máu được xác định dựa trên các protein cụ thể mà chúng biểu hiện trên bề mặt, nhưng kỹ thuật này có thể sẽ bỏ qua các tế bào máu khó xác định hoặc hiếm gặp. Để cải thiện điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một kỹ thuật gọi là hệ gen tế bào đơn (single-cell genomics), cho phép họ xem xét chi tiết sự khác biệt trong biểu hiện gen giữa các tế bào khác nhau. Kết quả thu được một bức tranh chính xác hơn về loại tế bào tồn tại.

    Bằng cách này, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra bốn loại tế bào bạch cầu mới. Tế bào bạch cầu là một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch, được chia thành các loại khác nhau với các vai trò khác nhau trong cuộc chiến chống lại nhiễm trùng. Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Science, đã phát hiện ra hai loại tế bào tua (hay còn gọi là tế bào đuôi gai – dendritic cells) mới và hai loại tế bào monocyte (bạch cầu mono hay bạch cầu đơn nhân) mới.

    Theo Divya Shah, thành viên trong nhóm nghiên cứu Wellcome Infection and Immunobiology, cho biết: “Hai loại tế bào bạch cầu quan trọng trong cơ thể của chúng ta giúp bảo vệ chúng ta khỏi sự nhiễm trùng là tế bào tua và bạch cầu đơn nhân, trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã sử dụng các công nghệ tiên tiến để phát hiện ra rằng có nhiều loại tế bào hơn chúng ta đã biết. Bước tiếp theo là tìm ra những loại tế bào này có chức năng gì trong hệ thống miễn dịch của chúng ta, cả khi chúng ta khỏe mạnh hay bệnh tật”.

    Các tế bào tua đóng một vai trò quan trọng trong việc liên kết hệ thống miễn dịch bẩm sinh, bao gồm các “tuyến” phòng vệ như da, màng, giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng và hệ thống miễn dịch thích nghi với các tế bào chuyên biệt xử lý và loại bỏ các mầm bệnh cũng như “nhớ” nó khi bị nhiễm trùng lại. Vai trò của tế bào tua là lấy các mảnh kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, trình diện chúng lên bề mặt để “giáo dục” các tế bào T, giúp các tế bào T nhận biết, từ đó săn bắt và giết mầm bệnh.

    Các tế bào monocyte có vai trò khác trong hệ thống miễn dịch. Chúng là loại bạch cầu lớn nhất và có thể phát triển thành các đại thực bào, tới chỗ nhiễm trùng ăn và tiêu hóa các mầm bệnh, loại bỏ chúng khỏi cơ thể.

    Nghiên cứu này là một trong những phát hiện đầu tiên được đưa ra từ khi công trình lập bản đồ tế bào người (Human Cell Atlas) được công bố vào năm ngoái, cung cấp một cơ sở hữu ích cho việc tiến hành phân tích trên các loại tế bào và mô khác.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Chức Năng Các Tế Bào Máu
  • Quy Trình Hoạch Định Chiến Lược Thành Công Cho Doanh Nghiệp
  • Top 3 Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone 6 Đơn Giản Nhất
  • Chủ Tịch Công Ty Tnhh Một Thành Viên
  • Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100