【#1】Một Số Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Của Tổ Chức Đảng Trong Các Học Viện, Nhà Trường Quân Đội Hiện Nay

Trong thời gian qua, Đảng ủy các học viện, nhà trường Quân đội đã lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và thực hiện nghiêm quy định Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định, quy định, hướng dẫn của trên; Nắm vững đặc điểm, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ xây dựng kế hoạch kiểm tra giám sát tổ chức đảng, đảng viên nhiệm kỳ và hằng năm, kịp thời điều chỉnh bổ sung phù hợp với sự phát triển của tình hình nhiệm vụ của đơn vị.

Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm giáo dục, đào tạo và công tác xây dựng đảng. Các cuộc kiểm tra giám sát bảo đảm chặt chẽ, đúng quy trình; kết luận thông báo rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát.

Công tác kiểm tra, giám sát đã thực sự góp phần quan trọng tăng cường đoàn kết thống nhất, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng; ngăn ngừa từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; ngăn ngừa, khắc phục hạn chế vi phạm kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, và chất lượng công tác cán bộ, đảng viên; bảo đảm cho cấp ủy, tổ chức đảng luôn trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo ở các học viện, nhà trường, góp phần quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội.

Qua thực tiễn hoạt động công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng ở các học viện, nhà trường Quân đội rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

Thứ nhất, th­ường xuyên quán triệt, chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và hướng dẫn của cấp ủy, Thứ hai, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên trách, đặc biệt là đồng chí bí thư cấp ủy; phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình trong quá trình kiểm tra, giám sát. ủy ban kiểm tra cấp trên về công tác kiểm tra, giám sátThứ ba, không ngừng đổi mới, hoàn chỉnh quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, hiệu lực hiệu quả cao. . Thứ tư, luôn củng cố, kiện toàn cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ ủy viên ủy ban kiểm tra, bảo đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Quán triệt, chấp hành nghiêm Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên là vấn đề có tính nguyên tắc, sợi chỉ đỏ xuyên suốt chỉ đạo mọi hoạt động công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời là điều kiện, nguyên nhân chủ yếu, sâu sa dẫn đến thành công của công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng.

Thực tiễn cho thấy, ở học viện, nhà trường mà cấp ủy cơ sở coi trọng tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng, chỉ thị, quy định, quy chế, h­ướng dẫn của cấp trên, đội ngũ cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát thì ở đó công tác kiểm tra, giám sát đ­ược tăng cường, hoạt động có hiệu quả và có tác dụng sâu sắc.

Vì vậy, để không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy cơ sở trong các học viện, nhà trường phải thư­ờng xuyên quán triệt sâu sắc nghị quyết của Đảng, chỉ thị, quy định, quy chế, hư­ớng dẫn của cấp trên, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cấp ủy viên về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát; tự giác làm công tác kiểm tra, giám sát để tạo các điều kiện thuận lợi và làm chỗ dựa vững chắc cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở thực hiện có kết quả công tác kiểm tra, giám sát

Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.

Công tác kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là trách nhiệm của mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, song trước hết là của cấp ủy, cán bộ chủ trì, đặc biệt là bí thư cấp ủy. Là người chủ trì mọi hoạt động ở các tổ chức đảng, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng phụ thuộc rất lớn vào tinh thần, trách nhiệm, trình độ, năng lực, phương pháp công tác của đội ngũ bí thư cấp ủy.

Trung tá Bùi Mạnh Tấn Học viện Chính trị

Do vậy, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi cấp ủy, bí thư cấp ủy phải có kiến thức năng lực về công tác kiểm tra, giám sát; thường xuyên nghiên cứu nắm chắc nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, hướng dẫn của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên, tình hình đơn vị, lựa chọn đúng đối tượng, xác định nội dung kiểm tra, giám sát phù hợp, trao đổi, bàn bạc, đề xuất để cấp ủy quyết định nội dung, biện pháp lãnh đạo khả thi và kiên quyết trong tổ chức thực hiện, làm tròn chức trách, nhiệm vụ được phân công.

Đồng thời, trong tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, chỉ ra những­ ưu điểm, khuyết điểm, làm rõ đúng, sai và nguyên nhân dẫn đến những sai trái của đối tư­ợng đ­ược kiểm tra, giám sát; khắc phục các biểu hiện né tránh, ngại va chạm, e dè, nể nang, giấu khuyết điểm, dẫn đến kết luận thiếu chính xác, không đạt đư­ợc mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát.

Đây là hoạt động rất quan trọng trong nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng trong các học viện, nhà trường Quân đội. Do vậy, việc đổi mới phải bảo đảm giữ vững nguyên tắc, công khai, dân chủ, cụ thể, dễ thực hiện và ngày càng được quy chuẩn hóa. Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cơ sở căn cứ vào quy chế, quy trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên để ban hành quy trình của cấp mình cho phù hợp. Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng trong các học viện, nhà trường phải duy trì và thực hiện có nền nếp, theo đúng chế độ; thư­ờng xuyên quán triệt nghiêm và vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nguyên tắc, ph­ương pháp, hình thức của công tác kiểm tra, giám sát sát với đặc điểm từng tổ chức đảng, từng đảng viên.

Nếu các cấp ủy cơ sở trong các học viện, nhà trường Quân đội thực sự quan tâm bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho cấp ủy viên ủy ban kiểm tra, kiện toàn ủy ban kiểm tra, bố trí cán bộ đủ về số l­ượng, đảm bảo chất l­ượng, ủy viên ủy ban kiểm tra; đặc biệt là đồng chí chủ nhiệm ủy ban kiểm tra có tâm huyết, có trách nhiệm, có bản lĩnh, giữ vững nguyên tắc, nắm chắc tình hình, chủ tr­ương nghị quyết, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ chính trị của đơn vị thì nhiệm vụ kiểm tra, giám sát được tiến hành có tính chủ động, có tác dụng và hiệu quả cao.

Cấp ủy các cấp trên cơ sở phải hiểu đặc điểm tình hình của đảng bộ, chi bộ, nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình, để bồi dư­ỡng phẩm chất, năng lực cho các cấp ủy viên, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở. Đồng thời, đội ngũ cấp ủy viên và ủy viên ủy ban kiểm tra phải thường xuyên học tập, tu dư­ỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, tác phong công tác và cũng luôn cần tự kiểm tra, tự chỉnh đốn mình, tự đổi mới chính bản thân, không để những lợi ích cá nhân và bất cứ tác động tiêu cực nào chi phối nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, chức trách đư­ợc giao.

Mọi hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng đều đ­ược biểu hiện cụ thể trong thực tiễn. Những việc làm đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực, dù bộc lộ dưới hình thức nào, trực tiếp hay gián tiếp, trong hay ngoài đơn vị đều không thể che dấu đư­ợc mọi ngư­ời. Trong đó, các tổ chức trong đơn vị là lực lư­ợng chủ yếu cung cấp thông tin, có độ tin cậy cao và là thành phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin cho cấp ủy và đoàn kiểm tra. Do đó, cấp ủy các tổ chức đảng phải phát huy đư­ợc vai trò của các tổ chức, các lực lượng, nhất là chú trọng đến công tác vận động quần chúng tích cực tham gia xây dựng Đảng, tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng là nhân tố quan trọng, đồng thời là một trong những phư­ơng pháp cơ bản để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát có hiệu quả.

Thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy các tổ chức đảng thời gian qua cho thấy, các thông tin về đối tượng kiểm tra, giám sát mà cấp ủy, ủy ban kiểm tra thu thập được chủ yếu dựa vào các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong đơn vị. Do vậy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các tổ chức đảng phải phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lư­ợng trong tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.

Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng trong các Học viện, nhà trường Quân đội là nhiệm vụ của các cấp ủy, các tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở và mọi đảng viên. Để không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát cấp ủy cơ sở cần phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, có chư­ơng trình, kế hoạch khoa học, nắm vững t­­ư tưởng chỉ đạo, nội dung, phư­­ơng pháp, hình thức kiểm tra, giám sát và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn. Thường xuyên quan tâm phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao./.

【#2】Một Số Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Sức Chiến Đấu Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Ở Học Viện Lục Quân

Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở Học viện Lục quân là nhiệm vụ hết sức quan trọng, góp phần xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết 147-NQ/ĐU, ngày 05-4-2008 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Đảng ủy Học viện Lục quân đã ban hành Nghị quyết chuyên đề “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Học viện giai đoạn mới” và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ cụ thể hóa thành chỉ tiêu phấn đấu hằng năm. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng không ngừng được nâng lên; tuyệt đại đa số đảng viên trong Đảng bộ luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, chấp hành nghiêm nguyên tắc sinh hoạt Đảng. Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức đảng, việc tổ chức quán triệt, lãnh đạo triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết cấp trên có mặt hạn chế; năng lực lãnh đạo toàn diện có nội dung chưa cao; công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên có mặt chưa chặt chẽ, vẫn còn đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý, v.v. Để khắc phục hạn chế trên, theo chúng tôi cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức chỉ có thể đạt được kết quả cao khi có sự thống nhất trong nhận thức của cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, Đảng ủy Học viện cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm nâng cao nhận thức cho mọi tổ chức, lực lượng về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng; trong công tác xây dựng đội ngũ đảng viên; là cầu nối giữa Đảng với quần chúng. Qua đó, làm cho đội ngũ đảng viên nhận thức đúng tổ chức cơ sở đảng là trung tâm đoàn kết, nhân tố quyết định hàng đầu để cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; trong đó, phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm trong tự học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ chủ trì. Đồng thời, chủ động nắm, quản lý và làm tốt công tác định hướng tư tưởng; tăng cường giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp công nhân và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đảng viên để họ đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ; chú trọng bồi dưỡng nguồn phát triển đảng, bồi dưỡng đảng viên mới và học tập nghị quyết theo quy định. Trong sinh hoạt, cấp ủy, chi bộ cần phát huy dân chủ, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết thống nhất cao; tăng cường thông tin tuyên truyền,… tạo sự chuyển biến nhận thức cho đảng viên về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ và sự cần thiết phải xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.

Hai là, tập trung xây dựng, hoàn thiện mô hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với các loại hình cơ quan, đơn vị. Hiện nay, loại hình tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Học viện đa dạng, có đảng bộ cơ sở ba cấp, đảng bộ cơ sở hai cấp, chi bộ cơ sở một cấp của các cơ quan, khoa giảng viên, hệ quản lý học viên và của Khu kinh tế – quốc phòng 78. Do vậy, nội dung xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức cơ sở đảng ở Học viện Lục quân cho từng loại hình như sau: (1). Đối với khối cơ quan, khoa giảng viên, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đảng ủy cơ sở ba cấp, đảng ủy cơ sở hai cấp và chi bộ cơ sở một cấp, phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ. Trong đó, cần hoàn thiện tiêu chí xây dựng bí thư là cán bộ cấp phó phòng, ban và khoa (phó bí thư là cán bộ cấp trưởng phòng, ban, khoa); quy định về giải quyết quan hệ giữa bí thư là cấp phó với phó bí thư là cấp trưởng trong công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, khoa. (2). Đối với các hệ quản lý học viên Việt Nam, cần dự kiến và kịp thời ra quyết định thành lập các cấp ủy, chi bộ học viên ngay khi bước vào khóa học; nên lựa chọn những học viên có quân hàm, chức vụ cao ở đơn vị để cơ cấu vào cấp ủy, giữ chức bí thư, phó bí thư chi bộ. (3). Đối với Hệ quốc tế (đào tạo học viên nước bạn Lào và Cam-pu-chia), học viên không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, do vậy, Đảng ủy Học viện cần lãnh đạo, chỉ đạo việc lựa chọn cấp ủy là những cán bộ, đảng viên có kiến thức về pháp luật, am hiểu về lịch sử truyền thống của hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Chi bộ Hệ cần giao nhiệm vụ và kiểm tra, giám sát chặt chẽ đến từng đảng viên; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt, nhất là chế độ tự phê bình và phê bình. (4). Đối với Khu kinh tế – quốc phòng 78, do thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, đóng quân xa Học viện, thành phần đảng viên chủ yếu là công nhân lao động hợp đồng, nên cần lựa chọn những đồng chí có đủ phẩm chất và năng lực tham gia cấp ủy, tích cực phát triển đảng viên, chú trọng kiểm tra, giám sát giúp đỡ chi bộ.

Trong quá trình thực hiện, cấp ủy các cấp cần coi trọng việc nâng cao chất lượng cấp ủy, trong đó lấy tiêu chuẩn cấp ủy viên là trọng yếu, đảm bảo cho họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, lành mạnh, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi; nắm vững đường lối chính trị, quân sự của Đảng, có khả năng nắm bắt thực tiễn để đề xuất biện pháp đóng góp vào sự lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, luôn nghiêm túc tự phê bình, phê bình và giữ gìn đoàn kết thống nhất trong đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đưa những người yếu kém về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống ra khỏi cấp ủy; kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch, tạo nguồn cán bộ với củng cố, kiện toàn cấp ủy các cấp.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của tổ chức quần chúng tham gia xây dựng Đảng. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng; Quy định của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm; về những điều đảng viên không được làm. Cấp ủy, chi bộ phải giám sát toàn diện đảng viên trên các mặt, kể cả đảng viên là cán bộ do cấp ủy cấp trên quản lý; chú trọng kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng; kịp thời phát hiện cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, đồng thời xử lý nghiêm minh các tập thể, cá nhân vi phạm kỷ luật, không có ngoại lệ. Cùng với đó, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở thông qua hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân; cấp ủy viên các cấp lắng nghe góp ý của quần chúng đối với tổ chức đảng, đảng viên và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của họ. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân tham gia xây dựng Đảng và giám sát cán bộ, đảng viên.

【#3】Một Số Điểm Mới Quy Định: Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vksnd Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021 Mà Kiểm Sát Viên Cần Quan Tâm

Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII, Ngày 25/11/2015 Quốc Hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự với 10 Phần, 42 chương, 517 điều (trong đó bổ sung mới 102 điều, sửa đổi, bổ sung 292 điều) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định những nguyên tắc cơ bản về trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu để Tòa án giải quyết các vụ, việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động cũng như trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định những nguyên tắc thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… trong đó, Bộ luật tố tụng quy định về: Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội sửa đổi, bổ sung cần tổng hợp trình bày với những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS

Trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự 2021, nhiều ý kiến về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân quy định trong tố tụng dân sự, như: Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự mà không phải là cơ quan tiến hành tố tụng cũng như không phải là cơ quan tham gia tố tụng. Một số ý kiến khác lại cho rằng, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng. Nhưng cũng có nhiều ý kiến lại cho rằng, trong hoạt động tố tụng dân sự Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp, không trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng, do vậy Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tham gia tố tụng. Nhưng Quốc hội đã biểu quyết tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2021:

Điều 46 quy định:

  1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm có:

    a) Tòa án;

    b) Viện kiểm sát.

  2. Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:

    a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;

    b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.”

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự; Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự; trên cơ sở đó đồng thời, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng tại Điều 59. Đồng thời sửa đổi, bổ sung về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên với nhiều nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng hơn để cho Kiểm sát viên thực hiện công tác Kiểm sát trong tố tụng dân sự và cũng là để bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021, cụ thể như sau:

Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
  2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự;
  3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này;
  4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này;
  5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
  6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
  7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
  8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
  9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.

Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
  2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
  3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

Thứ hai: Về sự tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân quy định tại các Điều 21, 232, 296, 367 và 374 BLTTDS 2021:

Tại Điều 21 Bộ luật TTDS năm 2021 quy định: VềKiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:

  1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
  2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
  3. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
  4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.

Như vậy, thấy rằng ngoài các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp đã quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành; thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 đã bổ sung thêm một số nội dung như sau:

1/ Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng;

2/ Đối với trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phân công tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm hoặc phiên tòa, phiên họp phúc thẩm mà vắng mặt, thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa. Trừ trường hợp do Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Quy định này nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, kịp thời và cũng là đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Thứ 3: Về việc phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 262 và Điều 369 BLTTDS

Tại phiên tòa sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”.

Như vậy, trên cơ sở quy định trên thì kiểm sát viên không chỉ phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử như trước đây mà còn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa và việc giải quyết vụ án (hay còn gọi là phát biểu về nội dung vụ án). Quá trình thực tiễn khi thi hành Bộ luật tố tụng dân sự trong thời gian qua cho thấy: Quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự hiện hành còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình mà Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định. Đến nay trong điều kiện thực tiễn của đất nước ta, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trước Tòa án. Khi có xảy ra tranh chấp thì nhiều người dân chưa có điều kiện mời Luật sư hay người đại diện bảo vệ quyền lợi cho minh …Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và phát biểu về việc giải quyết vụ án là đại diện cho quyền lợi của xã hội, không phải là đại diện của các bên đương sự, chỉ đưa ra những quan điểm về áp dụng pháp luật mà không nghiêng về bên nào. Do đó, quy định này cũng là để nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết vụ việc.

Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Tại Điểm g, khoản 1 Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: “Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;”

Thứ 4: Về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát

Theo quy định tại tiết 2 Điều 262; Điều 306; khoản 3 Điều 341; điểm g, khoản 1 Điều 369 và điểm c khoản 1 Điều 375 BLTTDS quy định: ” Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc.” Đây là điểm cần chú ý trong thực hiện công tác kiểm sát mà các Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định phân công trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phải được đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh.

Tiếp tục kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về: Thẩm quyền xác minh, thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát. Theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”.

Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự 2021 cũng bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 58: Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn: “Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này

Quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự 2021 trong đó có: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.

Thứ 5: Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Trong quá trình thực hiện thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2021, Kiểm sát viên cần quan tâm lưu ý về Thời hạn kháng nghị tại khoản 3, Điều 280 quy định: “Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý rõ”. Để nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên khi được phân công quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát đảm bảo chính xác đúng thời gian luật định.

Tại Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 về Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, quy định:

  1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Điều 354 Bộ luật tố tụng dân sự 2021 về người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định:

  1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 đã có những sửa đổi về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm so với Bộ luật hiện hành. Theo đó Bộ luật mới đã bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của cấp huyện của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện. Bộ luật đã bổ sung quyền kháng nghị cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Trong phạm vi bài viết này rất mong các đồng chí cùng tham khảo nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật thi hành./.

Trịnh Đình Tân – Phó trưởng Phòng 10

【#4】Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021

Ngày 25/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc Hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS năm 2021). Để phục vụ cho việc thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, tác giả xin giới thiệu một số điểm mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, theo quy định của BLTTDS năm 2021. 1. Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

Thể chế hóa khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013,tại Điều 13 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nhiêm chỉnh và thống nhất”. Như vậy, so với quy định tại Điều 13 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã quy định cụ thể nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Đồng thời nâng cao vị trí pháp lý của VKSND trong tố tụng dân sự nói riêng và kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng.

2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Kiểm sát viên, kiểm tra viên Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

BLTTDS năm 2021 tiếp tục khẳng định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng; Viện trưởng và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự. Đồng thời bổ sung quy định Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng và bổ sung 01 điều luật (Điều 59) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên để đảm bảo phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát: Nhằm nâng cao trách nhiệm của cấp trưởng trong công tác quản lý, chỉ đạo, đặc biệt là trong công tác kháng nghị, Điều 57 BLTTDS năm 2021 quy định Viện trưởng VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này” vàViện trưởng không được ủy nhiệm cho Phó viện trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (khoản 2 Điều 57).

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên: BLTTDS năm 2021 (Điều 58) đã quy định cụ thể, chi tiết và giao cho Kiểm sát viên nhiều quyền năng hơn giúp Kiểm sát viên chủ động, tích cực hơn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là các quyền: Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Bộ luật này; kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên: Lần đầu tiên BLTTDS có 01 quy định riêng về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự (Điều 46, Điều 59). Theo đó, Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ, việc; báo cáo kết quả với Kiểm sát viên; lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự; giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

3. Về tham gia phiên tòa dân sự

Về phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát: Tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2021 đã quy định theo hướng cụ thể hóa trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm nhằm tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi. Ngoài ra, còn bổ sung thêm trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 266, khoản 2 Điều 313 BLTTDS hiện hành thì sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp là 01 thủ tục bắt buộc, nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì phải hoãn phiên tòa, phiên họp. Nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, kịp thời và đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, tại khoản 1 Điều 232, khoản 2 Điều 275, khoản 1 Điều 296, khoản 2 Điều 314, khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2021 quy địnhKiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa, phiên họp (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, phiên họp trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phên tòa sơ thẩm: Tại Điều 262 BLTTDS năm 2021 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”. Như vậy, so với quy định tại Điều 234 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã cho phép Viện Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa ngoài việc phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, còn được phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Việc phát biểu ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo, đánh giá, xem xét trước khi ra 01 bản án, đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật.

4. Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm là quy định mới trong BLTTDS năm 2021 (chương XVIII; XIX). Theo đó, thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường, nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật. Đối với Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thì thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án chỉ có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Về thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Tòa án sẽ không hoãn phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

5. Về việc thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân

Khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”. Theo quy định trên thì quyền thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát đã được mở rộng hơn so với quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS hiện hành. Viện kiểm sát không phải thực hiện quyền này thông qua quyền yêu cầu như trước đây, mà có quyền trực tiếp thực hiện các biện pháp để thu thập chứng cứ đảm bảo cho việc kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm như: Lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định….Ngoài ra, BLTTDS năm 2105 còn quy định rõ: Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND cấp cao) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết (khoản 2 Điều 330 BLTTDS năm 2021).

6. Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 331 BLTTDS năm 2021, Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Nguyễn Đức Sơn – Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

【#5】Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2021

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự với 10 Phần, 42 chương, 517 điều (trong đó bổ sung mới 102 điều, sửa đổi, bổ sung 292 điều) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Bộ luật quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu để Tòa án giải quyết các vụ, việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

Bộ luật cũng quy định những nguyên tắc thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… trong đó quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân dược sửa đổi, bổ sung với những nội dung cơ bản sau đây:

Về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS

Trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự 2021, nhiều ý kiến cho rằng trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự mà không phải là cơ quan tiến hành tố tụng cũng như không phải là cơ quan tham gia tố tụng. Một số ý kiến khác lại cho rằng, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng. Cũng có ý kiến cho rằng, trong tố tụng dân sự Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp, không trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng do vậy Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tham gia tố tụng.

Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2021 quy định:

b) Viện kiểm sát. b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự; Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự; đồng thời, bổ sung quy định Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng và bổ sung 01 điều luật (Điều 59) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên để bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên, kiểm tra viên được quy định như sau:

Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; 2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự; 3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này; 4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này; 5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; 6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; 7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; 8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; 9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này. Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên; 2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát; 3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. – Về sự tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân (được quy định tại các điều 21, 232, 296, 367 và 374):

Điều 21 của Bộ luật TTDS năm 2021 quy định về Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự :

1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. 2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này. 3. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này”.

Như vậy, ngoài các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp như Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 bổ sung một số nội dung mới như sau:

– Bổ sung quy định Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng;

– Quy định đối với trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm hoặc phiên tòa, phiên họp phúc thẩm mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Quy định này nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, kịp thời, đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát.

Về việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự (Điều 262 và Điều 369)

Tại phiên tòa sơ thẩm: Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án

Như vậy, kiểm sát viên không chỉ phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử như trước đây mà còn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự trong thời gian qua cho thấy quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, khi có tranh chấp nhiều người dân chưa có điều kiện mời Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa . Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và phát biểu về việc giải quyết vụ án là đại diện cho quyền lợi của xã hội, không phải là đại diện của các bên đương sự, chỉ đưa ra quan điểm về áp dụng pháp luật và không nghiêng về bên nào . Quy định này cũng nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát và của kiểm sát viên.

Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Điểu g khoản 1 Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự

Tại các điều 262, 306, khoản 3 Điều 341, điểm g khoản 1 Điều 369, điểm c khoản 1 Điều 375 quy định: Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc. Đây là điểm cần chú ý trong thực hiện công tác kiểm sát.

– Về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát

Tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát, tại khoản 6 điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: ” Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”.

Đồng thời, bổ sung quy định Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn ” thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 9 Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; của Bộ luật này ” (khoản 3 Điều 58);

Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết .

– Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định:

1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ”. “1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ”.

Như vậy, để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 đã sửa đổi quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm , theo đó: bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huyện của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bổ sung quyền kháng nghị cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao .

【#6】Nêu Và Phân Tích Các Cách Thức Tổ Chức Của Một Nền Kinh Tế.so Sánh Và Phân Tích Vai Trò Của Thị Trường Và Chính Phủ Trong Việc Thực Hiện Các Chức Năng Cơ Bản Của Một Nền Kinh Tế

I.

Các cách thức tổ chức nền kinh tế

Nền kinh tế

Nền kinh tế thị

Nền kinh tế

truyền

hành

trường tự

hỗn

thống

chính –

do

hợp

Khái – Một hệ thống

– Trong nền kinh tế

kinhtếtru – Là nền kinh tế

– Là nền kinh tế

yềnthống mà Chính phủ đề

tự do, các

kết hợp cả yếu

làmột

ra mọi quyết định

đơn vị cá

tố thị trường tự

nền kinh

về sản xuất và

biệt được

do lẫn yếu tố

tế được

tiêu dùng, tư nhân

tự do tác

vai trò của

xây

không có vai trò

động lẫn

chính phủ. Hầu

dựng

gì. Cơ quan quản

nhau trên

hết các quốc

trên hình lý nhà nước sẽ

thị

gia hiện nay

thứcnôn

quyết định sẽ sản

trường.

đều sử dụng

g nghiệp

xuất cái gì, sản

Các đơn

cách thức này,

vàtrao

xuất như thế nào

vị kinh tế

khác nhau chỉ ở

đổitrựcti

và sản xuất cho

có thể

mức độ thể

ếpvới

ai. Sau đó các

mua sản

hiện vai trò của

các

hướng dẫn cụ thể

phẩm từ

hai yếu tố kể

thành

sẽ được phổ biến

đơn vị

trên

viêntron

tới các hộ sản

kinh tế

– Ở trường phái

g

xuất gia đình, các

này hoặc

kinh tế chính

cộngđồn

doanh nghiệp.

bán sản

hiện đại,

gvà hàng

phẩm cho

Samuelson đã

xóm,

đơn vị

cho rằng, “điều

kiểu tự

kinh tế

hành một nền

cung tự

khác.

kinh tế không

cấp.

Trong

có chính phủ

Vídụnhữ

một thị

hoặc thị trường

ng

trường,

thì cũng như vỗ

ngườiInu

các giao

tay bằng một

ithoặcnh

dịch có

bàn tay”. Để

ững

thể thông

đối phó với

ngườitrồ

qua trao

những khuyết

ng chèở

đổi bằng

tật của thị

Dựa vào phong

Tận dụng được

Trong nền kinh tế

tục tập

tối đa

thị

Trong một nền

quán nên

các

trường,

kinh tế hỗn

được các

nguồn

nếu lượng hợp, khu vực

thành

lực kinh

cầu hàng

nhà nước và

viên

tế khi

hóa cao

khu vực tư

trong

các

hơn lượng nhân tương tác

nền kinh

nguồn

cung, thì

với nhau trong

tế tự giác

lực khan

giá cả

việc giải quyết

chấp

hiếm.

hàng hóa

các vấn đề cơ

hành,

Bên

sẽ tăng

bản của nền

làm theo.

cạnh đó

lên, mức

kinh tế. Chính

Mô hình

là có sự

lợi nhuận

phủ kiểm soát

đơn

chỉ đạo

cũng tăng

một phần đáng

giản, dễ

của

khuyến

kể của sản

quản lí

chính

khích

lượng thông

phủ, có

người sản

qua việc đánh

kế hoạch

xuất tăng

thuế, thanh

về sản

lượng

toán chuyển

xuất và

cung.

giao cung cấp

tiêu

Người sản các hàng hóa

dùng –

xuất nào

và dịch vụ như

các cơ

có cơ chế

lực lượng vũ

quan

sản xuất

trang, cảnh sát.

chính

hiệu quả

Chính phủ

phủ lập

hơn, thì

cũng điều tiết

kế hoạch

cũng có tỷ mức độ theo

về việc

suất lợi

sản xuất

nhuận cao nhân. Ngoài ra,

cái gì

hơn cho

Chính phủ

sẩn xuất

phép tăng

cũng có thể

đuổi lợi ích cá

Khó có thể phát

Rất khó tồn tại

Các vấn đề ô

Do kết hợp hai

triển và

một nền

nhiễm môi trường

yếu tố

tăng

kinh tế

mà doanh nghiệp

thị

trưởng

mệnh

không phải trả giá

trường

kinh tế,

lệnh

cho sự hủy hoại

dựa quá

hoàn

đó, tình trạng độc

chính

nhiều

chỉnh mà quyền phá hoại cơ

phủ

vào thiên

trong đó

nên

nhiên

tất cả các tranh. Cơ chế phân

hạn

nên bấp

quyết

bổ nguồn lực trong

chế

bênh

định về

nền kinh tế thị

của

phân bổ

trường có thể dẫn

cách

nguồn

tới bất bình đẳng.

thức

lực đều

Chưa kể vấn đề

tổ

được

thông tin không

chức

chế tự do cạnh

tiến hành hoàn hảo có thể

kinh tế

theo

dẫn tới việc phân

này là

phương

bổ nguồn lực

rất ít.

pháp

không hiệu quả.

Chủ

này. Tất

Do một số nguyên

yếu

nhiên

nhân, giá cả có thể

nhược

việc xây

không linh hoạt

điểm

dựng

trong các khoảng

nằm ở

một kế

thời gian ngắn hạn

quá

hoạch

khiến cho việc điều

trình

như vậy,

chỉnh cung cầu

triển

trong đó

không suôn sẻ, dẫn

khai

không

tới khoảng cách

chỉ xác

giữa tổng cung và

thực

định

tổng cầu. Đây là

hiện

chính

nguyên nhân của

trong

So sánh và phân tích vai trò của thị trường và chính phủ trong thực hiện chức năng cơ bản

của một nền kinh tế

Ưu điểm

Thị trường

– Thị trường là nơi kết nối

Chính phủ

– Kích thích sự phát triển

giữa các chủ thể trong nền

của thị trường thông qua

kinh tế, tạo ra môi trường

việc ban hành các chính

thuận lợi cho sản xuất hàng

sách công phù hợp với quy

hóa phát triển cũng như giúp

luật kinh tế khách quan,

phân bố nguồn lực hiệu quả,

tạo hành lang pháp lí cho

giải quyết 3 câu hỏi mà kinh tế sự phát triển kinh tế theo

học đặt ra: sản xuất cái gì?

hướng tự do cạnh tranh,

Cho ai? Như thế nào?

xây dựng cơ sở hạ tầng,

– Thị trường tác động lên các

phát triển giáo dục nền

chức năng cơ bản của nền

tảng, đảm bảo an ninh trật

kinh tế thông qua hệ thống các tự xã hội cho các hoạt

quy luật kinh tế khách quan,

độc lập với suy nghĩ chủ quan

của con người do đó vừa đáp

ứng được nhu cầu xã hội, vừa

tránh con người sa vào lợi ích

cá nhân

– Nhờ đặc trưng cạnh tranh mà

thị trường được coi là động

lực phát triển của nền kinh tế

nói riêng và cả xã hội nói

động kinh tế diễn ra

– Giám sát sự vận hành của

các quy luật kinh tế thị

trường. Chính phủ là

những người trực tiếp

thẩm địch, đánh giá và

hoạch định xem quy luật

kinh tế nào phù hợp với xã

hội nào để áp dụng phù

hợp

chung

– Sửa chữa các thất bại của

thị trường như phân bố của

cải xã hội đồng đều, công

bằng hơn, giảm thiểu ô

nhiễm, vực dậy nền kinh tế

trong khủng hoảng bằng

chính sách tài khóa, tiền

Nhược điểm

– Thị trường được coi là

tệ, thuế…

– Công cụ tác động của

xương sống của nền kinh tế

chính phủ tới các chức

nhưng nếu để nó vận hành đơn năng chính của nền kinh tế

độc thì dễ dẫn đến các hệ quả

đó chính là chính sách

gọi là thất bại thị trường như ô công và pháp luật. Vì vậy

nhiễm, khủng hoảng, bất bình

khi khả năng của chính

đẳng, ảnh hưởng lớn tới toàn

phủ hạn chế (do chỉ là con

xã hội.

người), các chính sách đi

– Các quy luật kinh tế được

ngược lại với các quy luật

đưa ra trong lịch sử luôn có sự kinh tế sẽ kìm hãm sự phát

mâu thuẫn, nếu không được

triển kinh tế nói chung,

thẩm định thì khó áp dụng

thậm chí gây tác hại ngược

trong thực tiễn.

lại, tạo sự bất ổn.

-Yếu tố cạnh tranh của thị

trường nếu không được giám

sát có thể dẫn đến gian lận,

thâm hụt thương mại, ảnh

hưởng tới quyền lợi trực tiếp

của người tiêu dùng.

– Khi chính phủ can thiệp

quá sâu vào nền kinh tế, sẽ

gián tiếp làm hạn chế quá

trình vận động của thị

trường, yếu tố cạnh tranh

bị giảm sút. Đồng thời,

bản thân chính phủ cũng là

tập hợp các cá nhân nên

không tránh được hành

động vì lợi ích cá nhân

theo lí thuyết hành vi, dễ

dẫn đến hiện tượng tham

nhũng, gây ảnh hưởng

nghiêm trọng tới nền kinh

tế.

Kết luận: Chính phủ và thị trường đều có những mặt mạnh, mặt yếu trong

việc thực hiện chức năng cơ bản của nền kinh tế. Vận dụng các yếu tổ này

cùng một lúc thích hợp sẽ phát huy được tối đa năng lực thực chất của một

nền kinh tế, đưa tới sự phát triển toàn diện.

III.

Liên hệ thực tiễn với Việt Nam

Cách thức tổ chức của nền kinh tế:

Nền kinh tế Việt Nam lấy năm 1986 làm mốc để nghiên cứu thì có thể chia làm 2

giai đoạn.Giai đoạn trước 1986, trong và sau cuộc chiến tranh chống Mĩ, cách thức

tổ chức của nền kinh tế là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (hành chính-mệnh

lệnh), đi lên từ nền kinh tế truyền thống tự cung tự cấp lấy nông nghiệp làm chủ

đạo.Cách thức tổ chức này chỉ phù hợp vào thời kì chiến tranh cần thiết quốc hữu

hóa nền kinh tế, nhưng đến giai đoạn hòa bình thì bộc lộ nhiều thiếu sót bởi cách

thức tổ chức quan liêu bao cấp.

Sau 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, cụ thể là kinh tế thị trường

nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do cạnh tranh và doanh nghiệp nhà nước

đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Việc chuyển sang cách thức tổ chức mới

này đem lại nhiều thuận lợi và kết quả trông thấy cho sự phát triển của đất nước,

song cũng vạch ra rất nhiều thử thách mới với nhà nước, chính phủ.

Vai trò của thị trường (công cụ tác động là các quy luật kinh tế)

– Với những chức năng đã đề cập ở phần trên, soi vào thực tiễn Việt Nam ta

thấy rất đúng đắn. Minh chứng rõ nhất về vai trò của thị trường đó là vào

thời kì những năm 1986. Trước 1986, Việt Nam thi hành chính sách kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, vai trò của thị trường gần như không có mà tất cả do

nhà nước điều hành. Thế nhưng sau 1986, đất nước mở cửa, thị trường với lí

thuyết bàn tay vô hình của nó đã thực sự phát huy rất nhiều tác dụng: tăng

trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tăng phúc lợi, mức sống của nhân dân, khả

năng sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp tăng.

– Chứng minh bằng các bảng số liệu sau: (đính kèm file excel)

Vai trò của chính phủ (công cụ tác động là hệ thống pháp luật, chính sách

công)

– Lấy mốc là năm 1986, ta lại thấy trước 1986, nhược điểm của chính phủ rất

rõ ràng: can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn đến trì trệ, kém phát triển.

Nhưng kể từ khi đổi mới, tiến hành mở cửa, những chính sách đưa ra đã tạo

được cơ hội phát triển cho nền kinh tế phát triển. Đây là sự kết hợp tuyệt vời

của “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình”

– Trong nền kinh tế Việt Nam, sự định hướng của chính phủ thể hiện rất rõ:

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là có 3 hình thức

sở hữu: nhà nước, tập thể, tư nhân trong đó nhà nước chiếm chủ đạo.

– Chính phủ tạo mọi điều kiện cho sự phát triển hợp lí của nền kinh tế thị

trường: hệ thống hành lang pháp lí, các chính sách tài khóa, tiền tệ, tài

chính… Nhà nước cũng gia nhập thêm các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới

nhằm mở rộng thị trường, để phát huy tốt nhất khả năng của thị trường như

ASEAN, AFTA, WTO,… Chính phủ cũng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, các

khu công nghiệp tập trung, đảm bảo an ninh xã hội…

– Chính phủ duy trì sự ổn định và phát triển lâu dài. Điều này thị trường

không làm được mà cụ thể biểu hiện chính là nếu để thị trường tự vận hành,

thì khủng hoảng sẽ khiến cho tình trạng xã hội trở nên bất ổn. Vì thế chính

phủ bằng hệ thống pháp luật, chính sách thuế, tài khóa… đảm bảo cho sự

phát triển bền vững trong thời gian dài, lái nền kinh tế đi theo đinh hướng

XHCN

– Chính phủ cũng đảm bảo cho sự phân bố nguồn lực trong xã hội công bằng

hơn, giảm phần nào sự phân hóa giàu nghèo do bàn tay vô hình gây ra: điều

chỉnh mức lương tối thiểu, thuế thu nhập cá nhân,…Với một trong những

thất bại thị trường gây ra như là ô nhiễm môi trường, chính phủ đóng cũng

đóng vai trò là người phân xử. VD: vụ án VEDAN năm 2008

Chính phủ phát triển giáo dục, làm nền tảng cho sau này

nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5

triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm

2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt

Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù

kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng

kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.

Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới, thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể.

Năm 1995, GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005: 639 USD;

năm 2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000

USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp(2)…

Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có

hiệu quả các giải pháp đó, Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm

phát, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10

giảm 0,19%, tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định:

thu chi ngân sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả

năm, tăng 26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, vượt kế

hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28% so với năm 2007.

Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo môi

trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.

【#7】Chức Năng Của Một Bộ Phận Mua Hàng Trong Một Tổ Chức Là Gì?

Hầu hết các công ty lớn và thậm chí một số tổ chức chính phủ đều có bộ phận mua sắm hoặc mua sắm như một phần của hoạt động hàng ngày. Các bộ phận này cung cấp một dịch vụ là xương sống của nhiều tổ chức sản xuất, bán lẻ, quân sự và các tổ chức công nghiệp khác. Nhiều cá nhân, thậm chí một số người làm việc cho các công ty này, không biết bộ phận mua hàng làm gì, tại sao nó tồn tại hoặc mục đích của nó là gì. Để hiểu rõ hơn vai trò của bộ phận mua hàng là gì, hãy xem xét một số chức năng mà nó thực hiện.

tiền boa

Mua sắm nguyên liệu thô và các tài nguyên khác

Một vai trò của bộ phận mua hàng là mua sắm tất cả các vật liệu cần thiết cho sản xuất hoặc hoạt động hàng ngày của công ty hoặc tổ chức chính phủ. Đối với một công ty sản xuất, điều này có thể bao gồm các nguyên liệu thô như sắt, thép, nhôm hoặc nhựa, nhưng nó cũng có thể bao gồm các công cụ, máy móc, xe tải giao hàng hoặc thậm chí các vật tư văn phòng cần thiết cho các thư ký và đội ngũ bán hàng.

Trong môi trường bán lẻ, bộ phận mua hàng đảm bảo luôn có đủ sản phẩm trên kệ hoặc trong kho để giữ cho khách hàng hài lòng và giữ cho cửa hàng được lưu trữ tốt.

Đạt được giá tốt nhất có thể

Một bộ phận mua hàng cũng bị buộc tội liên tục đánh giá xem liệu họ có nhận được các vật liệu này ở mức giá tốt nhất có thể để tối đa hóa lợi nhuận hay không. Điều này có thể là thách thức đối với một doanh nghiệp nhỏ có thể mua với số lượng ít hơn một nhà cung cấp lớn hơn và do đó có thể không nhận được cùng loại giảm giá hàng loạt. Một bộ phận mua hàng trong một doanh nghiệp nhỏ cần mua sắm xung quanh để tìm các nhà cung cấp tốt nhất với giá cả hợp lý nhất cho các đơn đặt hàng kích thước cụ thể của công ty.

Nhân viên bộ phận mua hàng có thể liên lạc với các nhà cung cấp thay thế, đàm phán giá tốt hơn cho các đơn đặt hàng số lượng lớn hoặc điều tra khả năng mua vật liệu rẻ hơn từ các nguồn thay thế như một phần của hoạt động hàng ngày của họ.

Giấy tờ và kế toán

Tuân thủ các giao thức kinh doanh

Bộ phận mua hàng cũng phải đảm bảo rằng nó tuân thủ tất cả các chính sách của công ty. Ví dụ, trong một doanh nghiệp nhỏ, các nhân viên cá nhân có thể trao đổi với bộ phận mua hàng về nhu cầu mua hàng cho những thứ như đồ dùng văn phòng hoặc máy tính. Trước khi mua hàng, bộ phận mua hàng phải đảm bảo rằng họ có các giao thức thích hợp để mua và phê duyệt ngân sách và phải đảm bảo rằng bất kỳ mặt hàng nào được mua theo chính sách mua chung của tổ chức.

【#8】Một Số Vấn Đề Về Tổ Chức Bộ Máy Và Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Được Quy Định Trong Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992

Một số vấn đề về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Quá trình nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chế định Viện kiểm sát nhân dân luôn có nhiều ý kiến trái chiều với nhiều câu hỏi đặt ra. Có hay không việc chuyển mô hình Viện kiểm sát sang Viện công tố? Viện kiểm sát có mấy chức năng? Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (gọi tắt là dự thảo sửa đổi Hiến pháp) với quy định gồm 03 điều (Điều 112, 113, 114) ngắn gọn hơn so với Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định mô hình Viện kiểm sát nhân dân với hai chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là lựa chọn thích hợp nhất của đất nước ta hiện nay.

Đây là một khẳng định rất quan trọng phù hợp với quan điểm của Đảng ta và xu hướng hiện nay trên thế giới về phạm vi hoạt động của Viện công tố, cụ thể là Viện công tố không chỉ hạn chế trong chức năng về lĩnh vực hình sự mà trong nhiều lĩnh vực khác như hành chính, thương mại, dân sự…(Theo kết luận của Hội thảo Viện công tố ở châu Âu trong thế kỷ 21).

Về vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được nêu trong Cương lĩnh chính trị của Đảng cho thấy: Đó là sự kế thừa, phát triển những ưu điểm của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam từ năm 1946 đến nay và phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển của đất nước, dân tộc trong giai đoạn mới, được xây dựng trên cơ sở của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, do Đảng cộng sản là tổ chức lãnh đạo duy nhất. Chính vì vậy trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta có rất nhiều đặc trưng khác biệt với các mô hình tổ chức Nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Trong đó, mô hình Viện kiểm sát nhân dân là một đặc trưng cơ bản. Với tư cách là một cơ quan hiến định trong tổ chức bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã quy định rất rõ “Quốc hội…thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” (Điều 74 dự thảo sửa đổi Hiến pháp), “Chính phủ… thực hiện quyền hành pháp” (Điều 99 dự thảo sửa đổi Hiến pháp), “Tòa án nhân dân…thực hiện quyền tư pháp” (Điều 107 dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Với những quy định như trên thì dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta là “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Chế định Viện kiểm sát nhân dân tuy đã được khẳng định là cơ quan Hiến định, có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi đặt cùng chương với Tòa án nhân dân (Chương VIII của dự thảo sửa đổi Hiến pháp) và không được khái quát là cơ quan gì? thực hiện quyền năng gì? Nên đã không nêu rõ được vai trò, vị trí cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân và hơn nữa đã không thể hiện được quan điểm của Đảng ta là phải có sự “kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Do vậy, dự thảo sửa đổi Hiến pháp cần khái quát Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước và nếu có thể thì quy định thành một Chương độc lập trong Hiến pháp mới.

Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.

So với Hiến pháp năm 1992, dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân dự thảo sửa đổi không có gì thay đổi so với hiến pháp năm 1992 và chỉ được viết gọn hơn, tại khoản 1 Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 1992 được ghi chung với nhiệm vụ của Tòa án nhân dân (Điều 126 Hiến pháp năm 1992) những nay đã được tách ra thành một quy định riêng (Khoản 3 Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Đánh giá chung, dự thảo sửa đổi Hiến pháp dùng từ chính xác hơn và khoa học hơn thể hiện cụm từ “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” đã được thay bằng cụm từ “thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” quan trọng hơn là đã tách bạch được nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thành các điều luật riêng. Các cụm từ được dùng trong nhiệm vụ của Viện kiểm sát thể hiện trách nhiệm to lớn được giao phó cho ngành Kiểm sát, thể hiện chỉ có Viện kiểm sát nhân dân mới có nhiệm vụ “góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, nhiệm vụ “bảo vệ quyền con người” lần đầu tiên được giao cho Viện kiểm sát nhân dân. Với sửa đổi như vậy về cơ bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đánh giá đúng vai trò không thể thiếu của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên việc bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang và công dân (gọi tắt là kiểm sát chung), khi mà Đảng và Quốc hội cũng đều đánh giá là việc bỏ chức năng này không phải do Viện kiểm sát làm không tốt mà vì muốn tránh sự chồng chéo trong thực hiện chức năng của một số ngành và để chuyển chức năng này của Viện kiểm sát sang cho một số cơ quan khác, đồng thời để Viện kiểm sát tập trung làm tốt hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nhưng hiện nay trong dự thảo Hiến pháp thì chức năng này vẫn chưa giao cho một cơ quan nào khác. Trong một xã hội dân chủ (có quan điểm về xã hội dân sự) cần có nhiều kênh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật. Mặt khác, kể cả pháp luật trao cho người dân có quyền tự bảo vệ mình trước pháp luật thì chắc gì họ đã sử dụng triệt để quyền năng này. Vấn đề là cần một lá chắn từ phía bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền tự do và lợi ích chính đáng của nhân dân là đòi hỏi cấp thiết. Giao cho Viện kiểm sát nhân dân thêm chức năng này chính là tạo một kênh quan trọng, một lá chắn hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức. và lúc đó cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước sẽ có thêm đảm bảo đảm bảo. Vì vậy, cần khôi phục chức năng này cho Viện kiểm sát nhân dân.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và khoản 3 Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho Viện kiểm sát một nhiệm vụ đặc biệt là điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Theo xu hướng cải cách tư pháp hiện nay, công tác điều tra tội phạm này cần được quan tâm một cách đúng mức vì lực lượng cán bộ tư pháp có trong sạch thì mới là gốc để hoàn thành công cuộc cải cách tư pháp của nước ta. Thực tiễn vừa qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 522e/NQ- UBTVQH13 ngày 16/8/2012 quyết định tăng biên chế cho ngành Kiểm sát đã ghi rõ tăng thêm 21 Điều tra viên cao cấp cho ngành Kiểm sát nhân dân. Những cả 03 điều luật trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp về Viện kiểm sát nhân dân không có bất kỳ một từ nào để xác định nhiệm vụ này và chức danh pháp lý Điều tra viên của ngành Kiểm sát nhân dân và nếu không hiến định thì nhiệm vụ và chức danh pháp lý thực hiện nhiệm vụ trên, sẽ có thể không được các luật quy định. Vậy cần thiết bổ sung thành một khoản trong quy định của Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước là một trong những biện pháp quan trọng góp phần vào việc đẩy mạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta./.

Lưu Xuân Sang – Phó trưởng phòng 9 VKSNDTP

【#9】Những Chức Năng Cơ Bản Của Một Phần Mềm Kế Toán Tốt

Những chức năng cơ bản của một phần mềm kế toán tốt

· Tùy chỉnh hệ thống, chứng từ, tìm kiếm, quản lý tiền tệ

Tạo ra mô hình kế toán tối ưu cho từng đặc thù công ty, quan điểm quản lý và khả năng tổ chức công tác kế toán của khách hàng.

· Insert dữ liệu từ Excel

Cho phép insert tất cả các phần dữ liệu từ Excel mà không phải nhập liệu nếu khách hàng đang có nguồn dữ liệu. Thực hiện được với hóa đơn bán hàng, bảng kê phiếu nhập, phiếu kế toán.

· Kết xuất dữ liệu

Kết xuất dữ liệu nhanh và giữ nguyên định dạng (View) từ phần mềm ra Excel, Pdf, Powerpoint, XPS, HTML, XML, Image.

· Truyền nhận dữ liệu

Truyền nhận một phần hoặc toàn bộ dữ liệu giữa các máy tính cho cùng 1 đơn vị cơ sở hoặc áp dụng trong trường hợp chuyển cơ sở dữ liệu. Có thể lựa chọn chỉ truyền số dư, chỉ truyền 1 loại chứng từ…

· Backup dữ liệu

Back up tự động và Back up theo chỉ định của người dùng để sau đó có thể khôi phục lại chính xác tới từng phút nhập liệu đã thực hiện.

· Phục hồi dữ liệu

Phục hồi lại tình trạng dữ liệu tại thời điểm backup nào đó do người dùng chỉ định tới file dữ liệu đã backup.

· Drill-Down

Truy vấn từ nội dung, số liệu trên báo cáo, sổ kế toán về chi tiết đến chứng từ kế toán, cho phép sửa trực tiếp và đồng bộ lại dữ liệu.

· In đồng loạt: Chọn và in đồng loạt nhiều hoặc tất cả chứng từ đã lập

· Đồng bộ dữ liệu

Đồng bộ lại dữ liệu, sổ kế toán, báo cáo sau mỗi thao tác tính giá vốn, tính khấu hao, sửa chứng từ, gộp mã, sửa nội dung và số liệu trên chứng từ kế toán.

· Kiểm soát lịch sử chứng từ: Theo dõi lịch sử chứng từ từ khi lập, sửa, xóa

· Kiểm tra tính hợp thức của chứng từ kế toán

Kiểm tra và thông báo các thông số cần có trong chứng từ ứng với loại nghiệp vụ và tài khoản kế toán.

【#10】Upbox Đã Bỏ Xa Các Đối Thủ Khi Tạo Ra Một Loạt Những Tính Năng Chuyên Biệt Nhằm Tự Động Hóa Tối Đa Tất Cả Các Chức Năng Của Một Máy In 3D Để Bàn.

UPBOX là một phiên bản máy in 3D thông minh nhất trong tất cả các dòng máy in sử dụng công nghệ FDM hiện nay. Không những là một máy in 3D siêu nét, UPBOX đã bỏ xa các đối thủ khi tạo ra một loạt những tính năng chuyên biệt nhằm tự động hóa tối đa tất cả các chức năng của một máy in 3D chất lượng cao mà UPBOX còn hướng đến việc bảo vệ môi trường và sức khỏe người sử dụng.

TỐI ƯU HÓA CÁC CHẾ ĐỘ CĂN CHỈNH TỰ ĐỘNG

    Chế độ calip hoàn toàn tự động bởi một mô tơ được tích hợp trong máy in sẽ tự động dò độ cao đầu phun và mức cân bằng của bàn làm việc.
    Đây là một cải tiến quan trọng đối với dòng máy in FDM, bởi chế độ này sẽ giúp hiệu chỉnh một cách chính xác sự sai lệch khoảng cách ở các vị trí khác nhau giữa bàn in và đầu phun giúp bề mặt của lớp nền bám dính tốt hơn, sản phẩm in ra sẽ không bị cong vênh.

LỚP SUPPORT CỰC KỲ THÔNG MINH

    Nếu bạn đã từng sử dụng qua các dòng máy in FDM thì bạn chắc chắn biết rằng: Lớp support quyết định hoàn toàn hình hài, biên dạng của sản phẩm.
    Vậy, bạn đã phải mất bao nhiêu thời gian cho việc gỡ bỏ lớp suppot đó: 1 giờ, 2 giờ, 5 giờ .. …??? Thậm chí đối với những biên dạng phức tạp, bạn sẽ phải dành cả ngày cho việc hậu xử lý đó.
    Với UPBOX – gỡ bỏ support chưa bao giờ dễ dàng và đơn giản đến thế. Nó còn khiến bạn cảm thấy phấn khích như đang phát minh ra một trò chơi mới.

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC

    Theo báo cáo của UFP: http://goo.gl/Eb2SAo. Tất cả các máy in 3D khi dùng vật liệu in là ABS hoặc PLA đều thải ra không khí một lượng khí thải cao. Theo thời gian sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người sử dụng.

    Thiết kế của UPBOX đã loại bỏ hoàn toàn được điều này.
    Ở môi trường hoạt động trong buồng kín, một hệ thống bộ lọc không khí tự động – HEPA – đã làm giảm tối đa việc tiếp xúc, thanh lọc, khử mùi và giảm nhiệt môi trường.

ƯU THẾ VƯỢT TRỘI 1. Độ phân giải không có đối thủ

    So sánh thực tế cho thấy, ở chế độ in với độ phân giải 0.15mm, mẫu được in ra từ máy in UPBOX cho giữ liệu sắc nét, mịn màng hơn nhiều so với chế độ in với độ phân giải 0.10mm của các dòng máy FDM khác.
    Ưu thế này giúp tiết kiệm thời gian, giảm thiểu rủi ro khi in sản phẩm lớn, rút ngắn thời gian khấu hao máy

2. Thiết kế vỏ dạng buồng kín

    Thiết kế này giúp quá trình in không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhiệt độ của môi trường, ổn định nhiệt độ đầu phun cho chất lượng sản phẩm đồng đều.
    Giảm thiểu tiếng ồn và ô nhiễm không khí.

VẬN HÀNH CHUYÊN NGHIỆP

    UPBOX có mặt ở hầu hết các phòng nghiên cứu và chế tạo mẫu, các phòng thí nghiệm, khu công nghiệp, các nhà máy chế tạo và sản xuất chuyên nghiệp trên Thế Giới.
    Chất lượng in của UPBOX được so sánh với một máy in 3D công nghiệp lớn bởi một loạt các tính năng ưu việt:

    UPBOX tạo nên một lợi thế cạnh tranh khốc liệt về giá với các đối thủ khác trên thị trường.
    Nếu như trước đây, để sở hữu một dòng máy ưu việt như UPBOX, bạn sẽ phải trả không dưới 6.000$ cho 1 sản phẩm thì giờ đây bạn sẽ hoàn toàn hài lòng với mức giá mà Scantech đem đến cho bạn

Một số hình ảnh sản phẩm khuôn mẫu được in từ máy in 3D chất lượng cao UPBOX Tượng phật Similý được quét bằng máy quét 3D cầm tay Artec Eva và in tạo khuôn bằng máy in 3D UPBOX Tượng Kim Đồng được quét bằng máy quét 3D cầm tay Artec Eva và in tạo khuôn bằng máy in 3D UPBOX

và in tạo khuôn bằng máy in 3D UPBOX

CHÚNG TÔI CAM KẾT UPBOX LÀ DÒNG MÁY CÓ CHẤT LƯỢNG ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI.

KHÁCH HÀNG CÓ THỂ IN THỬ CÙNG 1 SẢN PHẨM TRÊN TẤT CẢ CÁC DÒNG MÁY IN FDM ĐỂ SO SÁNH TRƯỚC KHI ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH.

Tab: máy in 3d fdm, máy in 3 d, thiết bị in 3d, , mua máy in 3d ở đâu, máy in 3d nào tốt, bán máy in 3d , giá máy in 3d, ban may in 3d, in 3d giá rẻ, may in 3d gia re, mua máy in 3d ở đâu tốt, mua máy in 3d khổ lớn ở đâu, máy in 3d nào tốt, 3d printer, printer 3d, print 3d, máy in 3d martker book, máy in nhựa, máy in 3d fdm tốt nhất, máy tạo mẫu nhanh, máy in 3d nhập khẩu,