Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí
  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Theo TTXVN ngày 3-11-2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, trên cơ sở hai bảo tàng thuộc loại lớn nhất ở Việt Nam là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng. Theo đề án, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia không chỉ là nơi trưng bày các hiện vật, tài liệu giới thiệu tiến trình lịch sử Việt Nam qua các thời đại, mà còn là trung tâm thông tin, ngân hàng dữ liệu về di sản văn hóa Việt Nam.

    Công trình này dự kiến khởi công vào cuối năm 2007 và hoàn thành vào cuối năm 2012. Bảo tàng sẽ phải làm tốt việc sưu tập, lưu giữ và trưng bày, giới thiệu thật hấp dẫn, làm sống động lịch sử đấu tranh cách mạng bất khuất kiên cường của nhân dân ta, của Ðảng ta, cũng như những năm tháng đổi mới đầy khó khăn gian khổ của đất nước. Trên cơ sở đó, Bảo tàng Cách mạng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, sưu tầm, từng bước bổ sung cho nội dung trưng bày theo định hướng gắn lịch sử Ðảng với lịch sử dân tộc, thay thế dần các tài liệu phụ trợ bằng các sưu tập hiện vật có dung lượng nội dung cao, có tính hấp dẫn và gợi cảm cho mọi đối tượng người xem…

    Như vậy, một bảo tàng lớn sắp có thay chỗ cho hai bảo tàng đã có. Dù chúng ta đã có một mạng lưới bảo tàng rộng khắp trên cả nước, phần lớn đều có quá trình hoạt động lâu dài, nhưng chủ yếu nặng phần sưu tập, giới thiệu, trưng bày tĩnh. Kho tư liệu, hiện vật quý hiếm và đồ sộ trong phần lớn bảo tàng ít khi được biến thành một lực hấp dẫn với quảng đại quần chúng. Ở Hà Nội tập trung nhiều bảo tàng lớn, cấp quốc gia: Bảo tàng Hồ Chí Minh; Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; Bảo tàng Cách mạng Việt Nam; Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam; Bảo tàng Dân tộc học; Bảo tàng Lịch sử Quân đội; Bảo tàng Phụ nữ… Thành phố Hồ Chí Minh có Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Hồ Chí Minh trên bến Nhà Rồng. Huế có Bảo tàng Cổ vật Huế, Bảo tàng Hồ Chí Minh (Phân viện). Ðà Nẵng có Bảo tàng Chăm. Nam Trung Bộ có Bảo tàng Quang Trung. Ngoài ra, hầu hết các tỉnh đều có bảo tàng tỉnh, nhiều ngành có bảo tàng riêng, các quân chủng của quân đội có bảo tàng như: Bảo tàng Không quân, Bảo tàng Tăng – thiết giáp, Bảo tàng Hải quân… Hàng chục bảo tàng lớn nhỏ, thực ra vẫn ít so với một đất nước giàu truyền thống, giàu bản sắc, có quá trình phát triển lịch sử lâu dài như nước ta.

    Dù vậy, mỗi bảo tàng đều có sức cuốn hút riêng của nó và có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục truyền thống. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chẳng hạn, trên 67.000 hiện vật thể hiện mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống ngoại xâm từ thuở lập nước đến đầu thế kỷ 20, những công cụ lao động sơ khai bằng đá, hơn sáu trăm chiếc trống đồng quý giá… tất cả đủ để cho chúng ta có một hiểu biết tương đối và yêu mến tự hào về dân tộc. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là nơi tái hiện lịch sử đấu tranh trên một trăm năm, từ năm 1858 đến nay, với trên 3.000 hiện vật, phim ảnh, tư liệu. Ðây là nơi duy nhất có những bộ sưu tập rất quý như cờ, sách báo, vũ khí, chiến lợi phẩm ghi dấu lịch sử dân tộc những trang cận đại, một lịch sử oai hùng thấm máu và nước mắt…

    Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là một bảo tàng lớn, có tầm vóc trong khu vực. Lịch sử Mỹ thuật dân tộc, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, mỹ nghệ, được trình bày một cách khoa học và được bảo quản bằng những phương thức tiên tiến, hiện đại…

    Sau gần 6 năm, các nhà sưu tầm cổ vật trải qua nhiều đắn đo, nhưng đến năm nay, bảo tàng cổ vật tư nhân đầu tiên ở nước ta đã ra đời trong tháng 10 vừa rồi: Bảo tàng cổ vật Hoàng Long của ông Hoàng Văn Thông, Thanh Hóa, với gần 6.000 hiện vật quý xuyên suốt chiều dài phát triển của lịch sử Việt Nam. Cũng trong tháng 10, bảo tàng mỹ thuật tư nhân của nữ họa sĩ Phan Ngọc Mỹ ở Hà Tây đi vào hoạt động, cùng nhiều bảo tàng tự phát khác như bảo tàng kỷ vật của ông Lâm Văn Bảng ở Hà Tây, 20 năm lặn lội kiếm tìm, được trên 2.000 hiện vật về các cựu tù Phú Quốc; Bảo tàng của ông Nguyễn Xuân Liên tại Quảng Bình…

    Bảo tàng không chỉ là quá khứ. Không chỉ là nơi để lưu giữ, trưng bày, nhìn ngắm. Bảo tàng trong cuộc sống hiện đại phải là chỗ học tập, giao lưu của các thế hệ. Hầu hết các bảo tàng của chúng ta chưa làm tốt điều đó, chỉ một vài bảo tàng có hoạt động ngoài trưng bày, còn thì lo bảo quản và mở cửa vào những ngày kỷ niệm đã là quá sức. Chưa kể có những bảo tàng cần thiết mà mãi vẫn chưa thể xây dựng.

    Mấy chục năm nay, Bảo tàng Hà Nội long đong tìm chốn dừng chân, hiện vật hết gửi nhờ chỗ nọ lại gửi vào kho kia. Giờ thì các phương án thiết kế đã tạm được chọn, đất cũng đã có, chỉ đợi ngày khởi công. Bảo tàng Hội Nhà văn sau rất nhiều năm chuẩn bị, đến giờ vẫn chưa khánh thành…

    Sự nghiệp đổi mới đất nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang đặt ra cho hệ thống bảo tàng, những cán bộ ngành bảo tàng những nhiệm vụ mới, thử thách mới.

    Nếu trước đây hệ thống bảo tàng cách mạng Việt Nam đã thành công trong việc giáo dục các thế hệ chúng ta “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thì giờ đây, bằng kinh nghiệm tích lũy của mình, các bảo tàng sẽ góp phần giáo dục cho nhân dân ta lòng tự hào với truyền thống oai hùng, ý chí độc lập tự cường, nắm vững thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, quyết tâm đưa dân tộc ta vượt qua đói nghèo lạc hậu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sở Gd Và Đt Nam Định . Vị Trí Và Chức Năng
  • Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Doanh Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại, Ví Dụ Về Kinh Doanh?
  • Điều Kiện Sản Xuất Thực Phẩm Chức Năng Bảo Vệ Sức Khỏe
  • Ứng Dụng Rơle Bảo Vệ 7Sj63 Trong Mạng Điện Có Trung Tính Cách Ly
  • * Khoa Dược Vật Tư Y Tế
  • Hệ Thống Tổ Chức Y Tế Việt Nam
  • Khái niệm luật hành chính, khái niệm đối tượng điều chỉnh của luật hành chính? Pháp luật quy định những đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính như thế nào? Phạm vi điều chỉnh luật hành chính.

    Trong hệ thống pháp luật Việt nam, mỗi ngành luật điều chỉnh những quan hệ pháp luật riêng biệt, giúp nhà nước quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong hệ thống pháp luật đó, Luật hành chính có vai trò quan trọng trong tổ cức bộ máy nhà nước. Tìm hiểu cụ thể về ngành luật này, bài viết sau sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn dưới góc độ khái niệm và đối tượng của Luật hành chính Việt Nam.

    Luật hành chính là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

    Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thông pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chính những quan hộ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản lí hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phái sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xãy dựng và ổn định chê độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện hoạt động quán lí hành chính đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định.

    Luật hành chính điều chinh toàn bộ những quan hệ quán lí hành chính nhà nước dược thực hiện bời nhà nước hoặc nhán danh nhà nước và dối tượng điều chính cơ bản cùa Luật hành chính là những quan hệ quản lí hình thành trong quá trình hoạt động chấp hành – điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, hoạt động quản lí hành chính nhà nước được thực hiện thông qua các quan hệ xã hội được các quy phạm của luật hành chính điều chỉnh. Khái niệm

    “hoạt động chấp hành và điều hành” có thể được hiểu với nội dung và phạm vi gần như các khái niệm “hoạt động hành pháp”, “hoạt động hành chính – nhà nước” hoặc “hoạt động quản lý nhà nước”.

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính

    Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh giữa các chủ thể tham gia hoạt động của nhà nước trong những trường hợp sau:

    – Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

    – Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động xây dựng, tổ chức công tác nội bộ của các cơ quan nhà nước khác (như Tòa án, Viện kiểm sát).

    – Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khác hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

    3. Phân loại đối tượng điều chỉnh của luật hành chính

    a) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

    b) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động xây dựng, tổ chức công tác nội bộ của các cơ quan nhà nước khác.

    Người lãnh đạo và một bộ phận công chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước được trao quyền tiến hành hoạt động tổ chức trong giới hạn cơ quan. Hoạt động này còn được gọi là hoạt động tổ chức nội bộ, khác với hoạt động hướng ra bên ngoài. Để cơ quan nhà nước có thể hoàn thành chức nãng, nhiệm vụ của mình, hoạt động quản lí nội bộ cần được tổ chức tốt, đặc biệt là những hoạt động như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của cơ quan, công việc vãn phòng, đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết..

    Mỗi cơ quan nhà nước có chức năng cơ bản riêng và để hoàn thành chức năng cơ bản của minh các cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản lí hành chính nhất định.

    c) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khác hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

    Trong thực trạng quản lí hành chính nhà nước, trong nhiều trường hợp, pháp luật có thế trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành cho các cơ quan nhà nước khác (không phải là cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức hoặc cá nhân. Hoạt động trao quyền được tiến hành trên cơ sở những lí do khác nhau: chính trị. tổ chức, đảm bảo hiệu quả.. Vì vậy, hoạt động quán lí hành chính nhà nước không chi do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành.

    Hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhàn được trao quyền có tất cả những hậu quả pháp lí như hoạt dộng của cơ quan hành chính nhà nước nhưng chỉ trong khi thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành cụ thể được pháp luật quy định. Hoạt động nào cần được phân biệt rõ với hoạt động cơ bán của cơ quan nhà nước được trao quyền (chính cái đó quy định tính chất của cơ quan và của các mối quan hệ). Xem xét vấn đề từ hướng khác cho thấy cơ quan hành chính nhà nước không chỉ thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành mà còn được uỷ quyền lập pháp và tiến hành hoạt động tài phán trong những trường hợp nhất định.

    Như trao quyền cho các nhân, tổ chức trong bộ máy nhà nước như: tòa án nhân dân, thẩm phán chủ tọa phiên tòa… Trao quyền cho cá nhân, tổ chức không phải trong bộ máy nhà nước: chỉ huy tàu bay, tàu biển khi rời sân bay, bến cảng…

    Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội xác định, có đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh. Do đó mỗi ngành luật khác nhau sẽ có đối tượng điều chỉnh khác nhau và đây chính là tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt các ngành luật với nhau. Để hiểu và phân biệt được Luật hành chính với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải nắm được khái niệm và đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Pháp Luật Trong Đời Sống Xã Hội
  • Học Bảng Tuần Hoàn Hóa Học Từ Phần Mềm Pl Table
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 12
  • 3Pl Là Gì? 4Pl Là Gì? So Sánh Giữa 3Pl Và 4Pl
  • Các Tiêu Chí Đánh Giá Tác Động Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Sự Điều Chỉnh Hành Vi Con Người Của Pháp Luật Mang Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)
  • Chức Năng Của Pháp Luật Và Các Kiểu Pháp Luật Trong Lịch Sử
  • Một Số Đặc Điểm Trong Ý Thức Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Cơ Sở Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Ý Thức Pháp Luật Của Người Dân Việt Nam
  • Ý Thức Pháp Luật Và Pháp Chế
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Một người có lương tâm, có nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, luôn thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức đối và những người khác là người có.
    • Hệ thống các quy tắc chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội là.
    • Một trong những đặc điểm của tình yêu chân chính là
    • Đạo đức là cơ sở để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ, vì sự phát triển của con người là biểu hiện của vai trò nào sau đây?
    • Một cá nhân thường xuyên làm điều trái với đạo đức mà không cảm thấy xấu hổ, hối hận là kẻ
    • Cảm xúc vui sướng của con người khi được thỏa mãn nhu cầu là nội dung khái niệm nào?
    • Đạo đức góp phần hoàn thiện nhân cách con người là biểu hiện vai trò nào sau đây?
    • Tình yêu là một dạng tình cảm đặc biệt của
    • Trách nhiệm của cá nhân đối với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội là nội dung khái niệm
    • Thương người như thể thương thân” là biểu hiện vai trò của đạo đức với
    • Khi một người biết tôn trọng, bảo vệ danh dự của mình thì người đó được coi là có lòng
    • Trăm năm bia đá thì mònNghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” là biểu hiện sức mạnh của
    • Con người cần có lòng tự trọng để bảo vệ
    • Chuẩn mực đạo đức nào sau đây phù hợp với yêu cầu của chế độ XHCN?
    • Việc làm nào sau đây trái với chuẩn mực đạo đức xã hội?
    • Trạng thái cảm giác ăn năn, hối hận, xấu hổ khi vi phạm đạo đức là trạng thái
    • Câu tục ngữ nào sau đây không phản ánh nội dung về nhân phẩm và danh dự?
    • Sự điều chỉnh hành vi con người của pháp luật mang tính
    • Do ghen ghét V được nhiều bạn quý mến, A đã bịa đặt nói xấu bạn trên Facebook. Việc làm này trái với
    • Các chuẩn mực đạo đức Công, dung, ngôn, hạnh” ngày nay có nhiều quan điểm khác xưa, điều này thể hiện các quy tắc, chuẩn mực đạo đức cũng luôn
    • Các nền đạo đức xã hội khác nhau luôn bị chi phối bởi quan điểm và lợi ích của
    • Nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và
    • Câu tục ngữ nào sau đây nói về nhân phẩm?
    • Hãy so sánh đạo đức và pháp luật trong sự điều chỉnh hành vi của con người. Cho ví dụ minh họa.
    • Em hãy lấy ví dụ về danh dự của người học sinh? Bản thân em đã làm gì để giữ gìn danh dự của minh?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Chức Năng Của Luật Hình Sự
  • Văn Bản Quy Phạm Là Nguồn Quan Trọng Nhất Của Pháp Luật Việt Nam
  • Thủ Tục Thay Đổi Người Đại Diện Theo Pháp Luật
  • Đại Diện Theo Pháp Luật Là Gì? Quy Định Theo Luật Hiện Nay!
  • Trách Nhiệm Của Người Đại Diện Theo Pháp Luật Khi Công Ty Bị Thiệt Hại
  • Chức Năng Bảo Vệ Của Protein. Chức Năng Bảo Vệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Protein Và Chức Năng Của Chúng Với Sức Khỏe Như Thế Nào?
  • 7 Loại Bột Protein Tốt Nhất
  • 42 Thực Phẩm Giàu Protein Tăng Cơ Tốt Nhất Cho Người Tập Gym
  • Top 12 Loại Thực Phẩm Giàu Protein Tốt Cho Sức Khỏe
  • 20 Thực Phẩm Giàu Protein, Ngon Miệng Dễ Ăn
  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO KẾT LUẬN

    Τᴀᴋᴎᴍ ᴏϬᴩᴀᴈᴏᴍ, những phẩm chất cá nhân chính của một doanh nhân là: tính độc lập; tham vọng; sự bền bỉ; công việc khó khăn; độ cứng. Sự hiện diện của những đặc điểm tính cách như vậy là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thành công.

    Ngoài những phẩm chất cá nhân, một doanh nhân phải có một tập hợp các kiến u200bu200bthức, kỹ năng và khả năng cụ thể trong lĩnh vực mà anh ta làm việc. Rõ ràng là để thực hiện thành công các giao dịch tài chính, một doanh nhân cần ít nhất một bộ kiến u200bu200bthức tối thiểu trong lĩnh vực tài chính và tín dụng và kế toán, và một người quyết định tổ chức sản xuất đồ nội thất phải có trình độ tối thiểu về kỹ thuật. Tuy nhiên, những hạn chế này không mang tính quyết định. Thường xảy ra trường hợp một doanh nhân nhận được những kiến u200bu200bthức và kỹ năng đặc biệt đã có trong quá trình phát triển doanh nghiệp của mình, và ở giai đoạn đầu tiên, anh ta hành động bằng trực giác hoặc với sự trợ giúp của các chuyên gia thu hút. Cái chính ở đây là mong muốn học hỏi, nâng cao trình độ để cải thiện công việc kinh doanh, và mong muốn đó thuộc về phẩm chất cá nhân (tò mò, kiên trì, tham vọng).

    Việc nghiên cứu tính cách của một doanh nhân bằng các bài kiểm tra tâm lý không chỉ giúp làm rõ một số khía cạnh trong tính cách của anh ta mà còn cho thấy anh ta nên làm việc theo hướng nào để tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh của mình.

    Akperov I. G., Maslikova J. V. Tâm lý học về khởi nghiệp. – M: Tài chính và Thống kê, 2003.

    Zavyalova E. K, Posokhova S. T. Tâm lý học khởi nghiệp: sách giáo khoa. – SPb .: Ed. SPbSU, 2004.

    Meneghetti A. Tâm lý học của Lãnh đạo. – M., 2001. – S. 15.

    Platonov K.K.Sự xây dựng và phát triển nhân cách. – M .: Nauka, 1986.S. 24.

    Tinh thần kinh doanh: Sách giáo khoa / Ed. M.L. Lapusta. – M .: INFRA-M, 2003.

    Steven J. Huấn luyện rồng của bạn. – SPb .: Peter-pss, 1996.

    Shcherbatykh Yu V. Tâm lý học khởi nghiệp và kinh doanh: SGK. – SPb .: Peter, 2008.S. 45.

    Shcherbatykh Yu V. Tâm lý thành công. – M .: Eksmo, 2005.

    Màng nhầy khá mịn

    Bôi với chất nhầy (được sản xuất bởi các tuyến nhầy của màng)

    Chất nhầy – bao bọc m / o, độ nhớt không cho phép xâm nhập vào máu

    · Tích tụ mô bạch huyết – bao gồm các tế bào lympho ở các mức độ trưởng thành khác nhau. Mô bạch huyết hình thành các cụm:

    ü Amidan – nằm ở phần đầu của ống tiêu hóa và hô hấp:

    o Amidan vòm họng – ở hai bên yết hầu

    o Lưỡi – ở khu vực gốc của lưỡi

    o Amidan hầu – m / ở thành trên và thành sau của mũi họng (fornix) dưới hạch lao

    o Amidan ống – gần lỗ yết hầu của ống thính giác

    ü Các nang đơn – nằm dọc theo toàn bộ chiều dài của PT, tổng trọng lượng của chúng khoảng 2 kg;

    ü Các mảng bạch huyết – chứa hàng chục tế bào lympho, chỉ được tìm thấy ở hồi tràng – Các bản vá lỗi của Peyer, số lượng của chúng khoảng 20-30

    ü Ruột thừa – màng nhầy của nó chứa mô bạch huyết. nó amiđan ruột.

    · Sự luân phiên của các môi trường khác nhau trong ống tiêu hóa.

    Với sự suy yếu của các thiết bị bảo vệ, khả năng miễn dịch giảm !!!

    – hóa chất chế biến thực phẩm – Được thực hiện bởi dịch tiêu hóa do tuyến tiêu hóa tiết ra. Trong suốt p.t. có các tuyến:

    Theo kích cỡ:

    Lớn

    Các tuyến nước bọt lớn (mang tai, dưới hàm, dưới lưỡi)

    Gan – sản xuất mật đi vào tá tràng

    Pancreas – dịch tụy, insulin.

    Các tuyến nước bọt nhỏ (âm hộ, hai bên, vòm miệng, ngôn ngữ)

    Tuyến dạ dày

    Các tuyến ruột – trong màng nhầy của ruột non

    Bằng cách bản địa hóa:

    Trong độ dày của màng nhầy

    Nước bọt nhỏ

    Dạ dày

    Các tuyến của hỗng tràng và hồi tràng của ruột non

    Dưới lớp niêm mạc

    Tuyến tá tràng

    Bên ngoài ống tiêu hóa

    Tất cả các tuyến lớn

    Điều trị hóa chất trong khoang miệng – nước bọt, trong dạ dày – dịch vị, 12pc – mật, dịch tụy. và bản thân tuyến là 12pk, trong hỗng tràng và hồi tràng – dưới ảnh hưởng của dịch tiết của chính nó. Quá trình xử lý hóa học kết thúc ở ruột non. Trong ruột già, chất xơ bị phân hủy bởi vi sinh vật (m / s).

    – hấp thụ chất dinh dưỡng – chất dinh dưỡng được hấp thụ vào máu và mạch bạch huyết. Hút bắt đầu:

    Trong khoang miệng (sản phẩm thuốc, rượu)

    Dạ dày (l / s, rượu, chất dinh dưỡng)

    Ruột non là quá trình hấp thụ chính

    Ruột già – chủ yếu là nước được hấp thụ

    Ruột non dài, màng nhầy của nó có:

    1. Các nếp gấp hình tròn, chúng làm tăng bề mặt hút. Các van hình thành trên biên giới giữa các bộ phận

    2. Villi – từ 1,5 đến 4 triệu, chiều cao 1mm, thành rất mỏng.

    3. Crypts – chỗ lõm niêm mạc

    4. Tế bào biểu mô có các tế bào phát triển ngoài – vi nhung mao (lên đến 300 mỗi tế bào).

    Τᴀᴋᴎᴍ ᴏϬᴩᴀᴈᴏᴍ, diện tích của màng nhầy là 1500 m 2.

    Lớp dưới niêm mạc. Bao gồm các mô liên kết lỏng lẻo. Mục đích:

    Cố định màng nhầy vào cơ;

    Cung cấp sự cố định linh hoạt – màng nhầy tạo thành các nếp gấp

    Tàu và dây thần kinh đi qua

    Màng cơ. Được tạo thành bởi mô cơ trơn. Nhưng xung quanh khoang miệng, các cơ của hầu, 1/3 trên của thực quản, phần dưới của trực tràng có vân.

    Lớp cơ của ống tiêu hóa tạo thành hai lớp:

    Dọc – bên ngoài)

    Rút ngắn ống tiêu hóa,

    Làm thẳng các khúc cua

    Chữ thập (hình tròn) – bên trong

    Cung cấp nhu động – thu hẹp lòng ruột giống như sóng

    · Hình thành các cơ vòng – dày cục bộ giữa các phần của PT. (thực quản – dạ dày, dạ dày – 12pc, ruột non – ruột già, ở phần dưới của trực tràng).

    Cơ vòng được củng cố bởi các van – chống lại cơ vòng, màng nhầy tạo thành một nếp gấp hình tròn. Có các đám rối tĩnh mạch ở màng nhầy dưới các van.

    Cơ vòng + Van + Đám rối tĩnh mạch u003d bộ máy đóng.

    Mục đích: ngăn ngừa sự trống rỗng sớm của bộ phận bên trên; ngăn nội dung được quảng bá trở lại.

    Chỉ có dạ dày có ba lớp (+ lớp xiên), vì nó hoạt động như một ổ chứa và trộn thức ăn. Tử cung, bàng quang và tim cũng có ba lớp – bể chứa phải được làm trống hoàn toàn.

    Màng mô liên kết không nằm trong khoang bụng: hầu, thực quản, trực tràng ở ngoài. Bao gồm một vỏ mô liên kết lỏng lẻo:

    Cố định các cơ quan vào xương

    · Kết nối các cơ quan với nhau. Không có khoảng trống giữa các cơ quan, nó chứa đầy các mô liên kết lỏng lẻo

    Cung cấp khả năng di chuyển của các cơ quan – cung cấp khả năng di chuyển chức năng của cơ quan

    Các mạch và dây thần kinh đi qua nó (trong các lớp dân cư)

    Màng thanh dịch – các cơ quan của khoang bụng, được tạo thành bởi phúc mạc. Các mục đích tương tự như vỏ dệt kết nối.

    Chức năng bảo vệ – khái niệm và các loại. Phân loại và tính năng của loại “Chức năng bảo vệ” 2022, 2022.

    Cũng như các đại phân tử sinh học khác (polysaccharid, lipid và axit nucleic), protein là thành phần thiết yếu của tất cả các cơ thể sống và đóng vai trò quyết định trong hoạt động sống của tế bào. Protein thực hiện quá trình trao đổi chất. Chúng là một phần của cấu trúc nội bào – bào quan và tế bào, được tiết ra không gian ngoại bào, nơi chúng có thể hoạt động như một tín hiệu truyền giữa các tế bào, tham gia vào quá trình thủy phân thức ăn và hình thành chất gian bào.

    Việc phân loại protein theo chức năng của chúng khá tùy ý, vì một loại protein và cùng một loại protein có thể thực hiện một số chức năng. Một ví dụ đã được nghiên cứu kỹ về tính đa chức năng này là lysyl-tRNA synthetase, một loại enzyme từ lớp aminoacyl-tRNA synthetase không chỉ gắn một phần dư lysine vào tRNA mà còn điều chỉnh quá trình phiên mã của một số gen. Protein thực hiện nhiều chức năng do hoạt động enzym của chúng. Vì vậy, các enzym là myosin của protein vận động, protein điều hòa của protein kinase, protein vận chuyển natri-kali adenosine triphosphatase, v.v.

    Mô hình phân tử của enzym urease vi khuẩn vi khuẩn Helicobacter pylori

    Chức năng xúc tác

    Chức năng nổi tiếng nhất của protein trong cơ thể là xúc tác các phản ứng hóa học khác nhau. Enzyme là những protein có tính chất xúc tác cụ thể, tức là mỗi enzyme xúc tác một hoặc nhiều phản ứng giống nhau. Enzyme xúc tác các phản ứng phân cắt các phân tử phức tạp (dị hóa) và tổng hợp chúng (đồng hóa), bao gồm sao chép và sửa chữa DNA và tổng hợp chất nền RNA. Đến năm 2013, hơn 5.000.000 enzym đã được mô tả. Sự tăng tốc của phản ứng do xúc tác của enzym có thể rất lớn: ví dụ, phản ứng được xúc tác bởi enzym orotidine-5′-phosphat decarboxylase tiến hành nhanh hơn 10 17 lần so với phản ứng không xúc tác (một nửa phản ứng khử carboxyl của axit orotic là 78 u200bu200btriệu năm mà không có enzym và 18 mili giây với sự tham gia của enzym) Các phân tử gắn vào một enzym và thay đổi do kết quả của phản ứng được gọi là cơ chất.

    Mặc dù thực tế là các enzym thường bao gồm hàng trăm gốc axit amin, chỉ một phần nhỏ trong số chúng tương tác với cơ chất, và thậm chí ít hơn – trung bình 3-4 gốc axit amin, thường nằm xa nhau trong cấu trúc chính – tham gia trực tiếp vào quá trình xúc tác … Phần của phân tử enzyme cung cấp liên kết cơ chất và xúc tác được gọi là vị trí hoạt động.

    Năm 1992, Liên minh Quốc tế về Hóa sinh và Sinh học phân tử đề xuất phiên bản cuối cùng của danh pháp phân cấp của các enzym dựa trên loại phản ứng mà chúng xúc tác. Theo danh pháp này, tên enzyme phải luôn kết thúc bằng: aza và bắt nguồn từ tên của các phản ứng được xúc tác và chất nền của chúng. Mỗi enzym được gán một mã riêng để dễ dàng xác định vị trí của nó trong hệ thống phân cấp enzym. Theo loại phản ứng được xúc tác, tất cả các enzym được chia thành 6 lớp:

    • CF 1: Các chất oxy hóa xúc tác phản ứng oxy hóa khử;
    • CF 2: Chuyển giao xúc tác cho việc chuyển các nhóm hóa học từ phân tử cơ chất này sang phân tử cơ chất khác;
    • CF 3: Các hydrolaza xúc tác quá trình thủy phân các liên kết hóa học;
    • CF 4: Các chất xúc tác xúc tác sự phá vỡ các liên kết hóa học mà không bị thủy phân với sự hình thành của một liên kết đôi trong một trong các sản phẩm;
    • CF 5: Isomerase xúc tác sự thay đổi cấu trúc hoặc hình học trong phân tử cơ chất;
    • CF 6: Các chất xúc tác xúc tác sự hình thành các liên kết hóa học giữa các chất nền bằng cách thủy phân liên kết diphosphat của ATP hoặc một triphosphat tương tự.

    Chức năng cấu trúc

    Thêm chi tiết: Chức năng cấu trúc của protein, Protein dạng sợi

    Các protein cấu trúc của tế bào, như một loại phần ứng, tạo hình dạng cho tế bào và nhiều bào quan và tham gia vào việc thay đổi hình dạng của tế bào. Hầu hết các protein cấu trúc là dạng sợi: ví dụ, các monome actin và tubulin là các protein hình cầu, hòa tan, nhưng sau khi trùng hợp, chúng tạo thành các sợi dài tạo nên bộ xương tế bào, giúp tế bào duy trì hình dạng của nó. Collagen và elastin là thành phần chính của chất gian bào của mô liên kết (ví dụ, sụn), và tóc, móng tay, lông chim và một số vỏ được cấu tạo từ một protein cấu trúc khác, keratin.

    Chức năng bảo vệ

    Thêm chi tiết: Chức năng bảo vệ của protein

    Có một số loại chức năng bảo vệ của protein:

    1. Bảo vệ bằng hóa chất. Sự liên kết của chất độc với các phân tử protein có thể giải độc chúng. Một vai trò đặc biệt quyết định trong việc giải độc ở người là do các enzym gan phân hủy chất độc hoặc chuyển chúng thành dạng hòa tan, góp phần đào thải chúng ra khỏi cơ thể nhanh chóng.

    Chức năng điều tiết

    Thêm chi tiết: Chất hoạt hóa (protein), Proteasome, Chức năng điều tiết của protein

    Nhiều quá trình bên trong tế bào được điều chỉnh bởi các phân tử protein, chúng không phải là nguồn năng lượng cũng như vật liệu xây dựng cho tế bào. Các protein này điều chỉnh sự tiến triển của tế bào thông qua chu kỳ tế bào, phiên mã, dịch mã, nối, hoạt động của các protein khác và nhiều quá trình khác. Chức năng điều hòa của protein được thực hiện do hoạt động của enzym (ví dụ, protein kinase), hoặc do liên kết cụ thể với các phân tử khác. Do đó, các yếu tố phiên mã, protein hoạt hóa và protein kìm hãm có thể điều chỉnh cường độ phiên mã gen bằng cách liên kết với trình tự điều hòa của chúng. Ở mức độ dịch mã, việc đọc nhiều mRNA cũng được điều chỉnh bởi sự gắn các yếu tố protein.

    Protein kinase và protein phosphatase đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa các quá trình nội bào – các enzym kích hoạt hoặc ngăn chặn hoạt động của các protein khác bằng cách gắn hoặc phân cắt các nhóm photphat vào chúng.

    Chức năng tín hiệu

    Thêm chi tiết: Chức năng truyền tín hiệu protein, Nội tiết tố, Cytokine

    Chức năng truyền tín hiệu của protein là khả năng của protein đóng vai trò là chất truyền tín hiệu, truyền tín hiệu giữa các tế bào, mô, cơ quan và sinh vật. Chức năng truyền tín hiệu thường được kết hợp với chức năng điều hòa, vì nhiều protein điều hòa nội bào cũng thực hiện việc truyền tín hiệu.

    Chức năng truyền tín hiệu được thực hiện bởi các protein-Hormon, Cytokine, các yếu tố tăng trưởng, v.v.

    Hormone được vận chuyển bởi máu. Hầu hết các kích thích tố động vật là protein hoặc peptit. Sự gắn kết của một hormone với thụ thể của nó là một tín hiệu kích hoạt phản ứng của tế bào. Hormone điều chỉnh nồng độ các chất trong máu và tế bào, tăng trưởng, sinh sản và các quá trình khác. Một ví dụ về các protein như vậy là insulin, chất này điều chỉnh nồng độ glucose trong máu.

    Các tế bào tương tác với nhau bằng cách sử dụng các protein tín hiệu truyền qua chất ngoại bào. Những protein này bao gồm, ví dụ, cytokine và các yếu tố tăng trưởng.

    Cytokine là các phân tử tín hiệu peptide. Chúng điều chỉnh sự tương tác giữa các tế bào, xác định sự tồn tại của chúng, kích thích hoặc ngăn chặn sự tăng trưởng, biệt hóa, hoạt động chức năng và quá trình chết rụng, đảm bảo sự phối hợp hoạt động của hệ thống miễn dịch, nội tiết và thần kinh. Một ví dụ về cytokine là yếu tố hoại tử khối u, truyền tín hiệu viêm giữa các tế bào trong cơ thể.

    Chức năng vận chuyển

    Thêm chi tiết: Chức năng vận chuyển protein

    Các protein hòa tan tham gia vào quá trình vận chuyển các phân tử nhỏ phải có ái lực (ái lực) cao đối với cơ chất khi nó có mặt ở nồng độ cao, và dễ giải phóng ở những nơi có nồng độ cơ chất thấp. Một ví dụ về protein vận chuyển là hemoglobin, mang oxy từ phổi đến các mô còn lại và carbon dioxide từ các mô đến phổi, và ngoài ra, các protein tương đồng với nó, được tìm thấy trong tất cả các giới sinh vật sống.

    Một số protein màng tham gia vào việc vận chuyển các phân tử nhỏ qua màng tế bào, làm thay đổi tính thấm của nó. Thành phần lipid của màng không thấm nước (kỵ nước), ngăn cản sự khuếch tán của các phân tử (ion) phân cực hoặc tích điện. Các protein vận chuyển màng thường được chia nhỏ thành protein kênh và protein vận chuyển. Các protein kênh chứa các lỗ rỗng chứa đầy nước bên trong cho phép các ion (qua kênh ion) hoặc phân tử nước (qua protein aquaporin) di chuyển qua màng. Nhiều kênh ion chỉ chuyên vận chuyển một ion; ví dụ, kênh kali và kênh natri thường phân biệt giữa các ion tương tự này và chỉ cho phép một trong số chúng đi qua. Các protein mang liên kết, giống như các enzym, mỗi phân tử hoặc ion được vận chuyển và, không giống như các kênh, có thể thực hiện vận chuyển tích cực bằng cách sử dụng năng lượng của ATP. “Nhà máy của tế bào” – ATP synthase, tổng hợp ATP bằng cách sử dụng một gradient proton, cũng có thể là do các protein vận chuyển màng.

    Chức năng dự phòng (sao lưu)

    Những protein này bao gồm cái gọi là protein dự trữ, được dự trữ như một nguồn năng lượng và chất trong hạt thực vật (ví dụ, globulin 7S và 11S) và trứng động vật. Một số loại protein khác được sử dụng trong cơ thể như một nguồn cung cấp các axit amin, chúng là tiền chất của các chất hoạt động sinh học điều hòa các quá trình trao đổi chất.

    Chức năng thụ cảm

    Thêm chi tiết: Thụ thể tế bào

    Các thụ thể protein có thể nằm cả trong tế bào chất và được kết hợp vào màng tế bào. Một phần của phân tử thụ thể nhận biết một tín hiệu, thường là một chất hóa học, và trong một số trường hợp, ánh sáng, hành động cơ học (ví dụ, kéo căng) và các kích thích khác. Khi một tín hiệu được áp dụng cho một phần nhất định của phân tử – protein thụ thể – thì sự thay đổi cấu trúc của nó sẽ xảy ra. Kết quả là, cấu trúc của một phần khác của phân tử truyền tín hiệu đến các thành phần tế bào khác thay đổi. Có một số cơ chế truyền tín hiệu. Một số thụ thể xúc tác một phản ứng hóa học cụ thể; những kênh khác đóng vai trò là các kênh ion mở hoặc đóng khi được kích hoạt bởi một tín hiệu; vẫn còn những người khác liên kết đặc biệt với các phân tử truyền tin nội bào. Trong các thụ thể màng, phần của phân tử liên kết với phân tử truyền tín hiệu nằm trên bề mặt của tế bào, và miền truyền tín hiệu nằm bên trong.

    Chức năng động cơ (động cơ)

    Toàn bộ lớp protein vận động cung cấp các chuyển động của cơ thể, ví dụ, co cơ, bao gồm vận động (myosin), chuyển động của tế bào trong cơ thể (ví dụ, chuyển động của bạch cầu amip), chuyển động của lông mao và roi và ngoài ra, vận chuyển nội bào tích cực và có định hướng (kinesin, dynein ). Dynein và kinesin vận chuyển các phân tử dọc theo các vi ống bằng cách sử dụng thủy phân ATP như một nguồn năng lượng. Dynein chuyển các phân tử và bào quan từ các phần ngoại vi của tế bào đến trung thể, kinesin – theo hướng ngược lại. Dynein cũng chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của lông mao và lông roi của sinh vật nhân chuẩn. Các biến thể tế bào chất của myosin có thể tham gia vào việc vận chuyển các phân tử và bào quan dọc theo các vi sợi.

    Protein là nền tảng của tất cả các cơ thể sống. Chính những chất này đóng vai trò là thành phần cấu tạo nên màng tế bào, các bào quan, sụn, gân, sừng… Tuy nhiên, chức năng bảo vệ của protein là một trong những chức năng quan trọng nhất.

    Protein: đặc điểm cấu trúc

    Cùng với lipit, cacbohydrat và axit nucleic, prôtêin là những chất hữu cơ tạo nên cơ sở của cơ thể sống. Tất cả chúng đều là chất tạo màng sinh học tự nhiên. Các chất này được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc lặp lại. Chúng được gọi là monome. Đối với protein, các đơn vị cấu trúc đó là các axit amin. Kết nối trong chuỗi, chúng tạo thành một đại phân tử lớn.

    Mức độ tổ chức không gian của protein

    Một chuỗi 20 axit amin có thể tạo thành nhiều cấu trúc khác nhau. Đây là những cấp độ tổ chức hoặc cấu trúc không gian được thể hiện bằng một chuỗi axit amin. Khi nó chuyển thành hình xoắn ốc, một cái thứ cấp sẽ xuất hiện. Cấu trúc bậc ba phát sinh khi cấu trúc trước đó bị xoắn lại thành một cuộn dây hoặc hình cầu. Nhưng cấu trúc tiếp theo là phức tạp nhất – Đệ tứ. Nó bao gồm một số hạt cầu.

    Tính chất protein

    Nếu cấu trúc bậc bốn bị phá hủy đến cấu trúc sơ cấp, cụ thể là chuỗi axit amin, thì một quá trình xảy ra được gọi là biến tính. Nó có thể đảo ngược. Chuỗi axit amin có khả năng hình thành lại các cấu trúc phức tạp hơn. Nhưng khi sự phá hủy xảy ra, tức là sự phá hủy của chính không còn có thể được phục hồi. Quá trình này là không thể đảo ngược. Việc tiêu hủy được thực hiện bởi mỗi chúng ta khi anh ta chế biến nhiệt các sản phẩm bao gồm protein – trứng gà, cá, thịt.

    Hàm protein: bảng

    Phân tử protein rất đa dạng. Điều này quyết định một loạt các khả năng của chúng, đó là do Chức năng của protein (bảng chứa thông tin cần thiết) là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của các sinh vật sống.

    Protein là chất xây dựng nên mọi cấu trúc của cơ thể: từ màng tế bào đến cơ và dây chằng.

    Collagen, fibroin

    Chức năng bảo vệ của protein trong cơ thể

    Như bạn có thể thấy, các chức năng của protein rất đa dạng và quan trọng là ý nghĩa của chúng. Nhưng chúng tôi đã không đề cập đến một trong số họ. Chức năng bảo vệ của protein trong cơ thể là ngăn chặn sự xâm nhập của các chất lạ có thể gây hại đáng kể cho cơ thể. Nếu điều này xảy ra, các protein chuyên biệt có thể khiến chúng trở nên vô hại. Những chất bảo vệ này được gọi là kháng thể hoặc globulin miễn dịch.

    Quá trình hình thành miễn dịch

    Với mỗi hơi thở, vi khuẩn và vi rút gây bệnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Chúng xâm nhập vào máu, nơi chúng bắt đầu sinh sôi tích cực. Tuy nhiên, một trở ngại đáng kể cản đường họ. Đây là các protein huyết tương – các globulin miễn dịch hoặc kháng thể. Chúng đặc biệt và được đặc trưng bởi khả năng nhận biết và trung hòa các chất và cấu trúc lạ với cơ thể. Chúng được gọi là kháng nguyên. Đây là cách chức năng bảo vệ của protein được biểu hiện. Các ví dụ về nó có thể được tiếp tục với thông tin về interferon. Protein này cũng chuyên biệt và nhận dạng virus. Chất này thậm chí còn là cơ sở của nhiều loại thuốc kích thích miễn dịch.

    Do sự hiện diện của các protein bảo vệ, cơ thể có thể chống lại các phần tử gây bệnh, tức là anh ta phát triển khả năng miễn dịch. Nó có thể là bẩm sinh và mắc phải. Tất cả các sinh vật đều được ban tặng cho những sinh vật đầu tiên ngay từ khi mới sinh ra, nhờ đó mà sự sống có thể có được. Và một trong những mắc phải xuất hiện sau khi chuyển giao các bệnh truyền nhiễm khác nhau.

    Bảo vệ cơ học

    Protein thực hiện chức năng bảo vệ, trực tiếp bảo vệ tế bào và toàn bộ cơ thể khỏi căng thẳng cơ học. Ví dụ, động vật giáp xác đóng vai trò của một lớp vỏ, bảo vệ tất cả các vật bên trong một cách đáng tin cậy. Xương, cơ và sụn là nền tảng của cơ thể, và không chỉ ngăn ngừa tổn thương các mô và cơ quan mềm mà còn đảm bảo chuyển động của nó trong không gian.

    Các cục máu đông

    Quá trình đông máu cũng là một chức năng bảo vệ của các protein. Có thể do sự hiện diện của các tế bào chuyên biệt – tiểu cầu. Khi các mạch máu bị tổn thương, chúng sẽ bị phá hủy. Kết quả là fibrinogen huyết tương được chuyển thành dạng không hòa tan – fibrin. Đây là một quá trình phức tạp của enzym, do đó các sợi fibrin thường rất đan xen vào nhau và tạo thành một mạng lưới dày đặc ngăn máu chảy ra ngoài. Nói cách khác, một cục máu đông hoặc huyết khối hình thành. Đây là phản ứng tự vệ của cơ thể. Trong cuộc sống bình thường, quá trình này kéo dài tối đa là mười phút. Nhưng với – bệnh máu khó đông, chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới, một người có thể tử vong ngay cả khi bị thương nhẹ.

    Tuy nhiên, nếu cục máu đông hình thành bên trong mạch máu, nó có thể rất nguy hiểm. Trong một số trường hợp, điều này thậm chí dẫn đến vi phạm tính toàn vẹn của nó và xuất huyết nội tạng. Trong trường hợp này, thuốc được khuyến khích, ngược lại, thuốc làm loãng máu.

    Bảo vệ hóa chất

    Chức năng bảo vệ của protein cũng được thể hiện trong cuộc chiến chống lại các tác nhân gây bệnh. Và nó đã bắt đầu trong khoang miệng. Khi ở trong đó, thức ăn gây ra phản xạ chảy nước bọt. Cơ sở của chất này là nước, các enzym phân hủy polysaccharid và lysozyme. Nó là chất cuối cùng có tác dụng vô hiệu hóa các phân tử có hại, bảo vệ cơ thể khỏi các tác động tiếp theo của chúng. Nó cũng được chứa trong màng nhầy của đường tiêu hóa, và trong dịch lệ rửa giác mạc của mắt. Lysozyme được tìm thấy với số lượng lớn trong sữa mẹ, dịch nhầy mũi họng và lòng trắng trứng gà.

    Vì vậy, chức năng bảo vệ của protein được thể hiện chủ yếu trong việc trung hòa các phần tử vi khuẩn và vi rút trong máu của cơ thể. Nhờ đó, anh phát triển khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Nó được gọi là khả năng miễn dịch. Protein, là một phần của khung bên ngoài và bên trong, bảo vệ các thành phần bên trong khỏi bị hư hại cơ học. Và các chất protein có trong nước bọt và các môi trường khác ngăn cản các tác nhân hóa học tác động lên cơ thể. Nói cách khác, chức năng bảo vệ của protein là cung cấp các điều kiện cần thiết cho tất cả các quá trình quan trọng.

    Các chức năng sau đây thuộc về các chức năng sinh học chính và theo một nghĩa nào đó, là các chức năng sinh học độc đáo của protein, không bình thường hoặc chỉ vốn có một phần trong các loại chất tạo màng sinh học khác.

    Chức năng cấu trúc (hỗ trợ)

    Các sợi collagen có chức năng nâng đỡ. (Kính hiển vi điện tử)

    Protein thực hiện các chức năng cấu trúc là loại protein chiếm ưu thế trong cơ thể con người. Các protein sợi tạo thành chất mô liên kết – collagen, elastin (trong thành mạch của các mạch loại đàn hồi), keratin (trong da và các dẫn xuất của nó), proteoglycan.

    Chức năng enzym (xúc tác)

    Tất cả các enzym là protein quyết định tốc độ phản ứng hóa học trong hệ thống sinh học. Nhưng đồng thời, có dữ liệu thực nghiệm về sự tồn tại của ribozyme, tức là axit ribonucleic có hoạt tính xúc tác, và abzyme – và các kháng thể đơn và đa dòng.

    Thụ thể và chức năng nội tiết tố

    Chức năng vận chuyển

    Chỉ có protein mới thực hiện việc vận chuyển các chất trong máu, ví dụ như lipoprotein (chuyển chất béo), hemoglobin (vận chuyển oxy), transferrin (vận chuyển sắt). Protein vận chuyển các cation canxi, magiê, sắt, đồng và các ion khác trong máu.

    Sự vận chuyển các chất qua màng được thực hiện bởi các protein – Na +, K + -ATPase (chuyển dịch xuyên màng ngược chiều của ion natri và kali), Ca 2+ -ATPase (bơm ion canxi ra khỏi tế bào), chất vận chuyển glucose.

    Chức năng dự trữ (dinh dưỡng)

    Chức năng này được thực hiện bởi cái gọi là protein dự trữ. Một ví dụ về protein lắng đọng là sự sản xuất và tích tụ albumin trứng (ovalbumin) trong trứng. Động vật và con người không có kho chuyên dụng như vậy, nhưng trong thời gian đói kéo dài, protein của cơ, cơ quan lympho, mô biểu mô và gan được sử dụng. Protein chính trong sữa (casein) cũng chủ yếu là dinh dưỡng.

    Chức năng co lại

    Có một số protein nội bào được thiết kế để thay đổi hình dạng của tế bào và sự chuyển động của chính tế bào hoặc các bào quan của nó. Vai trò chính trong các quá trình di chuyển được thực hiện bởi actin và myosin – các protein cụ thể của mô cơ, và tubulin protein của tế bào, đảm bảo các quá trình nhỏ nhất của hoạt động sống của tế bào – sự phân kỳ của nhiễm sắc thể trong quá trình nguyên phân.

    Chức năng bảo vệ

    Chức năng của protein trong máu

    Trong việc điều hòa hàm lượng protein huyết tương ở một mức độ nhất định, gan có tầm quan trọng rất lớn, là cơ quan tổng hợp hoàn toàn fibrinogen và albumin máu, hầu hết các α- và β-globulin, các tế bào của hệ thống lưới nội mô của tủy xương và các hạch bạch huyết.

    Một chức năng bảo vệ vật lý tương tự được thực hiện bởi các protein cấu trúc tạo nên thành tế bào của một số nguyên sinh vật (ví dụ, tảo xanh Chlamydomonas) và capsid của virus.

    Các chức năng bảo vệ vật lý của protein bao gồm khả năng đông máu, được cung cấp bởi protein fibrinogen có trong huyết tương. Fibrinogen không màu; khi máu bắt đầu đông lại, nó bị phân cắt bởi một enzym [[throm, sau khi phân cắt, một monomer được hình thành – fibrin, đến lượt nó, nó sẽ trùng hợp và rơi ra thành các sợi trắng). Fibrin, kết tủa, làm cho máu không lỏng mà sền sệt. Trong quá trình đông máu bởi protein nền – sau khi đã tạo thành kết tủa, từ các sợi tơ huyết của fibrin và hồng cầu, khi fibrin bị nén lại sẽ tạo thành cục huyết khối màu đỏ đậm.

    Chức năng bảo vệ hóa chất

    Interferon cũng thuộc về các protein bảo vệ của hệ thống miễn dịch. Các protein này được tạo ra bởi các tế bào bị nhiễm virus. Tác động của chúng lên tế bào lân cận cung cấp khả năng kháng vi rút bằng cách ngăn chặn sự nhân lên của vi rút hoặc sự tập hợp của các phần tử vi rút trong tế bào đích. Interferon cũng có các cơ chế hoạt động khác, ví dụ, chúng ảnh hưởng đến hoạt động của tế bào lympho và các tế bào khác của hệ thống miễn dịch.

    Chức năng bảo vệ tích cực

    Chất độc protein động vật

    Sóc cũng có thể dùng để tự vệ trước những kẻ săn mồi hoặc tấn công con mồi. Các protein và peptit như vậy được tìm thấy trong nọc của hầu hết các loài động vật (ví dụ, rắn, bọ cạp, bọ cạp, v.v.). Các protein chứa trong chất độc có cơ chế hoạt động khác nhau. Vì vậy, nọc của rắn viper thường chứa enzyme phospholipase, chất này gây phá hủy màng tế bào và kết quả là gây tan máu và xuất huyết. Chất độc thần kinh chiếm ưu thế trong chất độc của tro; Ví dụ, chất độc của kraits có chứa các protein α-bungarotoxin (một chất ngăn chặn các thụ thể nicotinic đối với acetylcholine và β-bungarotoxin (gây ra sự giải phóng liên tục acetylcholine từ các đầu dây thần kinh và do đó làm cạn kiệt nguồn dự trữ); hoạt động kết hợp của các chất độc này gây ra tử vong do liệt cơ.

    Chất độc protein của vi khuẩn

    Chất độc protein của vi khuẩn – độc tố botulinum, độc tố tetanospasmin do mầm bệnh uốn ván tạo ra, độc tố bạch hầu của tác nhân gây bệnh bạch hầu, độc tố bệnh tả. Nhiều loại trong số chúng là một hỗn hợp của một số protein với các cơ chế hoạt động khác nhau. Một số độc tố vi khuẩn có bản chất protein là chất độc rất mạnh; các thành phần của độc tố botulinum – chất độc nhất trong số các chất tự nhiên đã biết.

    Độc tố của vi khuẩn gây bệnh thuộc giống Clostridium, rõ ràng, vi khuẩn kỵ khí bắt buộc phải ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật nói chung, để dẫn đến cái chết – điều này cho phép vi khuẩn kiếm ăn và nhân lên với sự “không bị trừng phạt”, và, khi đã tăng dân số lên rất nhiều, để lại cơ thể ở dạng bào tử.

    Ý nghĩa sinh học của độc tố của nhiều vi khuẩn khác không được biết chính xác.

    Chất độc protein của thực vật

    Trong thực vật, các chất không có bản chất protein (ancaloit, glicozit,…) thường được dùng làm chất độc. Tuy nhiên, thực vật cũng chứa độc tố protein. Vì vậy, hạt thầu dầu (cây thuộc họ euphorbia) có chứa độc tố protein ricin. Chất độc này xâm nhập vào tế bào chất của tế bào ruột và tiểu đơn vị enzym của nó, tác động lên ribosome, ngăn chặn dịch mã một cách không thể đảo ngược.

    Liên kết

    Quỹ Wikimedia. Năm 2010.

    Xem “Chức năng bảo vệ của protein” trong các từ điển khác là gì:

      Thuật ngữ này có các nghĩa khác, xem Protein (định vị). Protein (prôtêin, polypeptit) là những chất hữu cơ cao phân tử bao gồm các axit amin alpha liên kết trong chuỗi bằng liên kết peptit. Trong cơ thể sống … … Wikipedia

      Tinh thể của nhiều loại protein khác nhau được nuôi cấy trên trạm vũ trụ Mir và trong các chuyến bay của tàu con thoi NASA. Các protein được tinh chế cao ở nhiệt độ thấp tạo thành các tinh thể, được sử dụng để thu được mô hình của loại protein này. Protein (protein, … … Wikipedia

      I Da (cutis) là một cơ quan phức tạp, là lớp vỏ bên ngoài của cơ thể động vật và con người, thực hiện các chức năng sinh lý khác nhau. GIẢI PHẪU VÀ LỊCH SỬ Ở người, diện tích bề mặt của K. là 1,5 2 m2 (tùy theo chiều cao, giới tính, … … Bách khoa toàn thư y học

      Mô lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn của người và động vật; đảm bảo hoạt động quan trọng của các tế bào và mô và việc thực hiện các chức năng sinh lý khác nhau của chúng. Một trong những chức năng chính của K. là vận chuyển các chất khí (O2 từ các cơ quan … …

      GAN – (Nerag), một tuyến phân thùy lớn của cơ thể động vật, tham gia vào các quá trình tiêu hóa, trao đổi chất, tuần hoàn máu, duy trì sự nội môi. môi trường của cơ thể. Nằm ở phía trước của khoang bụng ngay phía sau … …

      I Dạ dày là một bộ phận mở rộng của đường tiêu hóa, trong đó thực hiện quá trình xử lý hóa học và cơ học của thức ăn. Cấu tạo của dạ dày động vật. Phân biệt tuyến, hoặc tiêu hóa, Zh., Trong thành của chúng chứa … … Bách khoa toàn thư Liên Xô vĩ đại

      MÁU – Hình ảnh hiển vi về máu – gia súc, lạc đà, ngựa, cừu, lợn, chó. Hình ảnh hiển vi của máu – gia súc (I u003eu003e), lạc đà (II), ngựa (III), cừu (IV), lợn (V), chó (VI): 1 – … … Từ điển bách khoa thú y

      Giải phẫu người bình thường (có hệ thống) là một phần của giải phẫu người nghiên cứu cấu trúc của “bình thường”, tức là một cơ thể người khỏe mạnh về hệ thống cơ quan, bộ phận và mô. Nội tạng là một bộ phận của cơ thể có hình dạng và thiết kế nhất định, … … Wikipedia

      I (sanguis) là một mô lỏng thực hiện việc vận chuyển các chất hóa học (bao gồm cả oxy) trong cơ thể, nhờ đó diễn ra quá trình tích hợp các quá trình sinh hóa diễn ra trong các tế bào và không gian gian bào khác nhau thành một hệ thống duy nhất … Bách khoa toàn thư y học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Bảo Vệ Protein. Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Thực Phẩm Chức Năng Amway
  • Bài 6. Axit Nucleic Bai Axitnucleic Ppt
  • Vận Chuyển Các Chất Qua Màng Sinh Chất Van Chuyen Cac Chat Qua Msc Chuyen Ngay 1610 Pptx
  • Các Chức Năng Sharepoint Và Onedrive Mới Giúp Thúc Đẩy Sử Chuyển Đổi Kỹ Thuật Số Của Bạn
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Là Học Sinh, Sinh Viên Em Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Phải Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Ở Mỗi Gia Đình, Khu Dân Cư Và Nơi Công Cộng?
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Gì? Những Cách Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH TRÌ

    TRƯỜNG MẦM NON XÃ YÊN MỸ

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Đề tài:

    Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môI trường

    thông qua các hoạt động cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

    ở trường mầm non yên mỹ

    Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo.

    Tên tác giả : Trần Thị Tuyết Nhung.

    Chức vụ : Giáo viên.

    Năm học 2012-2013

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    “Tất cả vì một thế giới ngày mai – Hãy chung tay bảo vệ môi trường”.

    Môi trường là nơi nuôi dưỡng con người cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng cũng chính con người trong quá trình tồn tại và phát triển đã khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Mỗi năm trên thế giới có hàng vạn người chết vì các loại dịch bệnh do nguồn nước bị ô nhiễm và môi trường mất vệ sinh gây ra. Một trong các nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Vì vậy, hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề cấp bách,có tính chiến lược toàn cầu.

    ” Giữ gìn vệ sinh môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống là trách nhiệm của mỗi chúng ta”. Mỗi chúng ta ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe đối với bản thân, không có sức khỏe con người sống đâu- còn ý nghĩa. “Người khỏe mạnh thì có trăm điều ước, người đau ốm thì chỉ ước một điều” chắc hẳn ai cũng đoán được điều ước đó là có sức khoẻ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để mỗi người đều có một sức khỏe tốt, ngoài những yếu tố về dinh dưỡng, thể dục thể thao tinh thần thoải mái thì môi trường sống trong sạch đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Vậy môi trường sống trong sạch là gì?Làm thế nào để có môi trường trong sạch? Mỗi chúng ta đã đóng góp được gì để cho môi trường ngày càng trong sạch hơn? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của mỗi cá nhân chúng ta.

    Ngày nay, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học và được quan tâm ngay từ bậc học đầu tiên: ” Giáo dục mầm non”.

    Giáo dục bảo vệ môi truờng cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường. Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường là hình thành cho trẻ có thói quen tốt biết sắp xếp đồ dùng đồ chơi trong lớp và ngoài trời gọn gàng ngăn nắp, biết bỏ rác đúng nơi qui định, biết chăm sóc cây xanh và chăm sóc con vật nuôi, hình thành cho trẻ có thái độ thiện cảm bảo vệ môi trường, biết được hành vi xấu như vứt rác bừa bãi nơi công cộng, vẽ bẩn lên tường, dẫm đạplên cây xanh…Bên cạnh đó giúp cho các bậc phụ huynh và cộng đồng có kiến thức cơ bản về giáo dục bảo vệ môi trường và tích cực tham gia vào các hoạt động làm ” Xanh- sạch – đẹp” cho đất nước và cho thế hệ mai sau

    Trên thực tế,ở trường mầm non xã Yên Mỹ nói chung và lớp mẫu giáo lớn (A2) nói riêng vấn đề giáo dục môi trường cho trẻ mầm non còn hạn chế, chưa phát huy hết được việc cho trẻ hiểu về môi trường, được quan sát, tiếp cận, làm các trải nghiệm thực tiễn.Ở lớp, tôi nhận thấy có một số phụ huynh chưa quan tâm đến vấn đề môi trường của trường/ lớp, gia đình. Còn học sinh thì chưa tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như: vệ sinh thân thể, sắp xếp đồ dùng đồ chơi, giữ gìn lớp học sạch sẽ, chăm sóc cây, thu gom lá, rác thải ngoài sân trường…Ví dụ như ăn kẹo hoặc ăn bánh xong không vứt ngay

    vỏ vào thùng rác mà vứt dấu vào một xó kín đáo hay nhìn thấy vỏ bim bim, vỏ hộp sữa ngoài sân trường không nhặtbỏ vào thùng rác đúng nơi qui định…

    Là một giáo viên hàng ngày đang trực tiếp giáo dục những thế hệ tương lai của đất nước, tôi nhận ra một điều thật quan trọng trong công việc của mình là cần phải giáo dục cho trẻ ngay từ bậc học mầm noný thức bảo vệ môi trường. Điều này là vô cùng quan trọng trong đời sống của trẻ sau này, vì khi trẻ có

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Của Doanh Nghiệp
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Chuyên Đề: Bảo Vệ Môi Trường Du Lịch
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Phát Triển Du Lịch Ở Nghệ An
  • Các Công Nghệ Bảo Vệ Môi Trường “made In Vn”
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Bài 14 Trang 46 Gdcd Lớp 7: Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên
  • Các Biện Pháp Giúp Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Rác Thải Trong Nhà Hàng, Quán Ăn?
  • Chính Sách Bảo Vệ Môi Trường Trong Hoạt Động Kinh Doanh Khách Sạn
  • Dùng Công Cụ Kinh Tế Để Tạo Đột Phá Trong Bảo Vệ Môi Trường
  • : Sau khi tập thể dục buổi sáng xong, tôi cho trẻ rửa tay bằng xà phòng để giữ gìn vệ sinh cá nhân phòng tránh các dịch bệnh và giáo dục trẻ phải sử dụng nước tiết kiệm sau khi sử dụng để trẻ biết được bảo vệ giữ gìn vệ sinh cá nhân, sử dụng nguồn tài nguyên nước tiết kiệm cũng là bảo vệ môi trường.

    Tôi luôn giúp trẻ hiểu biết về môi trường xung quanh trẻ: Lớp, trường, gia đình, làng xóm. Phân biệt được môi trường sạch và môi trường bẩn . Tôi chuẩn bị: Hai chậu nước như nhau sau đó tôi cho trẻ rửa tay chỉ sử dụng trong một chậu. Sau khi trẻ rửa tay xong, tôi cho trẻ quan sát lại hai chậu nước và so sánh để trẻ biết được đâu là nước sạch, đâu là nước bẩn giúp trẻ ý thức được cách giữ vệ sinh cơ thể. Từ đó, trẻ có ý thức phải giữ cho môi trường được sạch sẽ như không vứt rác, vứt đồ chơi bừa bãi, tham gia vệ sinh lau chùi sắp xếp đồ chơi ngăn nắp, bỏ rác vào thùng rác, biết đi vệ sinh đúng nơi qui định, giữ sạch sẽ nhà vệ sinh và rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, tiết kiệm nước trong sinh hoạt hàng ngày, không để vòi nước chảy liên tục, thấy nước chảy tràn biết khoá vòi lại, giữ gìn đồ chơi. Trẻ có ý thức trong chăm sóc bảo vệ cây cối như tưới cây, làm cỏ. Khi cho trẻ tìm hiểu về môi trường tự nhiên tôi giải thích cho trẻ thấy được lợi ích và tác hại của gió, nắng, mưa. Các biện pháp tránh nắng, tránh gió, tránh mưa, không ngồi lâu chỗ có gió lùa, mặc ấm khi có gió rét,…

    Tôi xây dựng góc thiên nhiên phong phú, trong đó tôi trồng nhiều loại cây tạo điều kiện cho trẻ tham quan thực tế qua hoạt động phát triển nhận thức trẻ có thể tìm hiểu thêm về sự sinh trưởng của cây từ lúc ươm hạt, nẩy mầm, cho đến lúc cây phát triển giúp trẻ yêu thiên nhiên và giờ học của trẻ thêm sinh động. Tôi giáo dục cho trẻ lòng yêu thiên nhiên biết chăm sóc và bảo quản, giữ gìn môi trường xung quanh trẻ.

    hoạt động phát triển nhận thức: Cô cho trẻ làm thí nghiệm trồng cây con, thông qua đó giáo dục trẻ biết ích lợi của cây đối với đời sống của con người như là che bóng mát, giảm bụi, tiếng ồn, cho gỗ làm nhà, cho hoa để trang trí tạo cảnh đẹp, cho quả để ăn và một số cây còn dùng để làm thuốc chữa được nhiều bệnh, ngoài ra cây rừng còn giúp cản gió, bão, ngăn chặn lũ lụt.

    Nhìn thấy các tranh ảnh có mình, trẻ rất thích đến xem từ đó mà tôi phối hợp với cha mẹ trẻ giáo dục trẻ phải có ý thức giữ gìn trường, lớp sạch đẹp những cháu có ý thức tốt sẽ được tôi nêu gương trước các bạn trong mỗi tuần trẻ rất vui và các bạn trong lớp thấy được đó là hành vi tốt nên cũng thực hiện theo,…Chính vì muốn được nêu gương trẻ phải phấn đấu thực hiện tốt việc bảo vệ trường lớp xanh- sạch- đẹp. Dần dần, tôi hình thành được cho trẻ ý thức biết bảo vệ môi trường ngay tại trường, lớp của mình. Từ đó sẽ dễ dàng hình thành cho trẻ ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. Tôi cũng tuyên truyền để cha mẹ trẻ biết để động viên trẻ thực hiện tốt hơn và nhắc nhở trẻ phát huy hơn thực hiện cả khi ở nhà, ở nơi công cộng.

    : Cha mẹ phải chú ý đến trẻ, khi ăn quà bánh xong trẻ phải biết bỏ rác đúng nơi quy định, không vứt rác xuống sông, ao hồ, luôn giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ, nhà cửa luôn được sạch sẽ thoáng mát và phải luôn nhắc nhở trẻ thường xuyên, tạo tình huống cho trẻ thực hành. Muốn làm được điều đó thì cha mẹ phải là người làm gương cho trẻ,… Ví dụ: Cháu ,… thường sắp xếp các đồ dùng của lớp ngăn nắp, trẻ luôn nhắc nhở các bạn phải bỏ rác đúng nơi, khi thấy rác trẻ tự nhặt rác và bỏ vào thùng rác, biết chăm sóc cây xanh. Vì vậy việc giáo dục cho trẻ có ý thức tốt về bảo vệ môi trường cũng rất cần sự kết hợp của cha mẹ trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Tại Khu Du Lịch Hải Tiến
  • Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Giải Pháp Quản Lý Và Khắc Phục Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Hướng Dẫn Lập Cam Kết Kế Hoạch Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Nhiều Giải Pháp Bảo Vệ, Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Quyền Trẻ Em Và Bảo Vệ Trẻ Em
  • Nhiều Giải Pháp Bảo Vệ Trẻ Em
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Bảo Vệ Trẻ Em Trước Những Nguy Cơ Bị Xâm Hại
  • Thực Hiện Tốt Các Giải Pháp Để Bảo Vệ, Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Em
  • Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Trẻ Em, Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng, Chống Xâm Hại, Bạo Lực Trẻ Em
  • Những năm qua các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể luôn quan tâm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, đưa công tác trẻ em vào chương trình, kế hoạch hành động nhằm tạo cho trẻ được phát triển toàn diện, bảo đảm cho mọi trẻ em được hưởng các quyền cơ bản như học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, có môi trường sống an toàn, lành mạnh. Đặc biệt luôn dành sự quan tâm đến trẻ em nghèo, trẻ em hoàn cảnh đặc biệt để các em được sống, được đến trường, được hòa nhập và phát triển.

    Trao đổi về vấn đề chăm sóc, giáo dục học sinh, cô giáo Trần Thị Hải, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hà Đông, cho biết: Cùng với chú trọng trang bị kiến thức cơ bản cho học sinh, nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động như: Rung chuông vàng, nụ cười trẻ thơ, tìm hiểu kiến thức an toàn giao thông; tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em tại các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ và các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp; phát động nuôi lợn nhựa hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh bị bệnh tim, khuyết tật… tạo động lực để các em cố gắng, nỗ lực vươn lên trong học tập.

    Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh hiện có 898.970 trẻ em dưới 16 tuổi, chiếm gần 25% dân số. Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt dù đã giảm dần qua các năm nhưng vẫn còn cao với 40.453 trẻ, chiếm 4,5% trên tổng số trẻ em và hơn 90.000 trẻ có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Trẻ em đã được hưởng những chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước quy định, các quyền của trẻ em quy định trong Luật Trẻ em cơ bản đã được thực hiện, đời sống vật chất, tinh thần của trẻ em được cải thiện, các hoạt động vui chơi giải trí của trẻ em được đẩy mạnh. Trẻ em đã được nâng cao về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Bên cạnh đó, các chương trình, mục tiêu của địa phương về công tác trẻ em luôn được triển khai một cách nghiêm túc và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tính đến cuối năm 2022 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đạt 16,8%, thể thấp còi đạt 27%; 100% trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ BHYT. Tỷ lệ trẻ đi học mẫu giáo đúng tuổi đạt 95,7%, tiểu học đạt 99%, THCS đạt 94,62% và tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp THCS đạt 98%. 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp bằng các hình thức khác nhau; 100% trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực được hỗ trợ, can thiệp kịp thời.

    Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong tỉnh ngày càng được quan tâm hơn, quyền của trẻ em ngày càng được khẳng định và bảo vệ. Tuy nhiên, tình trạng xâm hại trẻ em, trẻ em bị tai nạn thương tích vẫn còn xảy ra và diễn biến phức tạp. Việc huy động nguồn lực để bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ em còn hạn chế. Hệ thống cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp huyện, xã chưa đồng bộ, còn kiêm nhiệm. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã cũng gây khó khăn trong công tác theo dõi tình hình trẻ em và bố trí cán bộ làm công tác trẻ em tại cơ sở. Trong khi công tác thông tin, báo cáo ở một số đơn vị còn chậm; phần mềm quản lý thông tin trẻ em tại cơ sở hoạt động chưa ổn định; một số gia đình chưa rõ trách nhiệm trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chưa tạo điều kiện đúng mức cho trẻ em để tham gia các hoạt động đảm bảo quyền của trẻ em; thiếu kiến thức, kỹ năng bảo vệ con em trước những tai nạn thương tích, xâm hại, bạo lực.

    Để đạt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong năm 2022, thời gian tới các địa phương tiếp tục tăng cường các hoạt động nâng cao nhận thức, trách nhiệm; tăng cường quản lý Nhà nước của các cấp, các ngành đối với công tác bảo đảm quyền trẻ em, tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em. Thực hiện tốt quy trình bảo vệ trẻ em từ khâu phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; phát hiện, can thiệp sớm các trường hợp có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt đến khâu hỗ trợ phục hồi, tái hòa nhập. Xử lý nghiêm các hành vi gây tổn hại đến trẻ em…

    Bài và ảnh: Mai Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Vịnh Hạ Long
  • Bắc Ninh: Yên Phong Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Hà Nội Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Xử Lý Ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi: Còn Nhiều Gian Nan
  • Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Mầm Non Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5
  • Chính Sách Của Nhà Nước Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Môi Trường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Lớp 3
  • sáng kiến kinh nghiệm mầm non hay sáng kiến kinh nghiệm mầm non 2012 sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn văn học sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn toán sáng kiến kinh nghiệm mầm non 4-5 tuổi sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn tạo hình sáng kiến kinh nghiệm mầm non của cán bộ quản lý sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn âm nhạc sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn chữ cái

    Biện pháp giáo dục trẻ mầm non bảo vệ môi trường

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    “Tổ quốc Việt Nam xanh ngỏt

    Có sạch đẹp mãi được không

    Điều đó tựy thuộc hoạt động của bạn

    Chỉ thuộc vào bạn mà thụi”

    Mỗi chúng ta ai còng nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe đối với bản thân, không có sức khỏe con người sống đâu- còn ý nghĩa. “Người khỏe mạnh thì có trăm điều ước, người đau ốm thì chỉ ước một điều” chắc hẳn ai còng đoán được điều ước đó là có sức khoẻ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để mỗi người đều có một sức khỏe tốt, ngoài những yếu tố về dinh dưỡng, thể dục thể thao tinh thần thoải mái thì môi trường sống trong sạch đóng mét vai trò vô cùng quan trọng. Vậy môi trường sống trong sạch là gì?Làm thế nào để có môi trường trong sạch? Mỗi chúng ta đã đóng góp được gì để cho môi trường ngày càng trong sạch hơn? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của mỗi cá nhân chúng ta.

    Còn sử dụng tiết kiệm năng lượng là như thế nào?

    Năng lượng ngày nay bị con người khai thác và sử dụng một cách cạn kiệt, kéo theo nã là hệ quả làm kinh tế xã hội chậm phát triển. Sử dụng tiết kiệm năng lượng một công việc khó khăn, nhưng nú thực sự cần cố gắng, yêu cầu và trách nhiệm đối với hành tinh nay để hành động đó trở thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân.

    Đó có nhiều hồi chuụng cảnh báo về vấn đề ô nhiễu môi trường và tiết kiệm năng lượng. Là một giáo viên hàng ngày đang trực tiếp giáo dục những thế hệ tương lai của đất nước, tôi nhận ra mét điều thật quan trọng trong công việc của mình là cần phải giáo dục cho trẻ ngay tõ bậc học mầm noný thức bảo vệ môi trường và sử dụng năng lượng tiết kiệm. Điều này là vô cùng quan tọng trong đời sống của trẻ sau này, vì khi trẻ có ý thức bảo vệ môi trường và sử dụng nhiên liệu tiết kiệm thì ý thức đó sẽ khắc sâu vào cuộc sống của trẻ, qua đó tạo nền tảng hình thành nhân cách cho trẻ vững chắc sau này. Nhận thức rõ trách nhiệm của mét cô

    giáo mầm non ngay từ đầu năm học tôi đã lựa chọn đề tài: “Mụt số biện pháp giáo dục trẻ mầm non bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng”.

    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1. Thuận lợi:

    * CSVC: Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo của giáo viên, luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện thực hiện các hoạt động cho trẻ.

    – Môi trường lớp học sạch sẽ, thoáng mát, trang thiết bị của trường khá đầy đủ nên cho trẻ một môi trường học tập tốt.

    * Giáo viên: Hai giáo viên đứng lớp đều có trình độ Đại học, Cao đẳng, nhiệt tình, yêu trẻ.

    – Bản thân nắm chắc phương pháp dạy học, luôn trau dồi kiến thức học hỏi kinh nghiệm của chị em trong trường để nâng cao trình độ chuyên môn.

    – Luôn tham gia dù giờ kiến tập do trường, quận tổ chức

    – Luôn có sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu trong kế hoạch lịch trình khi thực hiện chuyên đề.

    2. Khó khăn:

    – Lớp học chật, số trẻ trong lớp đông.

    – Hầu hết trẻ trong lớp là con đầu lòng nên được cha mẹ cưng chiều. Mét sè cháu còn hay nghỉ học nh­: Gia Hân, Bảo Ngọc, Ngọc Hảo, Anh dũng… nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức.

    – Trẻ còn chưa có ý thức bảo vệ môi trường.

    – Mét sè phụ huynh nhận thức về việc bảo vệ môi trường còn hạn chế.

    3. số liệu điều tra trước khi thực hiện:

    – Nắm bắt được tình hình thực tế của lớp, tôi quyết định tìm ra biện pháp giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường. Bước đầu khảo sát kết quả cho thấy:

    Qua cuộc khảo sát tôi nhận thấy rằng trẻ có kiến thức trong việc bảo vệ môi trường còn chưa đồng đều, còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường được xác định là mét trong các nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành trong quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.

    Tõ thực tế trên tôi đã bàn bạc giáo viên cùng lớp thống nhất về phương pháp và đưa ra nhiều biện pháp thực hiện rèn trẻ có mét sè kinh nghiệm hiệu quả nhất.

    III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    Nói đến bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nú có vẻ cao siêu với trẻ mầm non, nhưng nú không hề khó khi ta áp dụng chỉ đơn giản là lồng ghép qua các hoạt động hàng ngày của trẻ giúp trẻ “Học mà chơi, chơi mà học”.

    1. Biện pháp 1: Phát hiện cuộc thi bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng ngay tại lớp học.

    Không những thế chúng tôi còn tạo ra những biển báo “Cấm” hay biển báo đơn giản nhưng gần gũi với trẻ để trẻ có thể nhìn vào và có thể biết đó là biển báo gì. Từ đó mà trẻ đến lớp có thể thực hiện đúng nội quy quy định của từng góc chơi. Hàng ngày những trẻ nào làm được mụt việc tốt thì sẽ được cắm vào băng bé ngoan.

    Thông qua các hoạt động hàng ngày trẻ được “Học mà chơi, chơi mà học” được củng cố lại kiến thức qua đó hình thành những nề nếp, thói quen tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách tốt đẹp.

    2. Biện pháp 2: Tuyên truyền vận động phô huynh cùng tham gia giáo dục trẻ.

    Ở lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đang học kèm người lớn. Chính vì vậy, mà người lớn luôn luôn là tÊm gương sáng cho trẻ noi theo.

    Vào những giờ hoạt động ngoài trời tôi thường trò chuyện cùng trẻ về Ých lợi của cây xanh như cây xanh đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ bầu khí quyển, làm cho không khí trong lành, cây xanh còn cung cấp cho trẻ nhiều hoa thơm quả ngọt,

    làm giảm ô nhiễm môi trường, giảm bôi, tiếng ồn… cung cấp cho con người thức ăn, thuốc chữa bệnh, cây xanh của rừng còn giúp ngăn chặn lũ lụt.

    Bên cạnh đó, trẻ còn biết tận dụng các chiếc lá vàng, cây cổ trong vườn. Chúng tôi hướng dẫn trẻ làm ra những con vật gần gũi như: con mèo, con trâu… hay cho trẻ chơi bán hàng, nấu ăn, làm nón, quần áo… hay hướng dẫn trẻ tạo ra các sản phẩm tạo hình. Qua đó chúng tôi giáo dục trẻ lòng yêu thiên nhiên biết chăm sóc, bảo quản, giữ gìn môi trường thiên nhiên mà mình đang sống.

    Ngoài ra, tôi còn chuẩn bị nhiều loại hạt như: hạt đỗ, ngô, lạc… những loại hạt dễ nảy mầm để trẻ dễ thực hành tra hạt và theo dõi sự nảy mầm và phát triển của cây. Khi cây lớn trẻ chăm sóc cây như thế nào để cây cho quả, từ đó giáo dục trẻ biết thành quả lao động của con người.

    3. Biện pháp 3: Tích hợp lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng trong hoạt động học.

    Đối với lĩnh vực khám phá khoa học và xã hội như “Tỡm hiểu công việc của cô lao cụng”, chúng tôi thường cho trẻ xem hình ảnh cô lao công ngày đêm quét rác trên đường phố làm cho đường phố thêm sạch đẹp, từ đó trẻ luôn có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường lớp học sạch sẽ.

    Hay bài “Sử dụng và tiết kiệm điện” chúng tôi cho trẻ biết điện là nguồn năng lượng phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của con người nhưng khi sử dụng còng cần phải biết tiết kiệm điện, mọi người phải biết tắt điện khi rời khỏi phòng hay giáo dục trẻ không tự ý sờ vào ổ điện. Hay bài “Một sè con vật sống dưới nước” tôi đã cho trẻ quan sát bể cá, sau đó tôi đặt câu hỏi để trẻ biết về mét sè đặc điểm và lợi Ých của cá. Tôi thường đặt câu hỏi. Điều gì xảy ra khi vớt cá lên khỏi nước? Vì sao? Để kích thích trẻ đưa ra các giải quyết một vấn đề. Qua đó giáo dục trẻ bảo vệ nguồn nước, giữ nguồn nước sạch để loài động vật luôn sống được.

    Tôi nhận thấy rằng giáo dục bảo vệ môi trường có mối liên hệ khăng khít với bộ môn âm nhạc. Kết hợp giáo dục âm nhạc vào bảo vệ môi trường giúp trẻ có hứng thú học tập đồng thời kích thích khả năng ghi nhớ, củng cố rất nhiều kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường. Trẻ biết thể hiện các bài hát nhẹ nhàng, tình cảm, đúng giai điệu lời ca, không hát quá to.

    – Ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ còng góp phần quan trong trong việc giúp trẻ làm quen với giữ gìn bảo và bảo vệ môi trường. chúng ta biết rằng văn học là người bạn không thể thiếu đối với trẻ mầm non. Nã giúp trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, đặc biệt phát triển ngôn ngữ mạch lạc, khả năng nhận thức và hình thành nhân cách cho trẻ. Do vậy, ở lớp tôi việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ tôi đã thường xuyên, kết hợp với môn văn học.Thông qua các bài thơ, câu chuyện tôi đã dạy cho trẻ đọc diễn cảm, nhẹ nhàng, không la hét to. từ đó, trẻ cảm nhận được về nội dung về thiên nhiên tươi đẹp, những việc làm có Ých, có hại cho môi trường trẻ sẽ nhận ra đâu là việc tốt đối với môi trường và trẻ hành động cho phù hợp.

    Bên cạnh dú, tôi thường sưu tầm, sáng tạo thơ ca, câu thơ, hò vè có nội dung bảo vệ môi trường để dạy trẻ.

    4. Biện pháp 4: Dạy trẻ bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động khác:

    * Tôi nhận thấy rằng hoạt động góc chính là phương tiện giúp trẻ phát triển toàn diện, đặc biệt là hình thành nhân cách cho trẻ sau này. Thông qua hoạt động

    trẻ phản ánh lại cuộc sống môi trường xung quanh trẻ, mô phỏng lại những hành động quen thuộc của người lớn mà trẻ đã thấy, đã biết. Chính vì vậy, khi cho trẻ hoạt động góc tôi hướng dẫn, gợi mở cho trẻ rõ ràng, chi tiết để trẻ hoạt động tích cực và luôn chuẩn bị đồ dùng đồ chơi phong phó, đa dạng nhằm thu hút trẻ chơi. Đặc biệt tôi luôn lưu ý, kết hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong hoạt động một cách phù hợp để qua đó trẻ có được hiểu biết và có được ý thức tốt khi tham gia bảo vệ môi trường.

    – Tôi cho trẻ được cùng nhau làm đồ dùng, đồ chơi mầm non từ các nguyên vật liệu thiên nhiên, các phế liệu, từ đó trẻ rất hứng thú hoạt động và biết quý trọng các sản phẩm do mình làm ra.

    – Thông qua các trò chơi phân vai trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm công tác bảo vệ môi trường như trồng cây, chăm sóc cây, thu gom rác trong trò chơi “Bộ tập làm nội trợ” tôi chú ý dạy trẻ có ý thức tiết kiệm nước, chế biến món ăn, thu dọn đồ dùng đoàng hoàng sau khi chế biến.

    Thông qua các trò chơi học tập tôi dạy trẻ cách tìm hiểu các hiện tượng trong môi trường, trẻ học cách so sánh, phân loại các hành vi tốt, hành vi xấu đối với môi trường, phân biệt môi trường sạch, môi trường bẩn và tìm ra nguyên nhân thông qua các trò chơi đóng kịch: trẻ thể hiện nội dung các câu chuyện bảo vệ môi trường, thể hiện các hành vi có lợi và hành vi có hại cho môi trường thông qua các trò chơi vận động. Trẻ mô tả các hành vi bảo vệ môi trường hoặc làm hại cho môi trường: động tác cuốc đất trồng cây, tưới nước, bắt sâu là hành vi có lợi cho môi trường, còn động tác gây tổn hại cho môi trường là chặt cây, dẫn lên cỏ, đốt rừng, săn bắt chim thú.

    * Thông qua các hoạt động ngoài trời

    Hoạt động ngoài trời là hoạt động cần phải đảm bảo tính tích cực hoạt động của trẻ làm giàu và củng cố kiến thức cho trẻ về môi trường xung quanh, giáo dục cho trẻ những thói quen hành vi với mình nơi công cộng. Qua hoạt động tôi cho trẻ được quan sát cây cối, các loại hoa, các loại rau… giúp cho trẻ biết gieo hạt chăm

    sóc và bảo vệ cây, không hái hoa bẻ cành, quét dọn vệ sinh sân trường bằng những dông cụ làm bằng đồ phế thải trẻ rất vui thích và hứng thú hoạt động.

    VD: Tôi cho trẻ quan sát về các loại rau ở trong vườn trường trẻ sẽ được nói lên những gì mà trẻ thấy đặc điểm của các loại rau, lợi Ých của chóng nh­ thế nào? Làm thế nào để chúng ta có rau ăn hàng ngày? Nếu không tưới nước và nhổ cỏ cho rau thì chuyện gì sẽ xảy ra? Vì sao?… Với những câu hỏi mở như vậy trẻ sẽ đưa ra ý kiến của mình từ đó trẻ thể hiện tính độc lập cá nhân, mạnh bạo hơn, tự tin hơn. Đồng thời kích thích được tính ham hiểu biết của trẻ.

    Như vậy, khi trẻ tham gia hoạt động ngoài trời kiến thức sẽ được khắc sâu trẻ học mà không biết là mình đang học. Đó sẽ là nền tảng để trẻ trở thành một tuyên truyền viên tốt về chăm sóc và bảo vệ cây xanh cũng như môi trường xung quanh trẻ.

    * Thông qua hoạt động lao động

    Ngoài hoạt động học chúng tôi thường xuyên giao nhiệm vụ cho trẻ qua bảng phân công trực nhật hàng ngày.

    Trẻ biết giúp cô lau dọn giá đồ dùng, đồ chơi, biết xắp xếp đồ dùng đúng nơi quy định. Trẻ biết lau lá cây và chăm sóc cây xanh. từ đó, trẻ biết yêu thiên nhiên yêu lao động.

    5. Biện pháp 5: Thông qua ngày hội, ngày lễ

    Vào những ngày hội ngày lễ chúng tôi thường cho trẻ đóng kịch hát múa có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.

    Trẻ rất hứng thú khi được hũa mình vào những nhân vật.

    IV. KÕT QUẢ

    Giáo dục trẻ mầm non bảo vệ môi trường là một điều vô cùng quan trọng. Qua đó trẻ có mét số vốn kiến thức, thói quen khá tốt đối với môi trường sống.Qua mét thời gian triển khai đề tài tôi đã tiến hành khảo sát cho thấy kết quả nh­sau:

    STT Nội dung tiêu chí khảo sát Sè trẻ đạt % So với đầu năm tăng

    1 Biết chăm sóc và bảo vệ cây

    2 Biết giữ gìn trật tự vệ sinh công cộng, vệ sinh trường lớp

    3 Biết cất dọn đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định

    4 Không vứt rác ra đường, biết gom rác vào thùng rác

    5 Không la hét to

    6 Phân biệt được những hành động đúng và hành động sai đối với môi trường và tiết kiệm năng lượng

    7 Biết tiết kiệm nước khi sử dụng 8 Nhắc nhở người lớn tiết kiệm điện

    * Về phía trẻ: Khích lệ được trí tưởng tượng sự tò mò của trẻ. Trẻ học hứng thú hơn không những trong HĐH mà trong hoạt động góc còng thu hút được nhiều trẻ hơn.

    – Trẻ rất thích tham gia làm đồ dùng đồ chơi từ các nguyên liệu.

    – Trẻ có hứng thú học, tiếp thu kiến thức nhanh.

    – Trẻ yêu lao động và tạo ra cái đẹp

    – Có ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng.

    * Về phía giáo viên: Nâng cao hình thức đổi mới, tổ chức giờ học, giờ chơi sinh động hấp dẫn hơn.

    – Tham gia tập huấn đầy đủ nắm chắc nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, vận động các phương pháp phù hợp gắn với cuộc sống thực của trẻ. Hình thành cho trẻ những hành vi thái độ bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng.

    V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    Tõ việc làm cụ thể và những kết quả đã đạt được tôi thấy rằng trong công tác giảng dạy đòi hỏi người giáo viên mầm non ngoài lòng yêu nước mến trẻ còn cần có trình độ chuyên môn, năng lượng sư phạm, cần cù, nhẫn lại, ham học hỏi. Hiểu được tâm lý của trẻ giúp trẻ hình thành nhân cách biết lựa chọn những thói quen tốt loại bỏ những thói quen xấu, làm tiền đê để trẻ tự tin cùng bạn bè bước vào lớp 1.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Sinh Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Luôn Xanh Sạch Đẹp?
  • Sáng Kiến Kinh Ngiệm Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Trường Thcs Băng Adrênh Thông Qua Các Hoạt Động Của Đội Tntp Hồ Chí Minh
  • Cần Nâng Cao Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Sinh Viên Học Sinh
  • Biện Pháp Thiết Thực Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường
  • Học Sinh, Sinh Viên Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Xanh Sạch Đẹp?
  • Chức Năng Của Thận Và Các Phương Pháp Bảo Vệ Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuốc Bổ Thận Vitatree Kidney Tonic Bổ Thận Nam, Hộp 100 Viên
  • Suy Thận Là Bệnh Gì?
  • Kiến Thức Yhct Tại Hà Tĩnh
  • Cấu Trúc Của Tế Bào Nhân Sơ
  • Màng Nguyên Sinh – Cấu Trúc Của Tế Bào Vi Khuẩn
  • Thận là cơ quan tạo thành và bài xuất nước tiểu loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, giúp chúng ta khỏe mạnh và duy trì sự sống; đồng thời đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng khác thông qua các cơ chế chủ yếu là: lọc máu ở cầu thận; tái hấp thu nước, bài tiết ở ống thận; sản xuất một số chất trung gian như renin, erythro protein, calcitonin… giúp hỗ trợ chức năng nội tiết, tham gia quá trình điều hóa huyết áp, tạo hồng cầu giúp không bị thiếu máu. Do đó, bảo vệ để các chức năng của thận diễn ra là điều vô cùng cần thiết, vì chỉ cần thận suy yếu, các tạng khác trong cơ thể cũng sẽ suy yếu theo.

    Hỗ trợ điều trị và cải thiện chức năng của thận

    Chế độ dinh dưỡng

    Nên hạn chế ăn các thực phẩm:

    • Hạn chế ăn các thực phẩm giàu chất đạm như hải sản, thịt lợn, thịt da cầm, trứng, sữa…chỉ bổ sung từ 150-200g mỗi ngày.

    • Tránh sử dụng quá nhiều muối, ăn nhạt hoàn toàn nếu bị phù

    • Tránh các thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh, đồ nướng, rán, vì các thực phẩm này đều giàu natri, sử dụng nhiều sẽ không tốt cho thận

    • Hạn chế thực phẩm giàu kali và phốt-pho như: cam, chuối, nho, hạt điều, hạt dẻ, socola, pho-mat, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, đậu đỗ…

    Thức ăn nên dùng:

    • Chất bột (khoai lang, khoai sọ, sắn, miến dong);

    • Chất đường (đường, mía, mật ong, hoa quả ngọt);

    • Chất béo (có thể ăn khoảng 30-40g một ngày, ưu tiên chất béo thực vật);

    • Bổ sung canxi (sữa), bổ sung vitamin (nhóm B, C, acid folic…).

    • Ăn nhiều rau xanh, củ quả…

    Ngoài ra, theo Erin Sundermann, chuyên khoa dinh dưỡng tại Đại học Y California San Diego School, một số loại quả có khả năng sản sinh Estrogen và điều hòa hoạt động của nội tiết tố giúp tăng cường chức năng thận ở nữ giới như đậu xanh, dưa chuột, cà chua, cà rốt. Còn ở nam giới nên ăn nhiều mật ong, trứng, hàu… để thận luôn khỏe mạnh.

    Nước uống: người bị chức năng thận suy giảm nên sử dụng lượng nước uống hàng ngày = 500ml + lượng nước tiểu hàng ngày (tổng nước uống + nước canh trong bữa ăn…); hạn chế đồ uống có ga, cồn (bia, rượu…)

    Thường xuyên luyện tập, vận động, thực hiện các bài tập giúp khỏe thận

    Tập luyện là một cách giúp giảm huyết áp đồng thời tăng cường hoạt động của hệ tuần hoàn. Thận phải đảm bảo nhiệm vụ lọc máu cho cả cơ thể nên chịu áp lực rất lớn. Do đó, khi thận yếu sẽ khiến cơ thể có cảm giác mệt mỏi, uể oải.

    Theo Debby Herbenick, dược sĩ học kiêm tư vấn viên y khoa tại Đại học Indiana (Mỹ) cho hay, có đến 114 lít máu bơm qua thận mỗi ngày. Do vậy, người bị chức năng thận suy giảm nên thường xuyên đi bộ, đi xe đạp hoặc vận động ngoài trời. Những bài tập này giúp tăng cường lưu thông huyết áp, gia tăng hiệu quả làm việc của thận, đồng thời giảm những vấn đề về cơ khớp.

    Bổ sung các sản phẩm thảo dược, giúp tăng cường chức năng của thận

    Bên cạnh việc chú trong chế độ dinh dưỡng và luyện tập, người bị chức năng thận suy giảm cần lưu ý chú trọng tìm hiểu và sử dụng thêm các sản phẩm chức năng hỗ trợ điều trị thận có nguồn gốc từ thảo dược thiên nhiên. Đặc biệt, những người bị thận yếu mắc chứng tiểu đêm từ 2 lần/đêm hoặc mắc các bệnh có nguy cơ dẫn đến suy thận như sỏi thận, cao huyết áp (tăng xông, lên máu), đái tháo đường (tiểu đường)…

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10+ Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận Tốt Nhất 2022 Đừng Bỏ Qua
  • Bệnh Nhân Lọc Thận Nhân Tạo Cần Biết
  • Phân Biệt Độ Lọc Cầu Thận Và Hệ Số Thanh Thải Của Thận
  • Kiểm Tra Thận Cần Làm Xét Nghiệm Gì Cho Kết Quả Chính Xác?
  • Hướng Dẫn 9 Cách Kiểm Tra Và Đánh Giá Chức Năng Thận Suy Yếu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100