Top 3 # Chức Năng Của Phòng Marketing Trong Doanh Nghiệp Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tìm Hiểu 6 Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Marketing Trong Doanh Nghiệp

Marketing là gì?

Marketing có nghĩa là gì?

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ Marketing. Nhiều người cho rằng Marketing chính là tiếp hội Marketing Mỹ – AMA: “Marketing là một hệ thống tổng thể các hoạt động của tổ chức được thiết kế nhằm hoạch định, đặt giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức”.

Hiểu rộng ra, Marketing chính là tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc lên ý tưởng sản xuất hàng hóa/ dịch vụ cho tới triển khai sản xuất và chiến lược kinh doanh tiêu thụ sao cho sản phẩm bán chạy nhất, tạo ra doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.

Như vậy có thể thấy rằng, phòng Marketing chính là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa sản xuất và tiêu thụ.

6 chức năng nhiệm vụ của phòng Marketing trong doanh nghiệp

Có thể khẳng định, phòng Marketing là một trong những bộ phận chủ chốt đóng vai trò quan trọng. Ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống còn của doanh nghiệp hiện nay. Bộ phận này mang 5 chức năng, nhiệm vụ cụ thể như sau.

Nghiên cứu và dự báo thị trường

Nhiệm vụ đầu tiên cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất trong 5 chức năng nhiệm vụ của phòng Marketing chính là nghiên cứu, tìm hiểu thị trường. Thu thập toàn bộ thông tin thị trường có nhu cầu ra sao, sức tiêu thụ như thế nào. Từ đó xác định phạm vi thị trường cho các sản phẩm hiện tại và đưa ra dự báo nhu cầu của sản phẩm hàng hóa mới, hướng tiêu thụ…

Triển khai chương trình phát triển sản phẩm mới

Quá trình phát triển sản phẩm mới cần phải trải qua 8 giai đoạn cơ bản sau (Theo Philip Kotler và Gary Armstrong):

Bước 1: Hình thành ý tưởng về sản phẩm

Bước 2: Sàng lọc ý tưởng về sản phẩm

Bước 3: Phát triển và thử nghiệm mô hình sản phẩm mới

Bước 4: Ước tính lợi nhuận sẽ đạt được khi triển khai sản phẩm này.

Bước 5: Phát triển chiến lược Marketing sẽ áp dụng cho sản phẩm.

Bước 6: Phát triển và cải tiến sản phẩm

Bước 7: Bán thử nghiệm trên thị trường.

Bước 8: Tiến hành thương mại hóa sản phẩm, bán đại trà.

Khi sản phẩm đã được hình thành với mô hình phát triển lý tưởng, chiến lược Marketing sẽ được triển khai với các công việc cụ thể gồm:

Xác định thị trường mục tiêu mà sản phẩm hướng tới: Khách hàng chủ chốt là ai? Họ có đặc điểm gì? (Về nhân khẩu học: vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp,…)

Xây dựng kế hoạch Marketing Mix: giá cả, hệ thống phân phối, Promotion…

Xây dựng kế hoạch bán hàng, hoạch định mục tiêu lợi nhuận dài hạn cho doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích mức độ hài lòng của thị trường với sản phẩm hiện tại, bộ phận Marketing sẽ đề ra chương trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới. Cải tạo, hoàn thiện sản phẩm hiện tại sao cho phù hợp nhất với thị hiếu của người tiêu dùng. Từ sản phẩm cho tới bao bì sản phẩm…

Phân khúc thị trường, xác định mục tiêu và định vị thương hiệu

Thông qua việc phân khúc thị trường, các Maketer chuyên nghiệp sẽ nhìn thấy cơ hội phát triển trong từng nhóm khách hàng khác nhau. Từ đó nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm cùng loại, nhưng công dụng, bao bì và giá thành khác nhau… nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của từng đối tượng khách hàng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu, phân khúc thị trường đúng cũng là tiền đề để doanh nghiệp xây dựng chiến lược thị trường chung. Doanh nghiệp sẽ biết đâu là phân khúc thị trường mình nên chú trọng phát triển.

Tuy nhiên, nếu chọn sai thị trường chiến lược, toàn bộ kế hoạch kinh doanh sẽ khó lòng thành công. Bởi có thể thị trường quá lớn so với khả năng của doanh nghiệp. Hoặc doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh với các đối thủ mạnh trong cùng phân khúc.

Chính vì vậy, phân khúc thị trường, xác định mục tiêu, định vị thương hiệu chính là nền tảng để Maketer nhận định, đánh giá thị trường. Đồng thời theo dõi diễn biến thị trường để đưa ra những thay đổi trong kế hoạch, đón đầu nhu cầu thị trường và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Phát triển sản phẩm mới

Nhu cầu tiêu dùng liên tục theo từng thời điểm, từng đối tượng cụ thể. Vì vậy, nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới nhằm: đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của người tiêu dùng, bắt kịp công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới…

Tuy nhiên, việc tung ra thị trường sản phẩm mới sẽ gặp khá nhiều rủi ro. Do đó, bộ phận Marketing cần có chiến lược ra mắt thị trường sản phẩm mới sao cho đỡ tốn kém, hạn chế tối đa những rủi ro, tổn thất có thể gặp phải cho doanh nghiệp.

Xây dựng và triển khai chiến lược Marketing

Chiến lược Marketing sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chiến lược tốt, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, tạo ra doanh thu, hạn chế tổn thất. Nhưng nếu chiến lược Marketing không bài bản, rõ ràng, tầm nhìn ngắn hạn, việc tung ra sản phẩm mới bị thất bát là điều khó tránh khỏi.

Do vậy, phòng Marketing có nhiệm vụ lập kế hoạch, định hướng rõ ràng không chỉ nhằm mục tiêu thấu hiểu khách hàng mà còn phải quảng bá ra thị trường sản phẩm cũng như thế mạnh của doanh nghiệp.

Quan hệ với báo chí truyền thông

Đây cũng là một trong những chức năng nhiệm vụ của phòng Marketing thời kỳ 4.0. Chuyên viên Marketing có nhiệm vụ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với cơ quan báo chí, truyền thông để doanh nghiệp luôn được ưu tiên hàng đầu.

Hạn chế tối đa những hiểu lầm, xung đột với phóng viên. Bởi mối quan hệ này sẽ tác động không nhỏ tới sự phát triển của doanh nghiệp. Nếu không may có những bất đồng, hãy giải quyết bằng sự chân thành để tìm được tiếng nói chung.

Thực tế cho thấy, rất nhiều khủng hoảng truyền thông xảy ra do bộ phận Marketing xử lý chưa khéo léo, hiệu quả. Dẫn tới sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bị tẩy chay. Thiệt hại về mặt kinh tế là điều khó tránh khỏi.

Lời Kết

Có thể thấy, Marketing là một bộ phận quan trọng không thể thiếu ở tất cả các doanh nghiệp. Tùy vào quy mô từng doanh nghiệp mà chức năng nhiệm vụ của phòng Marketing cũng có sự điều chỉnh cho phù hợp. Đầu tư cho phòng Marketing đúng, đủ sẽ giúp doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Mục Tiêu Của Trưởng Phòng Marketing Trong Doanh Nghiệp

Trưởng Phòng Marketing chịu trách nhiệm quản lý bộ phận marketing của doanh nghiệp. Mục tiêu công việc của Trưởng Phòng Marketing thường được xác định dựa trên trách nhiệm chính và các nhiệm vụ mà họ phụ trách.

MỤC LỤC: I. Vai trò của Trưởng Phòng Marketing trong doanh nghiệp II. Mục tiêu của Trưởng Phòng Marketing 1. Tiến hành nghiên cứu thị trường 2. Phát triển chiến lược marketing 3. Quản trị quan hệ khách hàng 4. Quản lý nhân sự 5. Xác định các cơ hội kinh doanh mới III. Công việc Trưởng Phòng Marketing là làm gì?

Tầm quan trọng của trưởng phòng Marketing đối với doanh nghiệp

I. Vai trò của Trưởng Phòng Marketing trong doanh nghiệp

II. Mục tiêu của Trưởng Phòng Marketing

Mục tiêu hàng đầu của Trưởng Phòng Marketing là quản lý tốt bộ phận marketing do mình phụ trách, phát triển thương hiệu công ty theo hướng tích cực, tăng độ nhận diện thương hiệu, ra mắt thành công sản phẩm/dịch vụ mới và hỗ trợ mở rộng thị trường, tăng số lượng khách hàng tiềm năng, tăng tỷ lệ chuyển đổi khách hàng tiềm năng thành khách hàng. Một số mục tiêu cụ thể của Trưởng Phòng Marketing là:

1. Tiến hành nghiên cứu thị trường

2. Phát triển chiến lược marketing

Bên cạnh đó, Trưởng Phòng Marketing cũng chịu trách nhiệm phát triển chiến lược tiếp thị cho doanh nghiệp, đề xuất và phê duyệt ý tưởng mới, phân công nhiệm vụ, giám sát và đánh giá hiệu suất. Các chiến lược này phác thảo rõ ràng cách thức một công ty sẽ quảng bá sản phẩm và dịch vụ của mình đến thị trường mục tiêu với mục đích tăng doanh số bán hàng và duy trì lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.

Mục tiêu của trưởng phòng Marketing được xác định như thế nào?

3. Quản trị quan hệ khách hàng

Trưởng Phòng Marketing thực hiện chức năng quản lý quan hệ khách hàng, cụ thể là thu thập thông tin từ cơ sở dữ liệu khách hàng để khảo sát sự hài lòng của họ đối với sản phẩm/dịch vụ. Sau đó, Trưởng Phòng Marketing sẽ tìm ra giải pháp và chia sẻ thông tin này với các nhân viên của mình để đảm bảo bộ phận có những thay đổi cần thiết, từ đó cung cấp dịch vụ khách hàng tuyệt vời nhằm xây dựng mối quan hệ lâu dài.

4. Quản lý nhân sự

Quản lý một đội ngũ làm việc hiệu quả có thể giúp Trưởng Phòng Marketing đảm bảo hoàn thành mục tiêu chung của bộ phận và toàn công ty. Bên cạnh các công việc chuyên môn, Trưởng Phòng Marketing cũng phân công nhiệm vụ và đặt mục tiêu cho nhân viên, hướng dẫn và hỗ trợ họ đồng thời đánh giá hiệu suất định kỳ.

5. Xác định các cơ hội kinh doanh mới

Vai Trò Của Marketing Trong Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp

Nhiều người thường lầm tưởng Marketing với việc bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ vì vậy họ quan niệm Marketing là hệ thống có biện phỏp mà người bán hàng sử dụng để cốt sao bán được hàng và thu được tiền về cho người bán. Tuy nhiên Marketing hiện đại được định nghĩa như sau:

Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người hay Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.

Từ góc độ doanh nghiệp thì Marketing là một dạng hoạt động chức năng của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu thụng qua trao đổi hàng hóa trên thị trường và trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu.

Vậy nhu cầu, mong muốn, khách hàng mục tiêu… là gì?

Nhu cầu thường được người ta hiểu một cách quá đơn giản là sự đòi hỏi của con người về một vật phẩm nào đó. Nhưng thực ra thuật ngữ đó bao hàm một nội dung rộng lớn hơn mà nếu nhà kinh doanh chỉ ddừng ở đó thì khó có thể tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình lớn được. Nhu cầu là một thuật ngữ mà nội dung của nó hàm chứa ba mức độ: nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.

Nhu cầu tự nhiên phản ánh sự cần thiết của con người về một vật phẩm. Nhu cầu tự nhiên là một trạng thái tâm lý của con người, là một sự thiếu hụt cái gì đó mà con người chủ thể có thể cảm nhận được, nó là nguồn gốc của mọi sự khát khao, là động lực của hành động. Khi xuất hiện nhu cầu tự nhiên con người có hai cách giải quyết đó là kiềm chế nhu cầu hoặc tìm cách thỏa mãn nhu cầu bằng cách tìm đối tượng để thỏa mãn và nhìn chung người ta sẽ chọn cách thứ hai, đây chính là cách thức tồn tại của con người.

Rõ ràng người làm Marketing không thể chỉ dừng lại ở nhu cầu tự nhiên, để tạo ra được sản phẩm hàng hóa thích ứng với nhu cầu thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp người ta phải hiểu một khía cạnh thứ hai của nhu cầu thị trường đó là mong muốn.

Mong muốn là một dạng cụ thể của nhu cầu tự nhiên gắn liền với những điều kiện cụ thể, những đặc điểm cụ thể về mọi phương diện của con người có thể như trình độ văn hóa, tính cách có nhân,… Ví dụ, đói là một cảm giác thiếu hụt lương thực, thực phẩm trong dạ dày, sự đòi hỏi về lương thực và thực phẩm để chống đói là nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng người này thì muốn ăn cơm, người khác lại muốn ăn bánh mì, người này muốn ăn cơm khô, người khác lại muốn ăn cơm dẻo… Những sự khác nhau đó trong nhu cầu đòi hỏi được đáp lại bằng cựng một loại sản phẩm nhưng có những đặc tính khác nhau phản ỏnh ưíc muốn của con người.

Như vậy mong muốn ở đây là đề cập đến cách thức để thỏa mãn nhu cầu tự nhiên, nhu cầu chính là cơ sở của mong muốn, mong muốn là dạng đặc thự của nhu cầu tự nhiên, một nhu cầu có thể huóng tới nhiều mong muốn và do đó mà hướng tới nhiều hàng hóa khác nhau, vì mong muốn luôn luôn biến đổi rất phong phú do nó mang dấu ấn văn hóa và tính cách có nhân của con người. Mong muốn đòi hỏi một sản phẩm cụ thể và chỉ khi doanh nghiệp phát hiện ra mong muốn thì họ mới thiết kế được sản phẩm cung ứng ra thị trường.

Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là vụ hạn, nhà kinh doanh không chỉ phát hiện và sản xuất ra sản phẩm để thích ứng với chóng như là những sản phẩm cho không, mà phải thụng qua trao đổi để vừa thỏa mãn lợi ích của người tiêu dùng, vừa thỏa mãn mục đích của nhà kinh doanh. Vì vậy trong khi đáp lại nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người nhà kinh doanh phải tính đến một nội dung khác của nhu cầu thị trường đó là nhu cầu có khả năng thanh toán.

Nhu cầu có khả năng thanh toán là đối tượng khai thác trực tiếp của Marketing vì đây mới là nhu cầu hiện thực đem lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhu cầu có khả năng thanh toán chính là mong muốn được hỗ trợ bởi sức mua và phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng. Tức là nó gắn với hai điều kiện người tiêu dùng phải có mong muốn và người tiêu dùng có khả năng chi trả và sẵn sàng chi trả.

Để hiểu được nhu cầu thị trường đòi hỏi nhà quản trị Marketing phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng về các phương diện của nhu cầu. Doanh nghiệp muốn thắng lợi trong cạnh tranh thương trường, muốn đi đầu trong việc làm thỏa mãn và khai thác nhu cầu thị trường, muốn khái rơi vào thế đối phú bị động, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và xác định đúng đắn nhu cầu là một loại hoạt động tất yếu phải được thực hiện thường xuyên và chủ động bởi một bộ phận chuyên môn.

Trong kinh doanh muốn có cơ hội thực sự thì phải đo lường được cầu về số lượng và tính chất. Hiểu được nhu cầu thị trường , bưíc tiếp theo doanh nghiệp cần thiết kế được sản phẩm. Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hóa và dich vụ có thể đem chào bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn nào đó của con người, gây sự chó ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ. ý nghĩa lớn nhất của sản phẩm đối với người tiêu dùng không phải là quyền sở hữu chóng mà là chóng đó thỏa mãn nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng như thế nào. Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho cac nhà kinh doanh là phải xác định chính xác nhu cầu mong muốn và do đó lợi ích mà người tiêu dùng cần được thỏa mãn, từ đó sản xuất và cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích cho người tiêu dung.

Nhiều nhà kinh doanh thường phạm phải sai lầm là: chỉ chó ý tới bản thân sản phẩm, mà coi nhẹ những lợi ích do sản phẩm đó có thể mang lại. Trỏi lại, các doanh nghiệp thực hàng Marketing thành cụng thường hành động theo triết lý: “hãy yêu quý khách hàng hơn là sản phẩm” hoặc là: “hãy quan tâm tới lợi ích có thể đem lại cho khách hàng hơn là sản phẩm”

Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hóa cụ thể họ thường kó vọng vào những lợi ích do tiêu dùng nhãn hàng hóa đó mang lại. Cựng một nhu cầu có nhiều hàng hóa hoặc nhãn hiệu hàng hóa có thể huóng đến để thỏa mãn nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức độ cung cấp những lợi ích của các hàng hóa đó không giống nhau. Hàng hóa này có ưu thế về cung cấp lợi ích này, nhưng lại có hạn chế trong việc cung cấp lợi ích khác. Khi quyết định mua buộc người tiêu dùng phải lựa chọn, để lựa chọn người tiêu dùng phải căn cứ vào khả năng cung cấp các lợi ích và khả năng thỏa mãn nhu cầu của hàng hóa.

Việc đánh giá giá trị tiêu dùng đối với các hàng hóa là suy diễn đầu tiên của khách hàng hướng đến với hàng hóa. Để dẫn tới quyết định mua hàng khách hàng phải quan tâm tới chi phí đối với nó. Theo quan niệm của người tiêu dùng thì chi phí đối với một hàng hóa là tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có được những lợi ích do tiêu dùng hàng hóa đó mang lại. Như vậy để có được những lợi ích tiêu dùng khách hàng phải chi ra tiền của sức lực, thời gian và thậm chí cả chi phí do khắc phục những hậu quả phát sinh bởi việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa. Những chi phí này bao gồm cả chi phí mua sắm, sử dụng và đào thải sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để khách hàng lựa chọn những hàng hóa khác nhau trong việc thỏa mãn cựng một nhu cầu.

Có thể thấy Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thụng qua trao đổi. Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn tõ một người nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác. Trao đổi là khái niệm căn bản nhất tạo nền mang cho hoạt động Marketing nhưng để tiến tới trao đổi cần phải có các điều kiện sau:

Ít nhất phải có hai bên.

Mỗi bên cần phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia.

Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có.

Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay tõ chối đề nghị của bên kia.

Mỗi bên đều tin chắc là mình nờn hay muốn giao dịch với bên kia.

Trao đổi là một quá trình chứ không phải là một sự việc, hai bên được xem là đang thực hiện trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến những thỏa thuận. Khi đó đạt được sự thỏa thuận thì người ta nói rằng một giao dịch đó hoàn thành. Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản của trao đổi. Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những vật có giá trị giữa hai bên.

Như vậy các giao dịch thương mại chỉ có thể diễn ra thực sự khi hội đủ các điều kiện:

Ít nhất có hai vật có giá trị.

Những điều kiện thực hiện giao dịch đó thỏa thuận xong.

Thời gian thực hiện đó thỏa thuận xong.

Địa điểm thực hiện đó thỏa thuận xong.

Những thỏa thuận này có thể được thể hiện trong cam kết hoặc hợp đồng giữa hai bên, trên cơ sở một hệ thống luật phỏp buộc mỗi bên phải thực hiện cam kết của mình.

Khái niệm trao đổi, giao dịch dẫn ta đến khái niệm thị trường. Thị trường là tập hợp những người mua nhất định có nhu cầu và mong muốn cụ thể mà doanh nghiệp có thể thỏa mãn được, thị trường bao gồm những người mua hiện tại và tiềm ẩn. Như vậy theo quan niệm này thì quy mụ thị trường sẽ tựy thuộc vào số người có cựng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mụ thị trường không phụ thuộc vào số người đó mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau. Marketing quan niệm những người bán hợp thành ngành sản xuất cung ứng còn người mua hợp thành thị trường. Do đó thuật ngữ thị trường được dùng để ỏm chỉ một nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định được thỏa mãn bằng một loại sản phẩm cụ thể, họ có đặc điểm giíi tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và sinh sống ở một vựng cụ thể.

Qua những khái niệm trên chóng ta đó có thể hiểu được một cách đầy đủ và đúng đắn về khái niệm Marketing nói chung. Tõ đó thấy được bản chất của Marketing là đạt được mục tiêu của chủ thể bằng cách thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách thể. Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì bản chất của Marketing là các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của thị trường.

Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Kinh Doanh

Marketing – Tiếp thị – là việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Tiếp thị là một chức năng của toàn doanh nghiệp – nó không phải là cái gì đó hoạt động một mình từ các hoạt động kinh doanh khác. Tiếp thị là tìm hiểu khách hàng và tìm cách cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng yêu cầu.

Tiếp thị là xác định giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn và truyền đạt thông tin đó cho khách hàng.

Marketing cũng là khu vực kinh doanh tổ chức có tương tác nhiều nhất với người dùng và do đó những gì khách hàng biết về một tổ chức được xác định bởi tương tác của họ với các nhà tiếp thị.

Ở cấp độ rộng hơn, marketing mang lại những lợi ích đáng kể, những lợi ích này bao gồm:

Phát triển các sản phẩm đáp ứng nhu cầu, bao gồm các sản phẩm nâng cao chất lượng cuộc sống của xã hội

Tạo môi trường cạnh tranh giúp giảm giá sản phẩm

Phát triển hệ thống phân phối sản phẩm, cung cấp khả năng tiếp cận sản phẩm đến một số lượng lớn khách hàng và nhiều khu vực địa lý.

Xây dựng nhu cầu về các sản phẩm đòi hỏi các tổ chức phải mở rộng lực lượng lao động

Quản lý thông tin marketing:

Quản lý thông tin marketing giúp bạn hiểu được nhu cầu của khách hàng. Bạn có thể thu thập thông tin bằng cách xem xét các báo cáo nghiên cứu thị trường, yêu cầu đội ngũ bán hàng phản hồi hoặc thực hiện một cuộc khảo sát bằng cách sử dụng một công ty nghiên cứu thị trường. Bạn cũng nên theo dõi các trang web đánh giá sản phẩm và các phương tiện truyền thông xã hội, chẳng hạn như Facebook và Twitter, nơi bạn có thể tìm thông tin về nhu cầu và thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm.

Phân phối

Chiến lược phân phối xác định cách thức và nơi khách hàng có thể mua được sản phẩm của bạn. Nếu bạn marketing sản phẩm cho một số lượng nhỏ khách hàng doanh nghiệp, bạn có thể giao dịch trực tiếp với họ thông qua đội bán hàng. Nếu doanh nghiệp mở rộng sang các khu vực hoặc quốc gia khác, thì có thể tiết kiệm chi phí hơn để đến tay khách hàng thông qua các nhà phân phối địa phương. Các công ty marketing sản phẩm tiêu dùng phân phối thông qua các cửa hàng bán lẻ hoặc qua Internet.

Quản lý sản phẩm / dịch vụ

Marketing cung cấp đầu vào có giá trị cho phát triển sản phẩm và dịch vụ. Thông tin về nhu cầu của khách hàng giúp xác định các tính năng để kết hợp trong các sản phẩm mới và nâng cấp sản phẩm. Marketing cũng xác định các cơ hội để mở rộng phạm vi sản phẩm hoặc đưa ra các sản phẩm hiện có vào các lĩnh vực mới.

Giá

Giá cả đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định thành công thị trường và lợi nhuận. Nếu bạn tiếp thị sản phẩm có nhiều đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phải đối mặt với cạnh tranh về giá. Trong trường hợp đó, bạn phải nhắm đến nhà cung cấp chi phí thấp nhất để có thể đặt giá thấp và vẫn có lãi. Bạn có thể vượt qua cạnh tranh giá thấp bằng cách phân biệt sản phẩm của bạn và cung cấp cho khách hàng những lợi ích và giá trị mà đối thủ cạnh tranh không thể sánh kịp.

Bán

Marketing và bán hàng là những chức năng bổ sung. Marketing tạo ra nhận thức và xây dựng thương hiệu cho một sản phẩm, giúp các nhân viên bán hàng của công ty hoặc nhân viên bán lẻ bán nhiều sản phẩm hơn.

Tài chính

Marketing thành công cung cấp một dòng doanh thu thường xuyên để trả cho hoạt động kinh doanh. Các chương trình marketing tăng cường lòng trung thành của khách hàng giúp đảm bảo doanh thu lâu dài, trong khi các chương trình phát triển sản phẩm lại mở ra doanh thu mới. Tài chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc marketing thành công bằng cách cung cấp cho khách hàng các phương thức thanh toán thay thế khác như cho vay, tín dụng dài hạn hoặc cho thuê.

Website: http://www.builderwebsitedesigns.com/