Giảm Bớt Hội Họp, Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Cơ Quan, Tổ Chức Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Giảm Hộ Nghèo
  • Bạc Liêu: Nhiều Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo
  • Một Số Giải Pháp Giảm Nghèo Tại Tp. Trà Vinh
  • Giải Pháp Kéo Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo
  • Đà Nẵng: Những Giải Pháp Thoát Nghèo Bền Vững
  • Ngày đăng: 27/09/2019 03:04

    Hội họp là một trong các cách thức để giải quyết công việc trong hoạt động lãnh đạo, quản lý. Qua đó, người đứng đầu hoặc tập thể lãnh đạo thực hiện sự lãnh đạo, quản lý, điều hành và giải quyết các nhiệm vụ, công việc thuộc chức năng, thẩm quyền của cơ quan mình theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của tổ chức. Hội họp được phân chia thành nhiều loại khác nhau như hội nghị tổng kết, hội nghị sơ kết, hội thảo, họp giao ban, họp chuyên môn, họp triển khai chính sách, triển khai nghị quyết, quyết định của cấp có thẩm quyền; để làm việc với các cấp, các ngành; họp tư vấn, họp trao đổi, phối hợp công tác… Như vậy, hội họp là một hoạt động cần thiết và quan trọng, có nhiều hình thức khác nhau với nội dung đa dạng và luôn gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức hoặc nhằm giải quyết một vấn đề trọng đại của quốc gia, thế giới. Nhưng nếu bị lạm dụng, thì hội họp sẽ trở thành một “gánh nặng”, mang tính hình thức, “vô thưởng, vô phạt”, gây lãng phí về thời gian, nhân lực, tiền bạc… Vì vậy, cần phải có cách nhìn đúng về hội họp, tìm ra được nguyên nhân dẫn đến hội họp quá nhiều để có các giải pháp khắc phục, đưa hội họp trở về với đúng nghĩa của nó, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

    1. Hội họp nhiều sẽ gây lãng phí và không hiệu quả

    Bên cạnh những cuộc họp thiết thực và cần thiết thì nhiều cuộc họp hiện nay chưa thực sự hiệu quả. Cách đây 12 năm, báo chí đã phản ánh: mỗi ngày trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 1.000 cuộc họp; cả nước có 3.000 cuộc họp. Tổng chi phí cho các cuộc họp này vào khoảng 1,5 tỷ đồng mỗi ngày (Báo Tuổi Trẻ ngày 19/01/2007). Một lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh thống kê mỗi năm được mời dự 700 cuộc họp ở Trung ương và địa phương, thậm chí có ngày được mời dự 07 cuộc (Báo chúng tôi ngày 18/8/2007). Mười năm sau (2017), trong bài “Khủng hoảng vì họp” trên báo Tiền phong số ra ngày 08/9/2017, Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Thanh Nhã cho biết: từ đầu năm đến nay, Giám đốc, 3 Phó Giám đốc và lãnh đạo các phòng, ban, công chức chủ chốt của Sở Quy hoạch Kiến trúc phải dự tổng cộng hơn 1.500 cuộc họp. Ông Sử Ngọc Anh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cho biết Sở này phải chịu ba áp lực rất lớn, một trong số đó là sức ép về các cuộc họp mà lãnh đạo Sở phải tham dự. Cụ thể, với 4 người trong Ban Giám đốc, trong 7 tháng đầu năm 2021, lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh phải dự hơn 2.000 cuộc họp.

    Những số liệu nêu trên cho thấy, ở nước ta hiện nay, các cơ quan, đơn vị và địa phương, tình trạng họp diễn ra quá nhiều, kém hiệu quả, gây lãng phí và cán bộ, công chức không còn thời gian để giải quyết, xử lý công việc. Thậm chí, nhiều cơ quan, đơn vị phải xin tăng thêm cấp phó “để có người đi họp”, dẫn đến “lạm phát cấp phó”. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và thiết bị kỹ thuật số hiện đại, có một tỷ lệ không nhỏ người dự họp chỉ làm việc với những thiết bị này mà không để ý đến nội dung họp. Tại Hội nghị trực tuyến báo cáo viên các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương ngày 05/7/2019 quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương đã nói: “Nhiều buổi học nghị quyết, tôi quan sát được tỷ lệ không nhỏ ngồi dưới xem ipad, iphone, đọc tin, nhắn tin”. Tuy nhiên, không chỉ Việt Nam mới có nạn họp hành quá nhiều. Trên thế giới, tình trạng hội họp nhiều cũng là một vấn nạn. Ví dụ ở Mỹ, hàng năm trung bình có khoảng 11 triệu cuộc họp diễn ra, trong đó có 30% cuộc họp không hiệu quả, gây lãng phí. Ước tính mỗi năm Mỹ mất tới 37 tỷ USD cho những cuộc họp này(1).

    2. Tác hại và nguyên nhân của hội họp nhiều

    Cần khẳng định rằng, hội họp là cần thiết và những cuộc họp trong cơ quan, tổ chức đa phần là bổ ích, nếu không họp thì nhiều vấn đề sẽ không được làm sáng tỏ và giải quyết triệt để. Nhưng nếu việc gì cũng phải họp, việc gì cũng phải đưa ra bàn và họp quá nhiều sẽ gây lãng phí thời gian, tiền bạc, nhân lực,… và đáng lo hơn là tạo ra chỗ dựa cho bệnh “thiếu trách nhiệm” trong lãnh đạo, quản lý. Thiếu trách nhiệm dẫn đến nhiều hệ lụy như sự vô cảm, thiếu quyết đoán, thói quen ỷ lại, đổ trách nhiệm cho tập thể và dù được giao thẩm quyền nhưng không dám quyết, lấy “tập thể” làm chỗ dựa để không ai phải chịu trách nhiệm, dẫn đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức kém hiệu quả, công việc trì trệ. Mọi người luôn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau và người đi họp thực chất là cho đủ thành phần, không tham gia bàn bạc để giải quyết công việc; không chuẩn bị ý kiến phát biểu hoặc phát biểu chung chung, không đi vào trọng tâm vấn đề cuộc họp đang bàn. Hội họp quá nhiều như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính sau đây:

    Việc lựa chọn có họp hay không và đưa vấn đề hoặc nội dung công việc ra cuộc họp nào là phù hợp sẽ quyết định vấn đề đó sẽ được giải quyết hay không giải quyết. Từ đó dẫn đến việc xác định ai là người chủ trì và thành phần nên mời những ai? Và như vậy, nội dung cuộc họp, người chủ trì và thành phần dự họp rất có quan hệ với nhau, trong đó, nội dung cuộc họp là căn cứ quan trọng để phân công người chủ trì và thành phần tham dự.

    Bốn là, do trình độ, năng lực yếu kém nên nhiều cuộc họp vẫn được tổ chức dù không cần thiết.

    Thực tế cho thấy, ở đâu người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ nếu năng lực yếu, thiếu bản lĩnh, sợ trách nhiệm thì ở đó thường hay tổ chức nhiều cuộc họp. Trong đó, có nhiều cuộc họp là không cần thiết. Ở trạng thái này, hội họp là cách để “giải nguy” cho người không quyết đoán; đồng thời làm giảm tính nhanh nhạy, chủ động của bộ máy và có thể bị lợi dụng trở thành cách thức đẩy trách nhiệm từ cá nhân sang tập thể đối với sai phạm xảy ra (nếu có). Có tình trạng một số lãnh đạo, quản lý không nắm được công việc, thiếu kiến thức chuyên môn, sợ trách nhiệm nên tổ chức họp để lấy ý kiến tham mưu. Nhưng do chuyên môn không sâu, không chắc nên càng nhiều ý kiến thì lại càng khó quyết định vì không biết nghe theo ý kiến nào, mặc dù vấn đề rất rõ ràng. Kết thúc cuộc họp thường không kết luận được nên lại báo cáo xin ý kiến cấp trên. Thực tế vẫn còn rất nhiều cuộc họp chỉ để nghe các ý kiến từ cơ quan khác, về những nội dung “biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Xét về yếu tố quản lý, việc họp để xin ý kiến của cơ quan khác, của tập thể một cách dân chủ, rộng rãi là tốt, là việc làm cần thiết của người lãnh đạo, quản lý. Song việc gì cũng đưa ra bàn bạc, trong khi việc đó thuộc thẩm quyền quyết định của mình thì việc họp nhiều là biểu hiện của một nhà lãnh đạo thiếu phẩm chất và năng lực yếu. Sau khi quyết định, nếu có vấn đề gì trái ngược lại đổ “tại các cuộc họp, đa số ý kiến như vậy”.

    Năm là, tình trạng né tránh, không dám chịu trách nhiệm nên nhiều cuộc họp được tổ chức để biến tập thể thành “nơi trú ẩn trách nhiệm”.

    Trong thực tế, có nhiều cuộc họp được xem là giải pháp cho các cơ quan, đơn vị đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, tạo nên thói quen thụ động, chờ chỉ đạo, như: một đơn vị, một tổ chức khi được giao nhiệm vụ nhưng không giải quyết được, khi đến hạn phải báo cáo thì lại tổ chức họp để lấy ý kiến, thực chất là để “câu giờ” và để “đá quả bóng trách nhiệm cá nhân” sang cho tập thể, gây lãng phí về thời gian, ngân sách và gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức và địa phương. Tình trạng “né tránh trách nhiệm” của cá nhân để đổ lỗi cho tập thể là vấn đề nan giải, bởi người đứng đầu, cán bộ, công chức phải nắm được vấn đề đang giải quyết gắn với nghiệp vụ, chuyên môn; giải quyết công việc trên cơ sở các quy định của Đảng và Nhà nước; dám “đối diện” với vấn đề phải giải quyết và quyết định đúng thẩm quyền của mình, dám chịu trách nhiệm với kết quả giải quyết,… thì hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức sẽ rất cao, đáp ứng được sự hài lòng của người dân. Ngược lại, nếu yếu về năng lực, không dám đưa ra các quyết định kịp thời, đúng đắn thì công việc sẽ đình trệ, chậm chạp, gây phiền hà cho người dân. Cuối cùng, để tránh bị phê bình là công việc đình trệ, lại tổ chức các cuộc họp không cần thiết để bàn bạc những vấn đề mà với thẩm quyền của mình cũng có thể quyết định được. Sự thiếu trách nhiệm này đã làm cho một số cuộc họp trở thành “lá chắn”, là “chỗ ẩn náu”, giấu giếm “cái đuôi” thiếu trách nhiệm hoặc né tránh trách nhiệm.

    Sáu là, vướng mắc trong phương thức phối hợp, quan hệ công tác khi thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.

    Do quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cũng như trong bộ máy nhà nước. Do đó, bộ máy nhà nước có nhiều mối quan hệ giữa lãnh đạo với quản lý, giữa tổ chức thực hiện với kiểm tra, thanh tra, giám sát trong giải quyết công việc, trao đổi ý kiến giữa cơ quan Nhà nước với các cơ quan, tổ chức của Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội. Từ các mối quan hệ công tác như vậy, nếu không lựa chọn, xử lý tốt sẽ dẫn đến nhiều sự trùng lặp, nhiều khâu thủ tục, đặc biệt là sẽ phát sinh nhiều cuộc họp không cần thiết. Cụ thể là, có những công việc, người đứng đầu các cơ quan nhà nước không thể tự mình giải quyết mà muốn giải quyết công việc thuộc thẩm quyền thì phải tổ chức họp xin ý kiến chỉ đạo từ các cơ quan, tổ chức trong hệ thống Đảng, sau đó mới đến họp chuyên môn để giải quyết công việc thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, việc phân công, phân cấp, phân quyền, ủy quyền và cơ chế hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức vẫn có nhiều điểm chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng giao việc, giao quyền không cụ thể, nhiều cơ quan, tổ chức tham gia làm cùng một việc nhưng không có người chịu trách nhiệm chính, nên phải tổ chức nhiều cuộc họp để thống nhất.

    3. Nguyên tắc và giải pháp nâng cao hiệu quả hội họp trong các cơ quan, tổ chức 3.1. Nguyên tắc tổ chức hội họp

    Để việc tổ chức hội họp hiệu quả, cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

    Thứ nhất, thực hiện đúng chức trách, quyền hạn và bảo đảm tuân thủ pháp luật (hoặc điều lệ), bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch và bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật.

    Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các cuộc họp, trừ những trường hợp đặc biệt, còn lại khi tổ chức các cuộc hội họp theo vùng, miền, cả nước nên tăng cường số lượng các cuộc họp trực tuyến.

    Thứ năm, giảm bớt, đơn giản tối thiểu các thủ tục nghi lễ mang tính hình thức để dành thời gian cho nội dung và yêu cầu của cuộc họp (thể hiện trong chương trình cuộc họp). Khi tổ chức các hội nghị, hội thảo phải bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức vẫn diễn ra bình thường trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và phục vụ nhân dân.

    3.2. Giải pháp giảm các cuộc họp

    Một là, thay đổi nhận thức về chế độ họp. Theo hướng này, việc cải cách chế độ hội họp phải được sự nhận thức đúng đắn và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ thì mới có sự chuyển biến tích cực trong việc thực hiện chế độ họp. Cần nhấn mạnh rằng, cải cách chế độ hội họp – một nội dung quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính phải được gắn với nhân tố cơ bản và quan trọng nhất là con người, muốn cải cách họp phải cải cách từ chính con người. Chuyển biến từ con người thực hiện mới mang đến sự chuyển biến nội tại mạnh mẽ cho bản thân nền hành chính, làm cho chế độ họp ngày càng khoa học, hợp lý, hiệu quả và đạt chất lượng cao. Tuyệt đối không được lợi dụng việc tổ chức họp, hội nghị, hội thảo để chi tiêu ngân sách không đúng mục đích, không những vi phạm nguyên tắc tài chính mà còn là nguyên nhân tăng thêm số lượng các cuộc họp, lợi dụng tổ chức họp để kết hợp nghỉ dưỡng, nghỉ mát, du lịch.

    Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về chế độ hội họp, trước hết là bổ sung vào Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức quy định về việc tổ chức hội họp trong hoạt động công vụ, thực hiện chức trách và nhiệm vụ được giao của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với công tác tổ chức hội họp để các quy định về hội họp bảo đảm thực hiện nghiêm túc.

    Ba là, tiếp tục nghiên cứu đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, chính sách định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo những vấn đề quan trọng, không bao biện, làm thay. Các cơ quan tham mưu của các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện kiểm tra, giám sát và chỉ tổ chức các cuộc họp thật cần thiết, giảm thiểu các cuộc họp để thay vào đó là thực hiện cơ chế chuyên gia, gửi văn bản hỏi,… Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến chính quyền địa phương (HĐND và UBND các cấp) thực hiện quyền hạn và chức năng của mình theo quy định của pháp luật, bảo đảm không trái với chủ trương, đường lối, chỉ đạo của Đảng. Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước, những vấn đề, công việc đã được giao quyền, hoặc phân cấp, ủy quyền thì phải mạnh dạn, dám làm, dám chịu, không lấy tập thể ra để lẩn tránh trách nhiệm. Khi các công việc, nhiệm vụ được giải quyết theo đúng thẩm quyền, các cơ quan làm hết trách nhiệm của mình thì sẽ giảm thiểu số lượng các cuộc họp không cần thiết. Tiếp tục đổi mới cơ chế này theo hướng phù hợp với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh việc phân công, phân cấp giữa các cấp, các ngành và quy định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, không chồng chéo. Một việc chỉ giao cho một cơ quan làm đầu mối chủ trì thực hiện, các cơ quan khác chỉ làm nhiệm vụ phối hợp.

    Bốn là, đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tổ chức các cuộc họp, đặc biệt là đẩy mạnh, khuyến khích thực hiện tổ chức họp trực tuyến đối với các cuộc họp có sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương hoặc khu vực. Tuy nhiên, để tổ chức họp trực tuyến được tốt thì công tác chuẩn bị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nội dung, yêu cầu của cuộc họp phải được chuẩn bị tốt, kỹ lưỡng. Những vấn đề xin ý kiến tham gia của các bộ, ngành và địa phương hoặc các thành viên trong một tổ chức thì có thể thực hiện việc gửi văn bản để lấy ý kiến thay vì tổ chức họp. Những cuộc họp bắt buộc phải tổ chức vì mỗi thành viên đều là lãnh đạo, có quyền bỏ phiếu để quyết định vấn đề thì khi gửi giấy mời cần gửi tài liệu, văn bản dự thảo kèm theo để nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến tham gia.

    Năm là, phải thực hiện giảm hội họp bằng các biện pháp sau đây:

    – Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Đặc biệt là trau dồi năng lực và phẩm chất, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (theo từng mức độ), trong đó có bổ sung các nội dung về năng lực điều hành, tổ chức các cuộc hội họp.

    – Gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện chế độ hội họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan. Người đứng đầu phải nắm rõ và chịu mọi trách nhiệm nếu để xảy ra các vi phạm trong việc họp tại đơn vị mình. Để khắc phục tình trạng lãnh đạo cấp dưới sợ trách nhiệm và kiến thức chuyên môn không vững vàng nên tổ chức họp để nghe ý kiến thì người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương phải thể hiện rõ vai trò và trách nhiệm trong việc quyết định họp hay không họp, không để xảy ra tình trạng bất cập trong chế độ họp.

    Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, họp trực tuyến. Việc cải cách chế độ họp cũng là một nội dung rất quan trọng trong cải cách về thể chế theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 ban hành theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Trong 06 nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 (ban hành theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ), “hành chính hiện đại” là một nội dung hoàn toàn mới cho thấy sự quan tâm của Chính phủ đối với việc tăng cường thay đổi cách thức giao tiếp của nền hành chính hiện nay, trong đó vai trò của công nghệ thông tin là quan trọng. Các phiên họp trực tuyến “không giấy tờ” và rất ngắn gọn của Chính phủ tháng 7/2019; của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2019 và các cơ quan, địa phương khác gần đây là minh chứng rõ ràng về tính hiệu quả, cần rút kinh nghiệm và nhân rộng. Để thực hiện giải pháp này, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm cải tiến các cuộc họp theo phương thức mới (họp từ xa, trực báo, trực tuyến) để tránh đi lại, tiết kiệm kinh phí cho cơ quan, bảo đảm cung cấp kịp thời thông tin về những thủ tục hành chính đến tổ chức, doanh nghiệp và người dân một cách nhanh nhất, rõ ràng, minh bạch, công khai, thể hiện tính hiện đại, chuyên nghiệp của nền hành chính.

    Trong các giải pháp nêu trên, việc thay đổi tư duy về hội họp, thực hiện hết trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hội họp là các giải pháp quan trọng hàng đầu. Các giải pháp này sẽ tạo nên sự chuyển biến lớn về tổ chức các cuộc hội họp và giảm thiểu số lượng các cuộc hội họp không cần thiết, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Để chỉ đạo khắc phục các hạn chế và lãng phí của việc tổ chức hội họp hiện nay, cần đề xuất Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị về việc tổ chức hội họp hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí. Từ đó, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị./.

    Ghi chú:

    (1) http://cafebiz.vn/quan-tri/vi-sao-nguoi-my-lang-phi-37-ty-usd-moi-nam-vi-hop-hanh-20141124114503928.chn

    2. Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010.

    3. https://zing.bangnam.com/ong-vo-van-thuong- hoc-nghi-quyet-nhung-lai-ngoi-xem-ipad-nhan-tin

    4. https://tuoitre.vn/viec-kho-nhat-cua-bo-truong- la-phan-cong-thu-truong-di-hop

    5. https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/dung- la-chung-ta-hop-hanh-qua-nhieu

    6. http://cafebiz.vn/quan-tri/vi-sao-nguoi-my-lang-phi-37-ty-usd-moi-nam-vi-hop-hanh.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Hội Họp Để Tập Trung Giải Quyết Công Việc Và Đi Cơ Sở
  • Giảm Lượng Hàng Tồn Kho
  • Giải Pháp Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả & An Toàn
  • Triển Khai Nhiều Giải Pháp Giảm Lượng Hàng Tồn Kho
  • Để Giảm Hút Thuốc Lá: Cần Biện Pháp Mạnh!
  • Cơ Cấu Đại Biểu Và Vấn Đề Thực Hiện Các Chức Năng Của Quốc Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn Đại Biểu Quốc Hội
  • Thường Vụ Quốc Hội Không Đồng Ý Tách Vụ Dân Nguyện
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Dân Nguyện
  • Luật 57/2014/qh13 Tổ Chức Quốc Hội
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Ngân Sách Nhà Nước
  • Trong cơ chế quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm về tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền và tự do của công dân. Bên cạnh đó, cơ quan này còn có vai trò quan trọng trong việc giám sát đối với các quyền tư pháp và hành pháp.

    Từ việc nhận thức cơ quan lập pháp là một chủ thể hết sức quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức quyền lực nhà nước. Cho đến nay, đã có nhiều học thuyết pháp lý tiến bộ trong lịch sử và các Nhà nước pháp quyền đều mong muốn rằng, quyền lực nhân dân được bảo đảm một cách tốt nhất và công bằng nhất giữa các bộ phận dân chúng trên cùng một lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, các lý thuyết và thực tiễn xây dựng nên cơ quan lập pháp cũng đã được nghiên cứu và tìm hiểu khá công phu. Chẳng hạn, ở một số nước, khi nói về đối trọng quyền lực nhà nước giữa ba nhánh quyền lực, họ cho rằng với tư cách là một chủ thể độc lập có quyền lập hiến và lập pháp, rõ ràng, Nghị viện đã có được những ưu thế của mình. Việc không xây dựng các cơ chế đối trọng ngay trong cơ quan lập pháp cũng tạo ra nguy cơ lạm quyền từ chính cơ quan này. Cụ thể, trong các chính thể nhà nước liên bang khi xây dựng một cơ quan lập pháp, thông thường họ xây dựng theo mô hình lưỡng viện. Mô hình này đảm bảo sự công bằng về tỷ lệ đại biểu trên số lượng cử tri, đồng thời dung hoà sự bình đẳng của mỗi bang với tư cách là một chủ thể của một địa giới hành chính độc lập. Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong nó chính là sự kiềm chế, đối trọng quyền lực của chính cơ quan lập pháp để tránh sự áp đảo của những nơi có số lượng cử tri cao, đại biểu lớn. Nếu chỉ dựa trên tiêu chí là tỷ lệ dân số, các địa phương đông dân có thể liên kết với nhau để thông qua những đạo luật có lợi cho mình và gây bất lợi cho các địa phương có dân số ít. Hay tại Pháp: “Chức vụ Bộ trưởng không được kiêm nhiệm với chức vụ dân biểu, hay chức vụ đại diện nghề nghiệp trên lĩnh vực quốc gia, hay các chức vụ công và hoạt động nghề nghiệp”.

    Về vấn đề sử dụng những người vừa tham gia trong hành pháp, vừa tham gia vào lập pháp, có học giả đã chỉ ra rằng đó là sự mất tự do: “Khi quyền hành pháp ủy thác cho một số người trong cơ quan lập pháp, và như thế sẽ không còn là tự do nữa; vì hai quyền hành pháp và lập pháp nhập làm một, mấy con người ấy có thể nhúng tay vào cả quyền này và quyền kia”.

    Còn theo Rousseau: “Người chấp pháp không nên có quyền lập pháp và dân chúng dầu muốn cũng không thể trao quyền lập pháp cho người chấp pháp”.

    Liệu phải chăng ở đây, các nhà tư tưởng đã không có lý khi không trao quyền lập pháp cho hành pháp hoặc tư pháp hay các nhân viên của hành pháp, tư pháp? Có thể thấy rằng, trong hệ thống quyền lực của nhân dân – chủ thể của quyền lực nhà nước, chúng ta thấy có 3 bộ phận quyền lực chủ yếu, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở đây, quyền hành pháp đã được nhân dân trao cho Chính phủ và hệ thống cơ quan hành pháp, bộ phận hành chính tư pháp. Quyền tư pháp đã được trao cho toà án và hệ thống tư pháp. Do đó, trong các bộ phận quyền lực nhà nước, người dân chỉ còn trực tiếp thực hiện duy nhất là quyền lập pháp. Việc nhân dân đòi hỏi phải có được chủ quyền tuyệt đối hoặc chí ít là áp đảo đối với quyền lực này là yêu cầu hoàn toàn hợp lý và chính đáng. Từ đó cũng thấy rằng, khó có bất cứ lý do chính đáng nào để cho hành pháp hoặc tư pháp lại có ưu thế hơn dân chúng trong cơ quan lập pháp, vì nó sẽ làm mất chủ quyền nhân dân đối với quyền lực nhà nước.

    Một vấn đề lý thuyết nữa khi xem xét về tư cách chủ thể quyền lực, một cá nhân đã tham gia vào cơ quan hành pháp, tư pháp nghĩa là họ chấp nhận mình với tư cách là công bộc của nhân dân. Xuất phát từ vị trí này, chắc cá nhân đó sẽ khó đủ điều kiện chủ thể để làm đại diện cho nhân dân trong cơ quan lập pháp được nữa. Nhiều quốc gia cho rằng, những người công bộc của nhân dân – công chức, viên chức nhà nước không đủ điều kiện để tham gia vào cơ quan lập pháp vì họ đang là công bộc chứ không phải là chủ thể đầy đủ để đại diện cho quyền lực nhân dân. Do đó, khi người chủ – nhân dân không cho phép (bằng quy định pháp lý) hoặc từ lý thuyết thông thường về địa vị xã hội thì chắc chắn họ không đủ tư cách tham gia vào cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, cũng sẽ có những thắc mắc về thành phần các đại biểu được bổ nhiệm giữ chức vụ Thủ tướng và các Bộ trưởng trong các nội các. Ở một số quốc gia, chức danh này chỉ có được sau khi Nghị viện khoá mới đã bầu xong nhân sự và các đại biểu trong Nghị viện bầu ra chức danh đó chứ trước đó người đó chưa được bổ nhiệm vào hành pháp hoặc tư pháp. Do vậy, có thể hiểu rằng, quyền lực nhân dân yêu cầu cá nhân đó chuyển sang lãnh đạo hành pháp, tư pháp chứ không phải từ hành pháp, tư pháp được chuyển vào lập pháp. Chính vì vậy, trong các trường hợp này pháp luật các nước coi các chức danh đó là chức danh dân sự chứ không phải là công chức, viên chức để tránh việc nhầm lẫn về thành phần của hành pháp, tư pháp trong lập pháp. Cho dù các chức danh đó vẫn phải chịu trách nhiệm chính trị về công việc mà mình thực hiện. Vì họ cho rằng, bộ máy của hệ thống vẫn hoạt động một cách bình thường nếu chưa có Thủ tướng, các Bộ trưởng, chỉ có điều khi thay thế các vị trí đứng đầu thì định hướng và khả năng hoạt động có khác nhau do năng lực và cách thức điều hành của người đứng đầu đó mà thôi. Ví dụ quy định: “Thủ tướng và các Bộ trưởng có tính cách dân sự. Nội các trong quyền hành pháp, liên đới chịu trách nhiệm trước Quốc hội”. Và từ đây quyền lực mới được chuyển tiếp đến các nhánh quyền lực còn lại. Quy định này cũng đã làm cho quyền lực nhân dân bị chuyển tiếp qua những bước trung gian, làm hạn chế hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

    Đối với vấn đề nhân sự, từ góc độ lý thuyết, chúng ta chưa làm sáng tỏ một số nguyên lý về chủ quyền quyền lực nhân dân như đã trình bày ở trên. Do đó, khi hiệp thương lựa chọn các đại biểu để ứng cử vào thành phần của Quốc hội chúng ta đã lựa chọn rất nhiều công chức, viên chức nhà nước để làm đại biểu Quốc hội, thành phần này sau khi được bầu vào Quốc hội sẽ đóng vai trò là các đại biểu kiêm nhiệm. Cụ thể, theo đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến: “Quốc hội ở ta hiện giờ thì tỷ lệ chuyên trách chưa đến 30%, chúng tôi kiến nghị nhiệm kỳ tới tăng lên ít nhất 35 – 40% thì mới đảm đương được khối lượng công việc đang ngày càng nhiều từ các ủy ban” và được ưu tiên giới thiệu hơn những chủ thể quyền lực thực thụ – nhân dân. Bởi những đối tượng này là những người có được những lợi thế nhất định trong quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, rõ ràng đây là những thách thức đối với chủ quyền quyền lực của nhân dân trong Quốc hội nước ta.

    – Về vấn đề nơi cư trú của các ứng viên đại biểu Quốc hội. Không nên để cho các ứng viên đại biểu thuộc nơi cư trú này được mượn địa phương khác làm nơi ứng cử. Hoặc nếu có cũng chỉ nên giới hạn một tỷ lệ tối đa là không quá 30%. Vì trước hết, là đại biểu, cá nhân đó phải đại diện cho chính địa phương mà mình tham gia ứng cử, phải có tình cảm, lợi ích và hiểu được mong muốn, nguyện vọng của địa phương đó để đại diện cho họ. Sau đó họ mới có thể đại diện chung cho đồng bào cả nước, chứ không thể nói rằng đại biểu của tỉnh A, tỉnh B đại diện cho đồng bào cả nước mà không đem lại lợi ích gì cho chính những cử tri tại đơn vị đã bầu ra họ. Khi đại biểu đó có tình cảm với địa phương thì họ mong muốn làm những điều gì tốt đẹp nhất cho địa phương mình, có lợi ích hơn cho quê hương, họ hàng và danh tiếng của cá nhân họ. Muốn làm được điều đó họ phải hiểu được văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán và quan trọng hơn họ phải cảm nhận được nhu cầu của địa phương mà mình sẽ đại diện. Chính vì vậy, cách tốt nhất để được ứng cử tại địa phương đó thì người đó phải có một thời hạn cư trú ở đó. Theo tác giả, tối thiểu phải là 5 năm để hoà đồng đối với những người được đại diện. Tuy nhiên, như nói ở trên, cũng khó có thể chuyển đổi một cách ngay tức khắc từ cơ chế kiêm nhiệm của đại biểu Quốc hội hiện nay ở nước ta, do đó nên sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành như sau:

    ” a. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được phân bổ số đại biểu thích đáng. Nhưng ít nhất phải có 70% số lượng đại biểu hiện đang cư trú và làm việc tại địa phương;

    b. Số đại biểu được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương;

    c. Thủ đô Hà Nội được phân bổ số đại biểu thích đáng. Nhưng số lượng đại biểu không cư trú tại Hà Nội hoặc cư trú tại Hà Nội nhưng thời hạn cư trú chưa đến 5 năm chỉ được tối đa dưới 50%”.

    Tránh việc quy định như hiện nay: Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất 3 đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương. Yêu cầu này nhằm mục đích, quyền lực nhân dân được thực hiện bởi chính các đại biểu đại diện cho địa phương mình và được các cử tri của mình bầu ra. Đối với thủ đô Hà Nội, ngoài thành phần không thể thiếu được bởi tính đặc thù của 1 đơn vị hành chính, nhưng đồng thời là trung tâm chính trị, hành chính của cả nước, thì việc quy định số lượng đại biểu không phải là người bản địa được phép ở tỷ lệ cao hơn, vì các đại biểu đều có nghĩa vụ xây dựng một thủ đô của mình tương xứng với vị trí chính trị và uy thế của nó.

    – Đối với quá trình hiệp thương thành phần đại biểu, không nên xác định các tiêu chí về chỉ tiêu như hiện nay. Chẳng hạn, việc đặt chỉ tiêu về thành phần đại biểu Quốc hội đạt tỷ lệ bao nhiêu % giới tính này, độ tuổi này… vào Quốc hội mới được dân chủ, mà không thấy được nhân dân cần những ai đại diện tốt nhất cho họ chứ không phải vào thành phần giới tính, độ tuổi… của đại biểu.

    – Về vấn đề đại biểu kiêm nhiệm của hành pháp và tư pháp trong Quốc hội. Nên giảm tối đa số lượng đại biểu kiêm nhiệm trong cơ quan lập pháp. Một mặt, bảo đảm chủ quyền quyền lực của nhân dân trong Quốc hội. Mặt khác, xét về thực tiễn như hiện nay, có thể thấy rằng, với thời gian làm việc và nhiệm kỳ của các đại biểu Quốc hội nước ta, sẽ có những sự đối lập về lợi ích của chính những đại biểu này.

    Chẳng hạn, về thời gian thực hiện công việc, mỗi năm các đại biểu không chuyên trách chỉ mất khoảng 3 tháng để thực hiện công việc làm đại biểu của mình, 9 tháng còn lại thực hiện công việc nơi mình đang công tác, có thể tại cơ quan hành pháp hoặc tư pháp. Do đó, về lợi ích của cơ quan công tác và lợi ích của đại biểu Quốc hội nhiều khi phải cân nhắc. Tiếp theo, về kỷ luật công vụ của cơ quan công tác và tình cảm cá nhân. Khi công tác với tư cách là thành viên, nhiều vấn đề của cơ quan, Bộ, ngành cá nhân đó có thể biết và có thể đưa ý kiến lên Quốc hội, nhưng nhiều khi phải xem xét, cân nhắc ý kiến đó có đụng chạm đến lợi ích của mình, cơ quan mình, cấp trên, đồng nghiệp hay không. Nếu có, liệu có hợp lý khi đưa nó ra Quốc hội hay không. Do đó, các đại biểu này liệu có thể công minh mà đại diện cho nhân dân trong cơ quan lập pháp được không?

    Mặt khác, nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội nước ta hiện nay là 5 năm.

    Hay trong cơ cấu thành phần đại biểu Quốc hội là các Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong Quốc hội. Theo tư duy trước đây, quyền lực nên được tập trung và xuất phát từ chính Quốc hội. Vì vậy, những đại biểu Quốc hội càng xứng đáng được bầu vào vị trí lãnh đạo cao nhất của các tỉnh để thể hiện tinh thần tập trung. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có những sự cải cách về nhận thức không nhất thiết các thành phần này phải là đại biểu Quốc hội. Mặt khác, nếu dựa trên các nguyên lý pháp quyền thì các đối tượng này cũng không nên là đại biểu Quốc hội. Vì:

    Thứ nhất, với chủ trương nhất thể hóa hai chức danh lãnh đạo hiện nay ở nước ta, các vị trí này sẽ kiêm thêm chức Bí thư tỉnh ủy. Do đó, thời gian vật chất để thực hiện chức trách của một đại biểu Quốc hội là bất khả thi;

    Thứ hai, đây là hai chức danh có thẩm quyền rất lớn ở địa phương và rất cần được giám sát từ phía các đại biểu dân cử có thẩm quyền cao hơn. Cho nên, nếu họ có thêm thẩm quyền là đại biểu cho nhân dân địa phương, sẽ khó có cơ chế nào kiểm tra, giám sát được những vị trí siêu quyền lực của địa phương này. Mặt khác, việc bầu các đại biểu này vào Quốc hội sẽ làm vô hiệu hóa chức năng giám sát của các đại biểu dân cử ở địa phương đó. Chức năng kiểm tra, giám sát của các đại biểu Quốc hội cũng đòi hỏi yêu cầu về độc lập của các đại biểu đối với các cơ quan quyền lực ở địa phương. Do đó, nên hạn chế thành phần đại biểu kiêm nhiệm tại địa phương đó nhằm thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát của các đại biểu Quốc hội nói chung.

    Khoản 6, điểm 2, Hiến pháp Hoa Kỳ.

    Jean – Jacquens Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992, tr.73, Thanh Đạm dịch.

    Montesquieu, Tinh thần pháp luật tr. 110, Nxb. Giáo dục, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Luật, Hà Nội, 1996.

    Montesquieu, Tinh thần pháp luật, đã dẫn, tr.105.

    Điều 83 Hiến pháp năm 1992.

    Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 31/2001/QH10, ngày 25 tháng 11 năm 2001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10.

    Điều 9, khoản 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2010.

    Điểm a, khoản 2, Điều 8, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đã dẫn.

    Điều 85 Hiến pháp năm1992.

    Quyền kiểm tra, giám sát của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 98, Hiến pháp năm 1992.

    [21] Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được quy định tại Điều 83, Hiến pháp năm 1992.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Đảm Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Quốc Hội Về Quyết Định Chính Sách Dân Tộc
  • Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Quyền Và Trách Nhiệm Của Công Đoàn Việt Nam
  • Chức Năng Của Tổ Chức Công Đoàn
  • Dư Thi Cong Đoan Congdoanhuyen Doc
  • Bài Thi Tìm Hiểu Công Đoàn 85 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
  • Luận Văn Đề Tài Trình Bày Nội Dung Cơ Bản Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Lĩnh Vực Tài Chính Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Xử Nguyên Cán Bộ Hải Quannhận Hối Lộ
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Kiểm Soát Htx
  • Một Số Vấn Đề Về Vai Trò Của Cơ Quan Thanh Tra Đối Với Việc Kiểm Soát Quyền Lực Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Chế Về Chế Độ Làm Việc Của Ban Kiểm Soát
  • Bai Giang Hanh Vi To Chuc 2021
  • Chức năng kiểm soát sự phát triển nền kinh tế quốc dân là tổng thể những hoạt động của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động đúng định hướng kế hoạch và có hiệu quả. Nhiệm vụ của chức năng kiểm soát trong quản lý nhà nước về kinh tế là đánh giá chính xác kết quả hoạt động của nền kinh tế để có những can thiệp hợp lý của Nhà nước tới nền kinh tế. Bởi vậy, kiểm soát thực chất là một hệ thống phản hồi và dự báo. Hệ thống kiểm soát phản hồi chủ yếu kiểm soát những kết quả đầu ra để phát hiện sai lệch so với những chuẩn mực được xác định của Nhà nước để điều chỉnh. Hệ thống kiểm soát dự báo chủ yếu kiểm soát các yếu tố đầu vào để lường trước kết quả đầu ra từ đó có những can thiệp trước khi hoạt động. Chức năng kiểm soát phát triển kinh tế có nhiều nội dung khác nhau: Một là, kiểm soát sự phát triển theo định hướng kế hoạch của nền kinh tế. Trong nội dung kiểm soát này các loại kế hoạch từ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch phát triển, các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hàng năm đến các chương trình và dự án quốc gia là các chuẩn mực để kiểm soát. Mỗi sự sai lệch quá mức độ so với các mục tiêu kế hoạch trên đều cần có sự điều chỉnh nhất định. Hai là, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước. Trong loại kiểm soát này nguồn lực của đất nước là đối tượng kiểm soát của Nhà nước. Nhiệm vụ kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước là đảm bảo các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí. Ba là, kiểm soát việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Loại kiểm soát này nhằm đảm bảo việc chấp hành các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tất cả các tổ chức và cá nhân trong bộ máy quản lý nhà nước và xã hội. Bốn là, kiểm soát việc thực hiện các chức năng của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Nội dung kiểm soát này đảm bảo tính trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Năm là, kiểm soát tính hợp lý của các công cụ, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế để đảm bảo tính chất thúc đẩy kinh tế của chúng, kiểm soát lạm phát và biến động kinh tế trong nước.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Chính Của Phần Mềm Hệ Thống Điều Khiển Thiết Bị Không Dệt
  • Chức Năng Hoạt Động Chính Của Máy Chấm Công Kiêm Kiểm Soát Ra Vào
  • Tổ Chức Bộ Máy Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh, Thành Phố
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát?
  • Đồ Án Công Nghệ Sinh Học Sản Xuất Chế Biến Thực Phẩm Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Phẩm Chức Năng Wit Tốt Và Hiệu Quả Như Thế Nào?
  • Wit Bổ Mắt: Giá Bán, Cách Sử Dụng Và Lưu Ý
  • Giá, Nơi Mua Wit Bổ Mắt, Tránh Mờ, Mỏi, Khô, Nhức, Giảm Thị Lực
  • Vụ Tử Vong Nghi Uống Herbalife, Chuyên Gia Cảnh Báo Thực Phẩm Chức Năng
  • Quản Lý Thực Phẩm Chức Năng Của Các Nước Trên Thế Giới Và Việt Nam
  • Published on

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KĨ THUẬT HÓA HỌC BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC BKTP HCM ĐỒ ÁN CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM CHỨC NĂNG GVHD : TS. Nguyễn Thúy Hương SVTH : Vũ Thị Ngọc An – MSSV: 60600031 Nguyễn Kiều Oanh – MSSV: 60601729 Nguyễn Thị Minh Tâm – MSSV: 60602122 TP. Hồ Chí Minh, tháng 06/2010
    2. 2. LỜI CẢM ƠN Trong suốt 4 năm học tại trường Đại học Bách Khoa, ngành Công nghệ sinh học, chúng em đã được trang bị một hành trang vào đời quý báu và một kiến thức chuyên ngành mà chúng em yêu thích. Đồ án chuyên ngành này là thành quả làm việc nghiêm túc của từng cá nhân trong nhóm thực hiện suốt một học kì, bước đầu định hướng cho Luận văn tốt nghiệp, với đề tài : “Công nghệ sinh học ứng dụng trong sản xuất và chế biến thực phẩm chức năng”. Để hoàn thành tốt đồ án, ngoài công sức làm việc của mỗi cá nhân trong nhóm không thể không kể đến công lao to lớn của các thầy cô đã luôn theo sát chúng em. Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Quý thầy cô Bộ môn Công nghệ sinh học, đặc biệt là cô Nguyễn Thúy Hương đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian thực hiện đồ án. Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng đồ án chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo góp ý từ Quý thầy cô và ý kiến xây dựng từ các bạn để đồ án được hoàn thiện hơn nữa. TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 06 năm 2010 Nhóm SVTH: VŨ THỊ NGỌC AN NGUYỄN KIỀU OANH NGUYỄN THỊ MINH TÂM http://www.ebook.edu.vn – i –
    3. 3. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN…………………………………………………………………………………………………………i MỤC LỤC chúng tôi DANH MỤC BẢNG chúng tôi DANH MỤC HÌNH …………………………………………………………………………………………… xiii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT …………………………………………………………………………….. xviii LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………………………………………………….xix PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG……………………………………. 1 CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM THỰC PHẨM CHỨC NĂNG ……………………………………… 2 1.1. Khái niệm thực phẩm chức năng …………………………………………………………….. 2 1.2. Phân biệt thực phẩm chức năng với một số thực phẩm khác ………………………… 4 1.2.1 1.2.2 1.2.3 1.2.4 Thực phẩm thông thường (Ordinary food ingredients) …………………………..4 Thực phẩm chức năng (Functional Foods) ……………………………………………4 Thực phẩm thuốc (Medical Foods)……………………………………………………… 4 Thuốc và dược liệu (Drug) ………………………………………………………………… 5 1.3. Lịch sử nghiên cứu thực phẩm chức năng trong nước và trên thế giới …………… 6 1.3.1. Trên thế giới…………………………………………………………………………………….. 6 1.3.2. Tình hình sử dụng thực phẩm chức năng ở Việt Nam……………………………. 6 CHƯƠNG 2. PHÂN LOẠI THỰC PHẨM CHỨC NĂNG – VAI TRÒ SINH HỌC…… 8 2.1. Phân loại thực phẩm chức năng………………………………………………………………… 8 2.1.1. Các chất xơ chức năng trong dinh dưỡng …………………………………………….. 8 2.1.2. Các loại đường đa phân tử chức năng (Oligosaccharides) ……………………… 9 http://www.ebook.edu.vn – ii –
    4. 4. 2.1.3. Acid amin, peptide và protein chức năng …………………………………………….. 9 2.1.4. Vitamin và khoáng chất …………………………………………………………………….. 9 2.1.5. Vi khuẩn sinh acid lactic, acid butyric………………………………………………..10 2.1.6. Acid béo chưa no …………………………………………………………………………….10 2.1.7. Các loại sắc tố thực vật …………………………………………………………………….11 2.2. Phân loại dựa theo nguyên liệu thực phẩm chức năng ………………………………..11 2.2.1. Thực phẩm chức năng có nguồn gốc thực vật ……………………………………..11 2.2.2. Thực phẩm chức năng có nguồn gốc động vật …………………………………….13 2.3. Vai trò sinh học của một số loại thực phẩm chức năng tới sức khỏe …………….16 2.3.1. Thực phẩm chức năng nguồn gốc thực vật ………………………………………….16 2.3.2. Thực phẩm chức năng từ nguồn nguyên liệu sinh vật biển và động vật ….22 2.3.3. Thực phẩm chức năng từ nguồn nguyên liệu nấm………………………………..27 CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP LÀM GIÀU CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG ……………………………………………………………………………………………………………..33 3.1. Chọn giống cây trồng vật nuôi giàu chất dinh dưỡng chức năng ………………….33 3.2. Làm giàu chất dinh dưỡng thông qua con đường chế biến thực phẩm ………….34 3.3. Làm giàu chất dinh dưỡng thông qua kĩ thuật, chăn nuôi ……………………………35 CHƯƠNG 4. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ QUẢN LÝ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TRÊN THỊ TRƯỜNG …………………………………………………………………………….36 4.1. Qui định về sự công nhận tác dụng các chất dinh dưỡng chức năng …………….36 4.1.1. Quản lý tiêu chuẩn về mặt khoa học các chất dinh dưỡng chức năng……..36 4.1.2. Yêu cầu chấp nhận của cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và dược phẩm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ ………………………………………………37 4.2. Qui định về tên gọi và dán nhãn, lưu hành trên thị trường…………………………..37 4.1.1. Mục tiêu của dán nhãn thực phẩm thông thường và TPCN …………………..37 http://www.ebook.edu.vn – iii –
    5. 5. 4.1.2. Cơ quan quản lý dán nhãn thực phẩm ………………………………………………..37 PHẦN 2. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN TRONG SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG …………………………………………………………………………………………39 CHƯƠNG 1.THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN CỦA THỰC PHẨM CHUYỂN GEN ……40 1.1. Tình hình phát triển của thực phẩm chuyển gen trên thế giới và ở Việt Nam…..40 1.1.1. Trên thế giới ……………………………………………………………………………………..40 1.1.2. Tình hình phát triển thực phẩm chuyển gen ở Việt Nam …………………………47 1.2. Những đặc tính mới của sinh vật chuyển gen được dùng trong thực phẩm chức năng ……………………………………………………………………………………………………………..48 1.2.1. Thực vật ……………………………………………………………………………………………48 1.2.2. Động vật …………………………………………………………………………………………..51 CHƯƠNG 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN GEN…………………………………………..57 2. 1.Thực vật………………………………………………………………………………………………….57 2. 1.1. Phương pháp chung …………………………………………………………………………..57 2.1.2. Kỹ thuật cơ bản …………………………………………………………………………………58 2.2. Động vật …………………………………………………………………………………………………71 2.2.1. Nguyên tắc………………………………………………………………………………………..71 2.2.2. Các phương pháp……………………………………………………………………………….76 CHƯƠNG 3. TĂNG CƯỜNG FOLATE TRONG CÁC LOẠI CÂY THỰC PHẨM ..81 3.1. Folate ……………………………………………………………………………………………………..82 3.1.1. Giới thiệu về folate …………………………………………………………………………….82 3.1.2. Các dạng của folate ……………………………………………………………………………83 3.1.3. Sự thiếu hụt folate và sức khỏe ……………………………………………………………84 3.1.4. Nhu cầu folate …………………………………………………………………………………..85 http://www.ebook.edu.vn – iv –
    6. 6. 3.2. Cà chua tăng cường folate thế hệ 1 …………………………………………………………….86 3.2.1. Nguyên lý …………………………………………………………………………………………86 3.2.2. Vật liệu và phương pháp …………………………………………………………………….88 3.2.3. Kết quả……………………………………………………………………………………………..92 3.2.4. Bàn luận………………………………………………………………………………………….100 3.3. Cà chua tăng cường folate thế hệ 2 …………………………………………………………..102 3.3.1. Vật liệu và phương pháp …………………………………………………………………..102 3.3.2. Kết quả……………………………………………………………………………………………103 3.4. Gạo tăng cường folate …………………………………………………………………………….105 3.4.1. Vật liệu và phương pháp …………………………………………………………………..105 3.4.2. Kết quả……………………………………………………………………………………………106 3.5. Những thành tựu và hướng phát triển ……………………………………………………….112 3.5.1. Thành tựu………………………………………………………………………………………..112 3.5.2. Hướng phát triển………………………………………………………………………………114 3.6. Kết luận về các loại cây trồng chuyển gen được làm giàu folate ………………….117 CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VỀ CÁC LOẠI CÂY CHUYỂN GEN GIÀU CHẤT DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG …………………………………………………………………………………..118 PHẦN 3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VI SINH TRONG SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG …………………………………………………………………………………………………..120 CHƯƠNG 1. TẢO SPIRULINA ………………………………………………………………………..121 1.1. Giới thiệu chung ………………………………………………………………………………….121 1.2. Tổng quan về tảo Spirulina …………………………………………………………………..123 1.2.1. Lịch sử phát hiện……………………………………………………………………………123 1.2.2. Phân loại ………………………………………………………………………………………123 1.2.3. Đặc điểm sinh học của tảo Spirulina ………………………………………………..123 http://www.ebook.edu.vn – v –
    7. 7. 1.2.4. Thành phần hóa học của Spirulina …………………………………………………..126 1.2.5. Tình hình nuôi trồng và phát triển Spirulina ……………………………………..129 1.2.6. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Spirulina …………………………………….130 1.2.7. Công nghệ nuôi trồng tảo Spirulina………………………………………………….136 1.2.8. Các phương pháp phá vỡ tế bào S.platensis ………………………………………140 1.3. Nghiên cứu tình huống …………………………………………………………………………142 1.3.1. Nghiên cứu xử lý tảo Spirulina………………………………………………………..142 1.3.2. Nghiên cứu chiết suất các hợp chất chống oxy hóa từ S.platensis ………..154 1.3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của sinh khối Spirulina platensis lên hệ vi khuẩn của sữa lên men ABT trong suốt thời gian bảo quản ……………………………………..167 1.4. Giới thiệu một số sản phẩm Spirulina hiện nay ……………………………………….180 1.5. Kết luận………………………………………………………………………………………………182 CHƯƠNG 2. FRUCTOOLIGOSACCHARIDE (FOS) ………………………………………..184 2.1. Tổng quan về FOS ……………………………………………………………………………….184 2.1.1. Khái niệm FOS ……………………………………………………………………………..184 2.1.2. Nguồn gốc FOS – Cấu tạo ………………………………………………………………185 2.1.3. Tính chất của FOS: ………………………………………………………………………..189 2.1.4. Ảnh hưởng của FOS lên cơ thể và sức khỏe con người ………………………191 2.1.5. Tính an toàn và ứng dụng của FOS ………………………………………………….195 2.1.6. Tình hình nghiên cứu và sản xuất FOS trên thế giới …………………………..197 2.1.7. Giới thiệu các enzyme trong sản xuất FOS ……………………………………….204 2.1.8. Tiềm năng cho sản xuất FOS tại Việt Nam ……………………………………….209 2.2. Thu nhận và tinh sạch enzyme-fructofuranosidase từ chủng nấm mốc Aspergillus niger IMI303386 …………………………………………………………………………211 2.2.1. Tóm tắt nghiên cứu ………………………………………………………………………..211 2.2.2. Nguyên liệu và phương pháp …………………………………………………………..211 http://www.ebook.edu.vn – vi –
    8. 9. 2.7.3. Sản xuất kẹo ………………………………………………………………………………….257 2.8. Kết luận chung về sản xuất FOS và ứng dụng cho đến nay ……………………….259 KẾT LUẬN CHUNG ĐỀ TÀI ……………………………………………………………………………261 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………………….262 http://www.ebook.edu.vn – viii –
    9. 11. PHẦN 3: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VI SINH TRONG SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Bảng 1.1: Thành phần hóa học của Spirulina …………………………………………………………126 Bảng 1.2: Thành phần vitamin của Spirulina ………………………………………………………….127 Bảng 1.3: Thành phần khoáng của tảo Spirulina …………………………………………………….127 Bảng 1.4: Thành phần acid amin của tảo Spirulina …………………………………………………128 Bảng 1.5: Các chất màu trong Spirulina ………………………………………………………………..128 Bảng 1.6: Các loại thực phẩm được chế biến từ tảo Spirulina…………………………………..131 Bảng 1.7: Môi trường cơ bản( môi trường Zarrouk) ………………………………………………..137 Bảng 1.8: Môi trường bổ sung 1……………………………………………………………………………138 Bảng 1.9: Môi trường bổ sung 2……………………………………………………………………………138 Bảng 1.10: So sánh mẫu thử nghiệm từ 1 đến 10 với mẫu chuẩn ………………………………151 Bảng 1.11: Các mẫu so sánh không bổ sung đường được so sánh với mẫu chuẩn ……….152 Bảng1.12: So sánh hàm lượng phycocyanin giữa các mẫu ……………………………………….153 Bảng 1.13: Mức độ mã hóa thử nghiệm của các yếu tố dùng trong thiết kế Box-Behnken …………………………………………………………………………………………………………………………160 Bảng 1.14: Ma trận thiết kế bởi Box-Behnken cùng với thí nghiệm và dự đoán giá trị hiệu suất của dịch chiết. ……………………………………………………………………………………………..163 Bảng 1.15: Thành phần và hàm lượng tương đối của acid béo trong dịch chiết từ ………166 Bảng 1.16: Những thành phần có thể đóng góp trong chất hoạt động chống oxy hóa từ S.platensis ………………………………………………………………………………………………………….166 Bảng 1.17: Số lượng tồn tại (log CFU/ml) của Streptococcus thermophilus, Lactobacillus acidophilus, và Bifidobacterium spp. trong sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian bảo quản ở 15°C. ………………………………………………………174 http://www.ebook.edu.vn – x –
    10. 12. Bảng 1.18: Tỷ lệ % tồn tại của Streptococcus thermophilus, Lactobacillus acidophilus, và Bifidobacterium spp. trong sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian bảo quản ở 15°C. …………………………………………………………………………………..174 Bảng 1.19: pH và độ chua của sản phẩm sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian lưu trữ ở 150C. …………………………………………………………………..176 Bảng 1.20: Số lượng tồn tại (logCFU/ml) của Streptococcus thermophilus, Lactobacillus acidophilus, và Bifidobacterium spp. trong sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian bảo quản ở 4°C. ………………………………………………………..177 Bảng 1.21: Tỷ lệ % tồn tại của Streptococcus thermophilus, Lactobacillus acidophilus, và Bifidobacterium spp. trong sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian bảo quản ở 4°C. …………………………………………………………………………………….177 Bảng 1.22: pH và độ chua của sản phẩm sữa lên men bổ sung Spirulina và lên men thông thường trong thời gian lưu trữ ở 40C. …………………………………………………………………….179 Bảng 2.1: Hàm lượng FOS của một số loại cây quả (mg/g chất khô)…………………………186 Bảng 2.2: Nguồn enzyme tổng hợp FOS từ thực vật ……………………………………………….188 Bảng 2.3: Vi sinh vật sản xuất FOS ………………………………………………………………………189 Bảng 2.4: Đặc tính của FOS so với một số loại đường khác …………………………………….190 Bảng 2.5: Diễn biến tăng trưởng của ngành công nghiệp mía đường trên toàn quốc …..210 Bảng 2.6: Kết quả tinh sạch-fructofuranosidase từ A. niger IMI 303386…………………215 Bảng 2.7: Ảnh hưởng của các ion kim loại và hợp chất lên hoạt tính enzyme- fructofuranosidase của A. niger …………………………………………………………………………….221 Bảng 2.8: Thành phần đường so sánh giữa FOS và FOS cao độ ……………………………….243 Bảng 2.9: Thành phần đường trong dịch mía ………………………………………………………….245 Bảng 2.10: Ảnh hưởng của tỉ lệ Enzyme/cơ chất tới sự biến đổi thành phần đường…….249 Bảng 2.11: Thành phần và hàm lượng đường có trong sản phẩm FOS ………………………250 http://www.ebook.edu.vn – xi –
    11. 13. Bảng 2.12: Thành phần của bột dinh dưỡng trẻ em …………………………………………………253 Bảng 2.13: Kết quả đánh giá cảm quan bột dinh dưỡng trẻ em …………………………………254 Bảng 2.14: Thành phần của bánh bích quy …………………………………………………………….256 Bảng 2.15: Kết quả đánh giá cảm quan bánh bích quy …………………………………………….257 Bảng 2.16: Thành phần của hai loại kẹo ………………………………………………………………..259 Bảng 2.17: Kết quả đánh giá cảm quan của hai loại kẹo…………………………………………..259 http://www.ebook.edu.vn – xii –
    12. 14. DANH MỤC HÌNH PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Hình 2.1: Công thức cấu tạo Soyasaponin I – IV ……………………………………………………..17 Hình 2.2: Công thức cấu tạo isoflavone và dẫn xuất …………………………………………………17 Hình 2.3: Công thức hóa học của lycopene………………………………………………………………18 Hình 2.4: Công thức cấu tạo các hợp chất catechin trong trà xanh ……………………………..20 Hình 2.5: Các hợp chất curcumin trong củ nghệ ……………………………………………………….22 Hình 2.6: Giới thiệu hình ảnh một số loại nấm …………………………………………………………32 PHẦN 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN TRONG SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Hình 1.1 : Diện tích cây trồng CNSH trên thế giới từ 1996 đến 2007 ………………………….42 Hình 2.1: Vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens nhìn dưới kính hiển vi. ……………………..59 Hình 2.2: Khối u ở thực vật do Agrobacterium tumefaciens gây ra……………………………..59 Hình 2.3: Công thức cấu tạo của opine (octopin, nopalin) …………………………………………60 Hình 2.4: Sơ đồ gen của Ti-plasmid trong vi khuẩn A. tumefaciens ……………………………64 Hình 2.5: Sơ đồ plasmid tái tổ hợp dựa trên nguyên tắc của Ti-plasmid ……………………..64 Hình 2.6: Quá trình tạo cây chuyển gen nhờ A.tumefaciens. ………………………………………65 Hình 2.7 : Súng bắn gen (Hãng Biorad) …………………………………………………………………..66 Hình 2.8: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của súng bắn gen ……………………………………………67 Hình 2.9 : Sơ đồ màng phospholipid kép ………………………………………………………………..68 Hình 2.10 : Cuvette nhựa có điện cực ……………………………………………………………………..68 Hình 2.11: Sơ đồ bố trí mạch cơ bản của máy xung điện …………………………………………..69 http://www.ebook.edu.vn – xiii –
    13. 15. Hình 2.12 : Sơ đồ plasmid chứa DNA ngoại lai đi qua các lỗ tạm thời trên màng bào chất …………………………………………………………………………………………………………………………..70 Hình 2.13: Vi tiêm gen ngoại lai vào nhân của protoplast ………………………………………….71 Hình 2.14 : Sơ đồ tạo động vật chuyển gen ……………………………………………………………..72 Hình 2.15: Trứng cá chạch (Misgurnus anguillicaudatus) trước và sau khi khử màng thứ cấp (chorion) ………………………………………………………………………………………………………..75 Hình 2.16 : Phức hợp DNA-calcium phosphat …………………………………………………………78 Hình 2.17: Sự kết hợp giữa DEAE-dextran và DNA …………………………………………………78 Hình 3.1: Cấu trúc hóa học của folate ……………………………………………………………………..82 Hình 3.2: Con đường sinh tổng hợp folate ……………………………………………………………….87 Hình 3.3: Cấu trúc vector pMON10086 …………………………………………………………………..88 Hình 3.4: Vùng 5′ của cDNA GCHI tổng hợp………………………………………………………….89 Hình 3.5: Nguyên lý tạo cây cà chua chuyển gen thế hệ 1………………………………………….89 Hình 3.6: Phân tích HPLC huỳnh quang những pteridine oxi hóa trong quả chín đỏ (Cột Ultramex C18 IP) …………………………………………………………………………………………………..93 Hình 3.7: Sự thay đổi trong lượng pteridine tổng của quả đối chứng (V2) và quả GCHI+ trong suốt quá trình chín ………………………………………………………………………………………..94 Hình 3.8 : Các giai đoạn chín của cà chua ………………………………………………………………94 Hình 3.9: Định lượng các pteridine chính trong quả chín đỏ của 3 thể biến nạp GCHI+ đại diện …………………………………………………………………………………………………………………….95 Hình 3.10: Phân tích HPLC huỳnh quang peak 1 và 2 chưa biết trước và sau khi xử lý với HCl, α-glucosidase hoặc β-glucosidase …………………………………………………………………..96 Hình 3.11: Hàm lượng folate tổng trong quả chín đỏ của 12 thể biến nạp GCHI+ và 10 thể biến nạp đối chứng ……………………………………………………………………………………………….97 http://www.ebook.edu.vn – xiv –
    14. 16. Hình 3.12: Phân tích folate trong quả GCHI+ và quả đối chứng ………………………………..98 Hình 3.13: Ảnh hưởng của PABA ngoại sinh đến hàm lượng folate …………………………..99 Hình 3.14: Nguyên lý tạo cây cà chua chuyển gen thế hệ 2 ……………………………………..103 Hình 3.15: Hàm lượng folate, PABA, và pteridine tích lũy trong các dòng AtADCS+, GCHI+ và GCHI+/AtADCS+ ……………………………………………………………………………..104 Hình 3.16: Giản đồ đại diện của T-DNA trong các vector dùng để chuyển gen …………105 Hình 3.17: Mức PABA và folate tổng trong những dòng A …………………………………….107 Hình 3.18: Mức pterin và folate tổng trong những dòng G ………………………………………108 Hình 3.19: Mức PABA, pterin và folate tổng trong những dòng GA ………………………..108 Hình 3.20: So sánh thành phần các loại folate chính trong dòng GA so với dòng WT …110 Hình 3.21: Tỷ lệ tương đối của polyglutamate và monoglutamate folate của dòng GA và WT …………………………………………………………………………………………………………………..111 Hình 3.22: Sự thay đổi mức folate tổng trong hạt của dòng GA khi nấu ……………………112 PHẦN 3: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VI SINH TRONG SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG Hình 1.1: Hình dạng tảo Chlorella, Scenedesmus, Spirulina ……………………………………121 Hình 1.2: Hình dạng của tảo Spirulina ………………………………………………………………….124 Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời của Spirulina ………………………………………………………………..125 Hình 1.4: Sơ đồ của quá trình chiết SC-CO2 ………………………………………………………….161 Hình 1.5: Hoạt chất chống oxy hóa được đánh giá bằng phương pháp ức chế quá trình peroxide hóa của acid linoleic ……………………………………………………………………………..165 Hình 2.1: Công thức cấu tạo của FOS …………………………………………………………………..187 Hình 2.2: Sự thay đổi nồng độ insulin trong máu …………………………………………………..191 http://www.ebook.edu.vn – xv –
    15. 17. Hình 2.3: Sự thay đổi nồng độ glucose trong máu ………………………………………………….191 Hình 2.4: Sự thay đổi nồng độ fructose trong máu …………………………………………………192 Hình 2.5: Quy trình sản xuất FOS từ FTS vi sinh vật ……………………………………………..201 Hình 2.6: Sơ đồ quy trình sản xuất FOS liên tục và không liên tục ……………………………202 Hình 2.7: Cơ chế chuyển hóa tạo FOS từ sucrose của FTS A.pullulans …………………….206 Hình 2.8: Quá trình oxy hóa glucose dưới tác dụng của enzyme GOD ……………………..208 Hình 2.9: Phản ứng oxy hóa glucose dưới tác dụng của hệ 2 enzyme GOD và CAT …..209 Hình 2.10: Sắc ký trao đổi ion DEAE-Sepharose …………………………………………………..216 Hình 2.11: Sắc ký lọc gel Ultrogel AcA44 của-fructofuranosidase ………………………..217 Hình 2.12: Kết quả điện di SDS-PAGE của-fructofuranosidase ……………………………218 Hình 2.13: Ảnh hưởng của pH lên hoạt tính và độ ổn định của-fructofuranosidase ….219 Hình 2.14: Ảnh hưởng của nhiệt độ lên hoạt tính và độ ổn định của-fructofuranosidase …………………………………………………………………………………………………………………………220 Hình 2.15: Sự thay đổi pH và hoạt tính FTS trong quá trình nuôi cấy nhiều chu kì A. oryzae CFR 202 ………………………………………………………………………………………………….225 Hình 2.16: Hàm lượng FOS sinh ra bởi FTS qua các chu kì nuôi cấy A. oryzae …………225 Hình 2.17: Nồng độ và phần khối lượng của các loại đường theo thời gian ……………….229 Hình 2.18: Sản xuất FOS sử dụng tế bào cố định và tế bào không cố định …………………230 Hình 2.19: Ảnh hưởng của lượng tế bào cố định trong mạng gluten ………………………….231 Hình 2.20: Phần khối lượng FOS và năng suất tạo FOS theo tốc độ dòng chảy ………….232 Hình 2.21: Ảnh hưởng của nhiệt độ (A) và pH (B) lên hỗn hợp enzyme ……………………236 Hình 2.22: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ FOS tạo thành ……………………………………237 Hình 2.23: Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến tỉ lệ FOS tạo thành ……………………….238 http://www.ebook.edu.vn – xvi –
    16. 18. Hình 2.24: Ảnh hưởng của lưu lượng oxy đến sản xuất FOS …………………………………..239 Hình 2.25: Ảnh hưởng của nồng độ sucrose đến tỉ lệ tạo FOS …………………………………240 Hình 2.26: Ảnh hưởng của nồng độ glucose oxidase lên tỉ lệ tạo FOS ……………………..241 Hình 2.27: Tỉ lệ các loại đường trong hỗn hợp phản ứng ở điều kiện tối ưu ………………242 Hình 2.28: Sắc ký đồ HPLC của FOS và FOS cao độ …………………………………………….242 Hình 2.29: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng vận chuyển Fructose ……………………246 Hình 2.30: Ảnh hưởng của pH đến khả năng vận chuyển Fructose …………………………..247 Hình 2.31: Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng vận chuyển Fructose ………………….247 Hình 2.32: Sắc ký đồ của đường FOS và các loại đường trong mẫu nghiên cứu ………..250 Hình 2.33: Sắc ký đồ của đường FOS chuẩn …………………………………………………………250 Hình 2.34: Sơ đồ quy trình sản xuất siro FOS từ nước mía sử dụng Pectinex Ultra SP-L …………………………………………………………………………………………………………………………251 Hình 2.35: Sơ đồ quy trình sản xuất bột dinh dưỡng trẻ em có bổ sung FOS …………….253 Hình 2.36: Sơ đồ quy trình sản xuất bánh bích quy sử dụng đường FOS …………………..255 Hình 2.37: Sơ đồ quy trình sản xuất đường cứng sử dụng đường FOS ……………………..258 http://www.ebook.edu.vn – xvii –
    17. 19. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT AAPH : 2,2′-azobis (2-amidinopropane) hydrochloride. ABT : Hệ vi khuẩn Lactobacillus acidophilus (A), Bifidobacteria (B), và Streptococcus thermophilus (T) ADCS : enzyme aminodeoxychorismate synthase BHT : Butylated hydroxytoluene. DALY : disability adjusted life years: tỷ lệ khuyết tật được điều chỉnh hàng năm DFE : dietary folate equivalents: hàm lượng folate tương đương trong bữa ăn FAME : Fat Acid Methyl Esters. FDA FOS FTS : Food and Drug Administration: tổ chức Thực phẩm và Thuốc Hoa Kỳ : Fructooligosaccharide : Fructosyltransferase GC-MS : Gas Chromatography-Mass Spectometry – Sắc kí khí-khối phổ. GCHI :enzyme GTP cyclohydrolase I GOD NTD : Glucose oxidase : neural tube defects: dị tật ống thần kinh PAPA : p-aminobenzoate RSM : Response Surface Method – Phương pháp bề mặt đáp ứng. SC-CO2: Supercritical carbon dioxide – CO2 siêu tới hạn. THF : tetrahydrofolate Trolox : 6-hydroxyl-2,5,7,8-tetramethylchroman-2-carboxylicacid. WT : wild type: chủng hoang dại http://www.ebook.edu.vn – xviii –
    18. 20. LỜI NÓI ĐẦU Trong hơn 20 năm qua, người dân cũng như giới khoa học đã có thêm một cái nhìn nữa về thực phẩm. Thực phẩm không chỉ là để duy trì sự sống mà còn thêm khả năng tăng cường sức khỏe, giảm thiểu các bệnh mãn tính do thiếu cân bằng dinh dưỡng. Từ đó khơi nguồn cho sự tìm hiểu và chế biến loại thực phẩm trong đó ngoài việc cung cấp nhu cầu dinh dưỡng cơ bản mà các thành phần cấu tạo còn có tác dụng tích cực vào những nhiệm vụ khác nhau của cơ thể. Đó là ” Thực phẩm chức năng”. Các nhà khoa học trên thế giới đã dự báo rằng: thức ăn của con người trong thế kỉ XXI sẽ là thực phẩm chức năng. Các hoạt chất mà thực phẩm chức năng mang lại cho con người chính là những vị thuốc quý, giúp con người tăng cường miễn dịch, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ, phòng và chữa các bệnh mãn tính, kể cả ung thư. Loại thực phẩm chức năng đầu tiên được kể đến là những thực phẩm mà khi ở dạng tự nhiên đã có những hoạt chất có lợi cho con người. Tiếp đó là nhóm thực phẩm có ít hoạt chất hơn, phải bổ sung hoặc tinh chế, cô đặc lại ở dạng dễ sử dụng, hay biến đổi gen để tăng hàm lượng một số chất có lợi. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học, việc chế biến và sản xuất thực phẩm chức năng đã trở nên dễ dàng hơn. Con người đã tạo ra các thực phẩm chức năng rất đa dạng về thể loại và phong phú về hoạt tính sinh học. Đối với nước ta, đây là lĩnh vực có nhiều triển vọng, bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, cùng với sự đầu tư vào công nghệ sinh học, bước đầu đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. http://www.ebook.edu.vn – xix –
    19. 21. Phần 1: Tổng quan về thực phẩm chức năng PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG – 1 –
    20. 22. Chương 1: Khái niệm thực phẩm chức năng CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 1.1. Khái niệm thực phẩm chức năng Khái niệm và tên gọi về thực phẩm chức năng bắt nguồn từ Nhật Bản. Vào năm 1980 Bộ Y tế và Sức khỏe của nước này bắt đầu xây dựng hệ thống tổ chức trong Bộ, tổ chức này có nhiệm vụ điều chỉnh và công nhận những loại thực phẩm có hiệu quả cải thiện sức khỏe của cộng đồng dân cư. Họ cho phép ghi trên nhãn hiệu hàng hóa thực phẩm sử dụng cho sức khỏe con người, được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh là FOSHU (Foods for Specified Health Use). Sau hơn 20 năm hoạt động trên lĩnh vực này, đến tháng 9 năm 2001 đã có trên 271 sản phẩm thực phẩm mang nhãn hiệu FOSHU. Ở Nhật, thực phẩm chức năng được định nghĩa như sau : Những loại thực phẩm có hiệu quả lên sức khỏe bởi các chất dinh dưỡng truyền thống và các hoạt chất sinh học có chứa trong nó, người ta gọi là thực phẩm chức năng. Sau đó, thực phẩm chức năng xuất hiện trên nhiều nước khác. Ở Mỹ quan điểm về thực phẩm chức năng của ADA (The American Dietetic Association): Thực phẩm chức năng là bao gồm tất cả các thành phần có trong nó và cũng là thực phẩm được làm mạnh them, làm giàu thêm hoặc nâng cao thêm yếu tố nào đó, có hiệu quả tiềm năng đến sức khỏe khi tiêu thụ một phần nó trong khẩu phần có nhiều loại một cách thường xuyên với mức độ có tác dụng. Theo FDA thì : Thực phẩm chức năng là loại thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng cơ bản có ích cho sức khỏe. Thực phẩm chức năng là thực phẩm mà nếu ăn nó, thì sức khỏe sẽ tốt hơn khi không ăn nó. Ví dụ như rau xanh và trái cây có chứa đủ chất để làm tăng cường sức khỏe. Những chất có hoạt tính sinh học trong thực phẩm chức năng có ích cho sức khỏe hoặc có ảnh hưởng sinh lý theo hướng mong muốn. Theo IFIC (The International Food Information Council) thì thực phẩm chức năng là thực phẩm có lợi cho sức khỏe bởi các chất dinh dưỡng cơ bản. – 2 –
    21. 23. Chương 1: Khái niệm thực phẩm chức năng Theo ILSI (The International Life Sciences Institute of North America) thì thực phẩm chức năng là loại thực phẩm có chứa hoạt tính sinh học có ích cho sức khỏe trên cơ sở các chất dinh dưỡng cơ bản. Viện nghiên cứu Y học của Viện hàn lâm khoa học Mỹ cho rằng : thực phẩm chức năng là thực phẩm có chứa một hay nhiều hơn những nguyên liệu thực phẩm có sửa đồi để nâng cao hiệu quả cho sức khỏe. Ở Trung Quốc thì thực phẩm chức năng được coi là thực phẩm bao gồm các chất dinh dưỡng như thực phẩm bình thường, nhưng đặc biết có chứa yếu tố thứ hai hay thứ ba có tác dụng phòng chống bệnh như là dược liệu. Tại Việt Nam từ 1990 – 1991, Viện Dinh dưỡng đã xác định : Thực phẩm chức năng là thực phẩm có chứa các chất có hoạt tính sinh học cần thiết cho sức khỏe bao gồm cả thực phẩm chế biến cải tiến, thức ăn cổ truyền dân tộc và các thành phần không dinh dưỡng khác có tác động đặc biệt và cần thiết cho sức khỏe. Thuộc tính chức năng nói lên vai trò sinh học của một hay nhiều chất dinh dưỡng chức năng có trong thực phẩm truyền thống, nó được phát hiện ra với những thành phần các chất đặc biệt có hữu ích cho sức khỏe. Cần phải có sự kết hợp nghiên cứu yểm trợ để xác định hiệu quả sức khỏe cũng như nguy cơ của thực phẩm chức năng khi ăn đơn điệu chúng với những thành phần có hoạt tính sinh lý mạnh trong thực phẩm chức năng. Chuyên ngành dinh dưỡng sẽ tiếp tục cùng với công nghệ thực phẩm, nhà nước, hội đồng khoa học, và các cơ quan truyền thong phải có những chỉ dẫn chính xác rõ ràng về mặt khoa học của thực phẩm và dinh dưỡng để người tiêu thụ biết cách áp dụng. Khi nghiên cứu về thực phẩm chức năng và thuốc trị bệnh, người ta thấy nó như là vùng giao thoa giữa thực phẩm và thuốc. Nó vừa chứa các chất dinh dưỡng như là thực phẩm truyền thống, lại vừa có hoạt chất sinh học có tác dụng phòng trị bệnh như là thuốc . 1.2.2 Thực phẩm chức năng (Functional Foods) Là thực phẩm ngoài chất dinh dưỡng cơ bản ra, còn chứa một số hoạt chất chức năng đặc biệt ở mức độ cao, có tác dụng phòng chống bệnh tật, đảm bảo cho sức khỏe bền vững. Thực phẩm chức năng phải được công bố thành phần các chất dinh dưỡng chức năng trong thực phẩm và có hướng dẫn sử dụng để phòng chống những bệnh tật gì. Thực phẩm chức năng không cần phải có sự kê đơn hoặc quản lý theo dõi điều trị trong phòng và chữa trị bệnh, thực phẩm phải được đăng kí theo qui định của điều lệ Vệ sinh an toàn thực phẩm . 1.3.2. Tình hình sử dụng thực phẩm chức năng ở Việt Nam Đối với nước ta, việc nghiên cứu tạo ra các chế phẩm thực phẩm chức năng mang phương châm ” công nghệ cao, bản sắc cổ truyền” là hướng nghiên cứu rất lý thú và có lợi thế, bởi vì chúng ta có thế mạnh về tài nguyên sinh học nhiệt đới và có kho tàng kinh – 6 –
    22. 27. Chương 1: Khái niệm thực phẩm chức năng nghiệm phong phú của nền y học dân tộc. Từ lâu đời, nhân dân ta đã biết sử dụng bột cóc để chống bệnh còi xương cho trẻ em, sử dụng côn trùng và các động vật rừng với mục đích bổ dưỡng và làm thuốc chữa bệnh. Ngoài ra, còn nhiều loại sản phẩm biển có giá trị dinh dưỡng cao, dược liệu quý như yến sào, bào ngư, hải sâm, vi cá, các loài nhuyễn thể biển…phục vụ các bữa yến tiệc cung đình. Kho tàng kinh nghiệm này không ngừng được bổ sung từ thế hệ này qua thế hệ khác qua quá trình lao động chinh phục thiên nhiên và đang được nền y học hiện đại soi sáng, chứng minh. Phòng Hóa sinh protein, thuộc Viện Công nghệ sinh học đã tiến hành phân tích sinh hóa 4 loài hải sâm ăn được, 4 loài rắn biển ăn được và loài cầu gai. Từ đó đã phát hiện được một số hoạt chất sinh học quan trọng có trong thịt của chúng. Các phát hiện này đã tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và sản xuất thực phẩm chức năng, các chế phẩm tăng lực đầu tiên cho vận động viên Việt Nam. Bước đầu đưa vào sử dụng đã giúp cho các vận động viên đạt được một số cải thiện về thể lực, thi đấu thành công. Những kết quả nghiên cứu bước đầu về thực phẩm chức năng ở trong nước có ý nghĩa to lớn, có triển vọng đóng góp cao cho ngành công nghiệp dược của nước ta. Trong tương lai sẽ phát triển những loại thực phẩm cung cấp năng lượng cao, có thể tích nhỏ, thuận lợi cho việc vận chuyển, không phải nấu nướng và khẩu vị phải đa dạng. Các yếu tố trí nhớ và nâng cao sức đề kháng, sức chống chịu của cơ thể…sẽ được đưa vào thực phẩm chức năng dùng cho nhân dân, người lao động trí óc, đặc biệt cho bộ đội trong các cuộc hành quân thần tốc và trong chiến tranh tình hình mới Hình 2.2: Công thức cấu tạo isoflavone và dẫn xuất – 18 –
    23. 39. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Bảng 2.2: Hàm lượng lycopene trong một số sản phẩm cà chua Loại sản phẩm cà chua Súp cà chua, 1 chén Mì sợ Spaghetti xốt cà chua, ½ chén Cà chua đóng hộp, ½ chén Xốt cà chua nấm, 2 muỗng canh 1 trái cà chua tươi chín, trung bình Số lượng lycopene (mg) 24.8 19.4 11.8 5.1 3.7 Catechin ức chế hữu hiệu các gốc tự do, chống béo phì, có tác dụng diệt khuẩn chúng tôi O-157. EGCG chống lại tổn thương DNA và các bướu trong phổi do gốc tự do gây ra, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, ngăn ngừa bệnh tiểu đường phát triển, bảo vệ tim, giảm đột biến gen, giảm nguy cơ viêm khớp … – 20 –
    24. 41. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Bảng 2.3: Khả năng ức chế các gốc tự do của các hợp chất trong trà xanh Tên hợp chất trong trà xanh EGCG EGC ECG EC % Ức chế gốc tự do DPPH 74.8 59.3 36.1 32.0 % Ức chế gốc Superoxide 69.4 39.9 23.9 11.2 Ức chế men Lipoxygenase IC (g/ml) 4.6 7.7 6.1 40.6 2.3.2. Thực phẩm chức năng từ nguồn nguyên liệu sinh vật biển và động vật 2.3.2.1. Nguồn nguyên liệu từ rong biển Thành phần hóa học của rong biển Sắc tố: Thành phần sắc tố khác nhau tùy từng loại rong: diệp lục tố, sắc tố đỏ, sắc tố vàng, sắc tố nâu, sắc tố xanh lam… Glucid: Bao gồm nhiều loại: monosaccharide, diosaccharide, polysaccharide. Mono- và Dio-saccharide: Mannitol (rong nâu); Galacetose, mannose (rong đỏ). Disaccharide: Đối với rong nâu thường có các chất: Alginic, Acid fucxinic, Fuccoidin, Laminarin, Cellulose. Đôi với rong đỏ gồm: Agar, Carrageenan, Furcellaran, Xilan, Itridophican, cellulose, tinh bột rong đỏ. Protein: Hàm lượng protein tùy từng loại rong, thường protein trong rong nâu không cao bằng rong đỏ nhưng nó khá hoàn hảo nên có thể sử dụng làm thực phẩm. Ngoài ra còn có chất khoáng, nước, lipid… – 22 –
    25. 43. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Vai trò của rong biển Là nguồn thực phẩm của con người: Rong biển được coi là thực phẩm cho sức khỏe. Ở Nhật có những món ăn đặc trưng: Nori (từ loài rong Phorphyra), Kombu (từ loài rong Laminaria), Wakame (từ loài rong Undaria pinnatifida)…Ngoài ra còn nhiều món ăn được chế biến kết hợp với tảo bẹ, phổ tai như phổ tai nấu với cá, thịt, nấu cháo với gạo hay món súp phổ tai. Giá trị dược liệu và phòng chống bệnh tật của rong biển: Rong biển được xem như là thuốc trị hen suyển, dạ dày, thuốc nhuận tràng, ngừa sạn túi mật, chống nhiễm trùng đường tiết niệu, kiện toàn khả năng sinh dục, thuốc trị phong thất lại thêm tính chất an thần và cũng hữu dụng với bệnh ngoài da. Rong biển có tác dụng phòng và trị các bệnh: Ung thư, tim mạch, hạ chất mỡ, làm loãng máu ngăn ngừa sự đóng cục tắc ngẵn mạch máu, bệnh bướu cổ do thiếu iod… Ngoài ra, theo nghiên cứu của trường đại học New South Wales, Úc thì trong rong biển ở Úc có chứa hợp chất furanone, nó có tác dụng ngăn chặn và phá vỡ khu trú của vi khuẩn, nơi mà vi khuẩn tụ tập lại thành từng đám được bảo vệ bởi chất nhầy có cấu trúc bằng polysaccharide – gọi đó là biofilm, chính biofilm bảo vệ cho vi khuẩn tránh được tác động kháng sinh, kháng thể, nhờ đó mà vi khuẩn không bị tiêu diệt, tồn tại được trong cơ thể. Chất Frucosterol mới tìm ra gần đây có tác dụng ngăn ngừa việc tạo ra các cục máu đông trong mạch máu. Một số nguyên tố vi lượng trong rong vô cùng cần thiết cho cơ thể con người như Selenium có chứa trong rong khá cao: 0,3-0,4 mg/kg vật chất khô, chất này tham gia cấu trúc trong enzyme Glutathion peroxidase có tác dụng phá hủy các gốc tự do trong cơ thể. Rong biển giúp hệ thống miễn dịch hoạt động tốt và gia tăng hoạt động tổng thể của con người. Nó cũng giúp quá trình trao đổi chất hiệu quả hơn và chống lại sự lão hóa. Rong biển có chứa nhiều chất khoáng như kẽm, thiếc, selen, crom, antimon, bimut, những chất ít tìm thấy trong các loại thực phẩm ngày nay. Các loại vitamin, bao gồm – 23 –
    26. 44. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học vitamin E, A, C và B12 cũng có một hàm lượng khá lớn trong rong biển, chúng đem lại cho con người đầy đủ dưỡng chất. 2.3.2.2. Nguồn nguyên liệu từ động vật Chitosan Oligosaccharide: chất xơ trong động vật Chitosan Oligosaccharide là một đường amin chức năng, không độc. Nó được ly trích từ vỏ tôm, cua. Chitosan oligosaccharide là một hỗn hợp oligomers của D-glucosamine. Trọng lượng phân tử trung bình của nó khoảng 2000. Chitosan Oligosaccharide bị phân hủy bởi sự thủy phân do enzyme chitosanase. Sản phẩm thủy phân chitosan có hai dẫn xuất là chitin và chitosan. Hỗn hợp chitin và chitosan được gọi là chitosan vì chitosan chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với chitin. Chitosan Oligosaccharide đi qua dạ dày và ruột non mà không bị phân hủy và cũng không hấp thu. Vì vậy, Chitosan Oligosaccharide đổ xuống kết tràng, ở đây nó bị enzyme của vi sinh vật có ích trong ruột già phân giải lên men sinh acid có tác dụng như một pbiotic, ức chế vi khuẩn lên men thối gây bệnh đường ruột. Như vậy Chitosan Oligosaccharide có hiệu quả lên sức khỏe thể hiện qua các chức năng nổi bậc: Gắn với chất béo và ức chế sự hấp thu chất béo nên góp phần chống béo phì, giảm thấp cholesterol xấu LDL-cholesterol, tăng cholesterol tốt HDL-cholesterol, chống ung thư, chống nhiễm khuẩn, thúc đẩy sự sản xuất kháng thể, hạ thấp đường huyết, kiểm soát huyết áp, phòng ngừa chứng táo bón, làm tăng sự hấp thu Calcium, phòng ngừa bệnh tim mạch, làm giảm mức acid uric trong máu. Sữa ong chúa Tác dụng của sữa ong chúa: Tăng cường năng lượng cho hoạt động các cơ quan quan trọng trong cơ thể như: não bộ, cơ tim, tuyến thượng thận…thông qua việc cung cấp năng lượng và thúc đẩy quá trình hấp thu các chất sinh năng lượng và biến dưỡng nó. – 24 –
    27. 45. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Sữa ong chúa thúc đẩy tái tạo cơ quan bị hư tổn, thúc đẩy hình thành tế bào mới. Mặc khác sữa ong chúa cũng ngăn chặn hiện tượng thoái biến của tế bào hiện hữu. Vì vậy sữa ong chúa áp dụng rất tốt cho trẻ em, người già, thai phụ, người bệnh phục hồi sau cơn đau nặng. Giúp giải độc gan, duy trì tính đàn hồi của mạch máu, phòng trị chứng xơ cứng mạch máu. Phục hồi huyết cầu đối với người bị thiếu máu do: sốt rét, xạ trị hay quang tuyến X trong trường hợp trị bệnh nhân ung thư. Điều hòa lượng đường trong máu, đồng thời cải thiện trình trạng tổng quát của người bệnh qua ảnh hưởng trên hệ thần kinh trung ương và mạng lưới tuần hoàn vi mạch, từ đó có tác dụng tốt đối với người bị bệnh tiểu đường. Ngoài ra còn nhiều tác dụng khác từ sữa ong chúa. Tuy nhiên không nên lạm dụng hay cường điệu vai trò của sữa ong chúa, sữa ong chúa có ảnh hưởng tích lũy do đó không nên dùng thường xuyên. Sữa chua Đây là thực phẩm bổ dưỡng cao, đồng thời cũng là loại thuốc ngăn ngừa bệnh viêm ruột, tiêu chảy. Sữa chua làm tăng tuổi thọ: kết quả thống kê trên nhiều quốc gia cho thấy số người thọ trên 100 tuổi cao rõ rệt ở các địa phương có tập quán dùng sữa chua. Một công trình nghiên cứu cho thấy những con bọ được nuôi bằng sữa chua có khả năng miễn nhiễm vi trùng salmonella. Vi khuẩn Lactobacillus acidophilus, một trong những loại vi sinh thường dùng để lên men làm sữa chua, có tác dụng chống nhiễm trùng đường ruột một cách rõ rệt. Năm 1963, bác sĩ Shahani đã ly trích 1 chất kháng sinh trong sữa chua đặt tên là Acidophylline có tác dụng hữu hiệu không thua kém Penicilline. Đến nay người ta phát hiện – 25 –
    28. 46. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học có tối thiểu 10 loại kháng sinh trong sữa chua không độc hại, dễ phân hủy trong môi trường, không tồn dư trong cơ thể. Khám phá gần đây nhất của Ý, Nhật Bản và Thụy Sĩ cho thấy sữa chua còn là tác chất hưng phấn và kiện toàn hệ thống miễn nhiễm, sữa chua làm tăng hàm lượng kháng thể chống vi khuẩn. Gần đây nhất người ta còn tìm thấy hàm lượng interferol có thể được gia tăng gấp 3 lần trong máu của người có thói quen dùng sữa chua thường ngày. Báo cáo đầu tiên từ Bulgarie về khả năng chữa lành ung thư trên sinh vật thí nghiệm nuôi bằng sữa chua. Sau đó viện Ung thư New York đã chứng minh là sữa chua có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, vi khuẩn lactic trong sữa chua có khả năng ức chế hoạt động của các yếu tố gây ung thư, ngăn chặn được các độc tố ruột sinh ung thư. Như vậy, theo Metschnikow để cho sữa chua trở thành dược phẩm cần phải biến sữa tươi thành sữa chua với thành phần vi sinh hữu ích, sau đó ứng dụng sữa chua như là dược phẩm đặc hiệu. Cá và chất dầu Omega trong cá Tác dụng của cá và dầu cá biển: Ảnh hưởng trên hệ thống tim mạch: Người ta nhận thấy bệnh ngạnh tắc mạch cơ tim là nguyên nhân hàng đầu ở các quốc gia được mệnh danh là văn minh, hiện đại, tiêu thụ rất nhiều thịt động vật nuôi công nghiệp. Trong khi đó bệnh này rất xa lạ với dân tộc Esquimo vốn có thói quen ăn cá biển mỗi ngày. Một công trình nghiên cứu tại Nauy cho thấy người bị chứng máu đặc chỉ cần ăn mỗi ngày 100g cá biển thì sau 6 tuần thành phần của máu đã trở lại bình thường mà không cần dùng thuốc, chất mỡ trong máu thậm chí còn tốt hơn người ăn chay kiên thịt. Tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư vú: Các chuyên gia ở trường đại học Rutgers, Hoa Kỳ nhận thấy kích tố Prostaglandine có xu hướng tăng cao trong máu của người sống trong vùng đang có ung bướu. Dầu gan cá với chất béo Omega có khả năng ngăn chặn sự hình thành thoái quá của kích tố này, từ đó ngăn ngừa được bệnh ung thư vú. – 26 –
    29. 47. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Dầu cá còn dùng để trị thấp khớp, có khả năng trị thiên đầu thống và còn có hiệu quả điều trị phục hồi cho người bị viêm thận mãn. Cá biển và dầu cá Omega còn là sản phẩm dinh dưỡng thích hợp cho người cao huyết áp. Loài nhuyễn thể có vỏ: Trai, nghêu, sò, ốc Trai là thực phẩm vô cùng quí giá nhờ vào hàm lượng kẽm trong thịt trai rất cao. Cơ thể con người chỉ cần 15mg Zn mỗi ngày mà trong 100g thịt trai đã có đến 70mg Zn. Các loại hải sản có vỏ cứng như: nghêu, sò, tôm, ốc cũng có tác dụng tương tự như trai. Chất béo trong các hải sản này có chứa nhiều acid béo thiết yếu nên nó có tác dụng làm giảm lượng mỡ no (LDL), nhưng nó có tác dụng cải thiện hàm lượng chất béo chưa no (HDL) trong máu, HDL giúp ích cho việc vận chuyển cholesterol trên thành mạch, trong mô bào về gan rồi thải ra ngoài theo dịch mật. Người ta còn phát hiện trong mỡ loài nhuyễn thể có nhiều acid béo chưa no rất quan trọng như Docosahexenoic acid (DHA) rất cần để phát triển màng tế bào não. Nghêu, sò đã được nghiên cứu ở massachussets, các nhà khoa học đã chứng minh các loại thực phẩm này cung cấp cho não bộ nhiều hoạt chất hưng phấn sự bài tiết kích tố nội sinh để đẩy mạnh hoạt động tâm thần, thúc đẩy khả năng sáng tạo… 2.3.3. Thực phẩm chức năng từ nguồn nguyên liệu nấm Nấm mèo, Mộc nhĩ Tên khoa học: Auricularia polytricha Là loại nấm có mũ giống tai mèo, mép nhăn nheo cuộn vào trong, mọc tự nhiên trên các giá thể là cây gỗ đã mục. Thành phần hóa học: Trong 100g mộc nhĩ chứa: 10,6g protein; 0,2g lipid; 65g glucid; 7,0g cellulose. Tác dụng dược lý và giá trị phòng chống bệnh tật: – 27 –
    30. 48. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Nấm mèo là thực phẩm có giá trị vô cùng lớn để phòng chống bệnh tim mạch với khả năng thay thế các loại thuốc làm loãng máu vốn có nhiều phản ứng phụ. Các chuyên gia ở đại học Washington đã ly trích từ nấm mèo một hoạt chất chống đông máu có tên gọi là Adenosine với cơ chế tác động tương đồng với Aspirine. Nấm mèo có tác dụng kéo dài tuổi thọ, dùng để trị thiên đầu thống hoặc ngăn ngừa biến chứng viêm tỉnh mạch hậu sản. Nấm mèo còn có khả năng phòng chống vi khuẩn và ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Tuy nhiên để phát huy khả năng làm loãng máu, không cần phải ăn nhiều nấm mèo, chỉ cần ăn 10g nấm mèo mỗi ngày là đủ. Tuyệt đối không nên ăn sống nấm mèo, tốt nhất nên nấu canh, nấu miếng, hầm với thuốc bắc… Nấm đông cô, nấm hương Tên khoa học: Lentinula edodes Thành phần các hoạt chất dược phẩm: Nổi bật nhất là các dẫn suất mạch vòng có chứa lưu huỳnh như cyclohexasulphur. Hoạt tính dược phẩm của nấm đông cô: Hoạt tính kháng sinh, kháng khuẩn, kháng virus của nấm: lentinan (một chế phẩm của nấm hương) có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus, kháng nấm bệnh và ký sinh trùng, chống lại sự viêm nhiễm của virus viêm não, chống bội nhiễm khuẩn ở các bệnh nhân bị AIDS. Gần đây hoạt tính chống HIV-1, giảm độc tính của AZT bởi lentinan và các dẫn xuất cũng được chứng minh, đặc biệt sulphat lentinan ức chế rất mạnh hoạt tính của reverse transcriptase (enzyme sao chép ngược của HIV). Hoạt động làm giảm cholesterol: Chất Eritidenin gồm Lentysin và Lentinacin do Mizuno (1990,1993) xác định trong quả thể nấm hương nuôi trồng, chất này có khả năng làm giảm mức cholesterol và các lipid trung tính trong máu, vì vậy nó có tác dụng tốt với những người có bệnh tim mạch và huyết áp. – 28 –
    31. 49. Chương 2: Phân loại thực phẩm chức năng – Vai trò sinh học Nấm sò, nấm bào ngư Tên khoa học: Pleurotus ostreatus Nấm phân bố ở Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu và một số nơi khác.Chúng sống trên thực vật hoại sinh, đóng vai trò chìa khóa trong việc phân hủy cây gỗ đã chết để giữ cân bằng hệ sinh thái rừng. Tác dụng dược lý của dịch chiết từ nấm sò: Dịch chiết nấm sò có khả năng kiểm soát có hiệu quả bệnh tim mạch và cholesterol máu. Những nghiên cứu gần đây cho thấy nấm sò hạ thấp mức cholesterol và triglycerol trong máu rất tốt. Nấm sò có chứa mevinolin và một số hợp chất tương đối ít, có tác dụng cạnh tranh ức chế enzyme HMG CoA reductase, đây là enzyme rất quan trọng để tổng hợp cholesterol. Chính vì vậy khi sử dụng nấm này để ăn hoặc chiết xuất hoạt chất chữa bệnh có công dụng: chống ung thư, tăng cường đáp ứng miễn dịch, chống lại sự viêm nhiễm, chống lại virus gây bệnh, đồng thời nó cũng có tính chất như một kháng sinh. Nấm Linh chi Tên khoa học: Ganoderma lucidus Nấm Linh chi thường sống hoại sinh trên gỗ mục như: gỗ lim, lim xẹt, muồng đen, me… Thành phần hóa học: Sterol: Ergosterol 0,3-0,4%, enzyme: Lysozyme, protease acid và một số enzyme khác, protid: protein hòa tan, polypeptide, acid amin, đường: trehalose, manitol, amin: betain, alkan: tetracosan, hentricotan, các acid béo, polysaccharide và nhiều nguyên tố khoáng khác. Tác dụng dược lý của nấm Linh chi: – 29 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vital Enzymes Thanh Lọc Cơ Thể, Nâng Cao Sức Khỏe
  • Vital Enzymes Chăm Sóc Hệ Tiêu Hóa Khỏe Mạnh
  • En Zim Và Vai Trò Của Enzim Trong Chuyển Hóa Vật Chất Enzim Ppt
  • Hàm Vlookup Trong Google Sheet Và Cách Sử Dụng Hàm Vlookup.
  • Hướng Dẫn Cách Dùng Chức Năng Consolidate Trong Excel (Mẹo Tự Học Tin Văn Phòng)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Văn Phòng Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Văn Phòng Sở
  • Liên Hệ, Chức Năng, Nhiệm Vụ Chính Của Văn Phòng Sở
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Huyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Tỉnh Sơn La
  • GD&TĐ – Chính phủ vừa ban hành Nghị định 150/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.

    Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng phát biểu tại buổi tiếp dân thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên. Ảnh: Nguyễn Thảo – TTXVN

    Theo đó, Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

    Văn phòng Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối giúpChính phủ, Thủ tướng Chính phủ(bao gồm các Phó Thủ tướng Chính phủ) tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm thống nhất, thông suốt, liên tục của nền hành chính quốc gia; kiểm soát thủ tục hành chính; bảo đảm thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cung cấp thông tin cho công chúng theo quy định của pháp luật; bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Tham mưu tổng hợp, điều phối

    Văn phòng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.

    Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện kiểm soát TTHC

    Về kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Bên cạnh đó, chủ trì triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; công tác truyền thông về cải cách thủ tục hành chính.

    Văn phòng Chính phủ xây dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ thường trực Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính.

    Chủ trì triển khai xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ

    Về xây dựng Chính phủ điện tử, Văn phòng Chính phủ chủ trì tổ chức triển khai nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đôn đốc thực hiện và tổng hợp tình hình, kết quả xây dựng Chính phủ điện tử của các bộ, ngành, địa phương, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Quản lý, vận hành hệ thống công nghệ thông tin (hệ thống thông tin) phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ trì kết nối liên thông, điều phối, tích hợp, chia sẻ thông tin giữa Văn phòng Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.

    Bên cạnh đó, cung cấp thông tin cho công chúng về các hoạt động chủ yếu, những quyết định quan trọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nổi bật mà dư luận quan tâm và các thông tin khác theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    Đồng thời, tiếp nhận thông tin từ công chúng và chủ động theo dõi, nắm tình hình thực tiễn để kịp thời tham mưu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo xử lý những vấn đề cấp bách, nổi cộm, bức xúc, dư luận xã hội quan tâm.

    Ngoài ra, Văn phòng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ phát ngôn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ trì tổ chức họp báo Chính phủ theo quy định; quản lý, xuất bản và phát hành Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý tổ chức và hoạt động của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

    Cơ cấu tổ chức

    Về cơ cấu tổ chức, Văn phòng Chính phủ có 21 đơn vị gồm: 1- Vụ Theo dõi công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Vụ I); 2- Vụ Nội chính; 3- Vụ Công tác Quốc hội, địa phương và đoàn thể; 4- Vụ Tổng hợp; 5- Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ; 6- Vụ Pháp luật; 7- Vụ Quan hệ quốc tế; 8- Vụ Công nghiệp; 9- Vụ Nông nghiệp; 10- Vụ Kinh tế tổng hợp; 11- Vụ Khoa giáo-Văn xã; 12- Vụ Đổi mới doanh nghiệp; 13- Vụ Thư ký-Biên tập; 14- Vụ Hành chính; 15- Vụ Tổ chức cán bộ; 16- Vụ Kế hoạch tài chính; 17- Cục Kiểm soát thủ tục hành chính; 18- Cục Quản trị; 19- Cục Hành chính-Quản trị II; 20- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; 21- Trung tâm Tin học.

    Các đơn vị quy định từ (1) đến (20) nêu trên là các đơn vị hành chính, đơn vị quy định tại (21) nêu trên là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Chính phủ.

    Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/12/2016.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Suy Nghĩ Về Văn Phòng Cấp Ủy Và Công Tác Văn Phòng Cấp Ủy Của Đảng Ở Cở Sở
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng
  • Chính Phủ Sửa Đổi, Bổ Sung Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Thủ Tướng Chính Phủ
  • Chính Phủ Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Triển Khai Nghị Định Của Chính Phủ Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Bộ Công An

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Sửa Đổi, Bổ Sung Các Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ
  • Nghị Định Mới Quy Định Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Y Tế
  • Ban Hành Nghị Định Quy Định Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Y Tế
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Thủ Tướng Chính Phủ?
  • Chính Phủ Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Thượng tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có đồng chí Mai Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; các đồng chí trong Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an; đại diện lãnh đạo các Ban, bộ, ngành Trung ương.

    Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh: Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an và Sơ kết công tác Công an 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, các chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

    Trọng tâm là thực hiện các Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6, thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    Bộ trưởng Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

    Hội nghị có nhiệm vụ công bố mô hình tổ chức bộ máy mới của Bộ Công an và đánh giá những vấn đề quan trọng nhất, cấp bách nhất đang đặt ra.

    Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã công bố Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công an.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an.

    Tại Hội nghị, Thượng tướng Bùi Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an trình bày Báo cáo tóm tắt Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2021 và nhiệm vụ, giải pháp công tác trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021.

    Báo cáo nêu rõ: 6 tháng đầu năm 2021, Bộ Công an đã chủ động, tích cực, quyết liệt, triển khai chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, nhất là Bộ Quốc phòng, trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH. Triển khai toàn diện các mặt công tác, nhất là các phương án về ANTT; phát hiện, đấu tranh, xử lý kịp thời các tình huống phức tạp phát sinh.

    Đấu tranh quyết liệt, phá vỡ âm mưu, hoạt động chống phá nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, nhất là âm mưu khủng bố, phá hoại; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước. Đấu tranh trấn áp tội phạm, giữ gìn TTATXH; góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của đất nước.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Tô Lâm cùng các đại biểu dự Hội nghị

    Kết quả nổi bật: Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng, Nhà nước về công tác bảo đảm an ninh quốc gia; tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền, an ninh, lợi ích quốc gia.

    Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn TTATXH được đẩy mạnh, toàn diện trên tất cả các mặt công tác, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Công tác điều tra, xử lý tội phạm và truy nã tội phạm được tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng được quan tâm. Đảng bộ Công an Trung ương là một trong những Đảng bộ gương mẫu đi đầu triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, 7 khóa XII…

    Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương những kết quả, thành tích, chiến công lực lượng CAND đã đạt được trong thời gian qua. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt của Đảng uỷ Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, toàn lực lượng Công an đã triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong công tác của ngành Công an và đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

    Bộ trưởng Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an tuyên thệ dưới cờ Tổ quốc

    Đã làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách chiến lược, quan trọng về an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và các đối sách để xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự; thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh Tổ quốc, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, vô hiệu hoá nhiều âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã triệt phá nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm.

    Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng được chú trọng; đã xử lý nhiều cán bộ vi phạm pháp luật, bảo đảm nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong công tác, đã xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân không quản hiểm nguy, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh, vì sự bình yêu và hạnh phúc của nhân dân. Nhiều xương máu của cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân đã phải đổ xuống vì sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc. Trong 6 tháng, đã có 5 cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân anh dũng hy sinh, 90 đồng chí bị thương, 30 đồng chí bị phơi nhiễm HIV trong khi làm nhiệm vụ.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tặng hoa chúc mừng Bộ trưởng Tô Lâm.

    Những nỗ lực, cố gắng và kết quả công tác của ngành Công an đã góp phần giữ vững an ninh trật tự, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển đất nước; góp phần cùng cả nước đạt được các thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng biểu dương, đánh giá cao và chúc mừng những thành tích, kết quả của lực lượng Công an nhân dân.

    Bên cạnh những thành tích là cơ bản, công tác của ngành Công an thời gian qua vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Tội phạm ma tuý, cờ bạc, giết người, tội phạm môi trường, sử dụng công nghệ cao, chống người thi hành công vụ… vẫn còn diễn biến phức tạp. Công tác phòng chống cháy nổ, đảm bảo trật tự an toàn giao thông chưa đạt kết quả như mong muốn. Đặc biệt, còn có một số cán bộ, chiến sỹ thiếu ý thức rèn luyện phẩm chất, đạo đức, có tiêu cực, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh lực lượng Công an nhân dân.

    Về phương hướng, nhiệm vụ sắp tới, Thủ tướng đã chỉ rõ: Lực lượng Công an nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Xây dựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Triển khai có hiệu quả Nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Ngành công an phải làm tốt công tác tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước; triển khai hiệu quả các phương án, kế hoạch bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện quan trọng của đất nước; hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, người dân có cuộc sống bình yên.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tặng quà lưu niệm Bộ Công an.

    Tập trung phát hiện, triệt phá và không để hình thành, tồn tại các ổ nhóm tội phạm, không để tội phạm “lộng hành”, gây bức xúc dư luận. Trong điều tra, xử lý tội phạm nêu cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”, không bỏ lọt tội phạm, không để oan, sai. Tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra, khắc phục các vi phạm, sơ hở về phòng cháy, chữa cháy, trật tự an toàn giao thông.

    Thực hiện hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; phải thực sự dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hiện theo đúng lời Bác Hồ dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Tập trung cao cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân vừa hồng, vừa chuyên, vì nhân dân phục vụ.

    Toàn lực lượng phải nghiêm túc thực hiện các NQTW4 khoá 11 và khoá 12 về xây dựng Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh. Kiên quyết phấn đấu xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

    Thủ tướng Chính phủ luôn tin tưởng và mong muốn lực lượng CAND tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang và những thành tựu to lớn đã đạt được, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần quan trọng cùng với các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Điện Tử Huyện Ủy A Lưới
  • 6 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Văn Phòng Chính Phủ Năm 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Chính Phủ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Hướng Dẫn Tư Vấn Các Chức Năng Chủ Yếu Của Máy Đếm Tiền Tại Phùng Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Lưu Ý Khi Sử Dụng Máy Đếm Tiền Hà Nội
  • Tính Năng Nổi Bật Của Máy Đếm Tiền Bạn Nên Biết
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Máy Đếm Tiền Silicon Mc
  • Giải Đáp: Nên Mua Máy Đếm Tiền Loại Nào Rẻ Và Bền Nhất?
  • Máy Đếm Tiền Thông Thường Và Máy Đếm Tiền Phát Hiện Tiền Giả Nên…
  • Trong hoạt động giao dịch của các ngân hàng hay hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, máy đếm tiền là một thiết bị điện tử văn phòng không thể thiếu được. Máy đếm tiền ngày nay không chỉ là một thiết bị đếm tiền đơn giản như xưa mà còn được trang bị các tính năng mới, giúp cho hoạt động đếm tiền của máy nhanh chóng và tiện dụng hơn.

    Phân biệt tiền giả và siêu giả: Tính năng này chỉ xuất hiện trên các thiết bị cao cấp, để tính năng này hoạt động hiệu quả các nhà sản xuất phải trang bị hàng loạt các cảm biến, cùng với đó là kho dữ liệu lớn giúp máy nhận biết các đặc điểm của tiền giả trong quá trình đếm và thông báo cho người dùng. Đa phần tiền giả khó có thể phát hiện bằng mắt thường vì vậy tính năng phát hiện tiền giả của máy đếm tiền là hết sức quan trọng.

    Cộng dồn: Sau mỗi lần đếm 1 bó tiền máy sẽ tự động lưu số tiền đó để cộng dồn với số tiền khi đếm ở bó tiền sau, tính năng hữu phát huy tác dụng nhất trong trường hợp đếm tiền với số tiền lớn của cùng một khách hàng hay tổng kết tổng số tiền chi tiêu trong một ngày.

    Đếm ngoại tệ: Bên cạnh VND, máy đếm tiền còn đếm được rất nhiều loại tiền tệ khác nhau như USD( đô la Mỹ), JPY (Yên Nhật), GBP (bảng Anh), EUR (đồng euro),.. sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Chính vì thế máy đếm tiền có tính năng đếm được nhiều loại tiền khác nhau sẽ giúp hoạt động đếm ngoại tệ dễ dàng hơn thay vì đếm bằng tay gây mất không ít thời gian.

    Phân biệt mệnh giá: Giúp người đếm tiền có thể phát hiện các tờ tiền có mệnh giá khác nhau trong một bó tiền nhờ đó có thể biết được số tiền chính xác nhất, số tờ theo từng mệnh giá khác nhau.

    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cửa Bắc, Đặng Dung, Đặng Tất, Đào Tấn, Độc Lập
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngô Văn Sở, Nguyễn Chế Nghĩa, Nguyễn Gia Thiều
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nam Ngư, Ngõ Gạch, Ngô Quyền, Ngõ Trạm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lý Quốc Sư, Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Mã Mây
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lương Văn Can, Lý Đạo Thành, Lý Nam Đế
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Liên Trì, Lò Rèn, Lò Sũ, Lương Ngọc Quyến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Thạch, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Văn Linh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồng Hà, Hồng Phúc, Lãn Ông, Lê Lai, Lê Phụng Hiểu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Vải, Hàng Vôi, Hồ Hoàn Kiếm, Hỏa Lò
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Tre, Hàng Trống
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Mắm, Hàng Mành, Hàng Muối, Hàng Ngang
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Mã
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Gai, Hàng Giấy, Hàng Giầy, Hàng Hòm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Khắc Cần, Nguyên Khiết
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiện Thuật
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Châu Long, Chu Văn An, Chùa Một Cột, Cơ Xá
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bà Huyện Thanh Quan, Bắc Sơn, Cao Bá Quát
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phố Vọng, Vọng Đức, Vọng Hà, Yên Thái
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tràng Thi, Tràng Tiền, Triệu Quốc Đạt, Trương Hán Siêu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Phú, Trần Quang, Trần Quốc Toản
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tống Duy Tân, Trần Nguyên Hãn, Trần Nhật Duật
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thợ Nhuộm, Thuốc Bắc, Tố Tịch, Tông Đản
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quán Sứ, Tạ Hiện, Thanh Hà, Thanh Yên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phúc Tân, Phùng Hưng, Phùng Hưng Trong
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phan Đình Phùng, Phan Huy Chú, Phủ Doãn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ô Quan Chưởng, Phạm Sư Mạnh, Phan Bội Châu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xí, Nhà Chung, Nhà Hỏa, Nhà Thờ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Thiệp, Nguyễn Tử Giàn, Nguyễn Văn Tố
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Đào, Hàng Dầu, Hàng Đậu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thọ Lão, Tô Hiến Thành, Trần Bình Trọng, Trần Cao Vân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thể Giao, Thi Sách, Thiền Quang, Thịnh Yên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tăng Bạt Hổ, Tây Kết, Thái Phiên, Thanh Nhàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Tạ Quang Bửu, Tân Lạc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phù Đổng Thiên Vương, Phùng Khắc Khoan, Quang Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Đình Hổ, Phạm Ngũ Lão, Phan Chu Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Quyền, Nguyễn Thượng Hiền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Cao, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mai Hắc Đế, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Bỉnh Khiêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Văn Hưu, Lò Đúc, Lương Yên, Mạc Thị Bưởi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Gia Định, Lê Ngọc Hân, Lê Quý Đôn, Lê Thanh Nghị
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hương Viên, Lạc Trung, Lãng Yên, Lê Đại Hành
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồ Xuân Hương, Hoa Lư, Hòa Mã, Hồng Mai
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Đại Nghĩa, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông, Trần Xuân Soạn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Bút
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hai Bà Trưng, Hàm Tử Quan, Hàng Bạc, Hàng Bè
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đồng Xuân, Đường Thành, Gia Ngư, Hạ Hồi, Hà Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đinh Liệt, Đình Ngang, Đông Thái, Đinh Tiên Hoàng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Điện Biên Phủ, Đinh Công Tráng, Đinh Lễ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cửa Nam, Dã Tượng, Đặng Thái Thân, Đào Duy Từ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Chương Dương, Chương Dương Độ, Cổ Tân, Cửa Đông
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cầu Đất, Cầu Đông, Chả Cá, Chân Cầm, Chiến Thắng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cấm Chỉ, Cao Thắng, Cầu Chương Dương
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ấu Triệu, Bảo Khánh, Bảo Linh, Bát Đàn, Bát Sứ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Bái 1, Y.E.C Xanh, Yên Lạc, Yết Kiêu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vạn Kiếp, Vĩnh Tuy, Võ Thị Sáu, Vũ Hữu Lợi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Triệu Việt Vương, Tuệ Tĩnh, Vân Đồn, Vân Hồ I
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàm Long, Hàn Thuyên, Hàng Bài, Hàng Chuối
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đốc Ngữ, Đội Cấn, Đội Nhân, Giang Văn Minh
    • Bảo hành sửa máy đếm tiền ViKi 2080, 5580, 5588
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Biên Giang, Bùi Bằng Đoàn, Đa Sĩ, Đại An, Do Lộ, Yên Phúc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Nội, Ao Sen, Ba La, Bạch Thái Bưởi, Bế Văn Đàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thụy Phương, Trung Tựu, Văn Tiến Dũng, Văn Trì
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Sùng Khang, Tân Nhuệ, Tân Phong, Thanh Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọa Long, Nhật Tảo, Phan Bá Vành, Phú Minh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Tăng Bí, Kẻ Vẽ, Kỳ Vũ, Lê Văn Hiến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đỗ Nhuận, Đức Thắng, Hoàng Công Chất, Hoàng Liên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tu Hoàng, Vũ Quỳnh, Châu Đài, Đăm, Đặng Thùy Trâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tố Hữu, Trần Hữu Dực, Trần Văn Cẩn, Trần Văn Lai
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tân Mỹ, Đại lộ Thăng Long, Thanh Bình, Thiên Hiền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xuân Nguyên, Phú Đô, Phúc Diễn, Sa Đôi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Miếu Đầm, Miêu Nha, Ngọc Trục, Nguyễn Đổng Chi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông, Mễ Trì, Mễ Trì Thượng
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Ba Đình hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hoàn Kiếm hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Viki 680, BC 2600, 5388, BC 501
    • Sửa lỗi máy đếm tiền XINDA 2131L, 1000J, 2166L
    • Sửa máy đếm tiền Xinda Super BC 18, 0181L, 2136F, 2105F
    • Sửa chữa máy đếm tiền XINDA SUPER BC-28, BC – 21F, 2166F, BC – 19
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền XINDA SUPER BC 31F, BC-31, BC-28F
    • Sửa máy đếm tiền Xinda 2165F, XINDA SUPER BC35 tại hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Đan Phượng, Huyện Đông Anh, Huyện Gia Lâm
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Đống Đa
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoài Thanh, Hòe Thị, Hữu Hưng, Lưu Hữu Phước
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đỗ Xuân Hợp, Đồng Me, Dương Đình Nghệ, Hàm Nghi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đình Thôn, Đại Linh, Cương Kiên, Đỗ Đình Thiện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vạn Bảo, Văn Cao, Vạn Phúc, Vĩnh Phúc, Yên Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Huy Liệu, Trần Tế Xương, Trấn Vũ, Trúc Bạch
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thành Công, Thanh Niên, Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quán Thánh, Sơn Tây, Tân Ấp, Thanh Báo, Thanh Bảo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phan Huy Ích, Phan Kế Bính, Phó Đức Chính, Phúc Xá
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Núi Trúc, Ông Ích Khiêm, Phạm Hồng Thái, Phạm Huy Thông
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Văn Ngọc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Tri Phương
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngũ Xã, Nguyễn Biểu, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Công Hoan
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nam Tràng, Nghĩa Dũng, Ngọc Hà, Ngọc Khánh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Liễu Giai, Linh Lang, Mạc Đĩnh Chi, Nam Cao
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Mã, Kim Mã Thượng, Lạc Chính, Lê Hồng Phong
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hòe Nhai, Hùng Vương, Thành Công, Khúc Hạo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Phụ, An Dương, Yên Thế, An Dương Vương, An Thành 2
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Âu Cơ, Đặng Thai Mai, Dốc Tam Đa, Mai Xuân Thưởng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bùi Xuân Phái, Cao Xuân Huy, Cầu Cốc, Châu Văn Liêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thượng Thụy, Võ Chí Công, Đường Bưởi, Trích Sài
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võ Quý Huân, Cống Vị, Điện Biên, Trịnh Công Sơn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đức Diễn, Xuân Phương, Thị cấm, Phú Kiều
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phú Diễn, Trại gà, Kiều mai, Tây tựu, Nhổn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tôn Thất Thuyết, Liên Mạc, Thượng Cát, Mễ Trì
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tây Mỗ, Xuân Đỉnh, Đại Mỗ, Lê Quang Đạo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phương Canh, Tân Xuân, Trung Văn, Phùng Khoang
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mỹ Đình, Nguyễn Cơ Thạch, Ngân Hàng, Nông Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cổ Nhuế, Đỗ Đức Dục, Đồng Bát, Đông Ngạc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võng Thị, Xuân Diệu, Xuân La, Cầu Diễn, Cầu thăng long
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quảng Bá, Tây Hồ, Thụy Khuê, Tô Ngọc Vân, Ven Hồ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nghi Tàm, Nguyễn Hoàng Tôn, Nước Phần Lan, Phú Gia
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Bún, Hàng Than, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đoàn Trần Nghiệp, Đội Cung, Đông Mác, Đồng Nhân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Sâm, Lạc Long Quân, Đường láng, Hòa Lạc
    • Sửa máy đếm tiền xu Balion NH-150 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền Xiudun 2010W ở hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Xiudun XD-2300 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Kaixun KX-993H1 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Kaixun KX-996A1 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-9900 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-201 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Nanxing NX-520 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền NANXING NX-838A uy tín hà nội
    • Địa chỉ sửa máy đếm tiền Korus 05 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2008A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-203 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-305S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-26 ở hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D-DMS- 2010A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Minh Giám, Hoàng Ngân, Hoàng Quốc Việt
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Duy Tân, Hồ Tùng Mậu, Hoa Bằng, Hoàng Đạo Thúy
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Đức Thọ, Lê Văn Lương, Mai Dịch, Nghĩa Tân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quan Hoa, Cầu Giấy, Chùa Hà, Dịch Vọng
    • Sửa máy đếm tiền ZJ-A11 uy tín tại hà nội
    • Sửa máy đếm tiền WJD – 06 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Viki 5388 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Henry HL-308B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Henry HL-3500UV uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D 2010B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D 9600 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Bill Counter BC-501 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Bill Counter ZJ 6900B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-304S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-900A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-800 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2200C uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2250C uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-A32 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-B528 uy tín hà nội
    • Sửa máy kiểm tra tiền Silicon DL-01 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-B52 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2550 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2450B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2350BN uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-9900 uy tín hà nội
    • Yếu tố bảo an của tiền polyme
    • Khái niệm máy đếm tiền
    • Tiền giả polymer 200.000 đồng giống như thật
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2500 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 8000 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Mingrui DC-03B2 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Korus 01 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền Korus 03 uy tín hà nội
    • Chuyên sửa máy đếm tiền kiểu đứng CASHCAN CH-620 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền DC-3000 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-303 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XiuDun XD-2000J uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-202 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-102 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-307S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-3112 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH 3110 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 668E uy tín hà nội
    • Cách phân biệt tiền giả VNĐ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Khả Trạc, Nguyễn Khang, Nguyễn Khánh Toàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đầm Trấu, Đê Trần Khát Chân, Đỗ Hành, Đỗ Ngọc Du
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Trần Quang Diệu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thịnh Hào , Thịnh Quang, Tôn Đức Thắng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tây Sơn, Thái Hà, Thái Thịnh, Thanh Miếu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Pháo Đài Láng, Phương Mai, Quốc Tử Giám
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Ngọc Thạch, Phan Phù Tiên, Phan Văn Trị
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Như Đổ, Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Thái Học
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyên Hồng, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Lương Bằng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngô Sĩ Liên, Ngô Tất Tố, Nguyễn Chí Thanh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Trực, Lương Định Của, Lý Văn Phúc, Mai Anh Tuấn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Hoa, Láng Hạ, La Thành, Lê Duẩn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Ngọc Phách, Hoàng Tích Trí, Huỳnh Thúc Kháng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồ Giám, Hồ Văn Chương, Hoàng Cầu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Quí Cáp, Trịnh Hoài Đức, Trúc Khê
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trung Liệt, Văn Hương, Văn Miếu, Vĩnh Hồ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cảm Hội, Cao Đạt, Cầu Lạc Trung, Đại Cồ Việt
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bạch Đằng, Bạch Mai, Bùi Ngọc Dương, Bùi Thị Xuân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tựu Liệt, Vĩnh Hưng, Yên Sở, Bà Triệu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tam Trinh, Tân Mai, Tây Trà, Thanh Đàm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Khoái, Nguyễn Tam Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Chính, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Duy Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọc Hồi, Ngũ Nhạc, Nguyễn An Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mai Động, Mai Khai, Minh Khai, Nam Dư
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Ngưu, Lĩnh Nam, Lương Khánh Thiện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Giáp Bát, Giáp Nhị, Hoàng Mai, Kim Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Định Công Thượng, Đoàn Kết, Đông Thiên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Xã Đàn, An Xá, Đại Từ, Đặng Xuân Bảng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võ Văn Dũng, Vũ Ngọc Phan, Vũ Thạnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Giảng Võ, Hàng Cháo, Hào Nam, Hồ Đắc Di
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đoàn Thị Điểm, Đông Các, Đông Tác
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đặng Văn Ngữ, Đào Duy Anh, Đê La Thành
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Việt Hưng, Vũ Xuân Thiều, Bùi Xương Trạch
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thạch Bàn, Trường Lâm, Tư Đình, Vạn Hạnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Văn Linh, Phú Viên, Sài Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Sơn, Nguyễn Văn Cừ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọc Lâm, Ngọc Thụy, Nguyễn Cao Luyện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lệ Mật, Long Biên, Ngô Gia Khảm, Ngô Gia Tự
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Xuân Thủy, Yên Hòa, Đức Giang, Hoa Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trung Kính, Trung Yên 1, 10, 10A, 10B, 11
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Thái Tông, Trần Tử Bình, Trung Hòa
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Duy Hưng, Trần Quốc Hoàn, Trần Quý Kiên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tô Hiệu, Trần Bình, Trần Cung, Trần Đăng Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Thận Duật, Phạm Tuấn Tài, Phạm Văn Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Hùng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Pháp Vân, Chính Kinh, Cù Chính Lan
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cự Lộc, Định Công, Giải Phóng, Giáp Nhất
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đại La, Đặng Tiến Đông, Đặng Trần Côn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cát Linh, Cầu Gỗ, Chùa Bộc, Chùa Láng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vũ Trọng Phụng, Vương Thừa Vũ, Bích Câu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Triều Khúc, Trường Chinh, Vũ Hữu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phương Liệt, Tô Vĩnh Diện, Trần Điền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xiển, Nhân Hòa, Phan Đình Giót
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Ngọc Nại, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Trãi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lương Thế Vinh, Ngụy Như Kon Tum, Nguyễn Huy Tưởng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Giang, Lê Trọng Tấn, Lê Văn Thiêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Khương Đình, Khương Hạ, Khương Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Văn Thái, Hồng Liên, Khuất Duy Tiến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hạ Đình, Hoàng Đạo Thành, Hoàng Đạo Thúy
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Ngọc Vũ, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Thị Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tpcn Dùng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Estroven 60V
  • Thảo Dược Và Thực Phẩm Chức Năng Cho Tuổi Mãn Kinh
  • Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh
  • 6 Lầm Tưởng Về Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh
  • Top 6 Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Và Hướng Dẫn Sử Dụng
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Trong quá trình hình thành nền văn học quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu XX, tiểu thuyết là một trong những thể loại tiên phong. Không kể Thầy Lararô Phiền của Nguyễn Trọng Quản xuất bản 1887 được ví “như một con chim lạ từ trời Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại”. Không chỉ đi trước ở khu vực sáng tác, lý luận về tiểu thuyết còn đi trước trong khoa Nghiên cứu văn học. Trong hành trình tự thăm dò, tìm hướng đi cho một thể loại hoàn toàn mới, các nhà tiểu thuyết giai đoạn này đã đề xuất được một số luận điểm khá căn bản của lý luận văn học. Nổi bật trong số đó là vấn đề chức năng văn học của tiểu thuyết. Khác với quan niệm về các chức năng giáo dục, giải trí, nhận thức… thường được trình bày trực tiếp trong các lời tựa, lời bạt. Cuối thế kỷ XIX đầu XX, các nước phương Đông đã có một cuộc tiếp xúc rộng rãi và sâu sắc với phương Tây. Quan niệm về văn học, nhất là tiểu thuyết, ở đây đã có nhiều thay đổi. Từ vị trí ngoại biên, thậm chí thấp kém, tiểu thuyết đã được đẩy vào vị trí trung tâm, được coi là nòng cốt, trụ cột của nền văn học. Các nhà cải cách Trung Quốc là những người sớm phát hiện ra điều này. Đầu thế kỷ XX, Lương Khải Siêu viết: “Muốn làm mới dân một nước, cần phải hẵng làm mới tiểu thuyết nước ấy. (…). Vì sao vậy? Vì tiểu thuyết có sức mạnh chi-phối người ta”. Nhận thức mới mẻ này về tầm quan trọng của tiểu thuyết đã hối thúc thể loại mau chóng ra đời và phát triển.

    Quá trình hình thành nền tiểu thuyết quốc ngữ cũng là quá trình rạn vỡ và thay thế của hình thái xã hội. Nói cách khác, tiểu thuyết hiện đại đã hình thành và phát triển trên nền tảng của một hình thái xã hội có nhiều nét đặc thù tương ứng với nó. Chế độ thực dân nửa phong kiến với sự phát triển nhanh của đô thị kiểu tư bản chủ nghĩa, tinh thần dân chủ cùng những tiền đề vật chất cần thiết như ngành in, xuất bản, báo chí… đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết. Xã hội trên con đường tư sản hóa cũng đặt ra rất nhiều vấn đề cần miêu tả và lý giải. Tiểu thuyết – thể loại được xem là “sử thi của thời đại mới”, với phương tiện chữ viết mới (quốc ngữ theo mẫu tự La-tinh), đã phản ánh được nhiều vấn đề lớn của dân tộc và thời đại. Qua tiểu thuyết giai đoạn này, người đọc đương thời có thể nhận thức sâu sắc hơn về con người và thời đại mà họ đang sống, để mỗi người trong guồng quay điên đảo của một xã hội coi trọng đồng tiền, lợi danh, bất chấp luân lý, đạo đức… tự xác quyết cho mình một cách sống, một hướng đi. Đồng thời với việc mô tả, nhận diện thực tại xã hội đương thời, các nhà văn đã hình dung được sự vận động của nó trong tương lai. Trong số những vấn đề đã được các nhà tiểu thuyết đầu thế kỷ XX miêu tả và lý giải, nhiều vấn đề sẽ trở nên nóng bỏng và nhức nhối hơn không chỉ trong văn học giai đoạn sau đó (1930-1945) mà cho đến tận cuối thế kỷ XX, đầu XXI khi xu thế hội nhập, toàn cầu hóa trên mọi phương diện khiến Việt Nam một lần nữa “va chạm” rất mạnh với thế giới. Có thể nói, chưa có thời đại nào cuộc sống và con người lại phát triển một cách tự do, phong phú, phức tạp, thiên hình vạn trạng… như thời đại này. Bối cảnh xã hội hiện tại có nhiều mối liên hệ loại hình với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã khiến những vấn đề từng được phản ánh trong tiểu thuyết một thời lại trở lại, dữ dội và quyết liệt hơn, tiếp tục trở thành nỗi nhức nhối của toàn xã hội và nỗi ám ảnh của người cầm bút.

    Thứ nhất, đất đai đã trở thành mục tiêu săn đuổi của bọn địa chủ và các tầng lớp thống trị. Trong tiểu thuyết Thầy thông ngôn, giai cấp địa chủ phong kiến bao gồm những ông Hội đồng, ông Cai tổng là cả một lũ sâu mọt chỉ lo đục khoét, bòn rút người lao động nghèo. Ông Lê Huấn Hữu “được làm hội đồng Quản hạt rồi, thì ông chẳng lo việc chi gấp cho bằng việc khẩn đất”. Tham vọng đó của đám quan lại địa chủ đã được hạng thông ngôn ký lục tiếp tay để thực hiện một cách dễ dàng:”Ông nghe nói thầy thông Phong coi về đất khẩn nên ông tìm đến nhà mà làm quen rồi mượn thầy làm giấy tờ giùm cho ông cho mau”. Đó cũng là tình cảnh chung của người nông dân Việt Nam giai đoạn này đã được chính người Pháp xác nhận. Tốc độ đô thị hóa càng nhanh, cuộc sống của người dân nông thôn càng bị đảo lộn ghê gớm. Bi kịch vẫn nối tiếp. Văn học do thế vẫn đang kiếm tìm và thể hiện những chiều kích mới của tấn bi kịch chưa nhìn thấy hồi kết này.

    3. Vấn đề con người nghiện thói hưởng thụ tầm thường

    Con người dưới thời phong kiến do phải “khắc kỷ” để “phục lễ” nên ý thức về quyền sống riêng bị giới hạn tới mức tối đa. Tinh thần hưởng thụ cuộc sống hầu như không tồn tại ở các nhà Nho mà chỉ xuất hiện ở giai cấp tư sản. Trong môi trường đô thị, giai cấp tư sản càng có điều kiện vật chất để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ. Tiểu thuyết Phồn hoa mộng tỉnh của Dương Tự Giáp kể chuyện về Văn Sinh, một chàng trai hai mươi tuổi, sinh ra trong một gia đình khá giả ở Hà Nội, có học hành, đang làm viên chức trong phủ toàn quyền. Văn Sinh là người “thích nghe cô đầu hay, thích uống rượu sâm banh tốt”. Sở thích ấy đã được xã hội đáp ứng một cách đầy đủ: Hà Nội bấy giờ chen chúc các xóm bình khang, “Thôi thì hàng Giấy, Bạch-Mai, Thái-Hà, Hàng-Mã, Vạn-Thái, Khâm-Thiên, các xóm “chị-em” không mấy nhà là tôi không biết cả”.

    Từ khi đất nước chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, cuộc sống đã có rất nhiều thay đổi. Cuộc cải cách kinh tế len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống, đem lại nhiều cơ hội làm giàu và nhiều người đã giàu lên một cách dễ dàng, nhanh chóng. Sự giàu có trên mức bình thường đã khiến nhiều người mắc phải căn bệnh nghiện hưởng thụ vật chất. Và căn bệnh, oái oăm thay, lại được nền kinh tế hàng hóa dung dưỡng no đủ. Xã hội đang đứng trước nguy cơ của cơn cuồng loạn về chủ nghĩa đồ vật, chủ nghĩa mua sắm, chủ nghĩa tiêu dùng… Lối sống buông thả tột độ đã và đang hình thành trong một bộ phận thanh thiếu niên lúc này, phần lớn xuất phát từ sự dư thừa vật chất mà thiếu đi mục đích, lý tưởng sống vốn chỉ hình thành khi con người phải khổ luyện, trong một môi trường sống lành mạnh.

    4. Vấn đề con người háo danh, trọng của, chà đạp đạo lý luân thường

    Cơ cấu kinh tế, xã hội đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi, dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành nghề mới. Theo đó, trong xã hội xuất hiện rất nhiều kiểu người, hạng người khác nhau gắn với ngành nghề và địa vị xã hội của họ. Tất cả đều hối hả, đua chen trên con đường làm giàu, mua danh kiếm lợi, mua quan bán tước để có được cuộc sống giàu sang, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, khiến cho xã hội trở nên náo loạn, xô bồ. Tâm lý ham giàu, tham lam, ích kỷ và độc ác của con người khi chạy theo lối sống tư sản đã được phản ánh trong nhiều tiểu thuyết giai đoạn này. Thị Hạnh trong Cuộc tang thương là một nàng hầu, vì lòng tham mà bất chấp đạo lý, lấy ông Hàn – một ông già đáng tuổi cha cô, để rồi sau khi đã bòn rút hết tiền của, lại đem cả nhân tình về nhà khiến ông Hàn giận quá sinh ra ốm đau mà chết. Ông Trần Tư Độ trong Ngọc chìm đáy biển là hạng người coi đồng tiền cao hơn tất cả: “Cứ theo cái bổn tánh của ông thời trong đời ông không còn biết chi trọng hơn là đồng tiền đồng bạc cã, miển có tiền bạc thì ông vui lòng”. Roger Trần Thình ( Kim Anh lệ sử) phải học mười năm bên Tây mới lấy được bằng tốt nghiệp trường “Máy-móc”, vậy mà: “Từ ngày cậu đậu được cái bằng về, cậu nghênh-nghênh ngang-ngang lên mặt kỹ sư, không coi ai bằng mình nữa. Cha mẹ cậu thì cậu chê là gàn, mà người đồng-bang với cậu thì cậu khinh là hủ”[18]. Nước Pháp (người đương thời quen gọi là “bên Tây”) là một xứ sở văn minh, điều này không ai phủ nhận. Người Việt Nam du học bên Pháp đã phần nào lĩnh hội được sự văn minh ấy. Tiếc là, họ chưa có đủ tỉnh táo để tiếp nhận một cách chân chính và đúng đắn. Hiểu biết hạn chế cộng với thái độ sùng bái phương Tây tới mức bệnh hoạn đã khiến trong mắt họ những gì thuộc về “người mình”, “nước mình” đều đáng khinh bỉ, đáng bỏ đi cả. Vì thế, chính khi trở về nước, họ lại biến thành những kẻ mất gốc, không còn liên hệ với giống nòi. Nội dung này là tiền đề cho sự ra đời của loại đề tài ông Tây An-nam trong văn học giai đoạn 1930-1945. Trong văn xuôi đương đại, nhiều tác phẩm cũng đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng vong bản, phủ nhận cội nguồn của một bộ phận người Việt trong cuộc hội nhập rộng lớn toàn thế giới. Bi kịch của con người khát khao kiếm tìm một miền đất hứa bằng những cuộc trốn chạy, bằng những cuộc hôn phối đầy toan tính với người nước ngoài… ngày càng phổ biến như nhắc nhở về một bản lĩnh Việt, trí tuệ Việt, tâm hồn Việt đang bị đánh cắp.

    *

    Vấn đề còn lại là tại sao những lời tiên tri đã không được màng tới? Tại sao nhiều mối đe dọa đã được cảnh báo từ rất lâu rồi mà hậu thế vẫn không tránh khỏi tai ương? Hiện tồn này cho thấy một quy luật tất yếu của cuộc sống: khi phần đông xã hội vẫn còn u mê, thì những lời cảnh báo, dù nghiêm khắc, cũng chỉ như đá ném ao bèo. Gần một thế kỷ trôi qua, ta đã có thể nhìn lại để định giá về những gì được – mất. Nhiều hậu quả không nhỏ, nếu không muốn nói là thật thảm khốc con người đang phải hứng chịu. Vì xã hội trì đọng, luẩn quẩn hay vì văn học chưa phát triển, chưa thoát ra khỏi bút pháp hiện thực già nua, cũ kỹ? Có thể là cả hai, mà cũng có thể không thuộc một lý do nào trong số đó. Bởi sự vận động, đổi thay của một hình thái xã hội, ngoài nguyên nhân chủ quan còn có yếu tố khách quan quyết định. Văn học dù vận dụng hay không vận dụng một phương pháp sáng tác nào thì cũng không thể quay lưng 360o với hiện thực đời sống. Cái chính là con người chưa kịp bừng ngộ trước những cuộc bể dâu, trước những biến thiên của thời thế. Vậy thì, hãy lắng nghe tiếng nói của nhà văn.

    TS. Lê Tú Anh

    Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 3/2013, tr.98-109

    (1) Bằng Giang: Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.303.

    (2) Đó là các tác phẩm: Lâm Kim LiênHoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiên Trung, Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản.

    (4) Theo Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.97.

    (5) Dẫn theo Mộc Khuê: Ba mươi năm văn học, Tân Việt, Hà Nội, 1942, tr.43-44.

    (6) Trương Duy Hy (biên soạn): Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa – Người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003, tr.34.

    (7), (8), (9) Hồ Biểu Chánh: Thầy thông ngôn, in trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Văn xuôi đầu thế kỷ), Quyển I – Tập III, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002, tr.501, 506, 501.

    (10) Hồ Biểu Chánh: Cha con nghĩa nặng, Nxb Tấn Phát (tái bản), 1953, tr. 13-14.

    (11) Xin xem Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân: Lịch sử cận đại Việt Nam, Tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1961, tr.53.

    (12) Dẫn theo Nguyễn Kim Anh: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí Minh, 2004, tr.478.

    (13) Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (tái bản), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005, tr.340.

    (14) Dương Tự Giáp: Phồn hoa mộng tỉnh, Imp. Kim Đức Giang, Hà Nội, 1929, tr.14.

    (15) Khái Hưng và Nhất Linh: Đời mưa gió, Nxb ĐH và GD chuyên nghiệp (in lần thứ hai), Hà Nội, 1991, tr.172.

    (16) Mộng Hiệp nữ-sử: Ngọc chìm đáy biển, Từ Duy Quan, Sài Gòn, 1927, tr.101.

    (17) Hồ Biểu Chánh: Khóc thầm, An – Trường xb, Sài Gòn, 1929, tr.46.

    (18) Trọng Khiêm: Kim Anh lệ sử, Quyển II, Đông-Kinh Ấn-Quán, Hà Nội, 1924, tr.20.

    (19) Rasul Gamzatov: Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học (Đào Hùng dịch), Báo Văn nghệ, Số 45/2011.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học
  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • rong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn học và mĩ học Mác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Theo đó, hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ trích phê phán thuyết phục nào.

    Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự báo, chức năng giao tiếp, chức năng thông tin… Riêng chức năngdự báo đã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng nhận thức để thành chức năng nhân thức và dự báo của văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay chưa? Vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báo chỉ thuộc về tác giả, còn vấn đề nhận thức thuộc về cả hai: tác giả và người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức………..

    rong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn học và mĩ học M ác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là nhận thức, giáo dụcthẩm mỹ. Theo đó, hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ trích phê phán thuyết phục nào.

    Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự báo,chức năng giao tiếp,chức năng thông tin…Riêng chức năng dự báođã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng nhận thức để thành chức năng nhân thứcdự báocủa văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay chưa? Vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báochỉ thuộc về tác giả, còn vấn đề nhận thứcthuộc về cả hai: tác giả và người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức.

    Thực ra, đây không phải là phát hiện hoàn toàn mới của các nhà lý luận văn học và mĩ học, mà là một vấn đề đã từng có từ rất lâu trong thực tiễn lịch sử nghệ thuật nhân loại nói chung và lịch sử văn học, nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Một trong những chứng giải thuyết phục về chức năng dự báo của văn học là sáng tác của những nhà văn lớn thời đại Phục hưng. Ngay từ khi giai cấp tư sản mới hình thành, đại diện cho những lực lượng mới đang lên, chiếm lĩnh vũ đài lịch sử và quyết định chiều hướng đi lên của xã hội, bằng khả năng phân tích, phán đoán và kết hợp với những dự cảm tinh tế, trong các tác phẩm của mình, các nhà nhân văn chủ nghĩa đã cảnh báo trước về thói vụ lợi, lòng tham và các cuộc chinh phạt, tước đoạt đầy máu và nước mắt do chính giai cấp tư sản thực hiện. Gần hơn vào những năm đầu thế kỷ XX, M.Gorki – nhà văn vô sản Nga – dường như đã dự cảm trước được những biến cố lớn của thế kỷ, gần nhất là cuộc cách mạng vô sản Nga qua hình tượng Chim báo bão trong truyện ngắn cùng tên.

    Ở Việt Nam, vào cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, trước tác động của lịch sử, các nhà thơ, nhà văn như: Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… đã cho thấy trong sáng tác của họ những dự cảm về tương lại, những tín hiệu báo trước cuộc cách mạng tháng Tám sẽ diễn ra vào những năm sau đó không lâu. Tố Hữu viết:

    Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!

    Nam Cao viết truyện Cơn giông,truyện Sống mòn,truyện Điếu vănvới cảm giác bức bối và với triết lý “sống tức là thay đổi”. Nguyên Hồng viết truyện Lửa, Nhân loại, Ngày mai,đặc biệt là tập truyện ký Cuộc sốngđể nói đến cái không khí ngột ngạt, cái sức nóng chuẩn bị bùng cháy vào một ngày nào đó không xa. Tô Hoài thì cảm thấy “Bốn phương và quanh mình đã nóng như lửa và thực sự lửa đang cháy. Mỗi người, người nào cũng đương cần tự quyết định chết hay là đứng lên? Một con đường” (Hồi ký Tự truyện). Còn Trần Huyền Trân và Thâm Tâm thì dự cảm da diết về các chuyến đi đầy quả quyết nhưng cũng đầy dùng dằng, lưỡng lự. Và gần đây, chắc ai cũng nhớ, vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trong đời sống văn học nghệ thuật đã xuất hiện những phóng sự, những truyện ngắn, những tiểu thuyết, những vở kịch gây xôn xao dư luận, thu hút được sự quan tâm theo dõi của toàn xã hội. Các tác phẩm này không chỉ trực diện phản ánh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của thực tại mà còn đưa ra được những dự báo, cảnh báo trước về những vấn đề của cơ chế chính sách, của đời sống xã hội và con người.

    Đó là chưa kể đến những tác phẩm như: Cù lao Tràm, Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn còn ra đời sớm hơn. Đặc biệt là hàng loạt phóng sự nghệ thuật của Trần Huy Quang, Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc… làm khuấy động xã hội bằng những chất liệu hiện thực sinh động, có sức truyền cảm mạnh mẽ. Đó thực sự là những áp lực, những tín hiệu báo trước của thời kỳ đổi mới sẽ được chính thức khởi động vào năm 1986.

    Như vậy là, bằng mẫn cảm nghệ sĩ và tinh thần công dân của mình, các nghệ sỹ đã góp phần dân chủ hóa xã hội, đề xuất với Đảng và Nhà nước những vấn đề lớn của đời sống sản xuất vật chất và tinh thần xã hội để từ đó hoạch định chiến lược đổi mới, làm thay đổi diện mạo đất nước. So với yêu cầu phát triển, thành tựu văn học thời kỳ tiền đổi mới, tuy còn khiêm tốn nhưng rất đáng được ghi nhận. Đó là sự khởi đầu có ý nghĩa trọng đại góp phần mở ra một thời kỳ mới của đất nước. Ngay cả những người khó tính nhất cũng phải thừa nhận từ năm 1986 đến nay, đất nước ta đã đạt được những kỳ tích lớn lao. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp có thâm niên hàng mấy chục năm, khi tỏ ra không còn phù hợp đã nhanh chóng được thay thế; chính trị ổn định; kinh tế tăng trưởng; mức sống được cải thiện rõ rệt; bộ mặt đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Cần phải khẳng định rằng trong thành tựu của công cuộc đổi mới có đóng góp đáng kể của văn học, nghệ thuật.

    Song, rất tiếc là trong quá trình chuyển giai đoạn những năm qua, văn học, nghệ thuật dường như không tiếp tục được mạch cảm hứng công dân, cảm hứng chính luận và vai trò tích cực của mình như thời kỳ tiền đổi mới. Dường như khi những bức bối của cuộc sống đã được giải quyết thì nhiệt huyếtcông dân và tâm huyếtnghệ sĩ có phần giảm và lắng xuống. Đáng lẽ phải phát huy tinh thần đó vào việc đề xuất, kiến giải những vấn đề mới, phản ánh cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của quá trình đổi mới và đưa ra những dự báo chính xác cho tương lai… thì không ít nghệ sỹ, không ít tác phẩm lại có chiều hướng quay về với những “bi kịch nhỏ”, những số phận cá nhân, những toan tính đời thường, gặm nhấm quá khứ hoặc chạy theo cám dỗ của tiền bạc và hư danh, bỏ quên thiên chức cao quý của nghệ sỹ để chấp nhận mua vui, giải sầu cho những công chúng thấp kém về thị hiếu thẩm mỹ nhưng lại có tiền bằng những sáng tác ít giá trị nghệ thuật, nặng về câu khách thông qua các chi tiết giật gân, hiếu kỳ. Trong lịch sử văn học đã từng có những nhà văn nổi danh nhờ những “nhân vật nhỏ bé” như A.Sekhốp, những kiếp “đời thừa” và “sống mòn” như Nam Cao, nhưng với điều kiện nhà văn phải có tâm, có tài và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những kiếp đời thừa, kiếp sống mòn trong tác phẩm phải mang một ý nghĩa xã hội – lịch sử và nhân sinh cao cả. Nếu không, nhà văn sẽ chết chìm trong thế giới nhân vật ô hợp và tầm thường do chính mình tạo ra.

    Dưới tác động hai mặt của cơ chế thị trường, văn học nghệ thuật và nghệ sỹ đang có thêm những yếu tố kích thích mới, những động lực sáng tạo mới. Nhưng cũng chính cơ chế thị trường đang làm nao núng không ít ngòi bút và hoen ố không ít tác phẩm. Ai cũng biết sexcó thể cần cho người này, người kia, từng nơi từng lúc và từng người, nhưng với văn chương chân chính thì không, nhất là loại sex rẻ tiền, ô uế như đã từng thấy trong một số tác phẩm gần đây. Bởi vì đó là chuyện sau cánh cửa chứ không phải là chuyện phơi ra trên trang giấy. Có chăng, nó phải được nghệ thật hóa và phải được thể hiện theo quy luật của cái đẹp. Hơn nữa, tình yêu của con người với tư cách là một đề tài vĩnh cửu, không chỉ có vậy mà nó còn mang những giá trị cao cả hơn, trong sáng hơn, nhân đạo hơn, nó nâng cao con người chứ không hạ thấp con người đến mức chỉ còn như những sinh vật bình thường. Khai thác vào những chuyện đời tư như một khuynh hướng mới hình thành trong văn học hiện nay, cũng là một hướng, nhưng ít có cơ hội để trở thành tác phẩm văn học lớn thực sự khi người viết mang động cơ vụ lợi và non kém về trình độ nghệ thuật.

    Xu hướng quay lại với quá khứ, khai thác vào đề tài lịch sử như một số nhà văn đang làm hiện nay cũng là một hướng có triển vọng. Xu hướng này đã từng làm một phong trào lớn thu hút nhiều trí thức văn nghệ sĩ thời kỳ cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, đó là “Phong trào văn nghệ phục cổ”. Các nhà văn, nhà nghệ sĩ tham gia vào phong trào này xem đó là cách để trốn tránh thực tại, để thể hiện khát vọng yêu nước, tìm trong lịch sử những bài học về tinh thần chống ngoại xâm… mà không bị kiểm duyệt của thực dân Pháp. Ngày nay, lý do đó không còn có cơ sở để tồn tại, nhưng đề tài lịch sử, cảm hứng lịch sử thì vẫn sẽ mãi mãi là miền đất hứa của sáng tạo nghệ thuật. Vấn đề là ở chỗ nhà văn, nhà nghệ sĩ phải là người xâu chuỗi lịch sử, phát hiện ra trong dòng chảy của nó những mối liên hệ tinh thần giữa quá khứ – hiện tại – và tương lai. Nhà văn có thể biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần như ý của nhà văn Pháp A.Dumas từng nói, nhưng nhà văn không được bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử, thậm chí minh họa lịch sử một cách thô thiển, vụng về. Trong khi trở về với đề tài lịch sử, cần nhớ rằng bên cạnh nhà văn còn có các nhà sử học, các nhà văn hóa học và những người yêu mến lịch sử dân tộc. Đi ngược hành trình, nhà văn rất dễ cô đơn khi động cơ thiếu trung thực và không có người đồng hành.

    Cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc ta ở thế kỷ XX sẽ còn là đề tài lớn cho văn học, nghệ thuật những thế kỷ tiếp theo. Nhưng đó không phải là toàn bộ sứ mệnh của văn học. Nói đúng ra, nó vẫn chỉ là một trong những món nợ mà văn chương cần phải trang trải cho lịch sử dân tộc mà thôi. Trong cuộc sống xã hội hiện đại còn có bao nhiêu vấn đề quan yếu khác mà văn học nghệ thuật cần phản ánh. Trong quá trình đổi mới và hội nhập, vấn đề tìm kiếm, xây dựng một mô hình xã hội lý tưởng mới, một con đường phát triển mới, một trật tự xã hội mới, trong đó các giá trị tinh thần nói chung, giá trị con người nói riêng được tôn vinh; mọi tiềm năng sáng tạo được giải phóng, mọi nhu cầu hưởng thụ vật chất và văn hóa chính đáng được đáp ứng… đang là những vấn đề lớn mà nghệ sĩ chân chính không thể đứng ngoài cuộc. Chẳng lẽ ở đó không có đất cho những tác phẩm nghệ thuật lớn? Không có chỗ cho những xúc cảm nghệ thuật cao cả?

    Không thể phủ nhận được rằng trong tiến trình đổi mới và hội nhập hơn hai mươi năm qua, nền văn học, nghệ thuật của chúng ta đã cho thấy những dấu hiệu mới, những cách tân về phương diện hình thức và phương thức biểu hiện. Nhưng, cái mà giới văn học, nghệ thuật đang cần hiện nay là ý thức trách nhiệm nghệ sĩ – công dân trước xã hội. Một cách nhìn mới về chiến tranh, một thái độ mới về những số phận bị bỏ quên, những bi kịch nhỏ giữa đời thường… đối với văn học vẫn luôn luôn đáng khích lệ và trân trọng. Nhưng, những phát hiện lý giải mới về tâm lý, đạo đức của con người trong cơ chế thị trường; những vẫn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội như: vấn đề chuyển đổi hệ giá trị đạo đức tinh thần diễn ra trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; những vấn đề lớn mang tính toàn cầu như vấn đề số phận con người trước sự biến đổi khí hậu, môi trường và những biến cố thiên tai, dịch bệnh… những tác động của làn sóng công nghiệp hóa đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn; những vấn đề tâm lý – xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa; những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống, khuynh hướng bạo lực, bạo hành trong gia đình, nhà trường và xã hội đang gia tăng; lỷ lệ người chết do tai nạn giao thông và các nguyên nhân khác đang hàng ngày, hàng giờ cướp đi sinh mệnh của hàng trăm, hàng nghìn con người; vấn đề phân hóa giàu nghèo trong xã hội, đặc biệt là tâm lý bất an của con người hiện đại trước các tác động của xã hội và môi trường, trong đó, cái xấu, cái ác đang có chiều hướng lấn át làm lu mờ cái đẹp, cái thiện…, chẳng lẽ đó không phải là những vấn đề của con người xã hội mà văn học cần quan tâm sao?

    Chúng ta đang sống trong thời đại có những biến đổi khó lường. Những thành tựu của khoa học và công nghệ – sản phẩm trí tuệ của con người đạt được ở cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI này – sẽ cho phép các nhà khoa học ở từng lĩnh vực tiến hành xử lý các dữ kiện để đưa ra những dự báo toàn cầu, dự báo về từng khu vực và từng lĩnh vực. Có lẽ vì vậy mà ngày nay dự báo đã trở thành một ngành khoa học ( khoa học dự báo) đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài trí tuệ của con người, máy tính sẽ là công cụ hữu hiệu giúp cho các ngành khoa học thực hiện các dự báo của mình. Còn văn học – sẽ dự báo tương lai như thế nào và bằng phương tiện nào?

    Nửa đầu thế kỷ XX, trước thảm họa khốc liệt của hai cuộc thế chiến trước nhịp độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, nhiều nhà văn, nhà triết học hiện sinh ở phương Tây đã đưa ra những dự báo ảm đạm về thân phận của con người ( Huyền thoại Sidípscủa A.Camus là một ví dụ), về nguy cơ tha hóa của con người trước văn minh công nghiệp (vở kịch Những cái ghế của Ionessco là một ví dụ). Đặc biệt là khi người máy ra đời, đảm nhiệm những công việc phức tạp và đạt độ chính xác cao thì hình ảnh con người bằng xương bằng thịt dưới con mắt của các nhà “Kỹ trị” dường như có phần bị tha hóa trước những sản phẩm do chính mình chế tạo ra. Gần đây, khi chú Cừu Dolly ra đời và khi bản đồ gen người phát hiện, vấn đề nhân bản vô tính người được các nhà khoa học đưa ra như một khả năng có thể thực hiện đã khiến cho các nhà nhân văn, các nhà đạo đức học lên tiếng cảnh báo. Quả thực, đó không phải là những lo toan không có căn cứ. Song, chính nhờ các tiên cảm, dự báo mà trong quá trình phát triển, con người với tư cách là chủ nhân của lịch sử, là “trung tâm vũ trụ” đã không để cho máy móc lấn át vai trò của mình, trái lại, càng làm cho trí thông minh và khả năng lao động sáng tạo của con người ngày càng được đề cao bởi năng suất lao động và bởi các thao tác kỹ thuật nối dài khả năng của con người.

    Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết, trong đó có vấn đề con người – nhân tố chủ thể quyết định tốc độ và chiều hướng phát triển. Các mối quan hệ giữa con người với cơ chế, con người với máy móc công nghệ, con người với con người, con người với sản phẩm hàng hóa, con người với môi trường sống và lao động của mình… sẽ được đặt ra và giải quyết như thế nào? Đương nhiên, không phải chỉ là mối quan tâm của các nhà triết học, kinh tế học, chính trị học, đạo đức học… mà con là mối quan tâm của các nhà văn, các nghệ sĩ mẫn cảm trước thời cuộc. Muốn hay không, thời kỳ mới của lịch sử sẽ tạo ra những hệ giá trị mới, những chuẫn mực đạo đức tinh thần mới mà hôm nay, những người mang thiên chức nghệ sĩ có thể hình dung, tiên đoán. Ngay cả những niềm vui, nỗi buồn sâu xa về số phận, thân phận của mỗi cá nhân trong cộng đồng và trước thế sự cũng luôn luôn là những ám ảnh, những nghiền ngẫm suy tư của mỗi nhà văn, mỗi nhà nghệ sỹ để trong mỗi sáng tác của mình không chỉ hiển hiện thực tại mà còn thấp thoáng hình bóng của tương lai.

    Để dự báo và tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ, ngoài sự mẫn cảmdự cảmgần như là thanh khí tiên thiên của mình, còn đòi hỏi phải có các khả năng chiêm nghiệm,khả năng phân tích, phán đoán để nhận thức bản chất, nắm bắt quy luật và lôgic khách quan của cuộc sống, để trên cơ sở đó nhận diện tương lai ngay từ trong thực tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sỹ, về một phương diện nào đó, phải đồng thời là nhà khoa học, trước hết là khoa học nhân văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học
  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh: Thay Đổi Nhận Thức Và Hành Động
  • Tại Sao Cha Mẹ Phải Giáo Dục Con Cái
  • Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 10
  • Nói đến chức năng của văn học không thể kể thiếu 4 chức năng cơ bản dưới đấy bao gồm: chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí.

    Nói đến chức năng của văn học chắc chắn chức năng nhận thức sẽ luôn nằm ở vị trí “quán quân”. Bởi chức năng này thể hiện ở vai trò phản ánh hiện thực của văn học. Văn học cần đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân loại từ xưa đến nay; về vẻ đẹp thiên nhiên ở nước mình và trên khắp thế giới.

    Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Ăng-ghen cho rằng đọc tiểu thuyết của Ban-zắc, người ta có thể hình dung và hiểu về xã hội nước Pháp hơn là đọc sách của nhiều ngành khoa học xã hội cộng lại. Được như vậy là nhờ chức năng nhận thức của văn học.

    Mặt khác, văn học còn giúp con người nhận thức về bản thân mình. Từ bao nhiêu thế kỉ nay, con người thường băn khoăn trước những câu hỏi lớn:

    “Mình từ đâu đến ?”; “Mình sống để làm gì?”; “Vì sao đau khổ; “Làm thế nào để sung sướng, hạnh phúc ?”… Toàn bộ văn học cổ kim, đông tây đều thể hiện sự tìm tòi, suy nghĩ không mệt mỏi của con người để giải đáp những câu hỏi đó. Ở nước ta, văn học dân gian và các tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tố Hữu… đều cho thấy cái gì là đáng yêu, đáng ghét trong xã hội, giúp chúng ta có khả năng phân tích, đánh giá để nhận ra chân giá trị của mỗi con người. Nguyễn Du miêu tả những cảnh đời, những số phận bị vùi dập, khổ đau để thấy khát vọng về quyền sống của cọn người mãnh liệt biết chừng nào. Văn học cách mạng thể hiện quàn điểm sống chết của nhiều thế hệ sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Thậm chí, từ những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống được nhà ván đưa vào tác phẩm cũng giúp người đọc soi mình vào đó để sống tốt hơn. (Đi đường, Tự khuyên mình, Ốm nặng – Hồ Chí Minh; Con cá chột nưa, Trăng trối – Tố Hữu…).

    Văn học nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn M.Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được chính mình, nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh trong con người một khát vọng hướng tới chân lí, biết đấu tranh với cái xấu, biết tìm tòi và hướng tới cái đẹp của con người và cuộc sống.

    Như vậy, ngoài chức năng nhận thức, văn học còn có chức năng nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho con người. Văn học luyện cho người đọc thói quen cảm thụ tinh tế, mài sắc khả năng nhận ra cái thật, cái giả, cái thiện, cái ác trong cuộc sống.

    Văn học nâng đỡ cho nhân cách, giúp hình thành nhân cách, giáo dục con người tình cảm đúng đắn, trong sáng, biết yêu cái tốt, ghét cái xấu, dám xả thân vì nghĩa và biết sống đúng đạo lí làm người. Đặc điểm của văn học là thông qua sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để khơi gợi, kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ để có hành động đúng. Mặt khác, văn học giúp con người tự giáo đục, tự hoàn thiện để sống tốt đẹp hơn, hữu ích hơn cho xã hội.

    Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đặc điểm của hưởng thụ thẩm mĩ là nâng cao con người lên trên những dục vọng và lợi ích vật chất tầm thường. Đi vào thế giới của văn học, người đọc chia sẻ buồn vui, sướng khổ với nhân vật. Yêu kẻ này, ghét kẻ kia hoàn toàn không dính dáng gì đến lợi ích vật chất nào ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó văn học đem đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm.

    Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời. Nhà văn chân chính là người có tâm hồn phong phú, đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn chân thành của mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, vỗ về người đau khổ, lên tiếng vạch trần cái xấu, cái ác, ca ngợi phẩm chất cao đẹp… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và hướng tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của người đọc.

    Chức năng thẩm mĩ của văn học làm cho tầm vóc con người lớn hơn, đời sống tinh thần trong sáng, phong phú hơn. Nhưng sự hưởng thụ thẩm mĩ chỉ xuất hiện khi tác phẩm có nội dung sâu sắc và tính nghệ thuật cao, vì chỉ khi đó văn học mới bảo đảm thỏa mãn tối đa về mặt tinh thần cho người đọc.

    Ngoài ba chức năng cơ bản trên, văn học còn có chức năng giải trí. Các tác phẩm văn học lành mạnh, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao sẽ đem lại sự thư giãn cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, góp phần tái tạo sức khỏe và duy trì niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không ít người có thói quen tốt là đọc sách và coi sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hằng ngày.

    Các chức năng văn học nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ngay trong chức năng nhận thức đã có tính giáo dục. Muốn cho hiệu quả nhận thức và giáo dục đạt tới mức cao nhất thì cần phải thông qua đặc trưng thẩm mĩ. Ngược lại, chức năng thẩm mĩ không đơn thuần mang ý nghĩa duy mĩ mà phải phục vụ cho việc thể hiện tốt hai chức năng nhận thức và giáo dục. Tất cả các chức năng ấy tạo thành tác dụng to lớn của văn học trong việc không ngừng hoàn thiện phẩm chất cao quý của con người.

    Chức năng của mỗi sự vật, hiện tượng là vai trò của nó trong đời sống. Chức năng của văn học cũng là vai trò, nhiệm vụ của nó trong đời sống con người. Nó bao gồm nhiệm vụ 1 thời và nhiệm vụ lâu dài.Song, nhiệm vụ cơ bản nhất của nghệ thuật là bồi đắp tình người , tình đời, làm cho đời sống con người phong phú hơn, giúp con người hướng đến chân – thiện – mĩ.

    Các chức năng:

    – CN nhận thức của vh là khả năng của nó đem lại cho con người những hiểu biết mới về đời sống để bổ sung, làm giàu vốn kiến thức cho mình.

    VD: Đọc “Lão Hạc” của Nam Cao sẽ cho ta cái nhìn toàn cảnh về xã hội nông thôn trước CM Tháng 8.

    –Về kinh tế: chủ yếu dựa trên kinh tế nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu

    –Về văn hóa: Còn những hủ tục lạc hậu (thách cưới nặng khiến anh con trai ko đủ tiền cưới vợ)

    -Tâm hồn con người: những người nông dân chất phác, thuần hậu

    -Những hiểu biết thêm về quan điểm NT, suy nghĩ, trăn trở của nhà văn

    VD2: Tp “Tấm Cám”

    -Đời sống vật chất: kinh tế nông nghiệp là chính với hình thức tủn mủn, lạc hậu

    -Chế độ xh: thời kì sơ khai của triều đình phong kiến, vợ vua vẫn phải giặt quần áo, dệt vải

    -Suy nghĩ về thiện – ác, các mối quan hệ xh: vợ – chồng, chị – em và đặc biệt là mẹ ghẻ – con chồng

    – Nội dung nhận thức: Những tri thức mà vh mang lại cho con người phong phú, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như tự nhiên, xã hội, tư duy, đời sống tinh thần, tình cảm con người

    VD: Tp Iliat và Odixe

    –Phản ánh đời sống con người phg Tây thời kì bộ lạc, bộ tộc và liên tục xảy ra chiến tranh đẫm máu để mở rộng đất đai, lãnh thổ.

    –Phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên

    –Ca ngợi người anh hùng với sức mạnh phi thường(Iliat), ca ngợi trí tuệ, công lí, sự công bằng (Odixe)

    + Những tri thức trong vh ko chuyên biệt, đi sâu như kiến thức khoa học, nó chỉ dừng lại ở mức độ phổ thông, dễ hiểu để mọi người đều nắm bắt đc.

    + Tri thức trong vh có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và lí trí, tình cảm và lí tưởng nên tránh đc sự khô khan, dễ đi vào lòng người 1 cách tự nhiên.

    + Sự nhận thức trong vh diễn ra cả ở bề mặt và bề sâu, cả bên ngoài cuộc sống và bên trong tâm hồn con người.

    – CN dự báo là khả năng đoán định trc những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Tiền đề của CN dự báo chính là chức năng nhận thức từ sự hiểu biết sâu rộng về đời sống, khả năng nắm bắt những quy luật. Nhà văn có thể chỉ ra những chiều hướng phát triển của xã hội.

    VD: tp “Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ của W.Shakespeare, nhân vật An-tô-ni Sai-lốc: cổ súy cho giai cấp tư bản và chống lại giai cấp phong kiến của thời Phục Hưng nhưng W.S cũng đồng thời dự báo trc bản tính tham lam, ăn thịt uống máu người của bọn tư sản.

    – Nội dung dự báo trong tpvh là rất phong phú. Có thể là dự báo sự ra đời của 1 chế độ, một lớp người nào đó hoặc 1 số phận , 1 quy luật…

    VD: Chi tiết khi Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng trong tp “Chí Phèo” có t/c dự báo về 1 số phận con người và 1 quy luật xã hội : nếu xã hội ko thay đổi thì tre già măng mọc, những CP con, BK khác sẽ lại ra đời.

    – Đặc điểm của Tính chất dự báo: Mỗi nhà văn tùy theo trình độ hiểu biết, tùy thuộc vào tâm và tầm của mình để có những dự đoán về đời sống, những dự đoán đó lại khác nhau giữa các nhà văn, giữa các trào lưu văn học.Mức độ dự báo trong vh có chính xác hay ko là phụ thuộc vào tầm hiểu biết, sự tinh tế, sắc sảo của nhà văn.

    -CN thẩm mĩ của văn học là khả năng của nó trong việc đem lại cho con người những cảm xúc, khoái cảm thẩm mĩ, từ đó bồi dưỡng cho con người những tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ.

    VD: “Lượm” đem lại cho ng đọc những cảm xúc tốt đẹp về cả cái đẹp bên ngoài lẫn bên trong tức cái đẹp tâm hồn của vẻ đẹp lí tưởng, lòng yêu nước, trách nhiệm với công việc, ý chí quật cường của cậu bé liên lạc.

    -CN thẩm mĩ trong vh đc khơi gợi từ chính những đặc tính thẩm mĩ của nhân vật.

    VD: Nhân vật đẹp về ngoại hình dễ dàng tác động đến cảm xúc của con người nhưng cái để lại ấn tượng lâu dài mới là cái đẹp bên trong. Cái đẹp bên trong có khả năng tạo nên độ bền trong ấn tượng của người đọc.

    + Cái đẹp chỉ ở bề sâu , đòi hỏi 1 quy trình khám phá chứ ko hiển hiện , lộ diện ra bên ngoài, bề sâu khó thấy hơn nhưng bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu sắc hơn.

    + Các ngành công nghiệp thực dụng khi sản sinh ra cái đẹp nhằm mục đích tạo lợi nhuận thì cái đẹp trong vh xuất phát từ bản chất của NT ko thể thiếu đc.

    + Cảm xúc thẩm mĩ mà vh mang lại cho con người là những cảm xúc tự nhiên, vô tư, ko đặt lên trên lợi nhuận và nó trở thành đặc trưng bản chất thẩm mĩ vh.

    CN giải trí của vh ko phải chỉ thể hiện ở tiếng cười thư giãn mà trong nhiều trường hợp nó còn thể hiện ở chỗ giúp con người nếm trải những cảnh đời, những số phận khác nhau.

    CN thẩm mĩ và CN giải trí có mối quan hệ hài hòa, bổ sung, tương hỗ cho nhau.

    -CN giao tiếp của vh là khả năng kết dính con người, giúp con người xích lại gần nhau hơn trên tinh thần đối thoại, cởi mở

    -Giao tiếp trong NT diễn ra từ 2 phía: tác giả – bạn đọc. Diễn ra dưới 2 hình thức: đồng đại- lịch đại. CN giao tiếp trong vh là

    giao tiếp gián tiếp và lâu dài trong lịch sử. Sự giao tiếp trong vh thường dẫn đến ý nghĩa giáo dục.

    – CN giáo dục biểu hiện ở chỗ vh có khả năng hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, xây dựng và bồi đắp nhân cách cho con người, cải tạo những quan điểm sai lầm, giúp cho con người hướng đến tương lai 1 cách tốt đẹp và nhân văn.

    VD: Tấm Cám: cái thiện, cái mĩ sẽ đc trả công 1 cách xứng đáng, cái ác sẽ bị tiêu trừ.

    “Lão Hạc”: bài học nhân cách, lương thiện về lòng tự trọng, về tính chất phác, thuần hậu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng