Chức Năng Của Thận

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Chức Năng Của Thận xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/01/2021 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Chức Năng Của Thận để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 4.653 lượt xem.

Có 1100 tin bài trong chủ đề【Chức Năng Của Thận】

【#1】Phân Tích Sự Phù Hợp Với Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thành Phần Cấu Tạo Của Tế Bào Nhân Sơ Câu Hỏi 41028

Đáp án: Các sinh vật thuộc nhóm sinh vật nhân sơ gồm có vi khuẩn và vi khuẩn cổ

Đi từ ngoài vào trong , tế bào vi khuẩn gồm các thành phần sau lông và roi → màng nhầy( lớp vỏ) → thành tế bào ( vách tế bào) → màng sinh chất → tế bào chất → vùng nhân.

1.Roi

Cấu tạo:Điểm xuất phát của lông từ màng sinh chất vượt qua màng nguyên sinh và thò ra ngoài, dài chưng 6-12 nm,đường kính 10-30 nm . Thành phần hoá học của roi là các protein có khối lượng phân tử từ 30000 đến 40000.

Chức năng: Roi là cơ quan vận động của tế bào vi khuẩn.Tốc độ vận động khoảng 0,5 nm. Hình dạng của roi lúc chuyển động có thể là lượn sóng hoặc xoáy trôn ốc

2.Lông:

Cấu tạo: .Lông cũng có hình dáng như roi song ngắn hơn.

Có hai loại lông: lông thường và lông giới tính.

Lông thường có cấu tạo hoá học là một loại protein.

Lông giới tính dài 20 micromet,đường kính 8,5 nm.Số lượng ở trên mỗi tế bào không nhiều,từ 1 đến 4 chiếc

Chức năng: Qua lông,các plasmid được bơm đẩy qua.

Lúc giao phối xảy ra thì một đầu của lông cá thể đực này cố định ở cá thể cái.

3.Màng nhầy

Màng nhầy( lớp vỏ) là sản phẩm tiết ra từ vách

Cấu tạo: Vỏ có thành phần hoá sinh học là các protein giàu liên kết disunfua như xystin,các canxi và các axit dipicolinic. nằm ngoài tế bào

Chức năng: Vỏ xuất hiện trong điều kiện không thuận lợi cho đời sống của chúng như nhiệt độ cao,pH thay đổi.→Bảo vệ tế bào có vai trò như kháng nguyên

4.Thành tế bào ( vách tế bào):

Cấu tạo: Thành phần hoá học cấu tạo nên thành tế bào là peptiđôglican (cấu tạo từ các chuỗi cacbohiđrat liên kết với nhau bằng các đoạn pôlipêptit ngắn).

Dựa vào thành phần cấu tạo của thành tế bào vi khuẩn được chia làm 2 nhóm

+ VK Gram dương: có màu tím (nhuộm Gram), thành dày.

+ VK Gram âm: có màu đỏ (nhuộm Gram), thành mỏng.

→ Sử dụng thuốc kháng sinh đặc hiệu để tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh.

Chức năng: Thành của vi khuẩn như một cái khung bên ngoài có tác dụng giữ hình dáng nhất định của tế bào vi khuẩn, bảo vệ cơ thể vi khuẩn chống lại áp suất thẩm thấu nội bào lớn.

5. Màng sinh chất:

Cấu tạo: Cấu trúc tương tự màng tế bào của sinh vật nhân thực , màng tế bào được cấu tạo bởi hai thành phần chủ yếu là lớp phospholipit và protein

Chức năng:

– Thấm có chọn lọc : màng tế bào cho phép một số chất hoà tan cần thiết đi vào được trong tế bào ,đồng thời nó cũng cho phép một số chất hoà tan khác có hại cho tế bào đi ra khỏi tế bào (các độc tố đối với tế bào vi khuẩn…)

– Thực hiện cá quá trình trao đổi chất của tế bào: Trên màng sinh chất phân bổ nhiều các loại enzym chuyển hoá các chất và trao đổi năng lượng như các enzym thuộc nhóm xitôcrôm,các enzym hoạt động trong chu kỳ Krebs.

– Tham gia quá trình phân chia tế bào bằng cách hình thành nếp gấp của màng tế bào (mêxôsôme) để ADN nhân bám vào trong quá trình nhân đôi .

6. Tế bào chất:

Cấu tạo : Là vùng nằm giữa màng sinh chất và vùng nhân hoặc nhân.

Gồm 2 thành phần chính là bào tương (một dạng chất keo bán lỏng chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau), các ribôxôm và các hạt dự trữ.

Riboxom là bào quan được cấu tạo từ protein và rARN , không có màng bao bọc . Riboxom có chứn năng chính là tổng hợp nên các loại protein của tế bào. Riboxom của vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn riboxom của tế bào nhân thựv tế. Tế bào chất của vi khuẩn không có hệ thống nội màng, các bào quan có màng bao bọc và khung tế bào .

Chức năng : Nơi diễn ra các phản ứng hoá sinh của tế bào

7. Vùng nhân

Cấu tạo : Không có màng của nhân bao bọc , vùng nhân thường chỉ chứa một phân tử ADN mạch vòng duy nhất( đóng vai trò là nhiễm sắc thể của vi khuẩn). Tế bào sinh vật nhân sơ còn chứa những cấu trúc ADN ngoài AND của vùng nhân là plasmid, nó cũng có dạng vòng nhưng nhỏ hơn ADN vùng nhân. Trên các plasmid thường chứa các gene có chức năng bổ sung, ví dụ gen kháng kháng sinh.

Chức năng: Mang , bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền, điều khiển các hoạt động sống của tế bào.

Giải thích các bước giải:


【#2】Bài Thuốc Tăng Cường Chức Năng Của Thận Giúp Phòng Ngừa Đau Thần Kinh Tọa

Thuốc thảo dược là phương pháp chữa trị có tính bảo tồn có thể hạn chế được những biến chứng xấu, phù hợp với cơ địa của hầu hết các bệnh nhân. Hơn nữa các bài thuốc chữa đau thần kinh tọa này đem lại hiệu quả lâu dài, tránh tái phát bệnh.

Một số bài thuốc tăng cường chức năng của thận

Bài 1: Độc hoạt 12g, đỗ trọng 20g, cẩu tích 20g, ba kích 12g, hoàng kỳ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Độc hoạt 12g, đỗ trọng 20g, phòng phong 12g, hy thiêm 12g, ngưu tất 12g, thổ phục linh 12g, xuyên khung 12g, đương quy 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Thục địa 12g, hoài sơn 12g, sơn thù 8g, kê huyết đằng 12g, xích thược 12g, hồng hoa 10g, độc hoạt 12g, phòng phong 12g, hy thiêm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Sài hồ 12g, bạch thược 12g, độc hoạt 12g, đỗ trọng 20g, thổ phục linh 12g, ngưu tất 12g, bạch linh 12g, bạch truật 12g, đương quy 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Cố gắng phòng bệnh đừng để bệnh xảy ra là tốt nhất. Khi đã bị bệnh cũng cần kiêng kỵ điều trị mới kết quả

– Từ tuổi nhỏ khi ngồi học cần nhắc trẻ ngồi đúng tư thế, lưng thẳng.

– Không khiêng vác nặng kéo dài, không xách nặng lệch tư thế.

– Nên tập bơi và tập thể thao phù hợp.

– Hạn chế các đè nén nặng đột ngột lên cột sống.

– Không nên quan hệ tình dục quá mức vì “đa dâm bại thận”.

Khi đã đau vùng thắt lưng: Nên tăng cường bơi, hằng ngày tập đứng gập người cúi đầu và chạm 2 tay xuống đất. Hoặc nằm ngửa, duỗi thẳng chân, gấp 2 chân lên bụng, thời gian tập đều và nhẹ nhàng chậm rãi, nên tập ngày 2 lần mỗi lần 30 phút.

Dùng một trong các lá sau rang nóng trải xuống giường rồi nằm đè vùng thắt lưng lên: lá ngải cứu, lá lốt, lá cúc tần, lá náng… cũng có thể rang nóng một trong các lá trên trải lên trên tờ báo, ngồi ngay ngắn đặt hai bàn chân lên, lá nguội rang lại để làm tiếp lần 2, ngày làm 1-2 lần tùy điều kiện.


【#3】Trình Bày Đường Đi, Chức Năng Của Thần Kinh Quay, Thần Kinh Trụ? Áp Dụng Lâm Sàng? Câu Hỏi 1197024

Đáp án:

Giải thích các bước giải:

Thần kinh quay:

Đường đi: Thần kinh quay là nhánh cuối của bó sau đám rối thần kinh cánh tay. Nó đi qua cánh tay, ban đầu ở ô cánh tay sau sau đó đến ô cánh tay trước, và tiếp tục ở ô cẳng tay sau.

Chức năng:

– Nhánh nông của thần kinh quay chi phối cảm giác cho phần lớn mu bàn tay, da giữa ngón cái và ngón trỏ.

– Thần kinh quay (và nhánh sâu) chi phối vận động cho các cơ ở ô cánh tay sau và ô cẳng tay sau.

– Tổn thương thần kinh quay ở các mức khác nhau gây ra ít nhiều các biểu hiện khác nhau: liệt cơ duỗi cẳng tay, liện các cơ duỗi và ngửa bàn tay, ngón tay; bàn tay bị kéo rủ xuống hình cổ cò, còn gọi là bàn tay rơi. Thần kinh trụ Cẳng tay: Thần kinh trụ không đi trong hố trụ. Nó đi vào ô cẳng tay trước, giữa hai đầu của cơ gấp cổ tay trụ, đi dọc theo bờ ngoài của cơ này. Thần kinh trụ chạy giữa cơ gấp các ngón tay nông và cơ gấp các ngón tay sâu. Gần cổ tay, thần kinh đi nông hơn mạc gân gấp, được dây chằng trong khớp cổ tay che phủ. Cánh tay: Thần kinh trụ có nguyên ủy từ rễ C8 – T1 (đôi khi còn mang sợi từ C7 phát sinh từ bó ngoài), hợp lại thành bó trong của đám rối thần kinh cánh tay, đi xuống và vào trong động mạch cánh tay, đến đầu bám của cơ quạ cánh tay (5 cm trên bờ trong của xương cánh tay). Sau đó, nó đâm thủng vách gian cơ, đi vào ô cánh tay sau cùng các mạch máu trụ trên. Thần kinh chạy góc giữa-sau xương cánh tay, qua sau mỏm trên lồi cầu trong Bàn tay: Thần kinh trụ đi vào lòng bàn tay qua ống Guyon (ống trụ), đi nông hơn mạc gân gấp, phía ngoài xương đậu

Chức năng: Thần kinh trụ điều khiển các chuyển động tinh tế của ngón tay.

Y nghĩa lâm sàng:

Thần kinh trụ bị tổn thương phổ biến nhất quanh khuỷu tay. Một số bệnh nhân bị phong (hủi), các cơ do dây trụ vân động bị liệt, biểu hiện rõ nhất ở bàn tay là mô út bị teo, ngón út và ngón nhẫn luôn ở tư thế đốt I bị duỗi, đốt II và III bị gấp, gọi là bàn tay vuốt trụ ( ulnar claw, do các cơ gian cốt và các cơ giun 3 – 4 bị liệt, không kéo được phần cuối cả các gân duỗi tương ứng).


【#4】Chức Năng Của Thận Là Gì? Dấu Hiệu Suy Giảm Chức Năng Thận

Các nghiên cứu hàng đầu đã chỉ ra, chức năng chính của thận là lọc và đào thải chất độc, nước thải ra khỏi cơ thể con người thông qua nước tiểu. Ở đây, tác dụng của thận được hiểu như một thiết bị lọc máu. Tất cả máu tuần hoàn trong cơ thể phải qua thận theo một chu kỳ dao động trong khoảng 25 lần/ngày. Mỗi giờ, hai quả thận phải thực hiện lọc một lượng máu khoảng 180 lít.

Thận có chức năng như vậy nhờ vào các nephron (đơn vị chức năng của thận) có trong thận. Mỗi quả thận chứa hàng triệu nephron (khoảng 1,2 triệu nephron), mỗi nephron là một đơn vị lọc gồm hai bộ phận là tiểu cầu và tiểu quản. Tiểu cầu đóng vai trò như một màng lọc một chiều (cho phép chất dinh dưỡng đi vào, ngăn cản chất độc hại tái hấp thụ).

Mao mạch trên nephron kiểm soát các chất cần thiết cho cơ thể. Trong điều kiện cơ thể cần, các mao mạch sẽ phản hồi tín hiệu để các chất được hoạt động trong máu. Máu được đưa vào bao gồm chất dinh dưỡng và chất thải, các nephron phải phát hiện và xử lý, lọc bỏ chất thải ra khỏi máu trước khi nó tuần hoàn khắp cơ thể.

Quá trình lọc máu của thận sẽ bắt đầu từ cầu thận, các chất lỏng được đẩy theo ống thận cùng các chất thải khác. Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là nước tiểu và được thải ra ngoài bằng đường ống dài hay được gọi là niệu quản. Toàn bộ nước thải sẽ bị đưa ra ngoài mãi mãi, không có sự tái sử dụng/hấp thụ nào diễn ra trong quá trình này.

Vai trò của thận còn nằm ở việc kích hoạt Vitamin D. Việc kích hoạt này giúp giải phóng một lượng lớn hormone có tên khoa học là Renin, kiểm soát tình trạng tăng giảm huyết áp. Đặc biệt là sự sản sinh của hormone Erythropoietin làm tăng lượng hồng cầu có trong máu.

Các phương pháp đánh giá chức năng bài tiết của thận

Người bệnh sẽ được thực hiện 2 loại xét máy để đánh giá chức năng bài tiết của thận bao gồm:

  • Thực hiện xét nghiệm nồng độ Creatinin trong máu: Creatinin – chất thải của quá trình vận động của bắp, được đào thải ra ngoài qua nước tiểu. Nồng độ Creatinin sẽ thay đổi tùy thuộc và sức khỏe của thận. Chỉ số Creatinin trong máu càng cao chứng tỏ chức năng bài tiết của thận đang gặp phải vấn đề.

Người bệnh được chỉ định chụp X-quang thận với thuốc tĩnh mạch để xác định chức năng bài tiết của thận. Phương pháp này thường được sử dụng cho người bị bệnh sỏi tiết niệu gây tắc nghẽn và ứ nước nghiêm trọng trong niệu quản.

Các phương pháp khác đánh giá chức năng bài tiết của thận

Ngoài phương pháp đánh giá kể trên, bệnh nhân có thể thực hiện các phương pháp sau đây để đánh giá khả năng lọc và hấp thụ chất dinh dưỡng của thận:

  • Phương pháp gây đái nhiều: Trong khoảng thời gian 4 giờ, người bệnh sẽ được cho uống lượng nước dao động trong khoảng 600 ml. Lượng nước tiểu của người bình thường tiết ra sẽ lớn hơn lượng nước được nạp vào. Nghiệm pháp này sẽ kiểm tra ra lượng nước tiểu có sự thay đổi gì trong quá trình đào thải hay không (ít hơn/không đổi), từ đó đánh giá mức tổn thương của thận.
  • Nghiệm pháp pha loãng: Sau quá trình nhịn đói nhiều giờ, toàn bộ nước tiểu trong bàng quang được lấy hết, người bệnh sẽ được uống 1,5 lít nước trong thời gian 30 phút. Cách 30 phút, người bệnh sẽ được lấy nước tiểu một lần để kiểm tra tỷ trọng. Thực hiện quá trình trong 4 giờ liên tục. Nếu lượng nước tiểu lấy trong 4 giờ bằng lượng nước uống vào là kết quả bình thường (tỷ trọng nhỏ hơn 1,002). Tỷ trọng lớn hơn 1,002 tức lượng nước tiểu ít hơn lượng nước uống vào là chức năng thận bị tổn thương. Phương pháp này không sử dụng cho người mắc chứng phù nề hoặc suy thận hoàn toàn.

Các dấu hiệu suy giảm chức năng thận

  • Khó ngủ: Người bệnh thường có cảm giác khó ngủ về đêm khi hàm lượng độc tố tích tụ quá nhiều trong cơ thể.
  • Thường xuyên mệt mỏi, cơ thể bị suy nhược: Chức năng thận suy giảm dẫn đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể bị ảnh hưởng. Đặc biệt, do hormone Erythropoietin không được sản sinh làm giảm lượng hồng cầu có trong máu, gây ra hiện tượng thiếu hụt oxy lên não.
  • Ngứa ngáy, khô da: Hiện tượng này xảy ra do quá trình cân bằng khoáng chất và chất dinh dưỡng trong cơ thể bị ảnh hưởng.
  • Hôi miệng: Chất thải mà thận không thể đào thải làm thay đổi mùi vị thức ăn, để lại mùi kim loại trong khoang miệng,
  • Phù ở mắt cá chân, bàn tay, chân và bọng mắt: Lượng nước thừa không được đẩy ra ngoài sẽ tích tụ trong cơ thể gây ra hiệu tượng ứ dịch ở mắt cá chân, bàn tay, bàn chân, đặc biệt ở mắt. Hiện tượng gây ra hàng loạt các biến chứng nguy hiểm khác cho người bệnh.
  • Biểu hiện bất thường trong tiểu tiện: Toàn bộ chất thải từ quá trình lọc máu sẽ thể hiện ở nước tiểu. Nếu thận tổn thương, số lần đi tiểu sẽ tăng lên nhiều vào ban đêm, xuất hiện máu và rất nhiều bọt trắng trong nước tiểu.

  • 【#5】Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thận?

    Thận (ở động vật được gọi là cật) là một cơ quan bài tiết chính trong hệ tiết niệu. Mỗi người có hai quả thận, có nhiều chức năng.

    Thận là một bộ phận quan trong trong hệ tiết niệu, có hình hạt đậu nằm trong khoang bụng sau phúc mạc đối xứng nhau qua cột sống, ngang đốt sống ngực T11 đến đốt thắt lưng L3. Thận phải nằm hơi thấp hơn thận trái khoảng 1 đốt sống, mặt trước thận nhẵn bóng, mặt sau sần sùi.

    Cặp động mạch thận cung cấp máu cho các quả thận, bắt nguồn từ động mạch chủ bụng, và chảy vào các cặp tĩnh mạch thận. Mỗi quả thận tiết nước tiểu vào niệu quản, là cấu trúc cặp đôi dẫn nước tiểu vào bàng quang. Tuyến nội tiết thượng thận nằm phía trên mỗi quả thận.

    Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ khoảng 1 triệu đơn vị chức năng của thận là nephron. Chỉ cần 25% số nephron hoạt động bình thường cũng đảm bảo được chức năng của thận. Chiều dài một nephron là 35-50 mm. Tổng chiều dài của toàn bộ nephron của hai thận có thể lên tới 70-100 km. Người ta chia nephron thành 2 loại:

    • Nephron vỏ: có cầu thận nằm ở vùng vỏ thận, có quai Henle ngắn và cắm vào phần ngoài của tủy thận. Khoảng 85% số nephron là nephron loại này.
    • Nephron cận tủy: cầu thận nằm ở nơi vùng vỏ tiếp giáp với phần tủy thận, có quai Henle dài và cắm sâu vào vùng tủy thận. Các nephron này rất quan trọng đối với việc cô đặc nước tiểu nhờ hệ thống nhân nồng độ ngược dòng.