Một Số Điểm Mới Quy Định: Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vksnd Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021 Mà Kiểm Sát Viên Cần Quan Tâm

--- Bài mới hơn ---

  • Công Tố Là Gì ? Khái Niệm Công Tố Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Chức Năng Pháp Lý Của Kiểm Sát Viên Chưa Phù Hợp
  • Tiêu Chuẩn Bổ Nhiệm Kiểm Sát Viên Theo Quy Định
  • Đề Tài: Vai Trò Của Kiểm Sát Viên Trong Giải Quyết Vụ Án Hình Sự, Hay
  • Cơ Quan Điều Tra Có Những Trách Nhiệm Gì Trong Giai Đoạn Điều Tra?
  • Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII, Ngày 25/11/2015 Quốc Hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự với 10 Phần, 42 chương, 517 điều (trong đó bổ sung mới 102 điều, sửa đổi, bổ sung 292 điều) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định những nguyên tắc cơ bản về trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu để Tòa án giải quyết các vụ, việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động cũng như trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

    Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định những nguyên tắc thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng… trong đó, Bộ luật tố tụng quy định về: Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội sửa đổi, bổ sung cần tổng hợp trình bày với những nội dung cơ bản sau đây:

    Thứ nhất: Về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS

    Trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự 2021, nhiều ý kiến về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân quy định trong tố tụng dân sự, như: Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự mà không phải là cơ quan tiến hành tố tụng cũng như không phải là cơ quan tham gia tố tụng. Một số ý kiến khác lại cho rằng, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nên Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng. Nhưng cũng có nhiều ý kiến lại cho rằng, trong hoạt động tố tụng dân sự Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp, không trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng, do vậy Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tham gia tố tụng. Nhưng Quốc hội đã biểu quyết tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2021:

    Điều 46 quy định:

    1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm có:

      a) Tòa án;

      b) Viện kiểm sát.

    2. Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:

      a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;

      b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.”

    Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự; Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự; trên cơ sở đó đồng thời, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng tại Điều 59. Đồng thời sửa đổi, bổ sung về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên với nhiều nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng hơn để cho Kiểm sát viên thực hiện công tác Kiểm sát trong tố tụng dân sự và cũng là để bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

    Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021, cụ thể như sau:

    Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
    2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự;
    3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này;
    4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này;
    5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
    6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
    7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
    8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
    9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.

    Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
    2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
    3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

    Thứ hai: Về sự tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân quy định tại các Điều 21, 232, 296, 367 và 374 BLTTDS 2021:

    Tại Điều 21 Bộ luật TTDS năm 2021 quy định: VềKiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:

    1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
    2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
    3. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
    4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.

    Như vậy, thấy rằng ngoài các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp đã quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành; thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 đã bổ sung thêm một số nội dung như sau:

    1/ Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng;

    2/ Đối với trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phân công tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm hoặc phiên tòa, phiên họp phúc thẩm mà vắng mặt, thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa. Trừ trường hợp do Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Quy định này nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, kịp thời và cũng là đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

    Thứ 3: Về việc phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 262 và Điều 369 BLTTDS

    Tại phiên tòa sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”.

    Như vậy, trên cơ sở quy định trên thì kiểm sát viên không chỉ phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử như trước đây mà còn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa và việc giải quyết vụ án (hay còn gọi là phát biểu về nội dung vụ án). Quá trình thực tiễn khi thi hành Bộ luật tố tụng dân sự trong thời gian qua cho thấy: Quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự hiện hành còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình mà Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định. Đến nay trong điều kiện thực tiễn của đất nước ta, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trước Tòa án. Khi có xảy ra tranh chấp thì nhiều người dân chưa có điều kiện mời Luật sư hay người đại diện bảo vệ quyền lợi cho minh …Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và phát biểu về việc giải quyết vụ án là đại diện cho quyền lợi của xã hội, không phải là đại diện của các bên đương sự, chỉ đưa ra những quan điểm về áp dụng pháp luật mà không nghiêng về bên nào. Do đó, quy định này cũng là để nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết vụ việc.

    Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Tại Điểm g, khoản 1 Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: “Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;”

    Thứ 4: Về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát

    Theo quy định tại tiết 2 Điều 262; Điều 306; khoản 3 Điều 341; điểm g, khoản 1 Điều 369 và điểm c khoản 1 Điều 375 BLTTDS quy định: ” Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc.” Đây là điểm cần chú ý trong thực hiện công tác kiểm sát mà các Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định phân công trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phải được đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh.

    Tiếp tục kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về: Thẩm quyền xác minh, thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát. Theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”.

    Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự 2021 cũng bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 58: Kiểm sát viên khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn: “Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này

    Quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự 2021 trong đó có: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.

    Thứ 5: Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

    Trong quá trình thực hiện thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2021, Kiểm sát viên cần quan tâm lưu ý về Thời hạn kháng nghị tại khoản 3, Điều 280 quy định: “Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý rõ”. Để nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên khi được phân công quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát đảm bảo chính xác đúng thời gian luật định.

    Tại Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 về Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, quy định:

    1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
    2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

    Điều 354 Bộ luật tố tụng dân sự 2021 về người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định:

    1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
    2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

    Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2021 đã có những sửa đổi về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm so với Bộ luật hiện hành. Theo đó Bộ luật mới đã bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của cấp huyện của Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện. Bộ luật đã bổ sung quyền kháng nghị cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

    Trong phạm vi bài viết này rất mong các đồng chí cùng tham khảo nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật thi hành./.

    Trịnh Đình Tân – Phó trưởng Phòng 10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rắc Rối Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • 1.2. Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Việc Giải Quyết Các Vụ Việc Dân Sự.
  • Những Điểm Mới Cơ Bản Về Vai Trò Của Vks Trong Tố Tụng Dân Sự Theo Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điểu Của Blttds
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • Đbqh Tp. Đà Nẵng Ủng Hộ Việc Bổ Sung Chức Năng Của Phòng Giám Định Kỹ Thuật Hình Sự Thuộc Vksnd Tối Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Phân Biệt Rõ Chức Năng, Nhiệm Vụ Giữa Pháp Y Và Kỹ Thuật Hình Sự
  • Luật Sư Nêu Ý Kiến Về Việc Thành Lập Phòng Giám Định Kỹ Thuật Hình Sự Thuộc Vksnd Tối Cao
  • Cục Kỹ Thuật An Toàn Và Môi Trường Công Nghiệp
  • Đảng Bộ Cục Kỹ Thuật An Toàn Và Môi Trường Công Nghiệp: Xây Dựng Đảng Vững Mạnh, Thi Đua Lập Thành Tích Trong Nhiệm Kỳ 2021
  • Qui Trình Làm Việc Của Nhân Viên Kỹ Thuật Chuyền Tại Xí Nghiệp May 2 Trong Công Ty May Thắng Lợ
  • Trước đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp trình Quốc hội xem xét thông qua. Đáng chú ý là trong dự thảo luật này bổ sung quy định “Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao” là một trong các tổ chức Giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự với nhiệm vụ giám định về âm thanh, hình ảnh từ các dữ liệu điện tử (khoản 4, khoản 5 Điều 12).

    Hiện hai loại ý kiến về dự thảo luật. Loại ý kiến thứ nhất: Tán thành dự thảo Luật, vì cho rằng hiện nay khi thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự từ ngày 1/1/2020 thì yêu cầu và nhu cầu về giám định kỹ thuật âm thanh tăng rất cao, khi các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành ghi âm, ghi hình, có âm thanh đối với việc hỏi cung bị can. Đây là vấn đề đã được Chính phủ cân nhắc kỹ trên cơ sở đề nghị của VKSND tối cao và cũng phù hợp với thực tiễn hoạt động tố tụng và quy định của pháp luật tố tụng, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về tham nhũng, tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp hiện nay.

    Loại ý kiến thứ hai: Đề nghị không bổ sung quy định này.

    Ông Sơn phân tích, sự ra đời và tồn tại của các tổ chức giám định kỹ thuật tư pháp hình sự xuất phát từ nhu cầu hoạt động của các tổ chức điều tra hình sự. Nội dung, phạm vi hoạt động giám định của các tổ chức này cũng xuất phát từ nhu cầu thuộc phạm vi hoạt động điều tra đó, nó làm nhiệm vụ truy nguyên các dấu vết ban đầu, giúp cơ quan điều tra xác định điểm xuất phát, định hướng, các nội dung cần truy tìm chứng cứ và các mục tiêu cần chứng minh trong quá trình điều tra một vụ án hình sự. Đây là vấn đề này mang tính quy luật trong quá trình ra đời và phát triển của hoạt động của các tổ chức điều tra hình sự tại các quốc gia trên thế giới.

    Ở nước ta, tổ chức giám định kỹ thuật hình sự được tổ chức tương ứng với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan điều tra chuyên trách trong lực lượng Công an Nhân dân và Bộ Quốc phòng. Điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, án tham nhũng trong hoạt động tư pháp là chức năng riêng có, được pháp luật trao cho Viện kiểm sát nhân dân.

    Theo đó, Tổ chức điều tra hình sự thuộc VKSND tối cao ra đời là duy nhất, chỉ có trong tổ chức bộ máy của VKSND tối cao. Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao cũng ra đời để đáp ứng yêu cầu hoạt động của cơ quan điều tra hình sự, như đã nêu ở trên.

    Ngày 21/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp trình Quốc hội xem xét

    Như vậy, sự ra đời và tồn tại của Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao là do Viện trưởng VKSND tối cao căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của ngành và quy định của pháp luật để quyết định. Tổ chức này tồn tại trên thực tế và phục vụ cho hoạt động điều tra đặc thù của cơ quan điều tra hình sự thuộc VKSND tối cao. Nghĩa là tổ chức này đã ra đời, tồn tại từ lâu nay.

    Vấn đề đặt ra lần này là bổ sung vào quy định của Luật Giám định tư pháp chức năng giám định tư pháp cho Phòng kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao, nhằm công nhận tính pháp lý cho các kết luận giám định, giúp cho hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra thuộc VKSND tối cao hoạt được tốt hơn.

    “Vì vậy, quan điểm của tôi là việc bổ sung chức năng này cho Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao là phù hợp quy định của pháp luật và đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình hiện nay”, Ông Nguyễn Bá Sơn – Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội bày tỏ quan điểm.

    Tác giả: Xuân Nha

    Nguồn tin: Báo Bảo vệ pháp luật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sửa Chữa Khoa Phục Hồi Chức Năng, Phòng Trực Kế Toán, Tường Rào Đường Nguyễn Văn Trỗi, Một Số Phòng Tầng 3,4 Nhà Kỹ Thuật Nghiệp Vụ
  • Phòng Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ii: Lặng Lẽ Góp Chiến Công
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Lắp Đặt
  • Công Ty Tư Vấn Xây Dựng Trung Nam Tp. Hồ Chí Minh
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Thuộc Ubnd Huyện
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Vksnd Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát
  • Vai Trò Bảo Vệ Quyền Con Người, Quyền Công Dân Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • Vks Cấp Cao Tại Hà Nội
  • Công Tác Tài Chính Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát Nhân Dân Trong Giai Đoạn Tới
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Trưởng, Kiểm Sát Viên, Kiểm Tra Viên Theo Luật Tố Tụng Hành Chính 2021
  • Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương (bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).

    Về chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp).

    Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

    Về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân (không tính các Viện kiểm sát quân sự), hiện nay trên phạm vi toàn quốc có 743 Viện kiểm sát, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 64 Viện kiểm sát cấp tỉnh và 678 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

    Về cơ cấu tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có: Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế – chức vụ, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma tuý, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Vụ Kiểm sát việc tạm giữ – tạm giam – quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, Cục điều tra, Vụ Khiếu tố, Vụ Kiểm sát thi hành án, Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính – kinh tế – lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, các Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm (hiện tại có 3 đơn vị là: Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh), Văn phòng, Viện Khoa học kiểm sát, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Thống kê tội phạm, Ban Thanh tra, Tạp chí Kiểm sát, Báo Bảo vệ pháp luật, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.

    Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ cấu tổ chức gồm có Uỷ ban kiểm sát, các phòng nghiệp vụ (việc tổ chức các phòng nghiệp vụ ở Viện kiểm sát 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là không đồng bộ như nhau, nhưng về cơ bản có các phòng sau: Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự; Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh và án ma tuý; Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm án hình sự; Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính – kinh tế – lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Phòng Kiểm sát thi hành án; Phòng Khiếu tố; Phòng Thống kê tội phạm; Phòng Tổ chức cán bộ; Văn phòng tổng hợp).

    Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ cấu tổ chức gồm 3 bộ phận công tác: bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam; bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án và bộ phận Văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm và khiếu tố.

    Về cán bộ, Kiểm sát viên, tại thời điểm tháng 01/2008, toàn ngành có 11.760 Kiểm sát viên, cán bộ, công chức, trong đó có 10.428 Kiểm sát viên, cán bộ, công chức làm chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có 165 Kiểm sát viên, 8 Điều tra viên cao cấp; 64 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có 2.266 Kiểm sát viên; 678 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có 3.988 Kiểm sát viên. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, trong số 10.428 công chức nghiệp vụ kiểm sát, có 8.754 người có trình độ cử nhân luật trở lên (với 21 Tiến sỹ, 109 Thạc sỹ), chiếm 84%; có 892 người đạt trình độ cao đẳng kiểm sát, chiếm 8,5%; có 1.608 người đạt trình độ cử nhân hoặc cao cấp chính trị, chiếm 15,5%, có 5.170 người đạt trình độ trung cấp chính trị, chiếm 50%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lâm Đồng: Liên Ngành Tư Pháp Ký Quy Chế Phối Hợp
  • Những Trường Hợp Nào Phải Chuyển Hồ Sơ Cho Cơ Quan Điều Tra, Viện Kiểm Sát Giải Quyết ?
  • Trách Nhiệm Của Cơ Quan Điều Tra Khi Thực Hiện Quyết Định Của Viện Kiểm Sát
  • Hoạt Động Điều Tra Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Theo Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Hệ Thống Tổ Chức, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Quân Sự Trung Ương
  • Cơ Quan Nào Đảm Nhiệm Chức Năng Kiểm Sát Chung Của Vks?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Quan Nào Sẽ Đảm Nhận Chức Năng Kiểm Sát Chung?
  • Góp Ý Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992::nên Giao Lại Cho Viện Kiểm Sát Chức Năng Kiểm Sát Chung
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Việc Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền
  • Hệ Thống Tổ Chức, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Quân Sự Trung Ương
  • Hoạt Động Điều Tra Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Theo Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • – Đặt ra việc điều chỉnh chức năng của VKS có phải do VKS thực hiện không tốt chức năng công tố và kiểm sát tư pháp?

    – Nhiều ý kiến cho rằng, để VKS giữ chức năng kiểm sát chung là quá bao trùm và gây sự chồng chéo với chức năng kiểm tra của các cơ quan khác, nhất là với hệ thống thanh tra nhà nước. Trong khi đó, hai chức năng chính của VKS là công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì thực tế VKS lại làm chưa tốt.

    Xuất phát từ thực tế đó, Quốc hội đi đến quyết định điều chỉnh chức năng của VKS. Từ nay, VKS chỉ có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, và kiểm sát hoạt động tư pháp.

    – Vậy cơ quan nào sẽ đảm nhiệm chức năng kiểm sát chung?

    – Sẽ không có cơ quan chuyên trách nào đảm nhiệm việc này. Mà thực ra, trong các văn bản quy phạm pháp luật từ trước đến nay đã quy định rõ các cơ quan từ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ, Chính phủ, các bộ… đến chính quyền địa phương, HĐND đều có chức năng giám sát và kiểm tra việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị cấp dưới. Cụ thể, thủ trưởng các đơn vị đều có quyền bãi bỏ hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ các văn bản trái thẩm quyền, vi phạm pháp luật của cấp dưới. Nếu nơi nào phát hiện ra việc vi phạm là của cơ quan ngang cấp thì nơi đó có quyền kiến nghị lên cơ quan cấp trên của đơn vị đó để ra quyết định hủy bỏ các văn bản vi phạm pháp luật.

    – Song thực tế mỗi năm VKS vẫn ra hàng trăm kháng nghị yêu cầu hủy bỏ văn bản trái pháp luật. Nay thôi việc này liệu có dẫn đến buông lỏng không, thưa ông?

    – Đúng là VKS có làm. Nhưng ngoài VKS, hằng năm Văn phòng Chính phủ, các bộ, cũng như các cơ quan khác đều tiến hành rà soát văn bản trái luật. Hơn nữa, khi VKS được giao chức năng này thì các cơ quan khác có phần buông lỏng trách nhiệm giám sát của mình. Nay giảm bớt ở VKS thì các cơ quan khác sẽ phải tăng cường hơn nữa chức năng giám sát, kiểm tra của mình.

    Tôi cho rằng, khi tất cả các cơ quan cùng thực hiện trách nhiệm này thì công tác giám sát việc tuân thủ pháp luật sẽ được làm tốt hơn.

    (Theo Lao Động)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Thực Hiện Chức Năng Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Có Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Gì?
  • 1. Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Công Tác Kiểm Sát Thi Hành Án Hình Sự.
  • Luận Văn: Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Hay
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyên
  • Tổ Chức Bộ Máy Và Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tiến Trình Cải Cách Tư Pháp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Chế Hoạt Động Của Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Mua Bán Nợ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Cơ Chế Hoạt Động Công Ty Mua Bán Nợ Việt Nam
  • Mua Bán Nợ Là Gì? Một Số Điều Kiện Đối Với Doanh Nghiệp Thực Hiện Hoạt Động Mua Bán Nợ ?
  • Chính Phủ Quy Đinh Nhiệm Vụ, Cơ Chế Hoạt Động Công Ty Mua Bán Nợ Việt Nam
  • Phòng Tham Mưu, Công An Tỉnh Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nhiệm Vụ Bảo Đảm An Ninh Trật Tự
  • Phòng Tham Mưu Công An Tỉnh Làm Tốt Công Tác Tham Mưu Triển Khai, Thực Hiện Học Tập Và Làm Theo Bác
  • Nhà nước là chủ sở hữu của DATC. Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước đối với DATC. Trong đó, Bộ Tài chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo phân công, phân cấp của Chính phủ. Hội đồng thành viên DATC thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DATC theo quy định của pháp luật và Điều lệ của DATC.

    DATC thực hiện ngành nghề kinh doanh chính về: Tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản; mua, xử lý nợ và tài sản; tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua hoạt động mua, bán, xử lý nợ. Cụ thể như sau:

    Việc tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản bao gồm:

    – Tiếp nhận nợ và tài sản theo quy định của pháp luật về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm cả đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cổ phần hóa theo quy định của Chính phủ để xử lý theo quy định tại Nghị định này.

    – Tiếp nhận theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, gồm: nợ phải thu và các tài sản (bao gồm cả các tài sản tồn đọng, các tài sản gắn với xử lý nợ theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) để tiếp tục đầu tư khai thác hoặc xử lý, thu hồi vốn cho Nhà nước theo quy định tại Nghị định này.

    Việc mua, xử lý nợ và tài sản, gồm:

    – Quản lý, sử dụng chủ yếu nguồn lực tài chính của công ty để thực hiện mua, xử lý các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả các dự án cần hỗ trợ xử lý nợ để tiếp tục đầu tư, khai thác) theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    – Mua, xử lý các khoản nợ và tài sản của các tổ chức, cá nhân không trùng lắp với mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

    Ngoài ra, DATC còn có ngành nghề hỗ trợ ngành nghề kinh doanh chính, như: Quản lý, đầu tư, khai thác và xử lý đối với dự án bất động sản thuộc các trường hợp: là tài sản bảo đảm khoản nợ, tài sản nhận gán nợ và tài sản đã mua, tiếp nhận theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định của pháp luật; tư vấn xử lý nợ, tài sản, mua, bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp; và thực hiện các hoạt động thẩm định giá; dịch vụ quản lý nợ và thu nợ trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.

    DATC có thể thực hiện mua nợ và tài sản thông qua thỏa thuận trực tiếp với chủ nợ, chủ tài sản

    Như đã nêu, DATC hoạt động kinh doanh dưới hình thức tiếp nhận nợ hoặc mua nợ. Đối với hình thức mua nợ, theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 129/2020/NĐ-CP, DATC sẽ mua, xử lý nợ và tài sản theo nhiệm vụ, phương án được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ định. Bên cạnh đó, DATC được mua các khoản nợ trong nước và nước ngoài (bao gồm cả trái phiếu, hối phiếu, công cụ nợ khác do các tổ chức, cá nhân đang nắm giữ, kể cả hối phiếu, trái phiếu do chính DATC phát hành) và tài sản (bao gồm cả quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ) của các tổ chức và cá nhân. Các khoản nợ phải thu phát sinh từ nghiệp vụ mua nợ của DATC là một loại hàng hóa và được quản lý, theo dõi theo từng khoản nợ mua.

    Các hình thức mua nợ, tài sản của DATC bao gồm:

    1. Mua theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    2. Thỏa thuận trực tiếp với chủ nợ, chủ tài sản.

    3. Tham gia đấu thầu, đấu giá mua nợ và tài sản.

    10 hình thức xử lý nợ mua, tiếp nhận của DATC

    Sau khi mua nợ hoặc tiếp nhận nợ, DATC có thể xử lý nợ theo các hình thức quy định tại Điều 16 Nghị định số 129/2020/NĐ-CP, cụ thể sau đây:

    2. Quản lý, đầu tư, khai thác, xử lý tài sản bảo đảm (bao gồm cả tài sản nhận gán nợ) để thu hồi nợ.

    3. Bán nợ theo các phương thức: đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh, thỏa thuận trực tiếp với các tổ chức, cá nhân (không bao gồm bên nợ). DATC thực hiện bán nợ theo phương thức thỏa thuận trực tiếp với bên mua khi đáp ứng một trong những trường hợp sau:

    – Sau khi đã bán nợ theo phương thức đấu giá công khai hoặc chào giá cạnh tranh nhưng không thành công.

    – Trước khi DATC ký hợp đồng mua nợ đã có khách hàng cam kết mua lại từ 51% trở lên hoặc toàn bộ khoản nợ đó, đồng thời đáp ứng được các điều kiện của DATC về giá cả, thanh toán và đặt cọc, khả năng tham gia tái cơ cấu doanh nghiệp hoặc hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sau tái cơ cấu.

    4. Nhận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ bên nợ sang bên thứ ba.

    5. Ủy thác thu hồi nợ hoặc thu hồi nợ thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ đòi nợ hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

    6. Chuyển nợ thành vốn góp tại doanh nghiệp.

    7. Cơ cấu lại nợ theo các hình thức: điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ, điều chỉnh lãi suất khoản nợ.

    8. Giảm trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.

    10. Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Ngoài ra, đối với tài sản mua, tiếp nhận, DATC được xử lý bằng các hình thức: Chuyển nhượng tài sản (bao gồm cả dự án đã mua, tiếp nhận theo chỉ định); dùng tài sản (bao gồm cả tài sản là mua, tiếp nhận theo chỉ định) để hợp tác kinh doanh, góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết; hoặc quản lý, đầu tư để khai thác, bán, cho thuê tài sản (bao gồm cả dự án đã mua, tiếp nhận theo chỉ định).

    Quyền và trách nhiệm của Hội đồng thành viên DATC

    Hội đồng thành viên DATC thực hiện các quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật, phân công của chủ sở hữu nhà nước và Điều lệ tổ chức và hoạt động của DATC.

    Hội đồng thành viên DATC được ban hành Quy chế kiểm soát rủi ro đối với hoạt động kinh doanh mua, bán nợ, tài sản và hoạt động cung cấp tài chính, bảo lãnh vay vốn đối với các doanh nghiệp tái cơ cấu theo quy định tại Mục 5 Chương II Nghị định số 129/2020/NĐ-CP.

    Trong quá trình hoạt động của DATC, Bộ Tài chính có quyền quyết định tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu và sắp xếp lại DATC sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ Tài chính thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với DATC tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l khoản 2 Điều 42 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và Mục 2 Chương II Nghị định số 10/2019/NĐ-CP ngày 30/1/2019 của Chính phủ về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước.

    Nghị định số 129/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2020, bãi bỏ các nội dung quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của DATC tại Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tranh Cãi Việc Cảnh Sát Môi Trường Có Được Kiểm Tra
  • Cảnh Sát Môi Trường Là Gì? Vai Trò Quan Trọng Của Cảnh Sát Môi Trường
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Cảnh Sát Môi Trường
  • Vai Trò Của Công Tác Lưu Trữ Trong Nền Hành Chính Nhà Nước
  • Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học
  • Báo Chí Đã Làm Tốt Nhiệm Vụ Tuyên Truyền Về Việc Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Các Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Mạnh Tay Dẹp Bỏ Các Tạp Chí Hoạt Động Sai Tôn Chỉ Mục Đích
  • Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Cơ Cấu Tổ Chức Của Tạp Chí Tổ Chức Nhà Nước
  • Cổng Điện Tử Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tạp Chí Dân Tộc
  • Bộ Câu Hỏi Rung Chuông Vàng Tỉnh Cực Bắc Của Nước Ta Là Tỉnh Nào?
  • Cùng dự buổi gặp mặt có các đồng chí Phó Viện trưởng VKSND tối cao: Đồng chí Trần Công Phàn, Trưởng Ban chỉ đạo công tác tuyên truyền ngành KSND, đồng chí Nguyễn Duy Giảng và đồng chí Nguyễn Hải Trâm; lãnh đạo, cán bộ, phóng viên của Tạp chí Kiểm sát, báo Bảo vệ pháp luật và Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao. Đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc VKSND tối cao; thành viên Ban Biên tập, công chức thuộc Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao; đại diện Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử – Bộ Thông tin và truyền thông…

    Báo cáo tóm tắt quá trình xây dựng Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao, đồng chí Chánh Văn phòng VKSND tối cao Nguyễn Tiến Long cho biết, từ năm 2007, trên cơ sở Giấy phép số 294/GP-BC ngày 9/7/2007 của Cục Báo chí, Bộ Văn hóa – Thông tin về việc thiết lập Trang tin điện tử trên Internet, VKSND tối cao đã xây dựng và đưa Trang tin điện tử vào hoạt động. Từ đó, Trang tin điện tử VKSND tối cao là đầu mối kết nối, cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp qua mạng Internet. Tuy nhiên, sau 13 năm hoạt động, Trang tin điện tử VKSND tối cao cần đổi mới nâng cấp về nội dung, kỹ thuật và xây dựng thành Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao. Được đồng ý của đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao, Văn phòng đã chủ động phối hợp với Cục 2 xây dựng, khai trương Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao. So với Trang tin điện tử VKSND tối cao trước đây, Cổng thông tin điện tử VKSND tối cao có giao diện mới được thiết kế khoa học, sinh động, thân thiện với độc giả và có nhiều điểm đổi mới.

    Phát biểu chúc mừng các cơ quan báo chí của Ngành, Cổng thông tin điện tử của VKSND tối cao, đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí khẳng định các cơ quan báo chí của Ngành không chỉ phản ánh kịp thời thực tiễn sinh động về các sự kiện nổi bật của đất nước trên tất cả các lĩnh vực mà còn làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND các cấp, giúp các tầng lớp nhân dân hiểu sâu hơn về ngành Kiểm sát.

    Đánh giá về hoạt động của các cơ quan báo chí của Ngành, Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí đặc biệt biểu dương Tạp chí Kiểm sát đã phối hợp xây dựng và phát sóng bộ phim truyền hình “Sinh tử” đem lại sức lan tỏa, hiệu ứng tích cực, thành công của bộ phim đã giúp xã hội và nhân dân hiểu hơn về ngành Kiểm sát. Viện trưởng VKSND tối cao cũng khẳng định báo Bảo vệ pháp luật đã có nhiều chuyển biến tích cực, có bản lĩnh, không ngừng đổi mới về nội dung và hình thức, bám sát hoạt động của ngành KSND và thực tiễn của đời sống xã hội.

    Khẳng định Lãnh đạo VKSND tối cao luôn quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan báo chí hoạt động thuận lợi, hiệu quả, đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao Lê Minh Trí mong rằng, các cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí của Ngành sẽ tiếp tục phát huy truyền thống của nền báo chí cách mạng Việt Nam; ra sức học tập, rèn luyện để luôn vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và nâng cao đạo đức của người làm báo; đồng thời, khắc phục khó khăn, đoàn kết, nhất trí; tiếp tục đổi mới cả nội dung và hình thức các ấn phẩm báo chí, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền trong thời gian tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Báo Là Gì? Những Công Việc Của Người Làm Báo
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Nhà Báo Được Quy Định Thế Nào?
  • Đề Cương Chi Tiết Học Phần
  • Quy Trình Sáng Tạo Tác Phẩm
  • Tiểu Luận Khi Nói Về Chức Năng Của Báo Chí Cách Mạng Lênin Nói: ”tờ Báo Không Chỉ Là Người Tuyên Truyền Tập Thể, Mà Còn Là Người Tổ Chức Tập Thể”. Giải Thích Câu Nói Trên
  • Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Trong Việc Kiểm Soát Lợi Ích Nhóm Hiện Nay
  • Sơ Đồ Trang Web Là Gì? Làm Cách Nào Để Thiết Lập Sơ Đồ Trang Web?
  • Các Kiểu Và Hình Thức Nhà Nước
  • Cpu Là Gì? Các Thông Số Kỹ Thuật Của Cpu
  • Câu hỏi: Phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng của CQHCNN? Theo anh, chị để nâng cao năng lực của CQHCNN cần áp dụng những giải pháp nào? Trả lời: 1) Khái niệm CQHCNN là một bộ phận của CQNN được NN thành lập, trao quyền, bảo đảm các điều kiện, phương tiện để thực hiện chức năng chủ yếu là QLNN. Cơ quan HCNN tạo thành một chính thể thống nhất, toàn vẹn, có quan hệ chặt chẽ khăng khít với nhau. Mỗi CQHCNN là một khâu, một mắt xích trong hệ thống. – Tính thống nhất của HT các CQHCNN được QĐ bởi tính thống nhất về nghiệp vụ, chức năng QLNN- chức năng điều hành, chấp hành của chúng. – HĐ của HT các CQHCNN được HP và PL quy định. 2) Đặc điểm của CQHCNN 1. Các cơ quan HCNN được thành lập để thực hiện chức năng QLHCNN, nghĩa là hoạt động chấp hành và điều hành. Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động mang tính dưới luật, được tiến hành trên cơ sở HP, luật, pháp lệnh để thực hiện PL. 2. Hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên , liên tục, và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp đưa đường lối chính sách , PL vào cuộc sống. 3. Các cơ quan HCNN là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất là CP. 4. Thẩm quyền của cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành và điều hành.Thẩm quyền của các cơ quan HCNN chủ yếu được quy định trong các VBQPPL về tổ chức BMNN hoặc trong những quy chế 5. Các cơ quan HCNN đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực NN ,chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực NN ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó.

    Câu hỏi: Phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng của CQHCNN? Theo anh, chị để nâng cao năng lực của CQHCNN cần áp dụng những giải pháp nào? Trả lời: 1) Khái niệm CQHCNN là một bộ phận của CQNN được NN thành lập, trao quyền, bảo đảm các điều kiện, phương tiện…để thực hiện chức năng chủ yếu là QLNN. Cơ quan HCNN tạo thành một chính thể thống nhất, toàn vẹn, có quan hệ chặt chẽ khăng khít với nhau. Mỗi CQHCNN là một khâu, một mắt xích trong hệ thống. – Tính thống nhất của HT các CQHCNN được QĐ bởi tính thống nhất về nghiệp vụ, chức năng QLNN- chức năng điều hành, chấp hành của chúng. – HĐ của HT các CQHCNN được HP và PL quy định. 2) Đặc điểm của CQHCNN 1. Các cơ quan HCNN được thành lập để thực hiện chức năng QLHCNN, nghĩa là hoạt động chấp hành và điều hành. Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động mang tính dưới luật, được tiến hành trên cơ sở HP, luật, pháp lệnh để thực hiện PL. 2. Hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên , liên tục, và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp đưa đường lối chính sách , PL vào cuộc sống. 3. Các cơ quan HCNN là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất là CP. 4. Thẩm quyền của cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành và điều hành.Thẩm quyền của các cơ quan HCNN chủ yếu được quy định trong các VBQPPL về tổ chức BMNN hoặc trong những quy chế… 5. Các cơ quan HCNN đều trực tiếp, hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực NN ,chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực NN ở cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó. 6. Hoạt động của cơ quan HCNN khác với hoạt động của cơ quan quyền lực, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Toà án. 7. Hệ thống cơ quan HCNN có nghĩa vụ tổ chức bảo đảm quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân bằng các chương trình kinh tế -xã hội và phân phối một cách công bằng cho mọi công dân. 3). Chức năng của CQHCNN Theo HP 1992, HT các CQHCNN gồm có: – CP (Điều 109); – Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP; – UBNDCC và các CQ chuyên môn thuộc UBND- CQHCNN ở địa phương; a. CP – CQHCNN cao nhất Điều 109 HP nước CHXHCNVN hiện hành quy định địa vị pháp của CP như sau: “CP là cơ quan chấp hành của Quốc hội, CQHCNN cao nhất của nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa VN. CP thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xó hội, quốc phũng, an ninh và đối ngoại của NN; bảo đảm hiệu lực của BMNN từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành HP và PL; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. CP chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.” Về tổ chức và hoạt động của CP được quy định tại chương II, Luật TCCP ngày 25-12-2001 b. Bộ, cơ quan ngang bộ Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của CP, được thành lập và thực hiện chức năng chủ yếu là QLNN về ngành hoặc lĩnh vực. Theo Điều 116 HP 1992 thì: “Bộ trưởng và các thành viên khác của CP chịu trách nhiệm QLNN về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của PL”. Theo Điều 2 Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 30/12/2007 của CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, CQ ngang Bộ (thay thế Nghị định 86/2002/NĐ-CP): Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của CP, thực hiện chức năng QLNN về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN của Bộ. Phạm vi quản lý của bộ, ngành hoặc lĩnh vực được phân công gồm: – HĐ của mọi tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội; – HĐ của mọi tổ chức hành chính sự nghiệp thuộc cácc thành phần khác nhau và cơ quan trực thuộc chính quyền; – HĐ của mọi công dân, mọi tổ chức, người nước ngoài trong lĩnh vực bộ quản lý. c. CQHCNN ở địa phương – UBND (Điều 123 HP 1992) Thực hiện chức năng QLHCNN ở địa phương trên cơ sở nghị quyết của HĐND và quyết định của CQNN cấp trên trực tiếp; Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Luật TC&HĐ của HĐND và UBND. – Cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Ngày 4/2/2008 CP đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện và theo quy định của PL. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. 2. Các giải pháp hoàn thiện CQHCNN a, Phương hướng, quan điểm về tiếp tục cải cách bộ máy hành chính Để khắc phục các nhược điểm tồn tại và bất cập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính sau một thời gian NN ta đã tiến hành cải cách hành chính, chúng ta cần xác định các phương hướng tiếp tục cải cách bộ máy hành chính một cách rõ ràng và cụ thể sau: Thứ nhất, cần có một tầm nhìn chiến lược đối với cải cách bộ máy hành chính. Trong tầm nhìn này phải hướng tới tạo ra một mô hình cải cách quản lý hành chính công mới. Thứ hai, tiến hành ra soát, làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương để loại bỏ những chồng chéo trùng lặp giữa các cơ quan hành chính vơi nhau và phân cấp rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cấp trong hệ thống bộ máy hành chính. Thứ ba, trong thời gian tới, thực hiện được một cách căn bản việc chuyển đổi chức năng của hệ thống hành chính sang tập trung vào quản lý hành chính NN vĩ mô, tách chức năng này với chức năng quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự nghiệp. Thứ tư, phân biệt rõ chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền của các CQHCNN trong hệ thống hành chính theo chiều dọc và theo chiều ngang. Thứ năm, xác định rõ về mặt tổ chức các cơ quan có chức năng hoạch định chính sách, xây dựng PL với các cơ quan thực thi chính sách, PL. Thứ sáu, thực hiện bước chuyển thực sự trong phân cấp giữa trung ương và địa phương, tạo quyền chủ động trong quản lý của chính quyền địa phương, đồng thời làm rõ trách nhiệm cảu các cấp trong hệ thống hành chính. Thứ bảy, trong cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính cần phải phân biệt những vẫn đề có tính nguyên tắc sau: – Nguyên tắc làm rõ chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền: Một việc chỉ giao cho một cơ quan quản lý và chịu trách nhiệm, việc phối hợp trách nhiệm với các cơ quan khác được giao cho chính cơ quan phụ trách công việc này. – Nguyên tắc tách bạch cơ quan làm chính sách và cơ quan thực hiện chính sách: Hết sức tránh giao cho một cơ quan nhiệm vụ vừa nghiên cứu, xây dựng, ban hành chính sách, chế độ vừa thực thi vấn đề đó. – Nguyên tắc thủ trưởng: Chỉ huy và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan hành chính thuộc về người đứng đầu cơ quan đó. – Nguyên tắc dân chủ: Mọi hoạt động của hệ thống hành chính đều nhằm vào việc bảo đảm, phát triển dân chủ và vì lợi ích của nhân dân. – Nguyên tắc giám sát: Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của CQHC. b. Tiếp tục cải cách cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của CP Chương trình Tổng thể cải cách hành chính của CP giai đoạn 2001-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng CP đề ra mục tiêu thiết lập: “Cơ cấu tổ chức của CP gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng PL, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện”. Đây là những định hướng, mục tiêu hoàn toàn phù hợp. – Cần nghiên cứu làm rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của CP trong nền hành chính. Cụ thể là giải quyết mối quan hệ quản lý hành chính với Quốc hội, Chủ tịch nước, TAND tối cao và VKSND tối cao nhất là vấn đề quản lý biên chế và ngân sách. – Phân định rõ quyền quyết định các vấn đề cơ bản của đất nước của Quốc hội với quyền quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội của CP; xác định rõ hơn vai trò của Chủ tịch nước trong quan hệ với CP; phân định chức năng công tố, thanh tra, kiểm sát giữa CP với Viện Kiểm sát. – Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp lại cơ cấu CP, số lượng thành viên CP, địa vị pháp lý, tổ chức của cơ quan khác thuộc CP (các ban, tổng cục còn lại), nhất là các cơ quan hoạt động sự nghiệp, cung ứng dịch vụ công. – Phân định rõ hơn thẩm quyền giữa CP với Thủ tướng; giữa CP với các Bộ c. Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP. – Phương hướng đổi mới tiếp tục cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ những năm trước mắt cần quán triệt phương châm đã được nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001): “Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công” và Chương trình Tổng thể cải cách hành chính của CP giai đoạn 2001-2010: ” Bộ máy các bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công”. – Trên cơ sở khẳng định rõ ba chức năng chủ yếu của bộ là QLNN về ngành, lĩnh vực, đại diện chủ sở hữu tài sản NN tại doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ công để phân định lại vị trí vai trò giữa bộ, cơ quan ngang bộ với các cơ quan thuộc CP không chỉ với cơ quan có chức năng QLNN (đẫ được chuyển đổi mạnh gần đây) mà cả với những cơ quan hoạt động sự nghiệp, cung cấp dịch vụ công theo hướng cũng phải chuyển về các bộ, để chỉ còn lại những cơ quan thuộc CP làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công việc quản lý vĩ mô của CP. – Tiếp tục cải cải cách cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang bộ có các cơ cấu như vụ, cục, tổng cục với số lượng khá lớn. – Thống nhất, ổn định, quy định chức năng thảm quyền rõ ràng đói với việc sắp xếp, điều chuyển các cơ quan thuộc CP (các tổng cục) về các bộ. – Khắc phục lề lối làm việc lề mề, qua quá nhiều khâu, nhiều nấc và thiếu quyết đoán trong các CQHCNN các cấp như đã nêu ra ở trên. Giảm bớt số lượng Thứ trưởng và bảo đảm thực hiện đúng chức năng của Thứ trưởng là giúp Bộ trưởng chứ không phải phân chia các mặt công tác để phụ trách như hiện nay dẫn đến sự phân tán. Áp dụng cơ chế làm việc trực tiếp với các chuyên viên. d. Đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính NN ở địa phương – Hoàn thiện tổ chức Uỷ ban nhân dân trên cơ sở mô hình tổ chức hiện hành + Xác định lại tính chất và các mối quan hệ của Uỷ ban nhân dân với Hội đồng nhân dân và với các CQNN cấp trên + Hoàn thiện cách thức thành lập Uỷ ban nhân dân. + Đổi mới cơ cấu thành phần và tổ chức của Uỷ ban nhân dân. + Phân định cụ thể và đầy đủ chức trách giữa tập thể và cá nhân và giữa các cá nhân trong Uỷ ban nhân dân. – Nghiên cứu tổ chức lại cơ quan hành chính ở một số cấp – Hoàn thiện tổ chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân + Xác định vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn là bộ máy giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành và lĩnh vực ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến địa phương, cơ sở. + Thiết kế các mô hình các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân theo hướng giảm thiểu các cơ quan chuyên môn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng,đặc Trưng Của Nhà Nước?
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mac_Lê Nin Về Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Cơ Chế Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Phân Tích Bản Chất Nhà Nước? Bản Chất Nhà Nước Việt Nam Ta Hiện Nay?
  • Tính Giai Cấp Và Tính Nhân Dân Của Nhà Nước
  • Phục Hồi Chức Năng Khớp Gối Sau Phẫu Thuật Kết Xương Vỡ Mâm Chày

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Vật Lý Trị Điều Trị Gãy Mâm Chày, Nứt Mâm Chày Sau Giải Phẫu
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Gãy Mâm Chày
  • Glucosamine Hcl 1500Mg Của Úc Healthy Care Hộp 400 Viên
  • Phục Hồi Chức Năng Cơ Xương Khớp
  • Khám Cơ Xương Khớp Bằng Vật Lý Trị Liệu
  • Khớp gối là khớp phức tạp bao gồm hai khớp: khớp giữa xương đùi và xương chày là khớp lồi cầu – ổ chảo, khớp giữa xương đùi và xương bánh chè là khớp phẳng.

    – Lồi cầu xương đùi gồm lối cầu trong và lồi cầu ngoài, giữa hai lồi cầu là rãnh liên lồi cầu.

    – Diện khớp trên của xương chày gọi là mâm chày, có mâm chày trong tiếp khớp với lồi cầu trong và mâm chày ngoài tiếp khớp với lồi cầu ngoài. Giữa mâm chày trong và mâm chày ngoài có gai mâm chày là các điểm bám của dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.

    – Sụn chêm: Sụn chêm trong hình chữ C nằm đệm giữa mâm chày trong và lồi cầu trong. Sụn chêm ngoài hình chữ O nằm đệm giữa mâm chày ngoài và lồi cầu ngoài. Sụn chêm trong gắn với bao khớp ở phía trong, sụn chêm ngoài gắn với bao khớp ở phía ngoài. Sụn chêm chia khoang khớp làm hai khoang, khoang trên sụn chêm và khoang dưới sụn chêm. Sụn chêm làm cho ổ chảo sâu thêm và sụn chêm trượt ra trước khi gấp gối và trượt ra sau khi duỗi gối.

    – Dây chằng: Ngoài bao khớp, khớp gối được tăng cường bởi các dây chằng. Dây chằng bên trong (bên chày) và dây chằng bên ngoài (bên mác). Hai dây chằng chéo nằm ở giữa khớp, bắt chéo nhau hình chữ X là dây chằng chéo trước giữ cho mâm chày không bị trượt ra trước so với lồi cầu và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau so với lồi cầu. Phía trước có gân cơ bánh chè và các mạc phía trong và phía ngoài xương bánh chè. Phía sau có dây chằng khoeo chéo và dây chằng cung khoeo.

    Khớp gối có hai loại vận động: vận động bản lề gấp-duỗi và vận động xoay nhưng vận động xoay chỉ thực hiện khi khớp gối ở tư thế gấp.

    Mâm chày là phần xương xốp có bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối. Khi người ta đứng hoặc đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng của cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân. Như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể.

    Mâm chày là phần xương xốp nên khi gãy dễ liền xương nhưng vì là xương xốp nên khi gãy dễ bị lún mất xương. Mâm chày có mặt sụn khớp nên khi gãy sẽ làm mất phẳng sụn khớp, bề mặt sụn khớp sẽ bị khấp khểnh. Khi nắn chỉnh không chính xác sẽ gây hạn chế vận động khớp và làm nhanh thoái hóa khớp về sau.

    Vì là xương xốp nên sau phẫu thuật kết xương bệnh nhân không được phép đi chống chân ngay sau phẫu thuật do mâm chày sẽ bị bung ra dưới sức nặng của cơ thể. Thời gian để xương liền khoảng ba tháng vì vậy sau ba tháng bệnh nhân mới được phép đi chống chân xuống đất và tăng lực chống chân dần dần cho đến khi chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể mà không gây đau.

    Tùy theo loại gãy xương, kiểu kết xương và trọng lượng bệnh nhân mà thời gian được phép đi chống chân có thể thay đổi nhưng không được dưới ba tháng. Thời gian bình phục để có thể đi lại bình thường, gấp duỗi gối bình thường thông thường khoảng 6 – 8 tháng.

    Có nhiều cách phân loại gãy mâm chày của các tác giả khác nhau nhưng đều có những điểm chung là căn cứ vào loại gãy hình nêm, nén ép, hai bình diện.

    – Hohl (1958) phân gãy mâm chày thành gãy có di lệch và gãy không di lệch. Gãy di lệch gồm nén ép khu trú, nén ép tách, lún hoàn toàn bình diện và gãy nát.

    – Moore (1967) phân gãy mâm chày thành 5 loại:

    + Loại I: Gãy tách mâm chày trong theo mặt phẳng trán

    + Loại II: Gãy hoàn toàn một bình diện mà đường gãy bắt đầu ở khoang đối diện qua gai chày đến bình diện gãy.

    + Loại III: Gãy bong bờ chày (các loại gãy này thường có tỉ lệ cao kèm theo chấn thương mạch máu, thần kinh).

    + Loại IV: Chấn thương nén ép bờ chày kèm với tổn thương dây chằng đối bên.

    + Loại V: Gãy bốn phần mà gai chày bị tách ra từ bình diện và thân xương chày.

    Phân loại của Moore đã tính đến hậu quả mất vững khớp gối.

    – Schatzker (1979) phân ra 6 loại:

    + Loại I (gãy tách): Gãy chẻ hoàn toàn mâm chày ngoài tạo thành mảnh gãy hình chêm.

    + Loại II (lún-tách): Gãy chẻ mâm chày ngoài mà phần mặt khớp còn lại bị lún vào hành xương.

    Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài

    Hình 3: Gãy mâm chày loại I và II (phân loại của Schatzker)

    + Loại III: Gãy lún hoàn toàn trung tâm của mâm chày ngoài mà bờ xương còn nguyên vẹn.

    Loại III: Gãy lún trung tâm mâm chày ngoài Loại IV: Gãy mâm chày trong

    Hình 4: Gãy mâm chày loại III và IV (phân loại của Schatzker)

    + Loại V: Gãy 2 diện mâm chày (trong và ngoài) mà đường gãy thường tạo thành chứ “Y” đảo ngược.

    + Loại VI: Gãy loại V có sự tách ra giữa hành xương và thân xương, có thể có độ nát khác nhau của một hay hai diện mâm chày và mặt khớp.

    Loại V: Gãy hai diện mâm chày Loại VI: Gãy loại V có tách hành và thân xương

    Hình 5: Gãy mâm chày loại V và VI (phân loại của Schatzker)

    Phân loại của Schatzker hiện nay được sử dụng phổ biến vì nó tính đến phương pháp kết xương, hậu quả mất vững khớp. Honkonen và Jarvinen gần đây đã sửa loại VI trong phân loại của Schatzker thành hai loại nhỏ là nghiêng trong và nghiêng ngoài để tính đến kết quả chức năng khớp trong điều trị với di lệch gập góc còn lại.

    – Phân loại của hiệp hội chấn thương chỉnh hình (OTA) dựa trên phân loại của AO/ASIF: đầu trên xương chày được qui định là đoạn 41 và được chia thành 3 loại chính.

    + Loại A là gãy ngoài khớp chia ra A1, A2 và A3

    Hình 6: Loại A (phân loại AO)

    + Loại B là gãy một phần mặt khớp, chia ra :

    Hình 7: Loại B (phân loại AO)

    + Loại C là gãy hoàn toàn mặt khớp, chia ra:

    C1: gãy đơn giản mặt khớp và hành xương.

    C2: gãy đơn giản mặt khớp và gãy nhiều mảnh hành xương.

    C3: gãy nhiều mảnh mặt khớp.

    Hình 8: Loại c (phân loại AO)

    – Giảm đau, giảm nề tại chỗ, tăng cường dinh dưỡng kích thích làm mau liền xương

    – Duy trì trương lực cơ, phục hồi sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương

    – Phục hồi tầm vận động khớp gối trở lại bình thường.

    2.2.1. Giai đoạn 1: giai đoạn chưa được chống tỳ sức nặng lên chân tổn thương (thường kéo dài 3 tháng đầu)

    + Duy trì sức cơ, trương lực cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

    + Bất động tương đối khớp gối nhưng duy trì tầm vận động các khớp lân cận.

    + Đặt chân (cổ chân và gối) cao hơn mức tim (20 – 30cm trên mặt giường).

    + Chườm lạnh bằng túi nước đá hoặc túi nước lạnh lên vùng khớp gối cách lớp băng gạc và lớp khăn lót dày 1cm thời gian 10 – 15 phút/lần, 3 – 5 lần/ngày.

    + Tập gấp duỗi khớp cổ chân chủ động hết tầm 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Tập co cơ tĩnh (co cơ đẳng trường) cơ đùi và cơ cẳng chân 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Nâng chân lên khỏi mặt giường ở tư thế gối duỗi giữ càng lâu càng tốt sau đó hạ xuồng nghỉ 5 phút rồi nâng tiếp 10 lần, tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

    + Khi đau giảm, khuyến khích bệnh nhân chủ động gấp và duỗi gối (loại trọng lực chi) bên tổn thương với biên độ càng rộng càng tốt trong phạm vi có thể chịu đựng được.

    + Giảm nề, tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng để kích thích liền sẹo và can xương.

    + Duy trì trương lực cơ, tăng cường sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

    + Điều trị nhiệt nóng vào khớp gối tổn thương bằng bức xạ hồng ngoại hoặc túi nhiệt 20 phút/lần, 2 – 3 lần/ngày.

    + Điều trị từ trường vào khớp gối cường độ 0,8 – 1,5 mT, 20 phút/lần, 2 lần/ngày để kích thích can xương.

    + Tiếp tục tập vận động khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi mà không tì sức nặng lên chân tổn thương.

    + Tập đi bằng nạng không tì lên chân tổn thương.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi không tì lên chân tổn thương.

    + Chân tổn thương chịu sức nặng tăng dần lên 25% trọng lượng cơ thể.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng tới 25% trọng lượng cơ thể.

    + Tăng dần sức nặng lên chân tổn thương dần dần đạt tới 100% trong lượng cơ thể.

    + Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

    + Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

    + Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng để đạt tới 100% trọng lượng cơ thể vào cuối tháng thứ 6.

    + Tập hòa nhập gồm tự phục vụ và trở lại công việc.

    + Tập dáng đi bình thường, cân đối không nạng.

    + Tập lên xuống cầu thang và đi trên các địa hình phức tạp.

    + Tập tự phục vụ và trở lại công việc

    + Tập đi bộ nhanh hoặc chạy bộ nhẹ nhàng.

    Mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS. Dùng một thước chia các khoảng cách đều nhau từ 1 – 10 cho người lớn và các hình vẽ các vẻ mặt cho trẻ em. Hướng dẫn để bệnh nhân tự đánh giá có sự hỗ trợ của người đánh giá.

    Hình 9: Thang điểm đánh giá mức độ đau VAS

    Bảng 1: Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

    Đo vòng chi so sánh với bên lành.

    Sử dụng thước đo góc hai cành, đo và đánh giá kết quả theo phương pháp zero.

    Lượng giá theo thang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985), tổng 100 điểm, trong đó dáng đi 5 điểm, đau 25 điểm, chống đỡ xuống chân tổn thương 5 điểm, sưng nề 10 điểm, kẹt khớp 15 điểm, lên xuống cầu thang 10 điểm, tính ổn định của khớp 25 điểm, ngồi xổm 5 điểm:

    hang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985)

    Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2015). Vật l‎ trị liệu và Phục hồi chức năng. Giáo trình dùng cho đại học. Bộ môn VLTL – PHCN HVQY. NXB QĐND.

    CHIA SẺ BÀI VIẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Vật Lý Trị Liệu Sau Gãy Chân
  • Gãy Cổ Phẫu Thuật Xương Cánh Tay: Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Phác Đồ Điều Trị Gãy Đầu Trên Xương Cánh Tay
  • Thay Khớp Vai Bán Phần Điều Trị Gãy Phức Tạp Đầu Trên Xương Cánh Tay
  • Tìm Hiểu Về Phẫu Thuật Khx Gãy Xương Đốt Bàn Ngón Tay Tại Bệnh Viện Chỉnh Hình Và Phục Hồi Chức Năng Tp.hồ Chí Minh
  • Chức Năng Pháp Lý Của Kiểm Sát Viên Chưa Phù Hợp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Bổ Nhiệm Kiểm Sát Viên Theo Quy Định
  • Đề Tài: Vai Trò Của Kiểm Sát Viên Trong Giải Quyết Vụ Án Hình Sự, Hay
  • Cơ Quan Điều Tra Có Những Trách Nhiệm Gì Trong Giai Đoạn Điều Tra?
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Cơ Quan Điều Tra Trong Hoạt Động Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Quyền Hạn Và Trách Nhiệm Của Thủ Trưởng, Phó Thủ Trưởng Cơ Quan Điều Tra
  • Điều 12 Pháp lệnh quy định: KSV thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền VKS cấp mình theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của KSV khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp do pháp luật quy định. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính đều quy định: KSV có nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là các vụ việc dân sự), vụ án hành chính. Các đạo luật nêu trên không phân biệt ngạch KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh, hoặc KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC không được thực hành quyền công tố xét xử các vụ án hình sự, hoặc tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Miễn là KSV được Nhà nước công nhận thì phải thực hiện chức năng pháp lý trong tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.

    Thực tiễn cho thấy, thời gian qua KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC; KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh được phân công nghiên cứu hồ sơ các vụ án hình sự, dân sự, hành chính; hoặc thực hiện nhiệm vụ tại các phòng nghiệp vụ khác như kiểm tra viên, chuyên viên mới vào ngành. KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC; KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh không có quyền ký và đóng dấu một số văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền như: giấy triệu tập bị can, bị hại trong vụ án hình sự; giấy mời các đương sự có khiếu nại trong các vụ án dân sự, hành chính đến làm việc; không có quyền tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và ký các biên bản này; không có quyền thực hành quyền công tố xét xử các vụ án hình sự, hoặc tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Như vậy, vô hình trung KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở hai cấp Kiểm sát nêu trên không có điều kiện để phát huy chức năng pháp lý được giao và nhiệm vụ, quyền hạn của họ trở nên mờ nhạt, “hữu danh vô thực”.

    Bổ nhiệm và phân cấp KSV chưa hợp lý

    Pháp lệnh quy định các điều kiện để tuyển chọn và bổ nhiệm KSV theo ngạch: KSV cao cấp, KSV trung cấp và KSV sơ cấp. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để bổ nhiệm lại bao gồm: Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với KSV sơ cấp, thì có thể tuyển chọn và bổ nhiệm KSV trung cấp của VKSND… và Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với KSV sơ cấp, KSV trung cấp, thì có thể tuyển chọn và bổ nhiệm KSV VKSNDTC. Quy định này đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế đối với KSV. Cụ thể, đối với lãnh đạo VKSND cấp huyện là những người quản lý điều hành bộ máy làm việc, chỉ đạo nghiệp vụ của đơn vị mình, lãnh đạo VKSND cấp tỉnh là người quản lý chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ, điều hành các mặt công tác cho toàn ngành trong phạm vi cả tỉnh, nhưng mấy khi lãnh đạo VKSND ở hai cấp Kiểm sát được bổ nhiệm KSV trung cấp, KSV cao cấp.

    Ngoài ra, đối với KSV trung cấp đang giữ các chức vụ Trưởng, Phó trưởng phòng nghiệp vụ ở VKSND cấp tỉnh, thường xuyên chỉ đạo công tác nghiệp vụ cho các bộ phận nghiệp vụ của VKSND cấp huyện; quản lý chỉ đạo nghiệp vụ cho KSV trung cấp, KSV sơ cấp thuộc quyền quản lý của mình và trực tiếp nghiên cứu các hồ sơ vụ án và thực hành quyền công tố, tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nhưng bao giờ được bổ nhiệm KSV cao cấp. Trừ trường hợp điều động từ cấp dưới lên cấp trên để bổ nhiệm KSV ở cấp Kiểm sát đó.

    Thực tiễn, ngạch KSV ở 3 cấp Kiểm sát khác nhau, hiển nhiên hệ số lương khởi điểm của KSV cũng khác nhau. Nếu sau khi được đào tạo và được biên chế công tác ở VKSND cấp huyện, rồi được bổ nhiệm KSV sơ cấp có hệ số lương khởi điểm 2,34; bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo Viện cho đến khi nghỉ hưu, thì hệ số lương cao nhất chỉ dừng lại ở mức 4,98 và được hưởng thâm niên vượt khung mỗi năm 1%. Nhưng nếu được biên chế ở VKSND cấp tỉnh, khi được bổ nhiệm KSV trung cấp thì hệ số lương khởi điểm đã là 4,40 và hệ số lương tột khung 6,78. Vừa được chức danh pháp lý KSV trung cấp, vừa có hệ số lương tột khung khi nghỉ hưu cao hơn 1,8. Do đó, KSV sơ cấp, KSV trung cấp có xu hướng công tác ở Viện kiểm sát nhân dân cấp cao hơn để có lợi nhiều mặt khi nghỉ hưu.

    Từ thực tế này, đề nghị UBTVQH sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh này theo hướng: hai chức danh KSV trung cấp, KSV sơ cấp dù công tác ở cấp kiểm sát nào cũng phải thực hiện chức năng pháp lý được Nhà nước công nhận trong tố tụng hình sự; dân sự; hành chính, nhằm tạo điều kiện cho các ngạch KSV này cọ xát với thực tiễn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ. Đồng thời, bổ nhiệm KSV trung cấp cho lãnh đạo VKSND cấp huyện; bổ nhiệm KSV cao cấp cho lãnh đạo các phòng nghiệp vụ, lãnh đạo VKSND cấp tỉnh. Như vậy, mới phát huy tính năng động, sáng tạo, động viên KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh; KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tố Là Gì ? Khái Niệm Công Tố Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Một Số Điểm Mới Quy Định: Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vksnd Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021 Mà Kiểm Sát Viên Cần Quan Tâm
  • Rắc Rối Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • 1.2. Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Việc Giải Quyết Các Vụ Việc Dân Sự.
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Rắc Rối Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Một Số Điểm Mới Quy Định: Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vksnd Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021 Mà Kiểm Sát Viên Cần Quan Tâm
  • Công Tố Là Gì ? Khái Niệm Công Tố Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Chức Năng Pháp Lý Của Kiểm Sát Viên Chưa Phù Hợp
  • Tiêu Chuẩn Bổ Nhiệm Kiểm Sát Viên Theo Quy Định
  • Ngày 25/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc Hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS năm 2021). Để phục vụ cho việc thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, tác giả xin giới thiệu một số điểm mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, theo quy định của BLTTDS năm 2021. 1. Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

    Thể chế hóa khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013,tại Điều 13 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nhiêm chỉnh và thống nhất”. Như vậy, so với quy định tại Điều 13 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã quy định cụ thể nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Đồng thời nâng cao vị trí pháp lý của VKSND trong tố tụng dân sự nói riêng và kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng.

    2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Kiểm sát viên, kiểm tra viên Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

    BLTTDS năm 2021 tiếp tục khẳng định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng; Viện trưởng và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự. Đồng thời bổ sung quy định Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng và bổ sung 01 điều luật (Điều 59) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên để đảm bảo phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014.

    Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát: Nhằm nâng cao trách nhiệm của cấp trưởng trong công tác quản lý, chỉ đạo, đặc biệt là trong công tác kháng nghị, Điều 57 BLTTDS năm 2021 quy định Viện trưởng VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này” vàViện trưởng không được ủy nhiệm cho Phó viện trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (khoản 2 Điều 57).

    Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên: BLTTDS năm 2021 (Điều 58) đã quy định cụ thể, chi tiết và giao cho Kiểm sát viên nhiều quyền năng hơn giúp Kiểm sát viên chủ động, tích cực hơn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là các quyền: Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Bộ luật này; kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

    Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên: Lần đầu tiên BLTTDS có 01 quy định riêng về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự (Điều 46, Điều 59). Theo đó, Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ, việc; báo cáo kết quả với Kiểm sát viên; lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự; giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

    3. Về tham gia phiên tòa dân sự

    Về phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát: Tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2021 đã quy định theo hướng cụ thể hóa trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm nhằm tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi. Ngoài ra, còn bổ sung thêm trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

    Về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 266, khoản 2 Điều 313 BLTTDS hiện hành thì sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp là 01 thủ tục bắt buộc, nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì phải hoãn phiên tòa, phiên họp. Nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, kịp thời và đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, tại khoản 1 Điều 232, khoản 2 Điều 275, khoản 1 Điều 296, khoản 2 Điều 314, khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2021 quy địnhKiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa, phiên họp (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, phiên họp trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

    Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phên tòa sơ thẩm: Tại Điều 262 BLTTDS năm 2021 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”. Như vậy, so với quy định tại Điều 234 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã cho phép Viện Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa ngoài việc phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, còn được phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Việc phát biểu ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo, đánh giá, xem xét trước khi ra 01 bản án, đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật.

    4. Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

    Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm là quy định mới trong BLTTDS năm 2021 (chương XVIII; XIX). Theo đó, thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường, nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật. Đối với Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thì thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án chỉ có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Về thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Tòa án sẽ không hoãn phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

    5. Về việc thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân

    Khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”. Theo quy định trên thì quyền thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát đã được mở rộng hơn so với quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS hiện hành. Viện kiểm sát không phải thực hiện quyền này thông qua quyền yêu cầu như trước đây, mà có quyền trực tiếp thực hiện các biện pháp để thu thập chứng cứ đảm bảo cho việc kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm như: Lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định….Ngoài ra, BLTTDS năm 2105 còn quy định rõ: Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND cấp cao) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết (khoản 2 Điều 330 BLTTDS năm 2021).

    6. Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

    Theo quy định tại Điều 331 BLTTDS năm 2021, Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

    Nguyễn Đức Sơn – Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1.2. Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Việc Giải Quyết Các Vụ Việc Dân Sự.
  • Những Điểm Mới Cơ Bản Về Vai Trò Của Vks Trong Tố Tụng Dân Sự Theo Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điểu Của Blttds
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
  • Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2021
  • Tin tức online tv