Chất Béo Là Gì? Nguồn Gốc Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 4: Cacbohidrat Và Lipit
  • Bài 4: Cacbonhydrat Và Lipit
  • Sự Nguy Hiểm Của Hội Chứng Rối Loạn Chuyển Hóa
  • Rối Loạn Chuyển Hóa Sắt Trong Cơ Thể
  • Thai Phụ Bị Rối Loạn Chuyển Hóa Glucose Sinh Ở Tuần Bao Nhiêu Thì Tốt?
  • Chất béo là một loại chất dinh dưỡng rất quen thuộc trong đời sống, đóng nhiều vai trò quan trọng đối với sức khỏe. Nhưng khi nói về chất béo, phần đông mọi người vẫn chưa thực sự hiểu chất béo là gì, nguồn gốc từ đâu, có tác dụng thế nào,…

    Giá trị dinh dưỡng mà chất béo mang lại cho sức khoẻ con người là không thể phủ nhận. Tuy nhiên bên cạnh chất béo tốt cũng còn có những chất béo xấu. Để hiểu được chất béo là gì, các loại chất béo và nguồn gốc chất béo đến từ đâu,… Chúng tôi xin mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết bên dưới.

    Đối với cơ thể sống, chất béo được coi là một trong các hợp chất quan trọng nhất để cấu thành nên cơ thể sống. Đối với đời sống hằng ngày của chúng ta, chất béo đóng vai trò là nguồn dinh dưỡng, thực phẩm thiết yếu. Vậy chất béo là gì?

    Để trả lời cho câu hỏi chất béo là gì, trước tiên ta cần phải nhìn chất béo từ phương diện cấu tạo hóa học. Về phương diện cấu tạo hóa học, chất béo là este tạo bởi glycerol và các acid béo tạo nên. Phân tử lượng của chất béo thay đổi nhiều giữa các loại, phụ thuộc vào loại acid béo cấu tạo.

    Chất béo có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau, chẳng hạn trạng thái rắn (thường gọi là mỡ) trạng thái lỏng (thường gọi là dầu). Trạng thái tồn tại của chất béo là gì cũng sẽ khiến các tính chất lý, hóa học của chất béo có sự khác nhau nhất định. Chất béo có thể chuyển đổi trạng thái tồn tại (lỏng sang rắn, rắn sang lỏng) theo sự thay đổi của môi trường.

    Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phân biệt khái niệm chất béo là gì của lipid. Chất béo chỉ là một dạng đặc biệt của lipid, ngoài ra thì lipid còn bao gồm rất nhiều các hợp chất khác như sáp, Steroid, các phospholipid,… Vì vậy, cần phải phân biệt chất béo con người có thể sử dụng và các loại lipid khác.

    Sự phân loại chất béo có thể dựa vào nhiều yếu tố khác nhau, tuy nhiên phương pháp phân loại chất béo chủ yếu được sử dụng là dựa vào acid béo thành phần cấu tạo nên chất béo, có cấu trúc như thế nào (có liên kết đơn hay liên kết đôi).

    2. Nguồn gốc cung cấp chất béo

    Chất béo trong đời sống của chúng ta ngày nay có thể xuất phát từ rất nhiều nguồn gốc khác nhau, tùy thuộc vào nguồn cung cấp chất béo là gì sẽ cho những loại chất béo có đặc tính khác nhau về tính chất hóa học, tính chất vật lý và con đường chuyển hóa riêng biệt. Những nguồn cung cấp chất béo chủ yếu có thể kể đến như:

    – Chất béo có nguồn gốc động vật: Tập trung nhiều ở phủ tạng động vật và lớp mỡ dưới da của động vật. Loại chất béo có nguồn gốc từ động vật chứa nhiều acid béo bão hòa, thường không có lợi cho sức khỏe tim mạch.

    – Chất béo có nguồn gốc thực vật: Là loại chất béo được chiết xuất từ các loại thực vật, chủ yếu chứa các acid béo không bão hòa (chứa 1 liên kết đôi hoặc nhiều hơn) nên thường được dùng nhiều hơn vì tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên một số loại dầu thực vật cũng chứa nhiều chất béo bão hòa như mỡ động vật chẳng hạn như dầu cọ, dầu dừa,…

    – Chất béo tổng hợp: Đây là loại chất béo được tổng hợp nhờ các hoạt động của con người. Loại chất béo này hay gặp trong các hoạt động sản xuất đại trà hoặc khi muốn làm tăng vị ngon, độ đẹp mắt của thức ăn. Thường không tốt cho sức khỏe.

    Có thể thấy, nguồn cung cấp chất béo rất đa dạng, tùy thuộc vào nguồn cung chất béo là gì mà sẽ cho ra các loại chất béo có đặc điểm rất khác nhau.

    3. Chất béo tốt hay xấu?

    Ngày nay có lẽ chúng ta đã quá quen với các quan niệm như chất béo gây hại cho sức khỏe, ăn nhiều chất béo khiến bạn mắc bệnh,… Vậy thực chất điều này ra sao, ảnh hưởng của chất béo là gì, tốt hay xấu?

    Đầu tiên cần khẳng định, chất béo là nguồn dinh dưỡng thiết yếu và là thành phần không thể thay thế trong cơ thể. Chất béo đảm nhận rất nhiều vai trò khác nhau như cung cấp năng lượng, cấu trúc cơ thể, điều nhiệt, hòa tan các chất,…

    Tuy nhiên, sự tốt hay xấu của chất béo và ảnh hưởng của chất béo là gì phụ thuộc vào loại chất béo. Các chất béo bão hòa (chất béo có nguồn gốc động vật) thường không có lợi đối với sức khỏe do làm tăng cholesterol toàn phần của máu, tuy nhiên cũng có những loại lipid động vật có vai trò rất quan trọng như Omega3 (trong các loài cá nước lạnh) rất tốt đối với cơ thể.

    Ngược lại, dầu thực vậy thường được xem là lành mạnh đối với cơ thể, nhưng những loại dầu như dầu cọ, dầu dừa,… cũng chứa các acid béo bão hòa như mỡ động vật.

    Do vậy, ảnh hưởng đối với cơ thể của chất béo là gì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như loại chất béo sử dụng, cách sử dụng, số lượng sử dụng,…

    4. Giá trị dinh dưỡng của chất béo

    Dựa vào các tiêu chuẩn sau đây chúng ta có thể đánh giá được giá trị dinh dưỡng của chất béo mang lại cho cơ thể con người:

    – Hàm lượng vitamin A, D, tocopherol

    – Hàm lượng các phosphatide (lecithin)

    – Hàm lượng những acid béo chưa no (acid linoleic)

    – Hàm lượng các sterol, đặc biệt là β-sitosterin

    – Tính chất cảm quan tốt và dễ tiêu hoá

    Hiểu được chất béo là gì chúng ta sẽ biết các loại chất béo ở động vật và thực vật cũng không thể đáp ứng hoàn toàn những nhu cầu trên. Như ở trong mỡ động vật có vitamin A, D tuy nhiên lại có ít hoặc không có các acid béo chưa no cần thiết. Ngược lại, trong dầu thực vật có nhiều acid linoleic, phosphatid, tocopherol và sitosterin nhưng lại rất nghèo vitamin A, D hay acid arachidonic.

    Việc áp dụng kết hợp dinh dưỡng từ chất béo động vật và thực vật mới cho ra nguồn chất béo có giá trị sinh học cao. Tỷ lệ chất béo từ nguồn gốc động vật xét theo giá trị sinh học của con người nên khoảng từ 60% – 70%, còn ở thực vật là 30% – 40%.

    Một yếu tố quan trọng về giá trị dinh dưỡng của chất béo là tính cân đối của các acid béo trong mỡ ăn. Thông thường, tỷ lệ trong một khẩu phần ăn khoảng 10% các acid béo chưa no có nhiều mạch kép, 30% các acid béo no và 60% acid oleic.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Chất Béo Đối Với Sức Khỏe Dinh Dưỡng
  • Vai Trò Của Vitamin C Đối Với Hệ Thống Miễn Dịch, Tăng Trưởng Của Tôm, Cá
  • Vai Trò Dinh Dưỡng Của Lipid
  • Chất Béo Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo Trong Một Số Thực Phẩm
  • Bài 15. Cơ Sở Của Ăn Uống Hợp Lí
  • Chất Béo Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo Trong Một Số Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Dinh Dưỡng Của Lipid
  • Vai Trò Của Vitamin C Đối Với Hệ Thống Miễn Dịch, Tăng Trưởng Của Tôm, Cá
  • Vai Trò Của Chất Béo Đối Với Sức Khỏe Dinh Dưỡng
  • Chất Béo Là Gì? Nguồn Gốc Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 4: Cacbohidrat Và Lipit
  • Khuyến nghị đầu tiên và quan trọng nhất vẫn là các acid béo no không được vượt quá 10% năng lượng khẩu phần. Để làm được điều này, có thể tăng cường sử dụng các loại dầu thực vật và hạn chế tiêu thụ các loại mỡ động vật. Các acid béo không no (như acid linoleic, linolenic, decosahexaenoic và các acid béo không no khác) phải đảm bảo cung cấp 11-15% năng lượng (Nhu cầu Dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, năm 2022). Để đạt được điều này, cần tăng cường tiêu thụ các loại dầu thực vật và cá mỡ.

    Cần lưu ý về cơ cấu Chất béo trong khẩu phần trẻ em: do cơ thể trẻ đang phát triển nhanh, rất cần acid arachidonic, một acid béo không no có nhiều trong mỡ động vật, do đó tỷ lệ cân đối giữa Chất béo động vật và Chất béo thực vật được khuyến nghị là 70% và 30%. Ngay cả khi thức ăn bổ sung của trẻ thường được cho thêm thịt, cá, trứng, vốn đã có một lượng nhất định Chất béo động vật rồi nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về Chất béo cho lứa tuổi này, vì thế vẫn cần phải cho thêm vào khẩu phần của trẻ hoặc là các loại dầu ăn hoặc là mỡ theo tỷ lệ một bữa dầu, một bữa mỡ.

    Acid béo chưa no bao gồm acid béo chưa no 1 nôi đôi và acid béo chưa no nhiều nối đôi.

    Theo Nhu cầu Dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, năm 2022, nhu cầu các acid béo không no cần thiết hàng ngày cho trẻ em như sau:

    Acid béo chưa no một nối đôi có thể sử dụng linh hoạt trong khi xây dựng chế độ ăn vì chúng có thể dùng thay thế acid béo no, glucid hoặc cung cấp năng lượng thay cho cả hai. Hiện tại acid béo chưa no có một nối đôi được quan tâm nhiều vì khi chế độ ăn có nhiều acid béo chưa no có một nối đôi (có nghĩa là thấp acid béo no và cholesterol) sẽ dẫn đến giảm cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, triglycerid và hạn chế tới mức thấp nhất sự giảm HDL- cholesterol.

    Acid béo omega – 3 (n=3) thường ở dạng như Eicosapentaenoic (EPA) và Docosahexaenoic (DHA) trong các thức ăn có nguồn gốc động vật (các loại cá, dầu cá). Các acid béo omega- 3 nguồn gốc thực vật (acid alpha linolenic -ALA) cũng có tác dụng tốt đối với bệnh tim mạch. Đối với cơ thể con người, DHA và EPA không tự tổng hợp được mà phải cung cấp từ bên ngoài vào. Ở chế độ ăn giàu ALA, nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành giảm tới 50%. Chế độ ăn hàng ngày cần tăng các acid béo n-3 để phòng các bệnh tim mạch cụ thể là mỗi tuần nên có 2-3 lần ăn cá, thay thế cá cho thịt. Tất cả các loại cá và hải sản đều chứa các acid béo n-3, ngay cả khi lượng Chất béo thấp trong một số hải sản.

    Bảng. Hàm lượng các acid béo trong 100 g ăn được một số loại cá và hải sản

    Omega 6 cũng là các acid béo không no, gồm: Linoleic acid (LA, Gamma linolenic acid (GLA, Dihomo-gamma linolenic acid (DGLA), Arachidonic acid (AA). Đây là chất béo cần thiết cho hoạt động của cơ thể, nhưng cơ thể không thể tự tổng hợp được mà cần bổ sung cho cơ thể từ nguồn thức ăn cung cấp.

    Cũng như Omega 3, Omega 6 có tác dụng rất tốt để ngăn ngừa các bệnh tim mạch bằng cách làm giảm cholesterol và triglyceride trong máu. Bởi vậy, Omega 6 thường chỉ cần cho người lớn để ngăn ngừa các bệnh tim mạch, còn tác dụng cho trí não và mắt là không có và tác dụng chống oxy hóa cũng không nhiều. Nguồn bổ sung Omega 6 từ thức ăn rất dồi dào, nó có nhiều trong các loại dầu thực dầu mè, dầu đậu nành, dầu hướng dương, trong trứng gà, mỡ….

    Các acid béo thể trans (transfat) là thể đồng phân xuất hiện khi hydrogen hóa các acid béo chưa no, có từ hai nguồn chủ yếu: (1) hình thành tự nhiên tạo ra trong ruột của một số động vật ăn cỏ (các sản phẩm động vật như sữa, sản phẩm từ sữa và thịt có chứa một lượng nhỏ transfat), hình thành trong quá trình chế biến thực phẩm (Dầu ăn bị hydro hóa một phần được sử dụng bởi nhiều nhà sản xuất thực phẩm để cải thiện cấu trúc, tăng thời gian bảo quản và tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm). Một sản phẩm cung cấp lượng chất béo có giá trị cao là bơ nhân tạo (bơ động vật) có thể chứa tới 2.982 g transfat trong 100 g ăn được. Chế độ ăn thấp acid béo thể Trans và acid béo no sẽ có hiệu quả làm giảm cholesterol máu.

    Lượng cholesterol trong khẩu phần có ảnh hưởng đến cholesterol toàn phần trong huyết thanh, tuy ảnh hưởng này ít hơn các acid béo no. Lượng cholesterol trong chế độ ăn trung bình nên dưới 300mg/ngày/người. Cholesterol có nhiều trong các thức ăn nguồn gốc động vật. Lượng cholesterol trong 100 g ăn được của một số thực phẩm như sau: óc lợn (2195mg), bầu dục bò (411mg), bầu dục lợn (319 mg), tim lợn (131mg), trứng gà toàn phần (470mg), lòng đỏ trứng gà (2000 mg) (gan lợn (301mg), gan gà (345mg), bơ động vật (270mg), mỡ lợn nước (95mg). Do đó hạn chế các thức ăn này góp phần làm giảm lượng cholesterol trong khẩu phần ăn. Lòng đỏ trứng có nhiều cholesterol, nhưng đồng thời có nhiều lecithin là một chất điều hoà chuyển hoá cholesterol trong cơ thể. Do đó, ở những người có cholesterol máu cao, không nhất thiết kiêng hẳn trứng mà chỉ nên ăn trứng 1-2 lần.

    Người ta thấy thành phần chính trong chế độ ăn có ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol huyết thanh là các acid béo no. Người ta nhận thấy các acid béo no làm tăng các lipoprotein có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein – LDL) vận chuyển cholesterol từ máu đến các tổ chức và có thể tích luỹ ở thành mạch. Ngược lại, các acid béo chưa no làm tăng các lipoprotein có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein – HDL) vận chuyển cholesterol từ các mô đến gan thoái hoá. Do có một chế độ ăn giảm chất béo động vật (bơ, mỡ), tăng dầu thực vật, bớt ăn thịt, tăng ăn cá và các chế phẩm đậu nành có tác dụng phòng và điều trị cholesterol máu cao.

    Giá trị dinh dưỡng của chất béo trong một số thực phẩm

    Chất béo của thịt: Lượng chất béo khác nhau ở các loại thịt, về chất lượng Chất béo của thịt cũng khác nhau: phần lớn thành phần chất béo từ thịt lợn và các loại gia súc là các acid béo no hoặc các acid béo chưa no có 1 nối đôi. Do vậy, cần chú ý trong việc sử dụng chất béo của thịt đối với những người có có nguy cơ rối loạn chuyển hóa lipid máu, bệnh tim mạch và những người thừa cân béo phì. Mỡ gia cầm chứa nhiều acid béo không no cần thiết nên giá trị sinh học cao hơn.

    Chất béo trong cá chứa nhiều các acid béo chưa no cần thiết, các acid béo chưa no hoạt tính cao chiếm 90% trong tổng số Chất béo của cá bao gồm oleic, linoleic, linolenic, arachidonic… có giá trị dinh dưỡng tốt trong phòng chống các bệnh tim mạch.

    Trong cá, nhất là cá biển có 2 chất dinh dưỡng rất quý đối với sức khỏe con người, đó là các acid béo omega 3 (EPA và DHA). Chất DHA (Docosahexaenoic Acid) có nhiều trong acid béo chưa bão hòa của cá. Nó giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh, có ảnh hưởng tới năng lực tìm tòi, phán đoán, tổng hợp của não. Tuy nhiên cả 2 chất này đều dễ bị phá hủy bởi nhiệt độ cao, do vậy cần chú ý trong quá trình chế biến cá.

    Chất béo của trứng: khoảng từ 10-30% tùy từng loại trứng, thí dụ trứng gà toàn phần là 11,6%; trứng vịt 14,2%, lòng đỏ trứng 29,8%, nhưng lòng trắng trứng chỉ có 0,1%. Trứng gà là nguồn lecithin quý. Do lượng Chất béo của lòng trắng rất ít mà lượng protein chủ yếu là albumin, dễ hấp thu nên những bệnh nhân thiếu dinh dưỡng, thiếu protein có nguy cơ rối loạn chuyển hóa nên sử dụng lòng trắng trứng.

    Chất béo của sữa tồn tại ở trạng thái nhũ tương hoá, có độ phân tán cao, có nhiều acid béo chưa no cần thiết, có nhiều lecithin, có độ tan chảy thấp.

    Thành phần dinh dưỡng chính của mỡ bò, lợn và cừu là acid oleic, palmitic và stearic. Lượng acid béo no trong các mỡ động vật chiếm quá 50% tổng số các acid béo. Các acid béo chưa no chính là oleic (35-50%) và một lượng nhỏ acid linoleic (5- 10%). Chính vì có nhiều acid béo no nên nhiệt độ nóng chảy của chúng cao.

    Giá trị dinh dưỡng chính của các dầu thực vật là do chúng có nhiều acid béo chưa no cần thiết, các phosphatid, tocopherol, các sterol và một số hợp chất sinh học khác. Các acid béo không no có những dây nối đôi cách xa nhau như acid linoleic, acid linolenic và acid arachidonic rất cần thiết phải lấy từ thức ăn mà cơ thể không tự tổng hợp được. Về hàm lượng các acid béo có thể chia các dầu thực vật ra như sau

    Dầu thực vật có hàm lượng acid béo chưa no có nhiều mạch kép (từ 40 – 50%): dầu hướng dương, dầu bông, dầu ngô, dầu vừng, dầu đậu tương.

    Các loại dầu chứa acid oleic là chủ yếu (80% và hơn): dầu oliu, dầu lạc, dầu hạnh nhân.

    Các loại dầu chứa chủ yếu các acid béo no (50%): dầu ca cao, dầu dừa.

    Lạc là thức ăn cung cấp Chất béo, protein và một số vitamin rất đáng chú ý. Dầu lạc có nhiều triglycerid. So với dầu thực vật khác, dầu lạc có ít phosphatit. Glycerid của dầu lạc chứa 3 acid béo chính: oleic, linoleic (80%) và acid béo no là palmitic (10%). Lạc có 27,5% protein, 44,5% Chất béo và 15,5% glucid.

    Dầu vừng có nhiều acid béo chưa no chứa nhiều dây nối đôi tương tự như dầu đậu tương. Một số loại hạt khác (hạt dẻ, hạt điều) cũng chứa nhiều protein và chất béo nhưng không thể sánh được với đậu tương, vừng và lạc về giá trị dinh dưỡng.

    Về vitamin, dầu thực vật có tocopherol và caroten. Lượng tocopherol cao (100mg% và hơn) trong dầu cám lúa mì, dầu đậu tương và dầu ngô, trung bình (60mg%) trong dầu hướng dương, dầu bông và thấp (30mg%) trong dầu lạc, oliu và dầu dừa. Dầu hướng dương có hoạt tính vitamin E cao nhất và tocopherol của nó dạng µ tocopherol, còn dầu ngô và dầu đậu tương thì hầu như không có hoạt tính vitamin vì 90% tổng số tocopherol ở các dạng chống oxy hoá.

    Dầu o liu có chứa hàm lượng Vitamin và muối khoáng cao hơn so với các loại dầu thực vật khác, hàm lượng vitamin E trong dầu oliu là 14.35 mg /100g, thấp hơn dầu cám gạo, dầu bông, dầu cọ, dầu lạc, nhưng lượng Vitamin K trong dầu oliu lại tương đối cao 60.2mg/100g, chỉ thấp hơn dầu đậu tương và bơ thực vật, nhưng bù lại dầu oliu lại chứa chất khoáng quý như canxi (1mg/100g), sắt (0.56mg/100g), natri (2mg/100g) và kali (1mg/100g) mà các loại dầu khác không có.

    Đối với những người có lượng cholesterol máu cao, nên áp dụng một chế độ ăn, dùng dầu lạc, dầu olive, dầu đỗ tương thay cho mỡ và nên ăn các hạt có dầu như: vừng, lạc, hạt dẻ, hạt bí ngô để cung cấp acid béo không no có nhiều nối đôi omega 3, omega 6. Nếu có điều kiện nên bổ sung dầu cá thiên nhiên vì chứa nhiều acid béo không no. Loại bỏ các thức ăn nhiều acid béo no như mỡ, bơ, nước luộc thịt. Giảm lượng cholesterol ăn vào xuống dưới 250mg/ngày, bằng cách không ăn các thực phẩm có nhiều cholesterol. Lòng đỏ trứng có nhiều cholesterol, nhưng lại có nhiều lecithin là một chất điều hoà chuyển hoá cholesterol trong cơ thể. Do đó, ở những người có cholesterol máu cao, không nhất thiết kiêng hẳn trứng mà chỉ nên ăn trứng 1-2 lần/tuần.

    : ở nhiệt độ không quá 102 Trong quá trình chế biến chất béo cần lưu ý 0 C, Chất béo (dầu, mỡ) không có biến đổi đáng kể ngoài hóa lỏng. Khi đun lâu ở nhiệt độ cao các axit béo không no sẽ bị oxy hóa làm mất tác dụng có ích với cơ thể, đồng thời các liên kết kép trong cấu trúc của chúng nhanh chóng bị bẻ gãy tạo thành các sản phẩm trung gian như là perocyd, aldehyd…có hại đối với cơ thể. Khi nướng thức ăn trên bếp lửa mỡ chảy ra rơi xuống tạo mùi thơm nhưng thực chất đó là các carbuahydro thơm vòng không tốt cho cơ thể và đó chính là một trong các tác nhân gây ung thư. Do vậy không nên tái sử dụng dầu, mỡ đã qua rán ở nhiệt độ cao. Không mua các thức ăn rán, quay bán sẵn (quẩy, bánh rán, gà quay…) khi thấy chảo dầu, mỡ dùng cho việc chế biến không còn trong, đã được sử dụng nhiều lần và có màu đen cháy.

    Ths.Bs. Ngô Thị Hà Phương – Viện Dinh dưỡng Quốc gia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 15. Cơ Sở Của Ăn Uống Hợp Lí
  • 4 Nhóm Dưỡng Chất Quan Trọng: Chất Bột Đường, Béo, Protein, Vitamin Và Khoáng Chất
  • Bài 15. Cơ Sở Của Ăn Uống Hợp Lý
  • Nhuộm Lipid Trung Tính Và Aci Bằng Sunfat Xanh Lơ Nil (Theo Cain)
  • Tpcn Sữa Non High Lg Colostrum 500Mg
  • Vai Trò Của Chất Béo Đối Với Sức Khỏe Dinh Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chất Béo Là Gì? Nguồn Gốc Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 4: Cacbohidrat Và Lipit
  • Bài 4: Cacbonhydrat Và Lipit
  • Sự Nguy Hiểm Của Hội Chứng Rối Loạn Chuyển Hóa
  • Rối Loạn Chuyển Hóa Sắt Trong Cơ Thể
  • Các rối loạn chuyển hóa chất béo ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan kể cả hệ thần kinh. Thiếu acid béo omega-3 dẫn đến ảnh hưởng khả năng nhận thức, khả năng nhìn…

    Trong chất béo tồn tại 3 loại axit béo cơ bản là axit béo no (SFA- Saturated fatty acid), axit béo không no 1 nối đôi (MUFA- Mono unsaturated fatty acid) và axit béo không no nhiều nối đôi (PUFA- Poly unsaturated fatty acid). Các nghiên cứu khoa học cho thấy mỗi axít béo nắm giữ vai trò nhất định: MUFA có tác dụng giảm lượng cholesterol xấu (LDL), SFA tham gia vào quá trình cấu tạo màng tế bào và giúp tăng cường hệ miễn dịch…

    Tuy nhiên, việc không duy trì một tỉ lệ cân đối các axit béo hợp lý sẽ mang đến các tác hại không có lợi cho sức khoẻ: nhiều SFA khiến lượng cholesterol xấu tăng lên mang đến nguy cơ mỡ trong máu cũng như các bệnh về tim mạch, huyết áp… Theo khuyến cáo của WHO, xét về mặt dinh dưỡng và sức khoẻ, sẽ là có lợi nhất khi trong khẩu phần, tỷ lệ các axit béo nói trên được tiêu thụ theo một tỷ lệ cân bằng tối ưu nhất 1:1:1. Nói một cách khác, tỷ lệ cân bằng của 3 axít béo thiết yếu nói trên chính là chìa khóa vàng để có được một chế độ dinh dưỡng lý tưởng cho sức khỏe ổn định và bền vững.

    Neptune 1:1:1 là sản phẩm dầu ăn đầu tiên và duy nhất trên thị trường được đặc chế riêng cho người Việt Nam, giúp người tiêu dùng đạt được tỷ lệ cân bằng 1:1:1 cho các axit béo. Với tỷ lệ này, người tiêu dùng bất kể mọi lứa tuổi sẽ tận dụng được tối đa hiệu quả của mỗi loại axit béo và loại trừ tối đa các tác dụng không mong muốn của chúng đối với sức khỏe, mang đến một chế độ dinh dưỡng cân bằng tối ưu cho sức khỏe.

    Ngoài ra, Neptune 1:1:1 còn chứa thành phần dầu gạo với dưỡng chất vàng Gamma Oryzanol, chiết xuất từ lớp vỏ cám của hạt gạo, dầu gạo là nơi lưu giữ nhiều nhất các loại vitamin và dưỡng chất. Là dưỡng chất quan trọng có trong mầm hạt gạo, Gamma Oryzanol chống ôxy hóa tự nhiên mạnh gấp 4 lần vitamin E nên ngăn ngừa hiệu quả quá trình lão hóa.

    Hơn nữa, Gamma Oryzanol còn có các tác dụng phòng ngừa các bệnh ung thư, tim mạch và giúp giảm đáng kể lượng cholesterol xấu. Dầu gạo có nhiệt độ sôi rất cao nên không chỉ giúp các thức ăn trong quá trình chiên xào ở nhiệt độ cao và thời gian dài sẽ không bị cháy khét, (giúp ngăn ngừa các nguy cơ ung thư) mà thức ăn còn giữ được hương vị thơm ngon tự nhiên.

    Vừa cân bằng dưỡng chất vừa phát huy tối đa các lợi ích thiết thực của dầu gạo, có thể nói sản phẩm Neptune 1.1.1 là sự lựa chọn lý tưởng cho những ai quan tâm đến sức khỏe và dinh dưỡng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Vitamin C Đối Với Hệ Thống Miễn Dịch, Tăng Trưởng Của Tôm, Cá
  • Vai Trò Dinh Dưỡng Của Lipid
  • Chất Béo Và Giá Trị Dinh Dưỡng Của Chất Béo Trong Một Số Thực Phẩm
  • Bài 15. Cơ Sở Của Ăn Uống Hợp Lí
  • 4 Nhóm Dưỡng Chất Quan Trọng: Chất Bột Đường, Béo, Protein, Vitamin Và Khoáng Chất
  • Chức Năng Của Chất Béo

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Nhu Cầu Chất Béo Của Người Bình Thường
  • Giải Bài Tập Sinh Học 10 Bài 4. Cacbohiđrat Và Lipit
  • Vai Trò Của Lipid Trong Dinh Dưỡng Người
  • Sữa Non Alpha Lipid Có Tác Dụng Gì
  • Bỏ Ra 1280K Mua Sữa Non Alpha Lipid Có Được Những Gì
  • Chất béo là tên gọi chung của các loại mỡ, dầu… Chất béo có trong thức ăn chủ yếu là dầu và mỡ, trong nhiệt độ bình thường là chất lỏng thì là dầu, còn nếu trong nhiệt độ bình thường mà là chất rắn thì là mỡ. Chức năng của chất béo tùy thuộc vào lượng sử dụng hàng ngày của con người.

    Hiểu biết về chất béo và các acid béo

    Các acid béo là thành phần chủ yếu tạo nên chất béo. Căn cứ vào độ không bão hòa thì có thể phân các acid béo thành ba loại: các acid béo đơn không bão hòa, các acid béo kép không bão hòa và các acid béo bão hòa.

    Độ không bão hòa càng cao thì điểm hòa tan càng thấp, chất béo có chứa acid béo đơn không bão hòa và acid béo kép không bão hòa trong phòng ấm ở thể lỏng thì thường là dầu thực vật, như là dầu lạc, dầu ngô, dầu đậu nành, dầu hướng dương… Chất béo có chứa acid béo trong phòng ấm ở thể rắn thì thường là mỡ động vật như là mỡ bò, mỡ lợn, mỡ dê…

    Có một số loại acid béo không thể có phản ứng hóa học trong cơ thể con người, cần phải cung cấp bằng đường thức ăn, đây được gọi là acid béo cần thiết. Acid linolic, acid linolenic là các acid béo cần thiết.

    Chức năng của chất béo

    Chất béo có vai trò đặc biệt quan trọng trong duy trì sự sống, hỗ trợ cho các chức năng cấu trúc và chức năng trao đổi chất.

    • Cung cấp năng lượng và tích trữ năng lượng: Năng lượng mà chất béo tạo ra cao gấp đôi so với protein và carbon-hydrate.
    • Tạo thành những chất quan trọng cho cơ thể: Phospholipid, glucolipid, cholesterol tạo thành thành phần của màng tế bào, cholesterol lại là nguyên liệu chính để tạo thành acid bile, vitamin D3 và hóc- mon steroid.
    • Duy trì nhiệt độ cơ thể và bảo vệ cơ quan nội tạng.
    • Là nguồn quan trọng của các vitamin hòa tan trong chất béo.

      Dầu gan cá và bơ có chứa hàm lượng vitamin A và D vô cùng phong phú, ngoài ra nhiều loại dầu thực vật khác còn chứa hàm lượng vitamin E phong phú. Chất béo còn giúp cho việc thúc đẩy hấp thụ các vitamin hòa tan trong chất béo.

    • Tăng cường cảm giác no bụng và muốn ăn.

    Tác hại của chất béo đối với sức khỏe

    Hấp thụ quá nhiều các acid béo sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người, như là giảm mất mật độ cao của lopoprotein, cholesterol và chức năng của hệ thống miễn dịch, tăng thêm khả năng bị tắc nghẽn mạch máu, tạo nhanh sự hình thành của xơ cứng động mạch, gây lão hóa nhanh, thậm chí còn gây ung thư.

    Hấp thụ chất béo ít thì cũng ảnh hưởng tới sức khỏe của cơ thể, có thể sẽ tạo thành hiện tượng thiếu vitamin có tính hòa tan có trong chất béo.

    Hấp thụ chất béo một cách khoa học

    Mỡ động vật hoặc là dầu thực vật có thể sử dụng luân phiên nhau cũng rất tốt, nhưng nên sử dụng dầu thực vật là chính, còn mỡ động vật chỉ là hỗ trợ mà thôi. Tỷ lệ chia hấp thụ là 2:1 là tốt nhất.

    Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo rằng, năng lượng cung cấp của chất béo trong thức ăn không nên vượt quá 30% tổng năng lượng, trong đó tỷ lệ của các acid béo bão hòa, không bão hòa đơn, không bão hòa đa là 1:1:1. Hàng ngày lượng hấp thụ chất béo vào cơ thể (đối với phụ nữ) là 65 – 70gr, (đàn ông) không nên vượt quá 90gr.

    Cần hiểu rõ về chức năng của chất béo để sử dụng một cách hiệu quả và an toàn nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Chất Béo Đối Với Cơ Thể Người
  • Thực Phẩm Chức Năng Giá Rẻ
  • Alpha Lipid Colostem Có Công Dụng Như Thế Nào? Đối Tượng Sử Dụng?
  • Alpha Lipid Colostem Là Bí Quyết Giúp Khỏe Mạnh Và Giữ Mãi Tuổi Thanh Xuân
  • Sữa Non Alpha Lipid Lifeline Giá Chỉ Từ 500K
  • Dinh Dưỡng Là Gì? Tìm Hiểu Về Dinh Dưỡng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Dinh Dưỡng Cho Những Vấn Đề Tiêu Hóa Của Người Cao Tuổi
  • Tiểu Đường Type 2 Nên Ăn Gì?
  • Giải Pháp Dinh Dưỡng Cho Người Bệnh Tiểu Đường (Đái Tháo Đường)
  • Suy Dinh Dưỡng: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • 6 Lợi Ích Mà Giải Pháp Erp Cho Doanh Nghiệp Sản Xuất Đem Lại
  • 1 – Dinh dưỡng là gì?

    “Dinh dưỡng”“dưỡng chất thiết yếu có trong thức ăn kết hợp với nước tạo ra năng lượng để duy trì sự sống”.

    1.1 – Chúng ta đã định nghĩa qua dinh dưỡng là gì? vậy dinh dưỡng có vai trò như thế nào đối với cơ thể chúng ta?

      Dinh dưỡng giúp tăng cường miễn dịch.
      Đáp ứng nhu cầu cụ thể khi ốm hoặc cơ thể bị thương
      Khôi phục khối cơ thể trong các bệnh lý cấp/ mãn tính

    1.2 – Dinh dưỡng gồm

      Đại dưỡng chất ( những chất tạo ra năng lượng ): gồm chất đạm, chất béo, chất bột đường.

    Hình 2: Dinh dưỡng gồm những là gì?

    Những chất tạo ra năng lượng sẽ tạo ra và cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Ngoài ra, hỗ trợ tạo mô mới và tăng trưởng và dự trữ dưới dạng các mô mỡ.

      Chất đạm: được tạo bởi các acid amin và các chuỗi polypeptide, và thường thì cơ thể sẽ tiêu hóa và hấp thu chất đạm trong động vật cao hơn đạm thực vật. ( ví dụ đạm động vật như các loại thịt lợn, thịt bò, thịt gà đạm thực vật có trong các loại đậu, hạt)
      Chất béo: chỉ tan trong rượu và không tan trong nước, 1g cung cấp cho cơ thể khoảng 9kcal. Chất béo giúp bao bọc cơ thể tránh bị trấn thương và giúp giữ nhiệt. Tham gia cấu trúc cơ thể và giúp hấp thu vitamin tan trong dầu.
      Chất bột đường: cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Cơ thể chúng ta lấy chất bột đường chủ yếu từ gạo, bánh mỳ.

    Vitamin: Không trực tiếp tạo ra năng lượng cho cơ thể tuy nhiên lại là các chất thiết yếu giúp cơ thể sống và hoạt động bình thường và tham gia quá trình chuyển hóa trong cơ thể dưới vai trò chất xúc tác. Tham gia quá trình chống oxy hóa: Vitamin C, E, Betacaroten.

    Khoáng chất: là phân tử vô cơ cần thiết cho các chức năng của cơ thể và phải bổ sung từ bên ngoài cơ thể không tự tổng hợp được.

    Nước: hoạt động như một dung môi vẩn chuyển các dưỡng chất và các chất khác đi khắp cơ thể, giúp điều hòa thân nhiệt và làm trơn các bộ phận chuyển động của cơ thể như khớp.

    Hình 3: Dinh dưỡng rất quan trọng đối với mỗi chúng ta

    Kết Luận: Dinh dưỡng rất quan trọng đối với mỗi chúng ta, nhưng quan trọng hơn là chúng la phải ăn uống đa dạng thực phẩm, bổ sung cân đối và hợp lý các chất dinh dưỡng để giúp cơ thể hấp thu và khỏe mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phòng Chống Thiếu Vi Chất Dinh Dưỡng
  • Thực Phẩm Bẩn Là Gì? Nguyên Nhân Và Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giáo Dục Toàn Diện Bậc Trung Học
  • Phát Triển Toàn Diện Cho Trẻ Em Là Phát Triển Những Gì, Nên Bắt Đầu Từ Bao Giờ?
  • Giải Pháp Toàn Diện: Xu Hướng Mới Trong Công Tác Quản Lý Tại Doanh Nghiệp (Phần 4)
  • Thực Phẩm Chức Năng Dinh Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Phẩm Chức Năng Làm Đẹp Da Là Gì? Có Nên Uống Hay Không?
  • Điểm Danh 4 Loại Thực Phẩm Chức Năng Làm Đẹp Da Phổ Biến
  • Thực Phẩm Chức Năng Dưỡng Da
  • Bột Collagen Dưỡng Trắng Da Itoh Sapril Collagen 30 Gói
  • Thực Phẩm Và Chế Độ Dinh Dưỡng Ảnh Hưởng Đến Làn Da Như Thế Nào?
  • Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh

    Thực phẩm chức năng là gì ?

    Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh. Tuỳ theo công thức, hàm lượng vi chất và hướng dẫn sử dụng, thực phẩm chức năng còn có các tên gọi sau: thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, sản phẩm dinh dưỡng y học.

    Ở mỗi nước, thực phẩm chức năng được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau: Các nước Tây Âu gọi là “thực phẩm – thuốc” (Alicaments) hoặc dược phẩm dinh dưỡng (Nutraceutics), thực phẩm bổ sung dinh dưỡng (food suplement); Trung Quốc gọi là “thực phẩm bổ dưỡng bảo vệ sức khỏe”; Việt Nam gọi là “thực phẩm đặc biệt”. Hiện nay các nước phát triển có xu hướng ưa chuộng dùng thực phẩm chức năng hơn dùng thuốc.

    Dùng thực phẩm chức năng lean complete

    Lean Complete Unicity là môt loại nước uống hương Socola cực ngon cung cấp Protein và năng lượng thay thế bữa ăn đã được tách hết chất cafein và cung cấp 23 loại acid amin, vitamin, chất dinh dưỡng, giúp tăng cường cơ bắp, thân hình đẹp, giảm tích tụ mỡ dưới da

    Thực phẩm chức năng Lean Complete

    Dùng thực phẩm chức năng Bios Life Mannos

    Bios Life Mannos cung cấp cho bạn một áo giáp bảo vệ, chống lại các tác hại của các gốc tự do , đồng thời cung cấp các chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Ngoài ra, tăng cường một số vitamin như Vitamin C, E, B2 và tăng cường đa sinh tố bổ sung.

    Thực phẩm chức năng Bios Life Mannos

    Dùng thực phẩm chức năng bột diệp lục để

    -Tăng cường khả năng lọc những cặn bã trong máu cho cơ thể, tăng khả năng sản sinh máu( tế bào hồng cầu), cân bằng tế bào hồng cầu và bạch cầu, thải độc cơ thể và chống ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Đáp Về Thực Phẩm Dinh Dưỡng
  • Tác Dụng Của Thực Phẩm Chức Năng
  • Bạn Có Biết Thực Phẩm Chức Năng Là Gì, Công Dụng Ra Sao?
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Tại Việt Nam Được Nhiều Người Sử Dụng
  • Thực Phẩm Chức Năng Là Gì, Sử Dụng Tpcn Cho Đúng Cách
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Thuật ngữ protein có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp “protos” nghĩa là trước nhất, quan trọng nhất. Protein là thành phần cơ bản của vật chất sống, nó tham gia vào thành phần của mỗi một tế bào và là yếu tố tạo hình chính. Quá trình sống là sự thoái hóa và tân tạo thường xuyên của protein.

    Protein là thành phần nguyên sinh chất tế bào

    Ở nguyên sinh chất tế bào không ngừng xảy ra quá trình thoái hoá protein cùng với sự tổng hợp protein từ thức ăn. Protein cũng là thành phần quan trọng của nhân tế bào và các chất giữa tế bào. Một số protein đặc hiệu có vai trò quan trọng do sự tham gia của chúng vào hoạt động các men, nội tố, kháng thể và các hợp chất khác. Ví dụ globin tham gia vào thành phần huyết sắc tố, miosin và actin đảm bảo quá trình co cơ, -globulin tham gia vào sự tạo thành rodopsin của võng mạc mắt, chất này giúp cho quá trình cảm thụ ánh sáng được bình thường.

    Protein cần thiết cho sự chuyển hoá bình thường của các chất dinh dưỡng khác

    Mọi quá trình chuyển hoá của glucid, lipid, acid nucleic, vitamin và chất khoáng đều cần có sự xúc tác của các enzyme mà bản chất hoá học của enzyme là protein. Các quá trình chuyển hoá của các chất dù là phân giải hay tổng hợp đều cần một nguồn năng lượng lớn, một phần năng lượng đáng kể do protein cung cấp.

    Glucid qua quá trình đường phân sẽ tạo thành acid pyruvic (CH 3 CO.COOH). Từ acid pyruvic khi bị khử carboxyl hoá bằng cách oxy hoá, với sự tham gia của enzyme pyruvate decarboxylase thì sản phẩm thu được của quá trình này là acetyl CoA. Acetyl CoA là nguyên liệu để tổng hợp nên các acid béo no và chưa no trong chất béo.

    Đường hướng biến đổi thứ hai của acetyl CoA là đi vào chu trình Krebs. Trong quá trình biến đổi của chu trình Krebs thì ngoài năng lượng được tạo thành dưới dạng các nucleotide khử (NADH 2, FADH 2), CO 2 và H 2 O, còn tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, trong đó qua trọng hơn cả là α-Ketoglutarate, oxaloacetate, fumarate. Đây là các ketoacid, nếu chúng bị amin hoá bằng cách khử hoặc amin hoá trực tiếp thì sẽ tạo thành các acid amin. Các acid amin thường gặp trong trường hợp này là alanine, acid aspartic và acid glutamic. Từ các acid amin ban đầu này bằng đường hướng chuyển amin hoá với ketoacid với sự tham gia của enzyme aminotranferase sẽ tạo thành hàng loạt các acid amin khác-nguyên liệu để tổng hợp protein.

    Protein tham gia vào cân bằng năng lượng của cơ thể

    Protein là nguồn năng lượng quan trọng cho cơ thể, cung cấp khoảng 10 – 15% năng lượng của khẩu phần. Các acid amin không tham gia vào tổng hợp protein hoặc được phân giải từ protein, từ các đoạn peptid nhờ enzyme carboxy peptidase hay amino peptidase của ruột non sẽ bị khử amin hoá bằng cách oxy hoá, kết quả tạo thành nhóm -NH 2 và α-cetoacid.

    Nhóm amin phần lớn đựơc tạo thành urê qua chu trình ormithin, còn một phần tồn tại dưới dạng amoniac. Các α-cetoacid tiếp tục bị biến đổi theo đường hướng β oxy hoá để tạo thành acetyl CoA và năng lượng, acetyl CoA lại tiếp tục đi vào chu trình Krebs để tạo ra CO 2, H 2O, năng lượng và các sản phẩm trung gian. Như vậy các acid amin biến đổi theo đường hướng khử amin hoá sẽ cho nguồn năng lượng lớn. Các acid amin cũng có thể bị khử carboxyl hoá để tạo thành các amin hay diamin. Các amin này lại bị oxy hoá tiếp tục để tạo thành NH 3, H 2 O, aldehyde tương ứng, đồng thời giải phóng nguồn năng lượng đáng kể. Như vậy khi thiếu glucid, lipid thì một phần protein thừa có thể chuyển hoá thành glucid hay acid béo để tham gia vào quá trình đốt cháy và cung cấp năng lượng. Khi đốt cháy trong cơ thể, 1 g protein cho 4 Kcal.

    Protein điều hoà chuyển hoá nước và cân bằng kiềm toan trong cơ thể

    Protein đóng vai trò như chất đệm, giữ cho pH máu ổn định do khả năng liên kết với H+ và OH. Các hoạt động của cơ thể rất nhạy cảm với sự thay đổi pH máu, vì vậy vai trò duy trì cân bằng pH là rất quan trọng. Protein có nhiệm vụ kéo nước từ trong tế bào vào mạch máu, khi lượng protein trong máu thấp, dưới áp lực co bóp của tim, nước bị đẩy vào khoảng gian bào gây hiện tượng phù nề.

    Protein bảo vệ và giải độc cho cơ thể

    Cơ thể con người chống lại sự nhiễm trùng nhờ hệ thống miễn dịch. Hệ thống miễn dịch sản xuất ra kháng thể có bản chất là các protein bảo vệ. Mỗi kháng thể gắn với một phần đặc hiệu của vi khuẩn hoặc yếu tố lạ nhằm tiêu diệt hoặc trung hoà chúng. Cơ thể có hệ thống miễn dịch tốt khi được cung cấp đầy đủ acid amin cần thiết để tổng hợp nên kháng thể. Cơ thể luôn bị đe doạ bởi các chất độc được hấp thụ từ thực phẩm qua hệ thống tiêu hoá hoặc trực tiếp từ môi trường, các chất độc này sẽ được gan giải độc. Khi quá trình tổng hợp protein bị suy giảm do thiếu dinh dưỡng thì khả năng giải độc của cơ thể giảm.

    Protein là chất kích thích ngon miệng

    Do chức năng này mà protein giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận các chế độ ăn khác nhau. Trong cơ thể người protein là chất có nhiều nhất sau nước. Gần 1/2 trọng lượng khô của người trưởng thành là protein và phân phối như sau: 1/3 ở cơ, 1/5 có ở xương và sụn, 1/10 ở da, phần còn lại ở các tổ chức và dịch thể khác, trừ mật và nước tiểu bình thường không chứa protein. Protein cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin không phát huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Adn Và Gen
  • Chất Béo Trong Cơ Thể Là Gì? Vai Trò Của Chất Béo Với Sức Khỏe

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Chất Béo Trong Cơ Thể Con Người.
  • Vai Trò Của Chất Béo Trong Cơ Thể. Cách Chọn Chất Béo Tốt ” The An Organics
  • Chất Béo Với Sức Khỏe Con Người
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Lách
  • Lá Lách Là Gì Và Nó Dùng Để Làm Gì: Các Chức Năng Chính Của Nó
  • Lipid là một họ các hợp chất hữu cơ hầu hết không tan trong nước. Được cấu tạo bởi chất béo và dầu, lipid là những phân tử mang lại năng lượng cao và có thành phần hóa học chủ yếu là cacbon, hydro và oxy. Lipid thực hiện ba chức năng sinh học chính trong cơ thể: chúng đóng vai trò là thành phần cấu trúc của màng tế bào, hoạt động như kho năng lượng và hoạt động như các phân tử tín hiệu quan trọng.

    • Triacylglycerols (còn được gọi là chất béo trung tính) chiếm hơn 95% lipid trong chế độ ăn uống và thường được tìm thấy trong thực phẩm chiên, dầu thực vật, bơ, sữa nguyên chất, pho mát, pho mát kem và một số loại thịt. Triacylglycerol tự nhiên được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, bao gồm bơ, ô liu, ngô và các loại hạt. Chúng ta thường gọi triacylglycerol trong thực phẩm là “chất béo” và “dầu”. Chất béo là chất béo rắn ở nhiệt độ phòng, trong khi dầu là chất lỏng. Trong bài này, khi chúng ta sử dụng từ chất béo, nghĩa là chúng ta đang đề cập đến triacylglycerol.
    • Phospholipid chỉ chiếm khoảng 2% chất béo trong khẩu phần ăn. Chúng tan trong nước và được tìm thấy trong cả thực vật và động vật. Phospholipid rất quan trọng để xây dựng hàng rào bảo vệ, hoặc màng, xung quanh các tế bào của cơ thể bạn. Trên thực tế, phospholipid được tổng hợp trong cơ thể để tạo thành màng tế bào và bào quan. Trong máu và chất lỏng cơ thể, phospholipid hình thành cấu trúc trong đó chất béo được bao bọc và vận chuyển trong máu.
    • Sterol là loại lipid ít phổ biến nhất. Cholesterol có lẽ là sterol tốt nhất được biết đến nhiều nhất. Mặc dù cholesterol có tiếng là tiếng xấu cho sức khỏe, nhưng cơ thể chỉ nhận được một lượng nhỏ cholesterol thông qua thực phẩm – còn lại là do cơ thể tự sản xuất. Cholesterol là một thành phần quan trọng của màng tế bào và cần thiết cho quá trình tổng hợp hormone sinh dục, vitamin D và muối mật.

    Khi nhắc đến vai trò của chất béo đối với cơ thể và lợi ích của chất béo không thể bỏ qua những yếu tố sau:

    Năng lượng dư thừa từ thực phẩm chúng ta ăn vào sẽ được tiêu hóa và kết hợp vào mỡ trắng hay còn gọi là mô mỡ. Hầu hết năng lượng mà cơ thể con người cần được cung cấp bởi carbohydrate và lipid. Glucose được lưu trữ trong cơ thể dưới dạng glycogen. Trong khi glycogen có thể coi là một nguồn cung năng lượng sẵn sàng, lipid chủ yếu hoạt động như một nguồn dự trữ năng lượng. Glycogen khá cồng kềnh với hàm lượng nước nặng, do đó cơ thể không thể lưu trữ quá nhiều trong thời gian dài. Ngoài ra, chất béo được kết hợp chặt chẽ với nhau mà không có nước và lưu trữ lượng năng lượng lớn hơn nhiều trong một không gian nhỏ. Một gam chất béo có thể tập trung nhiều năng lượng cụ thể nó chứa nhiều năng lượng hơn gấp đôi so với một gam carbohydrate. Năng lượng là yếu tố cần thiết để cung cấp năng lượng cho các cơ bắp đáp ứng tất cả các hoạt động thể chất mà một người bình thường cần làm mỗi ngày.

    Không giống như các tế bào cơ thể khác chỉ có thể lưu trữ chất béo ở mức hạn chế, các tế bào mỡ lại chuyên dụng để lưu trữ chất béo và có thể mở rộng kích thước gần như vô hạn. Sự dư thừa mô mỡ có thể dẫn đến quá tải cho cơ thể và có thể gây hại cho sức khỏe của bạn. Mộ trong các tác hại nghiêm trọng của mỡ thừa là tích tụ quá nhiều cholesterol trong thành động mạch, có thể làm dày thành động mạch và dẫn đến bệnh tim mạch. Vì vậy, mặc dù một số chất béo trong cơ thể là rất quan trọng đối với sự tồn tại và sức khỏe tốt của chúng ta, nhưng với số lượng quá nhiều thì tất nhiên đó lại là yếu tố cản trở việc duy trì sức khỏe tốt và thân hình thon thả.

    Triacylglycerols cũng giúp cơ thể sản xuất và điều chỉnh hormone. Ví dụ, mô mỡ tiết ra hormone leptin, hormone này điều chỉnh sự thèm ăn. Đối với sức khỏe sinh sản, axit béo cần thiết cho sức khỏe sinh sản ổn định; phụ nữ thiếu lượng axit béo thích hợp có thể bị tắt kinh hoặc vô sinh. Các axit béo thiết yếu omega-3 và omega-6 giúp điều chỉnh cholesterol, đông máu và kiểm soát tình trạng viêm ở khớp, mô và mạch máu. Chất béo cũng đóng vai trò chức năng quan trọng trong việc duy trì sự truyền xung thần kinh, lưu trữ trí nhớ và cấu trúc mô. Cụ thể hơn trong não, lipid là đầu mối cho hoạt động của não về cấu trúc và chức năng. Chúng giúp hình thành màng tế bào thần kinh, cách điện các tế bào thần kinh và tạo điều kiện cho việc truyền tín hiệu của các xung điện trong não.

    Vai trò của chất béo trong thực đơn ăn uống thì sao?

    Nguồn chất béo trong cơ thể có vai trò vô cùng quan trọng nhưng bên cạnh đó không thể bỏ qua vai trò của chất béo trong thực phẩm mà chúng ta ăn hàng ngày cũng có những chức năng cũng rất quan trọng.

    Thực phẩm giàu chất béo tự nhiên có mật độ calo cao. Thực phẩm giàu chất béo chứa nhiều calo hơn thực phẩm giàu protein hoặc carbohydrate. Kết quả là, thực phẩm giàu chất béo là một nguồn năng lượng thuận tiện. Ví dụ, 1 gam chất béo cung cấp 9 calo năng lượng, so với 4 calo được tìm thấy trong 1 gam carbohydrate hoặc protein. Tùy thuộc vào mức độ hoạt động thể chất và nhu cầu dinh dưỡng, nhu cầu chất béo rất khác nhau ở mỗi người. Khi nhu cầu năng lượng cao, cơ thể sẽ đón nhận mật độ calo cao của chất béo. Ví dụ, trẻ sơ sinh và trẻ em đang lớn cần lượng chất béo thích hợp để hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển bình thường. Nếu trẻ sơ sinh hoặc trẻ em được áp dụng chế độ ăn ít chất béo trong một thời gian dài, sự tăng trưởng và phát triển sẽ không tiến triển bình thường. Những người khác có nhu cầu năng lượng cao là vận động viên, những người làm công việc đòi hỏi thể chất và những người đang hồi phục sau bệnh tật.

    Khi cơ thể đã sử dụng hết lượng calo từ carbohydrate (điều này có thể xảy ra chỉ sau hai mươi phút tập thể dục), nó bắt đầu sử dụng chất béo. Một vận động viên bơi lội chuyên nghiệp phải tiêu thụ một lượng lớn năng lượng thức ăn để đáp ứng nhu cầu bơi đường dài, vì vậy việc ăn thức ăn giàu chất béo là rất có ý nghĩa. Ngược lại, nếu một người có lối sống ít vận động ăn cùng một loại thực phẩm có mật độ chất béo cao, họ sẽ hấp thụ nhiều calo chất béo hơn mức cơ thể họ cần chỉ trong một vài miếng ăn. Thận trọng khi tiêu thụ calo vượt quá nhu cầu năng lượng vì đây là một trong số các nguyên nhân chính gây bệnh béo phì.

    Chất béo chứa các hợp chất hòa tan góp phần tạo nên hương thơm và mùi vị hấp dẫn và làm tăng độ ngon miệng của thực phẩm. Thực phẩm nướng sẽ mềm và ẩm. Thực phẩm chiên giữ được hương vị và giảm thời gian nấu nướng. Bạn mất bao lâu để nhớ lại mùi nấu món ăn yêu thích của mình? Một bữa ăn sẽ như thế nào nếu không có hương vị thơm ngon để kích thích các giác quan của bạn đúng không?

    Chất béo còn đóng một vai trò quan trọng khác trong dinh dưỡng. Chất béo góp phần tạo cảm giác no. Khi ăn thức ăn béo, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách cho phép các quá trình kiểm soát tiêu hóa làm chậm sự di chuyển của thức ăn dọc theo đường tiêu hóa, do đó thúc đẩy cảm giác no tổng thể.

    Lưu ý khi ăn thực phẩm nhiều chất béo

    Bởi vì chất béo giúp tăng cường mùi, vị thơm ngon cho các loại thực phẩm, nhưng chúng cũng cung cấp nhiều calo. Để cơ thể bạn nhanh cảm nhận được cảm giác no trước khi bạn ăn quá nhiều, hãy thử thưởng thức các loại thực phẩm giàu chất béo chậm rãi. Ăn chậm sẽ cho phép bạn vừa tận hưởng trọn vẹn trải nghiệm vừa được thưởng thức với một phần nhỏ hơn. Uống nước xen kẽ trong bữa ăn, và ăn các loại thức ăn ít béo nếu bạn đã ăn quá nhiều chất béo trước đó. Luôn nhớ rằng kết hợp các loại thực phẩm khác là một chế độ ăn uống lành mạnh và lâu dài.

    Một số nội dung quan trọng

    • Lipid bao gồm triacylglycerols, phospholipid và sterol.
    • Triacylglycerol, loại chất béo phổ biến nhất, bao gồm hầu hết chất béo trong cơ thể và được hiểu như chất béo và dầu trong thực phẩm.
    • Năng lượng dư thừa từ thức ăn được lưu trữ dưới dạng mô mỡ trong cơ thể.
    • Chất béo rất quan trọng để duy trì nhiệt độ cơ thể, bảo vệ các cơ quan quan trọng, điều chỉnh hormone, truyền các xung thần kinh và lưu trữ trí nhớ.
    • Lipid vận chuyển các chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo và chất phytochemical và thúc đẩy khả dụng sinh học của các hợp chất này.
    • Chất béo là một nguồn năng lượng thuận tiện cho những người có nhu cầu năng lượng cao.
    • Chất béo cung cấp gấp đôi năng lượng trên mỗi gam so với protein hoặc carbohydrate, giúp tăng mùi và hương vị của thực phẩm, đồng thời thúc đẩy cảm giác no.

    Thẩm mỹ viện Quốc tế Nevada chắc chắn những thông tin bổ ích về Lipid hay còn gọi chất béo là gì, các vai trò của chất béo sẽ làm mọi người có cái nhìn thiện cảm hơn đối với chất dinh dưỡng quan trọng này của cơ thể. Qua đó chúng ta sẽ điều chỉnh lượng chất béo trong khẩu phần thực đơn ăn kiêng giảm cân hiệu quả để luôn sở hữu vóc dáng đẹp và cơ thể khỏe mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Sinh Học 10 Bài 4: Cacbohiđrat Và Lipit
  • Trắc Nghiệm Sinh Học 10 Bài 4 Có Đáp Án.
  • Rối Loạn Lipid Máu: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Cholesterol Là Gì? Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Cholesterol
  • Thực Phẩm Chức Năng Và Cholesterol
  • Các Thực Phẩm Và Chất Dinh Dưỡng Tăng Cường Chức Năng Tuyến Thượng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cây Râu Mèo Tăng Cường Chức Năng Thận Hiệu Quả
  • Suy Thận Có Con Được Không? Làm Gì Để Tăng Khả Năng Có Con?
  • Tăng Cường Chức Năng Thận: Làm Cách Nào Để Thận Luôn Khỏe Mạnh?
  • Thăm Dò Chức Năng Tuyến Vỏ Thượng Thận
  • Chế Độ Dinh Dưỡng Bổ Thận
  • Tuyến thượng thận nằm phía trên hai quả thận, có chức năng tiết ra các hormone cân bằng cơ thể như: Hormone chống lại stress, điều tiết huyết áp… Để duy trì quá trình điều tiết, bạn cần bổ sung các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng cần thiết để tăng cường chức năng của tuyến này.

    Tuyến thượng thận sẽ tiết ra 2 hormone adrenalin và cortisol đóng vai trò quan trọng làm giảm stress của con người. Adrenalin hoạt động tương đối ngắn còn cortisol đóng vai trò kiểm soát stress lâu dài. Lúc đầu, tuyến thượng thận tiết ra adrenalin làm giảm căng thẳng ngay tức thời, tăng nhịp tim và huyết áp. Sau đó, sẽ tiết ra khá nhiều cortisol để kiểm soát stress lâu dài. Adrenalin và cortisol đều có xu hướng tăng lượng đường thông qua khả năng điều khiển quá trình chuyển các nhiên liệu không có đường như acid amin thành glucose. Các hormone này cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều khiển hoạt động của hệ miễn dịch.

    Bất kì cơ quan nào trong cơ thể cũng cần “bảo trì” thì mới có thể hoạt động tốt. Tuyến thượng thận cũng vậy. Để tăng cường chức năng tuyến thượng thận, bạn nên bổ sung các chất dinh dưỡng sau đây cho cơ thể:

      1. Thực phẩm giàu chất đạm
      2. Các thực phẩm giàu Vitamin C
      3. Thực phẩm giàu vitamin B
      4. Sữa nghệ

    Thực phẩm giàu chất đạm

    Thực phẩm giàu chất đạm

    Các thực phẩm giàu chất đạm có tác dụng giúp ổn định lượng đường và giảm nhu cầu đường không cần thiết. Chất đạm có nhiều trong đậu xanh tươi, đậu nành và hạnh nhân. Các loại thực phẩm này được áp dụng cho chế độ ăn protein cân bằng để hỗ trợ tuyến thượng thận khỏe mạnh.

    Các thực phẩm giàu Vitamin C

    Thực phẩm giàu vitamin C

    Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng cường chức năng tuyến thượng thận. Thiếu Vitamin C cơ thể có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Đặc biệt, thiếu vitamin C tuyến thượng thận gặp nhiều khó khăn trong việc sản sinh cortisol. Vì vậy, bạn nên thường xuyên ăn nhiều cam, xoài, đào, rau lá xanh và cà chua sẽ để bổ sung vitamin C cho cơ thể.

    Thực phẩm giàu vitamin B

    Theo các chuyên gia dinh dưỡng, thực phẩm giàu vitamin B có khả năng hỗ trợ tuyến thượng thận và làm tăng mức năng lượng trong suốt thời kỳ căng thẳng. Khi bổ sung vitamin B cũng giúp ngủ ngon và sâu hơn, tinh thần thoải mái. Hàng ngày, bạn nên bổ sung vitamin B thông qua các thực phẩm như: Bơ, chuối, khoai tây, yến mạch và đậu.

    Ngoài ra, vitamin B cũng có trong các loại dầu có hàm lượng chất béo lành mạnh như: Dầu dừa, dầu ôliu, dầu từ các loại hạt lạc, hạnh nhân, điều. Trong chế độ ăn uống của bạn cho thêm những thực phẩm giàu vitamin B này cũng giúp hỗ trợ chức năng tuyến thượng thận hiệu quả.

    Thực phẩm giàu vitamin B

    Sữa nghệ

    Sữa nghệ có nhiều dưỡng chất tốt cho bà bầu, ngủ sẽ sâu giấc và ngon hơn. Khi uống sữa nghệ giúp trẻ hóa cơ và các dây thần kinh mệt mỏi, tốt cho tuyến thượng thận.

    Việc phục hồi tuyến thượng thận không thể làm trong một thời gian ngắn và cũng không phải việc dễ dàng. Vì vậy, thực phẩm để hỗ trợ chức năng tuyến thượng thận cần phải được duy trì hàng ngày để tăng cường hiệu quả của cortisol, giúp tuyến thượng thận nghỉ ngơi và có khả năng tái tạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Thực Phẩm Bổ Thận, Bổ Máu, Tăng Sinh Lực Tốt Nhất: Người Muốn Thận Khỏe Không Nên Bỏ Qua
  • Thực Phẩm Bảo Vệ, Tăng Cường Chức Năng Thận
  • Bài Thuốc Tăng Cường Chức Năng Của Thận Giúp Phòng Ngừa Đau Thần Kinh Tọa
  • Chỉ Cần Bấm Huyệt Này, Ham Muốn Của Chàng Và Nàng Sẽ Tăng Gấp Bội
  • 10+ Cách Bấm Huyệt Chữa Bệnh Thận Phục Hồi Nhanh Chóng Và Hiệu Quả
  • Chức Năng Dinh Dưỡng Vitamin B Và Sự Phát Triển Của Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Dinh Dưỡng Của Vitamin D
  • Môn Sinh Lý Dinh Dưỡng Slddnop Ppt
  • Vai Trò Của Vitamin Và Khoáng Chất Trong Việc Nâng Cao Miễn Dịch
  • Tác Dụng Và Lợi Ích Của Vitamin D
  • Vai Trò Của Vitamin D Trong Cơ Thể
  • Chức năng dinh dưỡng vitamin B và sự phát triển của trẻ

    Đối với trẻ nhỏ, việc bổ sung đầy đủ Vitamin nói chung và Vitamin nhóm B nói riêng sẽ đảm bảo sự phát triển đều đặn và cân đối trong những năm tháng đầu đời.Vitamin nhóm B bao gồm các loại B1, B2, B3, B5, B6, B7, B8, B9, B12. Nhìn chung Vitamin nhóm B đều có tác dụng hỗ trợ quá trình sản xuất năng lượng trong cơ thể cũng như trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong tế bào.Vitamin nhóm B còn góp phần điều hòa tâm sinh lý, giúp chống lại những tâm trạng tiêu cực, mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng. Có thể nói, Vitamin nhóm B đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của trẻ, cả về thể chất lẫn trí tuệ. Tuy nhiên, Vitamin nhóm B không tồn tại nhiều trong thực phẩm tự nhiên và dễ bị phân hủy trong nước. Do đó, không dễ dàng bổ sung vitamin nhóm B cho trẻ, nhất là với trẻ biếng ăn hoặc gặp rắc rối với đường tiêu hóa.Bên cạnh chức năng chung của nhóm mỗi loại Vitamin B có vai trò riêng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ nhỏ. Một số Vitamin thuộc nhóm B6 có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ tiêu hóa, chuyển hóa hấp thu các dưỡng chất của trẻ.

      Vitamin B1 hay còn gọi là thiamin

      Vitamin B1 có nhiều trong vỏ của các hạt ngũ cốc như: gạo, lúa mì… Nếu ăn gạo xay sát quá kỹ dễ có nguy cơ bị thiếu vitamin B1. Vitamin B1 còn có nhiều trong đậu, đỗ, thịt, cá. Tuy nhiên, vitamin B1 lại rất dễ bị hao hụt trong quá trình nấu nướng, cho nên nguy cơ thiếu B1 dễ xảy ra đối với trẻ em.

      Vitamin B1 cần thiết cho việc tạo ra một loại men (enzym) quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa đường và quá trình phát triển của cơ thể . Ngoài ra Vitamin B1 kích thích sự tạo thành một loại men tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn, kích thích cảm giác thèm ăn. Khi thiếu Vitamin B1 trẻ thường biếng ăn, mệt mỏi, nhất là trẻ lười ăn chất bột đường như bột, cháo, cơm… thì việc bổ sung Vitamin B là cần thiết.

      Vitamin B2 có tên gọi quốc tế là Riboflavin

      Trong thiên nhiên, Vitamin B2 có trong tất cả các tế bào sống. Các loại thực phẩm dùng hàng ngày như ngũ cốc, rau xanh, đậu các loại, thịt, trứng, sữa, tim, thận, gan, lách… đều có Vitamin B2 (tỉ lệ mất Vitamin B2 khi chế biến thức ăn khoảng 15-20%. Hàm lượng Vitamin B2 trong động vật cao hơn thực vật.

      Vitamin B2 thải trừ chủ yếu theo nước tiểu (làm cho nước tiểu có màu vàng) một phần nhỏ thải trừ theo phân. Trong cơ thể, Vitamin B2 có nhiều vai trò quan trọng: là thành phần quan trọng của các menoxydase; trực tiếp tham gia vào các phản ứng oxy hóa hoàn nguyên; khống chế các phản ứng hô hấp chuyển hóa của tế bào; chuyển hóa các chất đường, đạm, chất béo ra năng lượng để cung cấp cho các tế bào hoạt động; tác động đến việc hấp thu, tồn trữ, sử dụng sắt trong cơ thể (rất quan trọng trong việc phòng chống thiếu máu do thiếu sắt). Vitamin B2 tham gia và sự chuyển hóa thức ăn thành năng lượng bằng cách chuyển hóa chất bột, chất béo và chất đạm thông qua các loại men, giúp cơ thể tự cân bằng dinh dưỡng . Nó cũng có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt, nhất là khả năng cảm thụ màu. Vitamin B2 kết hợp với Vitamin A làm cho dây thần kinh thị giác hoạt động tốt, đảm bảo thị giác của trẻ phát triển bình thường, trong những trường hợp bị tiêu chảy kéo dài , tổn thương niêm mạc ruột vitamin B2 còn có tác dụng phục hồi làm lành tổn thương niêm mạc ruột

      Vitamin B5 hay còn gọi là acid pantothenic

      Được tìm thấy trong cơ thể chủ yếu dưới dạng coenzym A, tiền chất của coenzym A. Quá trình tổng hợp coenzym A được thực hiện đối với các tế bào của cơ thể. Nồng độ của a-xít pantothenic và coenzym thay đổi tùy theo tổ chức và tình trạng dinh dưỡng.

      Tầm quan trọng của Vitamin B5 đã được xác định: là một trong ba yếu tố thiết lập nên coenzym A, cần thiết cho tất cả các hoạt động chuyển hóa năng lượng của tế bào. Nó tham gia và chuyển hóa lipid, glucid và protid trong quá trình tổng hợp hormon steroid có dẫn xuất từ cholesterol; tham gia vào quá trình lên men tiêu hóa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải phóng năng lượng từ chất béo, chất bột, đạm và rượu.

      Vitamin B5 tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và độ bền của da cũng như niêm mạc. Ngoài ra, nó cũng đóng vai trò trong quá trình phát triển chức năng của hệ thần kinh trung ương.

    • Vitamin B6

      Tham gia vào men tiêu hóa dưới dạng coenzym, đóng vai trò thiết yếu trong chuyến hóa chất đạm, chất bột đường và chất béo, đảm bảo hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra, nó còn tham gia tổng hợp hemoglobin, khi thiếu Vitamin B6 cũng dẫn đến thiếu máu.

      Vitamin B9 hay còn gọi là axit folic

      Tham gia quá trình tạo ra tế bào mới và duy trì sự tồn tại của chúng. Nó đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phân chia và lớn nhanh của tế bào như ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai. Chất này cần thiết trong việc nhân đôi ADN và giúp tránh đột biến ADN (vốn là một yếu tố gây ưng thư)

      Thường ít khi trẻ thiếu một loại Vitamin nhóm B đơn độc mà thường là thiếu nhiều loại cùng một lúc, thường hay gặp ở trẻ biếng ăn, chậm lớn, hay rối loạn tiêu hóa kéo dài. Vì vậy, khi trẻ có biểu hiện biếng ăn, chậm lớn, ngoài việc tìm ra các nguyên nhân để điều trị, các bà mẹ có thể bổ sung các Vitamin nhóm B, kẽm và lysine… để giúp trẻ ngon miệng, phòng chống suy dinh dưỡng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Dinh Dưỡng Của Vitamin
  • Gợi Ý Lựa Chọn Thực Phẩm Chức Năng Cho Mẹ Sau Sinh
  • Những Thực Phẩm Chứa Nhiều Vitamin D Nhất
  • Thực Phẩm Giàu Vitamin D Bạn Nên Biết
  • Thực Phẩm Chức Năng Chứa Vitamin Không Có Tác Dụng Thậm Chí Còn Gây Hại?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100