Thực Hiện Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Trong Giai Đoạn Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Trị Hàng Tồn Kho.
  • Dịch Vụ Mở Khóa Iphone Bị Khóa Quản Lý Từ Xa
  • Tính Năng Phần Mềm Quản Lý Kho
  • Quản Trị Kinh Doanh Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Trị Kinh Doanh – Biabop.com
  • Khoa Quản Trị Kinh Doanh Trường Đại Học Tây Đô
  • Tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí là hết sức cần thiết, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân đang tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Những đòi hỏi của thực tiễn về giám sát, phản biện xã hội

     

    Giám sát và phản biện xã hội là sự tham gia của cá nhân, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội vào một vấn đề, một chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó ngày càng hoàn thiện trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh. Do đó, phản biện xã hội là sự tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của các giai tầng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội; là sự thể hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, thước đo trình độ phát triển của một xã hội. Phản biện xã hội là sự tập hợp sức mạnh cộng đồng để giải quyết vấn đề xã hội. Chính vì vậy, làm tốt công tác phản biện xã hội là tạo được sức mạnh to lớn cho các phong trào hành động cách mạng.

     

    Phản biện và tự phản biện là “cách để cuộc sống diễn ra, cuộc sống đi lên… Ở vị trí quyền lực, coi trọng phản biện sẽ có được phản biện xã hội có tổ chức, giúp ích lớn cho ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né phản biện xã hội, kết quả là nhận được phản biện xã hội tự phát – mảnh đất thuận lợi để hình thành tâm thế phản kháng xã hội”(1).

     

    Trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta, bên cạnh những thuận lợi cơ bản và tính ưu việt nổi trội, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tình trạng duy ý chí, chủ quan. Do vậy, cần phải có một cơ chế cụ thể, rõ ràng, minh bạch để nhân dân bày tỏ thẳng thắn ý kiến, thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Ðiều này là thực sự cần thiết đối với các dự thảo, dự án, dự kiến những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Giám sát và phản biện xã hội sẽ giúp Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách có thực sự hợp quy luật và hợp lòng dân hay không, giúp Đảng và hệ thống chính trị thực sự vì dân để dân tin Đảng, đi theo Đảng. Thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của mình, nhân dân tham gia đóng góp ý kiến đối với các chủ trương, chính sách, giúp không ngừng hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ngày càng tốt hơn, từ đó phục vụ nhân dân ngày càng hiệu quả hơn. Người dân tham gia giám sát, phản biện xã hội với tư cách vừa là người chịu sự lãnh đạo, vừa là người làm chủ, vừa là người thực hiện, đồng thời vừa là người được phục vụ và thụ hưởng. Nhận thức được tầm quan trọng của giám sát và phản biện xã hội, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội”(2).

     

    Báo chí với chức năng giám sát và phản biện xã hội

     

    Giám sát và phản biện xã hội là một trong những chức năng cơ bản của báo chí. Những năm qua, báo chí đã thực hiện khá tốt chức năng này, đã cùng với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, nhân dân tích cực tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp phần đáng kể tạo sự đồng thuận, thống nhất trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

     

    Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ghi nhận, yêu cầu báo chí cách mạng Việt Nam đảm nhận vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội. Nghị quyết Đại hội nêu rõ: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước…”(3). Trước đó, trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII (tháng 2-1999), Đảng ta đã khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.

     

     

    Xã hội càng phát triển thì dân chủ càng mở rộng, quyền lực của nhân dân càng được tăng cường, đặc biệt là quyền giám sát các cơ quan công quyền, các công chức, viên chức cơ quan hành chính nhà nước nhằm hạn chế, kiểm soát việc lạm dụng quyền lực. Bởi khi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến lạm dụng; lạm dụng quyền lực dẫn đến tha hóa quyền lực. Vì vậy, việc tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, nhân dân và báo chí là hết sức cần thiết, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân đang tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     

    Những năm qua, báo chí đã chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội, đóng góp tích cực vào việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các luận điệu thù địch, sai trái, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội đang làm cản trở sự phát triển của đất nước. Trong phòng, chống tham nhũng, báo chí đóng vai trò là một chủ thể khơi nguồn phản biện xã hội một cách mạnh mẽ nhất. Phần lớn các sự kiện, hiện tượng tham nhũng mà báo chí nêu ra đã tạo áp lực cũng như tạo cơ hội, điều kiện cho các cơ quan chức năng vào cuộc chống tham nhũng.

     

    Trên thực tế, nhiều vụ tiêu cực lớn, dù thủ đoạn, hành vi tham nhũng có tinh vi, phức tạp, nhưng cũng đã được nhân dân và báo chí lật tẩy. Cho dù còn có những hạn chế, khuyết điểm của việc báo chí tham gia chống tiêu cực, tham nhũng, song phải khẳng định một điều, báo chí luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Sức lan tỏa của báo chí rất nhanh và lớn, nhất là trong xu thế báo chí kết nối mạng internet toàn cầu. Đó là cơ sở thực tiễn của việc báo chí tích cực tham gia giám sát và phản biện xã hội.

     

    Trong vai trò giám sát và phản biện của mình, báo chí không chỉ thông tin mà còn thể hiện chính kiến, quan điểm đối với các vấn đề của thực tiễn đời sống xã hội. Trong thời gian gần đây, không ít văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành Trung ương quy định thiếu tính thực tiễn, chưa ra đời hoặc vừa ra đời đã… “chết yểu”, như quy định ngực lép không được lái xe; quy định Bà mẹ Việt Nam anh hùng được cộng điểm thi đại học; đưa tên bố mẹ vào chứng minh thư nhân dân; quy định về số vòng hoa trong tang lễ; quy định thực phẩm không được để quá 8 tiếng đồng hồ, hay dự thảo thông tư quy định nơi uống bia phải có nhiệt độ dưới 30 độ C… Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nêu trên của các bộ, ngành, khi đưa ra lấy ý kiến nhân dân, hoặc khi biết thông tin, báo chí đã đồng loạt có những bài phản biện và kết quả là nhiều bộ, ngành phải thu hồi lại dự thảo, hoặc chỉnh sửa các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành.

     

    Mặt khác, báo chí cũng đã khơi gợi vấn đề, mở diễn đàn tập hợp ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia và các tầng lớp nhân dân đóng góp vào dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, giúp cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp sửa đổi nội dung, quy định của văn bản đó phù hợp thực tiễn cuộc sống, xã hội, từng bước hoàn thiện nền pháp chế XHCN.

     

    Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, nắm bắt đúng bản chất sự kiện, phân tích trúng vấn đề trọng tâm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận, các cơ quan báo chí – truyền thông đã thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, mang lại hiệu quả rõ rệt. Bởi thế, vai trò, chức năng giám sát, phản biện của báo chí ngày càng được khẳng định và sức mạnh của báo chí, niềm tin của công chúng đối với cơ quan báo chí – truyền thông cũng ngày được nâng cao.

     

    Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng, không phải lúc nào, cơ quan báo chí hay nhà báo nào cũng làm đúng, làm tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội. Đã có không ít vụ việc phản biện của báo chí chưa đúng sự thật, chưa khách quan, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương bị phản ánh. Việc đưa thông tin thiếu chuẩn xác, thiếu trung thực, khách quan, thậm chí bịa đặt, bôi đen hoặc tô hồng vì những động cơ cá nhân, vụ lợi. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật của một số cán bộ, biên tập viên, phóng viên các cơ quan báo chí có xu hướng gia tăng.

     

    Nguyên nhân có nhiều, trong đó có nguyên nhân do vụ lợi cá nhân, vì tư thù viết bài, đưa tin thiếu trung thực, không khách quan, hoặc do trình độ hiểu biết có hạn, không am hiểu lĩnh vực giám sát, phản biện xã hội nên đã không có cái nhìn toàn cục, chỉ nắm bắt thông tin và phản ánh theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”.

     

    Mặt khác, trước thực tế toàn cầu hóa về thông tin, “thế giới phẳng”, các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, nhiều thông tin được tự do đưa lên mạng, không được kiểm soát, rồi tin xấu, tin độc hại, bôi nhọ, bịa đặt… núp bóng phản biện xã hội, gây không ít phiền toái cho nhà quản lý cũng như gây hoang mang dư luận. Vì vậy, hơn bao giờ hết cần phải có một đội ngũ các nhà báo chuyên nghiệp, có năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp để phản biện những sai trái, lệch lạc đó bằng việc thông tin chính xác, trung thực, khách quan các sự việc, vấn đề, định hướng dư luận xã hội.

     

    Đẩy mạnh thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo chí

     

    Để báo chí thực hiện tốt hơn nữa vai trò giám sát và phản biện xã hội, cần tập trung làm tốt các mặt sau:

     

    Trước hết, cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của giám sát, phản biện trong xã hội. Phản biện xã hội được ghi trong Văn kiện Đại hội của Đảng: “Phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước. Mọi đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đều phục vụ lợi ích của đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước, khắc phục tệ quan liêu”.

     

    Cần có cơ chế cụ thể, rõ ràng để nhân dân bày tỏ thẳng thắn ý kiến và phản biện đối với dự thảo, dự kiến, dự án, những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cần tuyên truyền sâu rộng để toàn xã hội hiểu rõ hơn về việc thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội; về góp phần để cùng báo chí thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội.

     

    Thứ hai, hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm cho hoạt động trong giám sát, phản biện xã hội của báo chí.

    Phản biện xã hội của báo chí vừa là hoạt động mang tính xã hội, vừa là hoạt động mang tính khoa học, ràng buộc quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình phản biện. Hiện nay, chức năng phản biện xã hội của báo chí mới dừng lại ở chủ trương, đường lối của Đảng, mà chưa được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, vì vậy cơ chế pháp lý cho hoạt động phản biện của báo chí chưa được xác định một cách rõ ràng và đầy đủ. Cần xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động phản biện xã hội của báo chí theo hướng đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Trong xu thế dân chủ hóa hiện nay, cần thiết phải nêu rõ về cơ chế phản biện xã hội của báo chí như một điều luật cơ bản, để bảo đảm và thực thi giám sát và phản biện xã hội của báo chí.

     

    Thứ ba, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị để báo chí thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội.

     

    Bản chất của phản biện xã hội là sự cộng đồng trách nhiệm của các cơ quan Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Và mặc dù, phản biện xã hội là một trong những chức năng cơ bản của báo chí như đã nêu ở trên, nhưng trên thực tế cho thấy, báo chí không thể “đơn độc” trong hoạt động phản biện xã hội mà cần có sự cộng đồng trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội.

    Thời gian qua, việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức đơn vị còn nhiều hạn chế. Có lĩnh vực còn chưa quy định về công khai, minh bạch, dẫn đến tình trạng lạm dụng quy định về bí mật nhà nước để không công khai những nội dung có thể và cần phải công khai, minh bạch, nhất là trong việc xác định giá, đấu giá tài sản doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa và công khai báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước; công khai việc giải phóng mặt bằng, giá bồi thường khi thu hồi đất; công khai trong công tác cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; công khai trong ấn định mức thuế… gây khó khăn cho báo chí khi tiếp cận nguồn thông tin để thực hiện phản biện xã hội. Vì vậy, để báo chí thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội rất cần sự vào cuộc, cộng đồng trách nhiệm của cả xã hội và các cơ quan Đảng, Nhà nước.

     

    Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cho nhà báo.

     

    Đây là một nội dung quan trọng, bởi vì yếu tố con người là cốt lõi của mọi vấn đề. Nhà báo phải được thường xuyên nâng cao về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, bởi vì một nhà báo yếu kém về năng lực nghiệp vụ rất có thể sẽ không đủ trình độ để nhận thức chính xác bản chất của sự việc để phản biện vấn đề, dễ dẫn đến sai sót tai hại. Cùng với đó, rất cần phải thường xuyên tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục pháp luật cho đội ngũ nhà báo để tăng cường bản lĩnh chính trị và nâng cao ý thức nghề nghiệp cho nhà báo. Tự thân mỗi nhà báo cần phải phát huy tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức nghề nghiệp một cách thường xuyên, liên tục, suốt cả đời thông qua hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. Mặt khác, cũng cần phải có sự giám sát, giáo dục của cơ quan báo chí nơi nhà báo trực tiếp công tác, gắn bó sinh mệnh nghề nghiệp của mình, bởi vì chỉ có cơ quan báo chí mới trực tiếp giáo dục, động viên nhắc nhở, răn đe, xử lý kịp thời và hiệu quả những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo./.

     

    ———————————————————-

    Chú thích:

    1. Trần Đăng Tuấn. Phản biện xã hội – câu hỏi đặt ra từ cuộc sống. NXB Chính trị quốc gia, H. 2006, tr 9-10.

    2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật. H. 2006, tr 305.

    3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật. H. 2011, tr 225.

     

    ThS. Nguyễn Quang Vinh

    Học viện Hành chính Quốc gia

    Nguồn tin: Theo tapchicongsan.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Vai Trò Của Báo Chí, Nhà Báo Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Bộ 14 Nguyên Tắc Quản Trị Doanh Nghiệp Của Henry Fayol
  • Hệ Thống Quản Lý Trường Học Tiện Ích
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Vnedu : Trường Thcs Quảng Tân
  • Công Ty Công Nghệ Vnpt
  • Luật Hóa Chức Năng Giám Sát, Phản Biện Của Mặt Trận

    --- Bài mới hơn ---

  • Mình Thắc Mắc Về Chức Năng Của Mainboard
  • Mainboard Là Gì? Tìm Hiểu Kỹ Hơn Về Mainboard (Bo Mạch Chủ)
  • Motherboard Là Gì? Chức Năng Của Bo Mạch Chủ Là Gì?
  • Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?
  • Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?
  • Hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số 05/NQLT-CP-UBTWMTTQVN về ban hành quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư, đã diễn ra ngày 29/3, tại Hà Nội.

    Dự và chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những kết quả đạt được sau 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc và 5 năm thí điểm thực hiện Nghị quyết liên tịch 05. Qua đó nhấn mạnh, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đi vào cuộc sống một cách hiện hữu, toàn diện trên nhiều lĩnh vực; việc tham gia xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân đều có sự phản biện của MTTQ.

    Nhiều mảng, nhiều việc đã đi vào chiều sâu, đáp ứng nhu cầu của nhân dân về dân chủ và dân sinh, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, dân chủ xã hội được mở rộng. Đội ngũ cán bộ của MTTQ ngày càng bản lĩnh, trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm, nhiều người có trình độ chuyên môn tốt, nhất là kinh nghiệm vận động quần chúng, bảo vệ quyền lợi chân chính của nhân dân. MTTQ đã làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân, những mặt trận nóng bỏng đều có sự tham gia của MTTQ Việt Nam; có MTTQ giám sát, cán bộ đảng viên đã giữ gìn hơn, giảm tiêu cực, tham nhũng, cửa quyền đối với nhân dân. Việc thực hiện thí điểm Nghị quyết liên tịch số 05 đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần hình thành tư tưởng cán bộ lo cho dân, vì dân…

    Phó Thủ tướng cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế trong công tác phối hợp giữa chính quyền và mặt trận các cấp. Một số nơi cấp ủy chính quyền chưa thực sự quan tâm, chưa nhận thức đầy đủ chức năng của MTTQ, công tác chỉ đạo chưa phù hợp, có nơi, có lúc còn gây khó khăn cho hoạt động của MTTQ, vai trò của các tổ chức thành viên MTTQ chưa được phát huy đúng mức.

    Phó Thủ tướng đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, Mặt trận các cấp coi việc thực hiện Luật MTTQ Việt Nam là nhiệm vụ của mình; thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng bộ máy Mặt trận để đáp ứng yêu cầu của MTTQ Việt Nam trong thời kỳ mới. Các cấp Mặt trận cần chỉ đạo thực hiện Luật MTTQ Việt Nam, quy chế phối hợp với UBND, HĐND để tạo sự đồng thuận tốt hơn.

    Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp phối hợp chặt với MTTQ Việt Nam chuẩn bị tốt dự án Luật MTTQ Việt Nam sửa đổi nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc, luật hóa các hoạt động của MTTQ, đặc biệt là mối quan hệ giữa MTTQ với các cơ quan tổ chức đã thực hiện tốt trong nhiều năm qua. Các nội dung sửa đổi cần phù hợp với Hiến pháp 1992, trong đó luật hóa chức năng giám sát, phản biện của Mặt trận. Bộ Nội vụ và MTTQ Việt Nam sớm có văn bản chính thức về thực hiện quy chế MTTQ Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư.

    Phó Thủ tướng cũng đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền cần thực hiện tốt hơn quy chế phối hợp với MTTQ và MTTQ cũng cần chủ động phối hợp với các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cùng cấp và các tổ chức thành viên; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, đảng viên thực hiện quy định về giám sát, đồng thời nghiên cứu việc thực hiện quy định về giám sát lồng ghép với thực hiện Quy định 76 của Đảng về sinh hoạt hai chiều của đảng viên ở khu dân cư. MTTQ cần hoàn thiện cơ chế giám sát, có cơ chế bảo vệ người giám sát…

    Theo Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm: Nhờ có luật, MTTQ được tiếp tục tăng cường, mở rộng và phát huy, hình thành được hệ thống tổ chức liên minh chính trị từ Trung ương tới địa bàn khu dân cư. MTTQ đã giương cao ngọn cờ trung tâm đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc. Vai trò là cơ sở chính trị của nhân dân được phát huy ngày càng cụ thể hơn, đem lại hiệu quả thiết thực hơn, thể hiện vai trò của Mặt trận trong góp phần hoàn thiện bổ sung ban hành đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Việc lắng nghe tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân tại các kỳ họp Quốc hội được nâng lên.

    Chu Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức, Hoạt Động Của Mặt Trận Và Các Đoàn Thể Chính Trị
  • Mặt Trận Thực Hiện Tốt Hơn Chức Năng Đại Diện, Bảo Vệ Quyền, Lợi Ích Hợp Pháp, Chính Đáng Của Nhân Dân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh Thái Nguyên
  • Vai Trò Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Gm Là Gì? Mô Tả Công Việc Của General Manager Trong Khách Sạn
  • Chủ Tịch Quốc Hội: Nâng Cao Vai Trò Của Hđnd Trong Thực Hiện Chức Năng Giám Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần ? Quy Định Của Pháp Luật
  • Hội Nghị Giao Ban Công Tác Quý Iii, Triển Khai Nhiệm Vụ Trọng Tâm Quý Iv/2019 Giữa Thường Trực Hđnd Tỉnh Với Thường Trực Hđnd Các Huyện, Thành Phố
  • Huyện Thường Xuân: Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Thường Trực Và Các Ban Hđnd Xã, Thị Trấn
  • Xác Định Đúng Vai Trò, Vị Trí Của Hđnd Cấp Xã: Rõ Trách Nhiệm Người Đứng Đầu
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Vị Trí, Tính Chất Và Chức Năng Của Hội Đồng Nhân Dân Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Đó là ý kiến phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại phiên họp HĐND TP Hà Nội sáng nay (6/7).

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho hay, trong 6 tháng đầu năm, dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh trên toàn thế giới, gây tổn thất lớn về người; kinh tế thế giới rơi vào suy thoái. Nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều hoạt động kinh tế – xã hội bị ngưng trệ.

    Theo Chủ tịch Quốc hội, Hà Nội đã vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát được dịch bệnh; nhanh chóng phục hồi các hoạt động kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân.

    Trong những tháng cuối năm 2021, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, tình hình dịch bệnh Covid-19 được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam.

    Trước tình hình đó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị tại Kỳ họp này, các vị đại biểu cần đánh giá, phân tích chính xác tình hình, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân nhằm đề xuất các giải pháp để triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả nhằm phục hồi và phát triển kinh tế bền vững, đồng thời quyết tâm cao nhất để hoàn thành mục tiêu trong kế hoạch năm 2021.

    Đặc biệt, cần tận dụng tốt cơ chế, chính sách tài chính – ngân sách đặc thù trong Nghị quyết 115 của Quốc hội, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/8/2020 để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, đóng góp nhiều hơn vào kết quả chung của đất nước.

    Chủ tịch Quốc hội đề nghị TP Hà Nội quan tâm làm tốt công tác quy hoạch và quản lý theo quy hoạch trên cơ sở thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định pháp luật về quy hoạch; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đô thị, quản lý đất đai; xử lý nghiêm những vi phạm về trật tự xây dựng, an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng.

    Cùng đó, cần bảo đảm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, không lơ là, chủ quan với những kết quả đã đạt được; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện; tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tập trung giải quyết các điểm nghẽn, bất cập, tạo điều kiện thông thoáng cho nhà đầu tư, doanh nghiệp…

    Chủ tịch Quốc hội lưu ý, cần nâng cao vai trò và trách nhiệm của HĐND trong việc thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của Thành phố, nhất là thẩm quyền của HĐND trong quyết định những chính sách tài chính – ngân sách đặc thù theo Nghị quyết 115 của Quốc hội.

    Nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giám sát, đặc biệt là giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan tư pháp; tập trung giám sát những vấn đề quan trọng, vấn đề nhân dân đang quan tâm…

    Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu HĐND TP cần phối hợp hiệu quả với các cấp, các ngành đánh giá toàn diện khách quan về tình hình, kết quả đạt được trong việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XVI.

    Song song đó, cần tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 35 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chỉ thị 45 của Bộ Chính trị về lãnh đạo thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 để lựa chọn, bầu ra được những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới.

    “Trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ TP và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Thành phố cần chú ý vấn đề nhân sự, tổ chức bộ máy phù hợp với việc thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP Hà Nội theo Nghị quyết 97 của Quốc hội” – Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.

    T.Toàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Thêm Về Chức Năng Giám Sát Của Hđnd
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Nhân Dân, Uỷ Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Đề Tài Khoa Học Về Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Đại Biểu Hdnd Xã Đạ M’rông De Tai Tieu Luan Doc
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Đội Quản Lý Trật Tự Đô Thị Quận
  • Trách Nhiệm Của Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Bàn Thêm Về Chức Năng Giám Sát Của Hđnd

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Tịch Quốc Hội: Nâng Cao Vai Trò Của Hđnd Trong Thực Hiện Chức Năng Giám Sát
  • Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần ? Quy Định Của Pháp Luật
  • Hội Nghị Giao Ban Công Tác Quý Iii, Triển Khai Nhiệm Vụ Trọng Tâm Quý Iv/2019 Giữa Thường Trực Hđnd Tỉnh Với Thường Trực Hđnd Các Huyện, Thành Phố
  • Huyện Thường Xuân: Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Thường Trực Và Các Ban Hđnd Xã, Thị Trấn
  • Xác Định Đúng Vai Trò, Vị Trí Của Hđnd Cấp Xã: Rõ Trách Nhiệm Người Đứng Đầu
  • Trong những năm qua, hoạt động giám sát của HĐND các cấp đã có nhiều cải tiến, chất lượng và hiệu quả ngày càng được khẳng định và nâng cao. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển và chức năng, quyền hạn của HĐND được pháp luật quy định, hoạt động giám sát vẫn còn những hạn chế, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Đó là, các cuộc giám sát chủ yếu do Thường trực, các ban HĐND tổ chức, các Tổ đại biểu và đại biểu tham gia giám sát còn ít, chủ yếu tại kỳ họp; một số cuộc giám sát còn dàn trải; hình thức giám sát chưa phong phú; một số kết luận sau giám sát chưa rõ ràng; chưa sử dụng các chế tài đã được pháp luật quy định…

    Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về chức năng giám sát của HĐND; về vai trò, vị trí của Thường trực, các ban và từng cá nhân đại biểu HĐND trong hoạt động giám sát. Tiếp đến là những hạn chế về năng lực, trình độ và sự thiếu bản lĩnh, trách nhiệm của một số đại biểu. Mặt khác, cơ chế hoạt động giám sát, các quy định về chế tài giám sát trong một số trường hợp chưa sát với thực tiễn.

    Từ việc giải thích đó và với các quy định của pháp luật, có thể khái quát chức năng giám sát của HĐND bao gồm:

    Mục đích của giám sát là nhằm bảo đảm việc thi hành các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND ở địa phương được nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả; giám sát để khẳng định những kết quả đạt được, đồng thời phát hiện những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, từ đó kiến nghị, đề xuất, quyết định các biện pháp, giải pháp thực hiện tốt hơn.

    Chủ thể thực hiện quyền giám sát gồm giám sát của tập thể HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các ban và đại biểu HĐND. Đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND bao gồm Thường trực, các ban HĐND (Thường trực, các ban HĐND vừa là chủ thể vừa là đối tượng giám sát), UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, TAND, VKSND cùng cấp; HĐND cấp dưới trực tiếp và các cơ quan nhà nước khác, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân trên địa bàn.

    Nội dung giám sát bao gồm việc chấp hành pháp luật của Nhà nước (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên) và nghị quyết của HĐND cùng cấp.

    Hình thức giám sát gồm xem xét báo cáo công tác của các đối tượng thuộc quyền giám sát; xem xét việc trả lời chất vấn của những đối tượng này; xem xét việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu; thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND; tiếp xúc cử tri.

    Nguyên tắc giám sát là bảo đảm công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

    Các chế tài của giám sát đó là HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của các đối tượng giám sát có hành vi vi phạm; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp nếu các văn bản đó trái pháp luật, gây thiệt hại về KT – XH, ảnh hưởng an ninh, quốc phòng; bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu; ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn; quyết định giải tán HĐND cấp dưới trực tiếp.

    Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số vấn đề nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND là: cần nhận thức đúng về vị trí, thẩm quyền, chức năng giám sát của HĐND theo luật định; xác định rõ mục đích, ý nghĩa khi chọn nội dung, đối tượng giám sát; trước khi giám sát cần có kế hoạch cụ thể, tập hợp thông tin đầy đủ; lựa chọn hình thức, phương pháp giám sát phù hợp với từng đối tượng; có thái độ công tâm, khách quan và kiên quyết trong quá trình giám sát; lựa chọn vấn đề kiến nghị cụ thể, rõ ràng, thuyết phục; khi cần thiết, sử dụng các chế tài pháp lý nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động giám sát.

    Như vậy, hiểu rõ chức năng giám sát của HĐND sẽ giúp cho chủ thể giám sát tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy định, thẩm quyền, đúng vai trò, vị trí của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, tránh nhầm lẫn với các hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý hành chính khi tiến hành giám sát. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của cơ quan dân cử địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Nhân Dân, Uỷ Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Đề Tài Khoa Học Về Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Đại Biểu Hdnd Xã Đạ M’rông De Tai Tieu Luan Doc
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Đội Quản Lý Trật Tự Đô Thị Quận
  • Trách Nhiệm Của Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Hđnd Tỉnh Khi Không Tổ Chức Hđnd Cấp Huyện
  • Chức Năng Giám Sát Của Hđnd Cấp Xã

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Vào Cuộc Sống:bài Cuối: Thực Quyền Của Hđnd Huyện, Quận, Phường
  • Luận Văn: Hoạt Động Của Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Huyện, Hot
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Hđnd Tỉnh Khi Không Tổ Chức Hđnd Cấp Huyện
  • Trách Nhiệm Của Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Đội Quản Lý Trật Tự Đô Thị Quận
  • Thực trạng

    Theo quy định, HĐND cấp xã cũng có hai chức năng cơ bản: quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định. Vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong hệ thống chính trị ở xã cũng quan trọng như HĐND tỉnh và huyện – là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương. Tuy vậy, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, nhân sự và biên chế chuyên trách ít hơn, phạm vi thẩm quyền giới hạn hơn. HĐND cấp xã có từ 25-30 đại biểu, Thường trực HĐND xã có Chủ tịch và Phó chủ tịch, (một trong hai chức danh hoạt động chuyên trách), không có các ban, không có chuyên viên giúp việc. Mỗi năm HĐND xã tổ chức 2 kỳ họp vào đầu và giữa năm. Giữa 2 kỳ họp, Thường trực đại diện HĐND xã điều hòa, phối hợp hoạt động cùng UBND, UBMT và các tổ chức chính trị, xã hội cùng cấp để thực thi nhiệm vụ đã đề ra và chỉ đạo của cấp trên.

    Nhìn chung, với chức năng, nhiệm vụ được giao, HĐND xã trong các nhiệm kỳ qua đã tích cực tổ chức hoạt động: mỗi năm tổ chức 2 kỳ họp thường lệ, ban hành các nghị quyết về nhiệm vụ phát triển KT-XH cả nhiệm kỳ và mỗi năm; nghị quyết về thu chi ngân sách hàng năm để UBND cùng cấp triển khai thực hiện. Ngoài ra, HĐND xã còn xem xét thông qua các nghị quyết theo yêu cầu của cấp trên như nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; đặt, đổi tên đường; thay đổi địa giới hành chính; thành lập thị trấn, thị xã… để cấp có thẩm quyền xem xét, phê chuẩn.

    Các nghị quyết của HĐND xã ban hành đều đúng pháp luật, đúng trình tự thủ tục, sát tình hình thực tế, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả mang lại khá thiết thực, KT-XH địa phương phát triển năm sau hơn năm trước, an ninh chính trị, trật tự xã hội ổn định, thu nhập, đời sống nhân dân địa phương nâng lên… Nếu dừng lại ở đây, với kết quả đạt được không thể đánh giá hoạt động của HĐND xã hình thức, chất lượng, hiệu quả thấp. Vậy thì tại sao đã và đang có chung nhận định mang tính phổ biến trên phạm vi cả nước là chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND xã chưa đáp ứng yêu cầu?

    Vấn đề là ở chỗ: HĐND xã mới thể hiện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng trong phạm vi thẩm quyền, còn những vấn đề diễn ra trên địa bàn xã, ngoài phạm vi thẩm quyền quyết định của mình thì HĐND xã hầu như đứng ngoài cuộc, không thể hiện được vai trò của người đại diện cho ý chí và quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương.

    Chúng ta đều biết, mọi chủ trương, chính sách của nhà nước đều được tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở. Mỗi chính sách khi triển khai vào thực tế đều tác động thuận hoặc nghịch đối với quyền lợi của người dân. Với nhóm người này thì được lợi (nhiều hoặc ít), nhưng với nhóm người khác lại bị thiệt hại (nhiều hoặc ít). Người được lợi hay bị thiệt đều cần có HĐND ở cấp trực tiếp nhận biết một cách cụ thể để thực hiện vai trò của người đại diện để bảo vệ hoặc bênh vực. Nhưng HĐND xã chưa làm được điều đó.

    Trên địa bàn xã nào cũng có tác động do thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa… gắn liền với đó là việc triển khai hàng loạt công trình, dự án xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, hệ thống giao thông, thủy lợi, thủy điện, du lịch…; các dự án về khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Đồng thời, còn triển khai chính sách thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, xóa mù chữ, phổ cập tiểu học, xây dựng nông thôn mới, xây dựng nếp văn minh đô thị, trợ cấp trợ cứu thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Chính sách nào của Nhà nước cũng nhằm mưu cầu lợi ích cho xã hội và nhân dân nhưng trong thực tế, khi triển khai đều đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận, nhất là những người bị ảnh hưởng trực tiếp của việc thu hồi đất, đền bù giải tỏa nhà cửa, tái định cư… bị ô nhiễm môi trường vì rác thải, nước thải chưa qua xử lý của các nhà máy, làng nghề; không được hưởng đúng chế độ, chính sách của Nhà nước ban hành do cán bộ tắc trách, gian dối, thực hiện không đúng quy định…

    Những vấn đề nêu trên HĐND xã đều biết và ghi nhận qua các hội nghị TXCT định kỳ và qua đơn thư phản ánh, kiến nghị của dân về những sự việc bức xúc, nổi cộm ở địa phương, nhưng việc xử lý, giải quyết thường dừng lại ở báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri. HĐND xã không thể hiện được vai trò là chỗ dựa cho những người bị thiệt hại nên người dân thường phải tự mình đi khiếu kiện lên cấp trên. Hầu như chưa có HĐND xã nào thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo phản ánh của dân để có văn bản báo cáo lên cấp trên hoặc đưa vào chương trình kỳ họp HĐND xã để xem xét, ban hành nghị quyết để bảo vệ, bênh vực lợi ích chính đáng, hợp pháp của dân. Có thể nói, HĐND xã còn xa rời cuộc sống thực tại của người dân.

    Ở nhiều địa phương đã xảy ra tiêu cực, vi phạm chính sách, pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân, một số người vi phạm đã bị phát hiện và xử lý, công luận phê phán, chắc chắn nhân dân ở các xã đó biết, báo cáo phản ánh, kiến nghị với HĐND xã, đáng buồn là HĐND xã không làm được gì để ngăn chặn. Những vụ việc gian dối khi cấp đất, giao đất không đúng đối tượng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho người lấn chiếm đất công, ăn chặn tiền, lương thực, thực thẩm cứu trợ người bị thiệt hại do bão lụt, trả tiền đền bù đất đai, tài sản khi nhà nước thu hồi, gia súc gia cầm bị hủy do dịch bệnh, bị chết do rét vượt thực tế để thu lợi bất chính… đều diễn ra ở xã, cử tri biết, đại biểu biết, HĐND cũng biết nhưng vẫn im hơi, lặng tiếng.

    Thực tế cho thấy, HĐND cấp xã mới chỉ chú trọng và thực hiện được chức năng quyết định, nhưng phần lớn việc quyết định của HĐND là “quyết định theo, quyết định lại”. Các nội dung báo cáo, đề án về KT-XH, về thu chi ngân sách… do UBND cùng cấp trình HĐND xem xét, quyết định đều đã được Cấp ủy, Ban Thường vụ Cấp ủy cùng cấp xem xét, cho ý kiến bằng văn bản rồi, hoặc theo văn bản chỉ đạo cụ thể của cấp trên (quyết định hoặc thông báo giao kế hoạch, chỉ tiêu cụ thể). Mỗi năm HĐND cấp xã tổ chức hai kỳ họp, thông qua và ban hành một số nghị quyết (hình thức như nhau, nội dung chỉ thay đổi một ít về đánh giá tình hình và về các số liệu). Về chức năng giám sát, tại kỳ họp, HĐND xã cũng yêu cầu đại biểu giám sát tốt để quyết định đúng và trúng, nhưng cơ bản HĐND cấp xã chưa chú trọng đúng mức việc thực hiện chức năng giám sát giữa hai kỳ họp, giám sát việc thực thi chính sách của các tổ chức, cá nhân đang được giao nhiệm vụ triển khai trên địa bàn. Do đó, tại kỳ họp chỉ có báo cáo của Thường trực HĐND có nội dung giám sát, thẩm tra báo cáo của UBND cùng cấp, ngoài ra không có báo cáo giám sát chuyên đề nào nữa. Tại kỳ họp, đại biểu chủ yếu nghe báo cáo, thường ít phát biểu ý kiến tranh luận, phản biện, đề xuất sáng kiến mới, không khí kỳ họp thiếu sinh động, sôi nổi, không đáp ứng yêu cầu quản trị về mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương.

    Pháp luật hiện hành quy định đối tượng giám sát của HĐND cấp xã gồm Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, các tổ chức và cá nhân khác trong thực hiện nghị quyết HĐND cấp mình và các chính sách, pháp luật của cấp trên ở địa phương. Nhưng với cơ chế, tổ chức biên chế hiện nay, HĐND xã chỉ đủ điều kiện giám sát đối với các tổ chức và cá nhân cùng cấp ở hai kỳ họp thường lệ, còn đối với các tổ chức và cá nhân ngoài phạm vi đó đang hoạt động tại địa phương thì không thể làm được. Đại biểu thì kiêm nhiệm, chuyên trách chỉ có một người, kinh phí, phương tiện làm việc lại hạn chế, văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ… nên muốn làm tốt chức năng giám sát cũng rất khó.

    Kiến nghị

    Để HĐND xã thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ với chất lượng và hiệu lực, hiệu quả thực sự, đề nghị Quốc hội nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định Luật Tổ chức HĐND và UBND hiện hành về cơ chế, tổ chức HĐND xã tương ứng với nhiệm vụ được giao; đồng thời có văn bản hướng dẫn cụ thể về thực hiện chức năng giám sát các cá nhân, tổ chức thẩm quyền cấp trên được giao nhiệm vụ tác nghiệp trên địa bàn xã. Lấy kết quả hoạt động giám sát, gắn với kết quả hoạt động quyết định làm căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu lực hoạt động của HĐND xã. Có như thế thì vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của HĐND xã sẽ thể hiện cụ thể; ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân mới được phát huy, nhân dân sẽ thường xuyên đóng góp ý kiến xây dựng cho HĐND xã cũng như chính quyền địa phương vững mạnh, trong sạch, đại biểu HĐND xã cũng sẽ năng động, tích cực và đóng góp nhiều sáng kiến mới.

    Đối với Báo cáo giám sát của HĐND xã. Quy định các ban HĐND cấp trên theo lĩnh vực phân công khi nhận Báo cáo giám sát của HĐND xã, thấy quyền lợi của nhân dân bị xâm hại, thì phải tổ chức giám sát và ban hành văn bản xác nhận để tăng giá trị pháp lý và hiệu lực của báo cáo, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

    Khi chưa sửa đổi, bổ sung luật hiện hành, đề nghị UBTVQH có chủ trương cho HĐND cấp xã ở một số tỉnh thí điểm thực hiện Thường trực HĐND xã có 3 thành viên, lập ban HĐND cấp xã để tăng cường giám sát những vụ việc nổi cộm ở địa phương theo phản ảnh, kiến nghị của cử tri.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Bất Cập Trong Hoạt Động Hđnd Cấp Huyện, Cấp Xã
  • Trắc Nghiệm Tin Học 12 Bài 2 (Có Đáp Án): Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu.
  • Tin Học 12 Bài 10: Cơ Sở Dữ Liệu Quan Hệ
  • Chức Năng Các Phím F1
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Tổng Quan Về Khái Niệm Và Vai Trò Của Hệ Điều Hành
  • Báo Chí Thực Hiện Hiệu Quả Chức Năng Giám Sát, Phản Biện Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Học Phần: Lý Luận Báo Chí Quốc Tế (Bắt Buộc)
  • Quyền Hạn Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Chủ Quản Báo Chí
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Cục Báo Chí
  • Cục Báo Chí Quản Lý Cả Báo In Và Báo Điện Tử
  • Đạo Đức Của Nhà Báo Trong Quy Trình Sáng Tạo Tác Phẩm Báo Chí
  • Theo đó, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, sự phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan chủ quản nhằm phát triển và đi đôi với quản lý tốt, nắm bắt kịp thời, phân tích, đánh giá, dự báo các sự kiện vấn đề, tăng cường sự phối hợp trao đổi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của công tác chỉ đạo, định hướng báo chí, khắc phục tình trạng bị động, lúng túng với phương châm: “Chủ động, kịp thời, thuyết phục, nhất là những vấn đề sự kiện quan trọng nhạy cảm có diễn biến phức tạp, tránh để xảy ra khủng hoảng truyền thông, giúp các cơ quan báo chí có điều kiện giữ đúng định hướng thông tin, tạo đồng thuận, niềm tin xã hội…”.

    Cơ quan chủ quản báo chí tăng cường hơn nữa sự phối hợp với cơ quan chỉ đạo quản lý báo chí, hội nhà báo; đẩy mạnh các biện pháp, hình thức nhằm quản lý, thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí; xử lý nghiêm các cơ quan báo chí khi có vi phạm pháp luật.

    Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng phát biểu kết luận Hội nghị.

    Cơ quan báo chí, phải tuân thủ thực hiện việc sắp xếp cơ quan báo chí theo quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Các cơ quan báo chí cần bám sát định hướng, tôn chỉ, mục đích, các vấn đề, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giáo dục chính trị tư tưởng, tích cực phát hiện, cổ vũ nhân tố mới, điển hình tiên tiến, thành tựu trong công cuộc đổi mới. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc. Thực hiện có hiệu quả chức năng tham gia giám sát, phản biện xã hội, đấu tranh kiên quyết với những hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực bằng nhiều phương thức, hình thức. Cân bằng tỉ lệ thông tin tốt-xấu với mục tiêu thông tin tốt, tích cực là dòng chảy chính của xã hội và hãy luôn là thông tin có kiểm chứng nhằm thay màu bức tranh toàn cảnh thông tin nước ta từ “gam tối” sang “gam tươi sáng”.

    Bắt kịp xu thế, nắm bắt xu thế, khai thác tối đa nền tảng Internet để phát triển cơ quan theo mô hình tòa soạn hội tụ, tích hợp đa phương tiện, truyền dẫn đa nền tảng; coi mạng xã hội như một đối tượng để cạnh tranh về thông tin nhưng phải chủ động cung cấp thông tin tích cực trên mạng xã hội và trên môi trường Internet nhằm tạo ra sự cộng hưởng tốt, sự lan tỏa đối với thông tin trên báo chí. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động báo chí theo hướng cung cấp thông tin báo chí phù hợp, kịp thời trên cơ sở phân tích xu hướng “đọc-nghe-xem” của khách hàng. Khai thác tối đa khả năng kết nối, tương tác giữa “khách hàng” và “báo chí”.

    Quang cảnh hội nghị.

    Thực hiện nhất quán phương châm chủ động, nhạy bén

    Phát biểu kết luận Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng ghi nhận tinh thần trách nhiệm, cầu thị, tự phê bình và phê bình nghiêm túc cùng những trăn trở tâm huyết của các đồng chí đại biểu, các cơ quan, đơn vị.

    Để hoạt động tuyên truyền đạt chất lượng, hiệu quả, nhìn lại 2021, cùng với những nhiệm vụ Hội nghị đã xác định cho năm 2021, ông Võ Văn Thưởng đề nghị lưu ý một số nội dung, yêu cầu sau.

    Một là, về chỉ đạo, định hướng nội dung thông tin và thông tin trên báo chí, cần thực hiện nhất quán phương châm chủ động, nhạy bén. Các cơ quan nắm thông tin làm tốt trách nhiệm kịp thời cung cấp thông tin cho báo chí; sự phối hợp giữa các ngành, địa phương với các cơ quan chỉ đạo, quản lý kịp thời, thống nhất hơn; các cơ quan chỉ đạo, quản lý, chủ quản quan tâm, thực hiện kịp thời, đầy đủ, hiệu quả hơn việc tạo điều kiện về thông tin cũng như cổ vũ, động viên, hỗ trợ, bảo vệ các nhà báo, cơ quan báo chí thực hiện các nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm; các cơ quan báo chí tỉnh táo thực hiện chặt chẽ quy trình và phê phán mạnh mẽ hơn các điểm yếu của không ít mạng xã hội về khuynh hướng tiêu cực, cực đoan, độ chuẩn xác thấp, v.v… Làm được điều đó, báo chí sẽ lấy lại niềm tin của công chúng; làm được điều đó, báo chí cách mạng mới thực sự là lực lượng dẫn dắt, định hướng dư luận.

    Tiếp tục rà soát, chấn chỉnh tình trạng xa rời tôn chỉ, mục đích; phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm khắc các sai phạm trong hoạt động báo chí; chấn chỉnh những sơ hở trong tổ chức, quản lý văn phòng đại diện, phóng viên thường trú, sử dụng cộng tác viên. Bộ Thông tin và Truyền thông cần gấp rút xây dựng bộ công cụ định tính, định lượng cụ thể nhằm phân biệt rõ báo điện tử với tạp chí điện tử; phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam chỉ đạo, định hướng kịp thời, nhằm chặn đứng, xử lý thật nghiêm khắctình trạng “báo hóa” tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử – một vấn đề rất bức thiết trong công tác quản lý báo chí, truyền thông hiện nay.

    Năm 2021, cơ quan quản lý Trung ương cũng như các địa phương cần thực hiện tốt hơn, kịp thời hơn việc biểu dương, khen thưởng các đơn vị báo chí và nhà báo có thành tích xuất sắc; phê phán mạnh mẽ, xử lý nghiêm khắc sai phạm, biểu hiện tiêu cực trong hoạt động báo chí, trong đó, công khai danh sách cơ quan báo chí nhiều sai phạm, bị xử lý, cũng như chủ quản các cơ quan báo chí đó – như Hội nghị báo chí toàn quốc thực hiện lần này – phải trở thành một tiền lệ tích cực góp phần khắc phục biểu hiện tiêu cực, khuyết điểm trên.

    Những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng nghề báo cao quý để trục lợi cần phải được ngăn chặn và xử lý với những biện pháp nghiêm khắc nhất; có chế tài, quy định chặt chẽ để những cán bộ báo chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhiều lần, nghiêm trọng phải bị tẩy chay, không còn cơ hội len lỏi vào các cơ quan báo chí.

    Ông Võ Văn Thưởng cho rằng việc đánh giá 2 năm triển khai thực hiện Luật Báo chí 2021 (2017-2018) là cần thiết. Bộ Thông tin và Truyền thông cần xúc tiến, chuẩn bị công việc này chu đáo, trên cơ sở sơ kết của các bộ, ngành, địa phương. Tinh thần chung là bảo đảm tính thực tiễn, khả thi; phù hợp với xu hướng phát triển của báo chí thế giới; đáp ứng yêu cầu hoạt động của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong thời gian dài.

    Các cơ quan quản lý phải xác định việc chủ động đề xuất, chủ động xây dựng cơ chế, chính sách về kinh tế báo chí một cách khoa học, khả thi, phù hợp với xu hướng phát triển truyền thông hiện đại là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm tháo gỡ, giải quyết căn bản bài toán kinh tế báo chí vốn đã đặt ra hàng chục năm qua.

    Ba là, với Hội Nhà báo Việt Nam, ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh về nghiệp vụ: Hội Nhà báo Việt Nam phải đấu tranh chống các “nhà báo salon”, ngồi phòng máy lạnh “cào bàn phím” xào nấu tin bài, áp đặt, suy diễn chủ quan vào các “nhân vật” hư cấu…; cổ vũ nhà báo, phóng viên bám sát thực tiễn sinh động của đời sống xã hội, của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện, tôn vinh những điển hình tiêu biểu, phản ánh những điểm sáng tích cực, những câu chuyện hay về công nhân, nông dân, tri thức, về doanh nghiệp… làm lay động lòng người, hướng con người đến những điều tốt đẹp nhất. Đầu tư nhiều hơn cho công tác nghiệp vụ, đồng thời, phải có những phê phán mạnh mẽ, quyết liệt về sự yếu kém, dễ dãi trong nghiệp vụ của người viết báo, của cơ quan báo chí…

    Tại Hội nghị, Ban Tuyên giáo Trung ương tặng Bằng khen cho 5 cơ quan chủ quản, cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý, cơ quan tham mưu báo chí đã có thành tích xuất sắc trong công tác báo chí năm 2021; 20 cơ quan báo chí đã có thành tích xuất sắc trong thông tin, tuyên truyền, thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2021.

    Đoàn công tác Ban Tuyên giáo Trung ương thăm làm việc tại Hà Lan

    Ngày 27/9, đoàn công tác Ban Tuyên giáo Trung ương do ông Võ Văn Phuông, Phó Trưởng ban thường trực đã có chuyến thăm làm …

    Báo Thế giới & Việt Nam đoạt giải Ba Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại 2021

    Chiều 14/6, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương tổ chức …

    Chuyện làm mới thông tin đối ngoại

    Tìm ra cách thức sáng tạo để công tác thông tin đối ngoại đạt được hiệu quả tốt nhất trong giai đoạn hiện nay là …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Đinh Văn Thu: Báo Chí Phải Làm Tốt Chức Năng Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Để Báo Chí Phát Huy Vai Trò Định Hướng Dư Luận Trong Kỷ Nguyên Số Hóa Và Bùng Nổ Mạng Xã Hội
  • 8 Tính Chất Của Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Báo Chí Phản Biện Và… Phản Biện Báo Chí
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Báo Chí Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Thực Hiện Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Có Tính Chất, Mục Đích Như Thế Nào?
  • Coi Trọng Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận
  • Kinh Tế Du Lịch Trong Mối Quan Hệ Với Hội Nhập Quốc Tế
  • Ngành Du Lịch Làm Những Công Việc Gì
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Và Thực Tiễn Vận Dụng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Giám sát và phản biện xã hội là yêu cầu khách quan, mang tính phổ biến trong việc tổ chức và vận hành quyền lực chính trị của các nhà nước dân chủ. Nó là một trong những bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát quyền lực nhằm khắc phục xu hướng lạm quyền, tha hóa quyền lực nhà nước và là một phần tất yếu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và thực thi dân chủ.

    Hoạt động giám sát ở nước ta, cho đến nay, về thực chất, chủ yếu nằm trong hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước mà cụ thể là của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Hoạt động này cùng với hoạt động kiểm tra của Đảng, hoạt động thanh tra của chính quyền làm thành hệ thống kiểm soát quyền lực từ “bên trong” hệ thống chính trị. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội tuy đã được các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước quy định, nhưng nhìn chung chưa phát huy tác dụng góp phần kiểm soát quyền lực. Đây là một trong những lý do chủ yếu khiến cho nền chính trị ở nước ta tồn tại dai dẳng nhiều vấn đề bức xúc như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cửa quyền của các cơ quan và công chức hành chính, tình trạng lãng phí ngân sách và tài nguyên quốc gia, tình trạng vi phạm dân chủ… Tình trạng này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu hệ thống kiểm soát quyền lực trong đó có vấn đề giám sát và phản biện xã hội.

    Hệ thống giám sát và phản biện xã hội ở nước ta gồm nhiều chủ thể, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng đặc biệt. Hoạt động giám sát của Mặt trận và các đoàn thể được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1992 (bổ sung, sửa đổi năm 2001), sau đó là Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1999) và trong nhiều văn bản pháp luật khác. Cho đến nay, nhìn chung hoạt động này vẫn rất hạn chế về hiệu quả, thậm chí có nhiều ý kiến cho rằng nó còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất và là nội dung yếu nhất trong phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện, dẫn đến hiệu quả rất hạn chế, chưa ngang tầm vị trí pháp lý – chính trị của mình.

    Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là công cụ kiểm soát quyền lực của nhân dân. Thực hiện tốt hoạt động giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ góp phần vào việc giải quyết nhiều vấn đề bức xúc vi phạm quyền lực của nhân dân hiện nay. Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội mà Nghị quyết Đại hội X của Đảng nêu ra “là nhiệm vụ mới, rất quan trọng và nhạy cảm, cần được nghiên cứu thận trọng và tổ chức triển khai có hiệu quả” như Nhận định của Bộ Chính trị tại Thông báo số 73, ngày 10-5-2007.

    Để giúp bạn đọc hiểu thêm về hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay của TS. Nguyễn Thọ Ánh.

    Nội dung cuốn sách gồm 3 chương:

    Chương I: Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Một số vấn đề lý luận

    Chương II: Thực trạng và những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong quá trình thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay

    Chương III: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Cuốn sách khẳng định hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đòi hỏi cấp bách và tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giám Sát, Phản Biện Xã Hội: Chức Năng Quan Trọng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Đối Tượng Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Nâng Cao Năng Lực, Chức Năng Giám Sát Của Mặt Trận Tổ Quốc Và Các Tổ Chức Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Kem Dưỡng Trắng Đa Chức Năng Tổ Yến Birds Nest
  • Các Xét Nghiệm Đông Máu: Bộ Xét Nghiệm Chức Năng Tiểu Cầu
  • Tiểu Cầu Là Gì? Vai Trò Của Tiểu Cầu Trong Cơ Thể Người
  • Nêu Vai Trò Của Tiểu Cầu Trong Quá Trình Đông Máu
  • Tìm Hiểu Tổng Quan Về Giảm Tiểu Cầu
  • (Thanhuytphcm.vn) – Chiều 10/6, Thành ủy TPHCM đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến của Ban Thường vụ các tổ chức chính trị – xã hội TP về góp ý các Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP. Đồng chí Nguyễn Hữu Hiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM chủ trì hội nghị.

    Phát biểu tại hội nghị, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM Nguyễn Hữu Hiệp đề nghị, các đại biểu tham dự hội nghị khi đóng góp cho góp ý các văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng cần lấy từ thực tiễn của TP để góp ý. Về dự thảo báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP, phương hướng nhiệm kỳ 2021 – 2025, dự kiến đề ra 3 chương trình đột phá, 1 chương trình trọng điểm với 47 nội dung. Định hướng nội dung này có những điểm mới về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và đô thị thông minh…

    Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM Nguyễn Hữu Hiệp đề nghị các đồng chí trong Ban Thường vụ các tổ chức chính trị – xã hội của TP theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ của mình đóng góp trí tuệ, sáng kiến để góp ý dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP để nhiệm kỳ tới nâng cao năng lực của các tổ chức chính trị – xã hội; đồng thời góp ý các nội dung khác được nêu trong các Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP.

    Tại hội nghị, nhiều đại biểu đã đánh giá cao nội dung các Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP. Các ý kiến cũng nêu nhiều nội dung nhằm nâng cao hoạt quả hoạt động, trong đó có chức năng giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy và chính quyền. Cùng với đó, đại diện các tổ chức chính trị – xã hội đóng góp ý kiến cho nội dung về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, công tác xây dựng Đảng… trong các Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng bộ TP.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Tổ Chức Chính Trị
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Các Tổ Chức Chính Trị
  • Tổ Chức Chính Trị Xã Hội Là Gì?
  • Vai Trò Của Mttq, Các Đoàn Thể Nhân Dân Và Tổ Chức Xã Hội Trong Quản Trị Địa Phương Hiện Nay
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Ngoại Giao
  • Phân Tích Chức Năng Giám Sát Tối Cao Của Quốc Hội Theo Pháp Luật Hiện Hành.

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quốc Hội
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Cơ Quan Quốc Hội
  • Nghị Quyết 1097/2015/ubtvqh13 Thành Lập Chức Năng Nhiệm Vụ Tổ Chức Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Quy Định Về Việc Thành Lập Và Quy Định Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Cơ Cấu Tổ Chức Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hội Đồng Nhân Dân Cấp Tỉnh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tỉnh
  • Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

    Trong bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định

    là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

    Bên cạnh thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

    thì Quốc hội nước ta còn có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà

    nước. Có thể nói đây là một chức năng quan trọng của Quốc hội đã được ghi nhận ngay trong

    bản Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện một cách cụ thể, đầy đủ hơn.

    Trước hết cần hiểu giám sát là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc

    làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định. Giám sát là hoạt động có mục đích, luôn

    gắn với chủ thể, đối tượng nhất định và được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể. Hiến

    pháp 1946 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định thẩm quyền giám sát tối cao của

    Quốc hội. Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội

    trong các bản Hiến pháp trước, điều 83 Hiến pháp 1992 quy định “…Quốc hội thực hiện

    quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.Để nhằm cụ thể hóa hơn nữa

    về cơ sở pháp lý và nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của chức năng này, ngày 17/6/2003 Quốc

    hội ta đã chính thức thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

    Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do

    nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…Nhưng

    sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất bởi: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa

    Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều

    thuộc về nhân dân. Mà Quốc hội là do nhân dân trực tiếp bầu ra vì vậy Quốc hội là cơ quan

    đại biểu cao nhất của nhân dân đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (điều 83

    Hiến pháp 1992). Mặt khác nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta là

    nguyên tắc tập quyền, quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội. Các cơ quan nhà nước khác như

    Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng, quyền hạn

    theo luật định nhưng đều phải có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội và chịu sự giám sát của

    Quốc hội.

    Mục đích việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đó là nhằm đảm bảo cho

    những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống

    nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm cho các cơ quan

    này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động

    nhịp nhàng, có hiệu lực và hiệu quả, chống những biểu hiện tham nhũng, quan liêu.

    Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội,

    Luật hoạt động giám sát của Quốc hội cho thấy chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được

    thể hiện qua một số nội dung sau:

    Về nội dung và đối tượng giám sát: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với

    toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp

    pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của

    Quốc hội ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các cơ

    quan nhà nước. Như vậy có thể thấy đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội là các cơ quan

    nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội như chủ tịch nước, chính phủ, Tòa án nhân

    dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao…

    Về thẩm quyền giám sát, chủ thể thực hiện quyền giám sát: Theo quy định tại Điều

    1 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối

    với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại

    kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân

    tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”. Để cụ thể hoá hơn

    nữa quy định này, Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định về thẩm quyền

    giám sát đối với từng chủ thể.

    Về căn cứ thực hiện quyền giám sát của Quốc hội: Quốc hội là cơ quan duy nhất có

    quyền lập hiến, lập pháp và quyền giám sát tối cao nhưng trong hoạt động của mình Quốc hội

    cũng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật vì Quốc hội cũng là một cơ quan nằm trong bộ

    máy nhà nước chứ không phải là một tổ chức đứng trên nhà nước. Do đó để đảm bảo tính

    khách quan trong hoạt động giám sát, bảo đảm cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao

    theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, khi thực hiện chức năng giám sát của mình,

    Quốc hội phải có những căn cứ nhất định: Thứ nhất, căn cứ vào những quy định của Hiến

    pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Thứ hai, căn

    cứ vào nội dung văn bản đã ban hành của các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội

    và căn cứ vào thực tế hoạt động của những cơ quan nhà nước đó.

    Các phương pháp thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội: Quốc hội xem

    xét báo cáo của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, chính phủ, Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, định kỳ nghe các cơ quan nhà nước trung ương báo cáo.

    Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Với thẩm quyền huỷ bỏ hoặc đình chỉ

    việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của

    Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có thể nói rằng, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc

    hội có chức năng rất quan trọng trong việc giám sát ban hành các văn bản pháp luật. Bằng việc

    thực hiện chức năng này, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bảo đảm cho việc thực hiện

    pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, bảo đảm thực hiện chức

    năng là cơ quan lập pháp cao nhất. Giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan qua việc tổ

    chức các đoàn đi giám sát. Chất vấn và trả lời chất vấn là một phương pháp giám sát quan

    trọng của đại biểu Quốc hội. Theo quy định tại điều 98 Hiến pháp 1992 đại biểu Quốc hội có

    quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các

    thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm

    sát nhân dân tối cao. Quốc hội còn giám sát thông qua việc xem xét đơn thư khiếu nại của

    nhân dân, qua các thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Những phương pháp

    giám sát trên của Quốc hội có quan hệ gắn bó, hỗ trợ cho nhau. Trong thực tế hoạt động giám

    sát, Quốc hội có thể lựa chọn những phương pháp giám sát khác nhau tùy thuộc vào nội dung

    của vấn đề cần giám sát và vào đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội. Bên cạnh đó Luật

    Hoạt động giám sát của Quốc hội cũng quy định rất sụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện các

    phương pháp giám sát của Quốc hội.

    Như vậy, có thể nói, giám sát tối cao là một trong những chức năng cơ bản và chủ yếu

    của Quốc hội; cùng với lịch sử phát triển của Quốc hội Việt Nam, chức năng này đã, đang và

    sẽ tiếp tục được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn để ngày càng phát huy hiệu quả của nó

    trong việc bảo đảm cho Hiến pháp, luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả

    nước, trước hết là từ các cơ quan nhà nước; bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;

    làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm tôn trọng, phát

    huy quyền dân chủ của công dân, đồng thời duy trì trật tự nhà nước, trật tự xã hội và bảo vệ

    quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Lập Hiến Và Lập Pháp, Giám Sát Tối Cao Của Quốc Hội
  • Sửa Đổi, Bổ Sung Pháp Luật Tổ Chức Và Hoạt Động Của “quốc Hội”
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quốc Hội
  • Luận Văn Đề Tài Tiêu Chí Và Yếu Tố Bảo Đảm Hiệu Quả Tính Đại Diện Của Quốc Hội
  • Mối Quan Hệ Giữa Quốc Hội Với Các Cơ Quan Nhà Nước Ở Trung Ương Theo Hiến Pháp Năm 2013
  • Bài Tập Cá Nhân Luật Hiến Pháp: Phân Tích Chức Năng Giám Sát Tối Cao Của Quốc Hội Theo Pháp Luật Hiện Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Lập Hiến Và Lập Pháp Của Quốc Hội Theo Pháp Luật Hiện Hành?
  • Đề Tài Chức Năng Lập Pháp Của Quốc Hội
  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Lập Pháp Của Quốc Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd
  • Trình Bày So Sánh Về Vị Trí Pháp Lý Và Chức Năng Cơ Bản Của Quốc Hội, Chủ Tịch Nước
  • Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Trong bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Bên cạnh thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thì Quốc hội nước ta còn có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Có thể nói đây là một chức năng quan trọng của Quốc hội đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện một cách cụ thể, đầy đủ hơn. Trước hết cần hiểu giám sát là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định. Giám sát là hoạt động có mục đích, luôn gắn với chủ thể, đối tượng nhất định và được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể. Hiến pháp 1946 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội. Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong các bản Hiến pháp trước, điều 83 Hiến pháp 1992 quy định “…Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.Để nhằm cụ thể hóa hơn nữa về cơ sở pháp lý và nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của chức năng này, ngày 17/6/2003 Quốc hội ta đã chính thức thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội. Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất bởi: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Mà Quốc hội là do nhân dân trực tiếp bầu ra vì vậy Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (điều 83 Hiến pháp 1992). Mặt khác nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta là nguyên tắc tập quyền, quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội. Các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng, quyền hạn theo luật định nhưng đều phải có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội. Mục đích việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đó là nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, có hiệu lực và hiệu quả, chống những biểu hiện tham nhũng, quan liêu. Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội cho thấy chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được thể hiện qua một số nội dung sau: Về nội dung và đối tượng giám sát: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước. Như vậy có thể thấy đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội là các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội như chủ tịch nước, chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao… Về thẩm quyền giám sát, chủ thể thực hiện quyền giám sát: Theo quy định tại Điều 1 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”. Để cụ thể hoá hơn nữa quy định này, Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định về thẩm quyền giám sát đối với từng chủ thể. Về căn cứ thực hiện quyền giám sát của Quốc hội: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp và quyền giám sát tối cao nhưng trong hoạt động của mình Quốc hội cũng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật vì Quốc hội cũng là một cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước chứ không phải là một tổ chức đứng trên nhà nước. Do đó để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động giám sát, bảo đảm cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, khi thực hiện chức năng giám sát của mình, Quốc hội phải có những căn cứ nhất định: Thứ nhất, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Thứ hai, căn cứ vào nội dung văn bản đã ban hành của các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội và căn cứ vào thực tế hoạt động của những cơ quan nhà nước đó. Các phương pháp thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội: Quốc hội xem xét báo cáo của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, định kỳ nghe các cơ quan nhà nước trung ương báo cáo. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Với thẩm quyền huỷ bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có thể nói rằng, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có chức năng rất quan trọng trong việc giám sát ban hành các văn bản pháp luật. Bằng việc thực hiện chức năng này, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, bảo đảm thực hiện chức năng là cơ quan lập pháp cao nhất. Giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan qua việc tổ chức các đoàn đi giám sát. Chất vấn và trả lời chất vấn là một phương pháp giám sát quan trọng của đại biểu Quốc hội. Theo quy định tại điều 98 Hiến pháp 1992 đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội còn giám sát thông qua việc xem xét đơn thư khiếu nại của nhân dân, qua các thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Những phương pháp giám sát trên của Quốc hội có quan hệ gắn bó, hỗ trợ cho nhau. Trong thực tế hoạt động giám sát, Quốc hội có thể lựa chọn những phương pháp giám sát khác nhau tùy thuộc vào nội dung của vấn đề cần giám sát và vào đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội. Bên cạnh đó Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội cũng quy định rất sụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện các phương pháp giám sát của Quốc hội. Như vậy, có thể nói, giám sát tối cao là một trong những chức năng cơ bản và chủ yếu của Quốc hội; cùng với lịch sử phát triển của Quốc hội Việt Nam, chức năng này đã, đang và sẽ tiếp tục được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn để ngày càng phát huy hiệu quả của nó trong việc bảo đảm cho Hiến pháp, luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, trước hết là từ các cơ quan nhà nước; bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm tôn trọng, phát huy quyền dân chủ của công dân, đồng thời duy trì trật tự nhà nước, trật tự xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tailieu.vn: Sách Hoan Thien Co Che Phap Ly Dam Bao Chuc Nang Giam Sat Cua Quoc Hoi
  • Đề Tài Hoàn Thiện Chức Năng Giám Sát Của Quốc Hội Việt Nam
  • Chủ Tịch Quốc Hội Gợi Ý Thành Lập Bộ Thanh Niên
  • Chân Dung Chủ Tịch Quốc Hội Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (1946
  • Chủ Tịch Quốc Hội: Cơ Quan Chức Năng Đang Xem Xét Vụ Án Hồ Duy Hải
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50