Biện Pháp Thi Hành Luật Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyên Truyền, Giáo Dục Pháp Luật Cho Nhân Dân
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Ở Hà Tĩnh
  • Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Trong Nhà Trường Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Hải Hòa
  • Một Số Biện Pháp Tổ Chức Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Đạt Hiệu Quả Ở Trường Tiểu Học
  • Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

    Căn cứ Luật phổ biến, giáo dục pháp luật ngày 20 tháng 6 năm 2012;

    Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

    Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật,

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và một số biện pháp thi hành Luật này.

    Điều 2. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp

    Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 25 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

    1. Ban hành các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn, quy tắc nghề nghiệp phổ biến, giáo dục pháp luật.

    2. Đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp về tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    4. Ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

    5. Tổng hợp, thống kê, báo cáo Chính phủ về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi cả nước.

    6. Sơ kết, tổng kết, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong tổ chức, thực hiện Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

    Điều 3. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 25 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

    a) Tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ và hướng dẫn của Bộ Tư pháp;

    b) Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    c) Thực hiện việc thống kê, báo cáo Bộ Tư pháp về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

    d) Sơ kết, tổng kết, khen thưởng các tập thể, cá nhân trong ngành, lĩnh vực có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

    đ) Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

    2. Tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều này.

    Điều 4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp

    1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều 6, Khoản 2 Điều 27 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

    a) Tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo trách nhiệm quản lý trên địa bàn và hướng dẫn của Bộ Tư pháp;

    b) Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn trực thuộc, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn;

    c) Thực hiện việc thống kê, báo cáo về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

    d) Sơ kết, tổng kết, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức, thực hiện Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương;

    đ) Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

    2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều 6, Khoản 2 Điều 27 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và có trách nhiệm sau đây:

    a) Tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp huyện;

    b) Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    c) Thực hiện việc thống kê, báo cáo về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện;

    d) Sơ kết, tổng kết, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức, thực hiện Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn;

    đ) Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

    3. Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

    NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Điều 5. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Ngày Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngày Pháp luật) được tổ chức hằng năm vào ngày 09 tháng 11, bảo đảm thiết thực, hiệu quả.

    Nội dung, hình thức và trách nhiệm tổ chức Ngày Pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định này.

    Điều 6. Nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật

    1. Ngày Pháp luật được tổ chức với các nội dung sau đây:

    a) Khẳng định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội;

    b) Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật;

    c) Tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực với đời sống của nhân dân, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị;

    d) Vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;

    đ) Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật;

    e) Nội dung khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

    2. Ngày Pháp luật có thể được tổ chức dưới các hình thức sau đây:

    a) Mít tinh; hội thảo; tọa đàm;

    b) Thi tìm hiểu pháp luật;

    c) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động; triển lãm;

    d) Các hình thức khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

    Điều 7. Trách nhiệm hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật và trách nhiệm tổ chức Ngày Pháp luật

    1. Trách nhiệm hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật

    a) Hằng năm, Bộ Tư pháp hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật trong phạm vi cả nước;

    b) Trên cơ sở hướng dẫn tổ chức Ngày Pháp luật của Bộ Tư pháp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật cho các tổ chức thành viên.

    2. Trách nhiệm tổ chức Ngày Pháp luật

    a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức Ngày Pháp luật;

    b) Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên của Mặt trận trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình tổ chức Ngày Pháp luật cho các hội viên, đoàn viên của tổ chức mình.

    XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP,

    Điều 8. Chính sách hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

    1. Tổ chức, doanh nghiệp tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng các chính sách hỗ trợ sau đây:

    c) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

    2. Cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng các chính sách hỗ trợ sau đây:

    a) Được hưởng chính sách quy định tại Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều này;

    b) Người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng quy định tại Điều 17 và Điều 20 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật mà không hưởng lương từ ngân sách nhà nước; già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng chính sách quy định tại Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều này; hưởng thù lao và chế độ khi tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật;

    c) Giáo viên dạy môn giáo dục công dân cho người khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập được hưởng phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo trực tiếp giảng dạy người khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật.

    Điều 9. Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với một số tổ chức hành nghề về pháp luật và tổ chức xã hội nghề nghiệp về pháp luật

    1. Nhà nước khuyến khích Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các hội công chứng, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác về pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, công chứng tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí cho nhân dân; tạo điều kiện cho thành viên của tổ chức mình tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn hoặc theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

    2. Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, hội công chứng, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác về pháp luật hướng dẫn việc tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí hằng năm của luật gia, luật sư, công chứng viên, hội viên.

    3. Hội Luật gia các cấp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hội công chứng, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác về pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, công chứng và các thành viên của các tổ chức này tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng chính sách quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định này.

    CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

    Điều 10. Bảo đảm về tổ chức và cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

    1. Căn cứ nhu cầu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trực thuộc Vụ Pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ.

    2. Ngoài việc thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 38 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bố trí đủ công chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý; chỉ đạo các trường, cơ sở dạy nghề thuộc phạm vi quản lý bố trí đủ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật.

    Điều 11. Bảo đảm kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật

    1. Kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan, tổ chức thụ hưởng ngân sách và Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc lập dự toán kinh phí được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật.

    2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; quy định cụ thể về chế độ của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù phù hợp với từng thời kỳ.

    Điều 12. Hiệu lực thi hành

    Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 5 năm 2013.

    Điều 13. Trách nhiệm thi hành

    1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao tổ chức thực hiện các quy định của Nghị định này.

    2. Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định này

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Pháp Luật Cho Sinh Viên
  • Tập Trung Khắc Phục Những Tồn Tại, Hạn Chế Của Ngành Giáo Dục
  • Bộ Trưởng Phùng Xuân Nhạ: 5 Giải Pháp Khắc Phục Yếu Kém Về Giáo Dục
  • Bốn Giải Pháp Thúc Đẩy Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Chức Năng Của Phòng Giáo Dục Trung Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Thị Xã Từ Sơn
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh Lai Châu
  • Giúp Ban Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chỉ đạo công tác giáo dục trung học:

    – Quản lý nhà nước về thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch và chất lượng giáo dục THCS, THPT, trung tâm KTTH-HN-DN.

    – Quản lý nhà nước về nội dung chương trình, kế hoạch, chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên THCS, THPT, trung tâm KTTH-HN-DN.

    Cụ thể về nhiệm vụ:

    a) Chỉ đạo các Phòng giáo dục và Đào tạo, các trường THPT, các trung tâm Kỹ thhuật tổng hợp – Hướng nghiệp – Dạy nghề thực hiện các qui định của Bộ và của tỉnh về nhiệm vụ năm học, về thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, dạy học theo mục tiêu đào tạo và các qui định về chuyên môn, giáo dục hướng nghiệp, lao động sản xuất trong và ngoài nhà trường.

    b) Chủ trì phối hợp các phòng ban xây dựng kế hoạch, chỉ đạo kiểm tra thực hiện kế hoạch về công tác phổ cập giáo dục THCS; phổ cập bậc trung học; công tác thư viện, thiết bị trường học; công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên của cấp học.

    c) Phối hợp với các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế-xã hội trong công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng trường học đạt Chuẩn quốc gia. Tranh thủ sự giúp đỡ, phối hợp của các ngành để giáo dục pháp luật, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT… trong bậc học.

    Phối hợp với Tỉnh đoàn TNCS Hồ Chí Minh để chỉ đạo các hoạt động đoàn, đội trong trường trung học. Thường trực công tác giáo dục môi trường của ngành.

    d) Phối hợp tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các kì thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh, thi học sinh giỏi; đánh giá chất lượng giáo dục của các trường, giáo viên THCS, THPT .

    e) Phối hợp hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các qui định về thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, đình chỉ hoạt động các trường THCS, THPT, TTKTTH-HN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Các Nhà Tâm Lý Học Giáo Dục Là Gì? / Tâm Lý Học
  • Tiểu Luận Vai Trò Của Ý Thức Đạo Đức Trong Đời Sống Xã Hội
  • Tổng Quan Về Đạo Đức Kinh Doanh
  • Thuốc Ancan Có Tốt Không? Uống Thuốc Ancan Bao Nhiêu Lâu Mới Thấy Hiệu Quả
  • Uống Sản Phẩm Ancan Như Thế Nào Để Có Hiệu Quả Tốt Nhất
  • Chức Năng Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Giá Trị Của Pháp Luật Nhìn Dưới Góc Độ Xã Hội
  • Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 1 Chức Năng Thời Gian Làm Việc
  • Phòng Y Tế Cấp Huyện: Bỏ Thì Thương, Vương Thì Tội
  • Chức Năng Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Là Gì?
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế & Hạ Tầng Huyện Kon Plông
  • Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:

    Một là, chức năng điều chỉnh

    Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

    Hai là, chức năng bảo vệ

    Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hnàh vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự.

    Ba là, chức năng giáo dục

    Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật. Việc giáo dục có thể được thực hiện thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự,…).

    Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Pháp Luật, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Của Phòng Nội Vụ Thuộc Ủy Ban Huyện?
  • Oppo F9 Chính Hãng 64Gb Ram 4Gb
  • Thay Màn Hình Oppo F9 Chuẩn Zin Với Giá Kịch Sàn Tại Tphcm
  • Đánh Giá Camera Kép Trên Oppo F9: Có Ngon Như Quảng Cáo?
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • Cơ Cấu Tổ Chức, Biên Chế Của Báo Pháp Luật Việt Nam
  • Làm Rõ Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Lực Lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam
  • Bản Chất Và Vai Trò Của Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Pháp Luật?
  • Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp và ý nghĩa xã hội của pháp luật.

    Pháp luật có các chức năng sau:

    1) Thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể nắm quyền lực nhà nước. Các chủ thể nắm quyền lực nhà nước trong các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể là giai cấp chủ nô, vua, quan và các tầng lớp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản hoặc tất cả các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội;

    2) Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các thiết chế chính trị – xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân và con người;

    3) Điều chỉnh các quan hệ trong xã hội nhằm thiết lập và duy trì một trật tự xã hội nhất định;

    4) Giáo dục các công dân và cá nhân trong xã hội.

    Khi thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định, pháp luật có thể tác động lên ý thức của con người bằng các biện pháp khuyến khích các hành vi có ích cho xã hội (như quy định về việc tặng thưởng các danh hiệu cao quý), trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật (như quy định các hình phạt tiền, cấm cư trú, trục xuất, quản thúc, lao động cải tạo, phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình…) qua đó pháp luật giáo dục con người thành các công dân và cá nhân tốt cho xã hội. Như vậy, ngoài các chức năng đã trình bày trên, pháp luật còn có chức năng giáo dục con người.

    • Yêu cầu phản tố là gì ? Quy định về yêu cầu phản tố(09/11)
    • Yêu cầu của đương sự là gì ? Quy định về yêu cầu của đương sự(09/11)
    • Yếu tố nước ngoài là gì ? Quy định pháp luật về yếu tố nước ngoài ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là gì ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật là gì ? Quy định về ý thức pháp luật(09/11)
    • Ý thức công dân là gì ? khái niệm ý thức công dân được hiểu thế nào ?(09/11)
    • Ý chí nhà nước là gì ? Khái niệm ý chí nhà nước hiểu thế nào cho đúng ?(09/11)
    • Xử phạt vi phạm hành chính là gì ? Quy định về xử phạt vi phạm hành chính(09/11)
    • Xử lý vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về xử lý vi phạm pháp luật(09/11)
    • Xử lý vi phạm kỷ luật lao động là gì ? Quy định về xử lí vi phạm kỷ luật lao động(09/11)
    • Bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?
    • Vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về hành vi vi phạm pháp luật
    • Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là gì ? Quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Công Thương Theo Quy Định Pháp Luật
  • Đề Tài Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tiểu Luận Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí
  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Theo TTXVN ngày 3-11-2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, trên cơ sở hai bảo tàng thuộc loại lớn nhất ở Việt Nam là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng. Theo đề án, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia không chỉ là nơi trưng bày các hiện vật, tài liệu giới thiệu tiến trình lịch sử Việt Nam qua các thời đại, mà còn là trung tâm thông tin, ngân hàng dữ liệu về di sản văn hóa Việt Nam.

    Công trình này dự kiến khởi công vào cuối năm 2007 và hoàn thành vào cuối năm 2012. Bảo tàng sẽ phải làm tốt việc sưu tập, lưu giữ và trưng bày, giới thiệu thật hấp dẫn, làm sống động lịch sử đấu tranh cách mạng bất khuất kiên cường của nhân dân ta, của Ðảng ta, cũng như những năm tháng đổi mới đầy khó khăn gian khổ của đất nước. Trên cơ sở đó, Bảo tàng Cách mạng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, sưu tầm, từng bước bổ sung cho nội dung trưng bày theo định hướng gắn lịch sử Ðảng với lịch sử dân tộc, thay thế dần các tài liệu phụ trợ bằng các sưu tập hiện vật có dung lượng nội dung cao, có tính hấp dẫn và gợi cảm cho mọi đối tượng người xem…

    Như vậy, một bảo tàng lớn sắp có thay chỗ cho hai bảo tàng đã có. Dù chúng ta đã có một mạng lưới bảo tàng rộng khắp trên cả nước, phần lớn đều có quá trình hoạt động lâu dài, nhưng chủ yếu nặng phần sưu tập, giới thiệu, trưng bày tĩnh. Kho tư liệu, hiện vật quý hiếm và đồ sộ trong phần lớn bảo tàng ít khi được biến thành một lực hấp dẫn với quảng đại quần chúng. Ở Hà Nội tập trung nhiều bảo tàng lớn, cấp quốc gia: Bảo tàng Hồ Chí Minh; Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; Bảo tàng Cách mạng Việt Nam; Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam; Bảo tàng Dân tộc học; Bảo tàng Lịch sử Quân đội; Bảo tàng Phụ nữ… Thành phố Hồ Chí Minh có Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Hồ Chí Minh trên bến Nhà Rồng. Huế có Bảo tàng Cổ vật Huế, Bảo tàng Hồ Chí Minh (Phân viện). Ðà Nẵng có Bảo tàng Chăm. Nam Trung Bộ có Bảo tàng Quang Trung. Ngoài ra, hầu hết các tỉnh đều có bảo tàng tỉnh, nhiều ngành có bảo tàng riêng, các quân chủng của quân đội có bảo tàng như: Bảo tàng Không quân, Bảo tàng Tăng – thiết giáp, Bảo tàng Hải quân… Hàng chục bảo tàng lớn nhỏ, thực ra vẫn ít so với một đất nước giàu truyền thống, giàu bản sắc, có quá trình phát triển lịch sử lâu dài như nước ta.

    Dù vậy, mỗi bảo tàng đều có sức cuốn hút riêng của nó và có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục truyền thống. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chẳng hạn, trên 67.000 hiện vật thể hiện mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống ngoại xâm từ thuở lập nước đến đầu thế kỷ 20, những công cụ lao động sơ khai bằng đá, hơn sáu trăm chiếc trống đồng quý giá… tất cả đủ để cho chúng ta có một hiểu biết tương đối và yêu mến tự hào về dân tộc. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là nơi tái hiện lịch sử đấu tranh trên một trăm năm, từ năm 1858 đến nay, với trên 3.000 hiện vật, phim ảnh, tư liệu. Ðây là nơi duy nhất có những bộ sưu tập rất quý như cờ, sách báo, vũ khí, chiến lợi phẩm ghi dấu lịch sử dân tộc những trang cận đại, một lịch sử oai hùng thấm máu và nước mắt…

    Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là một bảo tàng lớn, có tầm vóc trong khu vực. Lịch sử Mỹ thuật dân tộc, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, mỹ nghệ, được trình bày một cách khoa học và được bảo quản bằng những phương thức tiên tiến, hiện đại…

    Sau gần 6 năm, các nhà sưu tầm cổ vật trải qua nhiều đắn đo, nhưng đến năm nay, bảo tàng cổ vật tư nhân đầu tiên ở nước ta đã ra đời trong tháng 10 vừa rồi: Bảo tàng cổ vật Hoàng Long của ông Hoàng Văn Thông, Thanh Hóa, với gần 6.000 hiện vật quý xuyên suốt chiều dài phát triển của lịch sử Việt Nam. Cũng trong tháng 10, bảo tàng mỹ thuật tư nhân của nữ họa sĩ Phan Ngọc Mỹ ở Hà Tây đi vào hoạt động, cùng nhiều bảo tàng tự phát khác như bảo tàng kỷ vật của ông Lâm Văn Bảng ở Hà Tây, 20 năm lặn lội kiếm tìm, được trên 2.000 hiện vật về các cựu tù Phú Quốc; Bảo tàng của ông Nguyễn Xuân Liên tại Quảng Bình…

    Bảo tàng không chỉ là quá khứ. Không chỉ là nơi để lưu giữ, trưng bày, nhìn ngắm. Bảo tàng trong cuộc sống hiện đại phải là chỗ học tập, giao lưu của các thế hệ. Hầu hết các bảo tàng của chúng ta chưa làm tốt điều đó, chỉ một vài bảo tàng có hoạt động ngoài trưng bày, còn thì lo bảo quản và mở cửa vào những ngày kỷ niệm đã là quá sức. Chưa kể có những bảo tàng cần thiết mà mãi vẫn chưa thể xây dựng.

    Mấy chục năm nay, Bảo tàng Hà Nội long đong tìm chốn dừng chân, hiện vật hết gửi nhờ chỗ nọ lại gửi vào kho kia. Giờ thì các phương án thiết kế đã tạm được chọn, đất cũng đã có, chỉ đợi ngày khởi công. Bảo tàng Hội Nhà văn sau rất nhiều năm chuẩn bị, đến giờ vẫn chưa khánh thành…

    Sự nghiệp đổi mới đất nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang đặt ra cho hệ thống bảo tàng, những cán bộ ngành bảo tàng những nhiệm vụ mới, thử thách mới.

    Nếu trước đây hệ thống bảo tàng cách mạng Việt Nam đã thành công trong việc giáo dục các thế hệ chúng ta “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thì giờ đây, bằng kinh nghiệm tích lũy của mình, các bảo tàng sẽ góp phần giáo dục cho nhân dân ta lòng tự hào với truyền thống oai hùng, ý chí độc lập tự cường, nắm vững thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, quyết tâm đưa dân tộc ta vượt qua đói nghèo lạc hậu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sở Gd Và Đt Nam Định . Vị Trí Và Chức Năng
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Pháp Luật Cho Sinh Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thi Hành Luật Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyên Truyền, Giáo Dục Pháp Luật Cho Nhân Dân
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Ở Hà Tĩnh
  • Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Trong Nhà Trường Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Hải Hòa
  • (Pháp lý) – Giáo dục pháp luật (GDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và GDPL, huy động lực lượng của đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các cuộc vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên trong xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật”. GDPL có vai trò hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến ý thức sinh viên để góp phần nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho họ. GDPL là một trong những khâu, những mắt xích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong phạm vi bài viết này, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp GDPL cho sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nói riêng trong giai đoạn hiện nay. 1. Hoàn thiện và xây dựng các chương trình giáo dục pháp luật

    GDPL giúp sinh viên nắm được những tri thức về pháp luật một cách tương đối có hệ thống, từ đó sinh viên hình thành được niềm tin đối với pháp luật, xác định được thái độ và định hướng hành vi phù hợp với pháp luật. Xây dựng cho sinh viên những cơ sở nhân cách ban đầu theo các chuẩn mực đạo đức về pháp luật, sau khi ra trường sẽ trở thành những công dân biết sống, lao động theo Hiến pháp và pháp luật. Trong quá trình GDPL, phương pháp giáo dục tồn tại với tư cách là một thành tố cấu trúc, có mối quan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục pháp luật cần có sự định hướng những kiến thức cơ bản về pháp luật, để sinh viên nắm vững và chấp hành tốt pháp luật. Phương pháp giáo dục được quy định bởi nội dung giáo dục và đặc điểm của sinh viên do đó phương pháp GDPL cần phải:

    Thứ nhất, gắn với quá trình dạy và học: Vì đây là quá trình mang đặc trưng của tính chất hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động “hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng. Hoạt động dạy của thầy đóng vai trò chủ đạo và hoạt động học của trò đóng vai trò tích cực, chủ động. Vì vậy, phương pháp GDPL là tổng hợp những cách thức làm việc của thầy và của trò. Các mối quan hệ này có thể thực hiện trực tiếp bằng lời, có thể gián tiếp bằng chữ.

    Thứ hai, GDPL phải gắn với ngành nghề đào tạo của Nhà trường: Điều này thể hiện tính mục đích đào tạo rõ nét của nhà trường, nó đòi hỏi phương pháp dạy học các bộ môn cơ bản, cơ sở và chuyên ngành trong đó có GDPL đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo của trường, nó yêu cầu người giảng viên ngoài việc trang bị tri thức khoa học cần phải chú ý rèn luyện cho sinh viên hành vi ứng xử trong cuộc sống và kỹ năng vận dụng trong nghề nghiệp sau này. Bằng cách đó sinh viên sẽ hứng thú, tự giác học tập pháp luật, không coi học pháp luật là thừa, là sự bắt buộc miễn cưỡng, là môn phụ. Ngược lại nếu tách rời GDPL với ngành nghề đào tạo thì nội dung có thể bị chệch hướng, sinh viên sẽ hạ thấp vai trò của pháp luật, không tích cực học tập bộ môn này. Vì vậy, đặc điểm này phải được tính đến khi xây dựng chương trình, lựa chọn nội dung và phương pháp GDPL trong nhà trường.

    Thứ tư, GDPL gắn liền với phương pháp nghiên cứu khoa học, phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên: Là phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung dạy học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối tượng sinh viên ở lứa tuốỉ đang “phồn vinh trí tuệ”. Đòi hỏi giảng viên trong quá trình giảng dạy phải chú ý trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau về một vấn đề nào đó, phải tôn trọng ý kiến của sinh viên, tổ chức, tạo điều kiện giúp cho sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học để không những nắm được chân lý đã có mà còn góp phần tìm ra chân lý mới.

    Thứ năm, việc đào tạo ở trường Đại học công nghiệp Hà Nội là rất đa dạng, phong phú, nó tùy theo mỗi Khoa, mỗi ngành và tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm của giảng viên và sinh viên: Vì phản ánh tính chất phong phú, phức tạp của hoạt động dạy học đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng dạy phải vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, trên cơ sở mở rộng áp dụng công nghệ thông tin và phương tiện trang thiết bị dạy học hiện đại một cách linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với mỗi khoa, mỗi ngành, đặc biệt là đặc điểm của sinh viên. Đòi hỏi trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của giảng viên cần được tăng cường nhằm đạt chuẩn trình độ quốc gia và quốc tế.

    Như vậy, GDPL phải được phối hợp nhiều phương pháp chủ yếu như thuyết trình; trình bày trực quan; đàm thoại; đọc sách và tài liệu; luyện tập; tập thói quen rèn luyện, ứng xử phù hợp vơi pháp luật … Việc lựa chọn các phương án, hình thức GDPL cho sinh viên phải phụ thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng giáo dục. Để việc GDPL có hiệu quả, cần phải lựa chọn và sử dụng tổng hợp, hài hòa các phương pháp: sư phạm, tâm lý, tư duy lôgic, thực hành, giải quyết tình huống cụ thể, trực quan. Tăng cường thái độ học tập tích cực, phát huy sự động não cá nhân, sử dụng nhiều hơn phương pháp “nghiên cứu theo tình huống”, phương pháp “giải quyết vấn đề”, mở rộng các hình thức GDPL ngoại khóa cho sinh viên. Mặt khác, cần tổ chức biên soạn và dịch thuật một hệ thống sách giáo trình và sách tham khảo đầy đủ và cần tổ chức nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên. Đồng thời phải có phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên với những tiêu chí cải tiến cơ bản, cần đưa vào sử dụng các phương pháp đánh giá có tính khách quan cao hơn, vừa đánh giá trình độ nhận thức, vừa đánh giá mức độ rèn luyện qua hành vi chấp nhận Nội quy nhà trường và pháp luật Nhà nước. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên luôn gắn lý luận với thực tiễn sinh động để sinh viên dễ tiếp thu, dễ nhớ và dễ vận dụng vào cuộc sống nhằm đạt được hiệu quả cao trong quá trình học tập.

    2. GDPL trong đào tạo phù hợp với thực tiễn gắn với chuyên ngành học của sinh viên

    Muốn công tác GDPL đạt hiệu quả cao thì GDPL trong đào tạo phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phải gắn công tác phổ biến, GDPL với tính chất, đặc điểm nghề nghiệp và chuyên ngành học của sinh viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trước hết người giảng viên giảng dạy pháp luật phải không ngừng học tập, nghiên cứu, mở rộng kiến thức pháp lý, nâng cao năng lực giảng dạy, phương pháp giảng dạy nhất là các phương pháp giảng dạy hiện đại, phù hợp với từng loại đối tượng. GDPL cho sinh viên phải phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với chuyên ngành học của sinh viên. Đây là yêu cầu phản ánh xu hướng của thời đại, mọi hoạt động của quá trình GDPL phải bám sát, gắn chặt với thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước, thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường.

    3. Phát huy tính tự giác của sinh viên trong hoạt động GDPL

    Sinh viên là tầng lớp xã hội tiến bộ, được tiếp thu có hệ thống những tri thức tinh túy của nhân loại nói chung và của đất nước nói riêng. Họ là những người có khả năng sáng tạo, tích cực, nhanh nhẹn, năng động trong học tập, nghiên cứu, ứng dụng cũng như trong các quan hệ xã hội. Sinh viên có khả năng và mong muốn trở thành công dân tốt, người lao động có trình độ, do đó họ luôn tìm tòi, ham hiểu biết, chịu khó học hỏi cái mới và thường có quyết tâm cao để thể hiện ý chí của mình.

    Người cán bộ quản lý muốn phát huy được tính tích cực trong hoạt động tự giáo dục của sinh viên cần chú ý tổ chức các hoạt động theo tinh thần dân chủ, đề cao vai trò chủ thể của sinh viên trong học tập, rèn luyện pháp luật, thực hiện các nội quy, quy chế của nhà trường. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa giảng viên với sinh viên, giữa giảng viên với cán bộ quản lý. Mặt khác cần phải tạo điều kiện thuận lợi về vật chất, tinh thần cho sinh viên để thực hiện tốt các hoạt động tự giáo dục, đảm bảo chất lượng trong GDPL.

    4. Đổi mới và sử dụng có hiệu quả các phương pháp và hình thức GDPL

    Để thực hiện việc đổi mới trong giáo dục nói chung và công tác GDPL nói riêng đối với nhà trường cần phải thực hiện phương châm đa dạng hóa các hình thức giáo dục thông qua việc sử dụng một số hình thức GDPL sau:

    Một là, giảng dạy trực tiếp trên lớp: Đây là hình thức cơ bản, quan trọng nhất trong tất cả các hình thức GDPL, có tác dụng trực tiếp lên đối tượng giáo dục về hệ thống những tri thức, lý luận và thực tiễn từ đó hình thành nên ý thức pháp luật cho sinh viên.

    Hai là, thực hiện tự học, tự tìm hiểu về pháp luật: Đi đôi với việc tham gia học tập theo chương trình quy định, việc tự học, tự tìm hiểu về pháp luật của sinh viên là rất có ích. Để thực hiện hoạt động này, sinh viên phải tự học tập, tự nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật cho mình một cách phù hợp, thiết thực. Bên cạnh đó nhằm phát huy mặt mạnh của hình thức này cần có sự hướng dẫn của giảng viên và tạo mọi điều kiện cần thiết về tài liệu, thời gian, áp dụng những biện pháp khuyến khích học tập, động viên sinh viên hăng say, ham học tập, tự tìm hiểu những kiến thức về pháp luật.

    Ba là, GDPL thông qua ngoại khóa: Có thể nói đây là hình thức GDPL rất sinh động. Thực hiện hình thức này sẽ hoàn chỉnh hơn những kiến thức pháp luật sinh viên đã học trên lớp, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người học.

    Bốn là, GDPL thông qua các hoạt động thực tiễn: Đây là hình thức GDPL rất cần thiết, có tầm quan trọng như hình thức giáo dục ngoại khóa, qua đó nhằm thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn mà trong trường nên thực hiện, từ đó nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.

    Năm là, GDPL thông qua các phương tiện thông tin và truyền thông: Các phương tiện thông tin và truyền thông có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt cho sinh viên. So với hình thức giảng dạy pháp luật đây cũng là hình thức GDPL cơ bản, có hiệu quả cao, nhưng chỉ thực hiện trong những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập và quỹ thời gian…

    GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, hành vi nhằm hình thành ý thức pháp luật đúng đắn, thói quen hành động phù hợp với quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành. Việc quan tâm GDPL cho sinh viên là nhiệm vụ cấp bách và vô cùng quan trọng nhưng cũng hết sức khó khăn phức tạp và không thể tiến hành trong một thời gian ngắn mà là cả quá trình lâu dài nhằm thay đổi nhận thức về GDPL của các cấp các ngành cũng như sự cố gắng của các nhà trường trong việc xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung chương trình, biên soạn tài liệu, đổi mới phương pháp dạy và học. Hy vọng công tác GDPL cho sinh viên trường đại học Công nghiệp Hà Nội trong thời gian tới ngày càng hiệu quả hơn.

    ThS. Nguyễn Thị Phương Dung

    Khoa Lí luận chính trị – Pháp luật

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Trung Khắc Phục Những Tồn Tại, Hạn Chế Của Ngành Giáo Dục
  • Bộ Trưởng Phùng Xuân Nhạ: 5 Giải Pháp Khắc Phục Yếu Kém Về Giáo Dục
  • Bốn Giải Pháp Thúc Đẩy Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Tìm Việc Làm Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Giáo Dục Ies
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Giáo Dục Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu, Biên Soạn, Tuyên Truyền, Giáo Dục Lịch Sử Đảng
  • Chương 3: Bài 2: Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Đạo Đức
  • Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về chức năng giáo dục của văn học.

    Văn học có bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí. Trước hết, phải kể đến chức năng nhận thức. Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh của văn học. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống. Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có người nói: Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Tuy nhiên, văn học không đơn thuần phản ánh hiện thực mà chủ yếu là giúp con người nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về bản thân minh và mối quan hệ tổng hòa trong cuộc sống, góp phần giáo dục con người thông qua tác phẩm. Người ta gọi đó là chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.

    Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời thường. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng. Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn.

    Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta.

    Từ ngàn xưa, văn học dân gian đã làm tốt chức năng giáo dục. Những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười… đều nhằm phản ánh hiện thực đời sống dưới những góc độ, màu sắc khác nhau. Nhưng bao trùm lên hết thảy vẫn là khát vọng hiểu biết yà chinh phục, là ước mơ công lí, chính nghĩa, là mục đích vươn lên, đạt tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của con người. Một nhà văn xưa đã nói: Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ. Bởi thế nên các tác phẩm xứng đáng gọi là văn chương có tác động mạnh mẽ tới tâm tư, tình cảm người đọc, giúp người đọc có được một thê giới quan và nhân sinh quan đúng đắn.

    Đặc điểm của văn học là thông qua các sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ của mình về nội dung nghệ thuật của tác phẩm và những vấn đề có tính chất xã hội, tính chất triết lí mà tác giả đặt ra. Trong những năm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà văn hiện thực phê phán đã lên tiếng tố cáo xã hội thực dân phong kiến đẩy con người vào cuộc sống cùng khổ, bế tắc, vào thân phận nô lệ. Ngô Tất Tố đã vẽ nên bức tranh ảm đạm, thê lương của nông thôn Việt Nam trong mùa sưu thuế; phản ánh số phận đen tối, thảm thương của người nghèo. Nam Cao đau xót, phẫn uất trước thực trạng xã hội đầy rẫy bất công, vô nhân đạo đã giết chết phần tốt đẹp trong con người, tước đoạt quyền làm người của kẻ bị áp bức. Tiểu thuyết Tắt đèn, truyện ngắn Chí Phèo, tiểu thuyết Bước đường cùng… như những tiếng chuông cảnh tỉnh kêu gọi mọi người hãy cứu lấy nhân tính đang bị giai cấp thống trị tước đoạt và chà đạp trắng trợn. Tinh thần nhân đạo của các tác giả còn thể hiện ở việc miêu tả con người với những khát vọng đổi đời, với tinh thần dũng cảm đấu tranh để khẳng định bản lĩnh, phẩm giá và lí tưởng sống của mình.

    Đọc những tác phẩm văn chương đích thực, người đọc dần dần nhận thức và xác định được hướng đi đúng đắn cho mình. Văn học định hướng cho cá nhân những điều kiện cần thiết để tiến tới hoàn thiện nhân cách. Lẽ ghét thương của ông Ngư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bản chất của tầng lớp sĩ phu: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quan niệm đạo đức của nhà thơ mù yêu nước tiêu biểu cho quan niệm đạo đức của phần lớn nhân dân Nam Bộ thế kỉ XIX:

    Trai thời trung hiếu làm đầu,

    Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

    (Lục Vân Tiên)

    Khí phách hiên ngang cùa người anh hùng Từ Hải; đức hi sinh đáng ca ngợi của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du; nhân cách cao thượng của nhân vật Huấn Cao trong kiệt tác Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân; những bài học phấn đấu, tu dưỡng quý giá của người tù – thi sĩ cộng sản Hồ Chí Minh; nhiệt thành yêu nước, khát khao chân lí cách mạng của người thanh niên xứ Huế Tố Hữu… đểu tác động sâu xa tới trái tim người đọc và lưu lại những bài học đạo lí muôn đời. Lòng yêu nước, quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục khẳng định truyền thống bất khuất chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam đã được đưa vào văn chương chống Pháp, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm công dân trong mỗi con người.

    Các nhà văn chân chính là những người có tâm hồn đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, an ủi người nghèo khổ, vạch trần và lên án cái xấu, biểu dương, ca ngợi cái tốt… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và vươn lên của con người. Hình tượng điển hình trong thơ văn truyền cho người đọc một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả của cuộc sống; đồng thời cũng chỉ ra đâu là cái xấu, cái ác cần lên án và xóa bỏ để cuộc đời và con người ngày càng tốt đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Anh Chị Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Mình Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • 5 Biểu Hiện Cảnh Báo Bệnh Gan Yếu Thường Gặp?
  • Gan Yếu Nổi Mề Đay: Biểu Hiện Nhận Biết Và Hướng Điều Trị
  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan Tốt Nhất Hiện Nay
  • Những Món Cực Độc Người Gan Yếu Cần Tránh Để Khỏi Mất Mạng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Phân Công Lại Nhiệm Vụ Của Bộ Trưởng Và Các Thứ Trưởng
  • Chức Năng Cơ Bản Của Triết Học
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Cô Tô
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Chức năng và nhiệm vụ của Vụ Giáo dục Đại học được quy định tại Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT ngày 19/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 88/QĐ-BGDĐT ngày 09/01/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT, được trích dẫn như sau:

    I. Chức năng

    Giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà n­ước đối với giáo dục đại học và đào tạo giáo viên.

    II. Nhiệm vụ và quyền hạn

    1. Tuyển sinh và đào tạo

    a) Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác tuyển sinh, quy chế đào tạo các trình độ giáo dục đại học theo hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, đào tạo liên thông, liên kết đào tạo trong nước và với nước ngoài;

    c) Quy định các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo; tổ chức xây dựng chương trình, bồi dưỡng giảng viên các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    d) Kiểm tra việc sử dụng các giáo trình, sách chuyên khảo, học liệu của các cơ sở giáo dục đại học;

    2. Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và đào tạo giáo viên

    a) Hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng sư phạm, trường trung cấp sư phạm;

    b) Quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định cho phép đào tạo đối với các ngành không đảm bảo điều kiện chất lượng theo quy định;

    c) Kiểm tra các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng sư phạm, trường trung cấp sư phạm trong việc thực hiện công bố công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo (giảng viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất; tài chính, tài sản); kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học; tỷ lệ việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo và của Bộ.

    d) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học có yếu tố nước ngoài và các cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    3. Tổ chức hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên

    a) Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, đào tạo giáo viên; phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học;

    b) Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở đào tạo giáo viên; Điều lệ trường đại học, Điều lệ trường cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm;

    c) Thẩm định các điều kiện và quyết định cho phép, đình chỉ hoạt động; mở ngành, đăng ký hoạt động giáo dục đối với các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên theo quy định.

    4. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học.
  • Ý Nghĩa, Mục Đích Của Việc Đánh Giá
  • Đo Lường Và Đánh Giá Trong Giáo Dục
  • Đánh Giá Trong Giáo Dục Đại Học
  • Ý Thức Đạo Đức Phản Ánh Lĩnh Vực Nào Của Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Giáo Dục Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • De Thi 484 Cau Trac Nghiem Co So Van Hoa Viet Nam (Moi Nhat)
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học
  • Giáo Dục Và Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
  • Bài 4: Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Phòng Giáo dục tiểu học có nhiệm vụ tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác giáo dục Tiểu học với các chức năng và nhiệm vụ chính như sau:

    1. Tham mưu việc tổ chức thực hiện xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo quy định về trường chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
    2. Hướng dẫn, kiểm tra các Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện về Giáo dục tiểu học, thực hiện các điều lệ, quy chế và các quy định của Bộ,tổ chức quản lí các loại hình trường học, lớp học 1 buổi, 2 buổi, bán trú, giáo dục chuyên biệt về thực hiện chương trình, kế hoạch đào tạo, nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập, đánh giá xếp loại. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và đánh giá thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
    3. Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến trong giáo dục; tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương; quản lí công tác nghiên cứu khoa học – công nghệ tronng các cơ sở giáo dục trực thuộc Sở; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lí nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ được giao. Hướng dẫn, kiểm tra việc bảo quản, sử dụng đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa và các tài liệu, hồ sơ hiện hành trong các trường tiểu học;
    4. Tổ chức việc thực hiện phân loại chất lượng chuyên môn của đội ngũ;
    5. Phối hợp với các phòng trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học. Chỉ đạo việc phát triển trường tiểu học theo hướng dẫn của Bộ;
    6. Định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra, thanh tra chuyên đề hoặc toàn diện việc thực hiện chương trình, kế hoạch đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo;
    7. Tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất, báo cáo toàn diện hoặc chuyên đề về giáo dục tiểu học, đảm bảo thông tin hai chiều thường xuyên, kịp thời về ngành học tiểu học với Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Tiểu Học
  • Tiêu Chuẩn Đánh Giá Đảm Bảo Cl Về Thực Hiện Chức Năng Của Csgd
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Chức Năng Nhiệm Vụ
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Bản Chất Của Quá Trình Giáo Dục
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100