Chức Năng Cơ Bản Của Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Cô Tô
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Kiểm Tra Và Đánh Giá Gdbvmt Môn Vật Lý
  • Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • 53690

    Cũng như mọi khoa học triết học có thể cùng một lúc có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Đó là các chức năng thế giới quanphương pháp luận, chức năng nhận thức và giáo dục, chức năng phê phán… Tuy nhiên, chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là hai chức năng cơ bản của triết học nói chung, đặc biệt là triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Trong thế giới những vấn đề đặt ra và cần tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề thuộc về thế giới quan. Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan.

    Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của loài người và xã hội loài người. Có thể ví thế giới quan như một “thấu kính”, qua đó, con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như xem xét bản thân mình nhằm xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động sao cho phù hợp để đạt được mục đích đặt ra. Đây là cơ sở đúng đắn để cho mỗi người xây dựng nhân sinh quan, xác định để sống một cách tích cực trong nhận thức và cải tạo thế giới. Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trí thức do các khoa học đưa lại.

    Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực đây chính là “thấu kính”, triết học để con người xem xét, nhận dạng thế giới, xét đoán mọi sự vật hiện tượng và xem xét chính mình. Nó giúp cho con người có cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Từ đó, nó giúp con người xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình. Giữa thế giới quan và phương pháp luận trong triết học có sự thống nhất hữu cơ. Trong một ý nghĩa nhất định, thế giới quan cũng đóng vai trò của phương pháp luận.

    Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Trình độ phát triển về thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhất định.

    Chức năng phương pháp luận

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phương pháp luận cũng cố định nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn vận dụng các phương pháp.

    Tuy không phải là một ngành khoa học độc lập những phương pháp luận là một bộ phận không thể thiếu sót trong bất kỳ một ngành khoa học nào. Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ: phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung, phương pháp luận chung nhất.

    Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luật bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó.

    Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng trong một số ngành khoa học.

    Phương pháp luận chung nhất là phương pháp được dùng làm điểm suất phát cho việc xác định phương pháp luận chung, phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.

    Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó, với đối tượng nghiên cứu những quy định chung của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất.

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, không được xem thường hoặc tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học. Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ xa vào tình trạng mò mẫm, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động, sáng tạo trong công tác. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận triết học sẽ xa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ bị vấp váp, thất bại. Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp cho mọi người tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy máy móc, siêu hình gây ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Phân Công Lại Nhiệm Vụ Của Bộ Trưởng Và Các Thứ Trưởng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Đại Học
  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học.
  • Ý Nghĩa, Mục Đích Của Việc Đánh Giá
  • Đo Lường Và Đánh Giá Trong Giáo Dục
  • Chức Năng, Vai Trò Của Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Download Bai Giang Quan Ly Nha Nuoc Ve Van Hoa
  • Văn Hóa Là Gì? Hiểu Về Văn Hóa Sao Cho Đơn Giản, Dễ Hiểu Nhất
  • Chuyên Đề Thực Trạng Thu, Chi Và Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thu, Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Bhxh Huyện Tứ Kỳ
  • #1 Địa Chỉ Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Kim Thành
  • Thế giới quan là hệ thống quan điểm chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. Triết học Mác – Lênin bao giờ cũng là hạt nhân của thế giới quan, chi phối các phẩm chất cụ thể của thế giới quan con người.

    Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng. Trước hết, hệ thống quan điểm duy vật mácxít là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực. Triết học được ví như- một “lăng kính” để con người xem xét, nhận dạng thế giới, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình. Nó giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống.

    Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Trình độ phát triển về thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhất định.

    Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học. Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng; là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động.

    Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình. Trên một ý nghĩa nhất định, thế giới quan cũng đóng một vai trò của phương pháp luận. Giữa thế giới quan và phương pháp luận trong triết học Mác – Lênin có sự thống nhất hữu cơ với nhau.

    Phương pháp luận là hệ thông về những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp. Triết học Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn.

    Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng được thể hiện trước hết là phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học. Phương pháp luận duy vật biện chứng trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, những quy tắc, những yêu cầu đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    Triết học Mác – Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.

    Tuy nhiên, triết học Mác – Lênin không phải là một đơn thuốc vạn năng có thể giải quyết được mọi vấn đề. Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm hoạt động xã hội.

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không được xem thường hoặc tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học. Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động, sáng tạo trong công tác. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ bị vấp váp, thất bại. Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng sẽ giúp mỗi người tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
  • Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Một Số Lĩnh Vực Hoạt Động
  • Công Tác Xã Hội Trường Học
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật?
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từng Tính Chất_2
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Chức Năng Của Phòng Giáo Dục Trung Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Thị Xã Từ Sơn
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh Lai Châu
  • Giúp Ban Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chỉ đạo công tác giáo dục trung học:

    – Quản lý nhà nước về thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch và chất lượng giáo dục THCS, THPT, trung tâm KTTH-HN-DN.

    – Quản lý nhà nước về nội dung chương trình, kế hoạch, chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên THCS, THPT, trung tâm KTTH-HN-DN.

    Cụ thể về nhiệm vụ:

    a) Chỉ đạo các Phòng giáo dục và Đào tạo, các trường THPT, các trung tâm Kỹ thhuật tổng hợp – Hướng nghiệp – Dạy nghề thực hiện các qui định của Bộ và của tỉnh về nhiệm vụ năm học, về thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, dạy học theo mục tiêu đào tạo và các qui định về chuyên môn, giáo dục hướng nghiệp, lao động sản xuất trong và ngoài nhà trường.

    b) Chủ trì phối hợp các phòng ban xây dựng kế hoạch, chỉ đạo kiểm tra thực hiện kế hoạch về công tác phổ cập giáo dục THCS; phổ cập bậc trung học; công tác thư viện, thiết bị trường học; công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên của cấp học.

    c) Phối hợp với các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế-xã hội trong công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng trường học đạt Chuẩn quốc gia. Tranh thủ sự giúp đỡ, phối hợp của các ngành để giáo dục pháp luật, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT… trong bậc học.

    Phối hợp với Tỉnh đoàn TNCS Hồ Chí Minh để chỉ đạo các hoạt động đoàn, đội trong trường trung học. Thường trực công tác giáo dục môi trường của ngành.

    d) Phối hợp tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các kì thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh, thi học sinh giỏi; đánh giá chất lượng giáo dục của các trường, giáo viên THCS, THPT .

    e) Phối hợp hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các qui định về thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, đình chỉ hoạt động các trường THCS, THPT, TTKTTH-HN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Các Nhà Tâm Lý Học Giáo Dục Là Gì? / Tâm Lý Học
  • Tiểu Luận Vai Trò Của Ý Thức Đạo Đức Trong Đời Sống Xã Hội
  • Tổng Quan Về Đạo Đức Kinh Doanh
  • Thuốc Ancan Có Tốt Không? Uống Thuốc Ancan Bao Nhiêu Lâu Mới Thấy Hiệu Quả
  • Uống Sản Phẩm Ancan Như Thế Nào Để Có Hiệu Quả Tốt Nhất
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Giáo Dục Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu, Biên Soạn, Tuyên Truyền, Giáo Dục Lịch Sử Đảng
  • Chương 3: Bài 2: Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Đạo Đức
  • Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về chức năng giáo dục của văn học.

    Văn học có bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí. Trước hết, phải kể đến chức năng nhận thức. Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh của văn học. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống. Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có người nói: Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Tuy nhiên, văn học không đơn thuần phản ánh hiện thực mà chủ yếu là giúp con người nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về bản thân minh và mối quan hệ tổng hòa trong cuộc sống, góp phần giáo dục con người thông qua tác phẩm. Người ta gọi đó là chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.

    Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời thường. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng. Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn.

    Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta.

    Từ ngàn xưa, văn học dân gian đã làm tốt chức năng giáo dục. Những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười… đều nhằm phản ánh hiện thực đời sống dưới những góc độ, màu sắc khác nhau. Nhưng bao trùm lên hết thảy vẫn là khát vọng hiểu biết yà chinh phục, là ước mơ công lí, chính nghĩa, là mục đích vươn lên, đạt tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của con người. Một nhà văn xưa đã nói: Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ. Bởi thế nên các tác phẩm xứng đáng gọi là văn chương có tác động mạnh mẽ tới tâm tư, tình cảm người đọc, giúp người đọc có được một thê giới quan và nhân sinh quan đúng đắn.

    Đặc điểm của văn học là thông qua các sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ của mình về nội dung nghệ thuật của tác phẩm và những vấn đề có tính chất xã hội, tính chất triết lí mà tác giả đặt ra. Trong những năm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà văn hiện thực phê phán đã lên tiếng tố cáo xã hội thực dân phong kiến đẩy con người vào cuộc sống cùng khổ, bế tắc, vào thân phận nô lệ. Ngô Tất Tố đã vẽ nên bức tranh ảm đạm, thê lương của nông thôn Việt Nam trong mùa sưu thuế; phản ánh số phận đen tối, thảm thương của người nghèo. Nam Cao đau xót, phẫn uất trước thực trạng xã hội đầy rẫy bất công, vô nhân đạo đã giết chết phần tốt đẹp trong con người, tước đoạt quyền làm người của kẻ bị áp bức. Tiểu thuyết Tắt đèn, truyện ngắn Chí Phèo, tiểu thuyết Bước đường cùng… như những tiếng chuông cảnh tỉnh kêu gọi mọi người hãy cứu lấy nhân tính đang bị giai cấp thống trị tước đoạt và chà đạp trắng trợn. Tinh thần nhân đạo của các tác giả còn thể hiện ở việc miêu tả con người với những khát vọng đổi đời, với tinh thần dũng cảm đấu tranh để khẳng định bản lĩnh, phẩm giá và lí tưởng sống của mình.

    Đọc những tác phẩm văn chương đích thực, người đọc dần dần nhận thức và xác định được hướng đi đúng đắn cho mình. Văn học định hướng cho cá nhân những điều kiện cần thiết để tiến tới hoàn thiện nhân cách. Lẽ ghét thương của ông Ngư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bản chất của tầng lớp sĩ phu: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quan niệm đạo đức của nhà thơ mù yêu nước tiêu biểu cho quan niệm đạo đức của phần lớn nhân dân Nam Bộ thế kỉ XIX:

    Trai thời trung hiếu làm đầu,

    Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

    (Lục Vân Tiên)

    Khí phách hiên ngang cùa người anh hùng Từ Hải; đức hi sinh đáng ca ngợi của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du; nhân cách cao thượng của nhân vật Huấn Cao trong kiệt tác Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân; những bài học phấn đấu, tu dưỡng quý giá của người tù – thi sĩ cộng sản Hồ Chí Minh; nhiệt thành yêu nước, khát khao chân lí cách mạng của người thanh niên xứ Huế Tố Hữu… đểu tác động sâu xa tới trái tim người đọc và lưu lại những bài học đạo lí muôn đời. Lòng yêu nước, quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục khẳng định truyền thống bất khuất chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam đã được đưa vào văn chương chống Pháp, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm công dân trong mỗi con người.

    Các nhà văn chân chính là những người có tâm hồn đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, an ủi người nghèo khổ, vạch trần và lên án cái xấu, biểu dương, ca ngợi cái tốt… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và vươn lên của con người. Hình tượng điển hình trong thơ văn truyền cho người đọc một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả của cuộc sống; đồng thời cũng chỉ ra đâu là cái xấu, cái ác cần lên án và xóa bỏ để cuộc đời và con người ngày càng tốt đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Anh Chị Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Mình Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • 5 Biểu Hiện Cảnh Báo Bệnh Gan Yếu Thường Gặp?
  • Gan Yếu Nổi Mề Đay: Biểu Hiện Nhận Biết Và Hướng Điều Trị
  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan Tốt Nhất Hiện Nay
  • Những Món Cực Độc Người Gan Yếu Cần Tránh Để Khỏi Mất Mạng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Phân Công Lại Nhiệm Vụ Của Bộ Trưởng Và Các Thứ Trưởng
  • Chức Năng Cơ Bản Của Triết Học
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Cô Tô
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Chức năng và nhiệm vụ của Vụ Giáo dục Đại học được quy định tại Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT ngày 19/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 88/QĐ-BGDĐT ngày 09/01/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT, được trích dẫn như sau:

    I. Chức năng

    Giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà n­ước đối với giáo dục đại học và đào tạo giáo viên.

    II. Nhiệm vụ và quyền hạn

    1. Tuyển sinh và đào tạo

    a) Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác tuyển sinh, quy chế đào tạo các trình độ giáo dục đại học theo hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, đào tạo liên thông, liên kết đào tạo trong nước và với nước ngoài;

    c) Quy định các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo; tổ chức xây dựng chương trình, bồi dưỡng giảng viên các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    d) Kiểm tra việc sử dụng các giáo trình, sách chuyên khảo, học liệu của các cơ sở giáo dục đại học;

    2. Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và đào tạo giáo viên

    a) Hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng sư phạm, trường trung cấp sư phạm;

    b) Quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định cho phép đào tạo đối với các ngành không đảm bảo điều kiện chất lượng theo quy định;

    c) Kiểm tra các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng sư phạm, trường trung cấp sư phạm trong việc thực hiện công bố công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo (giảng viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất; tài chính, tài sản); kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học; tỷ lệ việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo và của Bộ.

    d) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học có yếu tố nước ngoài và các cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    3. Tổ chức hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên

    a) Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, đào tạo giáo viên; phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học;

    b) Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở đào tạo giáo viên; Điều lệ trường đại học, Điều lệ trường cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm;

    c) Thẩm định các điều kiện và quyết định cho phép, đình chỉ hoạt động; mở ngành, đăng ký hoạt động giáo dục đối với các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên theo quy định.

    4. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học.
  • Ý Nghĩa, Mục Đích Của Việc Đánh Giá
  • Đo Lường Và Đánh Giá Trong Giáo Dục
  • Đánh Giá Trong Giáo Dục Đại Học
  • Ý Thức Đạo Đức Phản Ánh Lĩnh Vực Nào Của Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Giáo Dục Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • De Thi 484 Cau Trac Nghiem Co So Van Hoa Viet Nam (Moi Nhat)
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học
  • Giáo Dục Và Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
  • Bài 4: Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Phòng Giáo dục tiểu học có nhiệm vụ tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác giáo dục Tiểu học với các chức năng và nhiệm vụ chính như sau:

    1. Tham mưu việc tổ chức thực hiện xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia theo quy định về trường chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
    2. Hướng dẫn, kiểm tra các Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện về Giáo dục tiểu học, thực hiện các điều lệ, quy chế và các quy định của Bộ,tổ chức quản lí các loại hình trường học, lớp học 1 buổi, 2 buổi, bán trú, giáo dục chuyên biệt về thực hiện chương trình, kế hoạch đào tạo, nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập, đánh giá xếp loại. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và đánh giá thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
    3. Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến trong giáo dục; tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương; quản lí công tác nghiên cứu khoa học – công nghệ tronng các cơ sở giáo dục trực thuộc Sở; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lí nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ được giao. Hướng dẫn, kiểm tra việc bảo quản, sử dụng đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa và các tài liệu, hồ sơ hiện hành trong các trường tiểu học;
    4. Tổ chức việc thực hiện phân loại chất lượng chuyên môn của đội ngũ;
    5. Phối hợp với các phòng trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học. Chỉ đạo việc phát triển trường tiểu học theo hướng dẫn của Bộ;
    6. Định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra, thanh tra chuyên đề hoặc toàn diện việc thực hiện chương trình, kế hoạch đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo;
    7. Tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất, báo cáo toàn diện hoặc chuyên đề về giáo dục tiểu học, đảm bảo thông tin hai chiều thường xuyên, kịp thời về ngành học tiểu học với Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Tiểu Học
  • Tiêu Chuẩn Đánh Giá Đảm Bảo Cl Về Thực Hiện Chức Năng Của Csgd
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Chức Năng Nhiệm Vụ
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Bản Chất Của Quá Trình Giáo Dục
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Giáo Dục Tiểu Học
  • De Thi 484 Cau Trac Nghiem Co So Van Hoa Viet Nam (Moi Nhat)
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học
  • Giáo Dục Và Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
  • Chức năng và nhiệm vụ của Vụ Giáo dục Tiểu học được quy định tại Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT ngày 19/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 88/QĐ-BGDĐT ngày 09/01/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT, được trích dẫn như sau:

    I. Chức năng

    Giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học.

    II. Nhiệm vụ và quyền hạn

    1. Chương trình giáo dục tiểu học

    a) Ban hành chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; tổ chức thẩm định sách giáo khoa cấp tiểu học, phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trong các cơ sở giáo dục tiểu học; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học;

    b) Hướng dẫn thực hiện nội dung chương trình giáo dục tiểu học; thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo; phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học;

    c) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, chất lượng giáo dục và phổ cập giáo dục tiểu học.

    2. Đảm bảo chất lượng giáo dục tiểu học

    a) Phối hợp xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện các quy định về quy chuẩn đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục tiểu học;

    b) Hướng dẫn, kiểm tra bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học để nâng cao năng lực chuyên môn.

    c) Xây dựng, hướng dẫn triển khai quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập;

    d) Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo dục tiểu học có yếu tố nước ngoài và các cơ sở giáo dục tiểu học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    3. Tổ chức, hoạt động nhà trường

    a) Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện điều lệ, quy chế cơ sở giáo dục tiểu học;

    b) Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn các loại hình cơ sở giáo dục tiểu học.

    4. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Đánh Giá Đảm Bảo Cl Về Thực Hiện Chức Năng Của Csgd
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Chức Năng Nhiệm Vụ
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Bản Chất Của Quá Trình Giáo Dục
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Gd&đt Bảo Lâm
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế
  • Vai Trò Của Kiểm Tra
  • Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra
  • 1.Triếthọclà gì?

    Triếthọcra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN) tại một số trung tâm văn minhcổđại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp.

    Theo người Ấn Độ,triếthọcđọc là darshana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Còn ở Trung Quốc, thuật ngữtriếthọccó gốc ngôn ngữ là chữ “triết“. Đó không phải là sự miêu tả, mà là quá trình tranh luận để tìm bản chất của đối tượng.

    Ở phương Tây, thuật ngữ “Triếthọc” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Philôsôphia”, nghĩa là “yêu mến sự thông thái”.Triếthọcđược xem là hình thái cao nhất của tri thức, có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật.

    Khái quát lại,triếthọclà một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    b.Với quan niệm đó,triếthọccổđại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là “khoahọccủa mọi khoahọc“.

    2. Vấn đề cơ bản củatriếthọc. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    2.1. Vấn đề cơ bản củatriếthọc2.2. Các trường pháitriếthọc

    2.2.1. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản củatriếthọcgắn liền với việc phân chia cáchọcthuyếttriếthọcthành hai trường pháitriếthọccơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

    a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con ng¬ười; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất.

    Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thờicổđại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoahọcvà thực tiễn, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

    + Chủ nghĩa duy vậtcổđại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hạn chế của nó là còn mang tính trựcquan, trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể. Ví dụ như quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit…

    + Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII: Do ảnh hưởng của Cơhọccổđiểnnên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc – phương pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhưng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Ví dụ như quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của cáchọcthuyếttriếthọctrước đó và vận dụng các thành tựu của khoahọcđương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy.

    b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.

    Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thờicổđại với hai hình thức chủ yếu là:

    + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con ng¬ời, khẳng định mọi sự vật, hiện t¬ợng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. Ví dụquan niệm của Beccơly.

    + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụquan niệm của Platon, Hêghen.

    Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoahọc. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.

    Trong lịch sửtriếthọcluôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duytriếthọc. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội.

    c. Bên cạnh các nhàtriếthọcnhất nguyên luận(duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhàtriếthọcnhị nguyên luận. Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện tượng của thế giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần. Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nh¬ng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.

    2.2.2. Thuyết không thể biết

    Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản củatriếthọc, đại đa số các nhàtriếthọc( cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng với những cách lý giải trái ngược nhau. Chủ nghĩa duy vật xuất phát từ chỗ coi vật chất có trước, ý thức có sau và là sự phản ánh thế giới vật chất đã thừa nhận con người có thể nhận thức đươc thế giới khách quan và các quy luật của nó. Còn chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước và quyết định vật chất nên nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới, mà chỉ là sự tự nhận thức, tự ý thức về bản thân ý thức. Họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của nhận thức.

    Họcthuyếttriếthọcphủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là thuyết không thể biết. Họ cho rằng, con người không thể hiểu được đối tượng hoặc nếu có hiểu thì chỉ là hình thức bên ngoài; bởi vì tính xác thực của các hình ảnh về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không đảm bảo tính chân thực. Tiêu biểu là quan niệm của Beccơly, Hium.

    Ngay từ thờicổđại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con ng¬ời với thế giới bên ngoài.Triếthọcra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nh¬ng ở tầm khái quát cao hơn là mốiquan hệ giữa tw duy và tồn tại. Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọitriếthọc, đặc biệt làtriếthọchiện đại, là vấn đề quan hệ giữa t¬ duy với tồn tại”( C. Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, t.21, tr.403); bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác củatriếthọc. Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập tr¬ờng thế giớiquan của cáctriếtgia và cáchọcthuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản củatriếthọccó hai mặt:

    Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay không? Nghĩa là con người có khả năng nhận thức hay không?

    Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trường phái và cáchọcthuyếttriếthọckhác nhau.

    Từ thế kỷ XV – XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoahọcchuyên ngành, nhất là khoahọcthực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏitriếthọc, từng bước làm phá sản tham vọng muốn đóng vai trò “khoahọccủa mọi khoahọc” của một sốhọcthuyếttriếthọclúc bấy giờ, đặc biệt làtriếthọcHêghen.

    Đầu thế kỷ XIX,triếthọcMác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trư¬ờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quan niệm macxit cho rằng:”Triếthọclà một trong những hình thái ý thức xã hội, làhọcthuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con ng¬ời đối với thế giới; là khoahọcvề những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t¬ư duy”.

    Khác với các khoahọccụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới,triếthọcxem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống cácquan niệm về chỉnh thể đó.Triếthọclà sựdiễn tảthế giới quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thốngtriếthọc, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới.

    Như vậy, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, khái quát nhất,triếthọckhông thể ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người.Triếthọcchỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau:

    Thứ nhất, lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa cácquan điểm, quan niệm rời rạc lại thànhhọcthuyết, thành lý luận và trên cơ sở đótriếthọcđã ra đời. Đó là khi chế độ Công xã nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ – chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khimớira đời,triếthọctự nó đã mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hội nhất định.

    Thứ hai, con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra được cái chung từ vô số các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, xây dựng nên cáchọcthuyết, lý luận.

    Điều đó khẳng định rằng, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,triếthọcđã ra đời từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định.

    1.2.Triếthọclà hạt nhân lý luận của thế giới quan

    Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con ngư¬ời về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó.

    Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà con người đạt được luôn luôn là có hạn. Quá trình tìm hiểu về quan hệ giữa con người với thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhất định, trong đó có sự hoà quyện thống nhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giớiquan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người.

    Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quantriếthọcdựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nưười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa đó,triếthọcđược xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó.

    3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng màtriếthọcphải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    3.1. Phương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời đối tượng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    3.2. Phương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như vậy, phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phương pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và được thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thờicổđại, các nhà biện chứng cả phương Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nhưng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoahọc.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao làtriếthọccổđiểnĐức(người khởi xướng là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử tư duy nhân loại, các nhàtriếthọcĐứcđã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng. Nhưng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách làhọcthuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d¬ới hình thức hoàn bị nhất.

    4. Vai trò củatriếthọctrong đời sống xã hội

    Vai trò củatriếthọctrong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng củatriếthọcnhư chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.

    Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bằng một hệ thống quan niệm về thế giới, con người tìm cách khám phá những bí mật của giới tự nhiên. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình. Từ đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực.

    Triếthọcra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoahọcđem lại. Đó là chức năng thế giới quan củatriếthọc.

    Sự phát triển của thực tiễn và khoahọcđã dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoahọclý thuyết vàtriếthọc– Đó là phương pháp luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    Xét theo phạm vi tác dụng, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:

    + Phương pháp luận ngành (hay phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoahọccụ thể nào đó.

    + Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành khoahọc.

    + Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.

    Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy,triếthọcthực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận củatriếthọcđồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp.

    Phiêu Diêu @ 16:35 01/12/2010

    Số lượt xem: 23534

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Vai Trò Của Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế
  • Vai Trò Của Kiểm Tra
  • Khi bàn về sự cần thiết của việc giảng dạy triết học cho sinh viên, một số ý kiến cho rằng, đào tạo đại học là đào tạo nghề, đào tạo các chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nên chỉ cần giảng dạy các môn học chuyên ngành là đủ. Luận điểm này thoạt nghe dường như có lý, nhưng thực ra là sai lầm. Thực tế cho thấy, Nhà nước không đơn giản chỉ cần đến những chuyên gia, mà hơn hết là cần những công dân có trách nhiệm với tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước. Để giáo dục ý thức công dân thì cần có triết học và các môn khoa học xã hội, nhân văn khác. Lịch sử Tổ quốc hướng mỗi người ý thức về cội nguồn của mình trong một cộng đồng dân tộc xác định, vị trí của thế hệ mình trong dãy những thế hệ thay thế lẫn nhau, hiểu được tính đặc thù và độc đáo của thời đại.

    Sinh viên ở các thời đại khác nhau và ở các nước khác nhau đều thường đi tiên phong trong các phong trào và các tiến trình chính trị. Triết học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan, hệ thống giá trị văn hóa nhân văn cho sinh viên, nó như “la bàn” giúp họ định hướng tính tích cực xã hội và chính trị của mình vào mục đích xây dựng, sáng tạo. Triết học đem lại cho sinh viên tri thức về các mối quan hệ xã hội, về bản chất, chức năng của nhà nước và của pháp luật, về mục đích tồn tại của con người, về cái thiện và cái ác, về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước và xã hội, về tự do và trách nhiệm. Vì vậy, triết học có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên.

    nghề nghiệp nhất định để sau này trở thành chuyên gia của nghề nghiệp đó.

    Tóm lại, sinh viên có vị trí “song hành”, vị trí “kép” trong xã hội. Một mặt, họ là những thanh niên sinh viên đang dần hoàn thiện nhân cách, là lực lượng sản xuất hiện đại, người chủ của đất nước trong tương lai. Mặt khác, họ là nguồn lực cơ bản để bổ sung vào đội ngũ trí thức trong tương lai. Họ chính là nguồn nhân lực chất lượng cao đầy tiềm năng sáng tạo và ứng dụng khoa học – công nghệ để góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay.()

    Mỗi cá nhân ở những địa vị xã hội khác nhau đều có sự thể hiện nhân cách đặc trưng phù hợp với vị thế xã hội của mình. Ví dụ, nhân cách người cán bộ lãnh đạo, nhân cách người giáo viên… Sinh viên – một bộ phận xã hội đặc thù cũng có phương diện thể hiện tính đặc thù trong nhân cách của mình. Nhân cách sinh viên là trường hợp cụ thể của nhân cách, là hình thức biểu hiện tính Người ở một tầng lớp xã hội đặc biệt. Có thể hiểu nhân cách sinh viên là tổng thể những phẩm chất đạo đức và tài năng, thể chất và tinh thần được hình thành một cách lịch sử – cụ thể, qui định giá trị và những hành vi xã hội của sinh viên, được thể hiện, thực hiện trong hoạt động học tập, hoạt động giao tiếp, ứng xử, hoạt động xã hội của cá nhân mỗi sinh viên.

    Nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện hiện nay, ngoài những đặc điểm chung của nhân cách, thì còn có những biểu hiện riêng về phẩm chất đạo đức và năng lực, như sinh viên hiện nay năng động, sáng tạo và thực tế hơn. So với các thế hệ sinh viên trước đổi mới, sinh viên hiện nay có tính thực tế cao. Chọn ngành học là biểu hiện đầu tiên của tính thực tế. Họ tập trung nhất vào những ngành học mà ra trường có thể xin việc được ngay vì xã hội đang cần, những nghề có thu nhập cao, chỉ số ít sinh viên chọn nghề theo mơ ước.

    Sinh viên hiện nay rất năng động. Họ năng động trong phương thức tiếp nhận tri thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính là học tập; năng động trong quá trình tham gia vào hoạt động xã hội: Làm thêm dưới nhiều hình thức thời gian (nửa ngày, vài ngày trong một tuần, buổi tối), phong phú về nghề (làm gia sư, bán hàng, giúp việc nhà…). Một số sinh viên có tham vọng trở thành những nhà kinh doanh giỏi đã mở cửa hàng kinh doanh thể hiện tính chủ động, sáng tạo cao trong công việc của mình.

    Tính sáng tạo của sinh viên được thể hiện ở việc rất nhiều sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế, quốc gia, giải thưởng Tài năng trẻ Việt Nam hàng năm do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức…

    Sinh viên hiện nay đề cao vai trò cá nhân: Kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay. Sinh viên luôn có ý thức cao việc khẳng định nhân cách bằng cách trau dồi kiến thức chuyên môn, khẳng định vị trí của mình trước xã hội. Đồng thời, họ thể hiện rõ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân trong hành động. Lợi ích chung và sự quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh dường như bị lấn át bởi việc thực hiện những lợi ích riêng, nhu cầu cá nhân ở một bộ phận sinh viên.

    Sinh viên xác định rõ phương pháp thực hiện lý tưởng của mình: Lý tưởng cao cả của sinh viên Việt Nam hiện nay là giữ vững nền độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong đó, đạo đức cộng sản là yếu tố cấu thành quan trọng nên lý tưởng của sinh viên. Khẳng định điều này vì đạo đức là thành phần đặc biệt trong nhân cách của sinh viên, cái để phân biệt sự khác nhau giữa nhân cách này với nhân cách khác xuất phát từ điểm gốc là “đức” trong mỗi con người.

    Trong thời đại hiện nay, mỗi sinh viên hiểu rằng, sống có lý tưởng trước hết phải trân trọng và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, bởi đó là thành quả được đổi bằng biết bao mồ hôi và xương máu của các thế hệ cha ông trong dựng nước và giữ nước. Thứ hai, sinh viên phải dốc lòng học tập, rèn luyện để góp sức mình thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến những bước vững chắc trong quá trình hội nhập, phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Họ hiểu muốn củng cố và bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc chỉ có một con đường duy nhất đúng là đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng của sinh viên được biểu hiện rõ nhất ở khát vọng học tập, nghiên cứu, ở sự nỗ lực, chuyên cần, sáng tạo trong học tập nhằm nắm vững những tri thức vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học – công nghệ, nhanh chóng hội nhập với xu thế phát triển của nền văn minh nhân loại. Bởi vì, trong xu thế phát triển hiện nay, dân tộc nào vươn lên đến đỉnh cao trí tuệ thì dân tộc đó sẽ chiến thắng. Đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(2).

    2. Khi nghiên cứu tính quy luật của sự hình thành nhân cách, nhân cách sinh viên, chúng ta thấy rằng nhân cách chỉ được hình thành và phát triển cùng với quá trình giáo dục và tự giáo dục, quá trình giao tiếp, quá trình hoạt động thực tiễn bộc lộ những “phẩm chất người” của mỗi con người..; trong đó, giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Giáo dục triết học Mác – Lênin cho sinh viên là một yếu tố hợp thành quan trọng của nền giáo dục đại học nước ta hướng đến việc xây dựng những thế hệ sinh viên có nhân cách trong sáng, có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình hội nhập và phát triển đất nước. Cơ sở để khẳng định điều đó là:

    Thứ nhất, giáo dục triết học Mác – Lênin trong trường đại học nhằm góp phần hình thành thế giới quan khoa học trong nhân cách sinh viên Việt Nam

    Giáo dục triết học Mác – Lênin trước hết là giáo dục những nguyên lý, phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm xây dựng lập trường thế giới quan cho sinh viên. Đó chính là thế giới quan duy vật biện chứng – nền tảng để sinh viên nhận thức và tiếp thu những nguyên lý, quy luật khác. Thế giới quan là toàn bộ hệ thống tri thức, những quan niệm của con người về thế giới và về vị trí của chính con người trong thế giới đó. Là một hệ thống tri thức, quan niệm về thế giới nhưng thế giới quan được hiểu là kết quả của quá trình nhận thức đặc thù của con người, chứ không phải là phép cộng giản đơn tổng số các tri thức khoa học cụ thể.()

    Việc giáo dục triết học Mác – Lênin trong các trường đại học có vị trí đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển thế giới quan khoa học – thế giới quan duy vật biện chứng của sinh viên. Bởi lẽ, triết học Mác – Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, nó cung cấp cho con người một cách nhìn khoa học đối với hiện thực khách quan và khẳng định vai trò, vị trí của con người trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới. Từ đó, giúp họ có thái độ đúng đắn, khoa học đối với hiện thực, có phương hướng chính trị vững vàng, có khả năng nhận biết, phân tích và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn xã hội trên tinh thần thế giới quan Mác – Lênin.

    Với tư cách một hệ thống lý luận, một học thuyết, triết học Mác – Lênin đã lý giải một cách khoa học nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó. Như vậy, triết học Mác – Lênin đóng vai trò là cơ sở lý luận, là “hạt nhân” của thế giới quan. Gọi là “hạt nhân” của thế giới quan, bởi vì ngoài triết học Mác – Lênin, thế giới quan Mác – Lênin còn có các quan điểm về chính trị, kinh tế, đạo đức, luật pháp, thẩm mỹ… Song, tất cả các quan điểm trên đều được xây dựng trên nền tảng khoa học của triết học Mác – Lênin. Quan điểm và niềm tin khoa học của triết học Mác – Lênin đã tạo dựng cơ sở nền tảng cho toàn bộ hệ thống thế giới quan Mác – Lênin. Triết học đã lý giải về mặt lý luận toàn bộ các dữ kiện của hiện thực khách quan và hoạt động thực tiễn của con người một cách lịch sử – cụ thể và khoa học nhất. Vấn đề cơ bản của triết học, như Ph.Ăngghen đã nói, là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Việc con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không cũng là những vấn đề của thế giới quan. Thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà cốt lõi là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng; nó đã, đang và sẽ là một công cụ tư duy quan trọng nhất định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta nói chung và sinh viên nói riêng trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn. Vì vậy, xây dựng và phát triển thế giới quan Mác – Lênin chính là nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách sinh viên Việt Nam nói riêng.

    Tuy nhiên, thế giới quan khoa học không hình thành một cách tự động, tức cứ trang bị tri thức là có thế giới quan; trái lại, đó còn phải là quá trình chuyển tri thức thành niềm tin khoa học trong mỗi sinh viên. Cơ sở để hình thành và phát triển thế giới quan là những nhận thức về tự nhiên và xã hội, là kết quả của quá trình giáo dục và những kinh nghiệm được tích lũy trong thực tiễn của sinh viên. Đó chính là quá trình hình thành và phát triển các quan điểm, quan niệm, niềm tin về vai trò và khả năng của con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Nói cách khác, tri thức, niềm tin, lý tưởng và tình cảm là những yếu tố cơ bản nhất cấu thành nên thế giới quan. Trong đó, tri thức tự nó chưa thể trở thành thế giới quan. Nó chỉ gia nhập thế giới quan khi trở thành niềm tin trong mỗi người. Nhờ có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho hành động của mỗi người. Khi biến thành niềm tin, tri thức đóng vai trò động cơ, động lực tinh thần cho hoạt động của con người, giúp con người xác định lý tưởng sống. Đạt đến “độ” này, mỗi sinh viên thể hiện trình độ sâu sắc trong nhận thức và tri thức, hình thành thế giới quan và khi đó, thế giới quan trở thành nhân tố định hướng quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    Thứ hai, giáo dục triết học Mác – Lênin còn góp phần xây dựng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên, xây dựng trong họ những quan niệm đúng đắn về cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống. Cụ thể là, triết học Mác – Lênin giúp sinh viên hiểu đư­­ợc mục đích cao nhất của con người là xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trong đó, mọi ng­ười đều có một cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là một xã hội mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi ng­ười”.

    Giáo dục triết học Mác – Lênin sẽ góp phần từng bước xây dựng và bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên thông qua việc trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về lý luận cách mạng xã hội, về bản chất và chức năng của nhà nước, về con người và các quan hệ xã hội của con người, về giai cấp, dân tộc, về xu hướng phát triển tất yếu của xã hội… Đồng thời, từng bước xây dựng cho sinh viên cách nhìn, lối sống cũng như cách vận dụng những định hướng giá trị xã hội đã được nhận thức vào thực tiễn cuộc sống. Chẳng hạn, từ tri thức về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t­ư duy, cung cấp cho sinh viên một cách nhìn khoa học đối với hiện thực khách quan và khẳng định vai trò, vị trí của con ng­ười trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Hoặc là, khi phân tích kết cấu của mỗi hình thái kinh tế – xã hội, với tất cả các quy luật tác động và chi phối nó, C.Mác đã kết luận: Sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Chính những kết luận như vậy tự nó đã mang đến cho mỗi sinh viên một niềm tin vào sự phát triển. Từ đó giúp họ có thái độ đúng đắn, khoa học đối với hiện thực cũng như khả năng phân tích và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trên tinh thần thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng. Điều này tạo ra trong mỗi sinh viên thái độ lạc quan cách mạng để vượt qua những thử thách, cam go trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. ở đây, với những tri thức được học, sinh viên sẽ hiểu rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học được xây dựng trên cơ sở kế thừa một cách chọn lọc những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của nhân loại trong lịch sử và được phát triển một cách khoa học lên tầm cao mới, đáp ứng đúng quy luật phát triển của xã hội. Và Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn n­ước ta để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khi nhận thức rõ vấn đề đó, sinh viên sẽ tự nguyện, tự giác sống theo quan điểm sống của nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa như­ là một sự thôi thúc nội tâm. Mặt khác, việc giáo dục triết học Mác – Lênin còn giúp sinh viên có năng lực nhận diện rõ và đấu tranh chống lại những quan điểm trái với những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học, trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều, đứng vững trong cuộc đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin thực chất là học thuyết về con người và giải phóng con người. Học thuyết Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng trang bị cho sinh viên một nhân sinh quan khoa học và nhân đạo, chỉ ra mục đích cao cả nhất của cuộc sống là vì con ng­ười và vì sự nghiệp giải phóng con người. Mỗi con người chỉ đạt được lợi ích, nhu cầu cá nhân cao nhất khi nhận thức đúng đắn và tự nguyện, tự giác thực hiện lợi ích xã hội, lợi ích dân tộc mình. Nhân cách chỉ đư­ợc hình thành và phát triển khi giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, hạnh phúc của mỗi cá nhân chỉ đ­ược đảm bảo và thực hiện khi hạnh phúc của toàn thể xã hội được đảm bảo, được thực hiện. Mỗi cá nhân chỉ đ­ược giải phóng khi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại được thực hiện. Qua việc thẩm thấu những tri thức này, mỗi sinh viên tự nguyện hướng đến lẽ sống cao đẹp “mình vì mọi ng­ười và mọi người vì mình”.

    Thứ ba, giáo dục triết học Mác – Lênin góp phần xây dựng lý tưởng cộng sản cho các thế hệ sinh viên Việt Nam. Lý tưởng giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách sinh viên, vì lý tưởng là mục đích cao nhất, đẹp nhất, tạo ra nghị lực giúp con người vượt qua mọi thách thức đạt đến mục tiêu đề ra. Mục tiêu cao nhất mà lý tưởng cộng sản hướng tới là xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp: Xã hội xã hội chủ nghĩa và sau này là xã hội cộng sản chủ nghĩa. ở đó, con người được tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Sinh viên khi tiếp nhận những tri thức khoa học Mác – Lênin sẽ tìm kiếm được sức mạnh từ chính bản thân tri thức ấy để tự mình vươn lên, bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Có niềm tin, có hoài bão, sinh viên tất có ý chí thực hiện lý tưởng. Việc thực hiện lý tưởng không phải trừu tượng, xa vời, mà ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường họ cần xác lập ý chí học tập để sau này góp phần xây dựng Tổ quốc. Đồng thời, họ cần có tinh thần đấu tranh với những hành vi lệch chuẩn của một bộ phận sinh viên sống thiếu trách nhiệm, mất phương hướng, lòng tin, lý tưởng sa đà vào cuộc sống hưởng thụ, thực dụng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng mình, vô cảm với lợi ích của đồng loại, của dân tộc.

    Sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay dưới tác động của giáo dục triết học Mác – Lênin cũng chính là quá trình hình thành ở họ những phẩm chất cần thiết, thể hiện sự tri thức hóa, sự trưởng thành đến độ nhất định về mặt xã hội, giúp sinh viên nâng cao nhận thức lý luận, ý thức chính trị, nhạy bén với thực tiễn, xử lý tốt các tình huống xảy ra trong thực tiễn, sống có lý tưởng, có ước mơ để học tập, phấn đấu và cống hiến. Trong cuộc sống con người không thể sống mà thiếu lý tưởng phấn đấu. Lý tưởng là sự thôi thúc nội tâm giúp con người hành động để thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích của cá nhân và xã hội. Vì vậy, giáo dục triết học Mác – Lênin nhằm từng bước xây dựng lý tưởng cách mạng cho sinh viên là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Đó cũng chính là giá trị đạo đức của từng cá nhân sinh viên mang nhân cách, là mục tiêu phấn đấu của mỗi sinh viên. Đạt đến mục tiêu này, giáo dục triết học Mác – Lênin hoàn toàn khẳng định vai trò quan trọng và quyết định của mình trong cuộc đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện về suy thoái đạo đức, nhân cách của sinh viên trước những tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100