Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Tả Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám Lớp 5, 6
  • Phân Tích Nhân Vật Tấm Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Tả Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám Lớp 5, 6
  • Đặc Trưng, Chức Năng Và Vai Trò Của Văn Hóa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa
  • Chức Năng Giải Trí Đang Lấn Át Chức Năng Giáo Dục Trong Văn Nghệ
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Văn Hóa & Huyện Kon Plông
  • Trang Điện Tử Huyện Hà Trung
  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa
  • Tính tới thời điểm hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa đã được thực hiện nhưng có vẻ như vẫn chưa có một câu trả lời thích đáng cho câu hỏi văn hóa là gì. Để định nghĩa một khái niệm khó nhằn như vậy, trước hết ta cần làm rõ những đặc trưng nổi bật, chức năng cùng vai trò của văn hóa.

    1. Bản chất của văn hóa là gì?

    Văn hóa là gì ? Thực tế văn hóa có rất nhiều nghĩa khác nhau, có thể định nghĩa văn hóa theo nhiều góc độ. Xét theo mặt ngữ nghĩa thông thường, văn hóa là từ dùng để chỉ học thức, trình độ học vấn, lối sống, đạo đức… Gắn những yếu tố ấy với thời gian, văn hóa lại được dùng để chỉ trình độ phát triển, nét độc đáo, phong tục tập quán của một giai đoạn, một thời kỳ như văn hóa Phục Hưng, văn hóa Đông Sơn.

    Mở rộng theo chiều không gian, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp, cổ điển hay hiện đại, từ tín ngưỡng đến phong tục, từ lối sống, nếp nghĩ, cách làm đến cư xử, giao tiếp, lao động…

    Tóm lại, văn hóa là tất cả những gì mà con người sáng tạo ra, được hình thành từ thuở sơ khai nhất, được soi chiếu dưới lăng kính của không gian và thời gian. Bản chất của văn hóa là những giá trị tinh thần, vật chất mà con người trong quá trình tiến hóa, phát triển tạo ra để thích nghi với cuộc sống, với xã hội.

    2. Đặc trưng của văn hóa là gì?

    2.1. Văn hóa có tính hệ thống

    Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp. Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển.

    Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội. Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực. Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên.

    Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”.

    2.2. Văn hóa có tính giá trị

    Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là có giá trị. Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị. Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội.

    Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức. Đứng trên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời.

    Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khác nhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau. Từ những cái nhìn này, ta có thể đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau.

    2.3. Văn hóa có tính nhân sinh

    Tính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như một hiện tượng xã hội. Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên hay còn gọi là thiên tạo. Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người.

    Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người. Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa.

    2.4. Văn hóa có tính lịch sử

    Văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định. Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử. Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị. Nhờ có tính lịch sử mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trở thành truyền thống văn hóa.

    Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…

    3. Chức năng của văn hóa là gì?

    3.1. Chức năng tổ chức xã hội

    Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội cho phép con người tổ chức, tụ họp thành những đơn vị làng, xã, thành phố đến quốc gia, khu vực.

    Cụ thể, văn hóa gia đình chính là yếu tố giúp con người hình thành nhận thức và hành động duy trì, phát triển các mối quan hệ trong gia tộc, dòng họ. Chính sự duy trì và bảo tồn này cũng giúp lưu giữ nguyên vẹn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp dẫu trải qua hàng ngàn năm đổi thay.

    3.2. Chức năng điều chỉnh xã hội

    Chức năng này xuất phát từ đặc trưng mang tính giá trị của văn hóa. Mỗi một nền văn hóa đều có những giá trị riêng, những giá trị này được hình thành thông qua quá trình con người điều chỉnh thói quen, nhận thức và hành động để có thể thích nghi với sự thay đổi từ môi trường.

    Nhờ có chức năng này mà ta có thể thấy được sự đa dạng giữa các nền văn hóa với nhau, đồng thời cũng có thể tìm thấy những nét tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các nền văn hóa. Đó chính là mục tiêu và động lực trong sự phát triển của nhân loại.

    Tính nhân sinh của văn hóa tạo ra chức năng giao tiếp. Chính vì là một sợi dây vô hình kết nối con người với con người nên văn hóa có khả năng “giao tiếp”. Đó là lý do mà văn hóa chỉ được dùng với xã hội loài người, vì chỉ có con người mới có thể giao tiếp với nhau thông qua hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu. Trong đó, hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu chính là các sản phẩm của văn hóa.

    Nói cách khác, văn hóa tạo ra môi trường giao tiếp cho con người. Nhờ có văn hóa mà con người có thể giao tiếp với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động,… để truyền đạt thông tin cho nhau.

    Văn hóa có tính lịch sử, vì thế mà nó có chức năng giáo dục. Lý do là bởi văn hóa có năng lực thông tin hoàn hảo. Sự truyền đạt thông tin này được thể hiện thông qua sự quan sát và bắt chước hành vi. Thế hệ sau quan sát và bắt chước hành vi của thế hệ trước, sự tích lũy này diễn ra từng ngày, sự chuyển giao cứ thế được thực hiện.

    Chính vì thế mà văn hóa luôn gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, người có văn hóa tức là người được tiếp nhận giáo dục, biến những giá trị mình thu nạp trở thành giá trị của riêng bản thân, văn hóa khi ấy được nâng cấp lên trở thành bản sắc của mỗi con người.

    4. Vai trò của văn hóa là gì?

    4.1. Văn hóa là cơ sở xã hội hóa các cá nhân

    Văn hóa được thể hiện là những nhận thức của mỗi người nhằm đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào xã hội chung cũng như năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo đời sống của chính họ.

    4.2. Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế

    Văn hóa trong lĩnh vực kinh tế được hiểu là cơ sở vật chất cũng như năng lực lao động của con người. Điều này đồng nghĩa với việc nền văn hóa phát triển cao thì người lao động cũng sẽ có năng lực tốt.

    4.3. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội

    Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần nếp nghĩ, từ truyền thống, từ tình cảm, từ vốn hiểu biết, tất cả tích tụ lại trở thành sức mạnh ghê gớm của một cộng đồng, giúp dân tộc vượt qua thách thức.

    4.4. Văn hóa hoàn thiện cá nhân

    Văn hóa là cơ sở hình thành nhân cách cá nhân thông qua quá trình tiếp nhận văn hóa, từ đó làm đầy kiến thức, kỹ năng và cảm xúc để làm chủ mình trong mọi tình huống.

    Nếu bạn vẫn còn bất cứ thắc mắc, băn khoăn nào hãy liên hệ ngay với Tri Thức Cộng Đồng thông qua SĐT: 0946 88 33 50 hoặc Email: [email protected] để được hỗ trợ.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Tổ Chức Và Động Viên.
  • Hành Vi Tiêu Dùng Của Người Việt
  • Khái Lược Về Văn Hóa Tiêu Dùng Trên Toàn Cầu
  • Văn Hóa Kinh Doanh Và Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Việt Nam
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Thứ tư, 16 Tháng 3 2022 09:16

    (LLCT) – Văn hóa, đặc trưng của văn hóa không phải là phạm trù bất biến, mà luôn vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa cùng với sự tác động và nảy sinh của các yếu tố bên ngoài và nội tại xã hội Việt Nam, sự xung đột về hệ giá trị giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị hiện đại vẫn tiếp diễn. Những giải pháp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai nhằm gìn giữ và phát triển 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn.

    1. Đặc trưng của văn hóa

    Văn hóa luôn mang hai hàm nghĩa tĩnh và động. Xét từ góc độ tĩnh, thuộc tính bản chất nhất của văn hóa là tính “nội nguyên”(1), tức chỉ nguyên nhân nội tại, những phát sinh trong nội bộ văn hóa. Ngoài ra, văn hóa còn có tính giáo dục, thuộc tính căn bản và nổi bật, có chức năng làm cho sự phát triển của kinh tế và văn hóa có mối quan hệ nội tại tự nhiên và sâu sắc.

    Ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, văn hóa được xem là “văn tự và giáo hóa”. Ở phương Tây, từ “văn hóa”(Culture) bắt nguồn từ tiếng Latinh, nghĩa gốc là trồng trọt, nuôi dưỡng, luyện tập, khai khẩn, khai phát. Vì thế, ở phương Đông hay phương Tây, văn hóa đều biểu trưng cho hoạt động của loài người và đều coi trọng nghĩa từ nguyên của văn hóa là mang tính giáo dục. Tính giáo dục của văn hóa được thể hiện chủ yếu thông qua sự kế thừa và truyền bá. Văn hóa là sự ngưng tụ tri thức và kỹ năng của loài người, truyền bá, kế thừa, học tập lẫn nhau từ đời này qua đời khác.

    Xét từ góc độ động, thuộc tính bản chất và công năng của văn hóa thể hiện trước hết là ở tính thực tiễn của văn hóa. Trong tác phẩm Phê phán kinh tế chính trị học, C.Mác viết: “Giới tự nhiên không thể sáng tạo ra bất kỳ máy móc, đầu máy, điện thoại, máy dệt tự động v.v.. Tất cả những cái đó đều là sản vật do nền công nghiệp của loài người sáng tạo ra. Sự thay đổi vật chất của tự nhiên là do ý chí của loài người chế ngự tự nhiên hoặc bộ máy hoạt động của loài người điều khiển giới tự nhiên. Tất cả những điều đó đều do trí tuệ và bàn tay con người sáng tạo nên và nó đều là trí lực của vật hóa”(2). Chỗ sâu sắc nhất trong quan điểm văn hóa của C.Mác thể hiện trong việc tác giả đã khảo sát thuộc tính bản chất và công năng của văn hóa từ hoạt động thực tiễn của con người hiện thực. Trong nhiều tác phẩm về triết học, kinh tế học của C.Mác, chúng ta được biết rằng, những người tham gia vào lĩnh vực hoạt động văn hóa và sáng tạo văn hóa không phải là những con người trừu tượng mà là những con người lịch sử, những con người hiện thực, con người cụ thể, con người thực tiễn, con người xã hội. Tính thực tiễn của văn hóa chính là “nhân hóa”. Con người là tác giả sáng tạo văn hóa, là chủ thể của quá trình hoạt động lịch sử văn hóa.

    C.Mác chỉ rõ, mọi hoạt động văn hóa của loài người trước hết thuộc về lao động vật chất cảm tính, tôn giáo, gia đình, nhà nước, luật pháp, đạo đức, khoa học, nghệ thuật v.v.. đều là phương thức đặc thù của sản xuất, hơn nữa, còn thực sự chi phối quy luật phổ biến của sản xuất. Như vậy, lao động, thực tiễn v.v.. những hoạt động tự giác có ý thức, có mục đích của loài người đã xác nhận rõ “sự tồn tại loài” của con người, đó chính là nguồn gốc bản chất chân thực của con người và là nguồn gốc bản chất của văn hóa. Lao động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn của loài người. Trong quá trình đó, con người phải dựa vào tự nhiên, chịu sự chế ước của hoàn cảnh tự nhiên, mặt khác, không ngừng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo tự nhiên vì mục đích, yêu cầu của chính loài người. Yếu tố tích cực – sức sản xuất xã hội – trong hoạt động thực tiễn của sản xuất vật chất không những là sáng tạo tự nhiên của con người (tức thế giới vật chất mà con người yêu cầu), mà còn tạo nên tính đa dạng, phong phú của chính con người, thể hiện trong mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội. Ý nghĩa và giá trị chân chính của sản phẩm lao động không những chỉ đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại của con người để giữ mối liên hệ với việc tái sản xuất của chính con người, mà còn thể hiện những sáng tạo thiên bẩm, sự thông minh tài trí, sức mạnh, dũng khí, tình yêu, cảm hứng, kỹ năng, kinh nghiệm, tri thức, sự giao lưu của tinh thần, những niềm vui và mỹ cảm mà con người từng phát huy, từng sáng tạo, từng đạt được trong quá trình sản xuất. Do đó, hoạt động thực tiễn căn bản nhất của lao động loài người bao gồm cả những hoạt động sáng tạo văn hóa: sáng tạo tự nhiên – xã hội – con người, những sáng tạo tinh hoa của văn minh tinh thần nhân loại như nghệ thuật, tôn giáo, triết học v.v.. Văn hóa vốn có bản chất thực tiễn, nó quyết định công năng lịch sử xã hội một cách cơ bản nhất, nó tham dự năng động, tự giác, sáng tạo và ảnh hưởng đến công năng bản chất của hoạt động kinh tế. Thuộc tính kinh tế và công năng của văn hóa là sự thể hiện tập trung nhất tính thực tiễn của văn hóa.

    Hoạt động lịch sử của xã hội loài người phù hợp với bản chất thực tiễn của văn hóa, làm cho nó có được những tính chất và công năng của lực lượng sản xuất. Bởi vậy, văn hóa có tác dụng trực tiếp đến giới tự nhiên và việc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội.

    Với bản chất thực tiễn và công năng đối với hoạt động kinh tế, văn hóa là một lực lượng sản xuất, thể hiện ở những điểm sau:

    Một là, văn hóa là một loại sức sản xuất đặc thù. Tính đặc thù của nó thể hiện ở chỗ, văn hóa ảnh hưởng và chế ước các hoạt động kinh tế một cách tích cực, năng động bằng các hiệu năng tổng hợp các quan niệm, hành vi, và trên một mức độ nhất định, đã trở thành lực lượng cấu thành nội tại của hoạt động kinh tế.

    Lao động sản xuất của loài người gồm hai dạng lớn: lao động vật chất và lao động tinh thần. Lao động tinh thần là một trong những hoạt động thực tiễn cơ bản và quan trọng nhất của loài người. Thực tiễn lao động sản xuất của loài người là những hoạt động có ý thức, có mục đích, tức là sự thống nhất giữa lao động chân tay và lao động trí tuệ. Mọi hoạt động sản xuất của con người là những hành vi được tiến hành dưới sự chi phối của tư tưởng, ý thức, quan niệm trên cơ sở những điều kiện khoa học và kỹ thuật nhất định. Và tất cả những điều trên không thể tách rời cơ sở văn hóa và bối cảnh văn hóa nhất định. Với tư cách là một mô thức đã định của quan niệm và hành vi, văn hóa thẩm thấu và phát huy tác dụng của nó một cách sâu sắc xuyên suốt toàn bộ quá trình lao động vật chất và lao động tinh thần của con người.

    Hai là, văn hóa và sức sản xuất có mối quan hệ biện chứng. Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng, sức sản xuất cùng một lúc giải quyết được sự biến đổi vật chất giữa con người và mang hình thái vật hóa thâm nhập sâu vào quá trình biến đổi của tinh thần con người, bao trùm là hệ thống quan niệm, giá trị và các dạng thức, hành vi của văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, mở rộng. Vì thế, văn hóa và sức sản xuất trong toàn bộ thực tiễn xã hội chủ yếu là trong hoạt động kinh tế, chúng luôn thẩm thấu, thúc đẩy lẫn nhau và luôn đạt được sự thống nhất nội tại. Xét từ quan điểm sức sản xuất lớn thì văn hóa là sức sản xuất. Xét từ quan điểm đại văn hóa thì sức sản xuất cũng là văn hóa.

    Từ những luận giải trên, các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đã đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật bốn đặc trưng cơ bản sau:

    Thứ nhất, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, xã hội và tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã nảy sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú.

    Thứ hai, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị vật chất và giá trị tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.

    Thứ ba, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên – xã hội sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị.

    Thứ tư, tính nhân sinh. Văn hóa là hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.

    2. Điều kiện hình thành và những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam

    Văn hóa vốn là một hoạt động thuộc thế giới người nói chung và cũng là đặc trưng của mỗi cộng đồng người nói riêng. Nó là điều kiện sinh tồn của mỗi một con người, đồng thời cũng là thành tựu của từng tộc người và là cái để phân biệt giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác, là tấm “chứng minh thư” để xác định cá tính của từng dân tộc trong cộng đồng nhân loại, là “tấm giấy thông hành” giúp các quốc gia dân tộc cùng ngồi đàm phán, là thông điệp đưa các dân tộc xích lại gần nhau, là cơ sở, là nền tảng, là trụ cột, là sức mạnh quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội.

    Văn hóa với tiềm lực, sức sống và thực lực độc đáo của mình, biểu hiện và tỏ rõ sức mạnh tổng hợp của đất nước.

    Cội nguồn của những đặc điểm, đặc trưng văn hóa dân tộc cố nhiên phải tìm trong những điều kiện lịch sử của dân tộc. Nhưng trước đó, và trong suốt quá trình lịch sử, những điều kiện địa lý có ảnh hưởng đến phương thức canh tác, hình thái kinh tế – xã hội – chính trị. Văn hóa là sự trả lời, sự ứng phó của cộng đồng cư dân trước những thành thức của điều kiện địa lý – khí hậu và xã hội – lịch sử. Bởi vậy, khi bàn đến nét riêng biệt – cái đặc trưng của văn hóa Việt Nam, phải tìm đến cội nguồn của nó từ thời đại đá mới, thời đại phát sinh nông nghiệp và làng xóm, phải chú ý đến những điều kiện nền tảng địa lý và môi trường thiên nhiên đã sản sinh nên những đặc trưng, đặc điểm văn hóa ấy. Xét về mặt thiên nhiên, văn hóa Việt Nam khởi thủy cùng chung trong khu vực Đông Nam Á. Khởi thủy, không gian địa lý tự nhiên Đông Nam Á bao gồm khu vực sông Trường Giang kéo dài về phương Nam, khu vực phía Nam dải Tần Lãnh và khu vực Atxam hiện tại. Môi trường thiên nhiên ở đây nảy sinh và phát triển văn hóa nông nghiệp lúa nước.

    Về mặt nhân chủng, đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, về cơ bản, vùng Bách Việt (Việt – Mường) là vùng phi Hoa, phi Ấn. Khi Trung Quốc bành trướng xuống lưu vực sông Trường Giang, Việt Nam và Trung Quốc có sự khác nhau căn bản: Việt Nam là vùng châu Á gió mùa, Trung Quốc là vùng châu Á đại lục, Việt Nam là vùng nông nghiệp lúa nước, Trung Quốc là vùng nông nghiệp khô ( trồng kê, cao lương, lúa mạch) và vùng Bách Việt co lại dần, chỉ còn lại Việt Nam – đại biểu duy nhất còn sót lại của phức hợp Bách Việt ngày xưa, tồn tại vừa với tính chất Dân tộc – Nhà nước (Nation- Etat), vừa với tính chất Dân tộc – Nhân dân (Nation – People). Từ đó xuất hiện trên thực tiễn những cái bất dị giữa Việt Nam và Trung Quốc(3).

    Việt Nam – Đông Nam Á là vùng thiên nhiên phong phú, thống nhất nhưng đa dạng, do đó, văn hóa bản địa phong phú, đa dạng trong sự thống nhất. Trào lưu lịch sử cùng với việc tiếp thu các nhân tố ngoại sinh từ Ấn Độ, Trung Hoa, phương Tây, những nền văn hóa của vùng càng đa dạng và càng có xu hướng phủ mờ cái gốc – văn hóa bản thể, văn hóa nội sinh trong vùng.

    Do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và lịch sử hình thành quốc gia dân tộc, văn hóa Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biến, nhờ thế Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc. Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Nhiều học giả thống nhất rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra ở vùng lúa nước sông Hồng cách đây hơn 4 nghìn năm, được tôi luyện và khẳng định trong 2 nghìn năm chống và đối thoại với Trung Quốc đã đủ tầm cỡ để tiếp biến văn hóa thành công. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến văn hóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, vừa có cưỡng bức, vừa có đối thoại văn hóa, có thời điểm vừa chống lại, vừa tiếp thu, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa.

    Văn hóa Việt Nam có những nét mang tính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt, đặc thù. Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc kết, bảo lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị – kinh tế – xã hội của Việt Nam. Nhiều học giả, nhà nghiên cứu chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Văn hóa Việt Nam đã có nhiều ý kiến đa chiều về đặc trưng văn hóa Việt Nam, tạo nên bức tranh phong phú, nhiều màu sắc, đôi khi là tương phản, nhưng tổng hợp lại, văn hóa Việt Nam có những nét chung tương đối khái quát, thể hiện ở 5 đặc trưng sau:

    Một là, tính cộng đồng làng xã, thể hiện rõ ở 6 phẩm chất: Tính đoàn kết, giúp đỡ; Tính tập thể thương người; Tính dân chủ, làng xã; Tính trọng thể diện; Tình yêu quê hương, làng xóm; Lòng biết ơn. Bên cạnh những phẩm chất tốt, tính cộng đồng làng xã cũng để lại nhiều tật xấu trong văn hóa: Thói dựa dẫm; Thói cào bằng, chụp mũ; Bệnh sĩ diện, háo danh; Bệnh thành tích; Bệnh phong trào; Bệnh hình thức v.v..

    Hai là, tính trọng âm. Bảy phẩm chất tốt được biểu hiện trong tính trọng âm là: Tính ưa ổn định; Tính hiền hòa, bao dung; Tính trọng tình, đa cảm; Thiên hướng thơ ca; Sức chịu đựng, nhẫn nhịn; Lòng hiếu khách. Bên cạnh đó, tính trọng âm cũng là mảnh đất hình thành những bệnh xấu như: Bệnh thụ động, khép kín; Bệnh lề mề, chậm chạp; Bệnh tủn mủn, thiếu tầm nhìn; Bệnh sùng ngoại v.v..

    Ba là, tính ưa hài hòa, thể hiện ở bốn phẩm chất: Tính mực thước; Tính ung dung; Tính vui vẻ, lạc quan; Tính thực tế. Tuy nhiên, tính ưa hài hòa cũng gây mặt hạn chế, như: Bệnh đại khái, xuề xòa; Bệnh dĩ hòa vi quý; Bệnh trung bình chủ nghĩa; Bệnh nước đôi, thiếu quyết đoán…

    Bốn là, tính kết hợp, thể hiện ở hai khả năng: Khả năng bao quát tốt; Khả năng quan hệ tốt. Mặt trái của tính kết hợp này cũng tạo ra những hậu quả xấu như: Thói hời hợt, thiếu sâu sắc; Bệnh sống bằng quan hệ…

    Năm là, tính linh hoạt. Biểu hiện của tính linh hoạt được thể hiện ở 2 phẩm chất tốt: Khả năng thích nghi cao; Tính sáng tạo. Tính linh hoạt nhiều khi cũng dẫn đến hậu quả xấu như: Thói tùy tiện, cẩu thả; Bệnh thiếu ý thức pháp luật…

    Tổng hợp 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ta thấy phẩm chất, giá trị cốt lõi tốt nhất là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã; tính tinh tế.

    Văn hóa, đặc trưng của văn hóa không phải là phạm trù bất biến, mà luôn vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa cùng với sự tác động và nảy sinh của các yếu tố bên ngoài và nội tại xã hội Việt Nam, sự xung đột về hệ giá trị giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị hiện đại vẫn tiếp diễn. Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu, đề xuất nhiều hướng đi, nhiều giải pháp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai với mong muốn 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam sẽ được bảo tồn và dịch chuyển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Một số đề tài đã được công bố, trong đó nổi bật là đề tài cấp Nhà nước “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” thuộc chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm KX-04/11-15 Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015 do GS,TSKH Trần Ngọc Thêm làm Chủ nhiệm. Trong đề tài này, khi bàn về đặc trưng văn hóa Việt Nam, tác giả đề xuất chuyển đổi đặc trưng văn hóa Việt Nam đến năm 2030 theo hướng sau:

    Đặc trưng 1: Tính cộng đồng làng xã nên chuyển thành Tính cộng đồng xã hội.

    Đặc trưng 2: Tính trọng âm và Đặc trưng 3: Tính ưa hài hòa nên chuyển thành Tính hài hòa thiên về dương tính.

    Đặc trưng 4: Tính kết hợp nên chuyển thành Tác phong công nghiệp.

    Đặc trưng 5: Tính linh hoạt nên chuyển thành Tính linh hoạt trong nguyên tắc(4).

    Hiện tại và tương lai sẽ còn nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Những đề xuất của họ sẽ được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm, lựa chọn nhằm phục vụ mục đích cao cả là xây dựng nền Văn hóa Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân, thiện, mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2015

    (1) Nội nguyên (Endogenesis) là khái niệm trong sinh vật học, vốn chỉ sự hình thành bên trong cơ thể tế bào sinh vật. Chúng tôi dùng khái niệm này để chỉ sự hình thành và vận động bên trong của văn hóa, nền văn hóa.

    (2) C.Mác: Phê phán kinh tế chính trị học, t.3 (1857-1859), Nxb Nhân dân, 1963, tr.358.

    (4) Xem Trần Ngọc Thêm (chủ biên): Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr.56-77.

    PGS, TS Lê Văn Toan

    Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Vấn Đề Về Hình Tượng Nhân Vật Trong Văn Học
    • Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.
    • Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.
    • Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.
    • Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

    Văn học theo khái niệm chính là một loại hình của sáng tác giúp tái hiện những đề tài của đời sống xã hội cũng như con người. Có nhiều quan điểm về khái niệm văn học, tựu chung lại sự xuất hiện của văn học chính là dựa vào sự sáng tạo của việc hư cấu, và nội dung được thể hiện qua từng đề tài sáng tác.

    Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

    Các thể loại chính của văn học:

    Một số khái niệm trong văn học

    Chức năng nhận thức của văn học

    Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

    Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

    Chức năng thẩm mĩ của văn học

    Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

    “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

    Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

    Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

    Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

    Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

    Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

    Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

    “Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

    Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

    Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

    Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

    Chức năng giáo dục của văn học

    Lý giải văn học với chức năng giáo dục

    Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

    Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

    Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

    “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy”.

    Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

    Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

    “Cháu chiến đấu hôm nay Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”

    Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

    Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

    Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

    Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

    “Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

    Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

    “Làm sao giết được người trong mộng Để trả nợ duyên kiếp phũ phàng”

    Chức năng giao tiếp của văn học

    Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

    “Em tưởng giếng nước sâu Em nối sợi gàu dài Ai ngờ giếng nước cạn Em tiếc hoài sợi dây”

    Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

    Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

    Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

    • Đặc trưng về đối tượng phản ánh.
    • Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.
    • Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.
    • Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

    Nhưng sự đối thoại giữa người đọc và tác giả lại được diễn ra gián tiếp thông qua tác phẩm. Nếu như nhà văn là người mang đứa con tinh thần của mình đến với người đọc thì người đọc lại chính là người mang lại hơi thở, sự sống cho tác phẩm. Và lời hồi đáp của người đọc dành cho tác giả chính là những nỗi niềm trân quý, sự rung lên trong tâm hồn và sự thay đổi của người đọc. Tất cả đều góp phần kiến tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

    Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

    Bản chất và đặc trưng của văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Thức Trong Văn Học Là Gì ?
  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Và Hiện Thực Trong Lý Thuyết Ký Hiệu Học Văn Hóa
  • Vấn Đề Tính Chân Thực Trong Phản Ánh Hiện Thực Của Văn Học
  • Hội Nghị “tổng Kết Công Tác Năm 2022 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022” Của Trung Tâm Hỗ Trợ Sáng Tác Văn Học Nghệ Thuật
  • Đặc Trưng Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Câu Nói Của M.gorki: “văn Học Là Nhân Học”
  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại
  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay
  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm , một cách nhìn đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng và văn nghệ nói chung không giống với các hình thái ý thức xã hội khác

    Đặc thù của văn học với tư cách là một hình thái ý thức thẩm mĩ tồn tại không gì thay thế được trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại là vì văn học có đối tượng phản ánh , nội dung và phương thức thể hiện riêng mà các hình thái ý thức xã hội khác không có đựơc.

    _ Mĩ học duy vật khẳng định đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới khách quan. Thế giới khách quan ấy được văn học chiếm lĩnh, nhìn nhận ở góc độ khác các ngành khoa học. Văn học chú ý đến các ” kinh nghiệm quan hệ” ( I. Bôrep). ” Kinh nghiệm quan hệ” mang ý nghĩa là quan hệ người kết tinh trong các sự vật và hiện tượng của thế giới hiện thực được miêu tả. Do đó con người trở thành trung tâm của mọi quan hệ đời sống trong miêu tả.

    _ Lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học có một điểm tựa để nhìn ra thế giới:

    + Trong tác phẩm văn học, dù miêu tả thế giới khách quan hay thế giới chủ quan thì thế giới ấy cũng đều được nhìn nhận thông qua một con người, tức một nhân vật cụ thể ( Nhân vật trữ tình trong thơ, nhân vật , nhân vật người kể chuyện trong truyện). Không có một TP nào vắng bóng nhân vật. Con người trong văn học là trung tâm giá trị , trung tâm đánh giá và trung tâm kết tinh quan hệ.

    VD: Hình ảnh trăng trong TPVH không phải được xem xét như một thiên thể vật chất tự nhiên , một hành tinh của trái đất trong thiên văn học mà nó chỉ có thể là ” Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ” ( Nam Cao), hoặc là người làm chứng cho lời thề bồi của đôi lứa ” Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song” ( Truyện Kiều), hoặc là người bạn tri âm tri kỉ của người tù cộng sản mất tự do thân thể nhưng hoàn toàn tự do trong tư tưởng , tâm hồn ” Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”, là người bạn hữu tình của các bậc thi nhân, mặc khách ” Song thưa để mặc bóng trăng vào” ( NK) , ” Trăng vào cửa sổ đòi thơ” (HCM) , hay như một thiếu nữ đa tình ” Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi” ( Hàn Mặc Tử)

    _ Rất nhiều ngành khoa học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu nhưng con người với tư cách là đối tượng của văn học hoàn toàn khác con người là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học:

    + Văn học là nhân học nhưng con người trong TPVH được tái hiện trong tính toàn vẹn, cảm tính, sinh động từ những chi tiết ngoại hình, đến hành vi , ngôn ngữ, nội tâm,…

    + Con người trong VH được tái hiện trong những quan hệ xã hội chằng chịt, phong phú và phức hợp , bộc lộ qua những tính cách cụ thể trong những hoàn cảnh , môi trường cụ thể, trong những cuộc đời và số phận riêng biệt, cá lẻ. Trong đó, VH chủ yếu đi sâu vào phương diện tâm lí, tình cảm , tư tưởng.

    + Con người trong VH không được nhìn nhận như một thực thể khách quan tuyệt đối như trong các ngành khoa học mà được tái hiện dưới một quan niệm về đời sống, một lí tưởng , một tình cảm thẩm mĩ , một quy luật thẩm mĩ nhất định, một cảm hứng mãnh liệt của nhà văn

    Nội dung của VH không đồng nhất với đối tượng của VH. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát , đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống , một lí tưởng niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm. Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó nhưng với một chất lượng khác

    Nội dung của VH là sự giao thoa , xuyên thấm giữa cái khách quan và cái chủ quan, là hiện thực đời sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với một thiên hướng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Không có chất liệu đời sống thì cũng không có gì để làm nên nội dung, nên thực chất của TPVH nhưng sự việc đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa nghệ sĩ, không thành ” Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi” thì cũng không biến thành hình tượng văn học được. Huy Cận đã so sánh hai trạng thái mưa trước và sau CMTT: ” Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú

    Triều mưa nay phơi phới lúa xanh”. Hay như cách nhìn của nhà thơ đối với các pho tượng La Hán chùa Tây Phương trước CM:

    Hoàng hôn thế kỉ phủ bao la

    Sờ soạng cha ông tìm lối ra

    Có phải thế mà trên mặt tượng

    Nửa như khói ám nửa sương tà

    và sau CM, nói rõ hơn là trong thời điểm Miền Bắc tuyên bố đi lên xây dựng CNXH:

    Các vị La Hán chùa Tây Phương!

    Hôm nay xã hội đã lên đường

    Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại

    Nội dung của VH, vì thế,bao giờ cũng phong phú và đa nghĩa. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.

    Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng trong khi các hình thái ý thức XH khác phản ánh cuộc sống bằng các khái niệm , phạm trù có tính chất chính xác , khái quát , trừu tượng.

    1* GS Trần Đình Sử cho rằng: Hình tượng là những khách thể thẩm mĩ được tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật ( tất cả những gì của đời sống đều trở thành đối tượng của văn học, tái hiện một cách sáng tạo)

    2* Timôphêep quan niệm: Hình tượng là bức tranh về đời sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và mang ý nghĩa thẩm mĩ

    Phân tích quan niêm của Timôphêep:

    a_ Hình tượng văn học vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát:

    + Cụ thể: tồn tại trong không gian, thời gian, có đường nét , ánh sáng , âm thanh, hương vị,…Tùy theo ý đồ nghệ thuật cá tính và tài năng nhà văn có thể xoáy sâu vào một phương diện nào đó

    Chí Phèo vừa có ý nghĩ là một lớp , một bộ phận nhỏ nông dân bị tha hóa nhưng đồng thời còn là khát vọng làm người , khát vọng hoàn lương – một khát vọng mang tính nhân bản

    VD Bài ca dao: Trên trời mây trắng như bông / Chính giữa cánh đồng bông trắng như mây /

    Ba cô má đỏ hây hây / Đội bông như thể đội mây về làng

    Có vẻ đẹp hài hòa giữa bầu trời , mặt đất và vẻ trẻ trung xinh đẹp của con người. Hài hòa về màu sắc, sự vận động êm nhẹ, mềm mại

    ( vật chất) tinh thần bản thân hình tượng là tinh thần

    + Khách thể: Bản thân hình tượng khi chia tay với nhà văn nó có đời sống riêng của nó, Người đọc có thể hiểu nó theo nhiều cách khác nhau, không phụ thuộc vào nhà văn

    + Đặc thù: HTVH có những đặc trưng riêng: tính chất đa nghĩa ( có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo đối tượng tiếp nhận)

    + Tạo hình: Nói đến hình tượng ta phải có một sự hình dung về không gian , thời gian, con người , sự vật… thông qua văn bản ngôn từ. Tạo hình có nghĩa là tạo được những hình hài cụ thể, có sự vận động trong không gian , thời gian, có màu sắc , đường nét , âm thanh, ánh sáng , hương vị… VD: Đoạn đầu bài thơ VỘI VÀNG

    VD: Từ láy làm sự vật nhòe đi một chút nhưng tạo được sự chính xác của tư thế , tình thái

    + Tính kí hiệu: Một mặt hình tượng được xây dựng bằng kí hiệu ngôn ngữ và đến lượt nó lại là một kí hiệu

    VD: – Về biểu tượng tình yêu:

    – Thuyền – Biển ( Xuân Quỳnh)

    – Biển – Bờ ( Xuân Diệu)

    – Mây – Sóng ( Xuân Mai)

    – Biểu tượng dân tộc Việt Nam anh hùng trong chiến đấu nhưng rất yêu hòa bình , cái đẹp: Lưng đeo gươm tay mền mại bút hoa ( Huy Cận)

    Đầu súng trăng treo ( Chính Hữu)

    Ga mới hồng đôi má / cầu mới thơm mùi sơn ( Xuân Diệu )

    Văn học không chấp nhận sự lặp lại , phải luôn luôn đổi mới

    _ Hình tượng bao giờ cũng mang tính nghệ thuật. Nhà văn phải lựa chọn, sắp xếp sao cho hình tượng hình tượng đó mang giá trị nghệ thuật độc đáo, cuối cùng đạt đến sự hài hòa giữa nội dung và hình thức

    D- Chức năng của văn học:

    Văn học là một loại hình nghệ thuật đa chức năng

    1- Chức năng nhận thức:VH mang đến cho người đọc sự hiểu biết về cuộc sống và con người. Đặc biệt là cung cấp cho người đọc những hiểu biết sâu sắc về con người. Mặt khác, văn học không chỉ đem lại nhận thức cho người tiếp nhận mà còn giúp người sáng tác nâng cao nhận thức đối với cuộc sống và con người. Văn học không chỉ giúp con người hiểu biết quá khứ, về hiện tại và còn dự báo tương lai. Tác phẩm văn học thực sự là cuốn bách khoa toàn thư về đời sống

    2- Chức năng giáo dục:Văn học giúp con người trong sáng , cao thượng hơn. Tác phẩm văn học có khả năng đề xuất các chuẩn mực về đạo đức ( đwocj đánh giá bằng các phạm trù tốt / không tốt). Văn học giáo dục thông qua các điển hình văn học. Chính vì thế mà nội dung giáo dục mang tính sinh động vì điển hình là những con ngườicó hành động , tâm lí cụ thể…. Con đường thực hiện chức năng giáo dục của văn học là con đường thấm dần. Có thể coi văn học là đạo đức nhưng là đạo đức sinh động của đời sống

    Giáo dục đạo đức bằng văn học phải thông qua cái đẹp. Do vậy để thực hiện tốt chức năng giáo dục, văn học phải tạo ra được những hình mẫu lí tưởng mà ở đó chứa đựng những quan niệm đạo đức tiến bộ và từ đó trở thành những điển hình có sức cổ vũ người đọc làm theo

    VD: Lục Vân Tiên: mẫu hình lí tưởng của người trai thời phong kiến nhưng đồng thời thấm nhuần đạo đức nhân dân

    3- Chức năng thẩm mĩ:Để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người , nhiều lĩnh vực đời sống cũng có khả năng đáp ứng , trong đó có cả những lĩnh vực sản xuất không thuộc lĩnh vực tinh thần. Tuy nhiên trong các lĩnh vực ấy yêu cầu thẩm mĩ phải đứng thứ hai sau yêu cầu tiện ích. Với tác phẩm nghệ thuật , giá trị thẩm mĩ là yêu cầu thứ nhất, nếu không có nó thì những chức năng khác đều không thể có tác dụng.

    – Thứ nhất, Văn học tập trung miêu tả những cái đẹp vốn có trong đời sống. Do vậy đối tượng miêu tả của nghệ thuật trước hết phải là cái đẹp

    Có thể nói văn học hướng đến cái đẹp của đời sống để thỏa mãn cái đẹp cho con người

    – Thứ hai:Văn học giàu khả năng tạo ra một cái nhìn mới trước những đối tượng hết sức quen thuộc , bình thường. từ đó làm cho đối tượng mới hơn, đẹp hơn . Đây là đối tượng đúng với bản chất của văn học

    4- Chức năng giao tiếp: Nhìn rộng ra giao tiếp chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của đời sống. Tuy nhiên con người có nhiều hình thức giao tiếp mà văn học là một hình thức giao tiếp đặc biệt. tính chất đặc biệt đó được bộc lộ:

    + Giao tiếp bằng VH chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tình cảm , tư tưởng . Khi nhà văn phải có một cảm hứng mạnh mẽ về nỗi đau, nỗi ám ảnh, trăn trở nào đấy mới có thể sáng tác. “Khi tôi viết là khi tôi thấy đau ở đâu đó”( Pasputin); “nhà văn là người cho máu”. ” Tôi viết theo mệnh lệnh của trái tim tôi nhưng trái tim tôi thuộc về Đảng” ( Sôlôkhôp)

    + Về phía người đọc: Khi ta tìm đến một TP nào đấy ta thấy xúc động , yêu thích mang tính tự giác xuất phát tự nhu cầu bên trong

    + Nội dung giao tiếp của văn học chủ yếu là bằng nội dung tư tưởng , tình cảm. Vì vậy nhu cầu được chia sẻ , được tri âm là nhu cầu rất lớn trong văn học. Do đó giao tiếp bằng văn học thường không giới hạn bởi không gian ,thời gian.

    + Giao tiếp bằng văn học là sự giao tiếp cực kì lí thú nhưng cũng hết sức phức tạp vì nó dễ dẫn đến sự hiểu lầm

    Chức năng giải trí: Văn học là hình thức giải trí hữu ích bởi nó có khả năng làm cho con người có được những phút giây thư giãn sau một thời gian làm việc mệt nhọc. Việc giải trí bằng văn học cố nhiên đòi hỏi người đọc một trình độ nhận thức thẩm mĩ nhất định.Chọn TP phù hợp người đọc sẽ có được sự hưởng thụ giải trí bổ ích và trang nhã . Vì thế, từng người đọc sẽ tìm đến một loại TP phù hợp nhất định nào đó. Đôi khi người sáng tác coi sáng tác VH là một “trò chơi”. Một trò chơi đầy say mê và hiểu biết

    ( Phan Kế Bính – Việt Hán văn khảo, Mặc lâm xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 9)

    GS Trần Đình Sử cho rằng : ” Có lẽ người Việt Nam hiện đại, không mấy ai diễn đạt khái niệm văn chương trung đại rõ ràng , chuẩn xác như ông Phan Kế Bính” ( Trần Đình Sử- Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục, H, 1999, trang91)

    Trần Định @ 20:54 16/11/2011

    Số lượt xem: 4265

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Về Hình Tượng Nhân Vật Trong Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học
  • Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Văn Hóa – Định Nghĩa, Đặc Trưng, Chức Năng – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Là Gì ?
  • Quyền Và Nhiệm Vụ Của Giám Đốc Hoặc Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần
  • Các Chức Năng Cần Có Của Website Thương Mại Điện Tử
  • 11 Chức Năng Cần Có Với Một Thiết Kế Website Bán Hàng Đắt Khách
  • Hướng Dẫn Cách Tạo Chữ Nghệ Thuật Wordart Trong Powerpoint
  • 1. Định nghĩa Văn hóa

    Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa hóa gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong lục, lối sống, lao động…

    Phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thông, như giá trị, như hoạt động, như kí hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội…), có thể xác định được 4 đặc trưng cơ bản mà tổng hợp lại, ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hóa như sau:

    Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động, thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

    2. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

    Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống. Đặc trưng này cần để phân hiệt hệ thống với tập hợp nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.

    Như có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ưng phó vơi môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa).

    Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.

    Các giá trị văn hóa, theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng– và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.

    Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế.

    Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.

    Đặc trưng thứ ha của văn hóa là tính nhân sinh. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như truyền thuyết về các cảnh quan tự nhiên).

    Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.

    Văn hóa còn có tính lịch sử. Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo cho văn hóa tính bề dày một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thông văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiêm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…

    Truyền thông văn hóa tồn tại nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng người). Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử. Nó là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau.

    Hits: 80485

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ic5 Ic Đệm Dòng Uln2803
  • Giới Thiệu Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Của Ubnd Phường Phú Lãm
  • Ubnd Phường Hội Thương, Thành Phố Pleiku
  • Usb Là Gì? Usb Có Chức Năng Và Cấu Tạo Như Thế Nào?
  • Usb Là Gì? Những Công Dụng Của Usb Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Những Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Ảnh Hưởng Của Ẩm Thực, Bạn Đã Biết?
  • Giáo Trình Văn Hóa Ẩm Thực
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Văn Hoá Kinh Doanh (Business Culture) Là Gì? Vai Trò Của Văn Hoá Kinh Doanh
  • Văn hóa ẩm thực Việt Nam rất phong phú và đa dạng từ cách thức chế biến cho đến hương vị các món ăn. Mỗi vùng miền trên dải đất hình chữ S này lại có những món ăn đặc trưng riêng biệt không thể hòa lẫn. Tuy nhiên để tổng kết lại thì văn hóa ẩm thực Việt Nam có 9 đặc trưng tiêu biểu như sau:

    Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miền khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây cũng là điểm nổi bật của ẩm thực của nước ta từ Bắc chí Nam.

    2. Tính ít mỡ:

    Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ, không dùng nhiều thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ như món của người Hoa.

    Khi chế biến thức ăn người Việt Nam thường dùng nước mắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác …nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món khác nhau đều có nước chấm tương ứng phù hợp với hương vị.

    4. Tính tổng hoà nhiều chất, nhiều vị:

    Món ăn Việt Nam thường nhiều chất nhiều vị kết hợp lại với nhau Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…

    5. Tính ngon và lành:

    Cụm từ ngon lành đã gói ghém được tinh thần ăn của người Việt. Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trưng riêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến kèm với các gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị, chỉ có người Việt Nam mới có…

    6. Tính dùng đũa:

    Người Việt có thói quen dùng đũa trong khi ăn Gắp là một nghệ thuật, gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thức ăn…Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay nướng, người Việt cũng ít dùng nĩa để xiên thức ăn như người phương Tây.

    7. Tính cộng đồng:

    Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ từ bát chung ấy.

    8. Tính hiếu khách:

    Tính hiếu khách thể hiện bằng lời mời chào trước mỗi bữa ăn. Trước mỗi bữa ăn người Việt thường có thói quen mời. Lời mời thể hiện sự giao thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…

    9. Tính dọn thành mâm:

    Dọn nhiều món cùng lúc trong bữa ăn là nét đặc trưng trong văn hóa ăn uống của người Việt Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong một bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang món đó ra.

    Như mọi năm cứ đến dịp Tết đến là EZCOOKING lại tiếp tục mở các khóa học nấu ăn ngày tết. Với mục địch giúp các phái nữ chúng ta tự chủ, tự tin không phải lo lắng về chuyện nấu nướng trong những ngày cuối năm. Khóa học kéo dài 6 buổi sẽ hướng dẫn chị em cách chuẩn bị, chế biến và sắp xếp mâm cơm cúng 23 tháng Chạp, cúng tất niên, cơm đãi khách ….. sao cho hài hòa mang đậm bản sắc truyền thống.

    Tìm hiểu và đăng ký tại: http://hocnauanonline.vn/

    Mọi chi tiết xin liên hệ:

    CÔNG TY TNHH BẾP VUI HÀ THÀNH

    Địa chỉ: Tầng 5 – 142 Lê Duẩn, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại: 0915.56.5858 – 0948.685.732

    Email: [email protected]

    EZCOOKING CLASS

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
  • Bài Dự Thi Giải Búa Liềm Vàng Lần Thứ Iv
  • Hội Nghị Toàn Quốc Về Điểm Bưu Điện
  • Nhiều Nét Mới Trong Đào Tạo Kỹ Năng Quản Lý Và Bán Hàng Nâng Cao Cho Nhân Viên Bđ
  • Bưu Điện Văn Hoá Xã Góp Phần Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Ở Nông Thôn
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

    Các thể loại chính của văn học:

    Một số khái niệm trong văn học

    • Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.
    • Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.
    • Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.
    • Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

    Chức năng nhận thức của văn học

    Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

    Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

    Chức năng thẩm mĩ của văn học

    Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

    Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

    Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

    Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

    Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

    Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

    Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

    Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

    “Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

    Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

    Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

    Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

    Chức năng giáo dục của văn học

    Lý giải văn học với chức năng giáo dục

    Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

    Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

    Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

    Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

    Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

    Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

    Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

    Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

    Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

    Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

    Chức năng giao tiếp của văn học

    Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

    Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

    Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

    Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

    Bởi tác phẩm sẽ còn tồn tại, nhà văn nhà thơ sẽ còn tồn tại đến khi nào người đọc thôi nhớ, thôi xúc động khi đọc tác phẩm. Muốn như thế thì trước hết tác phẩm phải là cái tình của nhà thơ. Đó là lí do vì sau đã hơn nghìn năm nhưng mỗi lần đọc lại những câu ca dao xưa ông bà để lại ta không khỏi xúc động trước một nỗi niềm

    Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

    Bản chất và đặc trưng của văn học

    • Đặc trưng về đối tượng phản ánh.
    • Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.
    • Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.
    • Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Xã Hội Học Giáo Dục
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100