Tiểu Luận Quản Trị Học Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Lý
  • Bảo Vệ Rơ Le Và Tự Động Hóa
  • Cách Bật Tắt Kiểm Tra Sửa Lỗi Chính Tả Trong Word 2010
  • Những Tuyệt Chiêu Cho Công Cụ Kiểm Tra Văn Bản Của Word 2010
  • Cách Kiểm Tra Lỗi Chính Tả Trong Word 2021
  • Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Tiểu Luận

    Đề tài: Chức năng kiểm tra trong quản trị

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Nhóm TH: 2

    Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    Nhóm 2

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Khái niệm kiểm tra ……………………………………………………………………………..2

    2.

    Phân loại kiểm tra ……………………………………………………………………………….2

    3.

    Mục đích của kiểm tra …………………………………………………………………………3

    4. Quy trình kiểm tra …………………………………………………………………………………..4

    5. Nguyên tắc khi tổ chức công tác kiểm tra …………………………………………………..8

    6. Bảy nguyên tắc quản trị của giáo sư Koontz và O’Donnell …………………………..9

    II. NỘI DUNG ……………………………………………………………………………………………..12

    1.

    Chức năng kiểm tra có cần thiết trong doanh nghiệp? ………………………………12

    2.

    Vận dụng kiểm tra trong quản lý của các doanh nghiệp tại Việt Nam …………13

    3. Hạn chế trong công tác kiểm tra ở các doanh nghiệp Việt Nam. ……………………..14

    4. Công tác kiểm tra ở siêu thị Big C ………………………………………………………………15

    3.1. Sơ lược về Big C …………………………………………………………………………………15

    3.2 Mục tiêu kiểm tra ở Big C …………………………………………………………………….16

    3.3 Công tác kiểm tra ở Big C …………………………………………………………………….17

    3.3. Những thành tựu đạt được của Big C từ chức năng kiểm tra ……………………21

    3.4 Những hạn chế của Big C từ chức năng kiểm tra …………………………………….21

    3.

    Các giải pháp – hướng khắc phục công tác kiểm tra ở các doanh nghiệp tại

    Việt Nam……………………………………………………………………………………………………..24

    KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT ……………………………………………………………………………25

    TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………………26

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    LỜI MỞ ĐẦU

    Doanh nghiệp là tế bào của xã hội, dù thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào thì

    doanh nghiệp chính là nguồn cung ứng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng cho

    nhu cầu về khía cạnh vật chất lẫn tinh thần của xã hội nói chung và người tiêu dùng

    nói riêng.

    Trong quá trình phát triển của một doanh nghiệp, chúng ta không thể

    không nhắc đến chức năng kiểm tra trong quản trị. Đây là một quá trình hết sức cần

    thiết, không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Sau khi tiến hành các chức năng hoạch

    định, tổ chức, lãnh đạo thì mô hình hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa hoàn hảo.

    Do vậy nhà quản trị cần phải đo lường thực hiện các kế hoạch trên thực tế nhằm phát

    hiện ra các sai lệch và đề ra các biện pháp điều chỉnh để thực hiện các mục tiêu kế

    hoạch đề ra. Đây được gọi là chức năng kiểm tra trong quản trị. Kiểm tra là cách duy

    nhất để nhà quản trị biết được họ có đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra hay không,

    cũng như lý do tại sao đạt được hoặc không đạt được.

    Kiểm tra trong quản trị của các doanh nghiệp tại Việt Nam nay cũng

    không phải là mới mẻ nhưng cũng không ít ai hiểu sâu về vấn đề này, chính vì vậy,

    nhóm 2 xin phép nghiên cứu đề tài: “Chức năng kiểm tra trong quản trị và vận dụng

    trong quản lý các doanh nghiệp tại Việt Nam”. Đồng thời để làm rõ về vấn đề đó,

    nhóm 2 đã lấy hệ thống siêu thị Big C để tìm hiểu và phân tích về chức năng quản trị ở

    siêu thị này một cách cụ thể hơn.

    Trong quá trình nghiên cứu và phân tích đề tài trên, nhóm 2 không tránh khỏi

    những sai sót, mong cô và các nhóm góp ý và bổ sung những thiếu sót để bài tiểu luận

    của nhóm được hoàn thiện hơn.

    Nhóm 2 xin chân thành cảm ơn!!!

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1.

    Khái niệm kiểm tra

    Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã

    được hoạch định, đồng thời sữa chữa và chấn chỉnh những sai lầm để đảm bảo công

    việc đạt được mục tiêu như kế hoạch hoặc các quyết định đặt ra để đạt được các mục

    tiêu đã đề ra.

    Khi triển khai một kế hoạch, cần phải kiểm tra để dự đoán những tiến độ để

    phát hiện sự chệch hướng khỏi kế hoạch và đề ra biện pháp khắc phục. Trong nhiều

    trường hợp, kiểm tra vừa tạo điều kiện đề ra mục tiêu mới hình thành kế hoạch mới,

    cải thiện cơ cấu tổ chức nhân sự và thay đổi kỹ thuật điều khiển.

    Những công cụ kiểm tra trong quản trị là những tỷ lệ, tiêu chuẩn, con số thống

    kê và các sự kiện cơ bản khác, có thể được biểu diễn bằng các loại hình đồ thị, biểu

    bảng nhằm làm nổi bật những dữ kiện mà các nhà quản trị quan tâm.

    Tóm lại, kiểm tra là chức năng của mọi nhà quản trị, từ nhà quản trị cấp cao đến

    các nhà quản trị cấp cơ sở trong doanh nghiệp. Mặc dù quy mô của đối tượng kiểm tra

    và tầm quan trọng của sự kiểm tra thay đổi tùy theo cấp bậc của nhà quản trị, tất cả nhà

    quản trị đều có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu đã đề ra, do đó chức năng kiểm tra

    là chức năng cơ bản đối với mọi nhà quản trị.

    2.

    Phân loại kiểm tra

    Có 3 loại hình kiểm tra: kiểm tra lường trước, kiểm tra trong khi thực hiện

    (kiểm tra đồng thời) và kiểm tra sau khi thực hiện (kiểm tra phản hồi).

    Kiểm tra lường trước: thực hiện trước khi hoạt động xảy ra, tức là ngăn

    chặn các vấn đề có thể xảy ra nhằm tránh sai lầm ngay từ đầu thông qua những thông

    tin từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đối chiếu với kế hoạch. Kiểm tra lường

    trước là hình thức kiểm tra ít tốn chi phí nhưng hiệu quả cao. Càng lên cao, bậc cao thì

    kiểm tra lường trước càng quan trọng

    Kiểm tra trong khi thực hiện: là trực tiếp theo dõi các diễn biến trong quá

    trình thực hiện kế hoặc nhằm giảm những trở ngại khó khăn trong khi thực hiện đảm

    bảo kế hoạch đúng tiến độ.

    2

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Kiểm tra sau khi thực hiện: là đo lường kế quả thực tế đạt được so với kế

    Đầu vào

    Kiểm tra lường

    trước

    Dự đoán các vấn đề

    có thể phát sinh để

    tìm ra cách ngăn

    ngừa trước

    3.

    Quá trình

    Kiểm tra đồng thời

    Điều chỉnh những

    sai sót ngay khi xuất

    hiện

    Đầu ra

    Kiểm tra phản hồi

    Đánh giá lại toàn bộ

    kế hoạch thực hiện

    và đề ra biện pháp

    điều chỉnh trong

    tương lai

    Mục đích của kiểm tra

    Kiểm tra nhằm mục đích bảo đẳm kết quả các hoạt động của doanh nghiệp phù

    hợp với mục tiêu của tổ chức, bao gồm các chức năng sau:

    Kiểm tra để đảm bảo kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức.

    Kiểm tra để bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu.

    Kiểm tra sẽ làm sáng tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xấc

    hơn theo thứ tự quan trọng.

    Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính.

    Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.

    Giúp nhà quản trị phác thảo các tiêu chuẩn tường trình, báo cáo rõ ràng,

    cụ thể, loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết.

    Thông qua việc kiểm tra, nhà quản trị có thể phổ biến những chỉ dẫn cần

    thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công

    sức của mọi người.

    3

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh.

    4. Quy trình kiểm tra

    Quy trình gồm 6 bước:

    1.

    Xác định đối tượng kiểm tra

    2.

    Đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra

    3.

    Định lượng kết quả đạt được

    4.

    So sánh kết quả với tiêu chuẩn kiểm tra

    5.

    Làm rõ những sai lệch

    6.

    Các biện pháp khắc phục

    Bước 1: Xác định đối tượng kiểm tra

    Xác định đối tượng kiểm tra thể hiện qua các hình thức kiểm tra:

    Kiểm tra chiến lược: đánh giá mức độ hiệu quả của chiến lược thường

    được thực hiện trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược.

    Kiểm tra quản lý: là quá trình kiểm tra hoạt động của các bộ phận chức

    năng, nghiệp vụ, nhằm thúc đẩy các bộ phận này hoàn thành các mục tiêu chiến lược

    và mục tiêu bộ phận. Loại kiểm tra này phổ biến nhất là việc kiểm kê sổ sách, thu chi

    các phòng ban…

    Kiểm tra tác nghiệp: là việc kiểm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ của

    các nhân viên, thuộc cấp nhằm xác định những thành tích cá nhân, tìm ra những người

    mẫu điển hình cho doanh nghiệp.

    Nội dung của kiểm tra được đề ra:

    Thành lập bộ phận tiến hành kiểm tra (gồm bao nhiêu người, bao nhiêu

    đơn vị tham gia)

    Thời gian và không gian kiểm tra

    Xác định phương thức kiểm tra ( như kiểm tra trực tiếp, kiểm tra gián

    tiếp, kiểm tra thực tế, kiểm tra sổ sách)

    Các yếu tố kiểm tra, bao gồm định tính và định lượng

    Chi phí kiểm tra

    Thời gian hoàn thành công tác kiểm tra

    Báo cáo quá trình kiểm tra, kết quả kiểm tra, các nhận định và đề xuất

    của bộ phận kiểm tra.

    4

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Bước 2: Đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra

    Tiêu chuẩn là các chỉ tiêu thực hiện kế hoạch có thể biểu thị dưới dạng định

    tính hay định hình, là những chỉ tiêu của nhiệm vụ cần được thực hiện.

    Trong hoạt động của một tổ chức, có thể có nhiều loại tiêu chuẩn. Do đó

    tốt nhất cho việc kiểm tra, các tiêu chuẩn đề ra phải hợp lý và có khả năng thực hiện

    được trên thực tế. Xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn vượt quá khả năng thực hiện rồi

    sau đó phải điều chỉnh hạ thấp bớt các tiêu chuẩn này là một điều nên tránh ngay từ

    đầu. Các phương pháp đo lường việc thực hiện cần phải chính xác, dù là tương đối.

    Một tổ chức tự đặt ra mục tiêu “phải là hàng đầu” nhưng không hề chọn một phương

    pháp đo lường việc thực hiện nào cả, thì chỉ là xây dựng tiêu chuẩn suông mà thôi..Nó

    có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả của công tác kiểm tra: tiêu chuẩn không phù

    hợp sẽ phản ánh không chính xác thực tế và ngược lại, nếu phù hợp thì việc đo lường

    sẽ thuận lợi và kết quả phản ánh đúng quá trình thực hiện kế hoạch.

    Một số yêu cầu khi đề ra tiêu chuẩn:

    Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp

    Luôn luôn có nhiều yếu tố phụ tham gia

    Xác định một số tiêu chuẩn kiểm tra định lượng

    Tiêu chuẩn kiểm tra phải mang tính bao trùm

    Mỗi tiêu chuẩn kiểm tra đều có một định mức riêng phù hợp

    Dễ dàng cho việc đo lường

    Bước 3: Định lượng kết quả đạt được

    Trong việc định lượng kết quả hoạt động, vấn đề hết sức quan trọng là phải kịp

    thời nắm bắt được các thông tin thích hợp. Do đó, nhiệm vụ của nhà quản trị là phải

    xác định cụ thể những thông tin nào thực sự cần thiết để định lượng và đánh giá kết

    quả cao.

    Các yêu cầu khi đo lường kết quả:

    Kết quả phải mang tính hữu ích

    Có mức độ tin cậy cao

    Kết quả thu được không lạc hậu

    Việc định lượng và đánh giá kết quả có thể thực hiện ở một số lĩnh vực sau:

    a.. Đánh giá theo chỉ tiêu marketing

    5

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Những tiêu chuẩn có phù hợp với những mục tiêu và chiến lược đề ra

    Những mục tiêu và tiêu chuẩn tương ứng còn phù hợp với tình hình hiện

    thời không?

    Những chiến lược để hoàn thành mục tiêu có còn thích hợp với tình hình

    hiện nay không?

    Những hoạt động có thích hợp để đạt tiêu chuẩn hay không?

    Khi trả lời những câu hỏi này, ta sẽ tìm được những sai lệch trong quá

    trình thực hiện. Nếu đó là sai lệch xấu, nguyên nhân do khách quan và nếu là sai lệch

    tốt thì nó vẫn gây hại cho doanh nghiệp nguyên nhân dễ tìm hơn sai lệch xấu.

    Bước 6: Các biện pháp khắc phục

    7

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Sau bước làm rõ những sai lệch thì nhà quản trị cần đưa ra những biện pháp

    khắc phục. Đó là:

    Xét lại những tiêu chuẩn: xem lại tiêu chuẩn có cùng hướng với mục tiêu

    hay không (rất ít xảy ra)

    Xét lại những chiến lược: trong một số trường hợp hoàn cảnh bị biến đổi

    tì có thể gây ra sự sai lệch trong chiến lược, chiến lược không còn thích hợp nữa

    Xem lại cấu trúc hệ thống, sự trợ lực: Sự thực hiện không đầy đủ có thể

    bắt nguồn từ cấu trúc hệ thống hay sự trợ lực tài nguyên.

    Xét lại những hoạt động: phần lớn do quản đốc chức năng thiết kế và

    Sự tương quan: cần quan tâm đến các yếu tố khác nha.Tương tụ như khi

    điều chỉnh mục tiêu có thể cần tới tiêu chuẩn chiến lược khác nhau, tiêu chuẩn tài

    nguyên hoạt động và có thể cơ cấu tổ chức khác nhau.

    Kiểm soát tiến trình thiết kế chiến lược: đây là hoạt động kiểm soát quan

    trọng để chắc chắn nó hoạt động đúng và đóng góp vaò thành tích chung của doanh

    nghiệp.

    Nhận định, đánh giá và rút kinh nghiệm

    Trước khi kết thúc quá trình kiểm tra, nhà quản trị thường có những nhận định,

    đánh giá tổng hợp về các vấn đề như:

    + Trình bày quá trình kiểm tra đối tượng

    + Trình bày tổng quát quá trình hoạt động của đối tượng được kiểm tra

    + Những mặt ưu điểm của đối tượng trong hoạt động

    +Trình bày và phân tích những sai phạm quá giới hạn cho phép của đối tượng,

    nếu có

    + Những biện pháp khắc phục, điều chỉnh.

    5. Nguyên tắc khi tổ chức công tác kiểm tra

    Chính xác

    Kịp thời

    Tiết kiệm

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Dễ hiểu

    Chuẩn mực kiểm tra hợp lý

    Dựa vào kế hoạch, chiến lược đề ra

    Chọn mẫu tiêu biểu

    Kiểm tra gắn liền với khắc phục – phòng ngừa

    6. Bảy nguyên tắc quản trị của giáo sư Koontz và O’Donnell

    Theo giáo sư Koontz và O’Donnell đã liệt kê 7 nguyên tắc mà các nhà quản trị

    phải tuân theo khi xây dựng cơ chế kiểm tra. Đó là:

    Kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt động của tổ

    chức và căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra.

    Cơ sở để tiến hành kiểm tra thường là dựa vào kế hoạch. Do vậy, nó phải được

    thiết kế theo kế hoạch hoạt động tổ chức. Mặt khác, kiểm tra còn cần được thiết kế căn

    cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra.

    Ví dụ như công tác kiểm tra các hoạt động và nội dung hoạt động của phó giám

    đốc tài chánh sẽ khác với công tác kiểm tra thành quả của một cửa hàng trưởng. Sự

    kiểm tra hoạt động bán hàng cũng sẽ khác với sự kiểm tra bộ phận tài chánh. Một

    doanh nghiệp nhỏ đòi hỏi cách thức kiểm tra khác với sự kiểm tra các xí nghiệp lớn.

    Công việc kiểm tra phải được thiết kế theo đặc điểm cá nhân các nhà

    quản trị

    Điều này sẽ giúp nhà quản trị nắm được những gì đang xảy ra, cho nên việc

    quan trọng là những thông tin thu thập được trong quá trình kiểm tra phải được nhà

    quản trị thông hiểu. Những thông tin hay những cách diễn đạt thông tin kiểm tra mà

    nhà quản trị không hiểu được, thì họ sẽ không thể sử dụng, và do đó sự kiểm tra sẽ

    không còn ý nghĩa.

    Sự kiểm tra phải được thực hiện tại những điểm trọng yếu

    Khi xác định rõ được mục đích của sự kiểm tra, chúng ta cần phải xác định nên

    kiểm tra ở đâu? Trên thực tế các nhà quản trị phải lựa chọn và xác định phạm vi cần

    kiểm tra. Nếu không xác định được chính xác khu vực trọng điểm, như kiểm tra trên

    một khu vực quá rộng, sẽ làm tốn kém thời gian, lãng phí về vật chất việc kiểm tra

    không đạt được hiệu quả cao.

    9

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần dựa vào những chỗ khác biệt thì chưa đủ. Một số

    sai lệch so với tiêu chuẩn có ý nghĩa tương đối nhỏ, và một số khác có tầm quan trọng

    lớn hơn. Chẳng hạn, nhà quản trị cần phải lưu tâm nếu chi phí về lao động trong doanh

    nghiệp tăng 5% so với kế hoạch nhưng sẽ không đáng quan tâm lắm nếu chi phí về

    tiền điện thoại tăng 20% so với mức dự trù. Hậu quả là trong việc kiểm tra, nhà quản

    trị nên quan tâm đến những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh

    nghiệp, và những yếu tố đó được gọi là các điểm trọng yếu trong doanh nghiệp.

    Kiểm tra phải khách quan

    Quá trình quản trị dĩ nhiên là bao gồm nhiều yếu tố chủ quan của nhà quản trị,

    nhưng việc xem xét các bộ phận cấp dưới có đang làm tốt công việc hay không, thì

    không phải là sự phán đoán chủ quan.

    Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng ta

    được những nhận xét và đánh giá đúng mức về đối tượng được kiểm tra, kết quả kiểm

    tra sẽ bị sai lệch và sẽ làm cho tổ chức gặp phải những tổn thất lớn.

    Vì vậy, kiểm tra cần phải được thực hiện với thái độ khách quan trong quá trình

    thực hiện nó. Đây là một yêu cầu rất cần thiết để đảm bảo kết quả và các kết luận kiểm

    tra được chính xác.

    Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí của doanh nghiệp

    Để cho việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một qui trình và các nguyên

    tắc kiểm tra phù hợp với nét văn hóa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phong cách

    lãnh đạo dân chủ, nhân viên được độc lập trong công việc, được phát huy sự sáng tạo

    của mình thì việc kiểm tra không nên thiết lập một cách trực tiếp và quá chặt chẽ.

    Ngược lại, nếu các nhân viên cấp dưới quen làm việc với các nhà quản trị có phong

    cách độc đoán, thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ, chi tiết và nhân viên cấp dưới có tính ỷ

    lại, không có khả năng linh hoạt thì không thể áp dụng cách kiểm tra, trong đó nhấn

    mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của mỗi người.

    Việc kiểm tra cần phải tiết kiệm và bảo đảm tính hiệu quả kinh tế

    Mặc dù nguyên tắc này là đơn giản nhưng thường khó trong thực hành.

    Thông thường các nhà quản trị tốn kém rất nhiều cho công tác kiểm tra, nhưng kết quả

    thu hoạch được do việc kiểm tra lại không tương xứng.

    Việc kiểm tra phải đưa đến hành động

    10

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    II. NỘI DUNG

    1.

    Chức năng kiểm tra có cần thiết trong doanh nghiệp?

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    tiến hành dự báo được và phải phụ thuộc vào hành động của người khác. Hơn nữa việc

    thiếu một hệ thống kiểm tra có hiệu quả có thể buộc các nhà quản lý phải giám sát cấp

    dưới của mình chặt chẽ hơn và như vậy quyền tự chủ của những người này bị giảm đi.

    Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản lý khi thiết lập hệ thống kiểm tra là

    xác định sự cân đối tốt nhất giữa kiểm tra và quyền tự do của cá nhân, giữa chi phí chi

    kiểm tra và lợi ích do hệ thống này đem lại. Vì vậy, kiểm tra cần phải phù hợp và tuân

    thủ các nguyên tắc kiểm tra.

    2.

    Vận dụng kiểm tra trong quản lý của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Rất khó để tìm ra hướng chung để giúp các doanh nghiệp khắc phục những yếu

    kém của hệ thống kiểm tra trong công ty. Tùy từng công ty, tùy từng khuyết điểm mà

    bạn cần có những biện pháp riêng biệt. Chẳng hạn như đối với việc kiểm tra hoạt động

    chi tiêu trong công ty, bạn cần phải tìm được cách kiểm tra tối ưu phù hợp nhất với đặc

    điểm của công ty, vì đây là thứ tài sản dễ bị thất thoát nhất.

    Việc kiểm tra chỉ dễ dàng nếu các tiêu chuẩn được xác định đúng đắn và thành

    quả của các nhân viên được xác định chính xác. Trong một công ty có rất nhiều bộ

    phận khác nhau nên các quản lý đòi hỏi phải có tư duy tốt, nhiều kinh nghiệm và có

    thể kiểm soát tốt đội ngũ nhân viên và sản phẩm của công ty. Về phía các nhà quản lý

    trong công ty, họ có trách nhiệm thành lập, điều hành và giám sát hệ thống kiểm tra

    nội bộ sao cho phù hợp với mục tiêu của công ty.

    Nhưng kiểm tra chất lượng sản phẩm là yêu cầu hàng đầu đối với nhà quản lý.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội

    nhập thì doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc bán được sản phẩm mà còn phải chịu

    trách nhiệm với những sản phẩm đã được bán ra. Chính vì vậy mà kiểm tra chất lượng

    sản phẩm đối với doanh nghiệp nước ta hiện nay là rất cần thiết và quan trọng.

    Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo việc chấp hành nghiêm

    chỉnh các tiêu chuẩn và quy định của chất lượng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản

    xuất và cải thiện sản phẩm. Đối với các hoạt động giám sát nguyên vật liệu, một cách

    thức khá hiệu quả để hạn chế tình trạng nhân viên ăn cắp nguyên vật liệu là hai biện

    pháp song song là kiểm tra đột xuất và trả lương cao.

    Việc kiểm tra thành quả sẽ khó khăn đối với một số công việc. Ví dụ như đánh

    giá chất lượng phục vụ của phòng hành chính doanh nghiệp, đánh giá uy tín sản phẩm.

    13

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Trong trường hợp này đòi hỏi nhà quản trị phải sử dụng hàng loạt các tiêu chuẩn gián

    tiếp như sự nhiệt tình và lòng trung thành của cấp dưới, thái độ của người tiêu dùng.

    Do đó, khi tiến hành kiểm tra phải đúng với tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra.

    Như vậy, công tác kiểm tra chất lượng đặt ra ở đây là một hoạt động có hệ

    thống gắn liền với quá trình chuẩn bị sản xuất và sản xuất. Là hoạt động nhằm đảm

    bảo mục tiêu chất lượng đã quy định (tiêu chuẩn bằng theo dõi, phân tích đánh giá tình

    hình chất lượng áp dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn hoặc loại bỏ những sai

    sót).

    Trong quá trình chuẩn bị sản xuất ra một sản phẩm diễn ra theo nhiều giai đoạn

    và đều được hệ thống quản lý kiểm tra. Đương nhiên nội dung và yêu cầu kiểm tra ở

    mỗi giai đoạn là khác nhau. Tuy nhiên trong giới hạn của sản xuất thì doanh nghiệp

    cần tập trung vào nhiệm vụ cụ thể sau: kiểm tra chất lượng, nhân sự, số lượng sản

    phẩm, doanh thu bán hàng….

    Có thể nói, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành các mạng lưới đô thị rộng khắp

    cả nước và các siêu thị đã góp phần tạo ra một diện mạo mới cho thương mại ở Việt

    Nam. Đây cũng là bước tiến thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển.

    3. Hạn chế trong công tác kiểm tra ở các doanh nghiệp Việt Nam.

    Mặc dù các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra rất chặt

    chẽ, nghiêm ngặt, nhưng đôi khi vẫn còn nhiều thiếu soát, sai phạm trong công tác

    kiểm tra.

    Nhiều “lỗ hổng” trong kiểm tra, giám sát:

    Hàng loạt sai phạm của các doanh nghiệp trong thời gian qua được cơ quan

    thanh tra và các cơ quan kiểm tra phát hiện được tập trung ở một số dạng: Sai quy

    trình thủ tục theo các quy định của Nhà nước; sai thẩm quyền; sai đối tượng cho phép;

    kinh doanh không đúng bản chất thực tế; trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém dẫn

    đến vi phạm quản lý kinh tế và vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cùng với những yếu kém

    nội tại của doanh nghiệp, sự hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát cũng là nguyên

    nhân khiến các sai phạm trong quản lý vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp này trở

    nên phổ biến.

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    4. Công tác kiểm tra ở siêu thị Big C

    3.1. Sơ lược về Big C

    Được thành lập vào cuối thế kỷ 19 tại Pháp, trải qua quá trình phát triển hơn

    100 năm, tập đoàn Casino là một trong những tập đoàn dẫn đầu trong ngành phân phối

    bán lẻ tại Châu Âu và nhiều thị trường khác trên thế giới. Với tầm nhìn “Nuôi dưỡng

    một thế giới đa dạng”, chìa khóa thành công của tập đoàn Casino đến từ khả năng đón

    đầu và đáp ứng những nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng từng thời kỳ và cam kết

    mạnh mẽ vì sự phát triển bền vững.

    Có mặt tại Việt Nam từ năm 1998, hệ thống siêu thị Big C là kết quả hợp

    tác giữa tập đoàn Casino với các đối tác Việt Nam theo mô hình kinh doanh trung tâm

    thương mại bao gồm đại siêu thị kèm trung tâm mua sắm với đầy đủ các dịch vụ phân

    phối tiện ích và hiện đại. Năm 2013, hệ thống siêu thị Big C bao gồm 25 điểm kinh

    doanh có mặt tại 16 tỉnh thành trên cả nước, được vận hành bởi đội ngũ trên 8.000 cán

    bộ, nhân viên năng động, đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao và quyết tâm đổi mới

    liên tục “Vì sự hài lòng của khách hàng”.

    Thương hiệu Big C thể hiện hai tiêu chí quan trọng nhất trong định hướng kinh

    doanh và chiến lược để thành công. Đó là:

    + “Big” có nghĩa tiếng Việt là “To lớn”, điều đó thể hiện quy mô lớn của các

    siêu thị BigC và sự lựa chọn rông lớn về hàng hóa mà chung tôi cung cấp. Hiện tại,

    mỗi siêu thị BigC có khoảng hơn 40.000 mặt hàng để đáp ứng cho nhu cầu của Khách

    hàng.

    + “C” là cách viết tắt của chữ “Customer”, có nghĩa tiếng Việt là “Khách hàng”,

    Chữ “C” đề cập đến những Khách hàng thân thiết của chúng tôi, họ là chìa khóa dẫn

    đến thành công trong chiến lược kinh doanh của siêu thị Big C.

    Với sự nỗ lực không ngừng của tập thể hơn 8.000 thành viên, siêu thị BigC đã

    giới thiệu đến người tiêu dùng trên toàn quốc những không gian mua sắm hiện đại,

    thoáng mát, thoải mái với chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, chất lượng kiểm

    soát và giá cả hợp lý, đi cùng với những dịch vụ khách hàng thật hiệu quả. Bên cạnh

    đó, tất cả các siêu thị Big C trên toàn quốc đều cung cấp những kinh nghiệm mua sắm

    với nhiều dịch vụ tiện ích cho khách hàng.

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Đảm bảo tất cả sản phẩm được bày bán tại siêu thị Big C phải tuân theo

    các quy định của pháp luật Việt Nam.

    Kiểm soát chặt chẽ các nhà máy sản xuất với sự hỗ trợ của đối tác là

    công ty hàng đầu trong việc kiểm tra, thẩm định, kiểm nghiệm, và chứng nhận.

    Áp dụng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm vào các quy trình

    Tố chức các khóa huấn luyện cho nhân viên siêu thị Big C.

    16

    Nhóm 2

    Tiểu luận Quản trị học

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Quản lý đầu vào để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa tại

    Big C

    Hàng hóa trong siêu thị có đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hay không và

    các siêu thị đang áp dụng hình thức nào để kiểm soát chất lượng hàng hóa… là vấn đề

    được nhiều người tiêu dùng quan tâm.

    Lựa chọn nguồn hàng và giám sát chất lượng

    Hằng tháng, Big C tiêu thụ khối lượng lớn rau củ quả và hải sản. Vì vậy, Big C

    đặc biệt chú trọng đến khâu lựa chọn nhà cung cấp các mặt hàng này.

    17

    Nhóm 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 9: Chức Năng Kiểm Tra Của Quản Trị
  • Cách Kiểm Tra Văn Bản Trong Word 2021, 2013, 2010, 2007, 2003
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quá Trình Quản Trị Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Cổng Điện Tử Đảng Bộ Kccq
  • Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Nhà Nước Trong Thực Hiện Chức Năng Kiểm Tra, Giám Sát Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Đề Tài Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Tắt Tự Động Kiểm Tra Lỗi Chính Tả Trong Word ⋆ Phần Mềm Eiv
  • Hoàn Thành Cài Đặt, Thí Nghiệm Chức Năng Hòa Đồng Bộ Tại Các Tba 110Kv Kon Tum
  • Chương Ix Chức Năng Kiểm Tra
  • Cổng Giao Tiếp Điện Tử Huyện Vĩnh Tường
  • Kiểm Tra Chức Năng Cơ Hô Hấp
  • Kiểm tra là chức năng quan trọng không thể thiếu ở bất kì doanh nghiệp nào. Có thể nói, kiểm tra có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển của doanh nghiệp. Kiểm tra giúp doanh nghiệp đánh giá các tiêu chuẩn đề ra, những mục tiêu mà các doanh nghiệp đã đạt được hay chưa đạt được. Đồng thời, kiểm tra giúp các doanh nghiệp nhận biết được những sai lệch, nguyên nhân dẫn đến những sai lệch trong quá trình hoạt động từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc quá trình hoạt động đó. Từ đó, các doanh nghiệp sẽ khắc phục những nguyên nhân đó và đưa ra các biện pháp hay chính sách phù hợp cho công ty. Chính vì vậy, kiểm tra được áp dụng hầu hết trong công tác quản lý của các doanh nghiệp. Ở nước ta, chức năng kiểm tra này cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.

    Tiểu Luận

    Đề tài: Chức năng kiểm tra trong quản trị

    GVHD: Nguyễn Thị Bích Ngọc

    Nhóm TH: 2

    Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014

    MỤC LỤC

    LỜI MỞ ĐẦU

    Doanh nghiệp là tế bào của xã hội, dù thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào thì doanh nghiệp chính là nguồn cung ứng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng cho nhu cầu về khía cạnh vật chất lẫn tinh thần của xã hội nói chung và người tiêu dùng nói riêng.

    Trong quá trình phát triển của một doanh nghiệp, chúng ta không thể không nhắc đến chức năng kiểm tra trong quản trị. Đây là một quá trình hết sức cần thiết, không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Sau khi tiến hành các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo thì mô hình hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa hoàn hảo. Do vậy nhà quản trị cần phải đo lường thực hiện các kế hoạch trên thực tế nhằm phát hiện ra các sai lệch và đề ra các biện pháp điều chỉnh để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đề ra. Đây được gọi là chức năng kiểm tra trong quản trị. Kiểm tra là cách duy nhất để nhà quản trị biết được họ có đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra hay không, cũng như lý do tại sao đạt được hoặc không đạt được.

    Kiểm tra trong quản trị của các doanh nghiệp tại Việt Nam nay cũng không phải là mới mẻ nhưng cũng không ít ai hiểu sâu về vấn đề này, chính vì vậy, nhóm 2 xin phép nghiên cứu đề tài: “Chức năng kiểm tra trong quản trị và vận dụng trong quản lý các doanh nghiệp tại Việt Nam”. Đồng thời để làm rõ về vấn đề đó, nhóm 2 đã lấy hệ thống siêu thị Big C để tìm hiểu và phân tích về chức năng quản trị ở siêu thị này một cách cụ thể hơn.

    Trong quá trình nghiên cứu và phân tích đề tài trên, nhóm 2 không tránh khỏi những sai sót, mong cô và các nhóm góp ý và bổ sung những thiếu sót để bài tiểu luận của nhóm được hoàn thiện hơn.

    Nhóm 2 xin chân thành cảm ơn!!!

    NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Khái niệm kiểm tra

    Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định, đồng thời sữa chữa và chấn chỉnh những sai lầm để đảm bảo công việc đạt được mục tiêu như kế hoạch hoặc các quyết định đặt ra để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

    Khi triển khai một kế hoạch, cần phải kiểm tra để dự đoán những tiến độ để phát hiện sự chệch hướng khỏi kế hoạch và đề ra biện pháp khắc phục. Trong nhiều trường hợp, kiểm tra vừa tạo điều kiện đề ra mục tiêu mới hình thành kế hoạch mới, cải thiện cơ cấu tổ chức nhân sự và thay đổi kỹ thuật điều khiển.

    Những công cụ kiểm tra trong quản trị là những tỷ lệ, tiêu chuẩn, con số thống kê và các sự kiện cơ bản khác, có thể được biểu diễn bằng các loại hình đồ thị, biểu bảng nhằm làm nổi bật những dữ kiện mà các nhà quản trị quan tâm.

    Tóm lại, kiểm tra là chức năng của mọi nhà quản trị, từ nhà quản trị cấp cao đến các nhà quản trị cấp cơ sở trong doanh nghiệp. Mặc dù quy mô của đối tượng kiểm tra và tầm quan trọng của sự kiểm tra thay đổi tùy theo cấp bậc của nhà quản trị, tất cả nhà quản trị đều có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu đã đề ra, do đó chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản đối với mọi nhà quản trị.

    Phân loại kiểm tra

    Có 3 loại hình kiểm tra: kiểm tra lường trước, kiểm tra trong khi thực hiện (kiểm tra đồng thời) và kiểm tra sau khi thực hiện (kiểm tra phản hồi).

    Kiểm tra lường trước: thực hiện trước khi hoạt động xảy ra, tức là ngăn chặn các vấn đề có thể xảy ra nhằm tránh sai lầm ngay từ đầu thông qua những thông tin từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đối chiếu với kế hoạch. Kiểm tra lường trước là hình thức kiểm tra ít tốn chi phí nhưng hiệu quả cao. Càng lên cao, bậc cao thì kiểm tra lường trước càng quan trọng

    Kiểm tra trong khi thực hiện: là trực tiếp theo dõi các diễn biến trong quá trình thực hiện kế hoặc nhằm giảm những trở ngại khó khăn trong khi thực hiện đảm bảo kế hoạch đúng tiến độ.

    Kiểm tra sau khi thực hiện: là đo lường kế quả thực tế đạt được so với kế hoạch ban đầu nhằm đánh giá lại toàn bộ kế hoạch thực hiện và rút ra những kinh nghiệm cho những kế hoạch sau nhưng tốn nhiều thời gian.

    Phản hồi

    Đầu vào

    Quá trình

    Đầu ra

    Kiểm tra phản hồi

    Đánh giá lại toàn bộ kế hoạch thực hiện và đề ra biện pháp điều chỉnh trong tương lai

    Kiểm tra lường trước

    Dự đoán các vấn đề có thể phát sinh để tìm ra cách ngăn ngừa trước

    Kiểm tra đồng thời

    Điều chỉnh những sai sót ngay khi xuất hiện

    Mục đích của kiểm tra

    Kiểm tra nhằm mục đích bảo đẳm kết quả các hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu của tổ chức, bao gồm các chức năng sau:

    Kiểm tra để đảm bảo kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức.

    Kiểm tra để bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu.

    Kiểm tra sẽ làm sáng tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xấc hơn theo thứ tự quan trọng.

    Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính.

    Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.

    Giúp nhà quản trị phác thảo các tiêu chuẩn tường trình, báo cáo rõ ràng, cụ thể, loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết.

    Thông qua việc kiểm tra, nhà quản trị có thể phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người.

    Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh.

    4. Quy trình kiểm tra

    Quy trình gồm 6 bước:

    Xác định đối tượng kiểm tra

    Đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra

    Định lượng kết quả đạt được

    So sánh kết quả với tiêu chuẩn kiểm tra

    Làm rõ những sai lệch

    Các biện pháp khắc phục

    Bước 1: Xác định đối tượng kiểm tra

    Xác định đối tượng kiểm tra thể hiện qua các hình thức kiểm tra:

    Kiểm tra chiến lược: đánh giá mức độ hiệu quả của chiến lược thường được thực hiện trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược.

    Kiểm tra quản lý: là quá trình kiểm tra hoạt động của các bộ phận chức năng, nghiệp vụ, nhằm thúc đẩy các bộ phận này hoàn thành các mục tiêu chiến lược và mục tiêu bộ phận. Loại kiểm tra này phổ biến nhất là việc kiểm kê sổ sách, thu chi các phòng ban…

    Kiểm tra tác nghiệp: là việc kiểm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các nhân viên, thuộc cấp nhằm xác định những thành tích cá nhân, tìm ra những người mẫu điển hình cho doanh nghiệp.

    Nội dung của kiểm tra được đề ra:

    Thành lập bộ phận tiến hành kiểm tra (gồm bao nhiêu người, bao nhiêu đơn vị tham gia)

    Thời gian và không gian kiểm tra

    Xác định phương thức kiểm tra ( như kiểm tra trực tiếp, kiểm tra gián tiếp, kiểm tra thực tế, kiểm tra sổ sách)

    Các yếu tố kiểm tra, bao gồm định tính và định lượng

    Chi phí kiểm tra

    Thời gian hoàn thành công tác kiểm tra

    Báo cáo quá trình kiểm tra, kết quả kiểm tra, các nhận định và đề xuất của bộ phận kiểm tra.

    Bước 2: Đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra

    Tiêu chuẩn là các chỉ tiêu thực hiện kế hoạch có thể biểu thị dưới dạng định tính hay định hình, là những chỉ tiêu của nhiệm vụ cần được thực hiện.

    Trong hoạt động của một tổ chức, có thể có nhiều loại tiêu chuẩn. Do đó tốt nhất cho việc kiểm tra, các tiêu chuẩn đề ra phải hợp lý và có khả năng thực hiện được trên thực tế. Xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn vượt quá khả năng thực hiện rồi sau đó phải điều chỉnh hạ thấp bớt các tiêu chuẩn này là một điều nên tránh ngay từ đầu. Các phương pháp đo lường việc thực hiện cần phải chính xác, dù là tương đối. Một tổ chức tự đặt ra mục tiêu “phải là hàng đầu” nhưng không hề chọn một phương pháp đo lường việc thực hiện nào cả, thì chỉ là xây dựng tiêu chuẩn suông mà thôi..Nó có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả của công tác kiểm tra: tiêu chuẩn không phù hợp sẽ phản ánh không chính xác thực tế và ngược lại, nếu phù hợp thì việc đo lường sẽ thuận lợi và kết quả phản ánh đúng quá trình thực hiện kế hoạch.

    Một số yêu cầu khi đề ra tiêu chuẩn:

    Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp

    Luôn luôn có nhiều yếu tố phụ tham gia

    Xác định một số tiêu chuẩn kiểm tra định lượng

    Tiêu chuẩn kiểm tra phải mang tính bao trùm

    Mỗi tiêu chuẩn kiểm tra đều có một định mức riêng phù hợp

    Dễ dàng cho việc đo lường

    Bước 3: Định lượng kết quả đạt được

    Trong việc định lượng kết quả hoạt động, vấn đề hết sức quan trọng là phải kịp thời nắm bắt được các thông tin thích hợp. Do đó, nhiệm vụ của nhà quản trị là phải xác định cụ thể những thông tin nào thực sự cần thiết để định lượng và đánh giá kết quả cao.

    Các yêu cầu khi đo lường kết quả:

    Kết quả phải mang tính hữu ích

    Có mức độ tin cậy cao

    Kết quả thu được không lạc hậu

    Việc định lượng và đánh giá kết quả có thể thực hiện ở một số lĩnh vực sau:

    a.. Đánh giá theo chỉ tiêu marketing

    Có 5 yếu tố trong marketing chính cần đánh giá và phân tích:

    Phân tích doanh số bán hàng, nghĩa là phân tích và so sánh doanh số bán hàng với chỉ tiêu đưa ra. Việc so sánh này nhằm kiểm tra việc thực hiện chiến lược giá của doanh nghiệp.

    Phân tích thị phần nhằm xác định vị thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Việc so sánh thị phần gồm 4 nội dung:

    + Xác định tổng thị phần của doanh nghiệp.

    .Thị phần của doanh nghiệp trong thị phần mục tiêu

    .So sánh thị phần của doanh nghiệp với thị phần của đối thủ cạnh tranh đối đầu

    .So sánh thị phần của doanh nghiệp với tổng thị phần của 3 đối thủ cạnh tranh đứng đầu

    + Nghiên cứu hành vi khách hàng, thái độ khách hàng.

    + Phân tích tỷ lệ kinh phí hoạt động marketing với tổng doanh số.

    + Phân tích, so sánh mức độ hiệu quả của công tác bán hàng, mức độ hiệu quả của các hoạt động chiêu thị.

    b. Đánh giá theo chỉ tiêu nguồn nhân lực

    Việc định lượng và đánh giá các khoảng theo chỉ tiêu nguồn nhân lực, bao gồm một số nội dung chính như sau:

    + Phân tích và đánh giá tổng chỉ tiêu sản lượng, năng suất lao động.

    + Phân tích và đánh giá về thời gian làm việc, số lần tăng ca, số lần nghỉ việc, đi muộn..

    + Phân tích và đánh giá quan điểm nhận thức của công nhân viên, nhà quản trị thông qua các phiếu điều tra hay phỏng vấn trực tiếp.

    c. Đánh giá theo chỉ tiêu sản xuất

    Đối với lĩnh vực sản xuất cần phân tích nhiều yếu tố và phân tích một cách sâu sắc. Đối với quá trình sản xuất, nhà quản trị phải tiến hành kiểm tra 3 lần:

    + Kiểm tra trước sản xuất, nhằm xác định trước các tiêu chuẩn của các yếu tố sản xuất đầu vào như nguyên liệu, lao động, máy móc thiết bị, vốn đầu tư

    + Kiểm tra trong quá trình sản xuất là kiểm tra số lượng, chất lượng các yếu tố trong sản xuất. Việc kiểm tra này được tiến hành thông qua bộ phận theo dõi tiến độ sản xuất.

    + Kiểm tra sau quá trình sản xuất nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của quá trình sản xuất. Việc kiểm tra này được thực hiện thông qua yếu tố như giá thành sản phẩm, chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm

    Bước 4: So sánh kết quả với tiêu chuẩn kiểm tra

    So sánh kết quả và tiêu chuẩn cùng nhấn mạnh sự đo lường thành tích bằng cùng những điều kiện được sử dụng để đạt đặt những tiêu chuẩn. Khi nào thành tích thực sự nằm trong giới hạn kiểm soát trên và dưới, những xu hướng tiêu cực chưa hiện rõ, quản lý phải có hàng động.

    Một số vấn đề cần lưu ý khi tiến hành so sánh:

    + Phải định lượng theo đúng tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm tạo điều kiện cho việc so sánh, đo lường một cách dễ dàng, thuận tiện.

    + Xác định biên độ sai lệch cho phép đối với từng yếu tố kiểm tra.

    Bước 5: Làm rõ những sai lệch

    Những tiêu chuẩn có phù hợp với những mục tiêu và chiến lược đề ra hay không?

    Những mục tiêu và tiêu chuẩn tương ứng còn phù hợp với tình hình hiện thời không?

    Những chiến lược để hoàn thành mục tiêu có còn thích hợp với tình hình hiện nay không?

    Những hoạt động có thích hợp để đạt tiêu chuẩn hay không?

    Khi trả lời những câu hỏi này, ta sẽ tìm được những sai lệch trong quá trình thực hiện. Nếu đó là sai lệch xấu, nguyên nhân do khách quan và nếu là sai lệch tốt thì nó vẫn gây hại cho doanh nghiệp nguyên nhân dễ tìm hơn sai lệch xấu.

    Bước 6: Các biện pháp khắc phục

    Sau bước làm rõ những sai lệch thì nhà quản trị cần đưa ra những biện pháp khắc phục. Đó là:

    Xét lại những tiêu chuẩn: xem lại tiêu chuẩn có cùng hướng với mục tiêu hay không (rất ít xảy ra)

    Xét lại những chiến lược: trong một số trường hợp hoàn cảnh bị biến đổi tì có thể gây ra sự sai lệch trong chiến lược, chiến lược không còn thích hợp nữa

    Xem lại cấu trúc hệ thống, sự trợ lực: Sự thực hiện không đầy đủ có thể bắt nguồn từ cấu trúc hệ thống hay sự trợ lực tài nguyên.

    Xét lại những hoạt động: phần lớn do quản đốc chức năng thiết kế và thực thi

    Sự tương quan: cần quan tâm đến các yếu tố khác nha.Tương tụ như khi điều chỉnh mục tiêu có thể cần tới tiêu chuẩn chiến lược khác nhau, tiêu chuẩn tài nguyên hoạt động và có thể cơ cấu tổ chức khác nhau.

    Kiểm soát tiến trình thiết kế chiến lược: đây là hoạt động kiểm soát quan trọng để chắc chắn nó hoạt động đúng và đóng góp vaò thành tích chung của doanh nghiệp.

    Nhận định, đánh giá và rút kinh nghiệm

    Trước khi kết thúc quá trình kiểm tra, nhà quản trị thường có những nhận định, đánh giá tổng hợp về các vấn đề như:

    + Trình bày quá trình kiểm tra đối tượng

    + Trình bày tổng quát quá trình hoạt động của đối tượng được kiểm tra

    + Những mặt ưu điểm của đối tượng trong hoạt động

    +Trình bày và phân tích những sai phạm quá giới hạn cho phép của đối tượng, nếu có

    + Những biện pháp khắc phục, điều chỉnh.

    5. Nguyên tắc khi tổ chức công tác kiểm tra

    Chính xác

    Kịp thời

    Tiết kiệm

    Linh hoạt

    Dễ hiểu

    Chuẩn mực kiểm tra hợp lý

    Dựa vào kế hoạch, chiến lược đề ra

    Chọn mẫu tiêu biểu

    Kiểm tra gắn liền với khắc phục – phòng ngừa

    6. Bảy nguyên tắc quản trị của giáo sư Koontz và O’Donnell

    Theo giáo sư Koontz và O’Donnell đã liệt kê 7 nguyên tắc mà các nhà quản trị phải tuân theo khi xây dựng cơ chế kiểm tra. Đó là:

    Kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt động của tổ chức và căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra.

    Cơ sở để tiến hành kiểm tra thường là dựa vào kế hoạch. Do vậy, nó phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt động tổ chức. Mặt khác, kiểm tra còn cần được thiết kế căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra.

    Ví dụ như công tác kiểm tra các hoạt động và nội dung hoạt động của phó giám đốc tài chánh sẽ khác với công tác kiểm tra thành quả của một cửa hàng trưởng. Sự kiểm tra hoạt động bán hàng cũng sẽ khác với sự kiểm tra bộ phận tài chánh. Một doanh nghiệp nhỏ đòi hỏi cách thức kiểm tra khác với sự kiểm tra các xí nghiệp lớn.

    Công việc kiểm tra phải được thiết kế theo đặc điểm cá nhân các nhà quản trị

    Điều này sẽ giúp nhà quản trị nắm được những gì đang xảy ra, cho nên việc quan trọng là những thông tin thu thập được trong quá trình kiểm tra phải được nhà quản trị thông hiểu. Những thông tin hay những cách diễn đạt thông tin kiểm tra mà nhà quản trị không hiểu được, thì họ sẽ không thể sử dụng, và do đó sự kiểm tra sẽ không còn ý nghĩa.

    Sự kiểm tra phải được thực hiện tại những điểm trọng yếu

    Khi xác định rõ được mục đích của sự kiểm tra, chúng ta cần phải xác định nên kiểm tra ở đâu? Trên thực tế các nhà quản trị phải lựa chọn và xác định phạm vi cần kiểm tra. Nếu không xác định được chính xác khu vực trọng điểm, như kiểm tra trên một khu vực quá rộng, sẽ làm tốn kém thời gian, lãng phí về vật chất việc kiểm tra không đạt được hiệu quả cao.

    Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần dựa vào những chỗ khác biệt thì chưa đủ. Một số sai lệch so với tiêu chuẩn có ý nghĩa tương đối nhỏ, và một số khác có tầm quan trọng lớn hơn. Chẳng hạn, nhà quản trị cần phải lưu tâm nếu chi phí về lao động trong doanh nghiệp tăng 5% so với kế hoạch nhưng sẽ không đáng quan tâm lắm nếu chi phí về tiền điện thoại tăng 20% so với mức dự trù. Hậu quả là trong việc kiểm tra, nhà quản trị nên quan tâm đến những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp, và những yếu tố đó được gọi là các điểm trọng yếu trong doanh nghiệp.

    Kiểm tra phải khách quan

    Quá trình quản trị dĩ nhiên là bao gồm nhiều yếu tố chủ quan của nhà quản trị, nhưng việc xem xét các bộ phận cấp dưới có đang làm tốt công việc hay không, thì không phải là sự phán đoán chủ quan.

    Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng ta được những nhận xét và đánh giá đúng mức về đối tượng được kiểm tra, kết quả kiểm tra sẽ bị sai lệch và sẽ làm cho tổ chức gặp phải những tổn thất lớn.

    Vì vậy, kiểm tra cần phải được thực hiện với thái độ khách quan trong quá trình thực hiện nó. Đây là một yêu cầu rất cần thiết để đảm bảo kết quả và các kết luận kiểm tra được chính xác.

    Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí của doanh nghiệp

    Để cho việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một qui trình và các nguyên tắc kiểm tra phù hợp với nét văn hóa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phong cách lãnh đạo dân chủ, nhân viên được độc lập trong công việc, được phát huy sự sáng tạo của mình thì việc kiểm tra không nên thiết lập một cách trực tiếp và quá chặt chẽ. Ngược lại, nếu các nhân viên cấp dưới quen làm việc với các nhà quản trị có phong cách độc đoán, thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ, chi tiết và nhân viên cấp dưới có tính ỷ lại, không có khả năng linh hoạt thì không thể áp dụng cách kiểm tra, trong đó nhấn mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của mỗi người.

    Việc kiểm tra cần phải tiết kiệm và bảo đảm tính hiệu quả kinh tế

    Mặc dù nguyên tắc này là đơn giản nhưng thường khó trong thực hành. Thông thường các nhà quản trị tốn kém rất nhiều cho công tác kiểm tra, nhưng kết quả thu hoạch được do việc kiểm tra lại không tương xứng.

    Việc kiểm tra phải đưa đến hành động

    Việc kiểm tra chỉ được coi là đúng đắn nếu những sai lệch so với kế hoạch được tiến hành điều chỉnh, thông qua việc làm lại kế hoạch, sắp xếp lại tổ chức; điều động và đào tạo lại nhân viên, hoặc thay đổi phong cách lãnh đạo. Nếu tiến hành kiểm tra, nhận ra cái sai lệch mà không thực hiện việc điều chỉnh, thì việc kiểm tra là hoàn toàn vô ích.

    II. NỘI DUNG

    Chức năng kiểm tra có cần thiết trong doanh nghiệp?

    Rõ ràng việc kiểm tra là rất quan trọng và cần thiết nhưng chúng ta phải kiểm tra phù hợp và đúng mức. Sự kiểm tra quá mức còn gây tác hại cho doanh nghiệp vì tốn nhiều nguồn lực mà lợi ích thu được thì có thể không phù hợp với chi phí. Đồng thời cần phải lưu ý việc giảm mức độ kiểm tra không đồng nghĩa với việc tăng quyền tự chủ của cá nhân. Trong thực tế, lúc đó họ càng mất đi quyền tự chủ vì không thể tiến hành dự báo được và phải phụ thuộc vào hành động của người khác. Hơn nữa việc thiếu một hệ thống kiểm tra có hiệu quả có thể buộc các nhà quản lý phải giám sát cấp dưới của mình chặt chẽ hơn và như vậy quyền tự chủ của những người này bị giảm đi.

    Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản lý khi thiết lập hệ thống kiểm tra là xác định sự cân đối tốt nhất giữa kiểm tra và quyền tự do của cá nhân, giữa chi phí chi kiểm tra và lợi ích do hệ thống này đem lại. Vì vậy, kiểm tra cần phải phù hợp và tuân thủ các nguyên tắc kiểm tra.

    Vận dụng kiểm tra trong quản lý của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Rất khó để tìm ra hướng chung để giúp các doanh nghiệp khắc phục những yếu kém của hệ thống kiểm tra trong công ty. Tùy từng công ty, tùy từng khuyết điểm mà bạn cần có những biện pháp riêng biệt. Chẳng hạn như đối với việc kiểm tra hoạt động chi tiêu trong công ty, bạn cần phải tìm được cách kiểm tra tối ưu phù hợp nhất với đặc điểm của công ty, vì đây là thứ tài sản dễ bị thất thoát nhất.

    Việc kiểm tra chỉ dễ dàng nếu các tiêu chuẩn được xác định đúng đắn và thành quả của các nhân viên được xác định chính xác. Trong một công ty có rất nhiều bộ phận khác nhau nên các quản lý đòi hỏi phải có tư duy tốt, nhiều kinh nghiệm và có thể kiểm soát tốt đội ngũ nhân viên và sản phẩm của công ty. Về phía các nhà quản lý trong công ty, họ có trách nhiệm thành lập, điều hành và giám sát hệ thống kiểm tra nội bộ sao cho phù hợp với mục tiêu của công ty.

    Nhưng kiểm tra chất lượng sản phẩm là yêu cầu hàng đầu đối với nhà quản lý. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập thì doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc bán được sản phẩm mà còn phải chịu trách nhiệm với những sản phẩm đã được bán ra. Chính vì vậy mà kiểm tra chất lượng sản phẩm đối với doanh nghiệp nước ta hiện nay là rất cần thiết và quan trọng.

    Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo việc chấp hành nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn và quy định của chất lượng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện sản phẩm. Đối với các hoạt động giám sát nguyên vật liệu, một cách thức khá hiệu quả để hạn chế tình trạng nhân viên ăn cắp nguyên vật liệu là hai biện pháp song song là kiểm tra đột xuất và trả lương cao.

    Việc kiểm tra thành quả sẽ khó khăn đối với một số công việc. Ví dụ như đánh giá chất lượng phục vụ của phòng hành chính doanh nghiệp, đánh giá uy tín sản phẩm. Trong trường hợp này đòi hỏi nhà quản trị phải sử dụng hàng loạt các tiêu chuẩn gián tiếp như sự nhiệt tình và lòng trung thành của cấp dưới, thái độ của người tiêu dùng. Do đó, khi tiến hành kiểm tra phải đúng với tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra.

    Như vậy, công tác kiểm tra chất lượng đặt ra ở đây là một hoạt động có hệ thống gắn liền với quá trình chuẩn bị sản xuất và sản xuất. Là hoạt động nhằm đảm bảo mục tiêu chất lượng đã quy định (tiêu chuẩn bằng theo dõi, phân tích đánh giá tình hình chất lượng áp dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn hoặc loại bỏ những sai sót).

    Trong quá trình chuẩn bị sản xuất ra một sản phẩm diễn ra theo nhiều giai đoạn và đều được hệ thống quản lý kiểm tra. Đương nhiên nội dung và yêu cầu kiểm tra ở mỗi giai đoạn là khác nhau. Tuy nhiên trong giới hạn của sản xuất thì doanh nghiệp cần tập trung vào nhiệm vụ cụ thể sau: kiểm tra chất lượng, nhân sự, số lượng sản phẩm, doanh thu bán hàng.

    Có thể nói, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành các mạng lưới đô thị rộng khắp cả nước và các siêu thị đã góp phần tạo ra một diện mạo mới cho thương mại ở Việt Nam. Đây cũng là bước tiến thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển.

    3. Hạn chế trong công tác kiểm tra ở các doanh nghiệp Việt Nam.

    Mặc dù các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra rất chặt chẽ, nghiêm ngặt, nhưng đôi khi vẫn còn nhiều thiếu soát, sai phạm trong công tác kiểm tra.

    Nhiều “lỗ hổng” trong kiểm tra, giám sát:

    Hàng loạt sai phạm của các doanh nghiệp trong thời gian qua được cơ quan thanh tra và các cơ quan kiểm tra phát hiện được tập trung ở một số dạng: Sai quy trình thủ tục theo các quy định của Nhà nước; sai thẩm quyền; sai đối tượng cho phép; kinh doanh không đúng bản chất thực tế; trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém dẫn đến vi phạm quản lý kinh tế và vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cùng với những yếu kém nội tại của doanh nghiệp, sự hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát cũng là nguyên nhân khiến các sai phạm trong quản lý vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp này trở nên phổ biến.

    4. Công tác kiểm tra ở siêu thị Big C

    3.1. Sơ lược về Big C

    Được thành lập vào cuối thế kỷ 19 tại Pháp, trải qua quá trình phát triển hơn 100 năm, tập đoàn Casino là một trong những tập đoàn dẫn đầu trong ngành phân phối bán lẻ tại Châu Âu và nhiều thị trường khác trên thế giới. Với tầm nhìn “Nuôi dưỡng một thế giới đa dạng”, chìa khóa thành công của tập đoàn Casino đến từ khả năng đón đầu và đáp ứng những nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng từng thời kỳ và cam kết mạnh mẽ vì sự phát triển bền vững.

      Có mặt tại Việt Nam từ năm 1998, hệ thống siêu thị Big C là kết quả hợp tác giữa tập đoàn Casino với các đối tác Việt Nam theo mô hình kinh doanh trung tâm thương mại bao gồm đại siêu thị kèm trung tâm mua sắm với đầy đủ các dịch vụ phân phối tiện ích và hiện đại. Năm 2013, hệ thống siêu thị Big C bao gồm 25 điểm kinh doanh có mặt tại 16 tỉnh thành trên cả nước, được vận hành bởi đội ngũ trên 8.000 cán bộ, nhân viên năng động, đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao và quyết tâm đổi mới liên tục “Vì sự hài lòng của khách hàng”.  

    Thương hiệu Big C thể hiện hai tiêu chí quan trọng nhất trong định hướng kinh

    doanh và chiến lược để thành công. Đó là:

    + ”Big“ có nghĩa tiếng Việt là “To lớn”, điều đó thể hiện quy mô lớn của các

    siêu thị BigC và sự lựa chọn rông lớn về hàng hóa mà chung tôi cung cấp. Hiện tại, mỗi siêu thị BigC có khoảng hơn 40.000 mặt hàng để đáp ứng cho nhu cầu của Khách hàng.

    + “C” là cách viết tắt của chữ “Customer”, có nghĩa tiếng Việt là “Khách hàng”, Chữ “C” đề cập đến những Khách hàng thân thiết của chúng tôi, họ là chìa khóa dẫn đến thành công trong chiến lược kinh doanh của siêu thị Big C.

    Với sự nỗ lực không ngừng của tập thể hơn 8.000 thành viên, siêu thị BigC đã

    giới thiệu đến người tiêu dùng trên toàn quốc những không gian mua sắm hiện đại,

    thoáng mát, thoải mái với chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, chất lượng kiểm

    soát và giá cả hợp lý, đi cùng với những dịch vụ khách hàng thật hiệu quả. Bên cạnh

    đó, tất cả các siêu thị Big C trên toàn quốc đều cung cấp những kinh nghiệm mua sắm

    với nhiều dịch vụ tiện ích cho khách hàng.

    Hiện nay Big C có khoảng trên 5000 mặt hàng các loại. Mỗi nhóm hàng 

    của siêu thị lại có rất nhiều mặt hàng khác nhau. Chẳng hạn nhóm hàng đồ uống gồm có rượu, bia, nước ngọt, nước khoáng, sữa Với hệ thống siêu thị và khu sản xuất nhãn hiệu riêng của mình và hàng ngàn nhân viên mặc dù phải sản xuất với số lượng lớn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhưng Big C vẫn luôn chú trọng vào từng khâu của quá trình sản xuất để đảm bảo số lượng và chất lượng tốt để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

    Ngày nay, do nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tăng, đòi hỏi mọi thành phần tham gia chuỗi phân phối như nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà bán lẻ,… phải không ngừng nâng cao nhận thức và năng lực chuyên môn để có thể kiếm soát chất lượng hàng hóa cũng như kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đã được công nhận.

    Qua đó, ta thấy được phương thức làm việc của hệ thống quản lý trong một doanh nghiệp luôn phải sáng tạo và tư duy cao nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn đã đặt ra.

    3.2 Mục tiêu kiểm tra ở Big C

    Hệ thống siêu thị Big C đã sử dụng những biện pháp và quy trình kiểm tra nào để hoàn thành mục tiêu an toàn thực phẩm với sứ mệnh qua trọng nhất là bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng, điều đó đã được Big C đặt ra 4 mục tiêu sau đây:

    Đảm bảo tất cả sản phẩm được bày bán tại siêu thị Big C phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam.

    Kiểm soát chặt chẽ các nhà máy sản xuất với sự hỗ trợ của đối tác là công ty hàng đầu trong việc kiểm tra, thẩm định, kiểm nghiệm, và chứng nhận.

    Áp dụng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm vào các quy trình hoạt động.

    Tố chức các khóa huấn luyện cho nhân viên siêu thị Big C.

    Siêu thị Big C luôn đặt ra các yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo chất lượng đối với nhiều loại mặt hàng khác nhau.

    ► Thực phẩm tươi sống: nhà cung cấp phải đạt các yêu cầu về chất lượng, đóng gói, bảo quản, vận chuyển.

    ► Hàng công nghiệp: tất cả các sản phẩm đều phải có hồ sơ công bố chất lượng, các yêu cầu về nhãn mác và điều kiện bảo quản, vận chuyển.

    ► Hàng hóa-mỹ phẩm: mỗi sản phẩm đều phải có hồ sơ công bố chất lượng (chỉ tiêu chất lượng, an toàn), đáp ứng các yêu cầu về nhãn mác.

    3.3 Công tác kiểm tra ở Big C

    Các tập đoàn bán lẻ, các hệ thống siêu thị đòi hỏi rất khắt khe: các loại thịt phải có chứng nhận kiểm dịch; rau củ quả, trái cây không dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; thủy sản không dư lượng kháng sinh; thực phẩm chế biến, đặc sản phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vì vậy, Big C cũng không ngoại trừ đưa ra những đòi hỏi khắt khe đó.

    Để đạt được mục tiêu đã đề ra hệ thống siêu thị big C đã có quy trình kiểm tra như sau:

    Quản lý đầu vào để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa tại Big C

    Hàng hóa trong siêu thị có đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hay không và các siêu thị đang áp dụng hình thức nào để kiểm soát chất lượng hàng hóa là vấn đề được nhiều người tiêu dùng quan tâm.

    Lựa chọn nguồn hàng và giám sát chất lượng

    Hằng tháng, Big C tiêu thụ khối lượng lớn rau củ quả và hải sản. Vì vậy, Big C đặc biệt chú trọng đến khâu lựa chọn nhà cung cấp các mặt hàng này.

    Theo đó, Big C quan tâm và ưu tiên cho các sản phẩm hàng Việt Nam chất lượng cao, có chứng nhận của Bộ Y tế về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có chứng chỉ ISO hoặc HACCP (là hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn để đảm bảo ATTP và duy trì những tiêu chuẩn vệ sinh)..

    Riêng về những mặt hàng rau củ quả, Big C ưu tiên chọn hàng của những hợp tác xã có chứng nhận VietGAP, GlobalGAP(Global good Agricultural Practice – Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) về quy trình sản xuất rau an toàn, ký hợp đồng bao tiêu nông sản và tiến hành ứng vốn cho các hợp tác xã này để đầu tư nâng cao kỹ thuật, trang thiết bị cũng như con giống và phân bón.

    Đối với việc nhập hàng hóa thì các mặt hàng mới nhập về sẽ được nhân viên quản lý phụ trách tin học lưu trữ các thông tin của hàng vào hệ thống quản lý. Các thông tin bao gồm: mã vạch, gía bán, ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lượng nhập, đơn vị tính…

    Mỗi mặt sẽ được đánh một mã vạch, thực hiện theo quy tắc: Bộ mã bán hàng: là bộ mã mang tính cách pháp lý giữa siêu thị (bên bán) và người dung (bên mua). Mỗi mặt hàng kinh doanh đều có một mã số riêng để phân biệt với những hàng khác. Một mã bán hàng có độ dài 13 ký tự theo cấu trúc của hệ thống mã vạch barcode quốc tế đối với những mặt hàng có in sẵn mã vạch của nhà sản xuất. Nếu một mặt hàng nào không có săn mã vạch hay nếu có mã vạch mà mã vạch mà mã vạch không có khả năng tin cậy thì mặt hàng đó sẽ được dung mã nội bộ của siêu thị làm mã bán hàng và mã này có chiều dài 8 ký tự.

    Quản lý công việc bán hàng tại Big C

    Ưu đãi đối với khách hàng thân thiết

    Khi một khách hàng chưa là khách hàng thân thiết của siêu thị đến mua hàng, nếu tổng giá trị hàng hóa trong một lần mua từ 50.000đ trở lên thì sau khi tính tiền khách hàng có thể đăng ký chương trình khách hàng thân thiết của siêu thị với nhân viên quản lý. Nhân viên quản lý sẽ lưu trữ lại các thông tin của khách hàng và cấp cho các khách hàng này thẻ khách hàng thân thiết với số điểm thưởng tương ứng với giá trị hóa đơn ở trên.

    Những đợt mua hàng tiếp theo có giá trị hơn 50.000đ , trước khi thanh toán hóa đơn, khách hàng cần đưa thẻ khách hàng thân thiết cho nhân viên bán hàng, hệ thống sẽ tự động tính toán và cập nhật điểm thưởng của khách hàng.

    Khi khách hàng thân thiết có số điểm trên 30 điểm của siêu thị thì trong các đợt mua hàng sau đó, họ sẽ được giảm giá 5% trên tổng giá trị hàng họ mua. Tuy nhiên, cuối năm hệ thống phải tự động xóa khách hàng này ra khỏi danh sách khách hàng thân thiết của siêu thị.

    Tính tiền hóa đơn

    Tính tiền hóa đơn là việc của nhân viên bán hàng tại các quầy tính tiền

    Những nghiệp vụ chính yếu

    + Nghiệp vụ bán hàng:

    Xuất hiện : Có khách hàng đến mua hàng.

    Cách thực hiện : TÍnh tiền cho khách , lập hóa đơn và cập nhật vào CSDL

    Chịu trách nhiệm : Tổ thu ngân

    +Nghiệp vụ quản lý kiểm kê:

    Xuất hiện : Kiểm tra tình trạng hàng hóa và số lượng tồn trong quầy

    Cách thực hiện: Kiểm tra số lượng tại kho và hàng trưng bày tại quầy.

    Chịu trách nhiệm: Tổ mặt hàng

    +Nghiệp vụ quản lý nhập hàng

    Xuất hiện: Khi nhập hàng hóa từ nhà cung cấp

    Cách thực hiện: lập phiếu nhập , lưu thông tin hàng hóa vào cơ sở dữ liệu

    Chịu trách nhiệm: tổ quản lý

    +Nghiệp vụ quản lý xuất hàng:

    Xuất hiện: khi xuất hàng hóa từ kho vào quầy trưng bày.

    Cách thực hiện: Lập phiếu xuất hàng và cập nhật CSDL

    Chịu trách nhiệm: Tổ quản lý

    +Nghiệp vụ thống kê tổng hợp:

    Xuất hiện: Lập và gửi báo cáo tổng hợp cho ban giám đốc hợp tác xã.

    Cách thực hiện: Tổng hợp các báo cáo do tổ tin học lập.

    Chịu trách nhiệm: tổ văn phòng

    Ban giám đốc có nhu cầu thống kê tình hình mua bán tại siêu thị với những tiêu chí khác nhau .

    Nhưng hiện nay hằng ngày tại ban giám đốc chỉ nhận được báo cáo về doanh thu .

    Chương trình quản lý khách hàng được xây dựng bằng ngôn ngữ Access, do đó dữ liệu bán hàng ngày càng lớn

    Quản lý đầu ra để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng hóa tại Big C

    ► Định kỳ gởi sản phẩm đến các phòng thí nghiệm độc lập nhằm kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm so với các tiêu chuẩn công bố.

    ► Đánh giá thường xuyên các môi trường sản xuất thực phẩm như nguồn nước, không khí, các bề mặt tiếp xúc thực phẩm

    Ngoài ra, với vai trò là nhà phân phối bán lẻ, nằm trong khâu cuối cùng trong chuỗi cung ứng đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng, ngoài việc tuân thủ triệt để các quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà nước trong công tác thu mua, Big C còn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nhập hàng tại các siêu thị, tổ chức công tác kiểm tra định kỳ việc tôn trọng các qui trình chất lượng tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh của nhà cung cấp cũng như không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ Quản lý chất lượng thông qua công tác đào tạo do các công ty đào tạo chuyên nghiệp thực hiện. Nội dung kiểm tra bao gồm kiểm tra nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm, các quy chế về ghi nhãn, chất lượng hàng hóa đối với các mặt hàng thực phẩm kinh doanh tại siêu thị.

    Qua đó, chúng ta thấy rõ hệ thống siêu thị big C đã áp dụng đúng quy trình kiểm tra như xác định đối tượng kiểm tra, đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra, định lượng kết quả đạt được sau đó so sánh kết quả với tiêu chuẩn kiểm tra, làm rõ những sai lệch và có những biện pháp khắc phục để đạt được mục tiêu đã đề ra.

    Cuối cùng là việc phân tích, đánh giá định kỳ ở các cấp, các bộ phận, các đơn vị chức năng đưa ra các mặt yếu kém, các vấn đề vướng mắc còn tồn động để bộ phận quản lý tìm hướng giải quyết.

    3.3. Những thành tựu đạt được của Big C từ chức năng kiểm tra

    Thành tựu mà hệ thống Big C đạt được trong quá trình 15 năm hoạt động tại Việt Nam

    Sau 15 năm hoạt động tại Việt Nam, nhờ sự thành công có sẵn của tập đoàn Casino và kinh nghiệm quản lý của tập của tập đoàn,nắm bắt tốt thị trường trong nước Big C đã nhanh chóng chiếm được lòng tin của khách hàng. Trở thành hệ thống siêu thị hàng đầu trong nước.

    Đặc biệt, Big C còn đi đầu trong công tác kiểm soát với các nhà cung cấp để cải thiện chất lượng sản phẩm như thu mua rau củ quả Đà Lạt, phát triển gam thịt sạch, phát triển gam rau an toàn. Hiện nay, Big C đã thiết lập được mạng lưới hộ nông dân là nhà cung cấp ổn định và cách thức làm việc chuyên nghiệp, xây dựng và vận hành hiệu quả các trạm trung chuyển, tạo được hệ thống hậu cần ổn định.

    Từ một siêu thị đơn lẻ ở Đồng Nai được khai trương năm 1998, đến nay Big C đã phát triển thành hệ thống của mình lên 29 siêu thị bao phủ thị trường khắp cả nước trải dọc theo chữ S của đất nước. Và gần đây nhất ngày 15 tháng 11 năm 2014 Big C đã khai trương siêu thị thứ 29 tại Nha Trang, có tổng vốn đầu tư 20 triệu USD với tổng diện tích sử dụng hơn 30.000m2, được xây dựng theo tiêu chuẩn công trình xanh. Riêng khu siêu thị tự chọn rộng gần 5.000m2 kinh doanh hơn 28.000 mặt hàng với chủng loại hàng hóa phong phú như thực phẩm khô, thực phẩm tươi sống, hàng dệt may, điện máy, gia dụng trong đó, chiếm 95% là hàng sản xuất tại Việt Nam. Big C Nha Trang sử dụng gần 500 lao động, trong đó, hơn 80% là người địa phương.

    Tổng vốn đầu tư của tất cả các siêu thị thuộc hệ thống Big C vào khoảng 250 triệu USD. Thuộc top 1000 doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất cả nước năm 2012 với doanh thu trên 6000 tỷ đồng. Tốc độ tăng doanh thu hằng năm đạt 25%. Là thương hiệu Việt được yêu thích nhất trong nhiều năm liền mới đây nhất năm 2012 Big C vinh dự nhận giải thưởng “Thương hiệu Việt được yêu thích nhất năm 2012” và giải thưởng “Thương hiệu vàng”. Là phân phối bán lẻ tiêu dùng tốt nhất tại Việt Nam.

    3.4 Những hạn chế của Big C từ chức năng kiểm tra

    Lâu nay, hệ thống siêu thị Big C luôn được đánh giá là hệ thống bán lẻ hàng đầu Việt Nam với chất lượng hàng hóa được kiểm soát chặt chẽ, tuy nhiên trong thời gian gần đây siêu thị này gặp không ít những vụ việc ảnh hưởng đến uy tín ảnh hưởng đáng kể.

    Đó là:

    Tại siêu thị đang dùng phần mềm quản lí hàng hóa để quản lí hơn 200.000 mặt hàng kinh doanh. Trung bình mỗi ngày bộ phận bán hàng xử lý hơn 10.000 mẫu tin nên tốc độ truy xuất dữ liệu không còn nhanh như trước, hiện tại và tương lai không thể đáp ứng được nhu cầu cho siêu thị. Ngoài ra các vấn đề thay đổi đơn vị tính và xử lý số lượng lẻ đối với một số mặt hàng như: vải vóc, rau quả, thực phẩm tươi sống tại siêu thị chưa được giải quyết ổn thỏa.

    Big C bán thịt lợn nghi nhiễm bệnh lợn gạo

    Vụ việc khách hàng mua phải thịt heo nghi nhiễm bệnh lợn gạo tại Big C Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh ngày 10/3 vừa qua khiến người tiêu dùng vô cùng hoang mang. Giải thích về số sản phẩm thịt heo trên, bà Dương Thị Quỳnh Trang (Giám đốc đối ngoại hệ thống siêu thị Big C) khẳng định lô hàng này đã có giấy chứng nhận kiểm dịch thú y do cơ quan thú y Đồng Nai cung cấp.

    Nấm không rõ nguồn gốc bán tại Big C

    Vào ngày 20/2/2014, việc siêu thị Big C và Fivimart bán nấm không rõ nguồn gốc mang nhãn hiệu nấm Lưu Mai Hương đã làm khách hàng lo lắng.

    Hai siêu thị cho biết có nhập nấm của cơ sở Lưu Mai Hương sau khi cơ sở này đã nộp đủ hồ sơ mua bán hàng hóa và các giấy tờ về chất lượng tem nhãn. Trong đó, có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm do Sở Y tế Lạng Sơn cấp. Tuy nhiên, khi cấp giấy xác nhận hợp quy cho cơ sở Lưu Mai Hương, Sở Y tế Lạng Sơn đã dựa trên công văn đề nghị của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Lạng Sơn trong khi Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn không đủ nguồn lực để kiểm tra. Ngoài ra, cấp giấy rồi thì trách nhiệm kiểm tra cũng bị bỏ lửngVà hệ quả là những cây nấm không rõ nguồn gốc đội lốt hàng sản xuất tại Việt Nam ngang nhiên bày bán trong các siêu thị lớn.

    Ngay sau khi có thông tin những sản phẩm nấm của cơ sở Lưu Mai Hương không rõ nguồn gốc xuất xứ, Big C và Fivimart đã tạm ngừng bán các loại nấm nhập từ cơ sở này.

    Ngoài ra, tại Thanh Hóa, siêu thị Big C mới đây được khách hàng phản ánh mua phải sữa chua và bánh ngọt vòng dừa đã quá hạn sử dụng khoảng nửa tháng. Theo đó, sản phẩm sữa chua có ngày sản xuất 18/12/2013 và hạn sử dụng 31/1/2014, quá hạn sử dụng gần nửa tháng. Còn bánh ngọt vòng dừa có ngày sản xuất 30/1/2013 và hạn sử dụng 30/1/2014, quá hạn sử dụng đúng nửa tháng.

    Đó là những sai phạm trong quá trình tiêu thụ các mặt hàng của Big C còn chưa nghiêm ngặt, còn những hạn chế, sai sót trong công tác kiểm tra. Chính vì vậy, big C cần tăng cường công tác kiểm tra hơn nữa để khắc phục tình trạng trên.

    Các giải pháp – hướng khắc phục công tác kiểm tra ở các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Nhằm chấn chỉnh những bất cập trong quy định về kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp, các thanh tra đã tiến hành kiểm tra đối với các doanh nghiệp trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu, cách thức quản lý…

      Ngoài ra, phía doanh nghiệp cũng còn hạn chế về hiểu biết pháp luật thanh tra, không ít doanh nghiệp có hiện tượng vi phạm pháp luật, nhất là doanh nghiệp nào có sai phạm nghiêm trọng lại càng sợ thanh tra, kiểm tra và do đó không có phản ứng lại đối với những việc làm sai trái, hành vi tiêu cực của cán bộ thanh, kiểm tra.

    Do đó, để khắc phục tồn tại trong công tác thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp, giảm tần suất thanh tra, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    + Kiểm tra phải khách quan, chính xác, dựa trên những tiêu chuẩn rõ ràng.

    + Kiểm tra phải phù hợp với các đặc điểm, hình thức của doanh nghiệp. 

    + Tăng cường việc kiểm tra, giám sát đối với hoạt động kiểm tra. Việc kiểm tra phải đảm bảo tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp thông qua việc phát hiện, đánh giá và xử lý nhanh các vấn đề phát sinh, giảm phiền hà cho doanh nghiệp.

    + Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cần rà soát lực lượng cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra để xác định khả năng chuyên môn khi tiến hành kiểm tra doanh nghiệp. Xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng nhiệm vụ được giao để nhũng nhiễu, vòi vĩnh doanh nghiệp; cố ý làm trái những quy định, quy trình công tác để vụ lợi. 

    + Các cơ quan chức năng cao cần tuyên truyền cho các doanh nghiệp nắm rõ các quy định của pháp luật về kiểm tra vì công tác kiểm tra của các cấp, các ngành phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm tra và đã được các cấp, các ngành phê duyệt kế hoạch từ trước đó; khi tiến hành kiểm tra phải có quyết định của người có thẩm quyền. Các doanh nghiệp cần nắm rõ các quy định này để có những phản ánh đúng và kịp thời với cơ quan chức năng.

    KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT

    Kiểm tra là chức năng quan trọng không thể thiếu ở bất kì doanh nghiệp nào. Có thể nói, kiểm tra có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển của doanh nghiệp. Kiểm tra giúp doanh nghiệp đánh giá các tiêu chuẩn đề ra, những mục tiêu mà các doanh nghiệp đã đạt được hay chưa đạt được. Đồng thời, kiểm tra giúp các doanh nghiệp nhận biết được những sai lệch, nguyên nhân dẫn đến những sai lệch trong quá trình hoạt động từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc quá trình hoạt động đó. Từ đó, các doanh nghiệp sẽ khắc phục những nguyên nhân đó và đưa ra các biện pháp hay chính sách phù hợp cho công ty. Chính vì vậy, kiểm tra được áp dụng hầu hết trong công tác quản lý của các doanh nghiệp. Ở nước ta, chức năng kiểm tra này cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Quản trị học (Đại học Công Nghiệp TP.HCM)- PGS-TS Nguyễn Minh Tuấn, Ths. Phạm Đình Tịnh. Năm 2012.

    2. Internet:

    +

    +https://voer.edu.vn/c/kiem-tra-trong-quan-tri/28562d8b/91fdd200

    + C/50/13194417.epi

    +

    +

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    • qth_nhom2_0721.docx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Interface Trong Lập Trình Hướng Đối Tượng Java
  • Bạn Đã Hiểu Đúng? Nếu Chưa, Mời Đọc Ngay
  • Bộ Sạc Cáp Samsung J7 Pro Chính Hãng
  • Bài 7: Các Mạch Ứng Dụng
  • Đồ Án Điện Tử Số Thiết Kế Hệ Thống Điều Khiển Giao Thông Một Chiều
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Mở Rộng Kiến Thức Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Tổng Quan Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Gợi Ý Trả Lời Ôn Tập Môn Khoa Học Hành Chính
  • Bài 9: Kiểm Tra Xử Phạt Và Cưỡng Chế Hành Chính Ở Cơ Sở Ts. Bùi Quang Xuân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubkt Huyện Uỷ
  • CHỨC NĂNG KIỂM TRA TRONG QUẢN TRỊ NỘI DUNG TRÌNH BÀY Khái niệm và phân loại Mục đích và vai trò Quy trình kiểm tra (Phương pháp) Tính hiệu quả trong chức năng kiểm soát Mô hình kiểm soát hiệu chỉnh CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN Định nghĩa Chức năng Kiểm soát bao hàm việc giám sát tiến trình thực hiện các kế hoạch đã vạch ra và tiến hành những điều chỉnh cần thiết nhằm đạt được kết quả như dự kiến Kiểm soát là quá trình áp dụng những cơ chế và phương pháp để đảm bảo rằng các hoạt động và thành quả đạt được phù hợp với các mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức Là một quá trình hệ thống quá đó các nhà quản lý điều chỉnh các hoạt động tổ chức để cho các hoạt động này nhất quán với những mong đợi được đề ra trong kế hoạch và để giúp các hoạt động này đạt đuợc những tiêu chuẩn định trước trong iệc thực hiện. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN Mục đích: Giúp các nhà quản trị nhận thấy những khuyết điểm trong hệ thống tổ chức, trên cơ sở đó có thể tiến hành những quyết định điều chỉnh kịp thời Bảo đảm sự tồn tại và duy trì tính hiệu quả của mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi bộ phận và tổ chức Kiểm tra các người thừa hành Kiểm tra người quản lý Vai trò của chức năng Kiểm Soát Là như cầu cơ bản nhằm hoàn thiện các quyết định trong quản lý Kiểm tra nhằm đôn đốc việc thực hiện kế hoạch có hiệu quả cao Đảm bảo quyền thực thi quyền lực của nhà tổ chức Giúp tổ chức theo sát và đối phó với những thay đổi của môi trường Kiểm tra tạo điều kiện cho quá trình hoàn thiện và đổi mới CÁC LOẠI KIỂM SOÁT 1. Kiểm soát phòng ngừa Nhằm làm giảm các sai lầm  có tác dụng làm giảm nhu cầu đối với các hoạt động hiệu chỉnh Nội dung: Định hướng và giới hạn đối với hành vi của nhân viên và nhà quản trị bằng cách ban hành các quy định nguyên tắc, các tiêu chuẩn, các thủ tục tuyển mộ và tuyển chọn nhân sự, các chương trình huấn luyện và phát triển nguồn nhân lực 2. Kiểm soát hiệu chỉnh Nhằm thay đổi những hành vi không mong muốn và đem lại hiệu quả phù hợp với những tiêu chuẩn hay nguyên tắc đã được vạch ra. Ví dụ: như quản lý không lưu 3. Kiểm soát phản hồi Kiểm tra được thực hiện sau khi hoạt động đã xảy ra  cung cấp thông tin hữu hiệu để lập kế hoạch và cải tiến động cơ thúc đẩy nhân viên Vd: kiểm tra kiểm toán CÁC ĐIỂM KIỂM SOÁT HỆ THỐNG KIỂM SOÁT ĐẦU VÀO (Inputs) QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI (Tranformation Process) ĐẦU RA (Outputs) Kiểm tra phòng ngừa Kiểm tra hiệu chỉnh Kiểm soát phản hồi CÁC NGUỒN KIỂM SOÁT Kiểm soát của các nhóm có quyền lợi trong doanh nghiệp Từ các áp lực bên ngoài của doanh nghiệp như khách hàng, cổ đông của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, định chế tài chính… Kiểm soát của doanh nghiệp Xuất phát từ các chiến lược và cơ chế chính thức nhằm theo đuổi các mục tiêu của nó. Thể hiện qua các quy chế, nguyên tắc, tiêu chuẩn, ngân sách và các hoạt kiểm tra nội bộ Kiểm soát nhóm Chuẩn mực và giá trị của thành viên trong nhóm chia xẻ và duy trì thông qua những phần thưởng và hình phạt nội bộ. Kiểm soát của cá nhân Có ý thức Không có ý thức Bắt đầu Đo lường việc thực hiện So sánh việc thực hiện với tiêu chuẩn Phản hồi lại với các sai lệch Xây dựng các tiêu chuẩn thực hiện Nếu chấp nhận Tiếp tục Nếu có lệch lạc TIẾN TRÌNH KIỂM SOÁT CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 1. Xây dựng tiêu chuẩn Là những chỉ tiêu của nhiệm vụ cần được thực hiện hay là các chỉ tiêu thực hiện kế hoạch. Ví dụ như: kế hoạch tiến độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, các chỉ tiêu tài chính Một doanh nghiệp có thể có nhiều hệ thống tiêu chuẩn Yêu cầu: Tiêu chuẩn đề ra phải hợp lý Có khả năng thực hiện trên thực tế CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 2. Đo lường việc thực hiện (tiến hành KTra) và so sánh việc thực hiện với các tiêu chuẩn Nếu các tiêu chuẩn được đưa ra một cách hợp lý và có các phương tiện xác định một cách chuẩn xác thì việc đo lường thự hiện thực tế sẽ dễ dàng Nếu không xác định được tiêu chuẩn rõ ràng thì sử dụng các tiêu chuẩn mờ như sự tín nhiệm của khách hàng, sự tôn trọng các bạn hàng kinh doanh… CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 3. Phản hồi và điều chỉnh các sai lệch Phân tích nguyên nhân gây ra sai lệch Khắc phục bằng cách điều chỉnh sai lệch bằng cách tổ chức lại bộ máy trong xí nghiệp, phân công kại các bộ phận, đào tạo nhân viên, tuyển thêm lao động, điều chỉnh mục tiêu… CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH KT PHẢN HỒI NGUYÊN TẮC KIỂM SOÁT Tiêu chuẩn của kiểm soát hữu hiệu Kiểm soát gắn liền với kết quả mong muốn Kiểm soát phải căn cứ trên kế hoạch hoạt động của tổ chức và căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra. Tính khách quan Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho đuợc những nhận xét và kết quả đúng mức về đối tượng được kiểm tra, kết quả có thể bị sai lệch. Tính toàn diện Phải lựa chọn và xác định được phạm vi kiểm tra hợp lý và toàn diện, phải xác định đuợc trọng điểm có tính đại diện tốt cho đối tượng cần kiểm tra. Tính thời điểm Tính có thể chấp nhận được Th”ng tin trong thêi gian kiÓm tra Th”ng tin theo thêi gian thùc vµ kiÓm tra §Ó cã thÓ thùc hiÖn ®­îc qu¸ tr×nh kiÓm tra, ng­êi ta cÇn ph¶i thu thËp c¸c th”ng tin liªn quan ®Õn viÖc thùc hiÖn kÕ ho¹ch. Th”ng tin theo thêi gian thùc lµ th”ng tin vÒ c¸i x¶y ra trong khi nã ®ang x¶y ra. C¸c th”ng tin ngµy nay cã thÓ thu thËp vµ xö lý nhê viÖc sö dông m¸y tÝnh ®iÖn tö. Mét sè ng­êi coi th”ng tin theo thêi gian thùc nh­ lµ mét ph­¬ng tiÖn ®Ó tiÕn hµnh sù kiÓm tra theo thêi gian thùc trong c¸c vÊn ®Ò quan träng víi nhµ qu¶n lý. Nh­ng theo s¬ ®å m” t¶ qu¸ tr×nh kiÓm tra, ta thÊy r”ng viÖc ph©n tÝch c¸c nguyªn nh©n g©y ra sai lÖch, x¸c ®Þnh ch­¬ng tr×nh ®iÒu chØnh vµ thùc hiÖn c¸c ch­¬ng tr×nh ®iÒu chØnh lµ nh÷ng c”ng viÖc ®ßi hái nhiÒu thêi gian. Trong tr­êng hîp kiÓm tra chÊt l­îng s¶n phÈm, ph¶i mÊt nhiÒu thêi gian ®Ó ph¸t hiÖn nguyªn nh©n g©y ra phÕ phÈm vµ cÇn nhiÒu thêi gian ®Ó lµm ra c¸c biÖn ph¸p ®iÒu chØnh cã hiÖu lùc. C”ng viÖc cµng phøc t¹p th× thêi gian cÇn thiÕt cho viÖc ®iÒu chØnh c¸c sai lÖch cµng dµi. V× vËy ®èi víi hÇu hÕt c¸c qu¸ tr×nh kiÓm tra, thêi gian trÔ lµ ®iÒu khã tr¸nh khái. C¸c kü thuËt kiÓm tra cã thÓ chia thµnh hai nhãm lín: c¸c kü thuËt kiÓm tra ng©n quü vµ c¸c kü thuËt kiÓm tra phi ng©n quü truyÒn thèng. C¸c kü thuËt kiÓm tra ng©n quü. Quan niÖm vÒ ng©n quü. Ng©n quü lµ c¸ch ph¸t biÓu c¸c kÕ ho¹ch cho mét thêi kú t­¬ng lai ®· ®Þnh theo c¸c quan hÖ b”ng con sè. Nh­ vËy, c¸c ng©n quü lµ c¸c ®iÒu kho¶n vÒ c¸c kÕt qu¶ ®Þnh tr­íc theo quan hÖ tµi chÝnh (nh­ ng©n quü thu-chi, ng©n quü vÒ vèn) hoÆc theo c¸c quan hÖ phi tµi chÝnh (nh­ ng©n quü vÒ sè giê lao déng trùc tiÕp, c¸c vËt liÖu, s¶n phÈm s¶n xuÊt ra). C¸c ng©n quü ph¶i dùa trªn c¸c kÕ ho¹ch v× chØ b”ng c¸ch cã nh÷ng môc tiªu râ rµng, cã ph­¬ng ¸n hµnh ®éng ®Ó hoµn thµnh chóng th× ng­êi qu¶n lý míi cã thÓ biÕt râ bao nhiªu tiÒn lµ cÇn thiÕt ®Ó thùc hiÖn viÖc mong muèn. B”ng c¸ch ph¸t biÓu c¸c kÕ ho¹ch d­íi d¹ng c¸c quan hÖ con sè vµ t¸ch chóng ra thµnh c¸c bé phËn cña doanh nghiÖp, c¸c ng©n quü sÏ t­¬ng quan víi viÖc lËp kÕ ho¹ch vµ cho phÐp sù giao phã quyÒn h¹n mµ vÉn kh”ng thiÕu sù kiÓm tra. C¸c d¹ng ng©n quü. Ng©n quü thu vµ chi. PhÇn nhiÒu c¸c ng©n quü gi¶i thÝch râ c¸c kÕ ho¹ch vÒ c¸c nguån thu vµ kho¶n chi cho ho¹t ®éng d­íi d¹ng tiÒn tÖ. C¬ b¶n nhÊt trong sè nµy lµ ng©n quü b¸n – mét c¸ch thÓ hiÖn chÝnh thøc vµ chi tiÕt vÒ s¶n l­îng b¸n hµng dù kiÕn. C¸c kho¶n thu tõ b¸n s¶n phÈm hoÆc cung cÊp dÞch vô lµ thu nhËp chÝnh ®Ó bï ®¾p c¸c chi phÝ ho¹t ®éng vµ t¹o ra lîi nhuËn. C¸c ng©n quü chi cho ho¹t ®éng cña mét doanh nghiÖp cã thÓ cã nhiÒu nh­ c¸c ph©n lo¹i chi phÝ trong s¬ ®å h¹ch to¸n cña doanh nghiÖp. C¸c ng©n quü nµy cã thÓ liªn quan ®Õn kho¶n môc chi phÝ nh­: nh©n c”ng, nguyªn vËt liÖu, n¨ng l­îng, v¨n phßng, tiªu thô,… Ng­êi ta th­êng lËp ng©n quü vÒ c¸c kho¶n môc chÝnh vµ gép c¸c kho¶n môc kh¸c víi nhau trong mét b¶ng tæng kÕt kiÓm tra. Ng©n quü vÒ thêi gian, kh”ng gian, vËt liÖu, s¶n phÈm. Mét sè ng©n quü nÕu thÓ hiÖn d­íi d¹ng vËt lý th× tèt h¬n d­íi d¹ng tiÒn tÖ. MÆc dï nh÷ng ng©n quü ®ã còng th­êng ®­îc ®æi sang d¹ng tiÒn tÖ nh­ng chóng sÏ cã ý nghÜa nhiÒu h¬n vµo mét giai ®o¹n nhÊt ®Þnh trong khi lËp kÕ ho¹ch vµ kiÓm tra nÕu chóng ®­îc biÓu thÞ d­íi d¹ng sè l­îng vËt lý. HÇu hÕt c¸c doanh nghiÖp ®Òu lËp ra ng©n quü vÒ s¶n l­îng vµ d­íi ®ã c¸c bé phËn s¶n xuÊt l¹i lËp ra ng©n quü vÒ phÇn s¶n l­îng theo thµnh phÇn cña s¶n phÈm cuèi cïng. Ngoµi ra, viÖc lËp ng©n quü vÒ lao ®éng theo sè giê lao ®éng hoÆc sè ngµy lao ®éng víi lo¹i h×nh lao ®éng cÇn thiÕt còng kh¸ phæ biÕn. C¸c ng©n quü nµy kh”ng thÓ biÓu thÞ tèt d­íi d¹ng tiÒn tÖ do chi phÝ b”ng tiÒn cã thÓ kh”ng ®o l­êng chÝnh x¸c c¸c nguån lùc ®­îc dïng hoÆc c¸c kÕt qu¶ dù ®Þnh. Ng©n quü chi tiªu c¬ b¶n. C¸c ng©n quü chi tiªu c¬ b¶n v¹ch ra nh÷ng kho¶n chi tiªu c¬ b¶n ®Æc tr­ng cho viÖc ®Çu t­: thuª, mua nhµ x­ëng, thiÕt bÞ m¸y mãc, kho tµng,… cho dï lµ dµi h¹n hay ng¾n h¹n, c¸c ng©n quü nµy ®ßi hái ph¶i thËn träng trong viÖc ®­a ra kÕ ho¹ch chi tiªu vèn cña doanh nghiÖp. Do tiÒn vèn lµ mét trong nh÷ng yÕu tè h¹n chÕ nhÊt cña mäi doanh nghiÖp vµ ph¶i mÊt mét thêi gian dµi doanh nghiÖp míi cã thÓ thu håi ®­îc c¸c kho¶n ®Çu t­ vµo thiÕt bÞ m¸y mãc th”ng qua khÊu hao nªn tÝnh bÊt biÕn vµ rñi ro ë ®©y lµ cao. V× vËy, c¸c ng©n quü chi tiªu c¬ b¶n th­êng g¾n chÆt víi viÖc lËp kÕ ho¹ch theo quy m” thêi gian kh¸ dµi. Ng©n quü tiÒn mÆt. Quü tiÒn mÆt lµ sè dù ®o¸n vÒ c¸c kho¶n thu vµ chi tiÒn mÆt mµ nhê ®ã ®o ®­îc l­îng tiÒn mÆt thùc tÕ cã ®­îc. Cho dï cã ®­îc gäi lµ mét ng©n quü hay kh”ng th× quü tiÒn mÆt còng lµ mét c¸ch kiÓm tra quan träng cña doanh nghiÖp. Kh¶ n¨ng cã tiÒn mÆt ®Ó ®¸p øng c¸c kho¶n nî ®Õn kú thanh to¸n lµ yªu cÇu ®Çu tiªn cho sù tån t¹i cña doanh nghiÖp. Lîi nhuËn còng sÏ thÊp khi l­îng tiÒn mÆt ®äng trong dù tr÷, l­u th”ng, m¸y mãc hoÆc c¸c tµi s¶n kh”ng ph¶i lµ tiÒn mÆt kh¸c. ViÖc lËp ng©n quü tiÒn mÆt còng cho thÊy kh¶ n¨ng thõa tiÒn mÆt, tõ ®ã lËp kÕ ho¹ch ®Çu t­ sinh l·i víi c¸c kho¶n tiÒn d”i ra. Ng©n quü biÕn ®æi. Cã lÏ cøng nh¾c lµ mèi nguy h¹i lín nhÊt khi sö dông c¸c ph­¬ng ph¸p ng©n quü. Ngay khi viÖc lËp ng©n quü kh”ng ®­îc dïng ®Ó thay thÕ cho viÖc qu¶n lý th× viÖc quy c¸c kÕ ho¹ch vÒ c¸c gi¸ trÞ con sè còng cã thÓ ®em l¹i nh÷ng sai lÇm. VÝ dô, c¸c sù kiÖn thùc tÕ cho thÊy ph¶i sö dông lo¹i nguyªn liÖu nµy nhiÒu h¬n lo¹i kh¸c, hoÆc khi l­îng b¸n ra thùc tÕ qu¸ kh¸c biÖt so víi møc dù b¸o. Lóc ®ã c¸c ng©n quü trë nªn l¹c hËu vµ nÕu c¸c nhµ qu¶n lý vÉn bÞ c¸c ng©n quü rµng buéc th× lîi Ých cña ng©n quü sÏ suy gi¶m hoÆc triÖt tiªu ng©n quü kh”ng cßn phï hîp. §iÒu nµy ®Æc biÖt ®óng ë nh÷ng n¬i mµ ng©n quü ®­îc thiÕt lËp tr­íc cho nh÷ng thêi kú dµi. Do sù nguy hiÓm cña tÝnh cøng nh¾c trong c¸c ng©n quü vµ do tÝnh linh ho¹t tèi ®a phï hîp víi tÝnh hiÖu qu¶ trong lËp kÕ ho¹ch nªn ng­êi ta ngµy cµng chó ý ®Õn c¸c ng©n quü biÕn ®æi (ng©n quü linh ho¹t). Ng©n quü biÕn ®æi ®­îc thiÕt kÕ ®Ó cã thÓ thay ®æi ®­îc khi khèi l­îng b¸n hoÆc c¸c th”ng sè liªn quan ®Õn s¶n l­îng thay ®æi. V× vËy, phÇn lín chóng ®­îc giíi h¹n trong viÖc ¸p dông cho c¸c ng©n quü chi tiªu. Ng©n quü biÕn ®æi dùa trªn sù ph©n tÝch c¸c kho¶n môc chi tiªu ®Ó xem xÐt c¸c chi phÝ riªng lÎ thay ®æi nh­ thÕ nµo theo khèi l­îng s¶n xuÊt. Mét sè chi phÝ kh”ng thay ®æi theo khèi l­îng, ®Æc biÖt trong thêi kú ng¾n h¹n. Chóng lµ c¸c chi phÝ cè ®Þnh nh­ hao mßn, thuÕ tµi s¶n, b¶o hiÓm, chi phÝ b¶o d­ìng thiÕt bÞ, chi phÝ duy tr× doanh nghiÖp,… Mét sè chi phÝ kh¸c biÕn ®æi theo s¶n l­îng nh­ nguyªn vËt liÖu, lao ®éng trùc tiÕp, chi phÝ b¸n hµng,… Lµm cho viÖc kiÓm tra ng©n quü ho¹t ®éng. Muèn cho viÖc kiÓm tra ng©n quü ho¹t ®éng tèt, ng­êi qu¶n lý ph¶i l­u ý r”ng c¸c ng©n quü chØ ®­îc thiÕt kÕ nh­ mét c”ng cô vµ kh”ng thÓ thay thÕ ®­îc cho viÖc qu¶n lý. §Ó cã kÕt qu¶ tèt nhÊt, viÖc lËp vµ qu¶n lý ng©n quü cÇn ph¶i cã ®­îc sù hç trî toµn t©m toµn ý cña c¸c nhµ qu¶n lý cÊp cao. ViÖc lËp ra mét c¬ quan qu¶n trÞ b”ng mét chØ thÞ sau ®ã l·ng quªn ®i sÏ dÉn ®Õn viÖc lËp ng©n quü mét c¸ch kh”ng ch¾c ch¾n vµ dån tr¸ch nhiÖm cho nhµ qu¶n lý cÊp d­íi. Hä sÏ ph¶i thùc hiÖn mét thñ tôc kh¸c hoÆc so¹n th¶o ra hµng lo¹t hå s¬, giÊy tê. Ng­îc l¹i, nÕu ban qu¶n lý cÊp cao thùc sù hç trî cho viÖc lËp ng©n quü vµ ®Æt nÒn t¶ng ch¾c ch¾n cho ng©n quü d­¹ trªn kÕ ho¹ch, yªu cÇu c¸c bé phËn, c¸c chi nh¸nh thiÕt lËp vµ b¶o vÖ ng©n quü cña hä th× lóc ®ã ng©n quü sÏ thu hót ®­îc sù qu¶n lý n¨ng ®éng trong toµn doanh nghiÖp. C¸c ng©n quü cung cÊp ph­¬ng tiÖn giao phã quyÒn h¹n mµ vÉn kiÓm tra ®­îc nh­ng nÕu nã qu¸ chi tiÕt vµ cøng nh¾c th× thùc tÕ chØ mét Ýt quyÒn h¹n ®­îc giao phã. ViÖc kiÓm tra ng©n quü lµ ®Ó ho¹t ®éng, do ®ã ng­êi qu¶n lý cÇn cã nh÷ng th”ng tin vÒ viÖc thùc hiÖn trªn thùc tÕ. Th”ng tin nµy kh”ng cã s½n mµ ph¶i ®­îc thu thËp sao cho ng­êi qu¶n lý thÊy ®­îc hä ®ang lµm viÖc ®Õn møc ®é nµo, tr¸nh ®­îc nh÷ng sai lÖch vÒ ng©n quü. C¸c kü thuËt kiÓm tra C¸c biÖn ph¸p kiÓm tra phi ng©n quü Cã nhiÒu biÖn ph¸p kiÓm tra phi ng©n quü truyÒn thèng, trong ®ã quan träng nhÊt lµ: c¨n cø vµ sè liÖu thèng kª, c¸c b¸o c¸o vµ ph©n tÝch chuyªn m”n, kiÓm tra t¸c nghiÖp vµ quan s¸t c¸ nh©n. C¸c sè liÖu thèng kª. C¸c sè liÖu thèng kª vÒ nhiÒu khÝa c¹nh cña mét ho¹t ®éng vµ c¸ch thÓ hiÖn râ rµng c¸c sè liÖu thèng kª rÊt quan träng cho viÖc kiÓm tra. C¸c nhµ qu¶n lý hiÓu ®­îc c¸c sè liÖu thèng kª tèt nhÊt d­íi d¹ng biÓu ®å v× ng­êi ta cã thÓ thÊy ®­îc mèi liªn hÖ vµ c¸c xu thÕ biÕn ®æi cña c¸c sè liÖu. Ngoµi ra, nÕu muèn c¸c sè liÖu cã ý nghÜa th× cÇn so s¸nh chóng víi mét sè tiªu chuÈn ®· cã. VÝ dô, viÖc t¨ng/gi¶m 1% l­îng tiªu thô hoÆc chi phÝ cã ý nghÜa g×? Tiªu chuÈn so s¸nh? Sù thay ®æi ®ã nghiªm träng tíi møc nµo?… C¸c b¸o c¸o vµ ph©n tÝch chuyªn m”n. C¸c b¸o c¸o vµ ph©n tÝch chuyªn m”n gióp cho kiÓm tra trong ph¹m vi c¸c vÊn ®Ò riªng lÎ. MÆc dï b¸o c¸o thèng kª vµ kÕ to¸n th­êng cung cÊp cho ta nh÷ng th”ng tin rÊt tèt nh­ng vÉn cã nh÷ng ph¹m vi mµ ë ®ã chóng kh”ng ®ñ vµ kh”ng phï hîp. KiÓm tra t¸c nghiÖp. KiÓm tra t¸c nghiÖp lµ c”ng cô h÷u hiÖu ®Ó kiÓm tra qu¶n lý. Theo nghÜa réng kiÓm tra t¸c nghiÖp lµ sù ®¸nh gi¸ th­êng xuyªn vµ ®éc lËp ®­îc thùc hiÖn bëi ban kiÓm tra néi bé vÒ kÕ to¸n, tµi chÝnh vµ c¸c ho¹t ®éng kh¸c cña doanh nghiÖp. MÆc dï th­êng ®­îc h¹n ®Þnh trong viÖc kiÓm tra sæ s¸ch kÕ to¸n nh­ng c”ng t¸c kiÓm tra t¸c nghiÖp bao gåm viÖc ®¸nh gi¸ c¸c ho¹t ®éng nãi chung, c©n nh¾c so s¸nh c¸c kÕt qu¶ thùc tÕ vµ kÕt qu¶ dù ®Þnh. Nh­ vËy, ngoµi viÖc ®¶m b¶o r”ng c¸c sæ s¸ch kÕ to¸n ph¶n ¸nh ®óng c¸c sù viÖc, c¸c nhµ kiÓm tra t¸c nghiÖp cßn ®¸nh gi¸ vÒ c¸c chÝnh s¸ch, c¸c thñ tôc, viÖc sö dông quyÒn hµnh, chÊt l­îng qu¶n lý,… Quan s¸t c¸ nh©n. Kh”ng nªn coi nhÑ tÇm quan träng cña viÖc kiÓm tra th”ng qua sù quan s¸t c¸ nh©n. C¸c ng©n quü, c¸c biÓu ®å thèng kª ®Òu rÊt quan träng, nh­ng nÕu ng­êi qu¶n lý chØ dùa hoµn toµn vµo c¸c biÖn ph¸p nµy mµ ngåi trong phßng kÝn th× khã cã thÓ thùc hiÖn ®­îc viÖc kiÓm tra, ®o l­êng, ®iÒu chØnh. Nhµ qu¶n lý cã nhiÖm vô lµm cho c¸c môc tiªu ®­îc hoµn thµnh bëi nh÷ng con ng­êi cô thÓ. Cho dï cã nhiÒu biÖn ph¸p khoa häc hç trî cho viÖc ®¶m b¶o r”ng mäi ng­êi ®ang thùc hiÖn nh÷ng c”ng viÖc ®· ®Þnh theo kÕ ho¹ch nh­ng quan s¸t c¸ nh©n vÉn lµ biÖn ph¸p kiÓm tra cÇn thiÕt. Cã rÊt nhiÒu th”ng tin mµ nhµ qu¶n lý cã thÓ thu nhËn ®­îc nhê viÖc quan s¸t c¸ nh©n, ngay c¶ khi ®i d¹o ngÉu nhiªn qua mét ph©n x­ëng hay mét phßng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra
  • Thực Trạng Và Kinh Nghiệm Thực Hiện Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Giữa Nhiệm Kỳ Đại Hội Lần Thứ Xv Của Đảng Bộ Tỉnh
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Góp Phần Giữ Vững Kỷ Cương, Kỷ Luật Của Đảng
  • Tăng Cường Kiểm Tra, Giám Sát Của Đảng Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Báo Cáo Công Tác Tự Kiểm Tra Việc Thực Hiện Nhiệm Vụ Kiểm Tra, Giám Sát Của Chi Bộ Theo Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Rơ Le Và Tự Động Hóa
  • Cách Bật Tắt Kiểm Tra Sửa Lỗi Chính Tả Trong Word 2010
  • Những Tuyệt Chiêu Cho Công Cụ Kiểm Tra Văn Bản Của Word 2010
  • Cách Kiểm Tra Lỗi Chính Tả Trong Word 2021
  • Cách Tắt Chức Năng Kiểm Tra Chính Tả Trong Word
  • Embed Size (px)

    Chc nng kim tra trong qun l

    Kim tra l g?

    Kim tra l o ng v chn chnh vic thc hin nhm m bo rng cc mc tiu v cc k hoch vch ra thc hin cc mc tiu ny v ang c hon thnh.

    Mc ch ca kim tra

    Bo m kt qu t c ph hp vi mc tiu ca t chc Bo m cc ngun lc c s dng mt cch hu hiu. Lm by t v ra nhng kt qu mong mun chnh xc hn theo th t quan trng. Xc nh v d on nhng bin ng v nhng chiu hng chnh. Pht hin kp thi cc sai st v b phn chu trch nhim chn chnh n gin ha cc vn y quyn, ch huy, quyn hnh v trch nhim. Phc tho cc tiu chun tng trnh bo co loi bt nhng g quan trng hay khng cn thit. Ph bin nhng ch dn cn thit mt cch lin tc ci tin vic hon thnh cng vic, tit kim thi gian, cng sc ca mi ngi.

    Tc dng ca kim tra

    Lm nh gnh nng cp ch huy. Kim tra li qu trnh hoch nh, t chc, iu khin.

    C th ni rng kim tra l si ch xuyn sut c qu trnh qun l.

    Cc nguyn tc xy dng c ch kim tra

    Cn c k hoch hot ng v theo cp bc ca i tng kim tra Da vo c im c nhn ca nh qun l Thc hin ti nhng im trng yu Khch quan Ph hp vi bu khng kh ca t chc Tit kim, cng vic kim tra tng xng vi chi ph Kim tra phi a n hnh ng.

    Qu trnh kim tra c bn

    Xy dng cc tiu chun: nh lung, nh tnh o lng vic thc hin: o lng, nh gi sai lch iu chnh cc sai lch

    Cc hnh thc thc hin chc nng kim tra trong qun lKim tra d phng

    Nhm tin liu trc vic sai st c th s xy ra tr khi phi c bin php iu chnh ngay trong hin ti. Rt cn thit do tin trnh lu di ca hot ng kim tra

    Kim tra hin hnh

    Gip sa cha kp thi nhng kh khn mi pht sinh Thc hin bng gim th trc tip

    Kim sot thng tin phn hi

    Xy ra sau hot ng. C sai lch ri qun l mi bit. Nh hnh thc ny m ngi qun l c th c c nhng tin tc vi ni dung c ngha v hiu qu ca cng tc hoch nh.

    Kim tra trng yu

    Phi l nhng im c tc dng hn ch s hot ng bnh thng ca t chc.

    Chn ng im trng yu l ngh thut.

    Kim tra hnh vi Ni dung kim tra hnh vi

    Dng nhng tiu chun tuyt i nhn vin c nh gi theo mt tiu chun c nh ch khng phi so snh ngi ny vi ngi khc. Dng nhng tiu chun tng i so snh ngi ny vi ngi khc. Qun l bng mc tiu ca h, v nh gi h qua trao i.

    Nhng hnh thc kim tra qun l trc tip

    Nhn vin lm tt thng Nhn vin lm vic khng c kt qu th tm nguyn nhn. Nu do nng lc th bi hun, nu do ng c th kch thch. Nu hai bin php trn v hiu th k lut gm khin trch, nh ch cng tc, chuyn cng tc khc c mc lng thp hn, sa thi.

    Nhng hnh thc thay th cho kim tra thc tip

    Chn lc Vn ha t chc Tiu chun ha Hun luyn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Quản Trị Học Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Chương 9: Chức Năng Kiểm Tra Của Quản Trị
  • Cách Kiểm Tra Văn Bản Trong Word 2021, 2013, 2010, 2007, 2003
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quá Trình Quản Trị Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Cổng Điện Tử Đảng Bộ Kccq
  • Chương 9: Chức Năng Kiểm Tra Của Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Quản Trị Học Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Lý
  • Bảo Vệ Rơ Le Và Tự Động Hóa
  • Cách Bật Tắt Kiểm Tra Sửa Lỗi Chính Tả Trong Word 2010
  • Những Tuyệt Chiêu Cho Công Cụ Kiểm Tra Văn Bản Của Word 2010
  • CHƯƠNG 9: CHỨC NĂNG KIỂM TRA CỦA QUẢN TRỊ

    CHƯƠNG 9

    KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ TÁC DỤNG CỦA KIỂM TRA

    CÁC NGUYÊN TẮC ĐỂ XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM TRA

    QUY TRÌNH KIỂM TRA

    CÁC ĐIỂM KIỂM TRA TRỌNG YẾU

    CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐỂ KIỂM TRA

    I: KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ TÁC DỤNG CỦA KIỂM TRA.

    KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ TÁC DỤNG CỦA KIỂM TRA

    KHÁI NIỆM

    MỤC ĐÍCH

    TÁC DỤNG CỦA KIỂM TRA

    Kiểm tra là việc dựa vào các định mức, các chuẩn mực, các kế họach ….để đánh giá hiệu quả của hoạt động của tổ chức và đề ra các giải pháp quản trị thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, kiểm tra bao hàm cả kiểm tra cái “ĐÔ làm và qua đó điều chỉnh cái “SẼ” làm.

    1.Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức

    2.Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu.

    3.Làm bày tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo thứ tự quan trọng

    4.Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính.

    5. Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh

    6. Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.

    7. Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết.

    8. Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người.

    Công tác kiểm tra không phải là liều thuốc thần chữa được bách bệnh, giải quyết được mọi vấn đề. Tự nó không giải quyết được gì cả mà chỉ phát huy tác dụng nếu có được nhà quản trị sử dụng một cách khéo léo, nghĩa là có năng lực giải thich các số liệu thống kê và các bảng biểu mà hình thức nội dung được phát họa một cách cẩn thận.

    II.CÁC NGUYÊN TẮC ĐỂ XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM TRA.

    Cơ chế kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên hoạt động của doanh nghiệp và cấp bậc của đối tượng được kiểm tra

    Công việc kiểm tra phải được thiết kế theo đặc điểm cá nhân của nhà quản trị

    Sự kiểm tra phải được thực hiện tại những điển trọng yếu

    Việc kiểm tra phải khách quan.

    Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với đặc điểm của tổ chức

    Việc kiểm tra cần phải tiếm kiệm, và công việc kiểm tra phải tương xứng với chi phí của nó

    Việc kiểm tra phải đưa đến hành động

    CÁC NGUYÊN TẮC

    III. QUY TRÌNH KIỂM TRA.

    QUY TRÌNH KIỂM TRA

    1. THIẾT LẬP CÁC TIÊU CHUẨN

    2.ĐO LƯỜNG THÀNH QUẢ

    Tiêu chuẩn là cơ sở để đo lường kết quả có thể được diễn tả bằng các chỉ tiêu định lượng như số giờ công, số lượng phế phẩm, hoặc đơn vị tiền tệ như: chi phí, doanh thu hoặc bằng bất cứ khái niệm nào dùng để đo lường thành lường thành quả kể cả những khái niệm tâm lý như vui lòng của khách hàng.

    Có thể và nên hình dung ra thành quả trước khi nó được thực hiện, để so sánh với tiêu chuẩn và từ đó có biện pháp sửa chữa kịp thời.

    Việc đo lường chỉ dễ dàng, nếu các tiêu chuẩn được xác định đúng đắn và thành quả của nhân viên được xác định chính xác. Việc đo lường là khó khăn đối với một số công việc vì khó xác định tiêu chuẩn (ví dụ: thành quả của phó giám đốc tài chính, hay cán bộ phụ trách công đoàn).

    3. SỮA CHỮA SAI

    HOẠT ĐỘNG SỮA CHƯA

    THÔNG TIN PHẢN HỒI

    TIẾN TRÌNH KIỂM TRA MANG TÍNH CHẤT DỰ PHÒNG

    IV. CÁC ĐIỂM KIỂM TRA TRỌNG YẾU.

    CÁC ĐIỂM KIỂM TRA TRỌNG YẾU

    1.Những điểm nào là điểm phản ánh rõ nhất mục tiêu của đơn vị mình?

    2.Những điểm nào điểm phản ánh rõ nhất tình trạng không đạt mục tiêu?

    3.Những điểm nào là điểm đo lường tốt nhất sự sai lạc?

    4.Những điểm nào là điểm cho nhà quản trị viết ai là người chịu trách nhiệm về sự thất bại?

    5.Tiêu chuẩn kiểm tra nào ít tốn kém nhất?

    6.Tiêu chuẩn kiểm tra nào có thể thu thập thông tin cần thiết mà không phải tốn kém nhiều quá?

    V.CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐỂ KIỂM TRA

    CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐỂ KIỂM TRA

    KIỂM TRA TÀI CHÍNH

    KIỂM TRA HÀNH VI

    Ngân sách

    Phân tích tài chính

    Phân tích trường hợp hòa vốn

    Kiểm toán

    Những hình thức kiểm tra quản trị trực tiếp

    Những hình thức thay thế cho kiểm tra trực tiếp

    NGÂN SÁCH:

    Ngân sách lợi nhuận

    Ngân sách tiền mặt

    Ngân sách chi tiêu vốn

    PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

    Bảng cân đối Tỷ số thử nghiệm giá trị trọng trọng yếu

    Bảng kết toán thu nhập  Tỷ số nợ với tài sản

    Phân tích tỷ lệ  Tỷ số hoạt động

    Tỷ số thanh toán  Tỷ số xác suất

    Tỷ số bình thường

    KIẾM TOÁN

    KIẾM TOÁN TỪ BÊN NGOÀI.

    Do một bộ phận kế toán độc lập ở ngoài tổ chức thực hiện. Lối kiểm tra này là để bảo vệ những cổ đông. Đối với quản lý thì nó chỉ có một tác dụng gián tiếp là làm những nhân viên kế toán của tổ chức phải nghiêm túc trong công tác kế toán của mình

    KIẾM TOÁN TỪ BÊN TRONG.

    Trong thực hiện bởi những nhân viên kế toán của tổ chức, bao gồm những công việc như kể trên. Ngoài ra còn có sự đánh giá những hoạt động và chính sách của tổ chức cùng với những đề nghị cải thiện

    PHÂN TÍCH CHI PHÍ LỢI ÍCH:

    Kỹ thuận này hữu dụng khi những chi phí thì biết rõ nhưng những tiêu chuẩn để những chi phí đó có thể so sánh mập mờ hoặc khó đo lường, chẳng hạn như định xem những lợi ích của việc nghiên cứu và phát triển có hơn những chi phí hay không? Việc sử dụng cách phân tích này có thể phát hiện những sử dụng không hiệu quả của ngân quỹ

    CÓ BA PHƯƠNG PHÁP

    HÌNH THỨC KIỂM TRA QUẢN TRỊ TRỰC TIẾP

    Tiến trình kĩ luật gồm 4 bước

    Cảnh cáo miệng

    Cảnh cáo viết

    Ngưng việc

    Sa thài

    NHỮNG HÌNH THỨC CHO

    Chọn lọc

    Văn hóa của tổ chức

    Tiêu chuẩn hóa

    Huấn luyện

    Đánh giá thái độ

    TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HCM

    THANK YOU !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Kiểm Tra Văn Bản Trong Word 2021, 2013, 2010, 2007, 2003
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quá Trình Quản Trị Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Cổng Điện Tử Đảng Bộ Kccq
  • Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Nhà Nước Trong Thực Hiện Chức Năng Kiểm Tra, Giám Sát Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Góp Phần Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Đảng Trong Bối Cảnh Mới
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quá Trình Quản Trị Doanh Nghiệp Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Kiểm Tra Văn Bản Trong Word 2021, 2013, 2010, 2007, 2003
  • Chương 9: Chức Năng Kiểm Tra Của Quản Trị
  • Tiểu Luận Quản Trị Học Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Lý
  • Bảo Vệ Rơ Le Và Tự Động Hóa
  • Nhiều người cho rằng, kiểm tra là sự không tin tưởng lẫn nhau, kiểm tra ngăn cản quyền tự do hành động của mỗi con người và gây tốn kém cho hệ thống. Vào thời đại mà tính hợp pháp của quyền lực bị đặt nhiều câu hỏi và xu thế hướng tới quyền tự do sáng tạo cho các cá nhân đang được đẩy mạnh, khái niệm kiểm tra làm cho nhiều người khó chịu, mặc dù vậy kiểm tra là cần thiết vì một công việc nếu không có kiểm tra, giám sát chắc chắn sẽ nảy sinh nhiều sai sót. Kiểm tra là chức năng quan trọng của nhà quản trị. Tính chất quan trọng của kiểm tra được thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt, kiểm tra là công cụ quan trọng để nhà quản trị phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh. Mặt khác, thông qua kiểm tra, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh.

    Từ những định nghĩa trên, có thể khái quát: Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định, đồng thời sửa chữa và chấn chỉnh những sai lầm để đảm bảo công việc đạt được mục tiêu theo như kế hoạch hoặc các quyết định đặt ra.

    Những biện pháp kiểm tra hiệu quả phải đơn giản (càng ít đầu mối kiểm tra càng tốt) cần tạo sự tự do và cơ hội tối đa cho người dưới quyền chủ động sử dụng kinh nghiệm, khả năng và tài năng quản trị của mình để đạt kết quả cuối cùng mong muốn về những công việc được giao.

    Như vậy, kiểm tra là chức năng của mọi nhà quản trị, từ nhà quản trị cao cấp đến các nhà quản trị cấp cơ sở trong một tổ chức. Mặc dù qui mô của đối tượng kiểm tra và tầm quan trọng của sự kiểm tra thay đổi tùy theo cấp bậc của nhà quản trị, tất cả mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu đã đề ra, do đó chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản đối với mọi nhà quản trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Đảng Bộ Kccq
  • Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Nhà Nước Trong Thực Hiện Chức Năng Kiểm Tra, Giám Sát Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Góp Phần Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Đảng Trong Bối Cảnh Mới
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Nhà Nước Trong Thực Hiện Chức Năng Kiểm Tra, Giám Sát Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Là Một Trong Những Chức Năng Lãnh Đạo, Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Đảng
  • Giáo Trình Môn Học Quản Trị Học Chương Vi Chức Năng Kiểm Tra Kiểm Soát

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Hiệu Trưởng Đối Với Công Tác Kiểm Tra Nội Bộ Trường Học
  • Nfc Là Gì? Công Dụng Và Cách Sử Dụng Nfc Trên Điện Thoại?
  • Phải Làm Gì Nếu Không Có Mô
  • Công Nghệ Nfc Trên Điện Thoại Là Gì? Chức Năng Và Cách Sử Dụng Nfc Trên Điện Thoại
  • Các Bài Test Đánh Giá Sa Sút Trí Tuệ Thường Được Áp Dụng. Bạn Đã Biết Hay Chưa?
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

    GIÁO TRÌNH MÔN HỌC QUẢN TRỊ HỌC

    Biên soạn: Ths. Nguyễn Tam Sơn

    Chương VI. CHỨC NĂNG KIỂM TRA – KIỂM SOÁT I. KHÁI NIỆM KIỂM TRA – KIỂM SOÁT

    Theo tiếng Anh, Kiểm tra: Inspection hay Check còn Kiểm soát: Control. Theo từ

    điển tiếng Việt, Kiểm tra là “Xem xét tình hình thực tế để xem xét đánh giá, nhận xét”,

    ví dụ như: kiểm tra sổ sách, làm bài kiểm tra, kiểm tra sức khỏe, …; còn Kiểm soát là

    “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với qui đònh”, và kiểm soát cũng còn

    nghóa khác là đặt trong phạm vi quyền hành của ai quản lý, ví dụ: vùng do đối phương

    kiểm soát, ngân hàng kiểm soát việc sử dụng vốn đối với khách hàng vay, … Như vậy,

    Kiểm tra và Kiểm soát là hai từ riêng, nghóa của chúng không hoàn toàn giống nhau. Song

    chúng có nhiều điểm tương đồng.

    Xem về phương diện quản trò, kiểm tra – kiểm soát là việc đo lường kết quả thực

    tế so sánh với tiêu chuẩn qui đònh nhằm phát hiện những sai lệch để điều chỉnh nếu chủ

    thể quản trò thấy cần thiết.

    – Đo lường: là sự cân, đong, đo, đếm, nhìn thấy, nghe thấy cảm nhận được kết

    quả họạt động trong thực tế, tùy theo đối tượng kiểm tra – kiểm soát mà chọn phương

    pháp và công cụ kiểm tra thích hợp, chẳng hạn ta muốn biết số lượng một xe gạo cần

    phải dùng phương pháp cân, muốn biết chiều dài một cây vải cần phải đo, muốn biết

    bao nhiêu chiếc ti vi cần phải đếm, còn muốn biết chất lượng một bài giảng của một

    giảng viên thì phải thông qua phương pháp nghe, nhìn, cảm nhận đúng hay sai, hay hoặc

    dở, …

    – Tiêu chuẩn: là những gì đã ấn đònh trước đó, ví dụ như kế hoạch, nhiệm vụ

    được giao, thể lệ, chế độ qui đònh, … là cái chuẩn để đối chiếu, so sánh…

    – Sai lệch: là những gì mà kết quả thực tế khác với tiêu chuẩn qui đònh. Có thể

    kết quả thực tế lớn hơn tiêu chuẩn qui đònh hoặc ngược lại, muốn biết trạng thái nào là

    tốt thì còn phụ thuộc trạng thái mà chủ thể mong đợi, ví dụ doanh thu, lợi nhuận bao giờ

    cũng mong muốn thực hiện đạt và vượt kế hoạch, còn chi phí giá thành thì ngược lại, …

    II. Ý NGHĨA CỦA KIỂM TRA – KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ

    Kiểm soát là một chức năng cuối cùng của quá trình quản trò: Hoạch đònh, tổ

    chức, điều khiển và kiểm tra – kiểm soát, nhưng chúng không phải là chức năng thứ yếu

    mà ngược lại chúng là một chức năng quan trọng, nó có ý nghóa to lớn trong quá trình

    quản trò.

    1- Thông qua kiểm tra – kiểm soát mà nhà quản trò nắm bắt được tiến trình thực

    hiện các kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ. Từ đó có sự điều chỉnh kòp thời nếu có

    sai sót tránh những tổn thất lớn hơn.

    2- Nhờ có kiểm tra – kiểm soát mà xác đònh tính đúng đắn các khâu hoạch đònh,

    tổ chức, điều khiển và ngay chính bản thân nó.

    3- Kiểm soát là một biện pháp thúc đẩy đối tượng đạt đến mục tiêu của tổ chức.

    Nói đến sự cần thiết của kiểm soát trong công tác lãnh đạo, Lênin đã dạy rằng

    “Lãnh đạo mà không kiểm soát coi như không lãnh đạo”. “Việc kiểm soát trong quản lý

    kinh tế cũng tựa như sinh tố. Muốn khỏe mạnh bạn phải dùng một liều lượng nào đó

    mỗi ngày – RICHARD S. SLOMA” (trích: “Lời vàng cho các nhà kinh doanh” – Nhà xuất

    bản trẻ năm 1994)

    Để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong quản trò cần phải

    thực hiện một tiến trình chặt chẽ.

    III. TIẾN TRÌNH KIỂM TRA – KIỂM SOÁT

    1- Từ công tác thực tế.

    Mọi hoạt động kiểm tra – kiểm soát phải xuất phát tình hình thực tế, vì thực tế

    cho phép chúng ta xác đònh được đối tượng, vùng (nơi) trọng yếu cần kiểm tra kiểm soát,

    xác đònh nội dung, phương pháp, công cụ kiểm tra – kiểm soát, …; từ đó có kế hoạch

    So sánh tiêu

    chuẩn qui

    đònh

    Tổ chức

    thực hiện

    điều chỉnh

    Tìm nguyên

    nhân sai

    lệch

    Các hoạt

    động điều

    chỉnh,

    hướng tới sự

    mong đợi

    (1) (2) (3) (4)

    (8) (7) (6) (5)

    kiểm tra – kiểm soát mang tính khả thi và hữu hiệu; thể hiện đầy đủ các ý nghóa của

    chức năng kiểm tra – kiểm soát trong quá trình quản trò.

    2- Đo lường kết quả công tác thực tế. Là khâu “cân, đong, đo, đếm” kết quả thực

    tế để đối chiếu với tiêu chuẩn qui đònh. Chất lượng công tác kiểm tra – kiểm soát phụ

    thuộc phần lớn vào chất lượng đo lường. Để nâng cao chất lượng đo lường cần chú ý đến

    các công cụ đo lường.

    3- So sánh với tiêu chuẩn “Chuẩn” qui đònh.

    Tiêu chuẩn là cái gì đó được ấn đònh từ trước, là cái “mẫu” cần đạt được, chẳng

    hạn như nhiệm vụ, kế hoạch được giao, chế độ, nội qui qui đònh, bản thiết kế được lập,

    … được làm “chuẩn” để so sánh.

    4- Xác đònh mức độ sai lệch.

    Khi lấy kết quả thực tế so sánh với tiêu chuẩn qui đònh, chúng ta xác đònh được

    sai lệch. Sự sai lệch này có thể phát sinh theo hai chiều hướng khác nhau, hoặc thực tế

    lớn hơn “chuẩn” hoặc nhỏ hơn “chuẩn” qui đònh. Chiều hướng nào được xem là hiện

    tượng tốt hay không tốt còn tùy thuộc vào chỉ tiêu so sánh, nếu lợi nhuận thực tế lớn hơn

    kế hoạch thì đó là hiện tượng tốt, ngược lại giá thành sản phẩm lớn hơn kế hoạch được

    xem là hiện tượng không tốt.

    5- Tìm nguyên nhân sai lệch.

    Sau khi xác đònh được mức độ sai lệïch chúng ta phải tìm các nguyên nhân gây ra

    sự sai lệch đó. Đây là tiền đề cần thiết cho việc lập kế hoạch điểu chỉnh.

    6- Lập kế hoạch điều chỉnh.

    Là việc xác đònh người (bộ phận) thực hiện những công việc điều chỉnh, đối

    tượng cần điều chỉnh và thời gian cũng như các các biện pháp điều chỉnh. Kế hoạch

    điều chỉnh được lập càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì hiệu quả hoạt động điều chỉnh

    càng cao bấy nhiêu.

    7- Tổ chức điều chỉnh.

    Là công việc sắp xếp, bố trí những bộ phận và cá nhân thực hiện việc điều

    chỉnh; qui đònh quyền hạn, trách nhiệm, quyền lợi của các bên tham gia trong quá trình

    điều chỉnh; thiết lập các mối quan hệ công việc giữa các bộ phận và cá nhân,

    8- Các hoạt động điều chỉnh hướng tới sự mong đợi.

    Là bước cuối cùng của tiến trình kiểm tra – kiểm soát. Bao gồm những công việc

    cụ thể của hoạt động điều chỉnh. Các hoạt động cụ thể này tác động trực tiếp đến đối

    tượng cần điều chỉnh để hướng chúng đi đến những trạng thái mà người quản trò mong

    đợi.

    1. Theo cách thức kiểm soát

    – Kiểm tra – kiểm soát trực tiếp.

    – Kiểm tra – kiểm soát gián tiếp.

    2. Theo tác dụng kiểm tra – kiểm soát

    – Kiểm tra – kiểm soát trước.

    – Kiểm tra – kiểm soát sau.

    3. Theo số lượng đối tượng kiểm soát

    – Kiểm tra – kiểm soát toàn bộ.

    – Kiểm tra – kiểm soát chọn mẫu.

    4. Theo phạm vi kiểm soát

    – Kiểm tra – kiểm soát nội bộ.

    – Kiểm tra – kiểm soát từ bên ngoài.

    5. Theo mức độ liên tục của kiểm soát

    – Kiểm tra – kiểm soát thường xuyên.

    – Kiểm tra – kiểm soát đònh kỳ.

    V. HỆ THỐNG KIỂM TRA- KIỂM SOÁT

    Hệ thống kiểm tra – kiểm soát của một donh nghiệp bao gồm:

    1. Kiểm tra – kiểm soát tài chánh

    Bao gồm các hoạt động:

    – Kiểm tra – kiểm soát ngân sách (thu – chi tài chính).

    – Phân tích tài chính, kế toán.

    – Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

    – Kiểm toán.

    2. Kiểm tra – kiểm soát tác nghiệp

    Bao gồm các hoạt động:

    – Kiểm tra – kiểm soát hành chánh (nhân sự).

    – Kiểm tra – kiểm soát kỹ thuật.

    – Kiểm tra – kiểm soát thông tin. VI. PHÍ TỔN KIỂM TRA – KIỂM SOÁT

    Kiểm tra – kiểm soát là một hoạt động quản trò có phí tổn, bao gồm thời gian, tiền

    bạc và công sức. Để đánh giá hiệu quả của kiểm tra – kiểm soát người ta thường so sánh

    lợi ích mang lại xuất phát từ kiểm tra – kiểm soát và chi phí của nó. Vì vậy, muốn kiểm

    tra – kiểm soát có hiệu quả cần phải chú ý những điểm sau:

    1. Tính chính xác trong đo lường

    Vì đo lường chính xác mới có cơ sở nhận xét, đánh giá chính xác và ngược lại

    nếu đo lường không chính xác làm cho việc nhận xét, đánh giá thiếu chính xác thậm chí

    trái ngược nhau, chẳng hạn trắng thành đen, tốt thành xấu …

    Để đo lường được chính xác cần phải có những thiết bò, công cụ đo lường chuyên

    dụng, tiên tiến và phải được sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau.

    2. Tính kinh tế

    Biểu hiện, các hoạt động kiểm tra – kiểm soát phải đảm bảo chi phí thấp. Điều

    đó hỏi phải có những phương pháp, hình thức phù hợp cho từng đối tượng và tình huống

    cụ thể, phù hợp với thời gian và không gian cũng như các điều kiện cho phép.

    3. Tính linh hoạt

    Nó đòi hỏi kiểm tra – kiểm soát phải biết thay đổi phương pháp, hình thức nhằm

    đảm bảo tính khách quan, trung thực. Áp dụng những phương pháp, hình thức và thời

    gian kiểm tra không thay đổi, thành qui luật đối tượng sẽ biết trước và tìm cách đối phó,

    người quản trò khó phát hiện được những vi phạm do cố ý làm trái vì mục đích cá nhân.

    4. Tiêu chuẩn đề ra phải hợp lí và đưa ra nhiều tiêu chuẩn kiểm tra – kiểm soát kết hợp

    Bởi vì, mỗi đối tượng mỗi tình huống có mục đích, yêu cầu kiểm tra – kiểm soát

    riêng, tất nhiên không thể lấy tiêu chuẩn kiểm tra – kiểm soát của đối tượng này sử dụng

    cho đối tượng khác hoặc của tình huống này cho tình huống khác.

    Sự kết hợp nhiều tiêu chuẩn kiểm tra – kiểm soát nhằm có đầy đủ cơ sở để nhận

    xét, đánh giá một cách toàn diện, chính xác và đi vào bản chất của sự vật và hiện tượng.

    5. Chú ý những nơi trọng yếu, đồng thời cũng phải lưu ý những trường hợp ngoại lệ

    Về nguyên tắc, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    phải được tổ chức kiểm tra – kiểm soát một cách chặt chẽ. Tuy nhiên không phải ở

    mọi nơi mọi lúc đều thực hiện một mức độ kiểm tra – kiểm soát như nhau, mà phải

    được tập trung nhiều hơn ở những nơi trọng yếu. Nơi trọng yếu là những nơi dễ phát

    sinh ra những sai sót nhất, là nơi mà ở đó nếu sai sót sẽ dẫn đến thiệt hại rất lớn đến

    hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Mặt khác, kiểm tra – kiểm soát trong quản trò cũng cần phải lưu ý đến các

    trường hợp ngoại lệ. Vì kinh nghiệm trong thực tế nhiều trường hợp ngoại lệ, rất tình

    cờ mà chúng ta phát hiện được những sai sót quan trọng, hạn chế được những thiệt

    hại lớn của doanh nghiệp.

    6. Việc kiểm soát phải hướng tới điều chỉnh sai lệch một cách tốt nhất

    Có thể nói điều chỉnh là mục đích của tiến trình kiểm tra – kiểm soát, mọi

    hoạt động kiểm tra – kiểm soát không hướng tới sự điều chỉnh là vô nghóa. Tuy nhiên,

    trong thực tế cho thấy không phải mọi cuộc kiểm tra – kiểm soát nào cũng nhằm đạt

    tới mục đích này. Còn không ít “quan thanh tra” lợi dụng quyền hạn của mình để

    nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người khác nhằm thu lợi cá nhân, nhất là lúc “giao

    thời”, các tiêu chuẩn chưa thực sự là “chuẩn ” để so sánh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra Chức Năng Gan Cần Chú Ý Những Gì?
  • Ngoài Xét Nghiệm Viêm Gan Ở Pasteur Và Medlatec Thì Nên Xét Nghiệm Ở Đâu
  • Xét Nghiệm Kiểm Tra Chức Năng Gan
  • Các Xét Nghiệm Kiểm Tra Chức Năng Thận?
  • Cách Kiểm Tra Xem Có Bị Bệnh Thận Hay Không: Chỉ Mất 1 Phút Và 1 Ly Nước Sạch
  • Công Tác Kiểm Tra Của Nhà Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Ứng Dụng Quản Lý Công Việc
  • Sử Dụng Phần Mềm Quản Lý Tòa Nhà Landsoft Control Mang Lại Lợi Ích Gì Cho Doanh Nghiệp Và Chủ Đầu Tư ?
  • Top 10 Ứng Dụng Điểm Danh Giúp Quản Lý Trường Học
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Là Một Trong Những Chức Năng Lãnh Đạo, Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Đảng
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Nhà Nước Trong Thực Hiện Chức Năng Kiểm Tra, Giám Sát Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Khái niệm, mục đích và tác dụng của công tác kiểm tra

    Khái niệm

    Kiểm tra là tiến trình đảm bảo hành vi và thành tích tuân theo các tiêu chuẩn của tổ chức bao gồm quy tắc, thủ tục và mục tiêu, đảm bảo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện theo đúng kế hoạch. Đó là tiến trình giám sát việc thực hiện và thu thập những thông tin phản hồi để kịp thời sửa chữa, điều chỉnh đảm bảo kế hoạch được hoàn thành như dự định.

    Đó là những tỉ lệ, tiêu chuẩn, những con số thống kê mà nhà quản trị đưa ra để đo lường và điều chỉnh những kết quả hoạt động của cấp dưới nhằm hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Bằng cách đó nhà quản trị đảm bảo rằng những gì cấp dưới đã làm là đúng hoặc chưa đúng với kế hoạch đã đề ra.

    Mục đích

    • Làm sáng tỏ và chính xác hơn các mục tiêu kế hoạch.
    • Phát hiện kịp thời những vấn đề sai và những đơn vị chịu trách nhiệm để sửa sai.
    • Làm đơn giản hoá các vấn đề uỷ quyền chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.
    • Phát thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì không cần thiết.
    • Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục, điều chỉnh kịp thời các hoạt động nhằm cải tiến sự hoàn tất công tác tiết kiệm thì giờ công sức của mọi người để gia tăng năng suất và lợi nhuận cao.

    Tác dụng

    • Giảm bớt gánh nặng của cấp chỉ huy nhờ có sự theo dõi thường xuyên công việc.
    • Để biết được những công việc mà nhân viên đã làm, chưa làm hoặc làm chưa đạt. Từ đó nhà quản trị có hướng điều chỉnh.

    Nội dung kiểm tra

    Nhiệm vụ chung của kiểm tra trong doanh nghiệp là thông qua kiểm tra phải phát hiện ra những sai lệch của thực tế so với mục tiêu, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp và kịp thời để cải tiến, hoàn thiện quá trình xây dựng kế hoạch cũng như tổ chức thực hiện kế hoạch. Về mặt cụ thể, công tác kiểm tra phải đạt được những mục đích cơ bản sau:

    • Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
    • Bảo đảm các nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hữu hiệu.
    • Làm sáng tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo thứ tự quan trọng
    • Xác định và dự đoán những chiều hướng chính và những thay đổi cần thiết trong các vấn đề như: Thị trường, sản phẩm, tài nguyên, tiện nghi, cơ sở vật chất…
    • Phát hiện kịp thời những vấn đề và những đơn vị bộ phận chịu trách nhiệm để sửa sai.
    • Làm đơn giản hoá các vấn đề uỷ quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm
    • Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì ít quan trọng hay không cần thiết.
    • Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách lien tục để cải tiến sự hoàn tất công tác tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người để gia tăng năng suất và lại lợi nhuân cao.
    • Các điểm kiểm tra thiết yếu là những điểm thường xảy ra thiếu sót, hạn chế và khi xảy ra thì thường có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp

    Để thấy rõ điều này, chúng ta có thể tham khảo một số điểm kiểm tra thiết yếu trong những lĩnh vực quan trọng của doanh nghiệp như sau:

    Sản xuất

    Marketing

    Quản trị nhân sự

    Tài chính kế toán

    – Chủng loại SP- Số lượng SP- Chất lượng SP- Chi phí SX- Mức độ hoàn thành kế hoạch SX

    – Năng suất lao động- Mối quan hệ giữa những người lao động- Những cá nhân tập thể điển hình- Phát triển lực lượng quản trị viên

    – Tài sản của doanh nghiệp- Kết quả sản xuất kinh doanh- Dự trữ- Lưu chuyển tiền tệ

    Trên thực tế, việc xác định được những điểm thiết yếu trong kiểm tra không phải khi nào cũng dễ dàng và thuận lợi. Để tìm được những nội dung kiểm tra hữu hiệu, chúng ta cần phải trả lời được những câu hỏi cơ bản như sau:

    • Những điểm nào phản ảnh rõ nhất mục tiêu của tổ chức?
    • Những điểm nào phản ảnh rõ nhất tình trạng không đạt được mục tiêu?
    • Những điểm nào đo lường tốt nhất sự sai lệch?
    • Những điểm nào thực hiện một cách thuận tiện nhất và ít tốn kém nhất

    Các nguyên tắc kiểm tra

    • Bộ máy kiểm tra cần phải được thiết kế phù hợp với kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp, các chức vụ, cấp bậc của đối tượng kiểm tra, các kỹ thuật và hệ thống kiểm tra phải phản ánh được các kế hoạch mà chúng được thiết kế ra để theo dõi.
    • Công tác kiểm tra cần phải được thiết kế theo cấp bậc và cá tính của nhà quản trị.
    • Việc kiểm tra cần phải vạch rõ những chỗ khác biệt tại các điểm thiết yếu tức là nhà quản trị phải quan tâm đặc biệt đến các yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất đối với hoạt động của doanh nghiệp.
    • Việc kiểm tra cần phải khách quan tránh những định kiến đánh giá sai lầm kết quả thực hiện của cấp dưới và điều đó sẽ dẫn đến hậu quả phản tác dụng của nó.
    • Kiểm tra cần phải linh hoạt.
    • Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí của tổ chức.
    • Kiểm tra cần phải tiết kiệm.
    • Phải dẫn đến tác động điều chỉnh.

    Những yêu cầu đối với hệ thống kiểm tra

    Trong quá trình xây dựng các hệ thống kiểm tra và tiến hành công tác kiểm tra cần tuân theo các yêu cầu sau đây:

      Kiểm tra phải có trọng điểm

    Khi đã xác định rõ mục đích kiểm tra, cần phải xác định nên kiểm tra ở đâu để tập trung sự chú ý vào các khu vực và các điểm kiểm tra đó. Thông thường đó là các khu vực hoạt động thiết yếu hay xảy ra sai sót, tập trung nhiều nguồn lực. Trên thực tế các nhà quản lý phải lựa chọn và xác định phạm vi cần kiểm tra. Nếu không xác định được chính xác khu vực trọng điểm, như kiểm tra trên một khu vực quá rộng, sẽ làm tốn kém thời gian, lãng phí tiền bạc, nguyên vật liệu và việc kiểm tra sẽ kém hiệu quả.

      Kiểm tra tại nơi xảy ra hoạt động và có kế hoạch rõ ràng

    Yêu cầu này đòi hỏi việc kiểm tra không chỉ dựa vào các số liệu và báo cáo thống kê mà phải được tiến hành ngay tại nơi diễn ra các hoạt động và phải được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể, rõ ràng.

      Kiểm tra cần chú trọng tới số lượng nhỏ các nguyên nhân

    Yêu cầu này nêu rõ: Trong một cơ hội ngẫu nhiên nhất định, một số lượng nhỏ các nguyên nhân cũng có thể gây ra đa số các kết quả. Đây là một yêu cầu rất quan trọng tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản trị khi họ cố gắng xác định các khu vực hoạt động thiết yếu, các điểm kiểm tra thiết yếu. Yêu cầu này cũng đòi hỏi trong quá trình kiểm tra phải xem xét kỹ càng mọi nguyên nhân gây nên những sai lệch của hoạt động so với kế hoạch để có thể đề ra các biện pháp điều chỉnh có hiệu quả

      Bản thân người thực hiện hoạt động phải tự kiểm tra

    Yêu cầu này đòi hỏi mỗi người, mỗi bộ phận phải tự kiểm tra mình là tốt nhất. Khả năng tự kiểm tra để tự hoàn thiện thể hiện trình độ phát triển cao của một hệ thống.

      Kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt động của tổ chức và căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra

    Cơ sở để tiến hành kiểm tra thường là dựa vào kế hoạch. Do vậy, nó phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt động tổ chức. Mặt khác, kiểm tra còn cần được thiết kế căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra

      Kiểm tra phải được thiết kế theo đặc điểm cá nhân các nhà quản trị

    Kiểm tra nhằm giúp nhà quản lý nắm được những gì đang xảy ra, cho nên những thông tin thu thập được trong quá trình kiểm tra phải được nhà quản lý thông hiểu. Những thông tin hay cách diễn đạt thông tin kiểm tra mà nhà quản lý không hiểu được, thì họ sẽ không thể sử dụng, và do đó sự kiểm tra sẽ không còn tác dụng.

      Kiểm tra phải công khai, khách quan, chính xác

    Quá trình quản trị dĩ nhiên là bao gồm nhiều yếu tố chủ quan của nhà quản trị, nhưng việc xem xét các bộ phận cấp dưới có làm tốt công việc hay không, không thể là sự phán đoán chủ quan. Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng ta có được những nhận xét và đánh giá đúng mức về đối tượng được kiểm tra, kết quả kiểm tra sẽ bị sai lệch và sẽ làm cho tổ chức gặp phải những tổn thất lớn

      Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với nền văn hoá của tổ chức

    Để việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một quy trình và các nguyên tắc kiểm tra phù hợp với nét văn hoá của doanh nghiệp. Nếu nhà quản trị trong tổ chức có phong cách lãnh đạo dân chủ, nhân vien làm việc tự giác, luôn sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm thì việc kiểm tra hoạt động của cấp dưới và nhân viên không nên thực hiện quá thường xuyên. Ngược lại, nếu nhân viên cấp dưới quen làm việc với các nhà quản trị có phong cách độc đoán, thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ, chi tiết và nhân viên có tính ỷ lại, không có khả năng linh hoạt thì không thể áp dụng cách kiểm tra, trong đó nhấn mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của mỗi người.

      Kiểm tra phải hiệu quả, tiết kiệm

    Các kỹ thuật và cách tiếp cận kiểm tra được coi là có hiệu quả khi chúng có khả năng làm sáng tỏ nguyên nhân và điều chỉnh những sai lệch tiềm tàng và thực tế so với kế hoạch với mức chi phí nhỏ nhất. Yêu cầu này đòi hỏi lợi ích của kiểm tra phải tương xứng với chi phí cho nó. Mặc dù yêu cầu này là đơn giản nhưng khó trong thực hành. Thông thường các nhà quản trị phải bỏ ra nhiều chi phí tốn kém cho công tác kiểm tra nhưng kết quả thu được do kiểm tra lại không tương xứng.

      Kiểm tra phải đưa đến hành động

    Dựa vào kết quả kiểm tra nhà quản lý phải hành động. Có thể đó là sắp xếp lại tổ chức, điều chỉnh lại kế hoạch, cắt giảm chi tiêu, đào tạo lại nhân viên, thay đổi phong cách lãnh đạo.

    Nếu nhận ra sai lệch so với kế hoạch đặt ra mà không điều chỉnh, thì việc kiểm tra mất tác dụng, ý nghĩa.

      Kiểm tra phải đồng bộ, linh hoạt đa dạng

    Muốn cho việc kiểm tra đem lại hiệu quả thiết thực thì cần tiến hành đồng bộ ở nhiều khâu, kết hợp nhiều phương pháp với nhau. Các phương pháp kiểm tra, hình thức kiểm tra cũng phải được áp dụng linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp với từng đối tượng, quy mô, mục đích của kiểm tra.

    Quá trình kiểm tra

    Thiết lập các tiêu chuẩn

    Kiểm tra là so sánh kết quả thực tế và tiêu chuẩn đã được xác định. Tiêu chuẩn là những chỉ tiêu của nhiệm vụ cần được thực hiện và thông qua nó nhà quản trị có thể thu được những dấu hiệu cần thiết để theo dõi tiến trình công việc.

    Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn cho kiểm tra là việc không đơn giản chút nào vì còn phải cân nhắc rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên, hệ thống kiểm tra trở nên hữu hiệu hơn nếu nó được kết nối với mục tiêu mong muốn, hệ thống kiểm tra phải khách quan, đầy đủ, đúng lúc và được chấp nhận. Cụ thể:

    • Kết nối với mục tiêu mong muốn: Tức là mục tiêu chiến lược của tổ chức.
    • Khách quan: Chính là sự công bằng và không bị tác động bởi nhân viên do những yếu tố các nhân.
    • Đầy đủ: Bao gồm tất cả các hành vi và mục tiêu ước muốn của tổ chức.
    • Đúng lúc: Kiểm tra cung cấp thông tin khi cần thiết nhất.
    • Chấp nhận được: Hệ thống kiểm tra phải được công nhận là cần thiết và thích hợp.

    Tiêu chuẩn là cơ sở để đo lường kết quả có thể được đặt ra dưới các dạng khác nhau:

    • Bằng đơn vị số lượng vật chất: giờ công, ngày công, số lượng sản phẩm, phế phẩm
    • Đơn vị tiền tệ như chi phí, doanh thu, lợi nhuận
    • Định tính: nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, sự vui lòng của khách hàng, cải tiến uy tín của doanh nghiệp…

    Đo lường thành quả hoàn thành thực tế và so sánh với tiêu chuẩn đã đề ra

    Có thể và nên hình dung ra thành quả trước khi nó được thực hiện để so chiếu với tiêu chuẩn và từ đó có biện pháp sửa chữa kịp thời.

    Việc đo lường chỉ dễ dàng nếu các tiêu chuẩn được xác định đúng đắn và thành quả của các nhân viên được xác định chính xác.

    Việc đo lường thành quả sẽ khó khăn đối với một số công việc. Ví dụ như đánh giá chất lượng phục vụ của phòng hành chính của phòng hành chính của doanh nghiệp, đánh giá uy tín của sản phẩm. Trong trường hợp này đòi hỏi nhà quản trị phải sử dụng hàng loạt các tiêu chuẩn gián tiếp như sự nhiệt tình và lòng trung thành của cấp dưới, sự khâm phục của các bạn đồng nghiệp, thái độ của báo chí, dư luận công chúng…

    Tiến hành sửa chữa sai lầm kịp thời nếu kết quả thực tế thấp hơn tiêu chuẩn

    • Có thể sửa lại kế hoạch, phân công lại, thêm nhân viên,…
    • Phân công lại các bộ phận do sai lầm trong công tác tổ chức hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện.
    • Tuyển dụng thêm, đào tạo nâng cao năng lực cho nhân viên hoặc sa thải..
    • Giải thích đầy đủ và rõ ràng hơn các công việc cho cấp dưới.

    Tiến trình này có thể được diễn tả trong sơ đồ sau:

    Tiến trình kiểm tra mang tính chất dự phòng

    Một hệ thống kiểm tra tốt và hữu hiệu đối với nhà quản trị phải bao gồm việc kiểm tra mang tính chất dự phòng, tức là một sự kiểm tra nhằm tiên liệu trước việc sai sót sẽ xảy ra trừ khi phải có biện pháp để diều chỉnh ngay trong hiện tại.

    Lí do của sự nhấn mạnh đến việc kiểm tra mang tính dự phòng là do tiến trình lâu dài của hoạt động kiểm tra cho dù mọi bước trong tiến trình đó đều được thực hiện một cách nhanh chóng.

    Tiến trình kiểm tra mang tính dự phòng có thể được diễn tả trong sơ đồ sau:

    Kiểm tra tài chính

    Ngân sách

    Ngân sách là tiến trình phân loại các khoản chi đề nghị và kết nối chúng với mục tiêu. Ngân sách thường biểu diễn chi phí bằng tiền của các công việc hoặc nguồn lực khác nhau.

    Những loại ngân sách thường gặp nhất trong kinh doanh:

    • Ngân sách bán hàng: là sự dự báo về doanh thu kì vọng, thường được phát biểu theo kì vọng sản phẩm trên cơ sở hàng tháng và sau đó điều chỉnh theo hàng năm. Loại ngân sách này là một biện pháp kiểm soát vì nó là một tiêu chuẩn cho sự đánh giá những hoạt động buôn bán và tiếp thị.
    • Ngân sách nguyên vật liệu: lượng nguyên vật liệu kỳ vọng mua, thường được công bố theo từng loại cụ thể, có thể khác biệt giữa các tháng vì ảnh hưởng của tính thời vụ và mức tồn kho.
    • Ngân sách lao động: Thường được biểu diễn bởi số lượng nhân viên và giá trị bằng tiền của mỗi công việc.
    • Ngân sách vốn: là các khoản đầu tư cho tài sản hữu hình như nhà cửa, thiết bị…thường thời gian yêu cầu hơn một năm.
    • Ngân sách nghiên cứu và phát triển: các khoản chi cho phát triển hoặc cải tiến sản phẩm, nguyên vật liệu và tiến trình.
    • Ngân sách tiền mặt: Dự trù số lượng tiền mặt mà tổ chức phải có trong tay dùng để chi tiêu, thường được xây dựng cho ít nhất một năm và cho mỗi tháng của năm.

    Phân tích tài chính

    Đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cho hai hay nhiều giai đoạn được gọi là phân tích tài chính.

    Một số kĩ thuật được sử dụng:

    • Bảng cân đối (quyết toán): Cho biết tình trạng tài chính của một tổ chức trong một thời điểm nào đó. Nó là phương tiện giúp cho nhà quản lí kiểm soát khả năng tài chính của đơn vị mình nhằm đáp ứng những nghĩa vụ bình thường.
    • Bảng kết toán thu nhập: Bảng này phân tích hoạt động tài chính của tổ chức trong một thời kì, ba tháng, sáu tháng hay một năm. Bảng này kiểm soát lợi nhuận của tổ chức, ta có thể dùng nó để so sánh số liệu của hai thời kì.
    • Tỉ số bình thường (hiện có): là tỉ số giữa tài sản với những món nợ. Tỉ số bình thường 1:1. Tỉ số 2:1 chứng tỏ công ty đang mạnh về tài chính, dưới 1:1 nghĩa là tổ chức có khó khăn trong thanh toán những món nợ ngắn hạn.

    Phân tích trường hợp hoà vốn

    Đó là trường hợp không có lời hay lỗ. Đây là một công thức đơn giản, nhưng có giá trị cho người quản lí, nó chỉ ra sự tương quan giữa thu nhập, chi phí và lợi nhuận. điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu từ việc bán sản phẩm với một giá nào đó đủ để bù đắp các khoản chi phí của doanh nghiệp. Nếu sản lượng nằm dưới mức đó thì sẽ bị lỗ, nếu vượt lên trên mức đó thì doanh nghiệp bắt đầu có lãi.

    Muốn tính ra điểm hoà vốn phải biết giá đơn vị sản phẩm đem bán, chi phí biến đổi của mỗi đơn vị và tổng chi phí bất biến.

    Công thức tính :

    Kế toán nguồn nhân lực

    Nhân lực là nguồn lực quan trọng của tổ chức. Việc kế toán nguồn nhân lực được coi là những khoản tiền đầu tư chứ không phải chi phí. Đó là việc kiểm soát nội bộ, đòi hỏi nhà quản trị phải chú ý tới việc nhân viên là nguồn tài nguyên giá trị nếu không kiểm soát cẩn thận thì có thể làm suy giảm.

    Lợi ích chính trong việc kế toán nhân lực là làm cho nhà quản trị ý thức được rằng có được và giữ được những nhân viên là một lợi ích dài hạn cho tổ chức.

    Kiểm toán

    Kiểm toán là sự kiểm định chính thức những tài khoản, hồ sơ, hoạt động hay thực hiện của một đơn vị chủ yếu là để kiểm tra những cơ chế kiểm soát của một tổ chức.

    Có hai loại kiểm toán:

    • Kiểm toán từ bên ngoài do một bộ phận kế toán độc lập ngoài tổ chức thực hiện. Lối kiểm toán này là để bảo vệ những cổ đông. Đối với quản lí thì nó chỉ có một tác dụng gián tiếp là làm cho những nhân viên kế toán của công tác phải nghiêm túc trong công việc kế toán của mình.
    • Kiểm toán từ bên trong thực hiện bởi những nhân viên kế toán của tổ chức.

    Kiểm tra tác nghiệp

    Xác định quá trình sản xuất

    Quá trình chuyển các yếu tố đầu vào thành các lượng đầu ra mong muốn gọi là quá trình sản xuất (cho ví dụ).

    Quá trình sản xuất đơn giản nhất của một tổ chức đều có hệ thống hoạt động tạo ra giá trị từ việc chuyển đầu vào thành đầu ra.

    Hệ thống đầu vào – con người, vốn, thiết bị, nguyên vật liệu…và chuyển chúng thành hàng hoá hay dịch vụ mong muốn (hình 7-1).

    Kiểm tra bảo trì trong sản xuất

    Để giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ một cách có hiệu quả và có năng suất đòi hỏi phải có hệ thống hoạt động sử dụng trang thiết bị cao và tổng thời gian chết thấp nhất. Điều này gợi cho nhà quản lí chú ý đến việc kiểm soát bảo trì sản xuất. Tuy nhiên, tầm quan trọng của việc kiểm tra bảo trì sản xuất lại phụ thuộc vào quy trình công nghệ được sử dụng.

    Có ba cách tiếp cận về kiểm tra duy trì sản xuất:

    • Bảo trì phòng ngừa sản xuất được tiến hành trước khi xảy ra hư hỏng.
    • Bảo trì sửa chữa sản xuất là đại tu toàn bộ, thay thế hoặc sửa chữa trang thiết bị khi bị hư hỏng.
    • Bảo trì có trang bị nhằm đại tu hoặc sửa chữa khi kiểm tra máy móc và đánh giá tình trạng thiết bị.

    Kiểm tra chất lượng sản phẩm

    Khi nói kiểm tra chất lượng là nói đến theo dõi chất lượng, trọng lượng, bền chắc, tính nhất quán, màu sắc, khẩu vị, độ tin cậy, sự hoàn thiện…nhằm bảo đảm chúng sẽ đáp ứng đúng tiêu chuẩn đã định trước.

    Kiểm tra chất lượng là đòi hỏi đầu ra của tổ chức phải đáp ứng tiêu chuẩn chấp nhận được.

    Có hai phương thức thống kê kiểm tra chất lượng:

    • Lấy mẫu nghiệm thu: là sự đánh giá về vật tư mua sắm hay chế biến hoặc sản phẩm đang có. Ta lấy ra một mẫu, sau đó việc chấp nhận hay từ chối cả lô hàng dựa trên cơ sở tính toán rủi ro sai sót của mẫu.
    • Kiểm soát quá trình: là lấy mẫu hàng ra trong quá trình chế biến xem quá trình có chịu dưới sự kiểm soát.

    Kiểm tra hành vi

    Đánh giá thực hiện

    Mỗi công việc của nhân viên đều có những tiêu chuẩn định sẵn để vạch rõ những gì họ phải làm. Những tiêu chuẩn này phải rõ ràng và khách quan, phải cụ thể và có thể đo lường được.

    Có thể dùng những tiêu chuẩn tuyệt đối, theo đó nhân viên được đánh giá theo một tiêu chuẩn cố định chứ không phải so sánh người này với người khác.

    Phương pháp thứ hai là dùng những tiêu chuẩn tương đối, tức là so sánh người này với người khác. Phương pháp này tránh được thiên kiến thổi phồng tất cả nhân viên trong đơn vị của mình. Nhưng không có sự cách biệt đáng kể giữa họ.

    Phương pháp đánh giá thứ ba là quản lí bằng mục tiêu của họ và đánh giá họ qua trao đổi. Những cuộc trao đổi sẽ làm việc tích cực hơn khi họ cảm thấy sự đánh giá là công bằng, quản lí thành thật, và có không khí xây dựng.

    Những hình thức kiểm tra quản lí trực tiếp

    Nếu nhân viên thực hiện có kết quả, họ phải được thưởng để củng cố và duy trì hành vi. Ngược lại, nếu việc thực hiện của một nhân viên không có kết quả thì người quản lí xem xét nguyên nhân. Nếu do yếu kém thì nhà quản trị phải tổ chức lớp huấn luyện cho nhân viên này. Nếu do động cơ thì bắt buộc nhà quản trị phải thi hành kỉ luật. Tiến trình kỉ luật gồm các bước sau:

    • Cảnh cáo miệng là hình thức nhẹ nhất áp dụng cho những lỗi như đi trễ nhiều lần.
    • Cảnh cáo viết: Đây là bước chính thức đầu tiên, bước này chỉ khác bước trước ở chỗ nó kết thúc bằng một văn bản viết sẽ được xếp vào hồ sơ cá nhân đương sự.
    • Ngưng việc: Bước này chỉ áp dụng khi hai bước đầu không có kết quả hay vi phạm nặng hơn hai mức của hai bước trên.
    • Sa thải: bước này chỉ áp dụng cho những vi phạm quá nặng. Quyết định sa thải phải được xem xét rất kĩ, nhất là đối với những người làm việc lâu năm trong doanh nghiệp hay đã quá 50 tuổi không dễ dàng tìm việc mới. Hơn nữa còn có trường hợp họ kiện lại tổ chức vì có nhiều trường hợp họ không thể bị sa thải.

    Những hình thức thay thế cho kiểm tra trực tiếp

    Chọn lọc

    Những người quản lí không chọn lọc nhân viên một cách bừa bãi. Những người xin việc phải thông qua hệ thống chọn lọc. Chọn lọc giúp nhà quản trị kiểm tra được hành vi của nhân viên.

    Văn hoá của tổ chức

    Nếp văn hoá này, khi được nhân viên chấp nhận có tác dụng kiềm chế và kiểm tra hành vi của họ. Những giá trị và tiêu chuẩn của nếp văn hoá được chấp nhận thì càng được tuân theo.

    Tiêu chuẩn hoá

    Quản lí cung cấp cho hầu hết nhân viên một sự mô tả công việc của họ để làm rõ những nội dung trong công việc của họ, họ phải chịu trách nhiệm với ai, những gì thuộc quyền hạn của họ và không thuộc quyền hạn của họ.

    Huấn luyện

    Huấn luyện cho nhân viên là nhằm tạo cho họ những hành vi và thái độ làm việc tốt hơn. Nhờ huấn luyện mà kiểm tra hành vi của nhân viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Những Vấn Đề Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Cách Căn Trang Excel Để Khi In Vừa Khít Trang Giấy A4
  • Queue Interface Trong Java ” Cafedev.vn
  • Abstract Class Và Interface Trong Java
  • Tổng Hợp Những Nguồn Lưu Trữ Tweak Tốt Nhất Cho Ios Jailbreak
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Đặc Điểm, Chức Năng Của Câu Cầu Khiến
  • § 3. Kiểm Tra Chức Năng Hệ Hô Hấp
  • Kiểm Tra Chức Năng Hô Hấp Của Mũi
  • Tìm Hiểu Về Đo Chức Năng Hô Hấp Và Test Phục Hồi Phế Quản
  • 1.1 Định nghĩa

    Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã xác định.

    Có nhiều quan niệm khác nhau về kiểm tra trong quản lý:

    + Harold Koontz: Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và kế hoạch thực hiện mục tiêu đó đã đang được hoàn thành.

    + Robert J. Mockler: Kiểm tra là quản trị là một nỗ lực có hệ thống nhằm thiết lập những tiêu chuẩn, những hệ thống phản hồi thông tin, nhằm so sánh những kết quả thực hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng những nguồn lực đã và đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt được mục tiêu của tổ chức.

    + Kenneth A. Merchant: Kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động mà nhà quản rị thực hiện nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch.

    Từ những quan niệm về kiểm tra như đã trình bày, có thể kế thừa và tổng hợp để đưa ra định nghĩa về kiểm tra như sau:

    Kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cõ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.

    Từ định nghĩa trên nội hàm khái niệm kiểm tra bao gồm:

    + Xác lập các tiêu chuẩn

    + Đo lường kết quả để phát hiện ưu điểm và nhược điểm

    + Các giải pháp phù hợp (phát huy ưu điểm, điều chỉnh sai lệch và sửa chữa sai lầm)

    + Mục đích của kiểm tra là để tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu.

    1.2. Đặc điểm và vai trò của kiểm tra * Đặc điểm của kiểm tra trong quản lý

    – Kiểm tra là một quá trình.

    – Kiểm tra là một chức năng của quy trình quản lý.

    – Kiểm tra thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của nhà quản lý đối với hiệu lực và hiệu quả của tổ chức.

    – Kiểm tra là một quy trình mang tính phản hồi.

    * Vai trò của kiểm tra trong quản lý

    Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quản lý, điều đó được thể hiện ra ở những khía cạnh sau:

    – Thông qua kiểm tra mà nhà quản lý nắm được nhịp độ, tiến độ và mức độ thực hiện công việc của các thành viên trong một bộ phận của tổ chức và của các bộ phận trong tổng thể cơ cấu tổ chức. Thông qua kiểm tra người quản lý nắm và kiểm soát được chất lượng các công việc được hoàn thành, từ đó phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong toàn bộ hoạt động của tổ chức và quy trình quản lý để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp hướng tới việc thực hiện mục tiêu.

    – Kiểm tra cung cấp các căn cứ cụ thể để hoàn thiện các quyết định quản lý. Nhờ có kiểm tra mà nhà quản lý biết được quyết định, mệnh lệnh được ban hành có phù hợp hay không, từ đó có sự điều chỉnh.

    – Kiểm tra giúp đảm bảo thực thi quyền lực của chủ thể quản lý. Người quản lý biết thái độ, trách nhiệm của nhân viên trong việc thực hiện mục tiêu, nhằm duy trì trật tự của tổ chức.

    – Thông qua kiểm tra, người quản lý nâng cao trách nhiệm của mình đối với công việc được phân công và đảm bảo thực thi hiệu lực của quyết định đã được ban hành.

    – Kiểm tra giúp cho tổ chức theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường.

    – Kiểm tra tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới tổ chức.

    1.3 Phân loại kiểm tra ­– Căn cứ vào thời gian:

    + Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch

    Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch là loại hình kiểm tra nhằm phòng ngừa những sai lầm có thể xảy ra về một nội dung hoặc tổng thể chương trình hành động của tổ chức (mục tiêu, phương án, các nguồn lực…).

    + Kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch

    Kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch là loại hình kiểm tra được tiến hành đồng thời với quá trình đang diễn ra các hoạt động của kế hoạch trong thực tế. Mục đích của loại kiểm tra này là xử lý kịp thời những sai lệch để đảm bảo chắc chắn mọi cái đều diễn ra theo đúng mục tiêu. Việc kiểm tra đồng thời được thực hiện chủ yếu bằng những hoạt động giám sát của các nhà quản lý. Thông qua các hình thức thu thập thông tin tại chỗ, họ sẽ xác định xem việc làm của những người khác có diễn ra đúng theo yêu cầu hay không. Việc trao quyền hạn cho các nhà quản lý chính là một nhân tố đảm bảo cho việc kiểm tra đồng thời được hiệu quả.

    + Kiểm tra sau khi hoàn thành kế hoạch

    Kiểm tra sau khi hoàn thành kế hoạch là hình thức kiểm tra tập trung vào các kết quả cuối cùng. Biện pháp chấn chỉnh nhằm cải thiện quá trình tích luỹ nguồn tài nguyên hay các hoạt động thực tế. Kiểu kiểm tra này phụ thuộc nhiều vào những thông tin báo cáo. Vì thế, đôi khi nó không có những xét đoán về nguyên nhân sai lệch chính xác. Thông thường, việc kiểm tra cuối cùng áp dụng cho các đối tượng kiểm tra như tài chính, chất lượng, kết quả thực hiện các mục tiêu phức tạp.v.v.

    – Căn cứ vào nội dung hoặc đối tượng kiểm tra

    Tuỳ thuộc vào các loại hình tổ chức mà có những dạng kiểm tra cụ thể:

    + Kiểm tra sản xuất

    + Kiểm tra tài chính

    + Kiểm tra nhân sự

    + Kiểm tra nguyên liệu

    + v.v.

    – Căn cứ vào tần suất của kiểm tra

    + Kiểm tra đột xuất

    Kiểm tra đột xuất là hình thức kiểm tra không báo trước về thời gian, nội dung và phương thức. Mục đích của hình thức kiểm tra này nhằm đảm bảo tính khách quan của kết quả thu được.

    + Kiểm tra định kì

    Kiểm tra định kì là hình thức kiểm tra thường xuyên nhằm đảm bảo tính ổn định trong hoạt động của đối tượng.

    – Căn cứ vào phạm vi của kiểm tra

    + Kiểm tra tổng thể

    + Kiểm tra bộ phận

    + Kiểm tra trọng điểm

    – Căn cứ vào các chức năng của quản lý:

    + Kiểm tra công tác kế hoạch

    Kiểm tra công tác kế hoạch bao gồm các hoạt động kiểm tra việc tuân thủ các quy trình, nguyên tắc lập kế hoạch.

    + Kiểm tra công tác tổ chức

    + Kiểm tra công tác lãnh đạo

    + Kiểm tra công tác kiểm tra

    2. Quy trình, phương pháp và yêu cầu kiểm tra

    2.1 Quy trình kiểm tra

    Quy trình kiểm tra cơ bản gồm các nội dung sau:

    Thiết lập tiêu chuẩn là công việc đầu tiên của quá trình kiểm tra. Nó đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đối với chất lượng của hoạt động kiểm tra. Tuy nhiên, việc xác lập tiêu chuẩn là một công việc không đơn giản. Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản lý phải có sự quan tâm và đầu tư thích đáng.

    Tiêu chuẩn là yêu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ theo một quy trình khoa học để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao. Tiêu chuẩn được phân ra thành nhiều loại hình khác nhau:

    Tiêu chuẩn cũng có thể được chia thành:

    – Tiêu chuẩn trong quy trình thực hiện công việc – Tiêu chuẩn về các dịch vụ và sản phẩm

    Một số yêu cầu khi xây dựng các tiêu chuẩn:

    – Về nội dung của tiêu chuẩn:

    + Tiêu chuẩn phải phù hợp với mục tiêu và năng lực của tổ chức

    + Cụ thể, rõ ràng, gắn liền với công việc và đối tượng

    + Chính xác, dễ sử dụng

    – Về cách thức xây dựng tiêu chuẩn:

    + Lựa chọn những người có năng lực

    + Đầu tư về thời gian và tài chính

    * Đo lường

    Việc đo lường phải xuất phát từ những tiêu chuẩn đã được xác lập. Đo lường bao gồm việc thực hiện công việc và kết quả của công việc. Đây là hoạt động đối chiếu, so sánh giữa hoạt động và kết quả hoạt động với tiêu chuẩn đề ra, từ đó có thể phát hiện những sai lầm và sai lệch. Việc đo lường không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng và chính xác, nhất là đối với những công việc và đối tượng phức tạp, tiêu chuẩn không rõ ràng hay mang tính định tính. Trong trường hợp như vậy, đôi khi nhà quản lý có thể dùng khả năng phân tích của mình để phán đoán và chỉ ra các sai lệch.

    – Một số phương pháp đo lường:

    + Đánh giá bằng điểm và đồ thị

    + Xếp hạng luân phiên

    + So sánh cặp đôi

    + Đo lường điểm mấu chốt

    + Sử dụng các công cụ ISO, hộp đen

    – Một số yêu cầu trong quá trình đo lường việc thực hiện kết quả:

    + Không được mang tiêu chuẩn của một công việc này sang để áp đặt, đánh giá một công việc khác.

    + Loại bỏ những thành kiến và định kiến cá nhân trong quá trình đo lường, đánh giá.

    + Tiến hành đo lường, đánh giá thường xuyên, đúng yêu cầu, đúng mục đích và quy trình

    + Kết quả đo lường phải phù hợp với công việc, chức năng, nhiệm vụ của người thực hiện công việc

    + Đo lường phải chỉ ra được sai lệch một cách chính xác và nguyên nhân của những sai lệch đó.

    * Các giải pháp điều chỉnh

    Khi phát hiện những ưu điểm của hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức, các nhà quản lý phải đưa ra các giải pháp nhằm phát huy, kế thừa và nhân rộng nó. Bên cạnh đó phải kịp thời khích lệ, động viên bằng các hình thức khen thưởng đối với các cá nhân, bộ phận thực hiện công việc đó.

    Khi phát hiện ra sai lầm và sai lệch, người quản lý cần phải tập trung phân tích vấn đề để tìm ra nguyên nhân sai lầm và sai lệch, từ đó có kế hoạch đưa ra những giải pháp điều chỉnh hữu hiệu.

    Nếu như công việc xác lập tiêu chuẩn, đo lường kết quả là những công việc khó khăn thì việc đưa ra các giải pháp điều chỉnh lại càng khó khăn hơn.

    2.2 Quy trình kiểm tra chi tiết

    Quy trình kiểm tra chi tiết gồm tám bước cơ bản và được mô tả theo sơ đồ sau:

    Quá trình kiểm tra chi tiết là sự cụ thể hoá của quy trình kiểm tra cơ bản và nó là một hệ thống mang tính phản hồi. Tính phản hồi của hệ thống kiểm tra chi tiết được biểu hiện ở chỗ: hệ thống này phân tích quá trình kiểm tra một cách toàn diện và chi tiết hơn so với tiến trình kiểm tra cơ bản (thiết lập tiêu chuẩn, đo lường và các giải pháp điều chỉnh). Các nhà quản lý tiến hành đo lường hoạt động và kết quả hoạt động đã thực hiện trong thực tế, so sánh kết quả đo lường này với các tiêu chuẩn đã được xác lập, rồi xác định và phân tích các nguyên nhân của các vấn đề. Sau đó, để thực hiện những giải pháp phù hợp cần thiết, các nhà quản lý phải đưa ra một chương trình cho các giải pháp và thực hiện chương trình đó để đạt tới kết quả mong muốn. Quy trình này lại tiếp tục một chu kỳ mới theo những nội dung trên nhưng ở một cấp độ và trình độ cao hơn.

    2.3. Phương pháp kiểm tra Phương pháp kiểm tra là toàn bộ cách thức đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở lựa chọn những công cụ, phương tiện và cách thức phù hợp nhằm đạt tới kết quả kiểm tra chính xác và khách quan.

    Phương pháp kiểm tra bao gồm các nhân tố:

    + Phân công chủ thể kiểm tra phù hợp với chức vị

    + Lựa chọn công cụ và phương tiện kiểm tra phù hợp

    + Lựa chọn cách đo lường phù hợp

    Sự phù hợp của công cụ, phương tiện và cách thức đo lường gắn liền với chủ thể, đối tượng, hoàn cảnh kiểm tra.

    Chủ thể kiểm tra có thể là một người, một nhóm người với các tầng nấc khác nhau. Tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung, tính chất của công việc, đối tượng và hoàn cảnh mà chủ thể kiểm tra lựa chọn những công cụ và cách thức kiểm tra phù hợp.

    Một số công cụ kiểm tra

    – Bảng tiêu chuẩn công việc

    – Nội quy, quy chế, pháp luật

    – Các công cụ kĩ thuật: Biểu đồ Gantt, PERT (Program Evaluation and Review Technique) v.v.

    Một số cách kiểm tra

    – Kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp

    – Kiểm tra khâu trọng điểm

    – Kiểm tra chéo giữa các bộ phận

    – Kiểm tra ngẫu nhiên và kiểm tra mặc nhiên

    – Kiểm tra toàn bộ với kiểm tra bộ phận

    2.4. Yêu cầu của kiểm tra

    Với mỗi loại hình và nội dung kiểm tra khác nhau sẽ có những yêu cầu và nguyên tắc kiểm tra khác nhau. Tuy nhiên, có thể đưa ra các yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra như sau:

    – Công việc kiểm tra cần phải được thiết kế theo các kế hoạch và chức vị.

    Mọi vấn đề kiểm tra và kỹ thuật kiểm tra phải phản ánh những đòi hỏi và nội dung của kế hoạch. Bởi lẽ, cơ sở và nguyên nhân phải kiểm tra là dựa vào kế hoạch.

    – Công việc kiểm tra cần phải được thiết kế phù hợp với đặc điểm cá tính của nhà quản lý.

    Kiểm tra là một công việc và chức năng của nhà quản lý nhằm làm cho các kế hoạch và mục tiêu của tổ chức chắc chắn trở thành hiện thực. Các phương thức kiểm tra chỉ là một công cụ để nhà quản lý thực hiện công việc của mình. Vì vậy, các nhà quản lý chỉ sử dụng hệ thống kiểm tra hiệu quả khi những hệ thống đó phù hợp với năng lực và sở thích của họ.

    – Việc kiểm tra phải được thực hiện tại những điểm trọng yếu trong toàn bộ hệ thống.

    – Kiểm tra phải khách quan.

    – Kiểm tra phải khách quan từ việc thiết kế tiêu chuẩn, đo lường đến việc diễn đạt kết quả kiểm tra.

    – Kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí và văn hoá tổ chức.

    – Kiểm tra phải tiết kiệm và hiệu quả

    – Kiểm tra phải tạo động lực để hoàn thiện và phát triển tổ chức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Bày Tỏ Ý Kiến Của Kiểm Toán Là Gì? Cách Thể Hiện
  • Chức Năng Điều Chỉnh Và Kiểm Soát (Stabilization Function) Của Tài Chính Công Là Gì?
  • Csgt Có Quyền Dừng Xe Kiểm Tra Hành Chính Khi Không Có Lỗi Không?
  • Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Phường Như Thế Nào Trong Lĩnh Vực Giao Thông ?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy
  • Kiểm Tra Chức Năng Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Khỏe Mạnh Vẫn Nên Kiểm Tra Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Có Tốn Kém Không
  • Chi Phí Xét Nghiệm Chức Năng Gan Là Bao Nhiêu
  • Hướng Dẫn Cách Xem Hạn Sử Dụng Thực Phẩm Chức Năng Mỹ
  • Thực Phẩm Chức Năng Hết Hạn Có Dùng Được Không?
  • Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan được thực hiện để xác định tình trạng sức khỏe gan thông qua nồng độ protein, men gan và nồng độ bilirubin trong máu. Kiểm tra chức năng gan là một thủ thuật phức tạp, do đó người bệnh cần tìm hiểu một số thông tin cơ bản để có sự chuẩn bị phù hợp.

    Kiểm tra chức năng gan là gì?

    Gan là cơ quan lớn trong cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động của cơ thể. Gan có thể hỗ trợ phá vỡ thức ăn, làm sạch máu, sản xuất protein và lưu trữ năng lượng cần thiết. Nếu gan hoạt động không bình thường, người bệnh có thể gặp một loạt các triệu chứng như vàng da, mệt mỏi hoặc thay đổi giọng nói.

    Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có thể xác định sức khỏe của gan thông qua nồng độ protein và các loại enzym trong máu. Enzyme gan hay men gan, là một loại protein đặc biệt có thể giúp tăng tốc độ phản ứng của cơ thể. Bên cạnh đó, một số xét nghiệm có thể được thực hiện để xác định các tổn thương gan hoặc các dấu hiệu bệnh lý cần điều trị.

    • Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan thường được thực hiện trong một số trường hợp như:
    • Kiểm tra các dấu hiệu nhiễm trùng gan, chẳng hạn như viêm gan B hoặc viêm gan C
    • Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc có thể gây ảnh hưởng đến gan

    Ở bệnh nhân mắc các bệnh về gan, kiểm tra chức năng gan có thể được thực hiện để kiểm tra hiệu quả của các phương pháp điều trị và diễn tiến của bệnh

    • Xác định và kiểm tra các điều kiện y tế như bệnh tiểu đường, huyết áp cao hoặc thiếu máu
    • Xác định chức năng gan ở bệnh nhân uống nhiều rượu
    • Kiểm tra chức năng gan ở bệnh nhân bị bệnh về túi mật

    Khi nào cần thực hiện kiểm tra chức năng gan?

    • Nước tiểu sẫm màu hoặc phân có màu sáng
    • Chán ăn hoặc cảm thấy ăn không ngon miệng
    • Buồn nôn hoặc nôn
    • Sưng ở bụng
    • Yếu hoặc cảm thấy mệt mỏi
    • Vàng da hoặc vàng tròng mắt

    Tuy nhiên, thông thường các bệnh về gan có thể không có dấu hiệu nhận biết đặc trưng. Do đó, bác sĩ có thể đề nghị thực hiện xét nghiệm ở các đối tượng có nguy cơ tổn thương gan như:

    • Người nghiện rượu năng hoặc thường xuyên sử dụng rượu trong một thời gian dài
    • Có tiền sử gia đình có bệnh lý về gan
    • Béo phì, đặc biệt là những đối tượng bị tiểu đường hoặc huyết áp cao
    • Sử dụng các loại thuốc có thể gây ảnh hưởng đến gan

    Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan phổ biến

    Khi gan bị tổn thương, nồng độ men gan và một số hóa chất trong cơ thể sẽ thay đổi. Do đó, việc thực hiện chức năng gan được phân thành các nhóm cụ thể như:

    1. Kiểm tra chức năng gan tổng hợp

    – Kiểm tra tổng số protein Albumin:

    Gan tạo ra hai loại protein chính là albumin và globulin. Albumin thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể, bao gồm:

    • Ngăn ngừa chất lỏng rò rỉ ra khỏi mạch máu
    • Nuôi dưỡng các tế bào mô
    • Vận chuyển hormone, vitamin và các hóa chất khác trong cơ thể

    Phạm vi bình thường của albumin là 3,5 – 5.0 gram mỗi decilit (g / dL). Tuy nhiên, nồng độ albumin thấp có thể là dấu hiệu của các vấn đề như dinh dưỡng kém, bệnh thận, nhiễm trùng hoặc viêm trong cơ thể.

    – Kiểm tra Globulin huyết thanh:

    Tương tự như albumin, Globulin được sản xuất ở gan và hệ thống miễn dịch.

    Thông thường, mức trung bình của globulin là 20 – 35 g / L. Tuy nhiên, nồng độ globulin quá cao có thể là dấu hiệu của bệnh xơ gan, viêm gan tự miễn hoặc xơ gan ứ mật nguyên phát.

    – Xét nghiệm thời gian Prothrombin (PT):

    Thời gian Prothrombin là thuật ngữ chỉ khoảng thời gian chuyển đổi prothrombin thành Thrombin, cụ thể là thời gian đông máu thành cục máu đông.

    Nếu một người mất nhiều thời gian để đông máu, có thể là dấu hiệu của các tổn thương gan, bởi vì gan là cơ quan tạo ra các yếu tố đông máu. Bên cạnh đó, một số loại thuốc chống đông máu hoặc thuốc làm loãng máu có thể kéo dài thời gian prothrombin.

    2. Xét nghiệm chức năng bài tiết và khử độc

    – Xét nghiệm bilirubin:

    Bilirubin được tạo thành từ quá trình phá vỡ hồng cầu. Thông thường, gan sẽ làm sạch bilirubin ra khỏi cơ thể. Do đó, nếu nồng độ bilirubin trong máu cao, điều này có thể là dấu hiệu tổn thương chức năng gan, bệnh xơ gan, xơ gan ứ mật, tắc nghẽn đường mật hoặc ung thư gan.

    Nồng độ bilirubin cao có thể dẫn đến một số dấu hiệu như vàng da hoặc vàng tròng mắt.

    Bên cạnh đó, nếu Urobilinogen tăng cao, có thể là dấu hiệu của các bệnh lý về đường tiêu hóa hoặc các bệnh về gan.

    – Xét nghiệm Amoniac (NH3) trong máu:

    Amoniac được sản xuất bởi vi khuẩn đại tràng và một số protein trong máu. Nồng độ bình thường của NH3 trong máu là 5 – 69 mg / dL

    Gan là cơ quan có trách nhiệm khử nồng độ NH3 trong máu, do đó nồng độ NH3 cao có thể là dấu hiệu người bệnh đang có vấn đề về gan. Trong một số trường hợp, nồng độ NH3 cao có thể làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch, dẫn đến teo cơ.

    – Xét nghiệm phosphatase kiềm (ALP):

    ALP là một loại enzyme tự nhiên được tìm thấy ở gan, ống mật và xương. Nồng độ ALP cao có thể là dấu hiệu của bệnh viêm gan, tắc nghẽn ống mật hoặc các bệnh lý về xương khớp.

    Bên cạnh đó, trẻ em và thanh thiếu niên thường có nồng độ ALP cao, do xương đang trong giai đoạn phát triển. Phụ nữ mang thai cũng có nồng độ ALP cao hơn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nếu nồng độ ALP cao hơn 120 U / L ở người trưởng thành, người bệnh nên đến bệnh viện để được chẩn đoán phù hợp.

    3. Xét nghiệm đánh giá mức độ hoại tử của gan

    Các xét nghiệm xác định mức độ hoại tử tế bào gan được sử dụng để xác định các tổn thương và mức độ tổn thương ở gan. Các xét nghiệm này thường bào gồm:

    – Xét nghiệm Alanine transaminase (ALT):

    Xét nghiệm Alanine transaminase (ALT) là hoạt chất cơ thể sử dụng để giải phóng một số loại protein. Nếu gan bị tổn thương hoặc hoạt động không đúng cách, ALT sẽ bị giải phóng vào máu, điều này khiến nồng độ ALT trong máu tăng cao. Do đó, nồng độ ALT tăng bất thường có thể là dấu hiệu tổn thương gan.

    Theo các chuyên gia, nồng độ ALT trên 25 IU / L (đơn vị quốc tế) ở nữ và 33 IU / L ở nam có thể là dấu hiệu bệnh lý và càn tiến hành kiểm tra chuyên sâu.

    – Xét nghiệm Aspartate aminotransferase (AST):

    Xét nghiệm Aspartate aminotransferase (AST) là một loại enzyme được tìm thấy ở nhiều bộ phận cơ thể, bao gồm tim, gan và cơ bắp.

    Không giống như ALT, bồng độ AST thường không phải là đặc hiệu của các tổn thương gan. Do đó, khi xét nghiệm AST, bác sĩ thường kiểm tra kết hợp với ALT để xác định các tổn thương ở gan.

    Khi gan bị tổn thương, AST có thể được giải phóng vào máu. Điều này cũng có thể dẫn đến một số rối loạn về cơ bắp.

    – Xét nghiệm Lactate Dehydrogenase (LDH):

    LDH hay LD là một loại enzyme có thể tăng cao khi gan bị tổn thương. Tuy nhiên, nồng độ LDH tăng cao đột ngột có thể là dấu hiệu của các bệnh lý về tim, gan, xương, cơ, thận, hồng cao, tiểu cầu hoặc các hạch bạch huyết.

    Chỉ số bình thường của LDH là 5 – 30 UI / L. Do đó, khi chỉ số này tăng cao có thể là dấu hiệu hoại tử tế bào hoặc các mô gan.

    – Xét nghiệm kiểm tra Ferritin:

    Ferritin là một loại protein được dự trữ và hấp thụ ở hệ thống tiêu hóa. Thông thường, nồng độ Ferritin ở nam giới khoảng 100 – 300 mg / L và ở nữ giới khoảng 50 – 200 mg/ L.

    Mặc dù không phổ biến nhưng nồng độ Ferritin tăng cao có thể là dấu hiệu hoạt tử tế bào gan cấp tính hoặc mạn tính và bệnh viêm gan C.

    Bên cạnh đó, một số tình trạng như thiếu máu thiếu sắt, người ăn chay trường, người thường xuyên hiến máu, bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo có thể gây ảnh hưởng đến nồng độ Ferritin. Bên cạnh đó, nồng độ Ferritin tăng cao có thể là dấu hiệu của bệnh ứ mô sắt, một số bệnh ung thư, ngộ độc rượu, nhiễm trùng hoặc viêm trong cơ thể.

    4. Kiểm tra định lượng chức năng gan

    Bên cạnh các xét nghiệm phổ biến, bác sĩ có thể đề nghị một số xét nghiệm kiểm tra chức năng gan cụ thể khác. Thông thường, các xét nghiệm này được đề nghị thực hiện trước khi phẫu thuật như cắt, ghép gan hoặc xác định các bệnh lý nghiêm trọng.

    Các xét nghiệm được sử dụng để định lượng chức năng gan thường bao gồm:

    • Kiểm tra khả năng thanh lọc BSP (Bromosulfonephtalein)
    • Xác định khả năng lọc Indocyanine Green
    • Đo khả năng lọc Antipyrine
    • Kiểm tra nồng độ Aminopyrine trong hơi thở
    • Kiểm tra khả năng lọc caffeine trong máu
    • Kiểm tra khả năng thải Galactose

    Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan khác

    Một số xét nghiệm bổ sung có thể được chỉ định để xác định các nguyên nhân cụ thể có thể gây ảnh hưởng đến gan bao gồm:

    1. 5 ‘Nucleotidase

    5 ‘ Nucleotidase (5’NTD) là một glycoprotein được tìm thấy trên khắp cơ thể, trong màng tế bào chất, chịu trách nhiệm xúc tác cho sự chuyển đổi nucleoside-5-phosphate thành phosphat vô cơ. Thông thường, mức độ bình thường của 5’NTD là 0,3-2,6 Bondasky / dL.

    Nồng độ 5’NTD tăng cao có thể là dấu hiệu của bệnh gan như vàng da tắc mật, bệnh mô gan thô, ung thư gan di căn gan và các bệnh xương khớp.

    2. Xét nghiệm Đồng và Ceruloplasmin

    Ceruloplasmin là một loại protein được tổng hợp ở gan, chịu trách nhiệm chuyển hóa đồng. Thông thường, nồng độ ceruloplasmin tăng cao có thể là dấu hiệu nhiễm trùng, viêm khớp dạng thấp, mang thai và vàng da tắc mật.

    Bên cạnh đó, khi nồng độ ceruloplasmin giảm có thể là dấu hiệu của bệnh rối loạn chuyển hóa đồng (bệnh Wilson). Tình trạng này có thể dẫn đến tích tụ đồng trong các mô của cơ thể.

    3. Xét nghiệm Alpha fetoprotein (AFP)

    AFP là một loại protein huyết tương có nồng độ cao ở máu ở thai nhi. Thông thường AFP được tạo ra bởi các tế bào gan chưa trưởng thành ở thai nhi. AFP không được tổng hợp ở người trưởng thành.

    Do đó, ở người trưởng thành chỉ có một lượng AFP rất nhỏ. Nồng độ AFP tăng đột biến có thể là dấu hiệu của các bệnh về gan, bao gồm ung thư gan.

    AFP có thể đạt tới 400 FPV 500 g / L ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan. Nồng độ AFP trên 400 g / L có thể là dấu hiệu của các khối u có kích thước lớn, xâm lấn tĩnh mạch cửa và có thể dẫn đến tử vong.

    4. Kiểm tra khả năng đông máu

    Gan chịu trách nhiệm sản xuất phần lớn các yếu tố đông máu. Do đó, ở những bệnh nhân có các bệnh về gan, thời gian sẽ chậm hơn bình thường.

    5. Glucose huyết thanh

    Xét nghiệm glucose huyết thanh là phương pháp đo lượng đường trong máu và được sử dụng để chẩn đoán bệnh tiểu đường.

    Xét nghiệm glucose huyết thanh cũng được thực hiện để đo khả năng sản xuất glucose của gan, thường là chức năng cuối cùng bị mất ở bệnh gan tối cấp.

    6. Lactate dehydrogenase (LDH)

    Lactate dehydrogenase (LDH) được tìm thấy trong nhiều mô cơ thể, bao gồm cả gan. Nồng độ LDH tăng cao có thể là dấu hiệu tổn thương gan, tim hoặc thận.

    Xét nghiệm chức năng gan được thực hiện như thế nào?

    Để thực hiện xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, bác sĩ sử dụng một cây kim mỏng để lấy một lượng máu nhỏ, thường là ở cánh tay, gần khuỷu tay để tiến hành các xét nghiệm cần thiết. Người bệnh có thể bị bầm tím hoặc đau nhức nhẹ ở vị trí lấy máu.

    Thông thường các xét nghiệm chức năng gan sẽ được thực hiện vài lần trong ngày hoặc vài ngày trong tuần. Bác sĩ có thể kiểm tra mức độ thay đổi của gan để xác định tình trạng và khả năng hoạt động của gan.

    Những rủi ro của xét nghiệm kiểm tra chức năng gan

    Xét nghiệm máu là một thủ tục đơn giản, phổ biến và hiếm khi dẫn đến các tác dụng phụ không mong muốn. Tuy nhiên, đôi khi việc lấy máu có thể dẫn đến một số rủi ro như:

    • Chảy máu dưới da hoặc tụ máu bầm
    • Chảy máu quá nhiều tại khu vực Lấy máu
    • Ngất xỉu
    • Nhiễm trùng

    Chi phí xét nghiệm kiểm tra chức năng gan

    Chi phí thực hiện xét nghiệm kiểm tra chức năng gan phụ thuộc vào loại xét nghiệm, địa điểm thực hiện và các yếu tố khác. Cụ thể, chi phí tham khảo như sau:

    • Xét nghiệm HBsAg và kiểm tra viêm gan B HBsAg: 80.000 đồng / lần
    • Anti – HBs: 90.000 đồng / lần
    • Anti – HBc: 120.000 đồng / lần
    • Kiểm tra định lượng virus Anti Bee: 90.000 đồng / lần
    • DNA – HBV (định tính): 500.000 đồng / lần
    • DNA – HBV (định lượng): 500.000 đồng / lần
    • Kiểm tra men gan SGOT, SGPT: 50.000 đồng / lần
    • GGT: 50.000 đồng / lần
    • Bilirubin TT, GT: 50.000 đồng / lần

    Chi phí này chỉ mang tính chất tham khảo, có thể thay đổi mà không báo trước. Do đó, để xác định mức giá cụ thể, người bệnh vui lòng liên hệ với bệnh viện hoặc phòng khám để được tư vấn phù hợp. Ngoài ra, chi phí này cũng không bao gồm các chi phí phát sinh như khám bệnh lâm sàng, siêu âm hoặc sinh thiết gan.

    Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có cần nhịn ăn không?

    Các xét nghiệm chức năng gan thường không yêu cầu nhịn ăn, trừ khi bác sĩ chỉ định. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác của kết quả xét nghiệm, người bệnh có thể cần tránh sử dụng thực phẩm trước khi thực hiện xét nghiệm.

    Thông thường trước khi thực hiện kiểm tra chức năng gan, bác sĩ thường yêu cầu người bệnh tránh một số loại thức ăn trước 6 tiếng. Việc lấy máu thường được thực hiện vào buổi sáng và khi người bệnh đang đói, đây là lúc thành phần sinh hóa trong máu tương đối ổn định. Do đó, kết quả xét nghiệm thường chính xác, ít sai lệch.

    Nếu lấy máu sau khi ăn, thành phần sinh hóa trong máu có thể bị ảnh hưởng hoặc thay đổi tạm thời. Điều này có thể cản trở quá trình chẩn đoán lâm sàng thông qua kết quả xét nghiệm.

    Gan chỉ chịu trách nhiệm về chuyển hóa protein, carbohydrate và chất béo. Do đó, một số loại thức ăn có thể ảnh hưởng đến nồng độ enzyme và gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Thực phẩm ăn ngay cả vào đêm trước của xét nghiệm chức năng gan có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

    Thực hiện xét nghiệm vào buổi sáng và ăn sáng ngay sau khi thực hiện xét nghiệm. Nếu bác sĩ yêu cầu, người bệnh cần thông báo về các loại thức ăn đã sử dụng trước khi thực hiện xét nghiệm.

    Một số loại thực phẩm có thể ảnh hưởng đến xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có thể bao gồm:

    • Rượu: Rượu có thể ảnh hưởng đến lượng đường và chất béo trong máu, điều này làm cho kết quả không chính xác. Tránh uống rượu trong vòng 12 – 24 giờ trước khi thực hiện kiểm tra chức năng gan.
    • Tránh ăn chế độ ăn giàu protein: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêu thụ một chế độ ăn giàu protein trong thời gian ngắn trước khi xét nghiệm kiểm tra chức năng gan dẫn đến tăng transaminase và gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
    • Tránh thực phẩm carbohydrate: Các loại thực phẩm này có thể dẫn đến tăng Transaminase (men gan SGOT và SGPT).
    • Tránh ăn thực phẩm giàu Vitamin K: Các loại thực phẩm như rau bina, bông cải xanh có thể làm tăng thời gian prothrombin (thời gian đông máu) tạm thời. Do đó, tránh ăn quá nhiều các loại thực phẩm này trước khi kiểm tra chức năng gan.
    • Tránh ăn bữa ăn lớn: Điều này có thể làm tăng nồng độ enzyme, chất dinh dưỡng, chất điện giải và vitamin trong máu, gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

    Thông báo cho bác sĩ nếu người bệnh vô tình sử dụng một trong các loại thực phẩm có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Phụ thuộc vào thời gian tiêu thụ thức ăn, bác sĩ có thể đề nghị dời lịch kiểm tra để tránh dẫn đến kết quả xét nghiệm và chẩn đoán sai lệch.

    Lưu ý trước khi thực hiện xét nghiệm chức năng gan

    Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan thường có nhiều yêu cầu đối với người bệnh. Do đó, người bệnh cần lưu ý một số vấn đề để đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm.

    • Bác sĩ có thể khuyên người bệnh ngừng sử dụng một số loại thuốc (nếu người bệnh đang dùng bất kỳ loại nào) trước khi thử nghiệm. Điều này là do một số loại thuốc có xu hướng gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
    • Bác sĩ cũng có thể đề nghị ngừng bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ít nhất 12 – 24 giờ trước khi kiểm tra chức năng gan.
    • Uống nhiều nước trước khi xét nghiệm để tĩnh mạch ngậm nước tốt và dễ dàng tìm thấy để lấy mẫu máu.
    • Trước xét nghiệm, người bệnh cũng không được sử dụng thuốc, thuốc bổ, vitamin, thực phẩm chức năng và loại dược phẩm bổ sung khác.
    • Không hút thuốc trước khi xét nghiệm, để tránh gây ảnh hưởng đến kết quả.

    Xét nghiệm chức năng gan thường được chỉ định để xác định tổn thương gan và các bệnh về gan. Trao đổi với bác sĩ chuyên môn để được tư vấn và chỉ định thực hiện xét nghiệm phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Phí Kiểm Tra Chức Năng Gan Cần Thiết Cho Cuộc Sống
  • Cách Xem Bảng Kiểm Tra Chức Năng Gan
  • Nên Kiểm Tra Chức Năng Gan Ở Đâu?
  • Sử Dụng Thuốc Cho Người Bị Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Lưu Ý Khi Sử Dụng Thuốc Cho Người Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100