Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thứ năm, 30 Tháng 7 2022 15:48

    (LLCT) – Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Gia đình với tư cách là một thiết chế then chốt và cơ bản của xã hội cũng chịu những tác động sâu sắc từ những biến đổi về kinh tế, xã hội, trong đó chức năng kinh tế của gia đình đang có những biến đổi lớn.

    1. Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình.

    Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho rằng, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng. Các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay dường như không còn là đơn vị kinh tế tự sản xuất, tự tiêu thụ mà đã bắt đầu cung ứng ra thị trường. Hiện nay, gia đình vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình theo đuổi các mục đích khác nhau cùng với các hoạt động kinh tế khác nhau; trong đó, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống. Với cách hiểu này, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã khiến cho sự thay đổi mục đích và hoạt động sản xuất của các thành viên trong gia đình. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, chức năng kinh tế hộ gia đình trải qua hai bước chuyển đổi: chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa và chuyển kinh tế gia đình hàng hóa thành kinh tế gia đình thị trường hiện đại. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, gia đình không sử dụng những sản phẩm của mình làm ra mà sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.

    Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây. Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 62,15%. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm 2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011.

    Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh. Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011. Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp, tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng. Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước.

    Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã và đang hiện hữu ở nước ta nói chung, đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chức năng kinh tế của một gia đình biến đổi khi có một hay nhiều thành viên lao động không tham gia vào các hoạt động sản xuất của gia đình hoặc tất cả thành viên lao động của gia đình đều có hoạt động sản xuất ở bên ngoài gia đình với tư cách cá nhân. Một gia đình còn duy trì chức năng kinh tế khi còn ít nhất hai lao động tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình. Khi gia đình chỉ còn một lao động hoặc không có lao động thực hiện các hoạt động sản xuất của gia đình thì gia đình đó không còn có chức năng kinh tế. Điều này có thể hiểu rằng, quá trình biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình giảm dần và tiến tới chỗ không còn thực hiện chức năng kinh tế của nó với tư cách là một đơn vị sản xuất. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trên 95% các gia đình đều có chức năng kinh tế như là một đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp.

    2. Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình

    Qua kết quả điều tra do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2012 (các tỉnh) ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình hiện nay.

    Về cơ cấu nghề của hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu.Các số liệu điều tra cho thấy, số hộ làm nghề nông nghiệp là 34,3%; tiểu thủ công nghiệp là 8,9%; buôn bán, dịch vụ là 8,5% và làm các nghề khác là 48,3%. Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định ở 4 tỉnh:

    Phân tích số liệu cơ cấu nghề của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ cho thấy, các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ có xu hướng làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn, các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng làm buôn bán, dịch vụ nhiều hơn (Xem bảng trên).

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo độ tuổi của chủ hộ

    Những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 20 – 39 ít có xu hướng làm nông nghiệp (dưới 10%) so với những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 40 trở lên. Hộ gia đình có chủ hộ tuổi 40 – 49 có tỷ lệ làm nông nghiệp gấp hơn 3 lần so với hai nhóm tuổi trẻ hơn; và hộ gia đình có chủ hộ tuổi 50 – 59 và trên 60 có tỷ lệ làm nông nghiệp gần gấp đôi so với nhóm tuổi trẻ hơn. Như vậy, có thể thấy sự biến đổi có tính bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo trình độ học vấn của chủ hộ

    Trình độ học vấn của chủ hộ và nghề nghiệp của các hộ gia đình có mối quan hệ khá rõ nét. Học vấn của chủ hộ gia đình càng thấp thì xác suất làm nghề nông nghiệp càng lớn hơn. Các chủ hộ gia đình có học vấn lớp

    1 – 5 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 49,1%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 35,1% và các hộ gia đình, chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 27,1%.

    Các số liệu cũng cho thấy mối quan hệ giữa học vấn của chủ hộ với xác suất làm các nghề buôn bán, dịch vụ của các hộ gia đình. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 5,3%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 7,7% và các hộ gia đình có chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm buôn bán, dịch vụ là 11,9%.

    Quan hệ cơ cấu nghề của hộ gia đình và quy mô diện tích đất sản xuất

    Phân tích mối quan hệ giữa bình quân diện tích đất sản xuất /đầu người và ngành nghề của hộ gia đình cho thấy kết quả như sau: các hộ nông nghiệp có bình quân diện tích đất sản xuất cao nhất với 630 m 2; các hộ buôn bán, dịch vụ là 551 m 2; các hộ làm tiểu thủ công nghiệp là 417 m 2 và các hộ làm nghề khác là 513m 2. So với các số liệu về bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp, các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp so với các loại hộ khác. Trong hoạt động thương mại, dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các hộ thương mại, dịch vụ thường có diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp nhiều hơn các loại hình hộ sản xuất khác.

    Có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh tới quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các cá nhân đó là yếu tố thế hệ và trình độ học vấn. Những người lao động ở độ tuổi càng trẻ thì xác suất làm nông dân càng thấp và những người lao động có trình độ học vấn càng cao thì xác suất làm nông dân càng thấp hơn. Những lao động ở nông thôn thuộc các thế hệ trẻ (dưới 40 tuổi) và có trình độ học vấn lớp 10 trở lên có xu hướng thoát ly hộ gia đình nông nghiệp và làm các nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình này làm giảm tỷ trọng các hộ nông nghiệp, và từ đó làm giảm tỷ trọng các hộ còn duy trì chức năng kinh tế của hộ gia đình nói chung.

    Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân sang các loại hình hộ kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ là một quá trình tất yếu khách quan ở nông thôn hiện nay. Trong những điều kiện đất đai canh tác ngày càng hạn chế, thu nhập lao động nông nghiệp thấp so với tất cả các ngành nghề khác trong xã hội và không thể đáp ứng được nhu cầu đời sống ngày càng cao, việc thoát ly sản xuất nông nghiệp là không thể tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động nông thôn. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi nghề của một hộ gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ đều cần một lượng vốn nhất định. Do đó, chỉ có một bộ phận số hộ nông nghiệp có khả năng chuyển đổi nghề sang các lĩnh vực khác với tư cách là một đơn vị hộ kinh tế. Số hộ nông nghiệp còn lại sẽ không có khả năng tiếp tục thực hiện các chức năng kinh tế hộ khi các thành viên lao động thoát ly và làm các nghề khác. Số liệu khảo sát cho thấy, trong các hộ nông nghiệp, tỷ lệ hộ thuần nông nghiệp chiếm 35%. Do đó, số hộ kinh tế nông nghiệp sẽ ngày càng giảm.

    Với quy mô đất canh tác giảm và thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hiện nay, ước tính để duy trì hoạt động của các hộ nông nghiệp như là một đơn vị kinh tế và bảo đảm thu nhập cho lao động nông nghiệp ở mức trung bình của xã hội, quy mô đất canh tác của hộ cần tăng 3 – 4 lần. Như vậy, tức là số hộ nông nghiệp sẽ giảm 3 – 4 lần. Tỷ trọng các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ giảm từ hơn 30% như hiện nay xuống còn khoảng 10% trong vòng 10 năm tới.

    Trong ba loại hình kinh tế hộ, các hộ kinh tế tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ có thể duy trì và tăng số lượng, nhưng sẽ khó tăng nhanh do những khó khăn về nguồn vốn và chất lượng lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Do đó, trong giai đoạn 10 – 20 năm tới, với đà giảm số lượng các hộ nông nghiệp, tỷ trọng các hộ gia đình có chức năng kinh tế sẽ tiếp tục giảm.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

    TS Đặng Ánh Tuyết

    Viện Xã hội học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Kiểm Soát Tham Nhũng Trong Khu Vực Công
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công Quanlycong Ppt
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công
  • Một Số Chức Năng Của Gia Đình Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Đình Là Gì? Ý Nghĩa Của Gia Đình?
  • Dfc: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Circus
  • Acdf: Dành Cho Người Lớn Trẻ Em Từ Rối Loạn Chức Năng Gia Đình
  • Dfp: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Đi Dã Ngoại
  • 4 Lí Do Gây Rối Loạn Tâm Thần Kinh Và Bạo Lực Học Đường
  • Gia đình là một xã hội thu nhỏ bao gồm một hay nhiều thế hệ khác nhau sống và hoạt động bên nhau một cách có tổ chức có nguyên tắc thành văn hay bất thành văn. Sự hòa thuận được đảm bảo bởi sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương” [Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, tr.205].

    Các chức năng cơ bản của gia đình

    – Chức năng tái sản xuất ra con người, tất cả các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội khác không có chức năng này, trừ gia đình. Việc thực hiện chức năng này không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn đề duy trì tính liên tục của xã hội.

    – Chức năng xã hội hoá, giáo dục con cái: Có thể nói, giáo dục gia đình có ý nghĩa to lớn để giúp trẻ thành người. Ngôn ngữ mẹ đẻ, thói quen sinh hoạt gia đình, cách ăn mặc, giao tiếp, cách quan sát, các nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu đều được gia đình hướng dẫn, hướng trẻ theo một nếp sống, truyền thống ổn định. Đây chính là cơ sở đầu tiên và quan trọng bậc nhất để hình thành nhân cách trẻ sau này.

    – Chức năng kinh tế: Chức năng kinh tế biểu hiện trên cả hai phương diện: sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện hiện nay, nhiều gia đình có thành viên làm ở các công ty, nhà nước… chính vì vậy, chức năng kinh tế của gia đình được giảm nhẹ ở khâu tổ chức, sản xuất, nhưng với tư cách là đơn vị tiêu dùng thì tính toán thu chi hàng tháng, hàng năm vẫn là nỗi lo của các chủ gia đình.

    – Chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm lý của các thành viên trong gia đình. Đây là chức năng đặc biệt quan trọng trong việc chia sẻ trách nhiệm, tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình. Gia đình là một cộng đồng đặc biệt, không một cộng đồng hay tổ chức nào có thể đem lại tình cảm ấm áp, sâu sắc và thiêng liêng như gia đình. Gia đình vừa là nơi nuôi dưỡng cho con người trưởng thành, đồng thời cũng là nơi bao dung, an ủi cho mỗi cá nhân trước những rủi ro, sóng gió của cuộc đời.

    – Chức năng chăm sóc sức khỏe: Mặc dù hiện nay các dịch vụ y tế công cộng đã phát triển tốt, nhưng việc gia đình có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình vẫn hết sức quan trọng, nhất là với người ốm, người già. Chăm sóc sức khoẻ ở đây không chỉ đơn thuần sức khoẻ về thể chất mà còn cả sức khoẻ tinh thần.

    Mai Văn Hải (Viện Tâm Lý Học)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Vị Trí Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay
  • Lý Thuyết, Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu Theo Nguyên Lý Y Học Gia Đình
  • Cac Cong Cu Ho Tro Trong Y Hoc Gia Dinh
  • Điểm Số Apgar Là Gì?
  • Luận Án: Pháp Luật Về Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Bị Điện Thông Minh
  • Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam
  • Tiểu Luận Thực Trạng Xăng Dầu Tăng Giá Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước
  • Sẽ Sử Dụng Nhiều Giải Pháp Để Bình Ổn Giá Xăng Dầu
  • Thực Trạng Xăng Dầu Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành luật với đề tài: Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT HÀ NỘI – 2022
    2. 2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Mã số: 62 38 01 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi LÊ MINH TÂM HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Trần Tuyết Ánh
    4. 4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 7 1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 7 1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17 1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 20 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 23 2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 23 2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 45 2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 50 2.4. Pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam 55 Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 67 3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về gia đình 67 3.2. Thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 73 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114 4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 114 4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 122 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
    5. 5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐG Bình đẳng giới BVCS&GDTE Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em CEDAW Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GAD Giới và phát triển HĐDT Hội đồng dân tộc HĐND Hội đồng nhân dân LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội LHPN Liên hiệp phụ nữ LHQ Liên hợp quốc PBGDPL Phổ biến, giáo dục pháp luật PCBLGĐ Phòng chống bạo lực gia đình UBND Ủy ban nhân dân UBQGVSTBCPN Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội UBVCVĐXH Ủy ban về các vấn đề xã hội UN WOMEN Cơ quan phụ nữ của Liên hợp quốc UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNIFEM Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật WID Phụ nữ trong phát triển XHCN Xã hội chủ nghĩa
    6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường đặc biệt quan trọng để hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, gia đình cũng là tổ ấm, nơi bình yên, an toàn, nơi duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống về gia đình, bảo tồn các phong tục, tập quán tốt đẹp, đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, tệ nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, giữa gia đình và xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Trong gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu to lớn đạt được trong phát triển kinh tế, xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Vị trí, vai trò, chức năng của gia đình tiếp tục được phát huy và bổ sung thêm nhiều nét mới về nội dung và ý nghĩa xã hội ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống. Kinh tế gia đình thực sự đóng góp quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Nhiều giá trị nhân văn mới như phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình ngày càng được đề cao. Pháp luật về gia đình ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng. Hệ thống cơ quan nhà nước và tổ chức tham gia công tác gia đình ngày càng kiện toàn và hoạt động có hiệu quả. Đảng và Nhà nước đã quan tâm đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát huy vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, nhiều hiện tượng tiêu cực mới nẩy sinh trong quan hệ gia đình có xu hướng ngày càng phức tạp. Công tác quản lý nhà nước về gia đình chưa thực sự hiệu quả. Bạo hành trong gia đình còn diễn biến rất phức tạp. Ở nhiều nơi, trong nhiều gia đình vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ, chưa bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình. Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em
    7. 7. 2 phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển. Các hiện tượng các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AID xâm nhập vào gia đình chưa thuyên giảm. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống của gia đình như kính trên nhường dưới, thủy chung, hiếu nghĩa đang có biểu hiện xuống cấp… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình nói trên, trong đó có một số nguyên nhân như: Sự nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình và công tác gia đình, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn một số bất cập, chưa huy động sự tham gia của xã hội và cộng đồng. Pháp luật về gia đình đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa theo kịp sự phát triển của gia đình trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Các quy định pháp luật về gia đình tồn tại rải rác trong nhiều văn bản khác nhau. Nhiều quy phạm chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu minh bạch, không phù hợp điều kiện thực tế khách quan nên tính khả thi còn hạn chế. Nhiều vấn đề phát sinh trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và trang bị các kiến thức, kỹ năng ứng xử trong các quan hệ về gia đình chưa được coi trọng… Việc tổng kết thực hiện pháp luật về gia đình, nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia đình chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, vì vậy, cho đến nay chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình. Do vậy, nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện pháp luật về gia đình, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình, hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng ở nước ta hiện nay. Xuất phát lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ của mình tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về gia đình, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam và đề ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.
    8. 9. 4 khó khăn; 6/ quan hệ phát triển kinh tế gia đình; 7/ quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với gia đình; Trong các quan hệ xã hội nói trên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu 4 nhóm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1, 2, 3, 7 bởi vì việc hoàn thiện các nhóm quy phạm pháp luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình”. Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về gia đình ở Việt Nam từ năm 1945 nhưng tập trung vào giai đoạn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu – Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về gia đình và pháp luật về gia đình nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài chú trọng những quan điểm, tri thức khoa học có tính phổ biến ở trong nước và nước ngoài về gia đình và pháp luật về gia đình để tham khảo và phục vụ cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, tác giả luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: – Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong chương 2, 3, 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong các chương 2,3,4 để làm rõ nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam.
    9. 10. 5 – Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lô gíc được sử dụng ở chương 2, 3, 4: Luận án nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn thực hiện pháp luật về gia đình. Ba chương của luận án được nghiên cứu trong mối quan hệ lôgíc xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật được sử dụng trong chương 3 khi đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình. – Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Phương pháp này cũng được sử dụng ở chương 2 để so sánh các pháp luật về gia đình của một số nước. 5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau: – Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp luật về gia đình, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về gia đình, chỉ ra vai trò, đặc điểm của pháp luật về gia đình, với nội dung bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; đồng thời, xây dựng các tiêu chí về nội dung và hình thức để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình; phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. – Chỉ rõ quá trình phát triển của pháp luật về gia đình ở Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam, khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất 4 quan điểm và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.
    10. 12. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về gia đình – Đề tài “Nghiên cứu căn cứ khoa học để xây dựng ngành gia đình học ở Việt Nam”, của Nguyễn Văn Cương . Cuốn sách này đã làm rõ khái niệm quy mô gia đình; số người, số thế hệ trong gia đình; khái niệm về hôn nhân, tình trạng kết hôn và ly hôn ở Việt Nam; thực trạng và những biến đổi của mối quan hệ vợ chồng trong gia đình trên các phương diện: vai trò của chủ hộ, vai trò của vợ chồng trong sản xuất, đóng góp thu nhập…; mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình; mối quan hệ họ hàng thân tộc… Có thể nói cuốn sách đã nêu khá chi tiết các khái niệm, các mối quan hệ, chức năng của gia đình đồng thời cũng dự báo được xu thế biến đổi của gia đình Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế… – “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, của Lê Thi . Sách gồm 04 phần: Phần I: Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ đổi mới; Phần II: Vấn đề gia đình và gia đình văn hóa; Phần III: Những kinh nghiệm và định hướng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa. – “Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường”, của Nguyễn Thị Khoa . Nội dung của sách đề cập tới vấn đề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá gia đình ở các đô thị Việt Nam đang có sự chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại trên các bình diện hôn nhân, cơ cấu gia đình và các mối quan hệ trong gia đình. Biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân thể hiện ở vai trò quyết định của các thành viên trong gia đình đối với công việc hệ trọng này, độ tuổi kết hôn cũng như quan niệm về hôn nhân, cách tổ chức lễ cưới. Cơ cấu của gia đình đô thị chiếm đa số là loại hình hai thế hệ và vai trò người phụ nữ được nâng cao. Về các mối quan hệ trong gia đình đô thị Việt Nam hiện nay bao hàm nhiều nhân tố mới, tích cực, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình. – “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, của Viện Nghiên cứu Gia đình và giới . Sách đề cập nhiều vấn đề như: Thành tựu nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới và một số vấn đề đặt ra; Nghiên cứu phụ nữ, gia đình và giới: Từ kết quả đến định hướng; Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới; Giảng dạy và nghiên cứu về giới ở trường đại học; Đi tìm những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống; Giới và các vấn đề giới ở Việt Nam; Nghiên cứu về quyền phụ nữ; Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị… Đây là công trình rất công phu, giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Tuy nhiên, vấn đề lý luận về gia đình và công tác gia đình còn hạn chế, các tác giả chưa đi sâu phân tích nội hàm của công tác gia đình, quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình đề cập còn rất khiêm tốn. Vấn đề hành lang pháp lý cho công tác gia đình ít được nhóm tác giả đề cập. – “Diễn đàn gia đình cấp Bộ trưởng khu vực Đông Á lần thứ nhất”, của Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em . Sách đã tập hợp và giới thiệu được các Quyết định và Chỉ thị của Trung ương giúp định hướng quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như: Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư về xây
    11. 19. 14 đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở các địa phương; + Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân, cộng đồng và chính quyền về bạo lực gia đình, nguyên nhân của bạo lực gia đình, trong đó tập trung vào 2 nhóm bạo lực gia đình: bạo lực của chồng đối với vợ; bạo lực của con với bố mẹ là người cao tuổi; + Tìm hiểu về hiệu quả của các hình thức truyền thông và các cơ quan truyền thông do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã, đang và dự kiến phối hợp thực hiện truyền thông trong lĩnh vực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; + Những ứng phó của người dân, của cộng đồng với bạo lực gia đình; + Tìm hiểu về biện pháp xử lý của chính quyền, đoàn thể đối với những vụ việc bạo lực gia đình và những vi phạm hành chính trong lĩnh vực bạo lực gia đình. Việc tiến hành điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp nhằm ngăn chặn, làm giảm số vụ bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012- 2022 là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, trước hết là Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch có được những giải pháp trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương. Cuộc điều tra này không nhằm phác họa lại bức tranh thực trạng tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích tìm hiểu mô hình hành vi bạo lực gia đình cũng như nhận thức và các nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở một số địa phương, qua đó đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012 – 2022. – “Bạo lực gia đình – một sự sai lệnh giá trị”, của Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh . Sách là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo rất cao vì đã tập hợp được một hệ thống các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh Tiền Giang: Các Nghị quyết, Kết luận, Thông tư, Quy chế, Chương trình… Đây là nguồn tài liệu có tính định hướng cho thí sinh trong quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. – “Luật phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới”, của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội XI . Nội dung sách nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, tài liệu giới thiệu được phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người bạn tình.
    12. 24. 19 chuẩn mực này ở cấp quốc gia. Rea đã hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn và có những hoạt động xây dựng năng lực cho chính phủ, các chuyên gia, các tổ chức phi chính phủ và những người tuyên truyền vận động về bình đẳng giới và quyền con người ở một số nước. Trong cuốn sách này, tác giả đề cập các vấn đề như: Bối cảnh Việt Nam, khuôn khổ chính trị và pháp luật ở Việt Nam, công ước xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối sử chống lại phụ nữ (CEDAW), những thực tế ban đầu về CEDAW và Việt Nam, đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW. Trong đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW, tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: Những công việc chính để xóa bỏ phân biệt đối xử đảm bảo bình đẳng (Các điều 1-3 CEDAW), các biện pháp đặc biệt tạm thời và các biện pháp ưu tiên cho bà mẹ (Điều 4 của CEDAW), những mẫu hình xã hội và văn hóa của hành vi (Điều 5 của CEDAW), buôn bán người và bóc lột mại dâm (Điều 6 của CEDAW), quốc tịch (Điều 9 của CEDAW), giáo dục (Điều 10 của CEDAW), việc làm (Điều 11 của CEDAW), sức khỏe (Điều 12 của CEDAW), đời sống kinh tế và xã hội (Điều 13 của CEDAW), phụ nữ nông thôn (Điều 14 của CEDAW), bình đẳng trước pháp luật (Điều 15 của CEDAW), hôn nhân và gia đình (Điều 16 của CEDAW). – “Cuốn Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM . Sách đã giới thiệu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới… Tuy nhiên sách lại chưa đề cập tới hệ thống luật pháp về gia đình và bình đẳng giới.
    13. 25. 20 – Cuốn “25 năm thực hiện Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) thực tiễn tại Việt Nam” của CEDAW . Nội dung sách đề cập tới các khuyến nghị chung nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên thực hiện các quyền con nguời của phụ nữ và bình đẳng giới. – “Các nhận xét và kết luận về Việt Nam của Uỷ ban xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM . Nội dung sách giới thiệu Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. – “Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam”, của UNFPA . Sách giới thiệu những yêu cầu của CEDAW trong xóa bỏ phân biệt đối xử về giới; Những nguyên tắc cơ bản của CEDAW về bình đẳng giới; Các yêu cầu của CEDAW bảo đảm quyền của phụ nữ được thực thi có hiệu quả… 1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chưa có điều kiện làm rõ sau đây:
    14. 27. 22 Nghiên cứu các công trình ở nước ngoài cho thấy một số nội dung pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới, sự thay đổi của pháp luật về gia đình trong thế giới đương đại. Một số công trình nước ngoài cũng đã làm rõ pháp luật trên thế giới về gia đình thông qua các công ước quốc tế về gia đình, về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình… Có một số tác giả nước ngoài đã nghiên cứu làm rõ những bước phát triển của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về việc hoàn thiện pháp luật về gia đình. Nghiên cứu pháp luật về gia đình còn chưa đầy đủ và toàn diện, chưa làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Đến nay, chưa có công trình nào đưa ra các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về gia đình, chưa đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về gia đình và đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Nghiên cứu tổng quan về gia đình, pháp luật về gia đình giúp cho nghiên cứu sinh có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu, tiếp tục triển khai, phát triển trong luận án những vấn đề còn bỏ ngỏ. Thông qua đó giúp nghiên cứu sinh hoàn thành các nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra, góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về gia đình trong bối cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và hội nhập quốc tế hiện nay.
    15. 28. 23 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1.1. Khái niệm gia đình và đặc trưng của gia đình Việt Nam 2.1.1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện, tồn tại và phát triển một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Lịch sử phát triển của gia đình là một quá trình lâu dài, đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau với những biến đổi sâu sắc về quy mô, cách thức tổ chức, tính chất phức tạp, sự phong phú, đa dạng của các mối quan hệ về gia đình và cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ về gia đình. Theo Ph.Ănghen, lịch sử phát triển của gia đình đã trải qua 4 giai đoạn cơ bản: Gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng. – Gia đình huyết tộc là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình, trong đó quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định. Ở hình thái gia đình huyết tộc, các anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau, nhưng những người có quan hệ dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ và các con bị cấm không được có quan hệ hộ nhân. – Gia đình Pu-na-lu-an là giai đoạn thứ hai, có sự tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc. Trong hình thái gia đình này, quan hệ tính giao tiếp tục bị hạn chế, thu hẹp: cấm thế hệ cha mẹ kết hôn với thế hệ các con và cấm anh em trai kết hôn với các chị em gái trong cùng một gia đình. – Gia đình đối ngẫu là giai đoạn phát triển tiếp theo của gia đình. Đây là giai đoạn mà phạm vi những người có quan hệ hôn nhân ngày càng bị thu hẹp nhiều hơn: việc cấm những người cùng huyết tộc kết hôn với nhau ngày càng trở nên phổ biến và hình thức quần hôn không còn tồn tại nữa. Gia đình đối ngẫu được đặc
    16. 29. 24 trưng bằng cách thức kết hôn theo từng cặp, nhưng chế độ đa thê, người đàn ông có nhiều vợ vẫn còn phổ biến. – Gia đình cá thể (gia đình một vợ một chồng) là giai đoạn thứ tư, được nảy sinh từ gia đình đối ngẫu, là một trong những dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu. Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực và những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên. Trong gia đình một vợ một chồng, quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau được nữa. Gia đình một vợ một chồng cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao và luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cùng với sự phát triển của văn minh, dân chủ và tiến bộ xã hội, quan hệ gia đình có sự biến đổi về chất, mà biểu hiện rõ nét nhất và trước hết là ở sự biến đổi trong quan niệm về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng; về tình yêu và hôn nhân. Hôn nhân trở thành tiêu điểm, là biểu tượng của tình yêu và văn hóa gia đình, là điểm khởi đầu quan trọng và có thiêng liêng không những đối với đời sống vợ chồng, mà còn được gia đình, cộng đồng, nhà nước thừa nhận và đề cao như một giá trị của con người, gia đình và xã hội. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong lĩnh vực pháp luật về gia đình, những mối quan hệ về hôn nhân là một trong những nhóm quan hệ pháp luật quan trọng, có những đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối, được tượng điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về hôn nhân trong hệ thống các quy định pháp luật về gia đình và hình thành chế định hôn nhân trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét theo quan điểm hệ thống, thì hôn nhân là một yếu tố để hình thành nên gia đình trong xã hội hiện đại và các mối quan hệ về hôn nhân là một bộ phận hợp thành của hệ thống các quan hệ gia đình. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân chỉ là một nhóm trong số rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình. Do tính chất đặc biệt của mình, từ khi xuất hiện đến nay, gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong đó có triết học, xã hội học, văn hóa học và luật học. Tùy thuộc vào mục đích và nội dung nghiên cứu cụ thể, mỗi bộ môn khoa học có cách tiếp cận riêng và sử dụng các phương
    17. 31. 26 Thứ nhất, gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, một đơn vị (tế bào) xã hội, một hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân. Thứ hai, gia đình là những người gắn bó với nhau bởi: – Hôn nhân (vợ chồng): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, trong đó sự kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. – Mối quan hệ huyết thống: Phạm vi của mối quan hệ này khá rộng tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để xác định, trong một gia đình có nhiều (hai, ba hoặc bốn) thế hệ cùng sinh sống. – Mối quan hệ nuôi dưỡng: Ngoài quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống còn có những người có quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi, bố mẹ nuôi… Thứ ba, các thành viên trong gia đình có sự gắn kết với nhau để cùng chung sống, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở của đạo đức và niềm tin. Đây là một trong những dấu hiệu hết sức đặc sắc của gia đình, có ý nghĩa và có tác động lớn tới các yếu tố khác, đòi hỏi khi xây dựng và thực thi pháp luật về gia đình cần phải được chú trọng. Thứ tư, các thành viên trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản; việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản, nhằm thỏa mãn những ước muốn, lợi ích về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và của cả gia đình. Từ đây, khái niệm thành viên trong gia đình có phạm vi rất rộng. Các thành viên trong một gia đình bao gồm: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Với phạm vi thành viên gia đình đó, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình với nhà nước và xã hội cũng hết sức phức
    18. 33. 28 lợi. Gia đình sống nhiều thế hệ với chế độ đa thê. Việc ly dị gặp nhiều khó khăn. Quy mô gia đình giai đoạn này thường lớn hầu hết là những Gia đình tam đại đồng đường và tứ đại đồng đường. Trong nền văn minh công nghiệp, gia đình không còn là đơn vị sản xuất tự chủ mà gồm những người làm thuê, những người chủ xã hội, các nhà quản lý, kinh doanh, các viên chức làm công ăn lương… Hôn nhân gia đình trở thành sự tự do lựa chọn của nam nữ, không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng. Vì vậy, lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng. Cơ cấu gia đình hai thế hệ là phổ biến. Quy mô gia đình nhỏ đi rất nhiều. Trong nền văn minh hậu công nghiệp, gánh nặng công việc gia đình được giảm nhẹ, con người (đặc biệt là phụ nữ) được giải phóng bớt các khâu lao động chân tay, mệt nhọc, năng suất thấp. Họ sẽ có nhiều thời gian nghỉ ngơi, học tập, giải trí, vui chơi với gia đình. Có thể nói, gia đình Việt Nam trong quá trình phát triển đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng đồng thời của nền văn minh, của văn hóa phương Đông, văn hóa khu vực Đông Nam Á cùng với nhiều tôn giáo vốn đã tồn tại lâu đời như Đạo phật, Thiên chúa giáo, đạo Hồi… Gia đình ở Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với một loạt thử thách lớn khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại. Để tồn tại và phát triển, mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng với những điều kiện mới, từng thành viên trong gia đình phải tự điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình. Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng với những trào lưu tiến bộ về khoa học công nghệ có phần không tương xứng với sự phát triển văn hóa, xã hội đã làm đổ vỡ, mờ nhạt một số giá trị tinh thần, đạo đức ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Gia đình Việt Nam có các đặc trưng cơ bản: Gia đình phải sống chung một mái nhà; Trong một gia đình phải có giới tính (nam, nữ); Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt, huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người; Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý; Gia
    19. 34. 29 đình phải có ngân sách chung. Do đó gia đình phải là một nhóm xã hội ít nhất có từ 02 người trở lên. Gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc trưng khác với gia đình của các dân tộc khác trên thế giới. Đó là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại ở địa bàn nông thôn. Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ. Gia đình truyền thống thường biểu hiện các mặt sau đây: – Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước. – Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu – đạo tổ tiên và gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống. – Người đứng đầu gia đình (gia trưởng) chịu trách nhiệm trước về mọi hành vi của những người trong nhà. – Gia đình là đơn vị kiểm soát cá nhân; từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật. – Về hôn nhân và quan hệ vợ chồng: Cha mẹ quyết định, con cái nghe theo; người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải thủ tiết với chồng. – Nước xét xử theo pháp luật thì nhà – gia đình thực hiện nhiệm vụ của nó, thực sự trở thành nơi sàng lọc và răn dạy các thành viên về đạo lý, quốc pháp. – Gia đình là một thiết chế gia trưởng. Trong một gia đình cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng và vợ ra vợ. Các mối quan hệ này được điều chỉnh bằng luân lý tam cương, ngũ thường và nó được cụ thể hoá thành gia quy. Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở phát sinh và tồn tại của loại hình gia đình truyền thống. Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần tụ con cái xung quanh mình. Vì thế, các đại gia đình cùng sống dưới một mái nhà hoặc vài nhà cạnh nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở đô thị.
    20. 35. 30 Gia đình truyền thống có các ưu điểm: Có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống; Bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo; Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Đó là những giá trị rất căn bản của văn hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược điểm của loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp thì cũng duy trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Bên cạnh đó, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà – các cháu, giữa mẹ chồng – nàng dâu… Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do quá mức của mỗi cá nhân. Trái với đặc trưng của gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam hiện nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái mà họ sinh ra. Hầu hết các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, công an đều là gia đình hạt nhân. Xu hướng phát triển gia đình hạt nhân ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó. Trước hết gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội. Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế. Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân. Cá nhân tính được đề cao. Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình. Tính độc lập cá nhân được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển sẽ tạo ra phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều có bản sắc. Mô hình gia đình hạt nhân cũng có những điểm yếu sau đây: – Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 4,4 người/hộ (2006) xuống còn 3,7 người/hộ (2013). – Tỉ lệ ly hôn, ly thân trong các gia đình hạt nhân ngày càng gia tăng. – Dưới sự tác động của của các yếu tố kinh tế, văn hóa trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia
    21. 36. 31 đình Việt Nam đang có xu hướng bị coi nhẹ; mức độ liên kết giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi; các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng và tôn trọng các phẩm chất cá nhân của nhau nhiều hơn. – Gia đình nhiều thế hệ về cơ bản đã được thay thế bằng mô hình gia đình hạt nhân – gia đình quy mô nhỏ, chỉ có vợ chồng (bố, mẹ) và con cái. Trong xã hội hiện đại, sự tác động của các yếu tố khách quan như nền kinh tế thị trường, quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự thâm nhập của những giá trị mới, cùng với việc bản thân giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam chưa có những cơ chế vững chắc để có thể tự bảo lưu, tiếp tục phát triển là những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của gia đình truyền thống. Sự bảo lưu phải vừa tích cực, giữ lại được những tinh hoa của giá trị gia đình truyền thống, vừa phải biết bổ sung thêm những giá trị tích cực của thời đại mới. Tóm lại, đặc trưng của gia đình Việt Nam có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể. 2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình Trong khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật, khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ thuộc yêu cầu tiếp cận và giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định, nên còn gọi là pháp luật thực định. Theo nghĩa rộng, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghĩa là, khái niệm pháp luật hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật thực định, hệ thống quy phạm pháp luật cụ
    22. 37. 32 thể, hiện hành và những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng hơn, thể hiện bản chất của pháp luật và có tính định hướng cho cả tương lai tồn tại và phát triển của pháp luật: Nguyên tắc, định hướng, mục đích. – Nguyên tắc pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Nguyên tắc pháp luật khác với các quy phạm pháp luật cụ thể ở tính khái quát, không quy định cho một trường hợp cụ thể mà tạo ra nền tảng, cơ sở và có tính định hướng xuyên suốt trong quá trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Ví dụ, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc vì con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo, nhân văn… tuy không được ghi nhận cụ thể dưới dạng một quy phạm pháp luật, nhưng nội dung của chúng được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong các quy phạm pháp luật và luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của hệ thống pháp luật. – Các định hướng pháp luật cũng là một bộ phận quan trọng của pháp luật, thể hiện các quan điểm chính sách của nhà nước về những vấn đề quan trọng cho một thời gian tương đối dài. Ví dụ, định hướng: xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. – Các mục đích của pháp luật là các quy định của pháp luật phải hợp lý và có thể được áp dụng một cách hợp lý. Bản chất của sự việc chỉ đưa ra được những giải pháp chung cho những trường hợp điển hình; các nguyên tắc và định hướng pháp luật đặt ra những “đường ray” và xác định hướng vận động cho “con tàu pháp luật”. Để pháp luật phát huy được vai trò thực sự của mình thì các mục đích pháp luật phải được xác định và phải được kiểm nghiệm trong đời sống pháp luật và đời sống xã hội. Mục đích chung của pháp luật là bảo đảm sự an toàn, công lý và lợi ích. Mục đích cụ thể của pháp luật thì hết sức đa dạng và phức tạp vì suy cho cùng tất cả các hành vi của con người đều nhằm tới một mục tiêu nào đó và giá trị của nó sẽ phụ thuộc vào giá trị của các mục đích đề ra.
    23. 38. 33 Từ những phân tích trên, pháp luật về gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, các mối quan hệ về gia đình rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất phức tạp, tinh tế và nhạy cảm, được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật, mà còn bằng đạo đức và các quy phạm xã hội khác. Việc kết hợp pháp luật với đạo đức và các quy phạm xã hội khác có ý nghĩa rất quan trọng và để thực hiện được điều đó thì những nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật luôn đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp. Pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật nói chung và đến lượt mình pháp luật về gia đình cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận hợp thành để điều chỉnh các quan hệ về gia đình. Xuất phát từ nhu cầu khách quan, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu, thước đo để các chủ thể thực hiện các hành vi trong quan hệ về gia đình, đồng thời, các quy phạm pháp luật về gia đình cũng là tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi con người trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển gia đình. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã đề ra định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới: Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [60].
    24. 39. 34 Định hướng về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Bởi lẽ bất cứ ai cũng là thành viên của một gia đình nhất định; mỗi gia đình và thành viên gia đình đều mong muốn hướng tới một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Vì vậy, chủ trương, quan điểm của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân chính là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi có hiệu quả pháp luật về gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống. Các quy phạm pháp luật về gia đình được quy định chủ yếu trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và Gia đình (2014), Luật Bình đẳng giới (2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008); các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, các Thông tư của bộ… Ngoài ra, để điều chỉnh một số quan hệ xã hội về gia đình, Nhà nước thừa nhận và cho phép sử dụng các tập quán tốt đẹp của các dân tộc. Điều 7 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Như vậy, bên cạnh hình thức chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật, các tập quán tốt đẹp của các dân tộc không trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân gia đình có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội về gia đình. Từ đó chúng tôi có thể đưa ra khái niệm: Pháp luật về gia đình là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và các tập quán tốt đẹp được nhà nước thừa nhận, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và các điều cấm của Hiến pháp và pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về gia đình, hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
    25. 40. 35 2.1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về gia đình Pháp luật về gia đình là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy nó mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Pháp luật về gia đình do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, có tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công lý trong lĩnh vực gia đình, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực gia đình. Bên cạnh đó, pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, vì vậy nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau: Thứ nhất, về tính chất: Pháp luật về gia đình cùng loại với pháp luật dân sự, nhưng không đồng nhất với pháp luật dân sự. Sự khác biệt đó thể hiện rõ nét ở đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, về việc xác định chỗ ở chung, quan hệ giữa cha mẹ và các con về việc xác định chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên… Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích tài sản như: quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ về sở hữu giữa vợ và chồng… Xét về mặt hình thức, đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình có nhiều điểm giống với đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự. Tuy nhiên, về nội dung, các quan hệ hôn nhân và gia đình có những điểm riêng đáng chú ý đó là: Một là: nhóm quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh cơ bản và có ý nghĩa quyết định của pháp luật về gia đình. Bởi vì, trong đời sống gia đình nói chung và trong từng nhóm, từng mối quan hệ gia đình cụ thể nói riêng, thì tình cảm, sự tin tưởng, chân thành, sự gắn bó, yêu thương, chia sẻ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái và giữa các thành viên khác trong gia đình luôn là yếu tố quan trọng, thiêng liêng và hiện thực nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Một Số Vấn Đề Của Gia Đình Việt Nam Hiện Đại
  • Giải Pháp Để Giá Đất Do Nhà Nước Quy Định Phù Hợp Với Giá Thị Trường Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Công Ty Cổ Phần Siêu Thanh Hà Nội
  • 7 Biện Pháp Quản Lý, Điều Hành, Bình Ổn Giá Trong Năm 2022
  • Các Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Để Phát Triển Thị Trường
  • Thúc Đẩy Tiêu Dùng Xanh Của Các Hộ Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Án: Chính Sách Tiêu Dùng Xanh Ở Việt Nam, Hay, 9Đ
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Mạnh Du Lịch Xanh Tại Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Xanh Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Xanh: Bài 1: Giải Pháp “hút” Khách Văn Minh, Chi Tiêu Cao
  • Du Lịch Phú Quốc Cần Một “tư Duy Xanh”!
  • Nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, tiêu dùng xanh của các hộ gia đình ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Điều này thể hiện rõ trong Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2022 và tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam với việc tập trung vào các mục tiêu: Xanh hóa sản xuất; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo; Xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững. Bài viết phân tích thực trạng tiêu dùng xanh ở Việt Nam nói chung và ở TP. Hà Nội nói riêng, từ đó đưa ra giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh của các hộ gia đình trong thời gian tới.

    Xu hướng tiêu dùng xanh

    Tiêu dùng xanh đang được xem là xu hướng tiêu dùng của nhân loại khi môi trường trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trên thế giới. Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến môi trường, họ coi trọng hơn đến hành vi mua thân thiện với môi trường. Số lượng người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm sinh thái thân thiện gần đây cho thấy, thị trường của các sản phẩm thân thiện môi trường đang mở rộng.

    Tiêu dùng bền vững hay tiêu dùng xanh là khái niệm được đưa ra sau khi xu thế sản xuất và tiêu dùng dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến việc cạn kiệt về rừng, tranh chấp nguồn nước, đánh bắt thủy hải sản vô tội vạ, mất dần đa dạng sinh học, ngày càng có nhiều loại động thực vật biến mất…

    Nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, tiêu dùng xanh hiện cũng đã tương đối phổ biến ở Việt Nam. Điều này thể hiện rõ trong Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2022 và tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam với việc tập trung vào các mục tiêu: Xanh hóa sản xuất; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo; Xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững.

    Thực trạng tiêu dùng xanh tại TP. Hà Nội

    Dù hiện nay, Việt Nam đã có những bước tiến bộ về tiêu dùng xanh song quá trình chuyển đổi từ nhận thức đến hành động tiêu dùng xanh của người tiêu dùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hiện nay, tiêu dùng xanh vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tại TP. Hà Nội – nơi tập trung hơn 8,2 triệu dân, đóng góp hơn 16,5% cho GDP cả nước.

    Việc gắn nhãn sinh thái đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai từ năm 2010 với việc phê duyệt cho tiêu chí nhãn xanh Việt Nam cho 3 nhóm sản phẩm: Bột giặt, Bóng đèn huỳnh quang và bao bì nhựa tự phân hủy sinh học dùng gói hàng hóa khi mua sắm. Năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng và ban hành tiêu chí chứng nhận nhãn xanh Việt Nam cho sản phẩm ắc quy, các sản phẩm máy tính xách tay, máy in, mực in.

    Năm 2014 là nhóm sản phẩm máy tính để bàn, mực in cho máy photocopy, pin tiêu chuẩn. Năm 2022 áp dụng tiêu chí dán nhãn xanh Việt Nam cho nhóm sản phẩm máy giặt, tủ lạnh, tivi… Cùng với đó, Bộ Công Thương cũng đã ban hành quy định cụ thể trong Thông tư số 07/2012/TT-BCT về dán nhãn năng lượng chi các phương tiện và thiết bị sử dụng năng lượng…

    Tuy nhiên, thói quen tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam nói chung và TP. Hà Nội nói riêng vẫn “tiện đâu mua đấy”. Hiện tượng chợ cóc, hàng quán vỉa hè còn khá phổ biến. Trừ một số ít tỷ lệ nhóm người tiêu dùng có mức chi tiêu cao thường lựa chọn nơi mua bán tuy nhiên họ vẫn chưa có mục tiêu tiêu dùng đúng đắn.

    Theo định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam, “mô hình tiêu dùng của dân cư đang diễn biến theo truyền thông của các quốc gia phát triển, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải độc hại”. Qua đó, có thể thấy, tuy Nhà nước đã bước đầu cụ thể hóa chiến lược về tiêu dùng xanh nhưng tiêu dùng hiện tại của người dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn còn chưa “xanh”.

    Theo kết quả điều tra của nhóm tác giả, trong số 120 người trả lời thuộc nhóm hộ gia đình, có thể thấy rằng, đa số người dân cho rằng, sản phẩm xanh là sản phẩm tiết kiệm năng lượng với 29,17% người được khảo sát lựa chọn, thêm vào đó có ít người cho rằng nó là sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu có khả năng phục hồi với 9,17%, 4,17% người có cách hiểu khác.

    Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 120 người được hỏi có 30% cho rằng, tiêu dùng xanh là tiêu dùng tiết kiệm năng lượng do nhận thức về sản phẩm xanh (chiếm tỷ lệ cao nhất), 15% người cho rằng tiêu dùng xanh là tái chế, 10,83% người cho rằng, tiêu dùng xanh là phân loại rác (chiếm tỷ lệ thấp nhất). Như vậy, có thể thấy hầu hết các hộ gia đình đều đã nghe đến sản phẩm xanh và tiêu dùng xanh. Hiểu biết chung về nguyên nhân gây ra sự nóng lên của trái đất, về sản phẩm xanh và tiêu dùng xanh của nhóm hộ gia đình cũng tương đối đầy đủ.

    Về sử dụng năng lượng của hộ gia đình

    Nghiên cứu tập trung vào hành vi sử dụng năng lượng của người dân, cụ thể là năng lượng điện, mức độ tiêu thụ năng lượng của người dân có tác động đến môi trường. Trước tiên là các nguồn năng lượng được người dân sử dụng trong sinh hoạt, trong đó bao gồm năng lượng tái tạo, một dạng năng lượng thân thiện môi trường. Tiếp theo, nghiên cứu xem xét hành vi và ý thức tiết kiệm điện của người dân.

    Cụ thể hơn, hành vi sử dụng bóng đèn sợi đốt, một thiết bị tiêu hao nhiều điện năng. Xu hướng tiêu dùng điện năng và các nguyên nhân của xu hướng này cũng được xem xét. Cuối cùng là việc tổng hợp ý kiến của người dân về mức độ quan trọng của các giải pháp khuyến khích tiết kiệm điện năng của chính quyền địa phương. Việc tìm hiểu các nguồn năng lượng được sử dụng trong sinh hoạt thường nhật sẽ giúp đánh giá mức độ tiếp cận các nguồn năng lượng mới như điện lưới và năng lượng tái tạo.

    Theo điều tra, tất cả người dân trong cuộc khảo sát đều sử dụng năng lượng điện lưới, thể hiện một điểm tích cực trong việc tiếp cận nguồn năng lượng tiên tiến này. Một điểm tích cực khác là tỷ lệ người dân sử dụng các nguồn năng lượng có hiệu suất thấp như điện ắc quy, máy nổ, dầu hỏa, than đá, than củi là rất nhỏ.

    Để hành vi sử dụng năng lượng thực sự hướng đến môi trường, quan trọng hơn cả là việc sử dụng năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió, nước nóng từ năng lượng mặt trời…), kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng năng lượng tái tạo còn thấp (khoảng 16%). Tỷ lệ người dân sử dụng khí ga là 95,83%, trong khi tỷ lệ người dân sử dụng củi gỗ khoảng 10%.

    Về sử dụng nước của hộ gia đình

    Hành vi sử dụng nước của các hộ gia đình tại TP. Hà Nội cũng được xem xét dưới góc độ ảnh hưởng của nó đến môi trường. Để đánh giá tình trạng tiếp cận nguồn nước sạch của người dân, nghiên cứu này tìm hiểu xem những loại nguồn nước nào được người dân sử dụng trong việc ăn uống và sinh hoạt hằng ngày.

    Đa số người dân có ý thức tiết kiệm nước nhưng vẫn còn 2 hành vi đáng đề cập trong hành vi tiết kiệm nước, gồm: Người dân không quan tâm, kiểm tra thường xuyên ống nước để chống rò rỉ; Người dân không thực sự tận dụng triệt để nguồn tài nguyên nước vốn đã rất hạn chế. Những hành vi tiêu cực này sẽ gây ra một lượng lớn nước sinh hoạt.

    Hình 2 nêu ra một số hành vi tiết kiệm nước của hộ gia đình. Theo đó, để đối phó với tình cảnh này, có khá nhiều phương án được đưa ra như: tiết kiệm, mua nước, sử dụng các nguồn không vệ sinh thì đa số người dân đều không có giải pháp nào thiết thực hơn ngoài việc sử dụng nước 1 cách tiết kiệm (xấp xỉ 95%).

    Về xử lý chất thải sinh hoạt của hộ gia đình

    Theo Hình 3, tỷ lệ hộ gia đình tỷ lệ số hộ gia đình có tham gia dịch vụ thu gom rác tận nhà chiếm 92%, số còn lại (8%) các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu xử lý rác thải sinh hoạt theo kiểu tự phát.

    Giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh của các hộ gia đình tại TP. Hà Nội Thứ nhất, thay đổi nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường.

    Nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu dùng xanh tại Việt Nam nói chung và tại TP. Hà Nội nói riêng, trong thời gian tới cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:

    Chính quyền địa phương cần tích cực truyền thông nhằm giúp người dân nhận thức được mức độ nguy hiểm của các vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, ô nhiễm chất thải và tiếng ồn.

    Trong khi đó, việc mua sắm xanh, tiêu dùng xanh có những lợi ích như nâng cao độ an toàn và sức khỏe cho người dân và cộng đồng; giảm thiểu sử dụng năng lượng và tài nguyên thiên nhiên; phát triển các sản phẩm mới, thân thiện với môi trường hơn. Mua sắm xanh thúc đẩy quá trình tái chế các chất thải, từ việc thu gom, phân loại cho tới sản xuất và phát triển thị trường sử dụng các sản phẩm tái chế, vì thế không chỉ làm người tiêu dùng tiết kiệm được kinh phí mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

    Thứ hai, giải pháp về hành vi sử dụng năng lượng.

    Đồng thời, phát triển mua sắm xanh sẽ kích thích tăng số lượng và chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường. Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược tăng trưởng xanh của Chính phủ, TP. Hà Nội cần dung hòa được các giải pháp như nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng, đặc biệt chú ý đến việc giáo dục cho thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, cần vận động các doanh nghiệp cam kết thực hiện bảo vệ môi trường và cho ra thị trường những sản phẩm xanh, sạch an toàn, chất lượng.

    Chính quyền địa phương cần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các nguồn năng lượng có hại cho môi trường như củi gỗ, than tổ ong… đặc biệt là hạn chế việc đốt rác, đốt rơm rạ tại các khu dân cư, cánh đồng sau khi thu hoạch sẽ gây ra khói bụi và có hại cho sức khỏe của người dân khu vực xung quanh. Bên cạnh đó, cần vận động, khuyến khích những người có thu nhập cao nghiên cứu, ứng dụng nguồn năng lượng này trong tương lai, vừa tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, vừa thúc đẩy tiêu dùng xanh cho thủ đô.

    Tăng cường truyền thông, vận động người dân nhằm nâng cao nhận thức: Thời gian qua, hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm và thu được một số thành quả khả quan góp phần nâng cao nhận thức của mọi người.

    Hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường đã đa dạng hơn; nguồn lực đầu tư cho hoạt động nêu trên được tăng cường; sự phối hợp giữa địa phương và trung ương trong đào tạo, tập huấn, nâng cao kỹ năng truyền thông cho cán bộ làm công tác trong lĩnh vực môi trường ngày càng chặt chẽ.

    Tuy nhiên, nguồn nhân lực làm công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường còn hạn chế: về số lượng và về kỹ năng truyền thông nên hiệu quả truyền thông còn hạn chế, kết quả chưa đạt được như mong muốn; triển khai các hoạt động tuyên truyền pháp luật bảo vệ môi trường chưa thường xuyên, mới tập trung vào các dịp có ngày về môi trường; chưa chú ý đến chiều sâu, hình thức tuyên truyền chưa phong phú…

    Giới thiệu các sản phẩm tiết kiệm năng lượng mới và hướng dẫn người dân chọn mua các thiết bị điện ít tiêu hao năng lượng với giá phù hợp để người dân sử dụng thay thế cho các thiết bị điện đang sử dụng như đèn compact thay cho bóng đèn sợ đốt, các thiết bị tự động hóa ngắt điện.

    – Khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Đẩy mạnh việc thay thế sử dụng các nguồn tài nguyên có cạn kiệt bằng các nguồn tài nguyên, năng lượng mới, có thể tái tạo.

    – Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện môi trường; đổi mới công nghệ và loại bỏ theo lộ trình các công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường

    Thứ ba, giải pháp điều chỉnh hành vi sử dụng nước.

    – Lựa chọn thiết bị tiết kiệm điện: Bởi các thiết bị điện, thế hệ càng mới khả năng tiết kiệm điện càng cao. Điều chỉnh thói quen sử dụng đồ điện theo hướng tiết kiệm trong gia đình.

    Thứ tư, giải pháp, chính sách nhằm điều chỉnh hành vi xử lí chất thải trong sinh hoạt.

    Tuyên truyền hướng dẫn người dân sử dụng nước một cách tiết kiệm nhất, hạn chế tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa hè, và cung cấp thông tin về tác hại của việc lãng phí nước đối với môi trường. Nước là nguồn tài nguyên vô giá nhưng lại không vô tận, chính vì thế tiết kiệm nước là rất cần thiết ngay cả ở những nơi có nguồn nước dồi dào. Ngoài việc tiết kiệm chi tiêu trong gia đình, tiết kiệm nước còn giúp ngăn ngừa cạn kiệt nguồn nước ngầm, ngăn ngừa ô nhiễm nước ở các lưu vực.

    Nhà nước cần hỗ trợ bằng cách khuyến khích và trợ giá cho các đơn vị cung cấp dịch vụ thu gom rác thải tập trung; xây dựng hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lí, tái chế chất thải hoàn chỉnh, trong đó, cần đầu tư bãi rác tập trung đạt yêu cầu để hoạt động thu gom ổn định, lâu dài.

    1. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022;
    2. Bộ Công Thương (2012), Thông tư số 07/2012/TT-BCT về dán nhãn năng lượng chi các phương tiện và thiết bị sử dụng năng lượng…
    3. Phạm Thanh Bình (2016), Phát triển bền vững ở Việt Nam: Tiêu chí đánh giá và định hướng phát triển, Tạp chí Tài chính;
    4. Một số website: chúng tôi monre.gov.vn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Kích Cầu Tiêu Dùng Xanh
  • Tiêu Dùng Xanh: Giải Pháp Hiệu Quả Bảo Vệ Môi Trường Và Sức Khỏe Cộng Đồng, Hướng Đến Phát Triển Bền Vững
  • Ưu Điểm Của Bóng Đèn Đường Led Philips
  • Đèn Đường Led Philips Hình Chiếc Lá Giải Pháp Chiếu Sáng Xanh
  • Giải Pháp Chiếu Sáng Led I4.0 Xanh
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Không Bào Và Dịch Tế Bào
  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc
  • Nhân Và Không Bào Của Tế Bào Thực Vật
  • CHỨC NĂNG KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (Phần 1)

    Trần Võ Như Ý- Khoa Luật, Đại học Duy Tân

    1.1 Khái niệm, đặc điểm chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Nhà nước là một thiết chế đặc biệt của xã hội, có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển xã hội loài người. Nhân loại đã và đang tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phát huy hơn nữa vai trò to lớn của Nhà nước nhằm hướng tới xây dựng một Nhà nước ngày càng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của con người.

    Từ thời cổ đại, vai trò kinh tế của Nhà nước đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như chính trị học, triết học, luật học thể hiện qua các quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc như Aritxtốt, Platôn, Mạnh Tử, Khổng Tử… Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, nhiều lý thuyết kinh tế học chính trị đã đi sâu tìm hiểu về cơ chế tác dụng của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó tiểu biểu như: A.Smith về nền kinh tế tự do, lý thuyết của Keynes về nền kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước, lý thuyết của A.Samuelson về nền kinh tế hỗn hợp. Và lịch sử đã chứng minh các nền kinh tế thị trường thành công đều không phát triển một cách tự phát mà cần có sự can thiệp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vì vậy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với nền kinh tế. Với những quan niệm về vai trò kinh tế của các Nhà nước trên thế giới có thể thấy việc vận dụng mô hình kinh tế hợp lý cũng như xác định rõ vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế hiện đại có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đổi mới Nhà nước ta, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quốc tế cho quá trình nhận thức về chức năng kinh tế của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Chức năng của Nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận Nhà nước và pháp luật, gắn liền với những phạm trù bản chất, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của Nhà nước…Theo từ điển tiếng Việt, “chức năng” là từ gốc Hán bao gồm hai thành tố “chức”“năng”. Thành tố “chức” trong các từ “chức phận”, “chức trách”, “chức vụ”. Thành tố “năng” trong các từ “bản năng”, “năng lực”, “khả năng”. Chức năng được hiểu với hai sắc thái nghĩa là “hoạt động, tác dụng bình thường”“vai trò bình thường hoặc đặc trưng”. Như vậy, chức năng Nhà nước được hiểu như là hoạt động, khả năng vốn có của Nhà nước.

    Trong khoa học pháp lý nước ta đã xuất hiện nhiều quan điểm về chức năng của nhà nước: Theo cách hiểu truyền thống, chức năng của Nhà nước là những phương diện (những phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước; chức năng Nhà nước là sự thể hiện vai trò của Nhà nước đối với xã hội, là biểu hiện cụ thể năng lực của Nhà nước; chức năng của Nhà nước chính là những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể…Trong điều kiện hiện nay, để góp phần xác định đầy đủ khái niệm về chức năng của Nhà nước, theo chúng tôi cần tiếp cận phạm trù chức năng nhà nước gắn liền với bản chất và vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội, đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng kinh tế, chức năng chính trị của Nhà nước. Như vậy, từ phạm trù chức năng của Nhà nước thể hiện vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội có thể hình thành nên khái niệm chức năng kinh tế của Nhà nước như là một bộ phận của khái niệm chức năng nhà nước, cũng như chức năng xã hội, chức năng chính trị của Nhà nước. Từ đó có thể định nghĩa Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (hay chức năng tổ chức và quản lý kinh tế) được hiểu là những hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất mang tính thường xuyên, liên tục thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.

    Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một số đặc điểm sau:

    Thứ nhất, chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng;

    Thứ hai, việc thực hiện chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam phải bảo đảm được định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…;

    Thứ ba, Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác như: kế hoạch, chương trình, quy hoạch phát triển kinh tế; các chính sách kinh tế; bộ máy hành chính và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước.

    1.2 Nội dung, hình thức và nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Nội dung của chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện tập trung ở hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác (như xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội…); hoạt động quản lý đối với doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

    – Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác

    Chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm nhiều thành phần kinh tế với đa dạng các loại hình sở hữu và nhà nước quản lý tổng thể các hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế. Vì vậy, pháp luật có ý nghĩa, vai trò to lớn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế nhưng phải đáp ứng các tiêu chí sau: Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới nhằm tạo cơ sở để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quy định cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các loại thị trường; quy định chế độ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường; quy định các điều kiện cạnh tranh nhằm trật tự hóa thị trường; xác định cơ cấu chủ thể kinh tế thị trường và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới; xác định các quy tắc hành vi của các chủ thể kinh tế; bảo đảm sự an toàn xã hội nhằm khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường; pháp luật quy định cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế. Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng các công cụ quản lý kinh tế sau: Chính sách kinh tế vĩ mô; Chính sách về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế; Chính sách quản lý và sử dụng đất đai.

    Nền kinh tế thị trường là hệ thống phức tạp và đầy biến động, các hoạt động kinh tế đều hướng tới lợi ích cục bộ, vì vậy sự bất ổn, rủi ro và sự xâm phạm lợi ích lẫn nhau có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh để điều chỉnh. Từ nhu cầu khách quan đó mà pháp luật trở thành công cụ không thể thay thế để đảm bảo cho các quan hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định. Bằng cách gián tiếp, Nhà nước tạo ra khung pháp lý cho các chủ thể tự do hoạt động; quy định tư cách chủ thể; ngăn ngừa các yếu tố tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường để vận hành các quan hệ kinh tế một cách thuận lợi, an toàn, đồng thời định ra các phương thức nhằm duy trì và đảm bảo trật tự kinh tế.

    Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh, ổn định nền kinh tế thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng là những đòn bẩy tác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát và hạn chế hậu quả trước các biến động bất lợi của thị trường. Nhà nước quản lý vĩ mô về tài chính đối với các doanh nghiệp thông qua các công cụ như thuế, lãi suất, tỉ giá…Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả cho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức mua đồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn. Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường theo hướng nhất định.

    – Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

    Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng phương pháp kinh tế, vận dụng các quy luật kinh tế để quản lý, đảm bảo hiệu quả quản lý thông qua các công cụ vĩ mô như pháp luật, kế hoạch, chính sách…Nội dung của kế hoạch vĩ mô trong nền kinh tế thị trường là sự cụ thể hóa những quyết định chiến lược, đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu đề ra trong chính sách của Nhà nước. Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là kế hoạch gián tiếp, hướng dẫn và tổng quát thể hiện tính năng động gắn với hiệu quả và lợi ích kinh tế. Với tính định hướng, kế hoạch nhà nước chỉ tập trung vào việc thiết lập các cân đối lớn của nền kinh tế như giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa xuất và nhập khẩu….Nhà nước đưa ra dự kiến về khả năng phát triển kinh tế; điều chỉnh và thay đổi chính sách nhằm hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường đã xóa bỏ mọi hình thức áp đặt trong giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ kế hoạch cho các chủ thể, kích thích các nhà kinh doanh cạnh tranh, cải tiến kỹ thuật công nghệ để đứng vững trên thị trường.

    – Xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế

    Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, trong đó chiến lược phát triển bao gồm hệ thống những mục tiêu, chính sách và giải pháp cơ bản, có tính chất dài hạn về phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng; và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là cụ thể hóa chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng: luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân bố mạng lưới kết cấu hạ tầng trên các vùng lãnh thổ, các giải pháp và tổ chức thực hiện, các công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên.

    – Kiểm tra, giám sát nền kinh tế

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là chủ thể quản lý tối cao thông qua các cơ quan chức năng nhằm điều chỉnh thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Đảm bảo bình đẳng xã hội và giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường

    Cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường thể hiện ưu thế ở chỗ phát huy tính năng động, sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế trong việc đáp ứng nhu cầu phong phú và biến động của xã hội, đồng thời hệ thống pháp luật hướng dẫn, điều chỉnh và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những khuyết tật dễ nhận thấy là: đầu cơ, độc quyền, tiêu thủ cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái…

    Hơn nữa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – điểm khác biệt với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là phải hạn chế thấp nhất tình trạng người bóc lột người, đảm bảo sự bình đẳng xã hội. Việc phát triển kinh tế không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà phải lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm cơ sở để phát triển toàn diện con người, giải quyết hài hòa những vấn đề kinh tế – xã hội, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

    – Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn kinh tế nhà nước

    Chức năng kinh tế của nhà nước không chỉ được thực hiện thông qua sự quản lý, điều tiết và định hướng bằng pháp luật; công cụ quản lý kinh tế như các chính sách kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội mà còn bằng thực lực của kinh tế nhà nước đó là các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước. Việc tăng cường, củng cố, xây dựng và phát triển sức mạnh kinh tế nhà nước nói chung và của doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng trong các ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước vừa là công cụ quản lý kinh tế, vừa là cơ sở kinh tế để nhà nước thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hơn nữa, do thực tiễn nảy sinh ở các nước tư bản chủ nghĩa khi mà các tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh không ngừng lấn át kinh tế nhà nước, các tập đoàn kinh tế tư nhân từ chỗ lũng đoạn kinh tế chuyển sang lũng đoạn chính trị cho nên nhà nước phải quản lý các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước để thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    Về mặt lý luận, các chức năng của nhà nước luôn được thực hiện thông qua những hình thức và phương pháp nhất định của bộ máy nhà nước. Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, do đó các chức năng được thực hiện dưới ba hình thức pháp lý cơ bản là xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và bảo về pháp luật. Với mục đích là xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho Chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng kinh tế thông qua ba hình thức chủ yếu là ban hành pháp luật kinh tế; tổ chức thực hiện pháp luật kinh tế; và bảo vệ pháp luật kinh tế.

    Trên cơ sở phân tích nội dung và hình thức thực hiện chức năng kinh tế, chúng ta có thể đưa ra các nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm hai loại nguyên tắc là:

    – Các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị-pháp lý như: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý kinh tế; tập trung dân chủ; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ.

    – Các nguyên tắc mang tính chất riêng phù hợp với hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước như: Nhà nước quản lý vĩ mô, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam
  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Đề Tài Vị Trí Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Chức Năng Của Gia Đình Hiện Nay
  • Gia Đình Là Gì? Ý Nghĩa Của Gia Đình?
  • Dfc: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Circus
  • Acdf: Dành Cho Người Lớn Trẻ Em Từ Rối Loạn Chức Năng Gia Đình
  • Dfp: Rối Loạn Chức Năng Gia Đình Đi Dã Ngoại
  • biết đầu tiên của con cái cũng được đem lại từ gia đình. Bởi vậy, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái là chức năng thường xuyên của gia đình, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, lối sống, đạo đức của mỗi người. Đối với chức năng này, vai trò của cha mẹ đối với con cái trong việc giáo dục con cái là hết sức quan trọng. Cha mẹ giáo dục con cái về mọi mặt từ nội dung đến hình thức. Nội dung giáo dục trong gia đình mang tính đa dạng, toàn diện. Từ giáo dục về cách ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, anh em, láng giềng… đến những việc nhân nghĩa, tình yêu quê hương, đất nước… hay đó là những bài học về giới tính, lứa tuổi, công việc… Đồng thời, hình thức giáo dục của cha mẹ không chỉ bằng lời nói, thái độ, tình cảm mà cha mẹ phải nêu gương trước, phải trở thành tấm gương mẫu mực cho con cái noi theo. Bên cạnh gia đình, nhà trường, xã hội và các tổ chức quần chúng có sự phối hợp, hỗ trợ trong việc giáo dục con người, nhưng không thể thay thế được. Bởi vậy, sai lầm nhỏ trong việc giáo dục của cha mẹ đối với con cái cũng có thể gây nên hậu quả đáng tiếc. Hiện nay, việc con cái yêu sớm rồi nạo hút thai ngoài ý muốn đang gióng lên hồi chuông báo động không chỉ cho các bậc cha mẹ mà cho cả xã hội. Nhiều người có con cái lâm vào tình trạng này đều đổ lỗi cho xã hội. Nhưng nếu xét kĩ thì nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ em vị thành niên yêu sớm, và quan hệ tình dục dẫn đến nạo hút thai vẫn thuộc về các bậc làm cha làm mẹ nhiều nhất. Vẫn còn đa số các bậc cha mẹ không quan tâm đến các mối quan hệ của con cái ngoài việc học hành của chúng. Đó là chưa kể đến các bậc phụ huynh mải lo buôn bán làm ăn, khoán trắng việc học hành cũng như tâm tư tình cảm của con mình cho người giúp việc, gia sư, nhà trường… Phải chăng, chính từ suy nghĩ và quan niệm như trên mà các bậc phụ huynh đã vô tình cho con mình vào con đường tình ái sớm, để lại hậu quả đáng tiếc cho các em và nỗi hận day dứt cho chính mình. 1.3.3. Chức năng kinh tế. Theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhân tố quyết định trong lịch sử là sản xuất. Bản thân sản xuất lại có hai loại: sản xuất ra con người và sản xuất ra tư liệu sinh hoạt. Bên cạnh việc sản xuất ra con người (chức năng duy trì nòi giống) gia đình còn tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Đây chính là chức năng kinh tế của gia đình. Với chức năng này, gia đình huy động mọi tiềm năng về sức lao động, vốn, tay nghề của nguồn lao động mà gia đình cung cấp cho xã hội. Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính, trình độ… Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình cũng phát triển khá đa dạng, phong phú. Nó thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… trên mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình, đồng thời đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Từ khi chế độ tư hữu ra đời thì người đàn ông chiếm vị trí quan trọng hơn so với người phụ nữ trong lao động. Điều này dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong xã hội như quan niệm: “trọng nam khinh nữ”… Xã hội càng tiến lên, càng phải vật lộn với cuộc sống. Chẳng những người đàn ông mà người phụ nữ cũng phải có tài. Ngày nay, phụ nữ đã và đang chứng tỏ được vai trò của mình trong gia đình với việc thực hiện chức năng kinh tế. Giờ đây, phụ nữ làm giàu còn giỏi hơn đàn ông. Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu Anh, số lượng những phụ nữ giàu có tăng lên rõ rệt. Điều đó khiến chỉ riêng ở Anh đã có tới 360 nghìn nữ triệu phú. Đương nhiên, nó có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân chủ yếu là do các phụ nữ trẻ tháo vát và mạnh dan hơn nam giới trong các vấn đề tài chính, họ tiết kiệm hơn và tính toán hiệu quả hơn, biết tận dụng mọi khả năng của họ tốt hơn nam giới. Phần lớn, những phụ nữ kinh doanh thành đạt thường có gia đình êm ấm, hạnh phúc, hơn nữa người chồng thường hỗ trợ cho vợ bằng cách tự nguyện đảm nhận phần chủ yếu công việc nội trợ. Thế mới biết “thành công trong kinh doanh không phụ thuộc vào giới tính, miễn là bạn có sản phẩm tốt và những kỹ năng cần thiết”. 1.3.4. Chức năng tổ chức đời sống. Đây cũng là chức năng thường xuyên của gia đình. Việc tổ chức đời sống là việc sử lý hợp lý các khoản thu nhập, đóng góp của các thành viên trong gia đình nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên, đồng thời tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khoẻ, tình cảm, trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình. Chức năng tổ chức đời sống, là công việc của mọi thành viên trong gia đình. Nó có tính đa chiều: các thành viên có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Cha mẹ, ông bà có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, cháu chắt. Ngược lại, con cái có bổn phận kính trọng, hiếu thảo và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Trong chức năng tổ chức đời sống gia đình, vị trí, vai trò của người phụ nữ càng nổi lên rõ rệt, thể hiện qua cách cư xử thường nhật: từ chuyện nội trợ đến vai trò, trách nhiệm làm tròn đến đâu với con cái, với cha mẹ hai bên, với họ hàng làng xóm… Công việc nội trợ là công việc rất quan trọng. Người phụ nữ phải biết “giữ” chồng con qua bếp lửa ấm. Còn gì hạnh phúc hơn sau một ngày làm việc mệt mỏi, cả gia đình được sum vầy, ấm cúng bên nhau. Công việc nội trợ vừa gắn kết tình cảm các thành viên với nhau, vừa nhanh chóng tái tạo sức lao động, bồi dưỡng trí lực, thể lực của mọi thành viên trong gia đình… Như vậy, để có hoà khí êm ấm của gia đình hạnh phúc là cả mồ hôi, công sức, đôi khi cả xương máu của người chồng, người vợ và các đứa con – những thành viên luôn khao khát một tổ ấm sum vầy. Dù thế, cuộc sống vẫn như một dòng chảy bất tận, và trong dòng chảy của sinh sôi phát triển, con người luôn truyền giữ nhu cầu xây đắp hạnh phúc dài lâu. Hơn lúc nào hết, mỗi người chúng ta cần ý thức gia đình là vấn đề toàn cầu. Tóm lại gia đình là đặc ân của con người, gia đình luôn đòi hỏi tình yêu thương, ý thức vun đắp dựng xây của mỗi thành viên, qua đó các chức năng cơ bản của gia đình được bộc lộ. Các chức năng của giáo dục không tách rời nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Mỗi một chức năng là một đặc thù của gia đình mà không một cộng đồng xã hội nào có thể thay thế được. Đặc biệt, phải chú trọng đến vai trò người phụ nữ trong gia đình bởi đấy chính là thiên chức của người phụ nữ. Kết quả từ các cuộc thăm dò xã hội cho thấy, tỉ lệ phụ nữ mong ước và đạt kế hoạch cụ thể phấn đấu cho mẫu hình gia đình hạnh phúc thương cao hơn so với nam giới. Như vậy, không nên hiểu nhầm nam giới có ý thức gia đình kém hơn nữ giới. Chẳng qua, thiên chức bẩm sinh của phái mạnh thường hướng về sự nghiệp. Phái yếu thường đề cao vai trò và ý nghĩa của gia đình hơn. Chính vì vậy, quan tâm đến việc xây dựng gia đình tốt là quan tâm đến người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ vừa tham gia các hoạt động xã hội, vừa làm tốt vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình, xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Chương 2. Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay. 2.1. Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay. Gia đình có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngược lại, gia đình cũng chịu tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội . Trình độ phát triển của xã hội quy định các hình thức gia đình và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình . Nước ta hiện nay đang ở chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã thực hiện được nhiều chiến lược đổi mới toàn diện. Đặc biệt nền kinh tế chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của kinh tế, gia đình Việt Nam đã có sự đổi mới so với trước kia. 2.1.1. Gia đình Việt Nam trong lịch sử. Gia đình truyền thống Việt Nam gắn với xã hội cũ: nền kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp, xã hội chịu ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo… Do đó nó mang nặng tính chất phụ quyền và gia trưởng: “trọng nam khinh nữ”, người đàn ông nắm quyền chỉ huy. Gia đình được xây dựng theo kiểu tôn ti trật tự rõ ràng và mọi người đều phải ý thức về phân vị, xử sự theo đúng thân phận của mình. Ví dụ: người phụ nữ tề gia nội trợ, người đàn ông quyết định mọi việc trong gia đình, tham gia vào các hoạt động của làng xóm, dòng tộc. Như vậy, gia đình gia trưởng có nề nếp, nhưng các thành viên trong gia đình có quan hệ bất bình đẳng với nhau (chồng – vợ, đàn ông – đàn bà, người trên – kẻ dưới…). Gia đình gia trưởng rất coi trọng mối quan hệ chiều dọc giữa các thế hệ trên, dưới. Nó chi phối các mối quan hệ ngang như vợ – chồng, mối quan hệ giữa chị – em. Dựa trên quan hệ chiều dọc mà người trên bảo thì người dưới phải nghe. Cha mẹ có quyền quyết định và chi phối mọi hoạt động của con cái và ngược lại, con cái phải phục tùng mọi sự chỉ bảo, sai khiến của cha mẹ. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng ép duyên: “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” tồn tại trong xã hội cũ. Trong khi coi tọng mối quan hệ chiều dọc, mối quan hệ theo chiều ngang bị coi nhẹ đi: cái tôi cá nhân bị chìm ngập trong gia đình, họ tộc. Bên cạnh những mặt hạn chế trên, gia đình truyền thống Việt Nam cũng có nhiều yếu tố tích cực, được lưu truyền đến tận ngày nay. Đó là tình cảm yêu thương gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên, đạo vợ – chồng phải thương yêu nhau, đạo làm con phải hiếu thảo với cha mẹ; rồi tình cảm yêu quê hương, đất nước, dân tộc, tinh thần đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ nhau. Những nét đẹp truyền thống này được gìn giữ và kế tục, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá đậm đà của dân tộc. ở Việt Nam, gia đình kiểu cũ kéo dài hàng ngàn năm đã không thể tự bảo tồn trước sự đổi thay của đất nước. Hoàn cảnh một nước phương Đông bị phong kiến bên trong và thực dân bên ngoài áp bức, đòi hỏi nhân dân ta phải vượt ra khỏi sự kìm hãm và ràng buộc của gia đình cũ. Thời cuộc quyết định thái độ của mỗi người đối với đất nước, với nhà, với bản thân. Lợi ích của quốc tế, thắng lợi của cách mạng Việt Nam không cho phép duy trì sự bất công trong xã hội, sự bất bình đẳng trong gia đình. Tình cảm con người phải vượt qua cái ngưỡng cửa gia đình để vươn tơí những tình cảm lớn hơn của tổ quốc, không cho phép bo bo giữ lấy những gì là hẹp hòi, là thiển cận, phản tiến bộ trong những phép nhà, phép nước của Nho giáo. Cách mạng tháng Tám là một bước ngoặt lớn trong lịch sử. Cách mạng không chỉ giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ nói chung, mà còn giải phóng cho gia đình. Các tầng lớp thanh niên và phụ nữ thoát khỏi sự coi thường và áp chế của bậc bề trên cao tuổi và của nam giới. Cách mạng khơi dậy ở họ những suy nghĩ mới, tình cảm mới, đem lại cho họ sức mạnh để vùng lên, để đứng thẳng với tư thế con người. Hai cuộc kháng chiến đã thu hút những lực lượng vật chất và tinh thần to lớn của cả dân tộc và của mỗi gia đình. thanh niên không còn chỉ ở trong nhà, dưới sự sắp đặt của cha mẹ, mà đã tự khẳng định mình, đứng lên gánh vác sự mệnh thiêng liêng là bảo vệ tổ quốc và chủ động tham gia những công việc chung. Phụ nữ không chỉ còn quẩn quanh làm nội trợ và tham gia sản xuất vì lợi ích gia đình mà phải đảm đang việc nước, việc nhà, cầm cày, cầm súng, không chịu thua kém nam giới. 2.1.2. Gia đình Việt Nam hiện nay. Nước ta đang ở chặng đường đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã từng bước thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội…. mà trọng tâm là chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó kinh tế gia đình có vị trí rất quan trọng và được Đảng và Nhà nước khuyến khích giúp đỡ. Theo Nghị quyết của Đảng: “Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế cách mạng chủ nghĩa”. Gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, không còn tình trạng thụ động, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước như thời kinh tế bao cấp. Ngày xưa ở nước ta đại gia đình truyền thống với tôn ti trật tự cũng là mẫu mực và chuẩn mực của xã hội. Dưới uy quyền của người gia trưởng, gia đình truyền thống đã quy tụ các con cái đã có chồng, có vợ cùng với con cháu họ. Điều được nhấn mạnh trong hoàn cảnh gia đình này là vấn đề dòng dõi, vấn đề chuyển giao tài sản vật chất và tinh thần, chuyển giao truyền thống, chuyển giao những giá trị từng tồn tại trong quá khứ. Ngày nay thì khác, ngày nay trong gia đình thu hẹp, hai vợ chồng cùng với con cái chỉ nghĩ đến tương lai của họ và họ tự làm ra lịch sử của họ. Trong gia đình gọi là gia đình hạt nhân này, những quan hệ về dòng máu, ngày càng nhường chỗ cho mối quan hệ về tình yêu. Gia đình truyền thống nơi chứa đựng những giá trị quá khứ của gia đình, nơi thiêng liêng mà ở đó củng cố và tái hiện mối quan hệ thân tộc thì đã dần dần bị chọc thủng trong mạng lưới đô thị hoá. Với sự biến động thường xuyên của xã hội hiện đại, sự phụ thuộc của cặp vợ chồng vào quá khứ ngày càng giảm bớt. Họ ít nghĩ tới ngôi nhà thời thơ ấu, nơi họ đã sống với cha mẹ của họ. Ngày nay, họ chỉ mong ước xây dựng được một ngôi nhà phù hợp với họ trong một nơi mà họ lựa chọn lấy. Chế độ hôn nhân ở nước ta là chế độ hôn nhân một vợ một chồng thật sự trọn vẹn và được pháp luật ghi nhận. Vợ và chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong đời sống xã hội. Vợ và chồng được tự do lựa chọn những vấn đề riêng, chính đáng như nghề nghiệp, công tác xã hội, học tập và một số nhu cầu khác… Khác hẳn với xã hội cũ, gia đình một vợ – một chồng chỉ là hình thức, chỉ là một chồng đối với phụ nữ, còn đối với đàn ông là chế độ đa thê, người vợ không có tiếng nói trong gia đình. Vì vậy, thực hiện chế độ một vợ – một chồng là thực hiện giải phóng phụ nữ. Hiện nay, các gia đình vẫn phát huy được truyền thống yêu nước. Họ coi bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng. Họ đã động viên con em mình thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự. Còn trong lao động các gia đình hăng say lao động, sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật. Thực hiện đầy đủ bổn phận và trách nhiệm với Nhà nước … Nhìn chung các gia đình luôn luôn có ý thức bảo vệ tài sản Nhà nước, tuân thủ pháp luật. Đất nước ta đang tiến nhanh trên con đường đổi mới. Gia đình cũng đang tiếp tục chuyển biến. Cái mới và cái cũ còn đan xen nhau. Không còn chữ Hiếu mù quáng như xưa. Nhưng trong gia đình lại có không ít hiện tượng cha mẹ thờ ơ với việc nuôi dạy con cái còn con cái thì hỗn láo, bạc đãi cha mẹ. Cũng không ít những hiện tượng bất hoà và tranh chấp giữa anh em, chị em. Sự biến đổi trong quan hệ gia đình diễn ra khá phức tạp. Mấy năm gần đây lại xuất hiện khuynh hướng trở lại với những nền nếp của gia đình xưa. Người ta xây dựng nhà thờ, sửa sang lại mồ mả tổ tiên, lập lại gia phả, đi lại thăm hỏi lẫn nhau, bày tỏ tình cảm sẵn sàng cưu mang lẫn nhau trong nội bộ gia đình và dòng họ. Tuy nhiên, khôi phục truyền thống không có nghĩa là quay trở lại những cái tiêu cực của gia đình kiểu cũ, trong đó có nhiều nguyên tắc đã lỗi thời của đạo đức Nho giáo. Trong xã hội ta hôm nay và ngày mai, gia đình vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung của đất nươc. Đạo đức cũ của dân tộc trong đó có những nhân tố đạo đức. Nho giáo còn tiếp tục đem lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích nhưng chúng ta lại không thể tiếp thu toàn bộ những quy tắc sinh hoạt của gia đình kiểu cũ. Chúng ta cũng không thể bắt chước nước này hay nước khác trong cách thức họ tiếp thu những quan điểm Nho giáo về gia đình để phục vụ cho chế độ xã hội của họ, cho lợi ích giai cấp của giới cầm quyền. Sự khác nhau giữa ta với họ là sự khác nhau giữa hai chế độ. Khi giai cấp phong kiến hay giai cấp tư sản còn nắm quyền điều hành đất nước thì sinh hoạt và đạo đức gia đình ở những nước này không giống như sinh hoạt và đạo đức trong gia đình ở những nước mà nhân dân đã nắm chính quyền làm chủ đất nước như ở Việt Nam. Gia đình Việt Nam ngày nay không nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và tư sản mà lại ra đời trên cơ sở đánh đổ những chế độ ấy. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình cũ là quyền lợi kinh tế của mỗi thành viên do người gia trưởng chi phối. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình mới là tình cảm trong sáng và sâu sắc giữa các thành viên trên cơ sở quyền lợi chung của dân tộc và quyền tự do hạnh phúc của mỗi con người. Tình cảm gia đình hiện nay phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện chứ không phải do sự áp đặt của quyền lực chính trị và sự trói buộc của quyền lợi kinh tế. Tình cảm sâu sắc trong gia đình nhỏ tất yếu dẫn tới những tình cảm đối với gia đình lớn, với bà con trong thân tộc, với dòng họ, với láng giềng xóm phố, với địa phương mình ở và thiêng liêng hơn nữa là tình cảm sâu sắc đối với tổ quốc của mình. Những tình cảm ấy là cơ sở vững chắc của mọi quan hệ đạo đức giữa người với người, cần được khồng ngừng củng cố và nâng cao ở mọi thành viên từ nhỏ đến lớn. Chính vì thế, giải pháp gia đình trước hết là giải pháp tình cảm. Để thực hiện giải pháp này nhân dân ta đã có rất nhiều sáng kiến được thực hiện có kết quả. Gia đình Việt Nam đang xây dựng những quy tắc mới bảo đảm những quan hệ lành mạnh và có kỷ cương giữa các thành viên trong gia đình. ở đây, những tình cảm lành mạnh và sâu sắc thể hiện qua những quan hệ chung thuỷ thân yêu, chăm lo cho sự tiến bộ của nhau về đạo đức và tài năng, phục vụ cho lý tưởng cao cả của dân tộc. Tình cảm ấy không giống như tình cảm ngày xưa thể hiện ra bên ngoài qua thái độ sợ sệt và hống hách ở chế độ phong kiến trong quan hệ giữa tầng lớp vua quan thống trị và các tầng lớp nhân dân bị thống trị. Sự bất bình đẳng này trong xã hội vốn tìm chỗ dựa của nó trong sự bất bình đẳng trong gia đinh. Nhân dân ta đã từng đổ bao xương máu và mồ hôi để giành lại độc lập tự do, xây dựng một cuộc sống bình đẳng và dân chủ. Gia đình phải là nền tảng của xã hội mới, phải bảo vệ những thành quả mà cách mạng đã đạt được chứ không phải đi ngược lại những thành quả ấy. 2.2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng gia đình hiện nay. 2.2.1. Những vấn đề đặt ra: *Bạo lực trong gia đình: Bạo lực trong gia đình là “bất kì một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”. Như vậy, bạo lực trong gia đình được đề cập đến nhiều nhất, nó tồn tại ở mọi vùng lãnh thổ, mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Thời gian gần đây xu hướng phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế và xã hội đã đem lại cho hộ gia đình những chức năng và vai trò kinh tế – xã hội mới vô cùng quan trọng. Địa vị vai trò của các thành viên trong gia đình cũng thể hiện theo những xu hướng rất khác nhau. Đàn ông hành xử có tính hướng ngoại. Phụ nữ, ngoài việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, còn phải gánh vác hâu như toàn bộ công việc gia đình. Nhất là ở nông thôn, khu vực kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, phụ nữ luôn là lao động chính trong hầu hết các khâu cảu quá trình sản xuất. Bạo lực không nhìn thấy được gắn liền với bất bình đẳng trong phân công lao động đang có xu hướng tăng lên. Trong xã hội hiện đại, bạo lực trong gia đình, ngày càng được biết đến với nhiều dạng thức tinh vi, gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ trong gia đình, mà còn cho cả xã hội. Nỗi đau về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, sự rạn vỡ các quan hệ thiêng liêng trong gia đình khó mà hàn gắn được. “ở Mỹ cứ 100 vụ ly hôn có 90 do bạo lực – Thái Lan là 76, ở Hà Nội là 51. Thành phố Hồ Chí Minh là 56. Chênh lệch này không phải do ở ta ít mà do phụ nữ không nói ra, do vậy phải đưa pháp luật vào gia đình” (M.Hoàng – Đăng Khoa, Lao động, 19-9-1999). Bạo lực trong gia đình ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng tới việc giáo dục, hình thành nhân cách, hành vi và ứng xử của con trẻ – nguồn lực cơ bản trong tương lai của xã hội. Trẻ trưởng thành trong các gia đình nhiều hành vi bạo lực, thường có các biểu hiện tâm lý: “Trẻ không biết ai đúng sai? Nghe theo ai?, trẻ trở nên bướng không vâng lời, trở nên hiếu thắng bằng bạo lực, dùng bạo lực với người khác, khi có gia đình lại lặp lại gương của bố mẹ”. (Nguyễn Vũ, Giáo dục và thời đại, 20-1-2000). Nếu lời cảnh báo trên được kiểm chứng, thì để chống lại “vi rút bạo lực”, xã hội không có phương thuốc nào hiệu quả hơn là ngăn chặn bằng mọi cách, bạo lực trong gia đình – môi trường xã hội hoá đầu tiên của trẻ thơ. Muốn hạn chế được bạo lực, việc đầu tiên là cần nâng cao đời sống tinh thần – văn hoá – xã hội, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho phụ nữ, tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể, hội phụ nữ… Bên cạnh thiết chế thân tộc, thái độ đúng đắn và tích cực của cộng đồng nơi cơ trú và làm việc của phụ nữ cũng là tác nhân tham gia vào quá trình kiểm soát và điều hoà, làm giảm bớt thói gia trưởng- nguyên nhân sâu xa của bạo lực. Đối với nạn bạo lực, ngoài sự can thiệp của luật pháp, áp lực của cộng đồng và các tổ chức xã hội, khi bạo lực xảy ra, chưa có sự can thiệp kịp thời từ bên ngoài, ở Việt Nam chúng ta nên chăng thử học tập kinh nghiệm của nước ngoài đó là nhà tạm lánh. “Nhà tạm lánh phải được phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức từ thiện – không chỉ để lánh mà còn tư vấn thậm chí còn dạy nghề. Quan niệm Việt Nam khó chấp nhận phụ nữ bỏ nhà ra đi. Khi hỏi người bị chồng đánh thì 13,3% cần tạm lánh, 86,7% không thể rời gia đình (mẫu 150). (Nguyễn Thiện, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, 6-11-1999). Tuy nhiên, ai đứng ra xây dựng Nhà nước hay cộng đồng? Quản lý và hoạt động của nhà tạm lánh như thế nào còn là thách thức lớn với các nhà làm công tác xã hội ở nước ta. Một trở ngại khác là ràng buộc của tập tục phong kiến còn nặng trong chị em – nạn nhân chủ yếu của nạn bạo lực. *Tảo hôn, tình dục trước hôn nhân, sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Thanh niên đô thị hiện nay có xu hướng chung là chậm kết hôn, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có con chậm, dành thời lực cho sự nghiệp. Thậm chí không ít người chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây, chấp nhận cuộc sống độc thân mưu cầu danh nghiệp. Ngược lại, thanh niên nông thông vẫn đang trong tình trạng tảo hôn. Những vùng dân tộc thiểu số hay các địa phương có đặc trưng riêng như ngư dân, làng nghề gia truyền tinh xảo,… nạn tảo hôn càng nghiêm trọng. Nạn tảo hôn ở nông thôn gấp 4 lần ở thành phố, trình độ văn hoá chủ yếu là chưa hết phổ thông trung học. Học vấn tỷ lệ nghịch với tảo hôn. Luật hôn nhân gia đình nước ta quy định nữ 18 tuổi mới được kết hôn, nhưng thực tế tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra công khai, pháp luật bị vi phạm ngang nhiên. Vì thế có thể nhìn thấy rất rõ sự sai lệch giữa các thể chế thực thi pháp luật và những ràng buộc khác trong cộng đồng ở nưcớ ta. ở nông thôn khi có trường hợp tảo hôn, chính quyền xã – cơ quan cấp giấy đăng ký kết hôn – biết thì cũng ít có khả năng ngăn chặn vì chúng đều là con cháu trong nhà. Nếu chính quyền không cho đăng ký thì lễ cưới vẫn được tổ chức, vài năm sau, có con lúc đó đã đủ tuổi thì đăng ký. Chính quyền không có bất cứ một biện pháp cưỡng chế hay chế tài nào. Khi còn kinh tế tập thể, việc thể chế bằng các biện pháp kinh tế của hợp tác xã, và hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng đã góp phần hạn chế tình trạng tảo hôn. Dường như tự chủ về kinh tế, làm cho các bậc cha mẹ cảm thấy họ có quyền tổ chức hôn nhân cho con bất cứ lúc nào họ thích. Quan hệ tình dục sớm, tình dục trước hôn nhân là hiện trạng đáng báo động. Nếu như ở nông thôn, tảo hôn là vấn đề nhức nhối, thì ở thành phố, xu hướng tách rời quan hệ tình dục với hôn nhân (được hiểu theo nghĩa trước và ngoài hôn nhân) đưa đến những hệ luỵ vô cùng nguy hại. Những “bà mẹ bất đắc dĩ”, những cuộc trả thù tình địch dã man, những vụ quyên sinh đầy thương tâm, là hậu quả xã hội của những hành vi tình dụng phi chuẩn mực và thiếu hiểu biết trong quan hệ giới tính. Nguyên nhân về mặt xã hội là sự buông lỏng kỷ cương, chuẩn mực đạo đức trong quá trình tăng trưởng kinh tế và mở cửa. Bố mẹ bị cuốn theo nhịp sống sôi động, không gần gũi con cái, ảnh hưởng của văn hoá đồi truỵ… Trong khi đó trẻ vị thanh niên đang trải qua giáo dục biến chuyển rất phức tạp về tâm-sinh lý, đòi hỏi việc quan tâm thường xuyên của cha mẹ, nhà trường và người xung quanh “Các biện pháp giáo dục giới tính, tránh thai chưa tới được vị thành niên, cần nghiên cứu đưa vào nhà trường. Chưa tận dụng hết được năng lực của các chuyên gia, học giả” (Nguyễn Văn Dũng, Nhân dân, 12-1-2000). *Giới, bất bình đẳng giới, phân công lao động gia đình và địa vị xã hội. Bản chất mối quan hệ gia đình phản ánh nền văn hoá của một dân tộc, tính chất của chế độ chính trị, xã hội và tác động của các nền văn hoá khác. Địa vị, vai trò của phụ nữ Việt Nam luôn bị ảnh hưởng bởi tập tục và lễ giáo phong kiến, hằn sâu từ bao đời trong nếp nghĩ, cách hành xử nơi gia đình và xã hội. Họ luôn phải đối mặt với áp lực công việc và áp lực gia đình. Đối mặt với sự khó tương thích giữa chăm sóc gia đình, giáo dục con cái được coi là thiên chức của phụ nữ – với nâng cao địa vị xã hội – nghề nghiệp. Sự bất bình đẳng giới được bắt nguồn từ trong gia đình, từ những mối quan hệ gần gũi như quan hệ vợ chồng. Chính vì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết, Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu Theo Nguyên Lý Y Học Gia Đình
  • Cac Cong Cu Ho Tro Trong Y Hoc Gia Dinh
  • Điểm Số Apgar Là Gì?
  • Cách Khắc Phục Lỗi Bộ Lọc Trong Bảng Tính Excel
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt một tầm cao mới. Nguồn: internet

    Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện

    Trong hơn 30 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

    Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú; Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

    Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt… Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTQT và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm:

    Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung ứng cho phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.

    Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2022 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2022, hiện đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.

    Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2022) lên 2.587 USD (năm 2022), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 – 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2022 đạt 6,68%; 2022 đạt 6,1%, năm 2022 GDP đạt 6,81%, năm 2022 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).

    Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…

    Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.

    Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2022-2020. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động…

    Một số vấn đề đặt ra

    Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình HNKTQT của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể như:

    – Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đó tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước.

    – Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại.

    – Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc; Tình hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn; Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn hạn chế…

    – Một bộ phận đầu mối về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT chưa đạt được kết quả như mong muốn.

    Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

    Mặc dù, tiến trình HNKTQT đã đạt được những kết quả tích cực, song trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường như hiện nay, Việt Nam cần chủ động triển khai HNKTQT lên mức toàn diện, sâu rộng, đổi mới sáng tạo và hiệu quả hơn. Trước mắt, cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm sau:

    Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.

    Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và DN.

    Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2022 (tháng 6/2019), Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam…

    Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng FTA.

    Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.

    Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập. DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

    1. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; 2. Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; 3. Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 4. Quyết định số 27/QĐ-BCĐHNQT ngày 26/4/2014 của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 5. Quyết định số 04/QĐ-BCĐLNKT ngày 09/1/2015 của Ban Chỉ đạo liên ngành kinh tế ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế; 6. Vũ Văn Hiền (2018), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Hội đồng Lý luận Trung ương; 7. Thanh Giang (2019), Hội nghị tăng cường hội nhập quốc tế chủ động, sáng tạo, hiệu quả vì phát triển nhanh và bền vững, Báo Nhân dân diện tử; 8. Lê Hoài Trung (2019), Đối ngoại đa phương góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước; 9. Hoàng Xuân Hòa (2019), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sau 5 năm nhìn lại, Văn phòng Chính phủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Nhiều Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • “gia Đình Việt Nam Trong Bối Cảnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Và Hội Nhập Quốc Tế”
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh
  • Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2
  • Ngày đăng: 06/12/2018 05:53

    Gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt trong cơ cấu của xã hội. Sự ổn định và phát triển của gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển xã hội. Việt Nam là một trong số những nước có truyền thống tôn trọng gia đình. Tuy nhiên, đã có một thời gian dài do phải tập trung giải quyết các vấn đề giải phóng dân tộc, thống nhất và xây dựng đất nước nên chúng ta đã không có điều kiện để nghiên cứu về gia đình. Gia đình ở nước ta, bên cạnh những bước phát triển mới, tiến bộ, thuận lợi cũng phải đối diện với rất nhiều thách thức và bước đầu có những dấu hiệu của sự khủng hoảng. Những định hướng về xây dựng giá trị, chuẩn mực gia đình trong thời kỳ mới chưa rõ ràng và chưa trở thành học thuyết cho các gia đình noi theo. Bởi vậy, nghiên cứu về gia đình nhằm xây dựng những luận cứ khoa học cho việc củng cố và phát triển gia đình là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam hiện nay.

    1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu khoa học về gia đình

    1.1 Đóng góp về lý luận của các nghiên cứu gia đình trên thế giới

    Có thể nói, gia đình gắn bó chặt chẽ với con người và xã hội, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Điều này dẫn tới nhu cầu phải liên kết các ngành khoa học trong nghiên cứu gia đình và việc hình thành một chuyên ngành khoa học còn khá mới mẻ gọi là Gia đình học (Family Study).

    Từ thời cổ đại, ba trụ cột triết học cổ điển Hy Lạp: Socrates (469-399), Platon (427-347), Aristoteles (384-322) trước Công nguyên đã đặt nền móng cho nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Platon đã đề cập nhiều về gia đình và cá nhân trong mô hình quản lý của “nhà nước lý tưởng”. Tuy nhiên, có thể coi nhà triết học Hy Lạp Aristoteles là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về gia đình một cách hệ thống. Ông đã dựa vào phương pháp phân tích thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và xác định hệ thống gia đình một cách tổng quát và coi gia đình là một phạm trù biến đổi, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính đặc thù của các xã hội.

    Ở phương Đông, các nhà kinh điển của Nho giáo Trung Quốc đặt gia đình vào mối quan hệ với toàn bộ hệ thống xã hội của con người, coi Nhà là mắt xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thế giới (Thân – Nhà – Nước – Thiên hạ). Các tác phẩm của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử (Nho giáo nguyên thủy) và Trình Y Xuyên, Đổng Trọng Thư (hậu Nho) đã đặt nền móng cho các quan điểm nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên là những nước theo Nho giáo thời cổ.

    V.Ph.Hêghel là nhà triết học duy tâm khách quan nổi tiếng của nước Đức đã đưa ra các vấn đề về mối quan hệ biện chứng trong gia đình. Nhà triết học Pháp J.J. Rousseau đã chỉ rõ xã hội tư bản trong giai đoạn đầu tiên đang phá hoại các chuẩn mực văn hoá gia đình truyền thống và khuyên con người nên trở lại gia đình truyền thống (J.J. Rousseau, 1964). Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, Thomas More, Charles Fourier, Robert Owen, Saint-Simon đã đưa ra mô hình bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

    Trên thế giới, những nghiên cứu khoa học về gia đình một cách thực sự bài bản và có hệ thống được bắt đầu từ thế kỷ XIX. Việt Nam chịu ảnh hưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với bộ “Tư bản” của C.Mác, tác phẩm “Nguồn gốc Gia đình, của Chế độ tư hữu và của Nhà nước” của Ph.Ănghen, các tác phẩm của V.I.Lênin về Cách mạng tháng Mười, về gia đình vô sản đã đưa ra quan điểm về giải phóng con người, gia đình theo chế độ một vợ một chồng, bình đẳng nam nữ, gia đình dựa trên tình yêu, con người yêu và sống có trách nhiệm với nhau mà không có sự kỳ thị, phân biệt.

    1.2 Đóng góp lý luận của các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam

    Ngay từ thời phong kiến, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ đã chú ý tới gia đình, điển hình là tác phẩm “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi, “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Tuy nhiên, phải đến năm 1986, các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam mới được phát triển một cách có hệ thống. Cũng như nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu gia đình Việt Nam được đề cập tới từ nhiều góc độ triết học, sử học, dân tộc học, văn học, tâm lý học, giáo dục học, dân số học, văn hóa học, nhân loại học, phụ nữ học, giới…

    Có thể chia ra ba mảng nghiên cứu lớn: nghiên cứu về các chính sách gia đình và tác động của chính sách đối với gia đình; các vấn đề về gia đình truyền thống (giai đoạn trước năm 1945); các vấn đề về gia đình hiện đại (từ năm 1945 đến nay).

    Trước hết là các vấn đề về chính sách gia đình:

    Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại không chỉ là cuộc cách mạng xã hội mà còn là cuộc cách mạng về gia đình. Nó tạo ra sự biến đổi lớn lao cho gia đình, tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề bất công trong gia đình như bất bình đẳng giới, giải phóng và giáo dục con người. Việc đấu tranh nhằm xoá bỏ những tập quán lỗi thời, những hiện tượng phản nhân văn trong đời sống gia đình đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các chính sách về gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật Người cao tuổi…; các chiến lược quốc gia về gia đình đã nhất quán quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về gia đình, đó là: thực hiện chế độ một vợ, một chồng; cha mẹ gương mẫu, con cái hiếu thảo; anh em giúp đỡ, hòa thuận; tôn trọng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới; bảo vệ trẻ em; chăm sóc người cao tuổi; bảo vệ quyền cá nhân hợp pháp trong gia đình; xây dựng gia đình văn hóa; xác định quyền và trách nhiệm của các cá nhân trong gia đình; quyền lợi và trách nhiệm của gia đình với xã hội, ngược lại – trách nhiệm và quyền lợi của xã hội với gia đình; gia đình tuân thủ và thực hiện luật pháp…

    Những chính sách trên đã tạo điều kiện cho các nghiên cứu về gia đình phát triển. Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố kết quả cơ bản về phân bố dân số và nhà ở của thành thị, nông thôn và tỷ lệ tăng dân số theo vùng kinh tế – xã hội, tỷ lệ giới tính.

    Từ công cuộc đổi mới (năm 1986), các cuộc điều tra xã hội học về gia đình do nhiều cơ quan tiến hành đã đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về gia đình Việt Nam hiện đại. Có thể nêu một số tác phẩm về gia đình như: “Gia đình học” (2007) của Đặng Cảnh Khanh và Mai Thị Quý đã trình bày tương đối toàn diện về vấn đề gia đình ở Việt Nam và một số nghiên cứu của gia đình trên thế giới; nghiên cứu về gia đình và biến đổi gia đình ở nông thôn của Vũ Tuấn Huy trong tác phẩm “Xu hướng gia đình ngày nay” đã phân tích sự chuyển đổi của hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và đưa ra các chỉ báo thú vị về gia đình trong hiện tại và tương lai; tác giả Nguyễn Từ Chi đưa ra nhiều nhận định dân tộc học và xã hội học về gia đình trong “Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam”. Tác giả Nguyễn Đình Tấn trong “Sự thay đổi vai trò của người chồng, người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại” đã nêu ra một vấn đề rất mới về người đàn ông trong xã hội bình đẳng giới. Đây cũng là nghiên cứu khẳng định sự thay đổi từ thời đại gia trưởng sang thời đại bình đẳng giới khi quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang được Nhà nước và xã hội bảo vệ. Tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về vị thành niên trong tác phẩm “Một số vấn đề từ những khảo sát xã hội học về vị thành niên trong môi trường gia đình” và người cao tuổi trong tác phẩm “Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam”. Tác giả đã phân tích hai thế hệ khác biệt về tuổi tác, lối sống, điều kiện sống, nhu cầu, sở thích trong gia đình; đã đưa ra những khuyến nghị cho Nhà nước và thông điệp cho xã hội cần phải có các chính sách khác biệt cho mỗi thế hệ trong gia đình…

    Từ những nghiên cứu về gia đình nêu trên, có thể đưa ra một số vấn đề lý luận sau:

    – Gia đình Việt Nam có những bước phát triển đặc trưng giống với các nước khác từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam cũng có những nét đặc trưng riêng, đó là sự kết tinh của văn hóa truyền thống Việt Nam, một xã hội nông nghiệp theo Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và văn hóa bản địa đặc sắc thể hiện qua lối sống, các giá trị chuẩn mực, các tục lệ và tín ngưỡng của các vùng miền.

    – Gia đình Việt Nam phát triển trong một xã hội đa dân tộc, vì vậy vừa có tính chung vừa phản ánh tính riêng của các dân tộc, đa dạng trong sự thống nhất.

    – Gia đình Việt Nam đổi mới theo chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ và đóng góp to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

    – Gia đình Việt Nam đang kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thời đại và đang chịu ảnh hưởng của các trào lưu, lối sống hiện đại của nhiều nước trên thế giới trong xu thế mở cửa kinh tế và toàn cầu hóa.

    2. Cơ sở thực tiễn của xây dựng gia đình Việt Nam

    Sự tồn tại của gia đình với các hoạt động phong phú qua các thời đại lịch sử là cơ sở thực tiễn để xây dựng và phát triển gia đình. Việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành các chính sách, xây dựng những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình. Gia đình phát triển sẽ không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình, hình thành nhân cách con người mà còn kiến tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hoà và toàn diện. Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người và xã hội.

    Trước hết, chức năng kinh tế của gia đình khẳng định gia đình không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho sự tồn tại của mình mà còn cung cấp lực lượng lao động, của cải cho xã hội và tham gia vào các quá trình kinh tế của xã hội từ sản xuất, phân phối đến trao đổi và tiêu dùng. Mọi nhân tài của đất nước, từ các anh hùng, vĩ nhân, cán bộ, những người lính cũng như các tầng lớp công nhân, nông dân, lao động tự do, trí thức đều xuất thân từ gia đình. Bước qua ngưỡng cửa của gia đình, họ có mặt trên tất cả các vị trí, điều tiết và vận hành bộ máy của xã hội.

    Chức năng văn hóa của gia đình đã đóng góp vào việc xây dựng các chuẩn mực và giá trị đạo đức, phong tục tập quán, lối sống văn hoá, giáo dục của xã hội. Gia đình là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với làng xóm, cộng đồng, đất nước. Đây chính là những nhân tố “phi kinh tế” không thể thiếu được để thúc đẩy và dẫn đường cho những phát triển về kinh tế.

    Chức năng tinh thần, tình cảm của gia đình là một chức năng đặc biệt. Từ tình thương yêu đối với gia đình dẫn tới tình thương yêu đối với cộng đồng, xã hội, Tổ quốc. Chính tình thương yêu đó là chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của đất nước trước những biến động dữ dội của lịch sử. Người Việt Nam giải quyết tất cả các mối quan hệ không chỉ theo luật pháp mà còn trên cơ sở của tình nghĩa.

    Trong gia đình Việt Nam truyền thống, “hiếu đễ” được coi là cái gốc của đạo lý. Ai bất hiếu với cha mẹ, tàn nhẫn với anh, chị, em mình thì không thể là người tốt và đáng tin cậy trong xã hội được. Bên cạnh đó, mối quan hệ trên dưới trong gia đình được quy định rất rõ ràng. Con người, trước hết là một bộ phận của gia đình, là một mắt xích bắt nguồn từ tổ tiên đến con cháu sau này. Ở những vị trí cụ thể của mình là cha, con, chồng, vợ đều phải ứng xử theo phận sự của mình, cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, thủy chung, anh chị nhường nhịn em, em kính trọng anh chị. Nếu tất cả các thành viên đều giữ đúng lễ nghĩa của mình thì gia đình mới ổn định, xã hội mới thái bình.

    Chức năng sinh sản, duy trì và phát triển nòi giống cũng được quan tâm hơn trước. Các gia đình không còn sinh nhiều con với chất lượng thấp mà quan tâm đến việc ít con với chất lượng cao. Chất lượng sống, chất lượng con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết gia đình hiện nay.

    Chức năng giáo dục của gia đình đóng vai trò quan trọng, là cốt lõi trong chức năng giáo dục của xã hội. Nó là nền tảng của giáo dục xã hội trong việc hình thành nhân cách con người, cách ứng xử và đạo đức của con người. Con người mẫu mực thường xuất thân trong các gia đình có nền giáo dục cao (gia giáo), ngược lại những gia đình khủng hoảng, bỏ rơi con cái, quan hệ phức tạp sẽ tạo ra những con người ốm yếu về thể chất, tinh thần hoặc rơi vào tệ nạn xã hội và tệ hại hơn là vi phạm pháp luật, tội phạm.

    Điều quan trọng hiện nay là làm rõ một số vấn đề như gia đình cần kế thừa và phát huy truyền thống gì, tiếp thu tính hiện đại nào? Cha mẹ thường dạy con theo bản năng, kinh nghiệm học được từ thế hệ trước hoặc từ sách báo, vì vậy nhìn chung sự giáo dục này không được nhất quán và toàn diện trong khi xã hội phát triển đa dạng trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Cũng cần thấy rõ những biểu hiện tiêu cực hiện nay của gia đình, chẳng hạn, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, giá trị của đồng tiền đã và đang len lỏi vào các mối quan hệ gia đình. Hiện tượng này mang lại cả hiệu quả tích cực lẫn tiêu cực. Sự bận rộn của các thành viên gia đình trong các hoạt động kinh tế và xã hội làm giảm sút thời gian sinh hoạt tập thể của gia đình. Vấn đề chăm sóc và giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ già cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, lối sống tự do của các xã hội công nghiệp phát triển đã xâm nhập vào nước ta và thực sự chưa phù hợp với trình độ phát triển cũng như truyền thống dân tộc. Trong khi đó, những nếp nghĩ và thói quen lạc hậu, cổ hủ, phong kiến đang có xu hướng phục hồi. Những quan niệm của chủ nghĩa gia trưởng, thói coi thường phụ nữ, nạn bạo lực, xung đột trong gia đình đã phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Hiện tượng khủng hoảng của gia đình hiện nay là tất yếu khi gia đình không có nhiều sức đề kháng trước những cơn bão của xã hội, thời cuộc.

    Ngày nay, giáo dục gia đình không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà ông bà, cha mẹ còn phải được học tập, có thể học từ trường lớp, học từ sách báo và phải tuân theo pháp luật. Giáo dục nhân cách con người theo các chuẩn mực truyền thống là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh cần được khôi phục trong bối cảnh các chuẩn mực đó đang dần mất đi, nhưng cũng cần được bổ sung theo các quan điểm hiện đại. Các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không chỉ dựa trên tình yêu thương mà còn trên cơ sở của pháp luật về quyền tự do cá nhân. Trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong gia đình cần phải tiến dần tới sự công bằng, mối quan hệ giới phải được coi là tiến bộ và được pháp luật bảo vệ.

    3. Một số đề xuất, kiến nghị

    – Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách về gia đình cần dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về gia đình. Lý luận soi đường, đem đến những kinh nghiệm quý báu, những bài học sâu sắc, còn thực tiễn là các trải nghiệm để chúng ta hoàn thiện gia đình. Do đó, cần nhận dạng gia đình với các mặt tích cực và thách thức, đồng thời dự báo hướng phát triển của gia đình trong tương lai.

    – Đảng và Nhà nước cần có các chính sách sát hợp với gia đình dựa trên cơ sở khoa học để quản lý sự phát triển gia đình đúng hướng, tạo sự hài hòa giữa gia đình và xã hội, bảo đảm các yếu tố truyền thống có chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Thực hiện quản lý nhà nước về gia đình, đặc biệt trong các trường hợp gia đình suy thoái, khủng hoảng, bạo lực, tệ nạn xã hội và tội phạm.

    – Tạo mối quan hệ lành mạnh giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình với luật pháp. Gia đình vừa đóng vai trò tích cực, tham gia vào xây dựng, phổ biến chính sách vừa thực hiện, phản biện và kiểm soát chính sách.

    – Cần quan tâm đến việc phát triển gia đình đa dạng hiện nay. Đó là các gia đình đa văn hóa đang ngày càng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Du Lịch Việt Nam Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Chức Năng Của Xuất Khẩu Và Vai Trò Của Xuất Khẩu Ra Sao ?
  • Trên Cơ Sở Hiến Pháp Mới, Cần Định Đúng Vị Trí, Vai Trò Của Nhà Nước Và Kinh Tế Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Vai Trò Điều Tiết Kinh Tế Vĩ Mô Của Nhà Nước Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Phân Tích Về Lĩnh Vực Du Lịch
  • Những Biến Đổi Của Gia Đình Việt Nam Hiện Nay Và Một Số Khuyến Nghị Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Hay Về Tình Cảm Gia Đình, Em Hãy Trình Bày Cảm Nhận Của Mình Khi Được Sống Trong Vòng Tay Yêu Thương Của Gia Đình
  • Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi
  • Đánh Giá Bếp Điện Sanaky Có Tốt Không, Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu
  • Chức Năng Của Gia Đình Trong Việc Nuôi Dưỡng Và Hình Thành Con Người
  • Mô Tả Công Việc Giám Đốc Tài Chính
  • Trước tác động của bối cảnh mới hiện nay, các giá trị gia đình Việt Nam đang có những biến đổi nhất định cần được nhận biết, đánh giá, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào thành công của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

    Xu hướng biến đổi giá trị đạo đức, tâm lý và tình cảm của gia đình Việt Nam đương đại

    Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

    Gia đình là giá trị quan trọng hàng đầu

    Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị (Biểu 1). Khái niệm gia đình ở đây là mô hình gia đình truyền thống được xây dựng trên cơ sở hôn nhân.

    Biểu 1. Sắp xếp thứ tự ưu tiên trong cuộc sống theo giới tính (1)

    Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại

    Trong số các giá trị đạo đức, tâm lý, tình cảm của gia đình, giá trị chung thủy là giá trị rất được coi trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được người dân đánh giá cao nhất, sau đó là đến các giá trị tình yêu thương, bình đẳng, có con, chia sẻ việc nhà, hòa hợp, có thu nhập. Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 41,6% coi chung thủy là “quan trọng”, và 56,7% coi chung thủy là “rất quan trọng” trong hôn nhân. Đồng thời, nghiên cứu cho thấy hiện tượng bảo lưu những tiêu chuẩn kép khắt khe với phụ nữ và xu hướng vị tha hơn cho nam giới trong vấn đề chung thủy (giá trị “chung thủy quan trọng hơn với phụ nữ” có tỷ lệ đồng ý cao là 66,2%). Điều này cho thấy, chung thủy vẫn là thước đo phẩm giá của người phụ nữ khi họ được kỳ vọng là nhân tố giữ gìn cho sự êm ấm, tốt đẹp của gia đình và xã hội.

    Giá trị tình yêu là một giá trị bảo đảm sự bền vững của hôn nhân, nhất là hôn nhân hiện đại dựa trên tình yêu để kết hôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự khác biệt theo giới tính, tuổi, học vấn trong đánh giá tầm quan trọng của tình yêu với sự gắn kết hôn nhân (trong số người được khảo sát có 89,7% số người được hỏi cho rằng tình yêu là quan trọng và rất quan trọng). Thực tế khảo sát cũng cho thấy tỷ lệ người đánh giá thấp tiêu chí này nhất thuộc về nhóm người trẻ nhất, người dân tộc Kinh, người đi làm, người sống ở đô thị, ở các khu vực có đời sống kinh tế phát triển và mức độ hiện đại hóa cao.

    Hiện nay, các gia đình ngày càng nhận thức cao về tầm quan trọng của trách nhiệm, chia sẻ trong đời sống gia đình. Đó là việc chia sẻ những mối quan tâm, lắng nghe tâm tư, suy nghĩ của các thành viên trong gia đình. Các gia đình có mức độ hiện đại hóa càng cao, mang nhiều đặc điểm hiện đại, như sống ở đô thị, có việc làm, có học vấn cao, mức sống cao, các khu vực kinh tế phát triển hơn thì các giá trị chia sẻ và trân trọng càng được các cặp vợ chồng thể hiện rõ. Tuy nhiên thực tế cho thấy, người phụ nữ vẫn chưa bình đẳng thực sự với nam giới, thể hiện trong tỷ lệ được người chồng chia sẻ, lắng nghe tâm tư và chia sẻ suy nghĩ. Các gia đình được khảo sát ở khu vực Đông Nam Bộ đạt điểm số trung bình cao nhất trong các hoạt động chia sẻ, lắng nghe những mối quan tâm, tâm tư của vợ/chồng. Còn nhóm nữ giới, dân tộc thiểu số, có mức sống thấp, ở nông thôn, học vấn thấp thì có tỷ lệ cao trong việc cho rằng bạn đời coi thường hoặc đánh giá thấp việc ứng xử hằng ngày hoặc đóng góp của họ đối với gia đình.

    Như vậy, có thể thấy, nếu chia tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời theo nhóm giá trị cá nhân (tình yêu, hình thức, thu nhập, công việc, học vấn) và giá trị tập thể (gia đình tương đồng, sự chấp thuận của bố mẹ, cùng địa phương, cùng dân tộc) thì các giá trị cá nhân trong chọn lựa bạn đời là xu hướng nổi bật hiện nay, nhất là với nhóm có đặc điểm hiện đại, như học vấn cao, sống ở thành thị.

    Gia đình truyền thống và mức độ chấp nhận cởi mở dần với một số hiện tượng hôn nhân gia đình mới

    Các kiểu loại gia đình mới như hôn nhân đồng giới, chung sống không kết hôn, làm mẹ đơn thân, tùy từng giai đoạn, thường rất hiếm hoặc không có trong truyền thống nhưng lại có xu hướng gia tăng trong các xã hội đang chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại. Ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ yếu là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao hơn, tuy rằng có thể chưa thực sự hiểu rõ những hệ quả tiêu cực của nó.

    Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ không lấy chồng nhưng có con thường phải chịu sự lên án gay gắt của xã hội, cộng đồng và gia đình. Hiện nay, hôn nhân vẫn là quyết định hệ trọng trong cuộc đời của người phụ nữ. Tuy vậy, cùng với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây cộng với quyền cá nhân ngày càng được pháp luật bảo vệ, người phụ nữ ngày càng có quyền quyết định việc kết hôn và có con. Quyền làm mẹ không chỉ thể hiện sự biến đổi trong nhận thức mà còn là biểu hiện của sự nhân văn trong bảo vệ quyền của phụ nữ.

    Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng

    Quan hệ của gia đình với dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay còn khá chặt chẽ, gắn kết, mức độ gắn kết mạnh mẽ hơn ở nhóm mang những đặc điểm truyền thống (như cao tuổi, học vấn thấp, nghèo, cư trú ở nông thôn); thể hiện ở số gia đình đồng ý cao với nhận định mỗi gia đình, thành viên cần luôn gắn kết với dòng họ để giúp đỡ lẫn nhau, đạt điểm trung bình 4,04 theo thang đo 5 điểm, coi trọng việc giữ gìn nền nếp gia phong cho con cháu, đạt điểm trung bình 4,17 theo thang đo 5 điểm.

    Thực tế cho thấy có xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng theo mức độ hiện đại hóa. Ở một chừng mực nhất định, những giá trị truyền thống về tình làng nghĩa xóm vẫn được duy trì. Điều này cho thấy tính liên tục của các giá trị văn hóa nhưng cũng đã có những biểu hiện mới ở thế hệ trẻ về thái độ đối với quan hệ tình cảm và quan hệ vật chất giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng. Trong khi người cao tuổi đề cao việc ứng xử có lễ nghĩa, có trước có sau trong mọi hoàn cảnh thì nhiều thanh niên lại gắn khía cạnh kinh tế với khía cạnh tình cảm, hạnh phúc gia đình. Họ cho rằng không thể có hạnh phúc nếu khó khăn về kinh tế.

    So với điểm trung bình về mức độ gắn kết với dòng họ, mức độ gắn kết giữa gia đình với cộng đồng thấp hơn. Chẳng hạn, điểm trung bình về nhận định “bạn bè xóm giềng giúp đỡ bất cứ khi nào tôi cần” là 3,52/5 điểm, khá thấp so với nhiều giá trị về quan hệ gắn kết với cha mẹ, anh chị em và dòng họ. Một chiều quan hệ khác của gia đình với cộng đồng là mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng của gia đình và thành viên gia đình. Kết quả cho thấy, điểm trung bình tham gia các hoạt động cộng đồng là 3,54, trên ngưỡng trung bình một chút, cho thấy, tính cộng đồng của người dân Việt Nam đang trên đà suy giảm.

    Tình làng nghĩa xóm theo nghĩa được giúp đỡ, hỗ trợ thể hiện nhiều hơn ở nhóm các gia đình mang đặc điểm hiện đại thấp hơn. Điểm trung bình về mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích vì cộng đồng của gia đình Việt Nam trong diện được khảo sát là 3,60, không quá cao, nhưng cũng không quá thấp. Điều đáng chú ý là, mức độ sẵn sàng vì tập thể, vì cái chung cao hơn ở khu vực có mức độ hiện đại thấp hơn, tức là khu vực còn duy trì tính cộng đồng cao hơn. Mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung giảm dần theo đoàn hệ tuổi, cho thấy càng nhóm trẻ, mức độ chấp nhận tính cộng đồng, tính tập thể càng thấp, tính cá nhân càng cao. Chiều hướng này cũng tương tự nếu nhìn theo mức độ chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung theo trình độ học vấn của người trả lời và mức sống. Sự chấp nhận giá trị cộng đồng, giá trị tập thể cao hơn ở những nhóm có đặc điểm truyền thống hoặc yếu thế hơn.

    Như vậy, các kết quả nghiên cứu về giá trị gia đình Việt Nam hiện nay cho thấy có sự dịch chuyển từ các giá trị gia đình truyền thống sang giá trị gia đình hiện đại, đồng thời có sự bền vững tương đối của văn hóa trong quá trình hiện đại hóa.

    Hiện nay, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc bùng nổ các thiết bị thông minh khiến cá nhân dễ dàng chìm đắm trong thế giới ảo và giảm các giao tiếp trực tiếp trong gia đình, trong xã hội, khiến lối sống, cảm xúc, ứng xử, hệ giá trị của con người và đặc biệt là sự duy trì các quan hệ xã hội có thể bị đảo lộn. Trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, một mặt, mang lại tiềm năng lớn giải phóng sức lao động của con người, mặt khác, tạo nên một thế giới tình yêu, hôn nhân ảo, như hẹn hò trực tuyến, thậm chí là rô-bốt tình dục,… dẫn đến nguy cơ tạo ra một thế hệ trẻ không cần tình yêu, không cần gia đình, không cần con cái, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và bền vững của các quan hệ gia đình trong thế giới thực. Thực tế, một số quốc gia trên thế giới đã ghi nhận hiện tượng nam giới hẹn hò và cưới rô-bốt tình dục hoặc một thế hệ trẻ đắm chìm trong thế giới công nghệ mà lảng tránh đời sống thực. Số liệu khảo sát những biến đổi về quan niệm hôn nhân trong xã hội hiện đại cho thấy 28,4% muốn sống chung trước khi kết hôn và 13,3% thích sống độc thân và không có ý định kết hôn. Đây là một nét rất mới của bối cảnh chuyển đổi khiến cho cấu trúc của gia đình, dòng họ và mối quan hệ gia đình có nhiều biến đổi.

    Trong bối cảnh các giá trị gia đình vẫn là giá trị được người dân ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống cũng như quy mô, cơ cấu, chức năng gia đình đang thay đổi theo hướng hiện đại hóa, cá nhân hóa, hạt nhân hóa, cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, truyền thông về bình đẳng giới.

    Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và hỗ trợ phụ nữ tự thoát khỏi các định kiến xã hội từ cộng đồng và từ chính bản thân về những khắt khe trong hành vi hôn nhân và gia đình, hướng phụ nữ tới những giá trị được tôn trọng, được bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, được tự thể hiện bản thân, được hạnh phúc, đồng thời đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…

    Hai là, xây dựng chính sách và dịch vụ xã hội bảo đảm sự tiếp cận công bằng, bình đẳng giữa các hình thức gia đình hiện nay, như chung sống không kết hôn, gia đình đơn thân, gia đình đồng tính, gia đình có hôn nhân với người nước ngoài, gia đình ly hôn/ly thân…

    Bốn là, xem xét xây dựng nội hàm mới cho mục tiêu xây dựng gia đình trong thời kỳ tới trên cơ sở những giá trị gia đình đã được định hình thông suốt và thống nhất về mặt nhà nước là “ấm no”, “bình đẳng”, “chung thủy”, “tiến bộ” và “hạnh phúc”. Trên thực tế, các giá trị này mang hàm nghĩa rộng mà đời sống xã hội hay trong quan niệm của nhân dân có thể còn những biểu hiện cụ thể hơn nữa, như giá trị của hôn nhân, gia đình, các biểu hiện của bền vững gia đình, giá trị con cái, tình thương yêu, hiếu thảo, đoàn kết cộng đồng, đồng thời bao hàm cả những biến đổi mạnh mẽ theo mức độ hiện đại hóa của các gia đình hiện nay. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2022 – 2030 nên xem xét bổ sung nội hàm mới cho mục tiêu xây dựng gia đình. Trong giai đoạn tới, Việt Nam nên chuyển mục tiêu từ ” xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội” sang ” xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, phồn thịnh, là thiết chế quan trọng của các quá trình kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực ổn định, chất lượng ” để tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của gia đình trong sự phát triển của xã hội, đặt gia đình trong mối quan hệ “động” hơn với các quá trình kinh tế – xã hội chung./.

    Chú thích

    (*) Tất cả các số liệu trong bài viết đều dựa trên kết quả khảo sát của đề tài khoa học: “Các giá trị cơ bản của gia đình Việt Nam” của tác giả bài viết, thực hiện trong giai đoạn 2022 – 2022, với mẫu khảo sát 1.759 đại diện các hộ gia đình, tuổi từ 16-70, được chọn theo tiêu chí đại diện vùng, giới tính, nông thôn/đô thị, tuổi, tại 9 xã, phường thuộc 6 tỉnh, thành phố (Yên Bái, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau)

    (1) Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ 1 (rất có ý nghĩa) đến 10 (rất không có ý nghĩa).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam
  • Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • “gia Đình Việt Nam Trong Bối Cảnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Và Hội Nhập Quốc Tế”

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh
  • Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2
  • Tài Liệu Kinh Tế Vi Mô
  • Phát biểu đề dẫn Hội thảo, đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh, ga đình là một thiết chế quan trọng đối với sự phát triển xã hội, cộng đồng và mỗi cá nhân, đặc biệt là đối với trẻ em, người cao tuổi, người ốm đau, bệnh tật; là môi trường lưu giữ và phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc. Phát triển gia đình là nhiệm vụ có tính chiến lược của sự nghiệp đổi mới ở VIệt Nam.

    Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến xây dựng gia đình, thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, gia đình có những cơ hội thuận lợi để nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng gia đình cũng đối mặt với những thách thức, làm biến đổi về quy mô, cấu trúc gia đình, vấn đề hôn nhân và các mối quan hệ trong gia đình. Cùng với đó, xu hướng già hóa dân số, tỷ lệ sinh thấp, mặt trái của cơ chế thị trường, khoảng cách thu nhập, di cư, vấn nạn xã hội… cũng gây ra những khó khăn cho gia đình trong việc tổ chức cuộc sống, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chăm sóc người già ốm đau.

    “Hội thảo hôm nay nhằm nhận diện rõ hơn những khó khăn và thách thức của gia đình, từ đó, đề xuất phương hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển gia đình Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời gian tới” – Đồng chí Nguyễn Thanh Long nêu rõ.

    Đồng chí Nguyễn Thanh Long phát biểu tại hội thảo.

    Các ý kiến và tham luận tại hội thảo tập trung làm rõ một số nội dung sau:

    Thứ nhất, làm rõ những vấn đề của gia đình cần có sự hỗ trợ, quản lý của Nhà nước để đảm bảo quyền an sinh xã hội, quyền và các trách nhiệm của các thành viên, đồng thời, phát huy vai trò vai trò gia đình tham gia quản lý và phát triển xã hội.

    Thứ hai, phát triển, hoàn thiện dịch vụ xã hội để hỗ trợ gia đình, nhất là gia đình trẻ giải quyết cơ bản những khó khăn, thách thức trong việc tổ chức cuộc sống, chăm sóc trẻ em, phụng dưỡng người già.

    Thứ ba, làm rõ những vấn đề cần tập trung giải quyết để giúp gia đình trẻ, gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ổn định về mặt kinh tế, thực hiện vai trò làm cha mẹ và cân bằng giữa công việc với việc thực hiện nghĩa vụ đối với gia đình. Phát huy tính tích cực của gia đình trung lưu.

    Tham luận về thực trạng và định hướng chính sách về an sinh xã hội cho gia đình ở Việt Nam, chúng tôi Đặng Nguyên Anh, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam khẳng định, gia đình có chức năng và vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tốc độ già hóa gia tăng ở nước ta, vai trò và chức năng chăm sóc của gia đình bị suy giảm, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới phù hợp hơn. Một trong những nguyên nhân hạn chế hiện nay là do các chương trình chính sách chưa xem xét gia đình như một đơn vị an sinh. Củng cố hộ gia đình từ góc độ an sinh xã hội là cách tiếp cận phù hợp để phát triển bền vững.

    Các chính sách an sinh xã hội phải hướng tới phục vụ trực tiếp cho nhu cầu phát triển của gia đình và các thành viên, thông qua đó, góp phần ổn định chính trị xã hội.

    Dưới góc độ quản lý nhà nước và gia đình, TS. Trần Ánh Tuyết, Vụ trưởng Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh, gia đình có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân và toàn dân tộc.

    TS. Trần Ánh Tuyết đã nêu lên những khó khăn, thách thức trong gia đình. Đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một số thành viên trong gia đình, các gia trị văn hóa truyền thống đang bị xem nhẹ. Ngày càng xuất hiện nhiều loại hình gia đình mới như: hộ kết hôn đồng giới, hộ kết hôn đa biên giới, hộ gia đình làm cha/mẹ đơn thân, hộ đơn thân. Bạo lực gia đình và bất bình đẳng giới trong gia đình có diễn biến phức tạp và là tác nhân chính gây phá vỡ hạnh phúc gia đình. Số hộ gia đình ngày một tăng nhưng thành viên hộ gia đình ngày một giảm…

    Vì vậy, muốn xây dựng gia đình tốt, cần phải có những chính sách về gia đình tốt để hỗ trợ gia đình, đảm bảo cho gia đình phát huy được những lợi thế trong xây dựng và phát triển đất nước. Song chính sách chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải có nhân lực, kinh phí đảm bảo yêu cầu tối thiểu.

    GS.TS Nguyễn Hữu Minh, Viện nghiên cứu Gia đình và Giới cho rằng, cần có những giải pháp linh hoạt phù hợp với từng loại gia đình khác nhau nhằm giúp các gia đình xây dựng được mối quan hệ hôn nhân tốt đẹp do đặc điểm hôn nhân không như nhau giữa các nhóm gia đình khác nhau.

    Theo ông, cần thực hiện các giải pháp như: thay đổi các thông điệp hiện có về vai trò giới đối với công việc nhà; giáo dục trước hôn nhân nhằm cung cấp cho người trưởng thành biết về những kiến thức về tình bạn, tình yêu, tình dục, sức khỏe sinh sản…; phát triển hệ thống dịch vụ tư vấn về quan hệ vợ chồng và dịch vụ phục vụ đời sống gia đình; phòng, chống bạo lực gia đình; tiến hành thu thập đầy đủ, có hệ thống các số liệu thống kê về hôn nhân gia đình, thực hiện nghiên cứu về gia đình để nằm được sự vận động và biến đổi mối quan hệ hôn nhân, gia đình, tác động của gia đình đố với sự phát triển của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay
  • Để Du Lịch Việt Nam Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Chức Năng Của Xuất Khẩu Và Vai Trò Của Xuất Khẩu Ra Sao ?
  • Trên Cơ Sở Hiến Pháp Mới, Cần Định Đúng Vị Trí, Vai Trò Của Nhà Nước Và Kinh Tế Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Vai Trò Điều Tiết Kinh Tế Vĩ Mô Của Nhà Nước Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100