Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế
  • Vai Trò Của Kiểm Tra
  • Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra
  • Ban Hành Quyết Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Báo Pháp Luật Việt Nam
  • Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể. Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội học được gọi là những chức năng xã hội của giáo dục. Có 3 loại chức năng xã hội của giáo dục : Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng – chính trị xã hội và chức năng tư tưởng – văn hoá.Mối liên hệ giữa giáo dục và sản xuất đươc hình thành trên sức lao động. Sức lao động xã hội chỉ tồn tại trên nhân cách con người. Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người, vì vậy

    Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội về tất cả các mặt. giáo dục được coi là phương thức tái sản xuất ra sức lao động xã hội. Giáo dục góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, phát triển kinh tế sản xuất.

    a) chức năng kinh tế-sản xuất Giáo dục xuất hiện từ khi có con người, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Lao động dù đơn giản đến đâu cũng cần có sự huấn luyện để con người biết lao động, có kinh nghiệm lao động. Lao động càng phức tạp, càng hiện đại càng đòi hỏi sự đầu tư vào huấn luyện nhiều hơn. Giáo dục đào tạo lại nguồn nhân lực đã bị lỗi thời, tạo nên sức lao động mới, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực thiếu hụt do nhiều nguyên nhân. Bằng con đường truyền thông, giáo dục phát triển ở con người những năng lực chung và năng lực riêng biệt, giúp con người nâng cao năng lực làm việc, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi việc làm, góp phần phát triển kinh tế sản xuất. Giáo dục góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cộng đồng. Giáo dục tham gia vào chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Bằng con đường truyền thông, giáo dục giúp mọi người nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo. Như vậy, giáo dục góp phần phát triển kinh tế sản xuất. Giáo dục thông qua con đường truyền thông, tham gia vào chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình. Giáo dục giúp cho mọi người nhận thức đúng đắn về dân số, sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ tăng dân số, nâng Cao chất lượng cuộc sống, chất lượng giống nòi, góp phần phát triển sản xuất. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục gắn liền với chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa thì giáo dục phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong thời đại phát triển như bão táp của khoa học và công nghệ, nhân loại đang chuyển sang nền văn minh tin học, điện tử, sinh học. Khoa học-công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Giáo dục không phải là yếu tố phi sản xuất, giáo dục là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của sản xuất xã hội. Không thể phát triển lực lượng sản xuất nếu như không đầu tư thỏa đáng cho nhân tố con người, nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất. Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nếu như không nâng cao trình độ dân trí, doanh trí, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ và nhân dân. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, không một quốc gia nào muốn phát triển lại đầu tư ít cho giáo dục. Cuộc chạy đua phát triển kinh tế hiện nay là cuộc chạy đua về khoa học công nghệ, chạy đua về giáo dục đào tạo, chạy đua về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành trung ương khóa 8 đã nhấn mạnh: ” Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách, nhận thức sâu sắc giáo dục – đào tạo cùng khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.” Để làm tốt chức năng này giáo dục đào tạo phải xây dựng được một xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Chính vì vậy, giáo dục phải thực sự đi trước đón đầu thúc đẩy phát triển kinh tế sản xuất. Muốn nền sản xuất phát triển xã hội phát triển thì đòi hỏi giáo dục phải phát triển. Giáo dục phải đào tạo được một đội ngũ nhân lục lao động có trình độ đáp ứng kịp thời với yêu cầu của nền sản xuất đó. 1. Về mạng lưới trường, lớp Mạng lưới trường lớp của Bắc Ninh được quy hoạch theo hướng: Đảm bảo đủ các loại hình trường học để học sinh từ mầm non đến phổ thông có nhu cầu đều được ra lớp. Mỗi xã đều có từ 1 đến 2 trường mầm non, 1 đến 2 trường tiểu học và 1 trường THCS. Mỗi huyện đều có 1 trường THCS huyện, 3 đến 4 trường PTTH và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên. Tỉnh có hệ thống trường sư phạm, trường THCN và trường dạy nghề. Hệ thống trường THCN và trường dạy nghề Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh. Mạng lưới trường lớp của tỉnh Bắc Ninh hiện tại (với 133 trường mầm non, 147 trường tiểu học, 130 trường THCS, 29 trường PTTH, 8 trung tâm GDTX, 1 trường CĐSP, 2 trường THCN địa phương, 1 trường dạy nghề và 4 trường chuyên nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn) đã được bố trí theo đúng tinh thần của Luật Giáo dục, phù hợp với địa bàn dân cư, riêng đối với mầm non và tiểu học được chỉ đạo theo hướng gần dân, quy mô nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em đến lớp. 2. Quy mô phát triển giáo dục-đào tạo Những năm qua, thực hiện nghị quyết TW 2 khoá VIII, quy mô ngành giáo dục Bắc Ninh được mở rộng hàng năm nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của con em nhân dân. Học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh diện chính sách, học sinh vùng sâu, vùng xa đều đã được tạo điều kiện để đến lớp và được hưởng các chính sách xã hội, chính sách khuyến học của Đảng và Nhà nước. Ngành đã có những tham mưu về chính sách, về học phí nhằm khuyến khích mở rộng quy mô, thực hiện phổ cập giáo dục. Quy mô ngành học mầm non được mở rộng đáng kể hàng năm. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi nhà trẻ được huy động ra lớp từ 25% năm 1997 lên 39,3% năm 2002. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được huy động ra lớp tăng từ 60,4% năm 1997 lên 79,6% năm 2002, trong đó trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99%. Với bậc phổ thông tỷ lệ học sinh 6 tuổi vào lớp 1, tốt nghiệp tiểu học vào THCS, tốt nghiệp THCS vào THPT hàng năm đều tăng. 99,99% học sinh 6 tuổi được vào lớp 1 (tăng 0,3 so với năm 1997), 85,2% học sinh khuyết tật được ra lớp hoà nhập (tăng 37,3% so với năm 1997). Đặc biệt, quy mô THPT tăng rất nhanh, 83% học sinh tốt nghiệp THCS được vào PTTH các loại hình (tăng 23% so với năm 1997). Đến năm 2002, quy mô THPT toàn tỉnh tăng gấp 2,8 lần so với năm học 1996-1997. Thực hiiện chỉ đạo của Bộ GD-ĐT, ngành đã tích cực chỉ đạo mở rộng việc học 2 buổi/ngày ở mầm non và tiểu học, mở rộng học ngoại ngữ, học hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày tăng từ 5,1% năm 1997 lên 63,6% năm 2002. Tỷ lệ học sinh từ tiểu học đến PTTH được học ngoại ngữ tăng dần hàng năm. Đến năm 2002 học sinh từ lớp 3 tiểu học và 100% học sinh THCS và PTTH đã được học ngoại ngữ, 100% học sinh cuối cấp THCS, PTTH được học hướng nghiệp. Tuy nhiên quy mô phát triển của giáo dục Bắc Ninh còn bộc lộ một số hạn chế. Do mạng lưới trường lớp chưa đáp ứng được yêu cầu phân luồng học sinh sau THCS nên bậc THPT chịu nhiều sức ép về quy mô và phát triển quá tải so với điều kiện hiện có, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục. THPT còn tồn tại nhiều loại hình, phức tạp cho công tác quản lí chỉ đạo. Tỷ lệ học sinh bán công trong các trường THPT còn quá lớn vượt xa quy định của Bộ (năm học 2001-2002, tỷ lệ học sinh bán công trong trường công lập chiếm 34,3%). Quy mô đào tạo nghề cho người lao động còn rất nhỏ và mất cân đối. Sau khi phân cấp quản lí công tác dạy nghề cho ngành lao động thương binh và xã hội, việc phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành lao động thương binh xã hội trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động còn thiếu sự chỉ đạo, chưa thường xuyên, hiệu quả thấp. Do quy mô của các trung tâm GDTX còn nhỏ, thiếu thốn về cơ sở vật chất, hệ thống các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục cộng đồng chưa hình thành rõ nét nên tỷ lệ người lao động được đào tạo, bồi dưỡng nghề còn rất ít (mỗi năm mới chỉ có khoảng 3.000 người lao động được bồi dưỡng chuyên đề qua các trung tâm GDTX – chiếm tỷ lệ 0,8% tổng số người lao động trong độ tuổi). Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp PTTH vào các trường nghề hàng năm mới đạt xấp xỉ 4%. Đây là một khó khăn cho việc đào tạo, bồi đưỡng nguồn nhân lực và nguồn công nhân có tay nghề cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước./.

    Chu Văn Quý @ 00:10 09/03/2010

    Số lượt xem: 292

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế
  • Vai Trò Của Kiểm Tra
  • Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra
  • Ban Hành Quyết Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Báo Pháp Luật Việt Nam
  • Quản Lý Giáo Dục Mầm Non. Quản Lý Trường Mầm Non Trong Thời Đại Mới
  • Chức năng kinh tế của giáo dục

    Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể. Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội học được gọi là những chức năng xã hội của giáo dục. Có 3 loại chức năng xã hội của giáo dục : Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng – chính trị xã hội và chức năng tư tưởng – văn hoá.

    Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội về tất cả các mặt.

    a) chức năng kinh tế-sản xuất

    Giáo dục xuất hiện từ khi có con người, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Lao động dù đơn giản đến đâu cũng cần có sự huấn luyện để con người biết lao động, có kinh nghiệm lao động. Lao động càng phức tạp, càng hiện đại càng đòi hỏi sự đầu tư vào huấn luyện nhiều hơn.

    Mối liên hệ giữa giáo dục và sản xuất đươc hình thành tr ên sức lao động. S ức lao động xã hội chỉ tồn tại trên nh ân cách con người. Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người, vì vậy giáo dục được coi là phương thức tái sản xuất ra sức lao động xã hội. Giáo dục góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ thuật , có kỹ năng nghề nghiệp, phát triển kinh tế sản xuất.

    Giáo dục đào tạo lại nguồn nhân lực đã bị lỗi thời, tạo nên sức lao động mới, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực thiếu hụt do nhiều nguyên nhân. Bằng con đường truyền thông, giáo dục phát triển ở con người những năng lực chung và năng lực riêng biệt, giúp con người nâng cao năng lực làm việc, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi việc làm, góp phần phát triển kinh tế sản xuất . Giáo dục góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cộng đồng .

    Giáo dục tham gia vào chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. B ằng con đường truyền thông, giáo dục giúp mọi người nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo. Như vậy, giáo dục góp phần phát triển kinh tế sản xuất.

    Giáo dục thông qua con đường truyền thông, tham gia vào chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình. Giáo dục giúp cho mọi người nhận thứ c đúng đắn về dân số, sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ tăng dân số, nâng Cao chất lượng cuộc sống, chất lượng giống nòi, góp phần phát triển sản xuất .

    Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục gắn liền với chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa thì giáo dục phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Trong thời đại phát triển như bão táp của khoa học và công nghệ , nhân loại đang chuyển sang nền văn minh tin học, điện tử, sinh học. Khoa học-công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Giáo dục không phải là yếu tố phi sản xuất, giáo dục là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của sản xuất xã hội. Không thể phát triển lực lượng sản xuất nếu như khô ng đầu tư thỏa đ áng cho nhân tố con người, nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất . Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nếu như không nâng cao trình độ dân trí, doanh trí, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ và nhân dân. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, không một quố c gia nào muốn phát triển lại đ ầu tư ít cho giáo dục. Cuộc chạy đua phát triển kinh tế hiện nay là cuộc chạy đua về khoa học công nghệ, chạy đua về giáo dục đào tạo, chạy đua về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành trung ương khóa 8 đã nhấn mạnh: ” Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách, nhận thức sâu sắc giáo dục – đào tạo cùng khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.” Để làm tốt chức năng này giáo dục đào tạo phải xây dựng được một xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Chính vì vậy, giáo dục phải thực sự đi trước đón đầu thúc đẩy phát triển kinh tế sản xuất.

    Tóm lại : Muốn nền sản xuất phát triển xã hội phát triển thì đòi hỏi giáo dục phải phát triển. Giáo dục phải đào tạo được một đội ngũ nhân lục lao động có trình độ đáp ứng kịp thời với yêu cầu của nền sản xuất đó.

    1. Về mạng lưới trường, lớp

    Mạng lưới trường lớp của Bắc Ninh được quy hoạch theo hướng: Đảm bảo đủ các loại hình trường học để học sinh từ mầm non đến phổ thông có nhu cầu đều được ra lớp. Mỗi xã đều có từ 1 đến 2 trường mầm non, 1 đến 2 trường tiểu học và 1 trường THCS. Mỗi huyện đều có 1 trường THCS huyện, 3 đến 4 trường PTTH và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên. Tỉnh có hệ thống trường sư phạm, trường THCN và trường dạy nghề. Hệ thống trường THCN và trường dạy nghề Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh.

    Mạng lưới trường lớp của tỉnh Bắc Ninh hiện tại (với 133 trường mầm non, 147 trường tiểu học, 130 trường THCS, 29 trường PTTH, 8 trung tâm GDTX, 1 trường CĐSP, 2 trường THCN địa phương, 1 trường dạy nghề và 4 trường chuyên nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn) đã được bố trí theo đúng tinh thần của Luật

    Giáo dục , phù hợp với địa bàn dân cư, riêng đối với mầm non và tiểu học được chỉ đạo theo hướng gần dân, quy mô nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em đến lớp.

    2. Quy mô phát triển giáo dục-đào tạo

    Những năm qua, thực hiện nghị quyết TW 2 khoá VIII, quy mô ngành giáo dục Bắc Ninh được mở rộng hàng năm nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của con em nhân dân. Học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh diện chính sách, học sinh vùng sâu, vùng xa đều đã được tạo điều kiện để đến lớp và được hưởng các chính sách xã hội, chính sách khuyến học của Đảng và Nhà nước. Ngành đã có những tham mưu về chính sách, về học phí nhằm khuyến khích mở rộng quy mô, thực hiện phổ cập giáo dục .

    Quy mô ngành học mầm non được mở rộng đáng kể hàng năm. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi nhà trẻ được huy động ra lớp từ 25% năm 1997 lên 39,3% năm 2002. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được huy động ra lớp tăng từ 60,4% năm 1997 lên 79,6% năm 2002, trong đó trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99%.

    Với bậc phổ thông tỷ lệ học sinh 6 tuổi vào lớp 1, tốt nghiệp tiểu học vào THCS, tốt nghiệp THCS vào THPT hàng năm đều tăng. 99,99% học sinh 6 tuổi được vào lớp 1 (tăng 0,3 so với năm 1997), 85,2% học sinh khuyết tật được ra lớp hoà nhập (tăng 37,3% so với năm 1997). Đặc biệt, quy mô THPT tăng rất nhanh, 83% học sinh tốt nghiệp THCS được vào PTTH các loại hình (tăng 23% so với năm 1997). Đến năm 2002, quy mô THPT toàn tỉnh tăng gấp 2,8 lần so với năm học 1996-1997.

    Thực hiiện chỉ đạo của Bộ GD-ĐT, ngành đã tích cực chỉ đạo mở rộng việc học 2 buổi/ngày ở mầm non và tiểu học, mở rộng học ngoại ngữ, học hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày tăng từ 5,1% năm 1997 lên 63,6% năm 2002. Tỷ lệ học sinh từ tiểu học đến PTTH được học ngoại ngữ tăng dần hàng năm. Đến năm 2002 học sinh từ lớp 3 tiểu học và 100% học sinh THCS và PTTH đã được học ngoại ngữ, 100% học sinh cuối cấp THCS, PTTH được học hướng nghiệp.

    Do mạng lưới trường lớp chưa đáp ứng được yêu cầu phân luồng học sinh sau THCS nên bậc THPT chịu nhiều sức ép về quy mô và phát triển quá tải so với điều kiện hiện có, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục . THPT còn tồn tại nhiều loại hình, phức tạp cho công tác quản lí chỉ đạo. Tỷ lệ học sinh bán công trong các trường THPT còn quá lớn vượt xa quy định của Bộ (năm học 2001-2002, tỷ lệ học sinh bán công trong trường công lập chiếm 34,3%).

    Quy mô đào tạo nghề cho người lao động còn rất nhỏ và mất cân đối. Sau khi phân cấp quản lí công tác dạy nghề cho ngành lao động thương binh và xã hội, việc phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành lao động thương binh xã hội trong lĩnh vực đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động còn thiếu sự chỉ đạo, chưa thường xuyên, hiệu quả thấp. Do quy mô của các trung tâm GDTX còn nhỏ, thiếu thốn về cơ sở vật chất, hệ thống các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục cộng đồng chưa hình thành rõ nét nên tỷ lệ người lao động được đào tạo, bồi dưỡng nghề còn rất ít (mỗi năm mới chỉ có khoảng 3.000 người lao động được bồi dưỡng chuyên đề qua các trung tâm GDTX – chiếm tỷ lệ 0,8% tổng số người lao động trong độ tuổi). Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp PTTH vào các trường nghề hàng năm mới đạt xấp xỉ 4%. Đây là một khó khăn cho việc đào tạo, bồi đưỡng nguồn nhân lực và nguồn công nhân có tay nghề cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Đội Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế, Góp Phần Phát Triển K…
  • Quyền Hạn Của Đội Quản Lý Thị Trường
  • Tổng Cục Quản Lý Thị Trường Có Chức Năng, Quyền Hạn Như Thế Nào?
  • Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Tổng Cục Quản Lý Thị Trường
  • Công Bố Chức Năng Và Quyền Hạn Của Tổng Cục Quản Lý Thị Trường
  • Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống, trách nhiệm chính trị của Quân đội trong việc quán triệt, thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Thực tiễn quá trình Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã mang lại hiệu quả toàn diện, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh của đất nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

    Đó còn là nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, mang bản chất của giai cấp công nhân, có chức năng, nhiệm vụ được quy định bởi Đảng Cộng sản. Lê-nin cho rằng: Quân đội tham gia lao động sản xuất là tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ khôi phục đất nước sau chiến tranh. Theo đó, những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, Lê-nin và Chính phủ Xô-viết đã chuyển một lực lượng quân đội sang làm kinh tế, tập trung vào các nhiệm vụ, như: khôi phục giao thông vận tải, sản xuất đầu máy xe lửa, sản xuất nông cụ, nông nghiệp,… góp phần khôi phục kinh tế, giữ vững thành quả của Cách mạng Tháng Mười. Đó là cơ sở lý luận, bài học kinh nghiệm để Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “lao động sản xuất” là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, sau khi thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định có ba chức năng cơ bản là: “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”. Theo đó, trong suốt quá trình hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn quán triệt, nắm vững và hoàn thành xuất sắc ba chức năng cơ bản đó. Đối với chức năng, nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế được Quân đội thực hiện thường xuyên, phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các đơn vị Quân đội luôn nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “thực túc, binh cường”, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, vừa chiến đấu, vừa tích cực lao động sản xuất cải thiện đời sống, bảo đảm cho bộ đội “ăn no, đánh thắng”. Cùng với đó, Quân đội còn đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, trong đó có vụ án Trần Dụ Châu là một điển hình.

    Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại hội III của Đảng (từ ngày 5 đến 10-9-1960) đã khẳng định: “phải kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng; trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế” 1. Thực hiện chủ trương đó, cùng với xây dựng và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc, quân và dân ta ở miền Nam đã kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố, mở rộng hậu phương, xây dựng căn cứ địa, tích cực lao động sản xuất ở vùng giải phóng, đáp ứng một phần nhu cầu lương thực của bộ đội trên chiến trường.

    Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 24 (khóa III) ban hành Nghị quyết xác định: “Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ quân đội tham gia xây dựng kinh tế” 2. Đến Đại hội IV (từ ngày 14 đến 20-12-1976), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong hoàn cảnh một nước nghèo lại vừa ra khỏi một cuộc chiến tranh ác liệt, kéo dài, thì các lực lượng vũ trang, ngoài nghĩa vụ luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, còn phải tích cực làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” 3.

    Với tư duy đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, Đại hội VI của Đảng (từ ngày 15 đến 18-12- 1986), đã khẳng định: “Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào việc xây dựng kinh tế” 4; đồng thời, chỉ rõ nhiệm vụ: toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Trong các kỳ Đại hội kế tiếp, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ trương: quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Đặc biệt, Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo” 5; “Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội” 6 . Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), ngày 03-6-2017, đã ban hành Nghị quyết 12-NQ/TW “Về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, tạo điều kiện để Quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

    Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về kết hợp quốc phòng với an ninh và kinh tế, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013), Điều 68 quy định: “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh” 7.

    Quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật để lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân phát huy khả năng, thế mạnh tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế. Trọng tâm là Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới – tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2022”; Nghị quyết 425-NQ/QUTW, ngày 18-5-2017 của Quân ủy Trung ương “Về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quân đội đến năm 2022 và những năm tiếp theo”; Thông tư 69/2017/TT-BQP, ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội, v.v.

    Thực tiễn cũng cho thấy, quan điểm, chủ trương đó là phù hợp với đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Trong đó, nền quốc phòng toàn dân được xây dựng thông qua các tiềm lực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v. Các lĩnh vực đó kết hợp chặt chẽ với nhau, nhất là kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên cơ sở quy hoạch vùng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, thông qua thực hiện nhiệm vụ tham sản xuất, xây dựng kinh tế còn nhằm giữ gìn, phát huy truyền thống, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị nhằm vào Quân đội, nhất là việc tuyên truyền Quân đội chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, không tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là sự xuyên tạc trắng trợn, lố bịch. Những luận điệu tuyên truyền đó không phải là sự thật, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận – thực tiễn đã nêu trên. Vì thế, nó chỉ có thể nhất thời lừa gạt được một số người nhẹ dạ, cả tin và thiếu thông tin chính thống về Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế chứ không thể lừa bịp được quảng đại quần chúng nhân dân. Thực tiễn cho thấy, chỉ có sự thật mới có giá trị, còn sự xuyên tạc, giả dối, lừa gạt cho dù khéo che đậy đến đâu cũng sẽ bị vạch trần, lột tả, vô giá trị.

    1 – ĐCSVN – Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 21, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 535.

    3 – Sđd, Tập 37, tr. 587.

    Số tiếp theo: II. Hiệu quả từ thực tiễn Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế

    5 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2022, tr. 149

    7 – Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 32.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Động Đấu Tranh Làm Thất Bại Mọi Âm Mưu, Thủ Đoạn Thâm Độc Nhằm Chống Phá Quân Đội Ta
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Công Tác Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Đổi Mới Công Tác Tuyên Huấn Trong Bộ Đội Biên Phòng
  • Công Tác Tuyên Huấn Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Mọi Nhiệm Vụ
  • Tập Huấn Nghiệp Vụ Công Tác Tuyên Huấn Cho Cán Bộ Quân Đội Nhân Dân Lào
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Kiểm Tra
  • Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra
  • Ban Hành Quyết Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Báo Pháp Luật Việt Nam
  • Quản Lý Giáo Dục Mầm Non. Quản Lý Trường Mầm Non Trong Thời Đại Mới
  • Quản Lý Giáo Dục Trường Mầm Non
  • Sự phát triển xã hội được đặc trưng bởi sự phát triển về kinh tế. Mọi xã hội được xây dựng dựa trên nền tảng của các nền kinh tế và được tạo ra bởi các yếu tố kinh tế. Ngược lại, bất kì một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển về kinh tế cũng cần có rất nhiều nguồn lực như nguồn lực nhân lực, nguồn lực nguồn vốn, nguồn lực tài nguyên,… trong đó, nguồn lực nhân lực (người lao động) là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, khi muốn đưa xã hội càng phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ chuyên môn cao, có kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Muốn có nguồn nhân lực như thế, xã hội cần phải có giáo dục. Bởi vì giáo dục thông qua hệ thống giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao. Một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất; mặt khác, để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, hiện đại hóa, công nghiệp hóa,…). Chất lượng nguồn nhân lực được đặc trưng bởi trình độ dào tạo (tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kĩ thuật, năng lực công nghiệp,…). Tất cả đều do giáo dục quyết định. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế.

    Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần thiết cho xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau; giáo dục đã:

    – Đào tạo ra những con người mới, là những người có trình độ văn hóa, am hiểu về khoa học kĩ thuật – khoa học công nghệ; có khả năng vận dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật – công nghệ vào quá trình sản xuất lao động. Nhờ vậy, làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo động lực cho xã hội phát triển.

    – Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra nguồn nhân lực mới để thay thế cho những sức lao động cũ bị mất do ốm đau, bệnh tật, tuổi già, tai nạn,…

    Hiện nay, hầu như các nước trên thế giới đều ý thức được tầm quan trọng, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế. Vì thế, các nước trên thế giới đều coi trọng giáo dục, ưu tiên cho giáo dục. Một số chính sách được Nhà nước ban hành nhằm phát triển ngành giáo dục trong nước, đó là: tăng ngân sách cho giáo dục, trang bị thiết bị giáo dục cho các trường,… Hầu như nước nào quan tâm đến giáo dục thì nước đó đều có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, điển hình như Nhật Bản và Singapore.

    Đầu tư giáo dục là đầu tư cho tương lai, vì thế, không những là các nước trên thế giới mà Việt Nam chúng ta cũng đang đầu tư rất lớn cho sự nghiệp giáo dục. Đã chú trọng đến những chính sách phù hợp để nâng cao tay nghề, nghiệp vụ cho người lao động, như: đưa người sang các nước bạn để học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của các nước khác; mở các lớp chuyên tu, tại chức, cao học,…

    Giáo dục đã trở thành một yếu tố quan trọng trong công cuộc tạo ra sự phát triển cho nền kinh tế của một quốc gia. Vì thế, muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải tập trung mọi nỗ lực để phát triển giáo dục, dựa vào giáo dục và lấy giáo dục làm động lực. Thật vậy, tầm quan trọng của giáo dục đã được những bậc tiền bối thế hệ trước đề cao, và luôn coi nó là tiền đề để xây dựng một xã hội ngày càng phát triển hơn. Những câu nói nổi tiếng của những nhà hiền triết, những vĩ nhân trên thế giới đã khẳng định điều đó như câu danh ngôn của Đông Phương Sóc (thời nhà Hán) về tầm quan trọng của những người có học đối với đất nước: “Được kẻ sĩ, đất nước sẽ hùng mạnh. Mất kẻ sĩ, đất nước sẽ suy vong”. Câu danh ngôn về việc khuyến khích không ngừng học tập của V.I.Lenin: “Học, học nữa, học mãi”. Những câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: “Non sông Việt Nam có vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu”, “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”,…

  • phân tich vai trò cua kinh tế với giáo dục
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Sáng Chế Là Gì? Giải Pháp Kỹ Thuật Là Gì ?
  • Giải Pháp Kỹ Thuật Trong Sáng Chế Việt Nam
  • Link Là Gì? Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Link Trong Website
  • Kích Thích Buồng Trứng Là Gì
  • Phương Pháp Kích Thích Buồng Trứng
  • Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

    Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó. Quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng không thể chống đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có một chiến lược kinh doanh và phát triển thể hiện tính chất động và tấn công. Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp. Toàn bộ tư tưởng chiến lược và quản trị chiến lược sẽ được trình bày sâu ở môn chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Phần này chỉ lưu ý rằng thiếu một chiến lược kinh doanh đúng đắn thể hiện tính chủ động và tấn công, thiếu sự chăm lo xây dựng và phát triển chiến lược doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế được và thậm chí trong nhiều trường hợp còn dẫn đến sự phá sản.

    Trong xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải chú ý các điểm sau:

    Chiến lược kinh doanh phải gắn với thị trường:

    + Các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhu cầu trị trường và khai thác tối đa các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm với số lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn thích hợp. Có thể coi “chiến lược phải thể hiện tính làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản trị chiến lược của doanh nghiệp.

    + Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của doanh nghiệp, giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường.

    + Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược chỉ đề cập những vấn đề khái quát, không cụ thể.

    – Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh doanh, hạn chế rủi ro tới mức tối thiểu

    – Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó.

    – Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến lược: chiến lược kinh doanh chung (những vấn đề tổng quát bao trùm, có tính chất quyết định nhất) và chiến lược kinh doanh bộ phận (những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược giao tiếp khuyếch trương,…).

    – Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh.

    Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược thì chưa đủ, vì dù cho chiến lược xây dựng có hoàn hảo đến đâu nếu không triển khai tốt, không biến nó thành các chương trình, chính sách kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng sẽ trở thành vô ích, hoàn toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh mà vẫn phải chịu chi phí kinh doanh cho công tác này.

    Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    Phát triển trình độ đội ngũ lao động và tạo động lực cho tập thể và cá nhân người lao động

    Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp cần đầu tư thỏa đáng để phát triển quy mô bồi dưỡng lại và đào tạo mới lực lượng lao động, đội ngũ trí thức có chất lượng cao trong các doanh nghiệp. Nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật để khai thác tối ưu nguyên vật liệu, năng suất máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến,…

    Đặc biệt là cán bộ quản trị, giám đốc phải được tuyển chọn kỹ càng, có trình độ hiểu biết cao. Giám đốc là nhà lãnh đạo kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nên giám đốc phải có kiến thức về công nghệ, khoa học, về giao tiếp xã hội, về tâm lý, kinh tế,… tổng hợp những tri thức của cuộc sống và phải biết vận dụng kiến thức vào tổ chức, ra quyết định những công việc trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

    Về công tác quản trị nhân sự, doanh nghiệp phải hình thành nên cơ cấu lao động tối ưu, phải bảo đảm đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, sao cho phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người. Trước khi phân công bố trí hoặc đề bạt cán bộ đều phải qua kiểm tra tay nghề. Khi giao việc cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm. Đặc biệt công tác trả lương, thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động luôn là vấn đề hết sức quan trọng.

    Động lực tập thể và cá nhân người lao động là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế. Động lực cũng là yếu tố để tập hợp, cố kết người lao động lại. Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng, hợp lý, thưởng phạt nghiêm minh. Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến,… Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợp vi phạm. Trong kinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp hình thức bán cổ phần cho người lao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chia theo cổ phần cũng là một trong những giải pháp gắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệp mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp.

    Công tác quản trị và tổ chức sản xuất

    Tổ chức sao cho doanh nghiệp có bộ máy gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước thay đổi của thị trường. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Những nội dung này đã được trình bày ở chương tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Một điều cần chú ý là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải được xây dựng phù hợp với các đặc điểm của doanh nghiệp (qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm quá trình tạo ra kết quả,…) thì mới đảm bảo cho việc quản trị doanh nghiệp có hiệu quả được.

    Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ trách nhiệm, quan hệ giữa các bộ phận với nhau, đưa hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, tránh sự chồng chéo giữa chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận. Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đối tăng cường quan hệ giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất,… mới có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong sản xuất.

    – Hệ thống thông tin phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng, được thiết lập với đầy đủ các nội dung, các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm.

    – Hệ thống thông tin phải là hệ thống thông tin thường xuyên được cập nhật bổ sung;

    – Hệ thống cần phải được bố trí phù hợp với khả năng sử dụng, khai thác của doanh nghiệp;

    – Đảm bảo việc khai thác được thực hiện với chi phí thấp nhất.

    Công tác quản trị và tổ chức sản xuất

    Một trong những lý do làm hiệu quả kinh tế ở các doanh nghiệp thấp là do thiếu kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Do vậy vấn đề nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ là vấn đề luôn được quan tâm ở các doanh nghiệp. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, đặc điểm ngành kinh doanh, mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp có chính sách đầu tư công nghệ thích đáng. Tuy nhiên, việc phát triển kỹ thuật công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư lớn, phải có thời gian dài và phải được xem xét kỹ lưỡng 3 vấn đề:

    – Dự đoán đúng cầu của thị trường và cầu của doanh nghiệp về loại sản phẩm doanh nghiệp có ý định đầu tư phát triển. Dựa trên cầu dự đoán này doanh nghiệp mới có những mục tiêu cụ thể trong đổi mới công nghệ

    – Lựa chọn công nghệ phù hợp. Các doanh nghiệp trên cơ sở mục tiêu của sản xuất đã đề ra có những biện pháp đổi mới công nghệ phù hợp. Cần tránh việc nhập công nghệ lạc hậu, lỗi thời, tân trang lại, gây ô nhiễm môi trường,… .

    – Có giải pháp đúng về huy động và sử dụng vốn hiện nay, đặc biệt là vốn cho đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì cần sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục tiêu nguồn vốn đầu tư công nghệ.

    Rút ngắn thời gian xây dựng để nhanh chóng đưa dự án đầu tư vào hoạt động luôn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế của đầu tư kỹ thuật công nghệ.

    Trong đổi mới công nghệ không thể không quan tâm đến nghiên cứu sử dụng vật liệu mới và vật liệu thay thế vì giá trị nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành của nhiều loại sản phẩm, dịch vụ. Hơn nữa, việc sử dụng nguyên vật liệu mới thay thế trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Máy móc thiết bị luôn là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong công tác quản trị kỹ thuật công nghệ, việc thường xuyên nghiên cứu, phát triển kỹ thuật đóng vai trò quyết định. Bên cạnh đó, công tác bảo quản máy móc thiết bị, đảm bảo cho máy móc luôn hoạt động đúng kế hoạch và tận dụng công suất của thiết bị máy móc cũng đóng vai trò không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung. Để đảm bảo đánh giá chính xác chất lượng hoạt động của máy móc thiết bị, trong tính chi phí kinh doanh và phân tích kinh tế cần sử dụng khái niệm chi phí kinh doanh “không tải” để chỉ chi phí kinh doanh về sử dụng máy móc thiết bị bị mất đi mà không được sử dụng vào mục đích gì.

    Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã hội

    Đổi mới công nghệ phải đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác kiểm tra kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh để cho những sản phẩm chất lượng kém ra tiêu thụ trên thị trường.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sản xuất của các doanh nghiệp mở rộng theo hướng sản xuất lớn, xã hội hóa và mở cửa làm cho mối quan hệ lẫn nhau trong xã hội ngày càng chặt chẽ. Doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác được nhiều đơn hàng, tiêu thụ tốt. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao cần tranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanh bên ngoài. Đó là:

    – Giải quyết tốt mối quan hệ với khách hàng: là mục đích ý đồ chủ yếu trong kinh doanh, vì khách hàng là người tiếp nhận sản phẩm, người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Khách hàng có được thỏa mãn thì sản phẩm mới được tiêu thụ.

    – Tạo ra sự tín nhiệm, uy tín trên thị trường đối với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, tác phong kinh doanh, tinh thần phục vụ,… bất cứ doanh nghiệp nào muốn có chỗ đứng trên thị trường đều phải gây dựng sự tín nhiệm. Đó là quy luật bất di bất dịch để tồn tại trong cạnh tranh trên thương trường.

    – Giải quyết tốt mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, đơn vị cung ứng.

    – Phát triển thông tin liên lạc với các tổ chức, khác với thị trường.

    – Hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật.

    – Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái: bảo vệ rừng đầu nguồn, chống sự ô nhiễm của bầu không khí, nguồn nước, sự bạc mầu của đất đai trong phát triển sản xuất kinh doanh ..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương
  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Đốc Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  • Bản Mô Tả Công Việc Quản Đốc Sản Xuất
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quân Chủng Phòng Không
  • Chủ Tịch Nước Thăm Và Làm Việc Với Quân Chủng Phòng Không
  • Thủ Tướng Giao 5 Nhiệm Vụ Cho Quân Chủng Phòng Không
  • 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ: là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”, cùng với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, những chiến sĩ của Đội đã phải lao động sản xuất để nuôi sống chính mình và vận động quần chúng nhân dân làm cách mạng. Tiếp theo đó, trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội ta tiếp tục phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp đó.

    Khi bàn về vai trò của Quân đội đối với kinh tế, C.Mác đã chỉ rõ: “Lịch sử quân đội xác nhận một cách rõ ràng hơn hết sự đúng đắn quan điểm của chúng ta về mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội. Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”. Quán triệt quan điểm trên của C.Mác, ngay từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I.Lênin đã quan tâm đến sử dụng quân đội vào nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động…”. Trong điều kiện cụ ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói chuyện về vai trò của bộ đội trong tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế. Ngày 20 tháng 3 năm 1947, để làm cho toàn dân, toàn quân hiểu được đời sống mới trong kháng chiến, Bác đã viết bài “Đời sống mới”, xác định nhiệm vụ và những hình thức tăng gia, lao động sản xuất cụ thể của các lực lượng quân đội: “Năm là bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất. Cố nhiên những bộ đội ở trước mặt trận, phải luôn luôn lo việc đánh giặc, không có thì giờ đâu mà làm việc khác. Song những bộ đội ở hậu phương thì cần làm, và quyết làm được. Tùy theo hoàn cảnh mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân. Có lúc bộ đội chia phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn, để tự cấp tự túc, không phiền đến dân cả mọi việc”. Một sự kiện đánh dấu bước ngoặt phát triển mới của nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội được gắn với Nghị định số 30/NĐ, ngày 23/8/1956 của Bộ Quốc phòng về việc thành lập Cục Nông binh để làm tham mưu giúp Bộ quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế. Từ đó, ngày 23/8 được lấy làm Ngày truyền thống Bộ đội sản xuất, xây dựng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất, Giai Cấp, Mục Tiêu Lý Tưởng Chiến Đấu, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Bai Giang Doc
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Tổ Chức Cơ Sở Đoàn Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giới Thiệu Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Công Ty Xây Dựng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Phòng Hạ Tầng Kỹ Thuật
  • Quản Trị Sản Xuất Và Vai Trò Của Người Quản Trị Sản Xuất Trong Chức Năng Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Mối Quan Hệ Của Quản Trị Sản Xuất Với Các Chức Năng Quản Trị Chính Khác
  • Vai Trò Của Người Quản Lý Trong Quản Lý Sản Xuất
  • Các Phân Hệ, Chức Năng Của Phần Mềm Quản Lý Sản Xuất (Phần 3)
  • Xây Dựng Phần Mềm Quản Lý Sinh Viên Trường Đại Học
  • Tài Chính Công Là Gì? Đặc Điểm Cơ Bản Của Tài Chính Công
  • Published on

    Tài liệu về quản trị sản xuất

    Tài liệu cung cấp mang tính chất tham khảo

    Để biết thêm chi tiết các khóa học QUẢN TRỊ SẢN XUẤT, xin vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn đào tạo của Trường Đào Tạo Kỹ Năng Quản Lý SAM:

    285 Phan Xích Long, P7, Q.Phú Nhuận.

    Điện thoại: (08) 35178848 – ( 08) 35178849. Fax: (08) 35174118.

    Email: [email protected]; [email protected] – Website: www.sam.edu.vn

    1. 1. QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 1 CCHHƯƯƠƠNNGG II QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT I. VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ SẢN XUẤT TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1- Khái niệm Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hoá này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng. Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn, kĩ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường. 2- Hệ thống sản xuất 3- Vị trí của chức năng sản xuất. – Tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp cho xã hội. – Chức năng sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp, đó là: chức năng sản xuất, chức năng Marketing và chức năng tài chính, cái quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. – Trên phạm vi nền kinh tế, chức năng sản xuất của các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ phong phú để nâng cao mức sống vật chất toàn xã hội. – Trên phạm vi thế giới, khả năng sản xuất xét trên cả phương diện sức sản xuất và hiệu quả của nó sẽ là chìa khóa thành công của mỗi nước. 4- Quan hệ giữa các chức năng và chức năng sản xuất. Hình I-1: Hệ thống sản xuất Đầu vào Nguồn nhân lực MMTB, đất Khoa học kĩ thuật Thông tin Quá trình chuyển hoá Đầu ra Sản phẩm/dịch vụ Đầu vào Nguồn nhân lực MMTB, đất Khoa học kĩ thuật Thông tin Quá trình chuyển hoá Đầu ra Sản phẩm / dịch vụ Đo lường hiệu quả (chi phí,chi phí, năng suất)
    2. 2. QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT 2 Các chức năng quản trị trong doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau, nếu thiếu một trong ba, doanh nghiệp không thể thành công. Trên thực tế, việc tách rời các chức năng chỉ để nghiên cứu song nó cần thiết như nhau và phụ thuộc lẫn nhau. 5- Sự mở rộng chức năng sản xuất Chức năng sản xuất còn được gọi là chức năng điều hành hoặc chức năng sản xuất và tác nghiệp. Trước kia thuật ngữ sản xuất chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu hình. Sau này nó được mở rộng và bao hàm cả việc tạo ra các dịch vụ. Ngày nay, nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hình hay dịch vụ. Thực tế, sản xuất dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong các nước phát triển. Các hệ thống sản xuất sẽ chia làm hai dạng chủ yếu là dạng sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation) và dạng sản xuất không chế tạo hay dịch vụ (Non-Manufacturing Operation). Dạng sản xuất chế tạo thực hiện các quá trình vật lý, hóa học để biến đổi nguyên vật liệu thành các sản phẩm hữu hình. Dạng sản xuất không tạo ra hàng hóa hữu hình là dạng sản xuất không chế tạo hay dịch vụ. II. HỆ THỐNG SẢN XUẤT 1- Đặc tính chung của hệ thống sản xuất Hệ thống sản xuất cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho xã hội. Tất cả các hệ thống sản xuất đều có một số đặc tính chung đó là: Thứ nhất: Hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa hay dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp cho xã hội. Thứ hai: Hệ thống sản xuất chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra là các sản phẩm hay dịch vụ. Các đầu vào của hệ thống sản xuất có thể là: Nguyên vật liệu, kỹ năng lao động, kỹ năng quản trị, các phương tiện vốn liếng,… Hình I-1 :Quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp SXTài chính Marketing
    3. 3. QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 3 Các đầu ra là sản phẩm hay dịch vụ, tiền lương đổ vào nền kinh tế, các ảnh hưởng xã hội và các ảnh hưởng khác. Hệ thống sản xuất là một hệ thống con trong doanh nghiệp, và doanh nghiệp là một phân hệ trong hệ thống lớn hơn…nền sản xuất xã hội…. Lúc đó ranh giới sẽ khó phân biệt và khó nhận biết các đầu vào và đầu ra. Các dạng chuyển hóa bên trong hệ thống sản xuất quyết định việc biến đầu vào thành đầu ra bao gồm các dạng như làm thay đổi trạng thái vật lý, cung cấp kỹ năng, làm dịch chuyển vị trí, giữ gìn bảo quản sản phẩm… Tóm lại: Các hệ thống sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau, đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung nhất của hệ thống sản xuất là chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra khả dụng. 2- Năng suất và sản xuất vaodauTong radauTong suatNang __ __ _ = Năng suất có thể tăng lên khi: * Sản xuất ra nhiều đầu ra hơn với cùng một lượng đầu vào * Sản xuất ra một khối lượng đầu ra không đổi trong khi giảm lượng đầu vào * Sản xuất ra nhiều đầu ra hơn trong khi sử dụng ít đầu vào hơn, hay mức độ tăng lên của đầu ra lớn hơn mức độ tăng lên của đầu vào sử dụng. 3- Những đặc diểm cơ bản của nền sản xuất hiện đại Trước hết, đó là triết lý cơ bản thừa nhận vị trí quan trọng của sản xuất. Thứ hai, nền sản xuất hiện đại quan tâm ngày càng nhiều đến chất lượng. Thứ ba, nền sản xuất hiện đại nhận thức con người là tài sản lớn nhất của công ty. Thứ tư, sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm vấn đề kiểm soát chi phí. Thứ năm, nền sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng của tập trung và chuyên môn hóa cao. Thứ sáu, sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất. Thứ bả y, sự phát triển của cơ khí hóa trong nền sản xuất hiện đại từ chỗ nhằm thay thế cho lao động nặng nhọc, đến nay trong nền sản xuất hiện đại ngày càng thấy các hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình. Thứ tám, ứng dụng máy tính vào sản xuất hiện đại mở rộng từ điều khiển quá trình sản xuất, đến kết hợp thiết kế với chế tạo. Thứ chín, các mô hình mô phỏng toán học ngày càng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho các quyết định sản xuất.
    4. 4. QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT 4 4- Hệ thống sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation) Khi nghiên cứu các hệ thống sản xuất, người ta thường lấy các đặc trưng trong điều kiện sản xuất và phương pháp sản xuất để gán cho nó. Hệ thống sản xuất chế tạo làm ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu giữ tồn kho trong những chừng mực nhất định. Khi có một đơn hàng về sản phẩm của hệ thống sản xuất được đặt, các sản phẩm được chuẩn bị để đáp ứng các đơn hàng theo các cách thức sau: + Một là: Các sản phẩm hòan thành đã có sẵn trong kho. + Hai là: Các modul tiêu chuẩn cần để lắp ráp sản phẩm đã lưu giữ sẵn, bao gồm: Cụm chi tiết tiêu chuẩn, chi tiết tiêu chuẩn. + Ba là: Có sẵn trong hệ thống sản xuất các nguyên vật liệu cần thiết. Các cách thức này dẫn đến các hành động khác nhau của các hệ thống sản xuất khi có đơn hàng. Căn cứ vào đó người ta chia hệ thống sản xuất thành 3 loại: (1)Hệ thống sản xuất để dự trữ (Make to stock) Hệ thống sản xuất này tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh và đưa vào dự trữ trước khi nhận đơn hàng. (2) Hệ thống sản xuất theo đơn hàng Các món hàng cuối cùng sẽ hòan thành sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Hệ thống sản xuất này phục vụ cho các nhu cầu có khối lượng nhỏ, sản phẩm đa dạng, không tiêu chuẩn. (3) Hệ thống sản xuất lắp ráp đơn hàng Hệ thống này ở giữa hai loại trên, nó có thể chủ động tạo ra trước các chi tiết, các kiểu mẫu, modul tiêu chuẩn, và sẽ lắp ráp các chi tiết, các modul này theo những chỉ định của khách hàng khi có đơn hàng. Sự khác nhau của các hệ thống sản xuất chế tạo còn được xét trên tính liên tục của các quá trình sản xuất diễn ra ở bên trong. Do đó, các hệ thống sản xuất còn có thể chia thành hai loại: (1) Hệ thống sản xuất liên tục Là hệ thống sản xuất trong đó các máy móc thiết bị, các nơi làm việc được thiết đặt dựa trên cơ sở phối hợp một cách hợp lý các bước công việc để biến các đầu vào thành các chi tiết, bộ phận, hay sản phẩm nhất định. Các đặc tính cơ bản: + Các tuyến công việc và các máy móc thiết bị được thiết đặt khá ổn định khi chuyển từ chế tạo sản phẩm này sang sản phẩm khác. + Dòng dịch chuyển của vật liệu tương đối liên tục. + Tính lặp lại của công việc trên nơi làm việc cao, đặc biệt trong sản xuất khối lượng lớn. + Sản phẩm của hệ thống sản xuất này là sản phẩm tiêu chuẩn, có thể có nhu cầu hoặc đặt hàng với khối lượng lớn.
    5. 5. QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 5 (2) Hệ thống sản xuất gián đọan Là hệ thống sản xuất trong đó các máy móc thiết bị được nhóm lại hoặc được tổ chức phù hợp với chức năng hay công nghệ mà nó thực hiện. Sự khác biệt cơ bản của hệ thống sản xuất này với sản xuất liên tục là cho phép nó có một khả năng mền dẻo cao. Đặc trưng cơ bản của hệ thống sản xuất gián đọan là: + Tuyến dịch chuyển của đối tượng xác định riêng với từng lọai sản phẩm hoặc đơn hàng. Sự phối hợp các nơi làm việc thường được điều khiển từ một trung tâm. + Các sự gián đọan trong quá trình sản xuất + Tính lặp lại thấp, đặc biệt trong sản xuất đơn chiếc. + Sản phẩm đa dạng thích ứng với các nhu cầu riêng biệt, qui mô nhỏ. 5- Hệ thống sản xuất dịch vụ (Non-manufacturing Operation) a- Các hệ thống sản xuất dịch vụ Là các hệ thống sản xuất không tạo ra sản phẩm có hình dạng vật chất cụ thể, mà tạo ra sản phẩm vô hình – các dịch vụ. Các dịch vụ có thể phân biệt dựa trên mức độ tiêu chuẩn hóa của nó: – Dịch vụ dự án – Dịch vụ tiêu chuẩn – Dịch vụ chế biến b- Sự khác biệt giữa hệ thống sản xuất chế tạo và dịch vụ Những sự khác biệt cơ bản giữa sản xuất chế tạo và dịch vụ gồm có: Một là, khả năng sản xuất trong dịch vụ rất khó đo lường vì nó cung cấp các sản phẩm không có hình dạng vật chất cụ thể. Hai là, tiêu chuẩn chất lượng khó thiết lập và kiểm soát trong sản xuất dịch vụ. Ba là, trong sản xuất dịch vụ, có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, các khía cạnh quan hệ giữa sản xuất và Maketing thường chồng lên nhau. Bốn là, sản phẩm của sản xuất dịch vụ không tồn kho được. Ngoài những khác biệt trên, có thể có khác biệt trong kết cấu chi phí và kết cấu tài sản. Thường thường, trong các hệ thống sản xuất dịch vụ có tỷ trọng chi phí tiền lương cao và chi phí nguyên vật liệu thấp hơn trong sản xuất chế tạo. Đồng thời tỷ lệ đầu tư vào tồn kho và tài sản cố định cũng thấp hơn so với sản xuất chế tạo. Song những khác biệt này có thể rất mờ nhạt khi xét trên bình diện chung. III. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT 1- Các kỹ năng cần thiết ở người quản trị sản xuất Các quản trị viên sản xuất cần có các kỹ năng cơ bản sau: – Khả năng kỹ thuật: Khi một quản trị viên ra quyết định về nhiệm vụ sản xuất để người khác thực hiện, họ cần phải hiểu biết hai khía cạnh chủ yếu:
    6. 6. Tài liệu này chỉ xem được một số trang đầu. Vui lòng tải xuống để xem toàn bộ các trang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Sản Xuất & Vai Trò, Nhiệm Vụ Của Người Quản Trị Trong Chức Năng Sản Xuất
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Quản Trị Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Mục Tiêu Và Chức Năng Của Quản Trị Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước
  • Trách Nhiệm, Quyền Hạn Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước
  • Đề Xuất Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Tổng Cục Giáo Dục Nghề Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Bố Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Tổng Cục Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Vai Trò Của Âm Nhạc Đối Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Của Trẻ Em
  • 10 Tác Dụng Của Âm Nhạc Với Sức Khỏe
  • Báo Giá Trẻ Em Gấp Gọn Đa Chức Năng Giáo Dục Sớm Chữ Cái Tiếng Anh Toán Học Âm Nhạc Máy Tính Laptop Máy Đồ Chơi Dành Cho Tuổi 3 + Tuổi Trẻ Em
  • Báo Giá Anie Tianstore Trẻ Em Đa Chức Năng Giáo Dục Sớm Điện Thoại Âm Nhạc Máy Kể Chuyện Chỉ 155.600₫
  • Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang dự thảo Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ.

    Ngày 16/7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Qua hơn 3 năm triển khai thực hiện, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề đã thay đổi: được mở rộng sau khi tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đối với trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ; Luật giáo dục nghề nghiệp đã quy định nhiều nội dung đổi mới…

    Theo dự thảo, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp là tổ chức thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và tổ chức thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp trong phạm vi cả nước. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, là đơn vị dự toán ngân sách cấp II, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục như sau: Giúp Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu và các đề án, dự án về giáo dục nghề nghiệp.

    Cơ cấu, tổ chức

    Dự thảo nêu rõ, cơ cấu, tổ chức của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp được kế thừa, giữ nguyên như Tổng cục Dạy nghề; thực hiện tiếp nhận, kiện toàn, bổ sung 01 đơn vị mới (là Vụ Đào tạo trung cấp) và đổi tên, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của một số đơn vị cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cụ thể, 13 đơn vị gồm: Vụ Đào tạo cao đẳng; Vụ Đào tạo trung cấp; Vụ Đào tạo sơ cấp và thường xuyên; Vụ Nhà giáo và Cán bộ quản lý; Vụ Cơ sở vật chất và thiết bị; Vụ Công tác học sinh, sinh viên; Vụ Kỹ năng nghề; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch – Tài chính; Vụ Pháp chế – Thanh tra; Văn phòng; Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Viện Khoa học giáo dục nghề nghiệp.

    Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp có Tổng Cục trưởng và không quá 04 Phó Tổng Cục trưởng. Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, đình chỉ công tác Tổng Cục trưởng sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. Các Phó Tổng Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển và cách chức theo quy định của pháp luật.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trả Lời Cho Câu Hỏi Giáo Dục Nghề Nghiệp Là Gì Chi Tiết Nhất
  • Mục Tiêu Của Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Phân Tích Chức Năng Và Năng Lực Lãnh Đạo, Quản Lý Của Hiệu Trưởng Nhà Trường
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Nhà Trường
  • Đề Cương Ôn Tập Giáo Dục Học 1
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Sản Xuất
  • Công Việc Của Tổ Trưởng Sản Xuất
  • Tổ Trưởng Sản Xuất Là Gì? Bản Mô Tả Công Việc Tổ Trưởng Sản Xuất
  • Quy Trình Làm Việc Của Tổ Trưởng Chuyền May Và Những Điều Cần Biết
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Tổ Văn Phòng.doc
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Sản Xuất, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, – Thực Hiện Đổi Mới Căn Bản Khi Thực Hiện Một Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Đơn Vị Trong Trường Đh., Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Quyết Định Bổ Nhiệm Tổ Trưởng Sản Xuất, Chức Năng Nhiệm Vụ Quản Đốc Nhà Máy, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng R&d, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Ban, Danh Sách Công Ty Sản Xuất Thực Phẩm Chức Năng, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Quy Chế Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại Luân Chuyển Từ Chức Miễn Nhiệm Cán Bộ Công Chức Lãnh Đạo, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Quân Nhân, Chức Năng Nhiệm Vụ Chăm Sóc Khách Hàng, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, 2022-20 Cẩm Nang Hướng Dẫn Ghi Danh Các Trường Học Xuất Sắc, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Nguyên Tắc Công Tác Tuyên Huấn, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Đơn Xin Thôi Đảm Nhiệm Chức Vụ Chi Hội Trưởng Phụ Nữz, Phân Tích Vị Trí Vai Trò Chức Năng Nhiệm Vụ Của Mật Trận Tổ Quốc Và Đoàn Thể, Xử Lý Môi Trường ô Nhiễm Dioxin Tại Sân Bay Đà Nẵng, Mau Don Xin Tu Nhiem Chuc Danh Pho Hieu Truong, Tờ Trình Bổ Nhiệm Chức Danh Chỉ Huy Trưởng, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd, Quyết Định Bãi Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Hiệu Trưởng, Tờ Trình Xin Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Công An Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Hiệu Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Vụ Phó Hiệu Truong Tiểu Học, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hội, Tờ Trình Xin Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Công An Nhân Dân, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Đơn Xin Miễm Nhiêm Chức Danh Trưởng Kiểm Soat, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd Huyện, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Truong Ban Kinh Te Xa Hoi Hdnd, Don Xin Mien Niem Nhiem Chuc Danh Truong Ban Phap Che HĐnd, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễm Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hhooi HĐnd, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Chỉ Thị Số 89/ct-bqp Ngày 9/11/2016 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng “về Một Số Nhiệm Vụ Cấp Bách Nâng Ca, Chỉ Thị Số 89/ct-bqp Ngày 9/11/2016 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng “về Một Số Nhiệm Vụ Cấp Bách Nâng Ca, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quy Chế Bổ Nhiệm, Bổ Nhiệm Lại, Từ Chức, Miễn Nhiệm Viên Chức, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Bài Thuyết Trình Thi Bí Thư Chi Bộ Gioirvowis Chủ Đề Trình Bày Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Của Đồn, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Bài Thuyết Trình Thi Bí Thư Chi Bộ Giỏi Với Chủ Đề Trình Bày Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Của, Bài Thuyết Trình Thi Bí Thư Chi Bộ Gioirvowis Chủ Đề Trình Bày Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Của Đồn, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Quy Chế Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại Luân Chuyển Từ Chức Miễn Nhiệm Cán Bộ Công , Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới Ch, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Xuất Khẩu Hành Dệt May, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Báo Cáo Thực Tập Về Cơ Cấu Tổ Chức, Nhiệm Vụ Về Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Hướng Dẫn Về Chức Trách Tiêu Chuẩn Cụ Thể Nhiệm Vụ Và Tuyển Dụng Công Chức Xã Phường Thị Trấn, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Luận án Tiến Sỹ Nâng Cao Năng Lực Trạnh Tranh Xuất Khẩu Hàng Dệt May Trong Bối Cảnh Hội Nhập, Bài Phát Biểu Chỉ Đạo Tổng Kết Nhiệm Kỳ Và Bầu Trưởng Thôn Nhiệm Kỳ 2022_2022, Phát Biểu Của Lãnh Đạo Xã Tại Hội Nghị Tổng Kết Nhiệm Kỳ Và Bầu Trưởng Thôn Nhiệm Kỳ 2022 – 2022, Báo Cáo Thực Tập Tốt Nhiệm Về ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi, Dự Thảo Quy Định Tiêu Chuẩn Thủ Tục Bổ Nhiệm Miễn Nhiệm Chức Danh Giáo Sư Phó Giáo Sư, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vên An Toàn, An Ninh Mạng, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhân Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn…, Yeu Cau, Giai Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn Mạng, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Yêu Cầu Thứ Nhất Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh M, Yêu Cầu Thứ Nhất Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh M, Yêu Cầu Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng, Công Văn Thông Tư Hướng Dẫn Việc Bổ Nhiệm, Bĩa Nhiệm Các Chức Danh Về Công An Xã, Tổ Chức Sản Xuất Cơ Khí, Thông Tư 39/2016/tt-bca Ngày 04/10/2016 Được Ban Hành Góp Phần Nâng Cao Hơn Nữa Trách Nhiệm Và Năng, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Đại Học Luật Hà Nội, Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học, Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán Trưởng Trường Học, Quyết Định Bãi Nhiệm Tổ Trưởng Tổ Chuyên Môn Trong Trường Mầm Non, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Mầm Non Tư Thục, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Thpt, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Thcs, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức,

    Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Sản Xuất, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, – Thực Hiện Đổi Mới Căn Bản Khi Thực Hiện Một Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Đơn Vị Trong Trường Đh., Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Quyết Định Bổ Nhiệm Tổ Trưởng Sản Xuất, Chức Năng Nhiệm Vụ Quản Đốc Nhà Máy, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng R&d, Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Ban, Danh Sách Công Ty Sản Xuất Thực Phẩm Chức Năng, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Quy Chế Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại Luân Chuyển Từ Chức Miễn Nhiệm Cán Bộ Công Chức Lãnh Đạo, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Quân Nhân, Chức Năng Nhiệm Vụ Chăm Sóc Khách Hàng, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, 2022-20 Cẩm Nang Hướng Dẫn Ghi Danh Các Trường Học Xuất Sắc, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Nguyên Tắc Công Tác Tuyên Huấn, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Đơn Xin Thôi Đảm Nhiệm Chức Vụ Chi Hội Trưởng Phụ Nữz, Phân Tích Vị Trí Vai Trò Chức Năng Nhiệm Vụ Của Mật Trận Tổ Quốc Và Đoàn Thể, Xử Lý Môi Trường ô Nhiễm Dioxin Tại Sân Bay Đà Nẵng, Mau Don Xin Tu Nhiem Chuc Danh Pho Hieu Truong, Tờ Trình Bổ Nhiệm Chức Danh Chỉ Huy Trưởng, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd, Quyết Định Bãi Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Hiệu Trưởng, Tờ Trình Xin Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Công An Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Hiệu Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Vụ Phó Hiệu Truong Tiểu Học, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hội, Tờ Trình Xin Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Công An Nhân Dân, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Đơn Xin Miễm Nhiêm Chức Danh Trưởng Kiểm Soat, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd Huyện, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Truong Ban Kinh Te Xa Hoi Hdnd, Don Xin Mien Niem Nhiem Chuc Danh Truong Ban Phap Che HĐnd, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễm Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hhooi HĐnd, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Chỉ Thị Số 89/ct-bqp Ngày 9/11/2016 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng “về Một Số Nhiệm Vụ Cấp Bách Nâng Ca, Chỉ Thị Số 89/ct-bqp Ngày 9/11/2016 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng “về Một Số Nhiệm Vụ Cấp Bách Nâng Ca, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quy Chế Bổ Nhiệm, Bổ Nhiệm Lại, Từ Chức, Miễn Nhiệm Viên Chức,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Chức Năng Của Các Tổ Hợp Phím Trên Máy Tính
  • Những Việc Cần Làm Của Tổ Trưởng Chuyên Môn Ở Trường Tiểu Học
  • Vai Trò, Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Chuyên Môn Trong Trường Tiểu Học
  • Tổ Chuyên Môn Là Gì? Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Chuyên Môn
  • Hoàn Thiện Công Tác Tổ Chức Tiền Lương Ở Công Ty Vật Tư
  • Mục Tiêu Và Chức Năng Của Lập Kế Hoạch Sản Xuất Và Kiểm Soát Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Là Gì? Vai Trò Của Kế Hoạch Như Thế Nào Trong Doanh Nghiệp
  • Trưởng Phòng Kế Hoạch: Nhiệm Vụ, Chức Năng Và Trách Nhiệm
  • Bài 8, 9, 10: Tế Bào Nhân Thực
  • Cấu Tạo Tế Bào Sinh Vật Nhân Thực(Tiếp)
  • Tại Sao Nói Màng Sinh Chất Có Tính Bán Thấm?
  • Kiểm soát sản xuất là chủ yếu tham gia trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất và là hệ quả tất yếu để lập kế hoạch sản xuất ngắn hạn hoặc lập kế hoạch. Kiểm soát sản xuất bao gồm bắt đầu sản xuất, dispatching mục, tiến triển và cuối cùng báo cáo kế hoạch sản xuất. Nói chung, kế hoạch sản xuất có nghĩa là kế hoạch của công việc được thực hiện và kiểm soát sản xuất đề cập đến làm việc hoặc thực hiện các kế hoạch.

    1.1. Mục tiêu của kế hoạch sản xuất và kiểm soát

    • Quy hoạch các cơ sở sản xuất theo cách thức tốt nhất có thể cùng với quy hoạch hệ thống thích hợp của hoạt động sản xuất.
    • Cung cấp người đàn ông, máy móc, vật liệu đúng số lượng, chất lượng và cũng có thể cung cấp cho họ vào đúng thời điểm tạo thành một yếu tố rất quan trọng. Thông tin, về những khó khăn hoặc các vị trí khó xử khác nhau để cắt sau đó, để quản lý trước.

    Chức năng hierarchic, có chân trời thời gian tức là khoảng thời gian cho một số chức năng khác nhau trong năm, trong khi đối với một số chức năng, đó là trong vài tuần hoặc vài ngày, vì vậy các chức năng của kế hoạch sản xuất và kiểm soát có thể được tóm tắt thành hai loại, đó là như sau:

    2. Kiểm soát hoạt động sản xuất

    Vì vậy, nó có thể được nói rằng kiểm soát hoạt động sản xuất chịu trách nhiệm cho việc chuyển đổi các kế hoạch thành hành động bằng cách cung cấp một hướng dẫn cần thiết thích hợp.

    • Giúp trong việc lập kế hoạch.
    • Giúp trong việc thực hiện kế hoạch.
    • Đảm bảo sẵn có của các nguồn tài nguyên.
    • Phát hành các đơn đặt hàng cửa hàng.
    • Lịch bắt đầu và ngày hoàn thành của công việc.
    • Thu thập thông tin cần thiết cho các cửa hàng để.
    • Giúp đỡ trong việc kiểm soát các hoạt động.
    • Thiết lập ưu tiên thứ tự.
    • Duy trì ưu tiên thứ tự.
    • Kiểm tra hiệu suất thực tế.
    • Màn hình và WIP điều khiển, thời gian giao hàng.
    • Báo cáo công tác trung tâm biểu diễn.
    • Quản lý các nhiệm vụ cửa hàng sản xuất sàn.
    • Điều khiển dòng chảy công việc sản xuất.
    • Nhằm mục đích đạt được các kế hoạch sản xuất.
    • Chuẩn bị tiến độ.
    1. Infinite tải

      a. Giả định khả năng hữu hạn tại bất kỳ trung tâm làm việc.

      b. Khả năng hạn chế là không được xem xét.

      c. Jobs được nạp vào trung tâm làm việc mà không xem xét đầy đủ năng lực.

    2. Chuyển tiếp lập kế hoạch

      a. Các công việc được lên kế hoạch ngay sau khi nhận được một đơn đặt hàng.

      b. Ngày hoàn thành được phát triển bởi lịch trình của các công việc tại các trung tâm làm việc.

      c. Ngày hết hạn được bỏ qua trong khi lập kế hoạch.

      d. Ngày phát hành là 1.

    3. Ngược Lập kế hoạch

      a. Công việc được lên kế hoạch từ cuối để bắt đầu.

      b. Hoạt động cuối cùng được lên kế hoạch đầu tiên kể từ ngày đáo hạn.

      c. Lập kế hoạch tiếp tục được thực hiện trong chuỗi các hoạt động cho đến khi tất cả các hoạt động của các công việc được lên kế hoạch.

      d. Ngày phát hành là thứ 2.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Ví Dụ Về Quá Trình Lập Kế Hoạch Và Tổ Chức Buổi Họp
  • Những Yếu Tố Nào Có Thể Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Lập Kế Hoạch Của Quản Lý?
  • Khi Dạ Dày Và Lá Lách ‘kêu Cứu’, Chúng Sẽ Nói Gì Đầu Tiên Với Bạn?
  • Tất Cả Về Lá Lách
  • Chức Năng Chính Của Lá Lách Trong Cơ Thể. Kích Thước, Cấu Trúc Cơ Thể
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100