Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Môn Đạo Đức Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Việc Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Cho Nạn Đói Thế Giới
  • Trang chủTìm hiểu pháp luật Lao động và Công đoàn

    Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình 

    Luật Bình đẳng giới 2006 quy định cụ thể bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo; khoa học công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và bình đẳng giới trong gia đình. 

    Theo đó tại Điều 11 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

    3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

    4. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

    5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

    a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

    b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

    Tại Điều 12 luật Bình đẳng giưới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

    2. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

    a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

    b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

    Tại Điều 13 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

    2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

    3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

    c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

    Tại Điều 14 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

    1. Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.

    3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

    4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

    5. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

    b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

    Tại Điều 15 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

    Tại Điều 16 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.

    Tại Điều 17 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

    3. Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

    Tại Điều 18 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong gia đình:

    2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

    3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

    4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

    5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

     

     Thu Hà (tổng hợp)

     

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • 5 chính sách mới có hiệu lực trong tháng 12-2020 công chức, viên chức cần biết 
    • Chấm dứt hợp đồng đúng luật có khó? 
    • Chế độ người lao động được nhận khi doanh nghiệp phá sản năm 2022 
    • Cách tra cứu mã số BHXH đơn giản 
    • Những lưu ý về chế độ trợ cấp thất nghiệp người lao động cần biết 
    • Mức hưởng BHYT sẽ tăng 100% khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến 
    • Những trường hợp không bắt buộc tham gia BHXH 2022 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Tài Xử Lý ? , Hãng Luật Anh Bằng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng
  • Nguyên Tắc Và Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Quân Khu 2 – Chấn Chỉnh Chấp Hành Quy Định Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thứ năm, 30 Tháng 7 2022 15:48

    (LLCT) – Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Gia đình với tư cách là một thiết chế then chốt và cơ bản của xã hội cũng chịu những tác động sâu sắc từ những biến đổi về kinh tế, xã hội, trong đó chức năng kinh tế của gia đình đang có những biến đổi lớn.

    1. Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình.

    Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho rằng, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng. Các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay dường như không còn là đơn vị kinh tế tự sản xuất, tự tiêu thụ mà đã bắt đầu cung ứng ra thị trường. Hiện nay, gia đình vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình theo đuổi các mục đích khác nhau cùng với các hoạt động kinh tế khác nhau; trong đó, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống. Với cách hiểu này, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã khiến cho sự thay đổi mục đích và hoạt động sản xuất của các thành viên trong gia đình. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, chức năng kinh tế hộ gia đình trải qua hai bước chuyển đổi: chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa và chuyển kinh tế gia đình hàng hóa thành kinh tế gia đình thị trường hiện đại. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, gia đình không sử dụng những sản phẩm của mình làm ra mà sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.

    Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây. Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 62,15%. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm 2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011.

    Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh. Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011. Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp, tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng. Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước.

    Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã và đang hiện hữu ở nước ta nói chung, đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chức năng kinh tế của một gia đình biến đổi khi có một hay nhiều thành viên lao động không tham gia vào các hoạt động sản xuất của gia đình hoặc tất cả thành viên lao động của gia đình đều có hoạt động sản xuất ở bên ngoài gia đình với tư cách cá nhân. Một gia đình còn duy trì chức năng kinh tế khi còn ít nhất hai lao động tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình. Khi gia đình chỉ còn một lao động hoặc không có lao động thực hiện các hoạt động sản xuất của gia đình thì gia đình đó không còn có chức năng kinh tế. Điều này có thể hiểu rằng, quá trình biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình giảm dần và tiến tới chỗ không còn thực hiện chức năng kinh tế của nó với tư cách là một đơn vị sản xuất. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trên 95% các gia đình đều có chức năng kinh tế như là một đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp.

    2. Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình

    Qua kết quả điều tra do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2012 (các tỉnh) ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình hiện nay.

    Về cơ cấu nghề của hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu.Các số liệu điều tra cho thấy, số hộ làm nghề nông nghiệp là 34,3%; tiểu thủ công nghiệp là 8,9%; buôn bán, dịch vụ là 8,5% và làm các nghề khác là 48,3%. Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định ở 4 tỉnh:

    Phân tích số liệu cơ cấu nghề của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ cho thấy, các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ có xu hướng làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn, các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng làm buôn bán, dịch vụ nhiều hơn (Xem bảng trên).

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo độ tuổi của chủ hộ

    Những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 20 – 39 ít có xu hướng làm nông nghiệp (dưới 10%) so với những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 40 trở lên. Hộ gia đình có chủ hộ tuổi 40 – 49 có tỷ lệ làm nông nghiệp gấp hơn 3 lần so với hai nhóm tuổi trẻ hơn; và hộ gia đình có chủ hộ tuổi 50 – 59 và trên 60 có tỷ lệ làm nông nghiệp gần gấp đôi so với nhóm tuổi trẻ hơn. Như vậy, có thể thấy sự biến đổi có tính bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo trình độ học vấn của chủ hộ

    Trình độ học vấn của chủ hộ và nghề nghiệp của các hộ gia đình có mối quan hệ khá rõ nét. Học vấn của chủ hộ gia đình càng thấp thì xác suất làm nghề nông nghiệp càng lớn hơn. Các chủ hộ gia đình có học vấn lớp

    1 – 5 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 49,1%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 35,1% và các hộ gia đình, chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 27,1%.

    Các số liệu cũng cho thấy mối quan hệ giữa học vấn của chủ hộ với xác suất làm các nghề buôn bán, dịch vụ của các hộ gia đình. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 5,3%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 7,7% và các hộ gia đình có chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm buôn bán, dịch vụ là 11,9%.

    Quan hệ cơ cấu nghề của hộ gia đình và quy mô diện tích đất sản xuất

    Phân tích mối quan hệ giữa bình quân diện tích đất sản xuất /đầu người và ngành nghề của hộ gia đình cho thấy kết quả như sau: các hộ nông nghiệp có bình quân diện tích đất sản xuất cao nhất với 630 m 2; các hộ buôn bán, dịch vụ là 551 m 2; các hộ làm tiểu thủ công nghiệp là 417 m 2 và các hộ làm nghề khác là 513m 2. So với các số liệu về bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp, các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp so với các loại hộ khác. Trong hoạt động thương mại, dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các hộ thương mại, dịch vụ thường có diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp nhiều hơn các loại hình hộ sản xuất khác.

    Có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh tới quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các cá nhân đó là yếu tố thế hệ và trình độ học vấn. Những người lao động ở độ tuổi càng trẻ thì xác suất làm nông dân càng thấp và những người lao động có trình độ học vấn càng cao thì xác suất làm nông dân càng thấp hơn. Những lao động ở nông thôn thuộc các thế hệ trẻ (dưới 40 tuổi) và có trình độ học vấn lớp 10 trở lên có xu hướng thoát ly hộ gia đình nông nghiệp và làm các nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình này làm giảm tỷ trọng các hộ nông nghiệp, và từ đó làm giảm tỷ trọng các hộ còn duy trì chức năng kinh tế của hộ gia đình nói chung.

    Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân sang các loại hình hộ kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ là một quá trình tất yếu khách quan ở nông thôn hiện nay. Trong những điều kiện đất đai canh tác ngày càng hạn chế, thu nhập lao động nông nghiệp thấp so với tất cả các ngành nghề khác trong xã hội và không thể đáp ứng được nhu cầu đời sống ngày càng cao, việc thoát ly sản xuất nông nghiệp là không thể tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động nông thôn. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi nghề của một hộ gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ đều cần một lượng vốn nhất định. Do đó, chỉ có một bộ phận số hộ nông nghiệp có khả năng chuyển đổi nghề sang các lĩnh vực khác với tư cách là một đơn vị hộ kinh tế. Số hộ nông nghiệp còn lại sẽ không có khả năng tiếp tục thực hiện các chức năng kinh tế hộ khi các thành viên lao động thoát ly và làm các nghề khác. Số liệu khảo sát cho thấy, trong các hộ nông nghiệp, tỷ lệ hộ thuần nông nghiệp chiếm 35%. Do đó, số hộ kinh tế nông nghiệp sẽ ngày càng giảm.

    Với quy mô đất canh tác giảm và thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hiện nay, ước tính để duy trì hoạt động của các hộ nông nghiệp như là một đơn vị kinh tế và bảo đảm thu nhập cho lao động nông nghiệp ở mức trung bình của xã hội, quy mô đất canh tác của hộ cần tăng 3 – 4 lần. Như vậy, tức là số hộ nông nghiệp sẽ giảm 3 – 4 lần. Tỷ trọng các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ giảm từ hơn 30% như hiện nay xuống còn khoảng 10% trong vòng 10 năm tới.

    Trong ba loại hình kinh tế hộ, các hộ kinh tế tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ có thể duy trì và tăng số lượng, nhưng sẽ khó tăng nhanh do những khó khăn về nguồn vốn và chất lượng lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Do đó, trong giai đoạn 10 – 20 năm tới, với đà giảm số lượng các hộ nông nghiệp, tỷ trọng các hộ gia đình có chức năng kinh tế sẽ tiếp tục giảm.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

    TS Đặng Ánh Tuyết

    Viện Xã hội học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Kiểm Soát Tham Nhũng Trong Khu Vực Công
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công Quanlycong Ppt
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công
  • Vai Trò Của Bảo Hiểm Với Đời Sống Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Lý Thuyết Bảo Hiểm
  • Phân Tích Bản Chất, Chức Năng Của Bhxh
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Cơ Quan Bhxh Cấp Tỉnh, Cấp Huyện
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Gia Lâm? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Gia Lâm, Tp Hà Nội
  • Ngành Bảo Hiểm Xã Hội Quyết Tâm Hoàn Thành Thắng Lợi Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Trong đà phát triển của nền kinh tế hiện nay, Bảo hiểm ngày càng chứng mính được vai trò quan trọng của mình đối với đời sống kinh tế xã hội. Vai trò quan trọng của bảo hiểm với tư cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân có thể được kể đến như sau:

    1. Chuyển giao rủi ro

    Bảo hiểm vận hành giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro. Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang công ty bảo hiểm. Ví dụ: Một người mua một chiếc ôtô trị giá 500 triệu đồng. Đây là sự đầu tư lớn nhất từ trước đến nay của anh ta. Một người lạc quan nhất cũng nhận ra rằng việc đầu tư trên có thể gặp rủi ro. Chiếc xe có thể bị ăn cắp hoặc bị hư hại do tai nạn hoặc hoả hoạn gây ra. Tai nạn có thể gây thương tích nặng cho những người khác. Trong trường hợp đó chủ xe sẽ đối phó với những rủi ro tiềm tàng này cũng như những hậu quả tài chính của chúng bằng cách nào? Anh ta không biết chắc liệu rủi ro có xảy ra hay không và nếu chúng xảy ra hậu quả sẽ là bao nhiêu? Có thể cho tới thời điểm cuối của một năm nào đó sẽ không có sự cố nào xảy ra nhưng cũng có thể ngay ngày đầu năm đó, xe của anh ta bị phá huỷ hoàn toàn. Bằng cách tham gia bảo hiểm, chủ xe đã chuyển giao rủi ro sang công ty bảo hiểm. Khi đó nếu có những tổn thất, thiệt hại xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ thực hiện bồi thường. Chủ xe có thể an tâm vì những tổn thất đó đã được chia sẻ.

    2. San sẻ tổn thất

    Bảo hiểm có tác dụng san sẻ tổn thất tài chính của một số ít người cho số đông nhiều người. Đây là tác dụng hết sức quan trọng của bảo hiểm. Khi số đông tham gia bảo hiểm, không phải tất cả mọi người tham gia đều gặp phải rủi ro tổn thất mà chỉ một số ít người trong đó không may gặp phải rủi ro. Do đó, thông qua việc đóng góp một khoản tiền nhỏ, người tham gia bảo hiểm không những được bảo vệ trước những thiệt hại về tài chính (nếu có) mà còn góp phần hỗ trợ, giúp đỡ những người không may khác. Tác dụng này đã thể hiện rõ nguyên tắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tương hỗ.

    3. Giảm thiểu tổn thất, thiệt hại

    Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ, các công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của xã hội.

    Cụ thể:

    – Giải quyết hậu quả kịp thời giúp khách hàng nhanh chóng ổn định kinh doanh và cuộc sống (Ví dụ: Khi xảy ra rủi ro với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm nhanh chóng thực hiện cứu hộ, khôi phục, sửa chữa tài sản thiệt hại, nhanh chóng chi trả, giải quyết quyền lợi cho bên mua bảo hiểm¼)

    4. Ổn định chi phí

    Nếu không tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể tiết kiệm được một khoản chi phí (phí bảo hiểm) giúp giảm chi (nếu các yếu tố khác không đổi). Nhưng thay vào đó họ phải tự mình lập ra những khoản dự phòng (có thể rất lớn) để đề phòng cho những rủi ro, tổn thất có thể sẽ gặp phải trong tương lai, hoặc “chờ đợi” khi rủi ro, tổn thất xảy ra sẽ phải có những khoản chi phí phát sinh (có thể rất lớn) để bù đắp, giải quyết thiệt hại, tổn thất. Như vậy dù bằng cách này hay cách khác, khi không tham gia bảo hiểm, với những rủi ro tổn thất có thể sẽ xảy ra trong tương lai, khách hàng không thể chủ động về mặt chi phí để “đối phó” với những rủi ro, tổn thất này. Ngược lại, khi tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể chủ động về mặt chi phí. Bằng việc đóng những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ so với những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra), khách hàng sẽ được đảm bảo an toàn bởi các công ty bảo hiểm.

    Ví dụ: Một công ty chuyên sản xuất kinh doanh đồ chơi cho trẻ em. Trong trường hợp lạc quan nhất, vị giám đốc đó cũng nhận thấy rằng rủi ro có thể đến bất kỳ lúc nào đối với doanh nghiệp của anh ta như mất cắp, hoả hoạn,… Nếu điều đó xảy ra, sẽ gây tổn thất cho công ty, làm gia tăng chi phí, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh. Bằng cách tham gia bảo hiểm, chi phí đầu vào của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhưng thay vào đó, họ đã chuyển phần rủi ro cho công ty bảo hiểm, góp phần ổn định chi phí, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

    5. An tâm về mặt tinh thần

    Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển phần rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm nên đã giải toả được nỗi sợ hãi và lo lắng về những tổn thất có thể xảy ra.

    Ví dụ:

    + Với một cá nhân: Một người là trụ cột một gia đình với hai con nhỏ, thu nhập của anh khoảng 10 triệu đồng một tháng. Với rất nhiều công việc phải lo toan trong cuộc sống, anh nghĩ rằng: Nếu không may có điều gì đó xảy ra, vợ con mình sẽ ra sao? Họ sống thế nào khi khoản thu nhập của gia đình bị giảm? Bằng cách tham gia bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp cho mình với số tiền bảo hiểm 100 triệu đồng, anh sẽ được an tâm về tinh thần, giải toả những lo lắng đối với gia đình nếu không may những rủi ro thường trực xảy ra.

    + Với một cơ sở sản xuất: Nếu người giám đốc quan tâm, tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm hỗn hợp cho cán bộ công nhân viên thì không chỉ lãnh đạo đơn vị mà mọi thành viên sẽ yên tâm làm việc, phát triển sản xuất kinh doanh

    6. Kích thích tiết kiệm

    Bảo hiểm ra đời đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về tiết kiệm một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn. Hơn thế nữa trong bảo hiểm nhân thọ có những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính tiết kiệm. Khi không có rủi ro xảy ra, khoản phí bảo hiểm khách hàng đóng có tính chất như những khoản tiền được tích lũy định kỳ. Hay nói cách khác, khi không có rủi ro xảy ra, bảo hiểm là một trong những hình thức tiết kiệm hiệu quả cho khách hàng.

    7. Đầu tư phát triển kinh tế

    Một trong những đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Do vậy, các công ty bảo hiểm có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn. Lượng vốn này sẽ được các công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khả năng cạnh tranh của mỗi công ty bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư. Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau, trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng khoán.

    Ví dụ: Bảo Việt hàng năm đã thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức trên thị trường tài chính Việt Nam: Bảo Việt tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán qua công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt; tham gia góp vốn vào Công ty vui chơi giải trí Hồ Tây, Ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu; mua trái phiếu Kho bạc Nhà nước…

    8. Tạo công ăn việc làm

    Xét trên bình diện vĩ mô, bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Ví dụ: Ở Pháp, hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng 1% dân số đất nước. Điều đó chứng tỏ hoạt động bảo hiểm là lĩnh vực thu hút lao động xã hội không nhỏ. Ngoài ra, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Là Gì? Tìm Hiểu Về Bhxhvn
  • Tìm Hiểu Về Quy Trình Xử Lý Các Loại Bảo Hiểm Của Kế Toán Viên
  • Tiểu Luận Phân Tích Vai Trò Của Bhxh Đối Với Đời Sống Kinh Tế
  • Vai Trò Của Bhxh Trong Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Vai Trò Của Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội, Bảo Hiểm Y Tế Đối Với An Sinh Xã Hội Của Đất Nước
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Quản Trị Đời Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Rủi Ro
  • Ra Quyết Định Trong Quản Trị
  • Quản Trị Tài Chính Là Gì? 7 Chức Năng Của Quản Trị Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Tài Chính Doanh Nghiệp Và Hệ Công Cụ Quản Trị Tài Chính
  • Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Thanh Hóa
  • CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ:

    1. Chức năng

    Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quy hoạch, xây dựng cơ bản, phát triển và sử dụng cơ sở vật chất trang thiết bị của Trường. Quản lý đất đai, quản lý các hoạt động mua sắm, quản lý tài sản trang thiết bị và theo dõi sử dụng hiệu quả các tài sản thiết bị của Trường phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu và học tập.

    1. Nhiệm vụ:

    • Đầu mối xây dựng, trình Hiệu trưởng phê duyệt và thực hiện kế hoạch xây dựng mới cơ sở vật chất theo quy hoạch đã được phê duyệt.
    • Tổ chức quản lý chặt chẽ nhà cửa, kho tàng, đất đai, ao hồ, hàng rào, các công trình công cộng và cơ sở vật chất khác trong phạm vi khuôn viên trường quản lý.
    • Xây dựng trình Hiệu trưởng phê duyệt và thực hiện kế hoạch sửa chữa các công trình và cơ sở vật chất khác phục vụ cho công tác quản lý giảng dạy, học tập và sinh hoạt của Trường.
    • Thực hiện quản lý, kiểm tra và phối hợp cùng với các đơn vị tư vấn giám sát thi công các công trình từ mọi nguồn vốn xây dựng cơ bản và sửa chữa trong Trường theo quy định hiện hành.
    • Mua sắm cấp phát vật tư, thiết bị, tài sản, phương tiện và dụng cụ làm việc phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập theo quy định hiện hành.
    • Phối hợp với các đơn vị chức năng lập kế hoạch bố trí giảng đường phù hợp với kế hoạch đào tạo của Trường.
    • Quản lý, điều hành việc sử dụng có hiệu quả hệ thống giảng đường. Đảm bảo đầy đủ giảng đường phục vụ cho giảng dạy học tập. Tổ chức thực hiện tốt các dịch vụ phục vụ giảng đường như nước uống, hệ thống ánh sáng, hệ thống âm thanh, vệ sinh…
    • Báo cáo Hiệu trưởng tình hình sử dụng giảng đường theo học kỳ. Kiến nghị nhà Trường về việc bố trí, sắp xếp hệ thống giảng đường nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả.
    • Thường trực các hội đồng tư vấn về quản lý nhà đất, mua sắm và thanh lý trang thiết bị, đấu thầu xây dựng cơ bản, sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuật của trường, thường trực các ban Phòng cháy chữa cháy và phòng chống bão lụt của Trường.
    • Tổ chức quản lý chăm sóc cây xanh trong khuôn viên Trường.
    • Thực hiện quản lý, điều phối sử dụng các phương tiện làm việc, giảng dạy và học tập trong Trường. Quản lý và đảm bảo điện, nước cho làm việc và sinh hoạt trong phạm vi Trường được phân công. 
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Chung Về Phòng Quản Trị Đời Sống
  • Giới Thiệu Phòng Quản Trị
  • Quản Trị Trường Học: Phát Huy Vai Trò Của Hiệu Trưởng
  • Quản Trị Nhân Sự Ngành Nhà Hàng Khách Sạn Năm 2022
  • Quy Chế Quản Lý, Sử Dụng Hệ Thống Trong Công Tác Tiếp Nhận, Xử Lý Văn Bản Điện Tử Thông Qua Phần Mền Quản Lý Văn Bản Hồ Sơ Công Việc (Tdoffice)
  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty
  • Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

    giai đoạn cách mạng mới, trong đó xây phát triển nền kinh tế thị trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Quản Lý Văn Hóa Và Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Văn Hóa Xã, Phường: Vướng Từ Cơ Chế
  • Mô Tả Công Việc, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phụ Bếp Nhà Hàng
  • Bỏ Khu Phố, Thay Vào Tổ Dân Phố
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Nội Thất Là Gì Chưa?
  • Điều 1. Vị trí và chức năng

    Phòng Quản lý Văn hóa và Gia đình là phòng chuyên môn thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu.

    Theo dõi, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các đơn vị Bảo tàng tỉnh; Thư viện tỉnh; Trung tâm Văn hoá – Nghệ thuật tỉnh và các phòng Văn hoá và Thông tin các huyện, thành phố trong tỉnh về lĩnh vực văn hoá và công tác gia đình.

    Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn

    1. Tham mưu với Ban Giám đốc Sở trình UBND tỉnh, Bộ VH,TT&DL: Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; đề án, dự án, chương trình phát triển văn hóa, gia đình; phối hợp với Văn phòng Sở xây dựng chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước; phân cấp quản lý và xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa ở địa phương; Dự thảo quyết định, chỉ thị, nghị quyết thuộc thẩm quyền ban hành của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về văn hóa, gia đình; Dự thảo quyết định thành lập, giải thể các Hội đồng chuyên ngành về lĩnh vực văn hóa, gia đình theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chương trình sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực văn hóa và gia đình thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    2. Về Di sản văn hoá:

    + Tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá tại địa phương sau khi được phê duyệt;

    + Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa vật thể ở địa phương; cấp phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài;

    + Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử ở địa phương;

    + Thỏa thuận chủ trương lập dự án, báo cáo kinh tế – kỹ thuật; thẩm định dự án, thỏa thuận thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cấp tỉnh ở địa phương; hướng dẫn tổ chức thực hiện tu sửa cấp thiết và các dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt;

    + Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh của địa phương có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di tích;

    + Tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn thủ tục, trình cấp có thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò, khai quật khảo cổ, khai quật khẩn cấp; theo dõi, giám sát việc thực hiện nội dung giấy phép khai quật ở địa phương;

    + Thẩm định hiện vật và hồ sơ hiện vật đề nghị công nhận bảo vật quốc gia của bảo tàng cấp tỉnh, ban hoặc trung tâm quản lý di tích, bảo tàng ngoài công lập, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc đang quản lý hiện vật hợp pháp ở địa phương;

    + Xác nhận điều kiện đối với việc thành lập bảo tàng cấp tỉnh và điều kiện được cấp phép hoạt động đối với bảo tàng ngoài công lập ở địa phương.

    3. Về nghệ thuật biểu diễn:

    + Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch các đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của địa phương phù hợp với quy hoạch phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn theo quy định của pháp luật;

    + Tham mưu tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn về nghệ thuật biểu diễn do địa phương tổ chức trên địa bàn theo quy định của pháp luật;

    + Thẩm định, cấp giấy phép tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang cho các tổ chức thuộc địa phương:

    – Nhà hát; Đoàn Nghệ thuật; Nhà Văn hóa; Trung tâm Văn hóa, Thể thao;

    – Doanh nghiệp có chức năng tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang;

    – Hội Văn học, nghệ thuật; cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật;

    – Cơ quan phát thanh, cơ quan truyền hình; nhà hát, đoàn nghệ thuật lực lượng vũ trang (trường hợp tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn nghệ thuật nhằm mục đích kinh doanh).

    + Tiếp nhận thông báo tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang tại địa phương;

    + Tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy phép cho tổ chức cá nhân Việt Nam thuộc địa phương ra nước ngoài biểu diễn, cấp giấy phép cho các tổ chức thuộc địa phương mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang tại địa phương, cấp giấy phép tổ chức thi người đẹp, người mẫu trong phạm vi địa phương;

    + Tổ chức thực hiện việc cấp thẻ hành nghề cho nghệ sỹ, người mẫu lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn theo quy định của pháp luật;

    + Cấp giấy phép phê duyệt nội dung, cấp nhãn kiểm soát bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu cho các tổ chức thuộc địa phương sản xuất hoặc nhập khẩu.

    4. Về điện ảnh

    + Làm nhiệm vụ thường trực Hội đồng thẩm định kịch bản văn học đối với việc sản xuất phim đặt hàng từ ngân sách nhà nước, Hội đồng thẩm định phim cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về điện ảnh;

    + Cấp, thu hồi giấy phép phổ biến phim phóng sự, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình, phim có sử dụng các hiệu ứng đặc biệt tác động đến người xem phim do cơ sở điện ảnh thuộc địa phương sản xuất hoặc nhập khẩu;

    + Cấp, thu hồi giấy phép phổ biến phim truyện do cơ sở điện ảnh, địa phương sản xuất và nhập khẩu theo quy định của pháp luật về điện ảnh;

    + Phối hợp kiểm tra việc phổ biến phim ở rạp, phim chiếu lưu động, phim phát trên các phương tiện khác tại các điểm hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí công cộng;

    + Hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quy định về kinh doanh băng đĩa phim và các hoạt động điện ảnh khác ở địa phương;

    5. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm:

    + Tham mưu tổ chức thực hiện các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm quy mô cấp tỉnh;

    + Tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép triển lãm, mỹ thuật, cấp giấy phép xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng, cấp giấy phép tổ chức trại sáng tác điêu khắc theo quy định của pháp luật;

    + Cấp giấy phép triển lãm nhiếp ảnh theo quy định của pháp luật; cấp giấy phép sao chép tác phẩm mỹ thuật về danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, lãnh tụ;

    + Tiếp nhận thông báo tổ chức thi sáng tác tác phẩm mỹ thuật quy mô cấp tỉnh; tiếp nhận đăng ký tổ chức thi, liên hoan tác phẩm nhiếp ảnh; tiếp nhận đăng ký các triển lãm khác thuộc phạm vi quản lý của ngành văn hóa, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật;

    + Quản lý động hoạt động mua bán, trưng bày, sao chép tác phẩm mỹ thuật tại địa phương.

    7. Về thư viện:

    + Chủ trì, phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông chuyển giao các xuất bản phẩm lưu chiểu tại địa phương cho thư viện cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;

    + Hướng dẫn việc đăng ký hoạt động đối với thư viện ở địa phương theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch; cấp và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đối với thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật;

    + Hướng dẫn các thư viện ở địa phương xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    9. Về văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động:

    + Tổ chức thực hiện và phối hợp kiểm tra việc thực hiện chính sách văn hóa dân tộc, bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng các dân tộc cư trú tại địa phương;

    + Hướng dẫn tuyên truyền cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quy hoạch hệ thống cổ động trực quan tại địa phương; hướng dẫn tổ chức các lễ hội.

    + Tham mưu tổ chức hội thi, hội diễn nghệ thuật quần chúng, thi sáng tác tranh cổ động, cụm cổ động; cung cấp tài liệu tuyên truyền, tranh cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương;

    + Hướng dẫn cấp giấy phép hoạt động vũ trường; hướng dẫn hoạt động quản lý kinh doanh karaoke; quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, trò chơi điện tử không nối mạng và vui chơi giải trí nơi công cộng tại địa phương;

    + Hướng dẫn việc thực hiện liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng và các hoạt động văn hóa khác tại địa phương;

    + Hướng dẫn xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở ở địa phương trên cơ sở quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và hướng dân tổ chức các lễ hội.

    + Hướng dẫn việc trang trí, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ Tịch Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.

    10. Về văn học

    + Tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về hoạt động văn học ở địa phương theo quy định của pháp luật;

    + Hướng dẫn, tổ chức thực hiện hoạt động văn học ở địa phương theo quy định của pháp luật.

    11. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy hoạch thiết chế văn hóa cơ sở ở địa phương sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; xây dựng gia đình, làng, cơ quan, đơn vị văn hóa tại địa phương; hướng dẫn xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hương ước, quy ước.

    12. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”: Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành phố chỉ đạo và hướng dẫn, kiểm tra phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Tham mưu các hoạt động Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cấp tỉnh.

    14. Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa và gia đình đối với phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc thuộc lĩnh vực văn hóa.

    15. Tham gia biên soạn tài liệu nghiệp vụ và tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ dự các lớp tập huấn quản lý nghiệp vụ do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức; tham gia thực hiện các tập tài liệu nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phục vụ công tác thông tin tuyên truyền trong nội bộ ngành.

    16. Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm khác như:

    + Tổ chức hoạt động giám định tư pháp về văn hóa;

    + Đề xuất, tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học về quản lý Quản lý Văn hóavà gia đình nhằm phục vụ cho việc phát triển sự nghiệp của ngành;

    + Tham gia kiểm tra hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa, xuất nhập văn hoá phẩm trên địa bàn tỉnh khi được đề nghị;

    17. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ: tháng, quý, 6 tháng, năm và báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình với cơ quan chức năng.

    18. Thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý.

    19. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Sở giao.

    – Thực hiện, phối hợp thực hiện các đề án, dự án thuộc lĩnh vực văn hóa;

    – Tham mưu thường trực một số nhiệm vụ mà Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là thành viên Ban Chỉ đạo.

    Điều 3. Tổ chức và biên chế

    1. Phòng Quản lý Văn hóa và Gia đình có Trưởng phòng, không quá 02 Phó Trưởng phòng và các chuyên viên.

    a. Trưởng phòng là người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm trước Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách và pháp luật về các hoạt động của đơn vị.

    b. Phó trưởng phòng là người giúp việc cho Trưởng phòng, được giao phụ trách một hoặc một số mặt công tác, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và pháp luật về lĩnh vực được phân công.

    c. Chuyên viên là những người tham mưu, đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ do Trưởng phòng phân công. Chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công.

    d. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định theo quy định của Nhà nước về công tác cán bộ.

    2. Biên chế

    Biên chế của phòng Quản lý Văn hóa và Gia đình do Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định trong tổng biên chế hành chính được giao hàng năm.

    Điều 4. Tổ chức thực hiện

    Quy định này Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Quản lý Văn hóa và Gia đình. Trưởng phòng Quản lý Văn hóa và Gia đình có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của phòng theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện nếu có điểm chưa phù hợp sẽ xem xét điều chỉnh./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Diện Chức Năng Nhiệm Vụ Nhà Văn Hóa
  • Nhà Văn Hóa, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Nhà Văn Hóa
  • Chức Năng Của Nhà Văn Hóa
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Mua Hàng
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Hiệu Trưởng Trường Mầm Non Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Phát Triển Kinh Tế Hộ Gia Đình Ở Xã Năng Khả

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Mô Hình Kinh Tế Hộ
  • Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế Hộ Gia Đình
  • Giải Pháp Góc Là Gì?
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tập Thể, Hợp Tác Xã Phi Nông Nghiệp Trong Thời Gian Tới.
  • Cơ Hội, Thách Thức Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tập Thể, Hợp Tác Xã Trong Thập Kỷ Mới
  • Nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của địa phương, trong những năm qua, thực hiện các cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh, xã Năng khả đã tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển.

    Đến thăm hộ gia đình anh Phan Thanh Ngọc ở thôn Nà Khá, xã Năng Khả, chúng tôi thật bất ngờ bởi từ một thanh niên chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp anh đã mạnh dạn vượt khó khăn, làm giàu từ chính đôi bàn tay của mình bằng việc phát triển kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp.

    Đàn gà thương phẩm của gia đình anh Phan Thanh Ngọc

    Trao đổi với anh Ngọc, anh cho chúng tôi biết: Sinh sống ở vùng quê còn nhiều khó khăn, đi lại không thuận lợi, người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề nông, để tìm được hướng đi và có giải pháp làm giàu là rất khó khăn với tầng lớp thanh niên trẻ như anh ở địa phương. Qua nhiều đêm suy nghĩ, anh nhận thấy ở hầu khắp các địa phương nông thôn miền núi thường có 3 lĩnh vực cho thu nhập chính đó là trồng cây lâm nghiệp, trồng cây lương thực và chăn nuôi. Với điều kiện cụ thể ở thôn Nà Khá thì lĩnh vực nào cũng manh mún, nhỏ lẻ, đặc biệt là ở lĩnh vực chăn nuôi thì chỉ mang tính tự cung, tự cấp.

    Với những trăn trở đó, anh đã bàn bạc cùng gia đình mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi để tạo ra sản phẩm mang tính hàng hóa thì mới cho thu nhập cao và ổn định, bền vững. Với quyết tâm và sự cố gắng của bản thân từ năm 2014 đến năm 2022 gia đình anh Ngọc đã đầu tư vào chăn nuôi gia cầm. Đồng thời học hỏi, nghiên cứu cách thức, phương pháp chăn nuôi hiệu quả. Từ kinh nghiệm tích luỹ, dần dần gia đình anh đã trở thành đầu mối sản xuất, cung cấp con giống cho các hộ gia đình trong xã và các lân cận trên địa bàn huyện Na Hang.

    Bên cạnh đó, đầu năm 2022, gia đình anh đã chủ động vay vốn của Ngân hàng với tổng số tiền vay là 160 triệu đồng để đầu tư xây dựng chuồng trại nuôi gà giống và xây dựng 02 lò ấp trứng với công suất ấp 1 vạn trứng/lượt. Từ kinh nghiệm và uy tín của gia đình, trong thời gian ngắn gia đình anh đã cung cấp con giống gia cầm cho hầu khắp các hộ dân trong xã và các xã vùng lân cận. Đến nay, trung bình mỗi năm gia đình anh cung cấp khoảng trên 20 vạn con giống gia cầm và trên 5.000 con gia cầm thương phẩm ra thị trường. Sau khi tính toán trừ mọi khoản chi phí, thu nhập đạt khoảng 250 triệu đồng/năm.

    Thành viên trong gia đình anh Ngọc kiểm tra chất lượng đàn gà mới nở

    Từ hiệu quả phát triển kinh tế của gia đình, anh Ngọc đã trao đổi, khuyến khích các hộ gia đình trong thôn và các hộ ở các thôn khác trong và ngoài xã làm theo, đặc biệt là tập trung tuyên truyền, vận động các đoàn viên thanh niên trong thôn phát huy sức trẻ, “ tuổi trẻ lập thân lập nghiệp, giúp nhau làm kinh tế giỏi” bằng cách tư vấn, hướng dẫn cho họ cách chăn nuôi, phòng và điều trị bệnh cho gia cầm ở từng thời kỳ sinh trưởng, hỗ trợ cung ứng con giống, ký hợp đồng thu mua toàn bộ trứng đạt tiêu chuẩn để ấp, nhân đàn. Mặt khác ký hợp đồng thu mua gia cầm thương phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng (gia cầm sạch) để cung cấp ra thị trường. Đồng thời tôi cũng chủ động tìm đến các nhà hàng trên địa bàn huyện Na Hang giới thiệu và cam kết cung cấp sản phẩm đúng số lượng và chất lượng theo yêu cầu.

    Bằng sự cố gắng vươn lên trong phát triển kinh tế hộ, đến nay mỗi tháng gia đình anh đã đặt mua của các gia đình trên 01 vạn quả trứng để ấp và trên 1.000 kg gia cầm thương phẩm để cung cấp ra thị trường. Từ chăn nuôi nhiều hộ đã có thu nhập khá hơn so với trước đây.

    Để mở rộng quy mô, tạo thành chuỗi khép kín từ khâu cung cấp con giống, thức ăn đến thu mua lại sản phẩm khi đủ tiêu chuẩn để người chăn nuôi yên tâm đầu tư làm ăn, từ tháng 5/2019 gia đình anh đã liên kết với Đoàn thanh niên của xã vận động các hộ có cùng chí hướng chăn nuôi, quyết tâm vươn lên làm giàu thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp thanh niên Năng Khả, đến nay Hợp tác xã đã đi vào hoạt động với 9 thành viên.

    Sự phát triển của kinh tế hộ gia đình đang dần khẳng định vị trí rõ nét trong quá trình xây dựng nông thôn mới, góp phần giúp người dân phát huy lợi thế, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường, làm thay đổi diện mạo quê hương./.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhị Hà Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế Hộ Gia Đình
  • Tái Cơ Cấu Nền Kinh Tế: Thách Thức Và Cơ Hội
  • Giải Pháp Đẩy Mạnh Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Nông Thôn
  • Chuyển Dịch Cơ Cấu, Xây Dựng Nền Nông Nghiệp Bền Vững, Hiệu Quả
  • Bộ Kh & Đt: Kiến Nghị 12 Nhóm Giải Pháp Để Tái Cơ Cấu Kinh Tế
  • Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 37: Trách Nhiệm Gia Đình
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình (Tiết 2)
  • Bài 12. Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • (Tư Vấn) +8 Máy May Gia Đình Tốt Nhất (Review: 2022)
  • Chức năng cơ bản của gia đình là vai trò cơ bản của gia đình mà vai trò đó làm cơ sở cho toàn bộ sự hoạt động và phát triển của gia đình.

    Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng mỗi con người, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì gia đình có ba chức năng cơ bản: chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế. Chức năng sinh đẻ nhằm tái sản xuất ra con người, nhằm duy trì và phát triển nòi giống. Nhờ có chức năng sinh để của gia đình mà xã hội không thể bị diệt vong. Chức năng giáo dục nhằm trang bị cho con người những tri thức cần thiết để phục vụ cuộc sống, phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Chức năng kinh tế của gia đình nhằm tạo ra những gia đình ấm no. Kinh tế gia đình phát triển thì nền kinh tế quốc gia mới hưng thịnh. Trong các chức năng trên, chức năng giáo dục đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, gia đình Việt Nam còn có chức năng quan tâm, chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi.

    • Yêu cầu phản tố là gì ? Quy định về yêu cầu phản tố(09/11)
    • Yêu cầu của đương sự là gì ? Quy định về yêu cầu của đương sự(09/11)
    • Yếu tố nước ngoài là gì ? Quy định pháp luật về yếu tố nước ngoài ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là gì ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật là gì ? Quy định về ý thức pháp luật(09/11)
    • Ý thức công dân là gì ? khái niệm ý thức công dân được hiểu thế nào ?(09/11)
    • Ý chí nhà nước là gì ? Khái niệm ý chí nhà nước hiểu thế nào cho đúng ?(09/11)
    • Xử phạt vi phạm hành chính là gì ? Quy định về xử phạt vi phạm hành chính(09/11)
    • Xử lý vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về xử lý vi phạm pháp luật(09/11)
    • Xử lý vi phạm kỷ luật lao động là gì ? Quy định về xử lí vi phạm kỷ luật lao động(09/11)
    • Bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?
    • Vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về hành vi vi phạm pháp luật
    • Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là gì ? Quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trung Tâm Dân Số
  • Hậu Quả Của Việc Không Thực Hiện Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Máy Hàn Điện Tử Legi Tig
  • Máy Hàn 3 Chức Năng Que
  • Máy Hàn Điện Tử, Hàn Inox, Co2, Hàn Tig, Hàn Mig
  • Bài 1: Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Sinh 11 Bài 16 (Có Đáp Án): Tiêu Hóa Ở Động Vật (Tiếp Theo).
  • Chức Năng Nào Sao Đây Không Đúng Với Răng Của Thú Ăn Cỏ?
  • Đề Kiểm Tra Môn Sinh Học Lớp 11
  • Trắc Nghiệm Sinh Học Lớp 11 Bài 16
  • Chức Năng Nào Không Đúng Với Răng Của Thú Ăn Thịt?
  • Tóm tắt lý thuyết

    Để đưa ra một khái niệm chuẩn xác về gia đình là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Bởi mỗi một xã hội lại có một cách nhìn khác nhau về gia đình nên chúng ta chỉ có thể đưa ra khái niệm trong một hoàn cảnh cụ thể và trong một khung cảnh nhất định. Nếu như ở các nước Châu Âu coi gia đình đơn giản chỉ là một nhóm xã hội như bao nhóm xã hội khác thì ở các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam luôn xem gia đình như một tế bào xã hội có đầy đủ các yếu tố sinh thành.

    Vì vậy, theo nghĩa truyền thống chúng ta có thể xem xét gia đình như là một thiết chế xã hội đặc thù, là một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên chung sống với nhau trong một không gian sinh tồn, có quan hệ hôn nhân, huyết thống, tình cảm, nuôi dưỡng. Các thành viên gắn bó mật thiết với nhau bởi nghĩa vụ quyền lợi được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi người cũng như thực hiện vai trò của gia đình trước toàn xã hội.

    Trong nghiên cứu của xã hội học, gia đình cũng được nhìn nhận tương tự “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”.

    Gia đình được xác định trên hai phương diện, nó vừa là một nhóm sinh học vừa là một nhóm xã hội. Tuy nhiên, ở đây chúng ta hướng sự quan tâm đến mặt xã hội của nó, đó là những quan hệ hướng nội và hướng ngoại của gia đình.

      Gia đình mở rộng (gia đình kép): Kiểu gia đình này có từ ba thế hệ trở lên mà chúng ta thường gọi là “tam, tứ đại đồng đường”, các thành viên gồm ông bà, cha mẹ, con cháu, còn có thể là chú, bác, cô, dì… cùng sống chung với nhau dưới một mái nhà. Giữa họ thường có quan hệ huyết thống với nhau. Vì vậy giữa các thế hệ có sự gắn bó tình cảm sâu sắc nhờ đó bảo tồn được các giá trị truyền thống như hiếu thảo, kính trên nhường dưới và có sự phân công lao động rõ ràng trong gia đình như người chồng, người cha có nhiệm vụ lao động kiếm thu nhập… Việc giáo dục trẻ em và chăm lo cho người già vì thế được tốt hơn.

    Tuy nhiên kiểu gia đình này cũng có nhược điểm, đó là sự xung đột giữa các thế hệ trong gia đình vì sự khác biệt về tuổi tác cũng như hoàn cảnh, điều kiện sống nên sự bất đồng về nhiều vấn đề là tất yếu không thể tránh khỏi, thường gặp đại loại như xung đột giữa ông bà – con cháu, mẹ chồng – nàng dâu… Bên cạnh đó là việc duy trì những hủ tục lạc hậu từ thời xưa như trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có quyền hành gì trong gia đình, phải phụ thuộc và đàn ông…

    Kiểu gia đình này rất phổ biến trong xã hội nông thôn truyền thống, song nó đang giảm dần trong xã hội hiện đại.

      Gia đình hạt nhân (gia đình đơn): Đây là kiểu gia đình cơ bản và đơn giản nhất nhưng chiếm đại đa số trong xã hội hiện nay. Gia đình này có cấu trúc đơn giản chỉ gồm hai thế hệ là cha mẹ và con cái, phổ biến ở phương Tây và những đô thị lớn của Việt Nam. Ba quan hệ cơ bản của kiểu gia đình này là: Vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh – chị – em. Gia đình đơn được hình thành khi con cái kết hôn, thoát ly khỏi cha mẹ, tách ra thành một đơn vị kinh tế độc lập và sinh con cái.

    Kiểu gia đình này tạo điều kiện cho các cá nhân phát huy khả năng tự lập, tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống mà không còn phải phụ thuộc vào cha mẹ. Trong gia đình hạt nhân, chế độ gia trưởng đã phải nhường bước dần cho sự bình đẳng ngày càng phát triển hơn giữa nam và nữ, vợ và chồng. Công việc nội trợ không còn là bổn phận duy nhất của người phụ nữ, cũng như công việc kiếm tiền, nuôi sống gia đình không còn là nhiệm vụ duy nhất của nam giới. Các thành viên ít chịu sự giám sát lẫn nhau. Họ được tự do và ít nhiều được sống theo cách của mình chứ không bị áp đặt trong khuôn mẫu như trước kia. Thế hệ thanh niên thời đại mới tự do hơn, phóng khoáng, sáng tạo và mạnh mẽ hơn để thích nghi với đòi hỏi của môi trường xã hội hiện đại.

    Tuy nhiên, do vấn đề tự do được đề cao nên cha mẹ khó kiểm soát được con cái, sự bận rộn với công việc khiến trẻ thiếu sự quan tâm giáo dục của cha mẹ nên dễ sa vào hư hỏng; ông bà về già bị cô đơn, thiếu sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cháu; giảm khả năng bảo lưu các giá trị truyền thống của gia đình.

    Trong tương lai, kiểu gia đình hạt nhân sẽ ngày càng chiếm ưu thế vì nó phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại và năng động. Ở Việt Nam hiện nay thì kiểu gia đình này tồn tại phần lớn ở các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, gia đình công an.

    • Gia đình mẫu hệ mới: Là gia đình chỉ có mẹ và con cái, không có người đàn ông đóng vai chồng. Kiểu gia đình này xuất hiện do sự phát triển của xã hội làm thay đổi nhận thức của mỗi người về quan niệm hôn nhân, tình yêu và vấn đề tình dục trở nên cởi mở hơn, cũng như chất lượng cuộc sống không ngừng tăng lên, tự do cá nhân được đề cao làm xuất hiện kiểu gia đình mới này.
    • Gia đình phụ hệ: Là gia đình có huyết thống tính theo dòng cha, khác với mẫu hệ tính theo dòng mẹ. Biểu hiện của gia đình phụ hệ có thể nhận biết qua hình thức tổ chức gia đình, dòng họ do người đàn ông (người cha) đứng đầu, vai trò người cha, con trai trong gia đình được đề cao, cách thức đặt tên con theo họ hay tên của cha, kế thừa gia sản, hình thái hôn nhân, nơi cư trú trong hôn nhân là ở gia đình xuất thân của người cha (tức bên nội).
    • Gia đình thiếu: Là gia đình một vợ một chồng, không có con cái do vô sinh hoặc do họ không muốn có con. Đây là kiểu gia đình đang ngày một gia tăng ở các nước phát triển. Trong xã hội công nghiệp hiện đại, con người có xu hướng kết hôn muộn và không muốn sinh con đẻ cái. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là họ dành thời gian cho công việc và phát triển sự nghiệp của mình. Vì vậy việc xuất hiện của đứa trẻ trong gia đình sẽ khiến cho vợ chồng mất đi quỹ thời gian làm việc. Hệ quả là gia đình mất đi chức năng cơ bản của nó là tái sản xuất xã hội, thiếu tình cảm gắn bó giữa các thành viên và quan trọng là thiếu sợi dây liên kết giữa vợ và chồng là con cái, dễ dẫn đến sự rạn nứt tình cảm và đổ vỡ gia đình mà biểu hiện là ly hôn. Không những thế, kiểu gia đình này gia tăng sẽ gây ra tình trạng già hóa dân số, thiếu nguồn nhân lực cho tương lai, đặt ra vấn đề nan giải cần xã hội giải quyết.
    • Gia đình đa hôn: Gồm hai biến thể là:
      • Đa thê: Người đàn ông cùng một lúc có nhiều vợ. Điều này thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đó người phụ nữ hoàn toàn lệ thuộc vào người đàn ông và không có bất cứ quyền hành gì trong gia đình, đồng thời giữa những người phụ nữ có sự áp bức lẫn nhau như giữa vợ lớn với vợ thứ, giữa những người vợ thứ với nhau, vô tình góp phần làm tăng quyền lực của người chồng, củng cố sự áp bức lên những người vợ. Đây là kiểu gia đình tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến khi địa vị của người đàn ông trong xã hội được đề cao. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, mô hình gia đình này đang dần mất đi vì phần lớn hệ thống pháp luật các nước trên thế giới quy định hôn nhân một vợ một chồng, bình đẳng với nhau.
      • Đa phu: Tức một người vợ đồng thời có nhiều chồng. Kiểu gia đình này hiếm hơn gia đình đa thê nhưng vẫn còn tồn tại ở một số dân tộc ít người ở những vùng hẻo lánh trên thế giới, nơi vẫn còn tồn tại chế độ mẫu hệ.
    • Gia đình đồng giới: Đây là gia đình của những người cùng giới tính chung sống với nhau như một gia đình bình thường. Luật pháp một số nước trên thế giới thừa nhận hôn nhân đồng tính như bằng California (Mỹ), Hungary, Anh, Đan Mạch… Nhưng ở Việt Nam hiện nay, kiểu gia đình này không được pháp luật và dư luận xã hội chấp nhận.
      Chức năng tái sản sinh xã hội

    F.Engels viết: “Nhân tố quyết định trong lịch sử qui cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất. Nhưng bản thân sự sản xuất đó có hai loại: Một là sản xuất ra tư liệu sản xuất, ra thức ăn, gạo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó, hai là sự tự sản xuất ra chính bản thân con người, là sự truyền nòi giống.

    Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống, tạo ra những thế hệ con cháu tiếp nối. Đó không chỉ là nhu cầu sinh lý, thỏa mãn việc tái sản xuất ra con người cho xã hội mà còn thỏa mãn nhu cầu có con, tạo niềm vui, hạnh phúc vợ chồng.

    Xã hội phát triển không ngừng và gia đình đóng một vai trò là tế bào trong xã hội đó. Chính vì thế, chức năng tái sinh sản của gia đình không còn đơn thuần chỉ là việc tái sinh sản ra những thế hệ tiếp nối theo quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ” mà còn phải thỏa mãn nhu cầu tạo ra những thế hệ toàn diện, những công dân tốt, khỏe mạnh về thể chất, tinh thần. Để tiếp nối những thành tựu của con người từ những thế hệ đi trước và biết phát huy, sáng tạo ra những thành tựu sau này phục vụ cho nhu cầu sống và khám phá ngày càng cao của xã hội và nhân loại, chức năng tái sản xuất của gia đình có một vai trò quyết định.

    Là một chức năng quan trọng của gia đình mà xã hội không thể thay thế được, là sự hình thành nên một con người mới. Giáo dục cho thế hệ mai sau trong từng gia đình những tri thức về cuộc sống, mong muốn thế hệ mai sau của mình có những phẩm chất phù hợp với những định hướng giá trị của xã hội ở từng giai đoạn phát triển nhất định bởi gia đình là môi trường giáo dục quan trọng và thuận lợi cho nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ, là trường học học đầu tiên hình thành nhân cách và năng lực cá nhân.

    Để phát triển thành một con người trưởng thành, đứa trẻ đó phải trải qua những năm tháng phát triển nhất định theo quy luật tự nhiên như từ lúc trẻ sơ sinh đến khi 14-15 tuổi là giai đoạn quyết định sự hình thành về tố chất và phẩm chất cá nhân, 16-17 tuổi là giai đoạn tiếp tục hoàn thành các phẩm chất đã hình thành và định hướng nghề nghiệp. Trong các quá trình này, vai trò của những thành viên khác trong gia đình đặc biệt là cha mẹ, cần phải có sự quan tâm về mặt tâm lý, tình cảm, lối sống… điều này mang một ý nghĩa định hướng quan trọng trong việc phát triển toàn diện của con mình, bởi họ là người trực tiếp gần gũi và trong một giai đoạn nhất định còn là tấm gương, hình mẫu cho con mình trước khi bước vào môi trường giáo dục ngoài xã hội. Vì thế, gia đình phải là ngôi trường đầu tiên hướng dẫn cho thế hệ mai sau của mình những kỹ năng cần thiết để hòa nhập xã hội trong những bước chân đầu tiên tiến gần đến kỹ năng xã hội. Tuy nhiên, việc giáo dục còn tùy thuộc vào từng gia đình, bởi các vấn đề như hoàn cảnh kinh tế, trình độ học vấn của bố mẹ, địa bàn cư trú của gia đình, sự định hướng giá trị – nghề nghiệp của mỗi gia đình là khác nhau.

      Chức năng kinh tế và văn hóa

    Mỗi gia đình đều có những nhu cầu sinh hoạt khác nhau cũng như những nhu cầu thiết thực về ăn, uống… nhằm duy trì sự ổn định về đời sống vật chất cho các thành viên trong gia đình. Gia đình thể hiện kinh tế chung từ kinh tế của các thành viên trong gia đình, là một bên thành phần trong quan hệ kinh tế thông qua tiêu dùng, mua – bán, đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình.

    Cuộc sống phát triển cao, nhu cầu của con người ngày càng nhiều. Gia đình không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng văn hóa xuất phát từ nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch… Đáp ứng như một món ăn tinh thần làm cho cuộc sống thêm phong phú thể hiện trình độ phát triển cao, sự tinh tế, hướng về khía cạnh của cuộc sống, phát triển tâm hồn con người, chú trọng đến cái nội tâm bên trong để đạt đến sự phát triển hoàn thiện nhất.

      Chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm lý.

    Trong một gia đình tồn tại nhiều nhu cầu khác nhau, trong đó có nhu cầu về mặt tình cảm, tâm lý của các thành viên trong gia đình. Gia đình là nơi mỗi cá nhân có thể chia sẻ những cảm xúc riêng tư nhất mà thông qua quá trình giao tiếp trong xã hội họ không thể bày tỏ, đó là nơi nghỉ ngơi và tụ họp, mọi người cùng bộc bạch cảm xúc cho nhau bằng ngôn từ và cử chỉ, vì vậy mọi căng thẳng, áp lực từ cuộc sống, việc học tập như được giảm nhẹ. Gia đình là nơi mà họ có thể bình tâm suy nghĩ, tiếp nhận được những lời khuyên chân tình, sự động viên, khích lệ của các thành viên mà nhờ đó những vấn đề khó xử của một người có thể được đưa ra bàn bạc và cùng nhau giải quyết và do đó gia đình là nơi tạo ra nguồn động lực để một người có thể tiếp tục thực hiện tốt vai trò của một công dân trong xã hội. Hơn nữa, gia đình còn là nơi con người có thể sống thoải mái nhất trong những cử chỉ, hành vi, ngôn từ mà không cần rào trước đón sau hoặc tuân theo những quy tắc ứng xử trong xã hội, chính vì thế mà năng lượng được tái tạo. Có thể nói, gia đình là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trong mọi và chạm với xã hội.

      Chức năng chăm sóc người già và trẻ em

    Xã hội phát triển đồng nghĩa với việc cải tiến của công nghệ máy móc hiện đại trong đó các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho con người ngày càng được nâng cao và quan tâm nhiều hơn, từ đó dẫn đến xu hướng các thành viên ít có sự quan tâm hơn trước về việc chăm sóc gia đình của mình vì cho rằng xã hội đã có đủ điều kiện đáp ứng. Nhưng thực chất chức năng này của gia đình cũng hết sức quan trọng bởi đây không phải chỉ là vấn đề chữa bệnh mà còn là việc chăm sóc, an ủi kịp thời về mặt tâm lý, tình cảm đối với người ốm đau bệnh tật.

    Gia đình sẽ biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội và nhất là trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa, những thay đổi chúng ta dễ dàng nhận thấy nhất đó là sự thay đổi về chức năng, cấu trúc và vai trò của nó.

      Mất đi dần chức năng xã hội hóa.

    Trong xã hội nông nghiệp, gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thụ nghề nghiệp, chuyển giao kiến thức, hình thành các kỹ năng, chỉ dẫn vai trò, giáo dục các khuôn mẫu xã hội.

    Gia đình là môi trường giáo dục cơ bản và sớm nhất trong đời người gia đình luôn kết hợp toàn diện và bằng nhiều hình thức khác nhau cùng với xã hội thực hiện chức năng của mình.

    Biểu hiện cho chức năng này của gia đình trong xã hội xưa là sự xuất hiện của các làng nghề gia truyền trong đó nghề nghiệp trong gia đình được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác một trong gia đình.

    Tuy nhiên không phải lúc nào gia đình là môi trường đầy đủ đảm bảo xã hội hóa cho các thành viên trong gia đình. Đặc biệt trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa hiện nay chức năng này một phần chuyển sang cho nhà trường. Nhà trường là nơi cung cấp các kiến thức chuyên môn, tay nghề, học vấn qua hệ thống giáo dục đào tạo.

    Trong khi các thiết chế giáo dục càng tỏ ra hoàn thiện thì chức năng xã hội hóa trẻ em ở gia đình càng thu hẹp lại. Đặc biệt là trong việc chuẩn bị các kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo tay nghề, kiến thức chuyên môn ở mức độ cao đủ đáp ứng các yêu cầu của xã hội công nghiệp thì chỉ có các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề mới có thể đáp ứng được.

      Giảm dần chức năng chăm sóc, bảo vệ trẻ em, nuôi dưỡng người già và các thành viên khác trong gia đình.

    Trong xã hội truyền thống nông nghiệp, gia đình có vai trò rất lớn giúp đỡ thân nhân trong những lúc khó khăn, chẳng hạn như khi ốm đau, bệnh tật, công việc, học hành… Đặc điểm này xuất phát từ kiểu gia đình kép trong xã hội nông nghiệp khi mà các thế hệ ông bà, cha mẹ, con cái cùng sống chung trong một nhà. Chính đặc điểm này đã giúp cho các thế hệ trong gia đình gắn bó với nhau hơn, giữ gìn được truyền thống của các thế hệ trong nội bộ gia đình, dòng họ, bảo tồn các tập tục lễ nghi, có điều kiện chăm sóc người già và thế hệ trẻ.

    Tuy nhiên, trong xã hội công nghiệp thì vai trò này chuyển dần sang cho các tổ chức xã hội khác. Trẻ em thì giao phó cho nhà trẻ, mẫu giáo, người già thì phó mặc cho nhà dưỡng lão hoặc đau lòng hơn là để họ tự lo lấy.

    Xã hội càng hiện đại con người càng có nhiều mối quan hệ, các thành viên trong gia đình còn nhiều vấn đề phải giải quyết nên sự can thiệp, hỗ trợ của các cơ quan tổ chức trong lúc này là cần thiết. Tuy nhiên sự thay đổi này dẫn tới một hiện tượng tiêu cực đó là mối quan hệ gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, cha mẹ không kiểm soát hết được hành vi của con cái, người già luôn bị cô đơn, thiếu thốn về vật chất, tinh thần.

    Mất đi chức năng đơn vị kinh tế độc lập.

    Gia đình trong xã hội nông nghiệp vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Trong xã hội đó gia đình kép là phổ biến, gồm nhiều thế hệ chung sống với nhau, họ cùng nhau trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất tiêu thủ công nghiệp, họ tạo ra các sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày của họ. Mặt khác, cũng đóng vai trò là đơn vị tiêu dùng, vì gia đình trong xã hội nông nghiệp vẫn phải tiêu thụ các sản phẩm của xã hội để phục vụ đầy đủ cuộc sống của họ, nhất là những mặt hàng họ không tự mình sản xuất ra được.

    Trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa thì gia đình chỉ còn một chức năng duy nhất là đơn vị tiêu dùng, vì những điều kiện khách quan cho sản xuất không còn nữa.

      Giảm thiểu vai trò thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, tinh thần.

    Trong xã hội nông nghiệp các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa diễn ra ở gia đình, dòng họ, làng xóm. Các lễ hội, ngày hội của làng xóm thu hút đông đảo sự tham gia của các thế hệ đặc biệt là các thế hệ trẻ, họ cùng nhau chơi các trò chơi dân gian, hát đối, nam nữ tìm hiểu lẫn nhau và cũng chính đặc điểm này làm cho quan hệ hôn nhân trong xã hội nông nghiệp diễn ra trong một phạm vi hẹp thường chỉ trong làng xóm với nhau. Tuy nhiên, trong xã hội công nghiệp, đô thị thì các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa thường diễn ra trong nhà hát, câu lạc bộ, công viên, nhà thờ, chùa, quán ăn, bên ngoài gia đình.

      Sự sút giảm về số lượng thế hệ trong gia đình, điều đó được thể hiện thông qua số lượng thành viên trong gia đình đã giảm xuống, các thế hệ ít đi. Khi mà xu hướng ngày càng nhiều con cái trưởng thành sau khi lấy vợ, lấy chồng tách riêng ra khỏi gia đình cha mẹ tạo thành những gia đình đơn và đại gia đình như trước kia giảm về thế hệ và số lượng thành viên.

    Sự thay đổi này trong cấu trúc của gia đình là một điều kiện thuận lợi cho gia đình trong việc phát triển kinh tế, sản xuất, cha mẹ có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, giáo dục con cái và đặc biệt là những tác động tích cực đến xã hội trong vấn đề dân số khi mà trong thời gian gần đây vấn đề gia tăng dân số đang là một vấn đề nan giải của các cơ quan chức trách.

    Hiện nay, ngoài việc hạn chế số lượng con cái do nhà nước qui định và xu hướng ít con là phù hợp với thời đại mới, thì các tiến bộ y học cho phép người ta chủ động hơn trong việc thai nghén, sinh nở. Người ta có thể chủ động trong việc muốn có con hay không và có con vào thời điểm nào là thuận lợi nhất. Đó cũng là những nguyên nhân làm thay đổi cấu trúc gia đình.

      Sự thay đổi trong gia đình do ly hôn mang lại. Ở một số nước phương Tây cho ly hôn là biện pháp hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc hôn nhân. Nhưng ly hôn là một trong các yếu tố đưa đến thay đổi trong cấu trúc gia đình rất lớn. Khi mà người cha – người chồng, người mẹ – người vợ rời bỏ mái ấm gia đình thì những trách nhiệm mà người đó chối bỏ buộc lòng những người còn lại trong gia đình phải gánh vác, những người này phải sắp xếp để bù vào khoảng trống đó. Ở các gia đình pha trộn do kết hôn lại còn phức tạp hơn nhiều vì nó nảy sinh một số vấn đề mới gay cấn như con cái, tài chính, hậu quả còn lại về mặt tình cảm cũng như pháp lý từ cuộc hôn nhân đỗ vỡ trước.

    Những thay đổi trong vai trò. Trong xã hội công nghiệp hiện đại có sự thay đổi rõ rệt vai trò của người vợ và người chồng, sự thay đổi đáng kể nhất là người phụ nữ, người vợ ít lệ thuộc vào chồng hơn trước rất nhiều. Họ tự đi làm để đóng góp vào thu nhập chung của gia đình, họ tham gia các công việc xã hội và có những uy tín nhất định trong gia đình, nhất là hiện nay nhiều chị em có trình độ học vấn cao và có việc làm ổn định trước khi tiến tới hôn nhân và đó là yếu tố quan trọng làm thay đổi nhận thức, dẫn tới thay đổi vai trò trong gia đình.

    • Tuổi kết hôn và phương thức lấy vợ, lấy chồng của nam nữ thanh niên muộn hơn các thế hệ trước. Tuổi kết hôn ngày càng kéo dài, do các quan niệm về hôn nhân – gia đình, tình dục đã thay đổi, một số không ít phụ nữ là người trì hoãn kết hôn, vì đối với họ kết hôn không còn là vấn đề hàng đầu mà phụ nữ quan tâm, họ thường chọn phương thức sống thử trước hôn nhân, còn việc sau đó có tiến tới hôn nhân hay không thì không quan trọng.
    • Quan niệm về sinh con và các kiểu sinh con là mô hình gia đình ít con, thậm chí ngày càng nhiều thanh niên coi trọng việc thành công và hưởng thụ của cá nhân hơn con cái, thậm chí có người suốt đời không muốn có con. Hay, một bộ phận chọn sinh con ngoài giá thú, những người phụ nữ độc thân mà có con thường là những người có địa vị xã hội tương đối cao, họ tự lực về kinh tế, đồng thời có sự hỗ trợ của khoa học về di truyền đã giúp họ thoả mãn nhu cầu làm mẹ mà không cần phải lấy chồng.
    • Vợ chồng bình đẳng hơn trong các quyết định quan trọng của gia đình, cùng chia sẻ công việc trên cơ sở giới tính, sức khỏe, nghề nghiệp… vậy nên mức độ gia trưởng giảm.
    • Việc giáo dục con cái có tính khoa học, chủ yếu bằng thuyết phục, nêu gương và tôn trọng ý kiến của con. Điều quan trọng nữa là cả hai vợ chồng cùng nhau giáo dưỡng con cái.
    • Gia đình giải thể và tổ chức lại: Tỷ lệ ly hôn tăng lên không ngừng, cùng với điều này là những lần tái hôn kế tiếp đã tạo nên sự giải thể và tổ chức lại gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình, Thực Tiễn Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Phân Tích Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lính Vực Pháp Luật
  • Bài Giảng Chương 8: Chức Năng Kiểm Sóat
  • Chuong 7 Chuc Nang Kiem Tra
  • 4 Mẹo Cần Thiết Để Quản Lý Ribbon Excel
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Thuộc Ubnd Huyện
  • Công Ty Tư Vấn Xây Dựng Trung Nam Tp. Hồ Chí Minh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Lắp Đặt
  • Phòng Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ii: Lặng Lẽ Góp Chiến Công
  • Sửa Chữa Khoa Phục Hồi Chức Năng, Phòng Trực Kế Toán, Tường Rào Đường Nguyễn Văn Trỗi, Một Số Phòng Tầng 3,4 Nhà Kỹ Thuật Nghiệp Vụ
  • 1. Phòng Kinh tế và Hạ tầng là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện; tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông vận tải; khoa học và công nghệ; tiêu chuẩn đo lường; chất lượng; thanh tra nhà nước về khoa học và công nghệ; quản lý nhiệm vụ khoa học công nghệ và các hoạt động chuyển giao thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất.

    2. Phòng Kinh tế và Hạ tầng có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của các Sở: Công Thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ.

    1.1. Trình Ủy ban nhân dân huyện dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về phát triển công thương trên địa bàn; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính thuộc lĩnh vực công thương.

    1.2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực công thương thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.

    1.3. Giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của phòng theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân huyện.

    1.4. Giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của các hội và tổ chức phi chính phủ trên địa bàn thuộc lĩnh vực công thương theo quy định của pháp luật.

    1.5. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về lĩnh vực công thương.

    1.6. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về công thương đối với công chức cấp xã.

    1.7. Tổ chức triển khai, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ của phòng.

    1.8. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân huyện và Sở Công Thương.

    1.9. Tổ chức, hướng dẫn và thực hiện chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đầu tư phát triển công nghiệp, mở rộng sản xuất – kinh doanh; tổ chức các hoạt động dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ sở sản xuất – kinh doanh thuộc lĩnh vực công thương.

    1.10. Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn huyện; tham gia xây dựng quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn huyện; xây dựng, lập hồ sơ thành lập, mở rộng, bổ sung quy hoạch cụm công nghiệp trên địa bàn huyện; lập quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư xây dựng và tổ chức triển khai đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    2.1. Trình Ủy ban nhân dân huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; các quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; các chương trình, dự án đầu tư xây dựng trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng trên địa bàn huyện; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng; theo dõi thi hành pháp luật đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng trên địa bàn huyện.

    2.2. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng.

    2.3. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý vật liệu xây dựng theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    2.4. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện thực hiện việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi giấy phép xây dựng công trình và kiểm tra việc xây dựng công trình theo giấy phép được cấp trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    2.5. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện lập chương trình phát triển đô thị; phối hợp trong quá trình lập, thẩm định chương trình phát triển đô thị; tham gia lập đề án công nhận đô thị loại V trên địa bàn.

    2.6. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện thực hiện việc cấp phép chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    2.7. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện quản lý về nghĩa trang theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    2.8. Tổ chức thực hiện việc giao nộp và lưu trữ hồ sơ, tài liệu thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện theo quy định của pháp luật.

    2.9. Tổ chức lập, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt, hoặc tổ chức lập để Ủy ban nhân dân huyện trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.

    2.10. Tổ chức lập, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, thiết kế, dự toán xây dựng công trình hoặc để Ủy ban nhân dân huyện trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thực hiện thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    2.11. Tổ chức thực hiện lập quy chế quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc đô thị thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân huyện trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt hoặc Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt theo phân cấp.

    2.12. Hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng các công trình theo quy chế quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức công bố, công khai các quy chế quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc đô thị; cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng, kiến trúc; quản lý các mốc giới, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng trên địa bàn huyện theo phân cấp.

    2.13. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, duy tu, bảo trì, quản lý, khai thác, sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện.

    2.14. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện trong việc tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về nhà ở và công sở; quản lý quỹ nhà ở và quyền quản lý sử dụng công sở trên địa bàn huyện theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh; tổ chức thực hiện công tác điều tra, thống kê, đánh giá định kỳ về nhà ở, công sở và thị trường bất động sản trên địa bàn huyện.

    2.15. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với các tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và hướng dẫn hoạt động đối với các hội, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.

    2.16. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về các lĩnh vực quản lý của Phòng đối với công chức chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực hoạt động xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn.

    2.17. Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của phòng.

    2.18. Kiểm tra, thanh tra đối với tổ chức, cá nhân trong việc thi hành pháp luật thuộc ngành Xây dựng, báo cáo Ủy ban nhân dân huyện xử lý hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, thực hiện phòng chống tham nhũng, lãng phí trong ngành Xây dựng theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân huyện.

    2.19. Theo dõi, tổng hợp, báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Ủy ban nhân dân huyện, Sở Xây dựng và các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

    3.1. Trình Ủy ban nhân dân huyện:

    a) Dự thảo các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; đề án, chương trình phát triển, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về giao thông vận tải trên địa bàn huyện;

    b) Dự thảo chương trình, giải pháp huy động, phối hợp liên ngành trong thực hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn;

    c) Các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh;

    d) Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân huyện về phân loại đường xã theo quy định của pháp luật.

    3.2. Tổ chức thực hiện và theo dõi thi hành các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các văn bản khác về giao thông vận tải sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    3.3. Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mạng lưới công trình giao thông đường bộ, đường sắt đô thị, đường thủy nội địa địa phương đang khai thác do cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý.

    3.4. Quản lý hoạt động vận tải trên địa bàn theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    3.7. Giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật.

    3.8. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về giao thông vận tải cho cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn.

    3.9. Kiểm tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân huyện.

    3.10. Thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, thông tin về giao thông vận tải và các dịch vụ công trong lĩnh vực giao thông vận tải theo quy định của pháp luật.

    3.11. Báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao với Ủy ban nhân dân huyện và Sở Giao thông vận tải.

    4.1. Trình Ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về khoa học và công nghệ trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn.

    4.2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định thành lập Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.

    4.3. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, kế hoạch về khoa học và công nghệ sau khi được ban hành, phê duyệt; thông tin, thống kê, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý khoa học và công nghệ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.

    4.4. Quản lý, triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cấp cơ sở; tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; phát triển phong trào lao động sáng tạo; phổ biến, lựa chọn các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để áp dụng tại địa phương; tổ chức thực hiện các dịch vụ khoa học và công nghệ trên địa bàn.

    4.5. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; kiểm tra đo lường chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn.

    4.6. Tổ chức kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành chính sách, pháp luật về khoa học và công nghệ trên địa bàn theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân huyện.

    4.7. Giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các hội, các tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trên địa bàn.

    4.8. Xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ, thực hiện công tác báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định với Ủy ban nhân dân huyện và Sở Khoa học và Công nghệ.

    5.1. Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phòng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện.

    5.2. Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản của phòng theo quy định của pháp luật và theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện.

    5.3. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, các Sở: Công Thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ giao hoặc theo quy định của pháp luật.

    1.1. Phòng Kinh tế và Hạ tầng có Trưởng Phòng, không quá 03 Phó Trưởng Phòng và các công chức khác.

    a, Trưởng Phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng.

    b, Phó Trưởng Phòng là người giúp Trưởng Phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Trưởng Phòng về nhiệm vụ được phân công. Khi Trưởng Phòng vắng mặt một Phó Trưởng Phòng được Trưởng Phòng ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Phòng.

    c, Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng Phòng, Phó Trưởng Phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định theo quy định của pháp luật.

    2. Biên chế công chức của Phòng Kinh tế và Hạ tầng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định trong tổng biên chế công chức của huyện được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    3. Việc bố trí công tác đối với công chức của Phòng Kinh tế và Hạ tầng phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức theo quy định và đảm bảo đủ lực lượng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

    1. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện có trách nhiệm triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện quyết định này theo chức năng quản lý nhà nước về Công Thương, Giao thông Vận tải, Xây dựng, Khoa học Công nghệ trên địa bàn huyện. Ban hành quy chế làm việc, chế độ thông tin, báo cáo của phòng, phân công nhiệm vụ cho cán bộ công chức phụ trách các lĩnh vực thuộc phòng và chỉ đạo việc kiểm tra thực hiện.

    2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Những văn bản trước đây của UBND huyện trái với Quyết định này đều bãi bỏ.

    3. Chánh văn phòng HĐND và UBND huyện, Trưởng phòng Nội vụ huyện, Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng; Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn huyện và UBND các xã, thị trấn căn cứ Quyết định thi hành./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng
  • Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng
  • Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Huyện Kiến Xương
  • Quy Chế Làm Việc Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Huyện Bắc Yên
  • Sở Y Tế Tỉnh Quảng Ninh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100