Top 1 # Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Không Đòi Hỏi Tiền Vàng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Nào Dưới Đây Của Tiền Tệ Đòi Hỏi Tiền Phải Là Tiền Bằng Vàng?

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Bà X mượn bà B số tiền là 200 triệu đồng. Bà X đã viết giấy vay tiền và hẹn rõ ngày trả.

Câu hỏi: “Pháp luật là của ai, do ai và vì ai?” đề cập đến vấn đề nào của pháp luật?

Bác Thành nuôi được 30 con gà. Bác để ăn 9 con, cho con gái 2 con, 8 con gây giống. Số còn lại

Làm cùng công ty nên chị N biết chị V thường xuyên đi làm muộn, bỏ việc. Vì quen biết giám

Sản phẩm nào sau đây không phải là hàng hóa?

Tuân thủ pháp luật được hiểu là việc cá nhân, tổ chức

Công ty P và công ty Q ký hợp đồng mua sữa. Đúng hẹn, công ty P giao sữa đủ số lượng và

Đang trên đường đi học, A gặp người bán hàng rong bị đổ hàng tràn ra đường nhưng A vẫn

Để quản lý xã hội một cách hữu hiệu nhất Nhà nước phải sử dụng phương tiện nào dưới

Chủ thể nào sau đây không có quyền áp dụng pháp luật?

Hai bạn K và Q ( học sinh lớp 12) cùng nhau đi xe máy điện đến trường, K vừa điều khiển xe

Nhà nước ban hành luật Giao thông đường bộ và bắt buộc tất cả mọi người phải tuân theo,

Do mâu thuẫn cá nhân, K đã đánh H bị thương tích nặng với tỷ lệ thương tật 14%. H phải

M đang học lớp 9 (15 tuổi), do yêu đương với N (22 tuổi) nên có thai, Ủy ban nhân dân xã không

Chị T mở cửa hàng kinh doanh hàng tạp hóa nhưng lại trốn nộp thuế cho nhà nước. Trong trường

Trong giờ làm việc tại xí nghiệp X, công nhân H đã rủ các anh M, S, Đ cùng chơi bài ăn tiền. Vì

Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, công dân đều xử sự phù hợp với quy định của pháp luật

Các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành được áp dụng cho

Để sản xuất ra một cái áo, thời gian lao động của anh A là 1 giờ, anh B là 2 giờ, anh C là 3

Điểm giống nhau giữa đạo đức và pháp luật là đều

Công ty X đã phát hiện chị Y truyền thông tin mật của công ty mình cho công ty khác, do đó công ty

Năm nay A 18 tuổi, còn B chưa đầy 16 tuổi. Cả 2 đều là thanh niên lêu lổng. Một lần A và B

Sự thể hiện ý chí, nhu cầu, lợi ích của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội là thể hiện

Trách nhiệm pháp lí áp dụng đối với người vi phạm pháp luật xâm phạm tới quan hệ tài sản

Bà An bán thóc được 5 triệu đồng. Bà dùng tiền đó mua một cái máy giặt. Trong trường hợp

Công ty M trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bánh kẹo đã tự ý xả chất thải độc

Khoản 1 điều 16 Hiến pháp (2013) của nước ta quy định “Mọi người đều bình đẳng trước

Trường hợp nào sau đây là vi phạm dân sự?

Mỗi quy tắc xử sự được thể hiện thành.

Anh H lái xe máy phóng nhanh vượt ẩu nên đã gây tai nạn làm chị M bị thương tổn hại sức

Chị H đã gửi đơn lên Ủy ban Nhân dân xã X yêu cầu được giúp đỡ sau khi bị chồng mình

Trường hợp nào sau đây là vi phạm hình sự?

Theo quy định của pháp luật, học sinh đủ 16 tuổi được phép lái xe có dung tích xi lanh bao

Hạn Chế Chức Năng Tiền Tệ Của Vàng, Cách Nào?

Để có thể huy động tối đa lượng vàng đang được cất trữ trong dân, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ nên cho phép kinh doanh vàng trên tài khoản.

Đồng tình với chủ trương thu hẹp kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, song các doanh nghiệp cho rằng chính sách quản lý phải hướng đến kích thích lợi ích kinh tế cho người có vàng thay vì chủ quan bằng mệnh lệnh hành chính.

Không cấm người dân cất giữ

Theo phó thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, vàng miếng SJC của công ty cổ phần vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) – hiện chiếm trên 80% thị phần vàng miếng cả nước – hầu như có đầy đủ các chức năng của một đồng tiền thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam. Vàng đã là thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tự do lưu thông, chuyển đổi, mua bán… Do vậy, dự thảo nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (thay thế nghị định 174 – năm 1999) do ngân hàng Nhà nước soạn thảo hướng tới: vàng miếng là hàng hoá đặc biệt do ngân hàng Trung ương quản lý từ khâu phát hành đến lưu thông. Hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh vàng, theo đó sẽ phải tập trung đầu mối, tiến tới xoá bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.

Thành viên hội đồng tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia Cao Sỹ Kiêm, nêu ý kiến: vàng miếng ở Việt Nam hiện mang chức năng tiền tệ khá rõ, do vậy nên được quản lý tương tự như với đồng đôla: không cấm người dân được cất trữ, song hoạt động mua bán phải được kiểm soát bởi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. “Việc tự do giao dịch vàng miếng như tại Việt Nam dẫn đến tình trạng người dân, doanh nghiệp nào cũng có thể trở thành nhà phát hành tiền – vì trên thực tế vàng có thể biến thành USD, tiền bất cứ lúc nào, gây nhiễu chính sách tiền tệ”, ông Kiêm giải thích.

Theo phó tổng giám đốc công ty cổ phần vàng bạc đá quý SJC Hà Nội Lưu Quang Điền, vàng tự nó không thành hàng hoá hay tiền tệ mà phụ thuộc rất lớn vào chính sách của Nhà nước. “Thực tế hiện nay, vàng nữ trang là hàng hoá, vàng miếng ít nhiều vẫn mang chức năng tiền tệ và hai chức năng này có thể chuyển đổi rất dễ qua chế tác”, ông Điền nói. Cũng theo ông Điền, ở Việt Nam khi kinh tế bất ổn người dân càng gia tăng tâm lý cất trữ vàng, lấy vàng làm thước đo giá trị. Do vậy, các chính sách càng hướng đến ổn định vĩ mô, chức năng tiền tệ của vàng càng được hạn chế. Đồng thời, cần tuân thủ chặt quy định: trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ được thanh toán bằng tiền đồng (VND), góp phần loại bỏ dần tâm lý “vàng hoá” hay “đôla hoá”.

Tuy nhiên, tổng thư ký hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam Đinh Nho Bảng lại cho rằng, vàng miếng hiện cơ bản đã không còn chức năng tiền tệ, bởi các giao dịch hầu như không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. “Vàng hiện chủ yếu là công cụ cất trữ, bảo toàn giá trị tài sản”, ông Bảng nhấn mạnh.

Có chính sách huy động vàng hấp dẫn

Làm cách nào để “lôi vàng ra khỏi két” của người dân nhằm phát huy cao nhất nguồn vốn rất lớn cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước? Đặt câu hỏi này với ông Lưu Quang Điền, ông cho rằng, cần phải kích thích người có vàng bằng lợi ích kinh tế, thay vì dùng ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính. Việc cất trữ vàng trong két không thôi cũng đã có lời. Nếu các ngân hàng có chính sách huy động vàng hấp dẫn, người dân chắc chắn sẽ mang đi gửi. Trước đây, có thời điểm lãi suất huy động vàng lên tới 4 – 5%/năm, lượng vàng được gửi trong hệ thống ngân hàng ước khoảng 30% lượng vốn vàng trong dân (hiện lượng vàng người dân nắm giữ ước khoảng 500 tấn, tương ứng hơn 20 tỉ USD).

Trước lo ngại việc huy động vàng có thể gây rủi ro cho các ngân hàng trong bối cảnh giá kim loại này biến động quá lớn, tổng giám đốc công ty Vàng bạc đá quý ngân hàng Nông nghiệp Nguyễn Đình Trúc cho rằng, thay vì bán vàng ra lấy tiền VND, các ngân hàng có thể gửi số vàng đó sang tài khoản nước ngoài để hưởng lãi suất, đồng thời, dùng vàng làm tài sản thế chấp vay vốn ngoại tệ với lãi suất 3 – 3,5%, sau đó cho vay lại. Ông Trúc cho biết: “Chúng tôi đã trao đổi với một số ngân hàng lớn như HSBC, UPS… và cơ bản thoả thuận được việc gửi vàng, vay ngoại tệ”. Phương án khác, theo ông Trúc, các ngân hàng huy động vàng có thể bán ra thị trường thế giới lấy ngoại tệ và cân đối bằng việc mua lượng vàng tương ứng trên tài khoản để đảm bảo khả năng thanh toán đến hạn.

Ông Đinh Nho Bảng đề xuất, Chính phủ cần xem xét mở rộng kinh doanh vàng trên tài khoản, thị trường vàng trong nước và thế giới liên thông, các ngân hàng có công cụ phái sinh để ngừa rủi ro; đồng thời góp phần thu hẹp thị trường vật chất. Hiện tại thị trường vàng Việt Nam 100% là giao dịch vàng vật chất, và mỗi đơn vị giao dịch đang phải mất hai lần chi phí do chế tác. Theo đó, chúng ta phải nhập vàng thế giới dưới dạng nguyên liệu, chế thành vàng miếng (chi phí chế tác trung bình khoảng 300.000 đồng/lượng), trong trường hợp xuất khẩu cũng lại trở thành vàng nguyên liệu. Đó là chưa kể, nếu cơ quan quản lý cấm kinh doanh vàng miếng, người dân sẽ chuyển thành vòng, nhẫn hay các hình khối khác, chi phí xã hội còn cao hơn mà chất lượng, trọng lượng càng khó kiểm soát. Muốn vậy, cần xây dựng quy chế, thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia mà chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện về tài chính, nhân lực mới được tham gia. Làm được vậy, Nhà nước kiểm soát được dòng vốn, thu được thuế và phát huy được nguồn vốn vàng cho nền kinh tế.



Chức Năng Của Tiền Tệ

Các chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng:

– Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

+ Giá trị hàng hoá.

+ Giá trị của tiền.

+ Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

– Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

– Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

– Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

– Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời

Phân tích các chức năng của tiền tệ. Em đã vận dụng được những chức năng nào của tiền tệ trong đời sống? Gợi ý làm bài:

* Chức năng của tiền tệ:

+ Chức năng làm thước đo giá trị: được thể hiện khi tiền được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa. Giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa. Gía cả hàng hóa được quyết định bởi các yếu tố khác nhau, do đó trên thị trường giá cả có thể bằng, thấp hơn hoặc cao hơn giá trị. Nếu các điều kiện khác không thay đổi, gía trị của hàng hóa cao thì giá cả của nó cao và ngược lại.

+ Chức năng làm phương tiện lưu thông: được thể hiện khi tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa theo công thức: H – T – H. Trong đó H -T là quá trình bán, T – H là quá trình mua. Người ta bán hàng hóa lấy tiền rồi dùng tiền để mua hàng hóa mình cần.

+ Chức năng làm phương tiện cất trữ: được thể hiện khi tiền rút khỏi lưu thông và được cất trữ lại ddể khi cần thì đem ra mua hàng. Sở dĩ tiền tệ làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải của xã hội dưới hình thái giá trị, nên việc cất trữ tiền là hình thức cất trữ cuả cải. Nhưng để làm được chức năng phương tiện cất trữ thì tiền phải đủ giá trị, tức là tiền đúc bằng vàng hoặc những của cải bằng vàng.

+ Chức năng phương tiện thanh toán: được thể hiện khi tiền tệ được dùng để chi trả sau khi giao dịch, mua bán như: trả tiền mua chịu hàng hóa, trả nợ, nộp thuế… Chức năng này làm cho quá trình mua bán diễn ra nhanh hơn, nhưng cũng làm cho những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phụ thuộc vào nhau nhiều hơn.

+ Chức năng tiền tệ thế giới: Thể hiện khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia, tiền làm nhiệm vụ di chuyển của cả từ nước này sang nước khác, nên đó phải là tiền vàng hoặc tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền của nước này theo tiền cuả nước khác được tiến hành theo tỉ giá hối đối. Tỉ giá hối đoái là gía cả của đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền nước khác.

* Em đã vận dụng được những chức năng của tiền tệ như:

– Dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, đi mua hàng hóa phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình hàng ngày.

– Khi có tiền nhưng chưa dùng đến, em mang cất đi bằng cách bỏ lợn tiết kiệm, nhờ mẹ gửi ngân hàng giúp,…