Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?

--- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Có 5 chức năng của tiền tệ:

    – Thước đo giá trị

    VD: Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một chiếc bánh có giá trị bằng 5 xu (tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu. Vì thế có thể nói Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    – Phương tiện lưu thông

    VD:

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đếm. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    – Phương tiện cất trữ

    VD: Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    – Phương tiện thanh toán

    VD: Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    – Tiền tệ thế giới

    VD: Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tý giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    – Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    – Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

    Kết luận:

    – Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

    – Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

    – Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    – Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

    – Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

    3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Định nghĩa

    Tiền tệ trong tiếng Anh là Currency. Tiền tệ có thể định nghĩa theo nhiều cách như sau:

    Quan điểm của Trường phái trọng thương

    Tiền tệ đồng nghĩa với sự giàu có. Một quốc gia muốn làm giàu thì phải tích lũy thật nhiều tiền.

    Quan điểm của Trường phái trọng nông

    Tiền tệ chỉ là một thứ hư tưởng. Tiền chỉ có tác dụng như một chất nhờn bôi trơn hoạt động của guồng máy kinh tế. Bản thân guồng máy đó không hề chịu bất cứ tác động nào của tiền tệ.

    Quan điểm của N. Gregory Mankiw

    Tiền tệ là một khối lượng tài sản có thể sử dụng ngay để tiến hành giao dịch.

    Quan điểm của Frederic S. Mishkin

    Tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa và dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.

    Phân biệt tiền với của cải và thu nhập

    Của cải ( Wealth): là giá trị ròng của tài sản sở hữu tính bằng tiền tại một thời điểm nhất định. Chú ý rằng, của cải là đại lượng tích tụ (như lượng nước trong một hồ nước).

    Của cải của một hộ gia đình bao gồm những tài sản hữu hình như nhà cửa, đất đai, ô tô và các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác và các khoản sở hữu tài chính như tiền mặt, tài khoản tiết kiệm, trái phiếu và chứng khoán.

    Mọi giá trị được coi là tài sản có, còn những khoản nợ được gọi là tài sản nợ. Sự chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ được gọi là của cải hay tài sản ròng.

    Thu nhập ( Income): là lượng tiền kiếm được trong một đơn vị thời gian. Thu nhập là một đại lượng lưu chuyển trong một đơn vị thời gian như dòng chảy của một con sông.

    Chức năng của tiền tệ

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế thị trường, tiền ba có chức năng đó là phương tiện trao đổi, phương tiện cất giữ và đơn vị hạch toán.

    Phương tiện trao đổi

    Phương tiện trao đổi là một thứ được mọi người chấp nhận rộng rãi để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ.

    Tiền là một phương tiện trao đổi. Khi bạn mua một hàng hóa bất kì, chẳng hạn áo sơ mi, chủ cửa hàng trao cho bạn áo sơ mi, còn bạn thì trả cho ông ta tiền. Nhờ có việc chuyển tiền từ người mua cho người bán mà giao dịch được thực hiện. Nếu không có tiền, việc trao đổi hàng hóa trở nên phức tạp và tốn kém hơn nhiều.

    Phương tiện cất giữ giá trị (Bảo tồn giá trị)

    Việc tiền đóng vai trò là phương tiện trao đổi đi liền với vai trò là một phương tiện cất giữ giá trị. Dân chúng sẽ chỉ giữ tiền một khi họ tin rằng nó sẽ tiếp tục có giá trị trong tương lai, do vậy tiền có thể thực hiện được chức năng phương tiện trao đổi chỉ khi nó cũng đóng vai trò là phương tiện bảo tồn và cất giữ giá trị.

    Với chức năng này dân chúng có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tất nhiên, tiền không phải phương tiện cất trữ giá trị duy nhất trong nền kinh tế, bởi vì một người có thể chuyển sức mua từ hiện tại tới tương lai bằng cách nắm giữ tài sản khác.

    Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá trị của tiền liên tục giảm theo thời gian. Điều này làm cho tiền trở thành một phương tiện cất trữ giá trị yếu thế hơn so với các tài sản khác.

    Đơn vị hạch toán

    Với hai chức năng trên, tiền trở thành một đơn vị hạch toán rất tiện lợi và hiệu quả vì nó được chấp nhận rộng rãi trong mọi giao dịch.

    Mọi người sử dụng một đơn vị tiền tệ chung để niêm yết giá và ghi các khoản nợ.

    (Tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB Tài chính)

    Minh Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Bản chất của tiền tệ

    • Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.
    • Bản chất của tiền tệ còn được thể hiện qua các chức năng của nó.

    Chức năng của tiền tệ

    • Thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của hàng hoá, bản thân tiền cũng phải có giá trị. Vì vậy tiền tệ làm chức năng giá trị phải là tiền vàng. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá hay nói cách khác giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.
    • Giá cả hàng hoá chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây: Giá trị hàng hoá, giá trị của tiền, quan hệ cung – cầu về hàng hoá. Nhưng vì giá trị hàng hoá là nội dung của giá cả, nên trong 03 nhân tố trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.
    • Phương tiện lưu thông: Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H-T-H.
    • Tiền là hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá, nó phục vụ cho sự vận động của hàng hoá. Lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá trình thống nhất với nhau. Số tiền trong lưu thông được tính bằng công thức:

    T = (Gh * H) / N = G / N.

    Trong đó:

    * Gh là giá cả tb của 1 hàng hoá.

    * T là lượng tiền cần cho lưu thông

    * H là số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường

    * G là tổng số giá cả của hàng hoá

    * N là số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại

    • Giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó.
    • Phương tiện cất giữ: Tiền được rút khỏi lưu thông và đi vào cất trữ. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc.
    • Phương tiện lưu thông:
      • Tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu.
      • Trong điều kiện tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán thì công thức số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông
    • Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Của Tiền Tệ Đòi Hỏi Tiền Phải Là Tiền Bằng Vàng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Xã, Trưởng Công An Xã
  • Bố Trí Công An Chính Quy Đảm Nhiệm Các Chức Danh Công An Xã
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Công An Xã, Phường Theo Quy Định Hiện Nay
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Bà X mượn bà B số tiền là 200 triệu đồng. Bà X đã viết giấy vay tiền và hẹn rõ ngày trả.
    • Câu hỏi: “Pháp luật là của ai, do ai và vì ai?” đề cập đến vấn đề nào của pháp luật?
    • Bác Thành nuôi được 30 con gà. Bác để ăn 9 con, cho con gái 2 con, 8 con gây giống. Số còn lại
    • Làm cùng công ty nên chị N biết chị V thường xuyên đi làm muộn, bỏ việc. Vì quen biết giám
    • Sản phẩm nào sau đây không phải là hàng hóa?
    • Tuân thủ pháp luật được hiểu là việc cá nhân, tổ chức
    • Công ty P và công ty Q ký hợp đồng mua sữa. Đúng hẹn, công ty P giao sữa đủ số lượng và
    • Đang trên đường đi học, A gặp người bán hàng rong bị đổ hàng tràn ra đường nhưng A vẫn
    • Để quản lý xã hội một cách hữu hiệu nhất Nhà nước phải sử dụng phương tiện nào dưới
    • Chủ thể nào sau đây không có quyền áp dụng pháp luật?
    • Hai bạn K và Q ( học sinh lớp 12) cùng nhau đi xe máy điện đến trường, K vừa điều khiển xe
    • Nhà nước ban hành luật Giao thông đường bộ và bắt buộc tất cả mọi người phải tuân theo,
    • Do mâu thuẫn cá nhân, K đã đánh H bị thương tích nặng với tỷ lệ thương tật 14%. H phải
    • M đang học lớp 9 (15 tuổi), do yêu đương với N (22 tuổi) nên có thai, Ủy ban nhân dân xã không
    • Chị T mở cửa hàng kinh doanh hàng tạp hóa nhưng lại trốn nộp thuế cho nhà nước. Trong trường
    • Trong giờ làm việc tại xí nghiệp X, công nhân H đã rủ các anh M, S, Đ cùng chơi bài ăn tiền. Vì
    • Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, công dân đều xử sự phù hợp với quy định của pháp luật
    • Các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành được áp dụng cho
    • Để sản xuất ra một cái áo, thời gian lao động của anh A là 1 giờ, anh B là 2 giờ, anh C là 3
    • Điểm giống nhau giữa đạo đức và pháp luật là đều
    • Công ty X đã phát hiện chị Y truyền thông tin mật của công ty mình cho công ty khác, do đó công ty
    • Năm nay A 18 tuổi, còn B chưa đầy 16 tuổi. Cả 2 đều là thanh niên lêu lổng. Một lần A và B
    • Sự thể hiện ý chí, nhu cầu, lợi ích của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội là thể hiện
    • Trách nhiệm pháp lí áp dụng đối với người vi phạm pháp luật xâm phạm tới quan hệ tài sản
    • Bà An bán thóc được 5 triệu đồng. Bà dùng tiền đó mua một cái máy giặt. Trong trường hợp
    • Công ty M trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bánh kẹo đã tự ý xả chất thải độc
    • Khoản 1 điều 16 Hiến pháp (2013) của nước ta quy định “Mọi người đều bình đẳng trước
    • Trường hợp nào sau đây là vi phạm dân sự?
    • Mỗi quy tắc xử sự được thể hiện thành.
    • Anh H lái xe máy phóng nhanh vượt ẩu nên đã gây tai nạn làm chị M bị thương tổn hại sức
    • Chị H đã gửi đơn lên Ủy ban Nhân dân xã X yêu cầu được giúp đỡ sau khi bị chồng mình
    • Trường hợp nào sau đây là vi phạm hình sự?
    • Theo quy định của pháp luật, học sinh đủ 16 tuổi được phép lái xe có dung tích xi lanh bao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Kinh Doanh
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing
  • Hướng Dẫn Luật Ma Sói Việt Hóa Mở Rộng
  • Bài 8: Mạch Khuếch Đại
  • Cn 12 Mạch Tạo Xung
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa
  • Chức Năng Của Tiền Tệ Những Điều Bạn Nên Biết
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 11
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản 2 Chủ Đề Nguồn Gốc Chức Năng Của Tiền Tê
  • Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Theo quy định của pháp luật về quyền tố cáo, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật mà công dân có thể tố cáo
    • Vào ca trực của mình tại trạm thuỷ nông, anh G rủ các anh là H, K, M đến liên hoan
    • Giá cả của hàng hóa bao giờ cũng vận động xoay quanh trục
    • Bạn A thường xuyên nghỉ học không có lí do
    • Bà H dựng xe máy ở vỉa hè để vào cửa hàng A mua một số hàng hóa, lúc thanh toán tiền mới biết mình quên không mang túi xách vào
    • Việc công dân kiến nghị với các cơ quan nhà nước về xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội là thể hiện quyền
    • Người uống rượu say gây ra hành vi vi phạm pháp luật được xem là
    • Công dân có thể học tập bằng nhiều hình thức khác nhau và ở các loại hình trường lớp khác nhau
    • Việc học sinh được tiếp cận thông tin phong phú, bổ ích, được vui chơi giải trí
    • Quyền nào không thuộc các quyền dân chủ của công dân?
    • Trong cuộc họp tổng kết cuối năm ở xã X, kế toán M không công khai việc thu chi ngân sách nên bị nhiều người phản đối
    • Xóa đói giảm nghèo là một nội dung cơ bản của pháp luật về lĩnh vực
    • M và N cùng thuê chung nhà ở của ông C
    • Biết bạn X có bạn gái là T, nên bạn M tìm mọi cách để cản trở tình cảm của bạn X và bạn T
    • Anh X là con cả trong gia đình, sau khi cha mẹ qua đời, anh X và vợ đã gọi em gái là K
    • Pháp luật về phát triển các lĩnh vực xã hội không bao gồm các quy định về vấn đề
    • Mọi công dân đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ của mình là nội dung bình đẳng về
    • Anh K và chị Q cùng thi tuyển vào làm việc tại công ty X
    • K là nhân viên công nghệ thông tin, K đã đột nhập và chiếm quyền quản trị được email của doanh nghiệp tư nhân do anh D làm giám đốc
    • Việc bảo đảm tỉ lệ thích hợp người dân tộc thiểu số trong các cơ quan quyền lực nhà nước thể hiện quyền
    • Một trong những đặc trưng của pháp luật là
    • Thấy B đi chơi với người yêu tên là S của mình về muộn, V cho rằng B tán tỉnh S nên đã bắt
    • Nội dung nào sau đây thể hiện sự bình đẳng giữa anh, chị, em
    • Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ mất sức lao động nên T (14 tuổi) phải bỏ học
    • Trong trường hợp sau khi bắt khẩn cấp, nếu không có phê chuẩn lệnh bắt người thì người bị bắt phải được trả
    • Hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
    • Trong quá trình buôn bán, ông A nợ ông B số tiền là 50 triệu đồng
    • Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng
    • Đánh người gây thương tích là vi phạm quyền
    • Anh K và chị P cùng làm một loại công việc trong cơ quan, nhưng do có trình độ chuyên môn tốt hơn nên anh K được ông H
    • Hai nhà liền vách nhưng khi phá nhà cũ, xây nhà mới anh D không nói với chị H, hậu quả tường vách nhà chị H nứt toác
    • Trên đường đi học về, A thấy B và H đi xe máy đầu không đội mũ bảo hiểm chạy với tốc độ cao
    • Ông M đã đưa hối lộ cho anh B là cán bộ hải quan để hàng hóa của mình nhập khẩu nhanh mà không cần làm thủ tục hải quan mất nhiều thời gian
    • Công dân có thể học bác si,̃ ki ̃sư, học sư phạm, học khoa học tự nhiên, hoặc khoa học xã hội là thể hiện
    • Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình và giữ gìn, khôi phục, phát huy những phong tục tập quán
    • Luật bảo vệ môi trường do cơ quan nào sau đây ban hành?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ
  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế
  • Tiền tệ là gì?

    Thông thường, tiền tệ là định nghĩa cho bất kỳ loại tiền nào được sử dụng để lưu thông trên toàn thế giới. Các loại tiền tệ được làm từ nhiều vật liệu khác nhau như giấy, polime hoặc kim loại. Nó thường được ban hành và duy trì bởi một cơ quan quản lý của quốc gia hay liên minh, khu vực. Điều này có nghĩa là giá trị của đồng tiền không đến từ vật liệu được tạo ra, mà bằng giá trị mà nó đại diện theo nền kinh tế và tổ chức phát hành.

    Các chức năng chính của tiền tệ

    Tiền tệ có 3 chức năng cơ bản là:

    • Phương tiện trao đổi
    • Phương tiện bảo tồn giá trị
    • Phương tiện hạch toán

    Khi tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi, tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ, điều đó đòi hỏi người bán phải chấp nhận nó với tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường. Từ các giao dịch bình thường hay các hợp đồng giao dịch lớn giữa các tác nhân đều thỏa thuận về phương tiện thanh toán. Không có một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi, lưu thông hàng hóa sẽ dựa vào chế độ hàng đổi hàng. Chế độ hàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp. Trong điều kiện đó, dân cư sẽ mất nhiều thời gian để thực hiện các giao dịch.

    Với chức năng là phương tiện bảo tồn giá trị, tiền là một hình thức để chuyển sức mua từ hiện tại sang tương lai. Nhờ chức năng này người dân có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tuy nhiên, trong điều kiện có lạm phát, giá trị của tiền giảm theo thời gian, vì thế tiền trở thành phương tiện bảo tồn giá trị không hiệu quả

    Chức năng đơn vị hạch toán của tiền, chỉ ra sự tiện lợi khi có một phương tiện được chấp nhận rộng rãi để định giá và ghi sổ sách. Tiền còn là cơ sở để hạch toán các hoạt động kinh tế. Nó còn là cơ sở để hạch toán mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của mọi quốc gia.

    Trong các chức năng của tiền tệ, chức năng phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất, vì nó thể hiện được bản chất của tiền.

    Các loại hình thái của tiền tệ

    Theo tiến trình lịch sử, tiền tệ đã trải qua ba hình thái: tiền hàng hóa, tiền quy ước và tiền qua ngân hàng.

    Tiền hàng hoá

    Tiền hàng hóa là một loại hàng hóa nào đó được người ta công nhận để làm vật trung gian cho việc giao dịch mua bán hàng hóa.

    Lúc đầu người ta sử dụng các loại hàng hóa thông dụng trong trao đổi như lúa mì, súc vật… Điều này đem tới nhiều bất tiện, do tiền hàng hóa chỉ được chấp nhận trong một nhóm người hay trong một địa phương, lại không thuận tiện cho việc di chuyển, và trong nhiều trường hợp khó phân chia thành nhiều đơn vị cần thiết.

    Tiền kim loại được sử dụng lần lượt đồng, bạc, vàng, do có nhiều ưu điểm hơn các kim loại khác.

    Nguyên tắc chung của tiền hàng hóa là giá trị của tiền bằng với giá trị của vật dùng làm tiền.

    • Ưu điểm: Những hàng hóa được chọn làm tiền tệ có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu và mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực diễn ra trao đổi.
    • Nhược điểm: Không đồng nhất; Dễ hư hỏng; Khó phân chia hay gộp lại; Khó bảo quản cũng như vận chuyển; Mang tính khu vực, địa phương…

    Tiền quy ước (tiền pháp định)

    Tiền quy ước hay tiền pháp định là loại tiền được lưu hành do quy định của nhà nước. Tiền được gọi là tiền quy ước bởi vì giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền chỉ là giá trị tượng trưng, tức là lớn hơn hay nhỏ hơn so với giá trị của vật dùng làm tiền. Nó biểu thị cho một lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chúng và tin vào đó để sử dụng. Sự khác nhau cơ bản giữa tiền hàng hóa và pháp định là ở chỗ đối với tiền pháp định giá trị của tiền tệ lớn hơn giá trị của vật dùng làm tiền, trong khi đó đối với tiền hàng hóa thì hai giá trị đó phải bằng nhau.

    Tiền quy ước cũng có hai dạng:

    Cả hai loại này đang được lưu hành trên thế giới. Tiền kim loại, trước đây người ta sử dụng các loại kim loại quý như bạc, vàng… về sau sử dụng loại kim loại rẻ hơn, tiền được sử dụng nhiều hơn. Tại nước ta hiện nay, tiền xu các loại đang được sử dụng trong lưu thông, đây cũng cũng là dạng tiền kim loại như nhiều nước trên thế giới đang sử dụng.

    Đối với tiền giấy có hai loại tiền giấy khả hoán và tiền giấy không khả hoán.

    Tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỉ XVII, lần đầu tiên do ngân hàng Amsterdam của Hà Lan thực hiện. Đối với loại tiền này khi có một lượng tiền nào đó bạn có thể đến nơi mà chính phủ quy định đổi lấy một lượng vàng hoặc bạc tương đương. Lượng quy kim đó được căn cứ vào bản vị tiền tệ, là lượng mà Chính phủ dùng để định nghĩa giá trị một đơn vị tiền tệ của quốc gia. Ví dụ ở Mỹ vào năm 1775 người ta định nghĩa 1USD = 25,92 g bạc 99,99%; và vào năm 1900 định nghĩa 1USD = 1504,6 mg vàng 99,99%. Nếu định nghĩa theo vàng thì gọi là chế độ bản vị vàng và theo bạc thì ta có chế độ bản vị bạc. Việc sử dụng tiền khả hoán đòi hỏi chính phủ có một lượng dự trữ vàng hoặc bạc tương đương với lượng tiền phát hành. Mục đích của chế độ phát hành này là muốn bảo đảm giá trị của đồng tiền đang lưu hành. Trong thực tế việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cho đến giữa những năm 1930, hầu như các quốc gia đều bỏ chế độ tiền giấy khả hoán chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán.

    Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể mang tiền giấy đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.

    • Ưu điểm: Nhẹ, dễ vận chuyển và cất trữ; Có đầy đủ mệnh giá; Chính phủ tốn ít chi phí sản xuất.
    • Nhược điểm: Không bền; Khá cồng kềnh khi giao dịch lớn; Tốn chi phí vận chuyển và dễ gặp rủi ro; Có thể bị làm giả; Dễ rơi vào tình trạng bất ổn (đồng tiền bị mất giá)

    Tiền qua ngân hàng

    Tiền qua ngân hàng là tiền ký thác hay tiền ký thác không kỳ hạn sử dụng séc hay tiền ghi nợ. Loại tiền này được tạo ra từ tài khoản séc.

    Từ nợ ở đây là chỉ khoản nợ của ngân hàng đối với người mở tài khoản séc tại ngân hàng. Khi mở tài khoản séc tức là người ta đưa vào ngân hàng một lượng ký thác không kỳ hạn. Người chủ tài khoản có thể viết một tờ séc cho mình hoặc cho một người nào đó để yêu cầu ngân hàng thanh toán một lượng tiền khi tờ séc được xuất trình và chưa quá hạn. Lượng tiền ký thác không kỳ hạn đó chính là tiền qua ngân hàng. Nhưng bản thân những tờ séc không phải là tiền, vì khi nhận tờ séc từ tay một người nào đó thì người ta không thể dùng nó vào việc thanh toán nợ hay mua bán hàng hóa.

    • Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí giao dịch; Nhanh, đơn giản và an toàn; Thuận lợi khi giao dịch lớn.
    • Nhược điểm: Mất thời gian vận chuyển séc, kiểm tra tính hợp pháp của séc..nên không phù hợp khi cần thanh toán nhanh; Tốn kém chi phí xử lý chứng từ.; Cần một khoảng thời gian dài để đưa vào ứng dụng phổ biến, rộng rãi.

    Trong ba hình thái tiền tệ nêu trên hiện nay chỉ phổ biến hai hình thái là tiền quy ước và tiền qua ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện thì vai trò của ngân hàng càng quan trọng. Ở nước ta, từ trước đến nay sử dụng chủ yếu vẫn là tiền giấy, tiền qua ngân hàng còn chưa sử dụng phổ biến nhưng trong xu hướng chung thì loại tiền này sẽ được sử dụng nhiều hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ
  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Nằm trong phạm trù kinh tế, lịch sử, sự ra đời của tiền tệ là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, giúp thúc đẩy các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, dần dần thay đổi bộ mặt của kinh tế, xã hội. Mà nói theo quan điểm của Mác thì: tiền tệ là thứ hàng hóa đặc biệt, giúp biểu thị giá trị của các hàng hóa khác nhau.

    Tiền tệ ( tiền lưu thông) là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế. Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền pháp định) do Nhà nước (Bộ Tài chính ,ngân hàng trung ương,…) phát hành, tiền hàng hóa (vàng, vỏ sò, gạo, muối), tiền thay thế (điểm thưởng, phỉnh poker, coupon, dặm bay,…), hoặc tiền mã hóa do một mạng lưới máy tính phát hành (điển hình là Bitcoin). Người ta dùng cụm từ “đơn vị tiền tệ” để phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác. Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví dụ: dollar, franc…) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Mỹ, dollar Úc). Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR.

    Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy.

    2. Tiền tệ là gì? tiền tệ xuất hiện như thế nào?

    Bàn về nguyên nhân ra đời của tiền tệ, ở Phương Tây chia thành hai trường phái riêng biệt. Một cho rằng sự ra đời của tiền tệ là kết quả khách quan tất yếu từ trao đổi hàng hóa phát triển thành. Đại diện cho trường phái này có David Ricardo, Adam Smith….

    Một trường phái khác lại cho rằng: nguồn gốc của tiền tệ là bản tính của đàn bà với các nhu cầu làm đẹp và bản tính đàn ông với sự ham muốn có nhiều tiền cùng danh vọng mà không nằm trong ‎quá trình trao đổi hàng hóa. Đại diện cho trường phái này là Smondest và W.Gherlop (là nhà tâm lý học).

    Sau khi dày công nghiên cứu, C.Mác cho rằng: thời kỳ con người sống thành bầy đàn chỉ duy trì hình thái kiếm ăn theo bản năng, lúc này chiếm hữu tư nhân chưa xuất hiện. Tuy nhiên, mầm mống trao đổi đã dân xuất hiện từ xã hội nguyên thủy, vật đổi vật khi có nhu cầu, mang tính ngẫu nhiên theo hình thức ngang giá.

    Khi quá trình phân công lao động xuất hiện trong xã hội thì hoạt động trao đổi thường xảy ra hơn, tiến bộ hơn so với hình thức trao đổi sơ khai nhưng vẫn có rất nhiều hàng hóa được trao đổi theo vật ngang giá. Khi sự phất công lao động càng phát triển thì sự trao đổi hàng hóa càng bộc lộ những thiếu sót dẫn đến mâu thuẫn lên cao, mức độ phân hóa trong xã hội ngày càng lớn.

    Khi sự phân công lao động xuất hiện lần thứ hai, lúc này thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp thị trường hàng hóa mở rộng và phát triển. Tình trạng vật đổi vật ngang giá thật sự không công bằng, đẩy mâu thuẫn càng lên cao của thị trường. Trước tình trạng trên, đòi hỏi phải có vật ngang giá mang giá trị lớn nhất, tiền tệ ra đời – biểu thị cho vật ngang giá chung đã giải quyết được yêu cầu trên.

    3. Chức năng của tiền tệ là gì?

    Qua tìm hiểu lịch sử ra đời và tầm quan trọng của tiền tệ, ta đã thấy được đây là một hàng không thể thiếu, mang trong mình nhiều chức năng quan trọng. Chức năng đầu tiên của tiền tệ là thước đo giá trị (tiền tệ mang giá trị trung gian, giá trị trao đổi và giá trị bảo lưu).

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác. Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét.

    Chức năng thứ hai là phương tiện trao đổi – đây là chức năng chức ta sử dụng tiền tệ hàng ngày trong mua (bán) hàng hóa các loại, và cũng là chức năng quan trọng nhất. Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa. Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Chức năng thứ ba của tiền tệ là phương tiện thanh toán, trong lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Tiền tệ có chức năng thứ tư là phương tiện tích lũy, tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Trước đây, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, nhưng nó không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời. Cho đến khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Phương pháp này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Vậy nên, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    Chức năng tiền tệ thế giới là chức năng thứ năm, khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    4. Vậy tầm quan trọng của tiền tệ là gì?

    Thông qua sự ra đời và chức năng của tiền tệ, ta có thể thấy được tầm quan trọng mà mặt hàng này mang lại. Tiền tệ là vật mang giá trị chung sử dụng trong quy tắc trao đổi giá trị các mặt hàng. Tiền tệ ra đời tỷ lệ thuận với quá trình mở rộng, lưu thông và phát triển hàng hóa. Ngoài ra chúng góp sức mạnh mẽ trong quá trình mở rộng quan hệ quốc tế.

    Suy cho cùng, tiền tệ là công cụ phục vụ con người với nhiều mục đích khác nhau. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, các quốc gia, các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân đều không thể đứng bên ngoài các mối quan hệ mà tiền tệ mang lại. Có thể thấy tiền tệ không ngừng phát huy sức mạnh của mình trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay và vẫn còn phát triển về sau một khi nền kinh tế này vẫn tồn tại.

    Qua bài viết của TraderPlus hẳn các bạn đã nắm vững kiến thức về tiền tệ là gì? và các chức năng và tầm quan trọng của nó. Tóm lại, tiền tệ ra đời mang trong mình một lúc nhiều chức năng và tầm quan trọng mà các mặt hàng khác không thể thay thế được. Để phát huy các chức năng này, tiền tệ phải là mặt hàng đang được lưu hành một cách chính thống, có sự sở hữu của nhà nước và có sự tín nhiệm của người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ

    Trường phái thứ hai cho rằng: tiền tệ ra đời bắt nguồn từ tâm lý của con người. Đại diện cho trường phái phái này là hai nhà kinh tế học người Đức – V. Gheclop và C. Smondet. Họ cho rằng: tiền xác định đẳng cấp xã hội là thuộc về bản tính con người, vì đàn ông là danh vọng xã hội còn ham muốn làm đẹp với nhiều loại trang sức là bản tính của phụ nữ! Với cách lập luận mang tính duy tâm, trường phái này đã đứng trên quan điểm tâm lý để nghiên cứu một phạm trù kinh tế nên hoàn toàn thiếu thuyết phục.

    Quan điểm về bản chất và chức năng của tiền tệ: có hai trường phái là trường phái tiền tệ kim loại và trường phái tiền tệ duy danh (tiền danh nghĩa).

    Trường phái tiền kim loại:

    Có nguồn gốc từ chủ nghĩa trọng thương với những đại biểu như Thomas Mun (1571-1641), Antoine Montchsetien (1575-1629), Jean Baptiste Colbert (1618-1683)… Quan điểm của trường phái này là: vàng, bạc tự nhiên đã là tiền tệ, vàng bạc và tiền tệ là một – đó là của cải duy nhất của quốc gia và tiêu chuẩn đánh giá sự giàu có của nước đó…

    Với quan điểm nêu trên, trường phái kim loại đã lẫn lộn giữa kim loại quý và tiền tệ mà không thấy rằng vàng bạc cũng là hàng hóa và chỉ trở thành tiền trong những điều kiện lịch sử nhất định qua quá trình chọn lọc và cố định dần vai trò vật ngang giá chung. Mặt khác, của cải xã hội không phải chỉ có tiền mà còn bao gồm các dạng tài sản vật chất khác. Có thể thấy học thuyết này ra đời sớm nên nội dung đơn giản và cách nhìn phiến diện nên chỉ thấy được các chức năng đòi hỏi tiền phải có đủ giá trị mà không thấy được tiền dấu diệu cũng có thể đảm nhiệm một số chức năng của tiền tệ.

    Trường phái tiền duy danh:

    Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh trong giai đoạn thế kỉ XVIII. Bên cạnh tiền đủ giá, các loại dấu hiện giá trị như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng… cũng đáp ứng nhu cầu thanh toán, trao đổi hàng hóa. Trước thực tế khách quan đó, tiền kim loại càng bộc lộ sự phiến diện, từ đấy thuyết tiền tệ duy danh ra đời. Với các đại diện nổi bật như: Adam Smith (1723-1790), D. Ricardo (1772-1823), J. Say (1767-1823)… Với quan điểm: tiền tệ là phương tiện kĩ thuật làm cho trao đổi được thực hiện, tiền chỉ là các chỉ tiêu của tỷ lệ, tiền không phải là hàng hóa mà là sản phẩm sáng tạo của Nhà nước, là đơn vị tính toán dùng trong lưu thông… Nói cách khác, trường phái này lại đứng ở góc nhìn phiến diện nghiêng về tiền dấu hiệu nên chỉ nghiên cứu tiền tệ qua chức năng phương tiện lưu thông và phủ nhận tính chất hàng hóa của tiền đủ giá cũng như không thấy được mối quan hệ giữa giá trị danh nghĩa của tiền dấu hiệu với giá trị tiền thực mà nó thay thế.

    Nằm trong số các nhà kinh tế học cổ điển, song K. Marx với cách nhìn của một nhà duy vật biện chứng đã đưa ra các quan điểm khoa học về các vấn đề tiền tệ như:

    Về nguồn gốc của tiền tệ: ông lý giải sự phát triển qua 4 hình thái giá trị một cách logic để chức minh rằng tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hóa.

    Về bản chất tiền tệ: ông không phiến diện như các nhà kinh tế theo trường phái kim loại hay trường phái duy danh khi đưa ra quan điểm “Vàng, bạc về bản chất là hàng hóa nhưng trong những điều kiện khách quan nhất định vàng, bạc được tách ra khỏi thế giới hàng hóa trở thành hàng hóa đặc biệt với giá trị sử dụng đặc biệt là: vật ngang giá chung đo lường và biểu thị giá trị của các hàng hóa khác”. Như vậy trong lớp áo là tiền tệ thì vàng, bạc mang bản chất là hàng hóa. Không chỉ tập trung vào chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ như đa số các nhà kinh tế học trước đó, K. Marx nêu lên 5 chức năng của tiền đủ giá và trong quá trình nghiên cứu các chức năng phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, ông đã lý giải nguyên nhân ra đời của các loại tiền dấu hiệu, đồng thời đưa ra “quy luật về số lượng tiền cần thiết trong lưu thông” ghi cột mốc quan trọng cho hệ thống các quy luật về số lượng tiền trong kinh tế học hiện đại.

    2. Các trường phái kinh tế hiện đại

    Sau K. Marx, các nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển, trường phái Keynes… về cơ bản thống nhất với nhau các vấn đề như nguồn gốc của tiền, các chức năng của tiền, tuy nhiên các trường phái này nhấn mạnh hơn đến chức năng phương tiện lưu thông hơn là phương tiện cất trữ tiền.

    Vào những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng kết hợp của các nhà kinh tế theo trường phái Keynes và trường phái tân cổ điển hình thành nên trường phái hiện đại và hiện đang giữ vai trò thống trị ở Mỹ, Nhật và Tây Âu với các đại biểu như: “Kinh tế học” P. A Samuelson và W. Nordhaus, “Kinh tế học hiện đại” của Milton Spencer, “Kinh tế học” của D. Begg, S. Fisher và R. Dornbusch. Đặc biệt trong bối cảnh các năm cuối thế kỷ XX các nhà kinh tế học hiện đại tập trung nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển đa dạng của các loại tiền dấu hiệu, phát huy vai trò điều tiết vĩ mô của tiền chống chu kỳ khủng hoảng và thất nghiệp, bên cạnh đó, phát triển thêm về các quy luật về số lượng tiền tệ dưới nhiều góc độ khác nhau tạo điều kiện vận dụng tốt nhất phục vụ cho chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ.

    Tóm lại: các học thuyết tiền tệ đã phát triển vô cùng phong phú, mỗi trường phái đều có những ưu thế riêng nhưng điều cốt lõi các nhà kinh tế học đã đúc kết những tư duy của mình đóng góp cho khoa học kinh tế nói tiêng và cho kho tàng tri thức nhân loại nói chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Cùng tìm hiểu về các chức năng của tiền tệ. Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ là chức năng nào

    6 chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Giải pháp thay thế duy nhất để sử dụng tiền là quay trở lại hệ thống hàng đổi hàng. Tuy nhiên, với tư cách là một hệ thống trao đổi, hệ thống hàng đổi hàng ngày nay sẽ rất khó khả thi.

    Ví dụ, nếu người thợ làm bánh cung cấp bánh mì cho người bán tạp hóa xanh phải trả tiền bằng hành tây và cà rốt, anh ta có thể không thích những thực phẩm này hoặc anh ta có thể có đủ dự trữ.

    Do đó, người thợ làm bánh sẽ phải bán lại sản phẩm, điều này sẽ mất thời gian và rất bất tiện. Bằng cách thay thế những cuộc mua bán phức tạp này bằng cách sử dụng tiền, có thể tiết kiệm được rất nhiều rắc rối. Nếu thợ làm bánh chấp nhận thanh toán bằng tiền, bạn có thể chi tiêu theo bất cứ cách nào mà thợ làm bánh muốn. Việc sử dụng tiền như một phương tiện trao đổi đã khắc phục được những hạn chế của hàng đổi hàng chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Do đó, tiền cung cấp phương tiện hiệu quả nhất để thỏa mãn những mong muốn chức năng quan trọng nhất của tiền tệ Mỗi người tiêu dùng có một nhóm mong muốn khác nhau. Tiền cho phép anh ta (cô ta) quyết định muốn thỏa mãn điều gì, xếp hạng mong muốn theo thứ tự mức độ khẩn cấp và năng lực (thu nhập) và hành động phù hợp.

    Loại hệ thống này cũng cho phép mở rộng chuyên môn hóa. Lấy ví dụ, một người chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất trong một nhà máy sản xuất giày. Anh ấy đã không thực sự tự sản xuất bất cứ thứ gì. Vậy anh ta có thể trao đổi những gì nếu một hệ thống hàng đổi hàng đang hoạt động? Với hệ thống tiền tệ, vấn đề được loại bỏ. Anh ta có thể được trả bằng tiền và có thể dùng số tiền đó để mua những thứ anh ta muốn.

    Chức năng số 2. Một thước đo giá trị:

    Theo hệ thống hàng đổi hàng, rất khó đo lường giá trị của hàng hóa. Ví dụ, một con ngựa có thể có giá trị tương đương với năm con bò hoặc 100 tạ lúa mì, hoặc một chiếc ô tô Maruti có thể tương đương với 10 chiếc xe hai bánh. Do đó, một trong những nhược điểm của hệ thống hàng đổi hàng là bất kỳ hàng hóa hoặc dịch vụ nào cũng có một loạt giá trị trao đổi.

    Tiền là thước đo của mọi thứ. Bằng cách hoạt động như một mẫu số chung, nó cho phép mọi thứ được định giá, nghĩa là được định giá bằng tiền. Do đó, mọi người có thể so sánh các mức giá khác nhau và do đó thấy được giá trị tương đối của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau.

    Điều này phục vụ hai mục đích cơ bản:

    (1) Hộ gia đình (người tiêu dùng) có thể lập kế hoạch chi tiêu của họ và

    (2) Người kinh doanh có thể lưu giữ hồ sơ thu nhập và chi phí để tính toán lãi lỗ của họ.

    Chức năng # 3. Kho lưu trữ giá trị (Sức mua)

    Một bất lợi chính của việc sử dụng hàng hóa – chẳng hạn như lúa mì hoặc muối hoặc thậm chí động vật như ngựa hoặc bò – làm tiền là sau một thời gian, chúng sẽ xấu đi và mất giá trị kinh tế. Do đó, chúng không thỏa mãn chút nào như một phương tiện cất giữ của cải. Để nhận ra những vấn đề chức năng quan trọng nhất của tiền tệ của tiết kiệm trong nền kinh tế hàng đổi hàng, chúng ta hãy xem xét một nông dân. Anh ấy muốn tiết kiệm một ít lúa mì mỗi tuần để tiêu dùng trong tương lai. Nhưng điều này chẳng có ích gì đối với ông ở tuổi già vì số tiền ‘tiết kiệm’ sẽ không còn nữa.

    Một lần nữa, nếu một người thợ khai thác than muốn dành một lượng than nhất định mỗi tuần cho cùng một mục đích, anh ta sẽ gặp vấn đề trong việc tìm đủ chỗ chứa cho toàn bộ số than của mình. Bằng cách sử dụng tiền, những vấn đề như vậy có thể được khắc phục và mọi người có thể tiết kiệm cho tương lai. Hình thức tiền hiện đại (chẳng hạn như tiền xu, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng) cho phép mọi người tiết kiệm thu nhập thặng dư của họ.

    Nói cách khác, rõ ràng là tiền chỉ có thể hoạt động hiệu quả như một kho lưu trữ giá trị nếu giá trị của chính nó ổn định. Ví dụ, nếu hầu hết mọi người cảm thấy rằng khoản tiết kiệm của họ sẽ trở nên vô giá trị rất nhanh, họ sẽ tiêu chúng ngay lập tức và không tiết kiệm được gì. Trong vài năm gần đây, giá trị (hoặc sức mua) của tiền đã giảm ở Ấn Độ chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn – cho các mục đích hàng ngày – tiền có đủ sự ổn định về giá trị để phục vụ khá tốt cho việc lưu trữ giá trị.

    Chức năng số 4. Cơ sở của Tín dụng:

    Tiền tạo điều kiện cho các khoản vay. Người đi vay có thể sử dụng tiền để có được hàng hóa và dịch vụ khi họ cần nhất. Ví dụ, một cặp vợ chồng mới cưới sẽ cần rất nhiều tiền để trang bị một ngôi nhà hoàn chỉnh ngay lập tức. Họ không bắt buộc chức năng quan trọng nhất của tiền tệ phải đợi đến mười năm để có thể tiết kiệm đủ tiền để mua những thứ đắt tiền như ô tô, tủ lạnh, TV, v.v.

    Chức năng số 5. Một Đơn vị Tài khoản:

    Một thuộc tính của tiền là nó được sử dụng như một đơn vị tài khoản. Hàm ý là tiền được sử dụng để đo lường và ghi lại các giao dịch tài chính cũng như giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia theo thời gian. Giá trị tiền của hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong một nền kinh tế trong một niên độ kế toán được gọi là tổng sản phẩm quốc dân. Theo JR Hicks, tổng sản phẩm quốc dân là tập hợp hàng hóa và dịch vụ được giảm xuống mức chung bằng cách tính bằng tiền.

    Chức năng số 6. Một tiêu chuẩn của việc trả sau:

    Đây là một phần mở rộng của chức năng đầu tiên. Ở đây một lần nữa tiền được sử dụng như một phương tiện trao đổi, nhưng lần này việc thanh toán được dàn trải trong một khoảng thời gian. Như vậy, khi hàng hoá được mua theo hình thức thuê mua, chúng được giao cho người mua khi thanh toán một khoản tiền đặt cọc, sau đó người mua sẽ thanh toán số tiền còn lại theo nhiều đợt.

    Theo hệ thống hàng đổi hàng, loại giao dịch này có thể có vấn đề. Hãy tưởng tượng một người nông dân mua một máy quay video và đồng ý trả cho nó với số lượng lúa mì cố định mỗi tuần trong một số tuần nhất định chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Sau một vài tuần, người bán máy quay video có thể có đủ lúa mì.

    Tuy nhiên, anh ta sẽ phải nhận thêm lúa mì trong những tuần tới. Nếu tiền đã được sử dụng, thì người bán có thể dùng nó để mua bất cứ thứ gì anh ta muốn, cho dù đó là lúa mì hay thứ gì khác – hiện tại hoặc trong tương lai. Nói cách khác, việc sử dụng tiền cho phép trì hoãn chi tiêu từ hiện tại sang một số dịp trong tương lai.

    Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các giao dịch (mua và bán) được thực hiện trên cơ sở tín dụng. Ví dụ, bạn có thể mua những đồ dùng bền bỉ như TV hoặc máy giặt khi thuê; có thể mua nhà bằng LIC hoặc HDFC vay; hầu hết các giao dịch kinh doanh cho phép thanh toán trong tương lai cho hàng hóa được giao ngay bây giờ; và người lao động chờ đợi một tháng hoặc một tuần để nhận tiền công và tiền lương của họ. Do đó, việc sử dụng tiền cho phép các thành viên trong xã hội trì hoãn chi tiêu của họ từ hiện tại đến một ngày nào đó trong tương lai.

    Do đó, chúng tôi thấy rằng hệ thống tiền tệ rõ ràng có lợi thế hơn hệ thống hàng đổi hàng. Nhưng tiền là gì? Lưu ý năm từ đầu tiên trong định nghĩa của chúng tôi – “bất kỳ điều gì thường được chấp nhận”. Chúng tôi sử dụng tiền giấy và tiền xu để mua đồ nhưng chỉ có thể làm như vậy miễn là chủ cửa hàng và thương nhân sẵn sàng chấp nhận những tiền giấy và tiền xu đó để thanh toán cho hàng hóa mà họ đang bán.

    Nếu tất cả người bán quyết định rằng họ sẽ không chấp nhận những tờ tiền và tiền xu này nữa, thì chúng sẽ không còn là tiền nữa. Thay vào đó, nếu họ quyết định chấp nhận chân ghế là tiền, thì chúng ta sẽ phải sử dụng chân ghế mà chúng ta sẽ phải sử dụng khi mua một thứ gì đó! Tất nhiên, ví dụ này khá nực cười nhưng nó chỉ ra rằng bất cứ thứ gì cũng có thể là tiền miễn là nó thường được chấp nhận như vậy.

    Vậy đâu là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ được các nhà kinh tế học hiện đại quan niệm là: Phương tiện trao đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100