Nhận Định Đúng Sai Môn Lí Luận Nhà Nước Và Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Xhcn) Và Tư Sản
  • Chương 2 Những Vấn Đề Cơ Bản Về Nhà Nước
  • So Sánh Nhà Nước Phương Đông Và Phương Tây
  • Chức Năng Nhà Nước: Khái Niệm, Phân Loại, Các Yếu Tố Quy Định
  • 4. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật lạc hậu, thể hiện trình độ pháp lý thấp.

    cái này sai. Rất nhiều nước tiến bộ trên thế giới bây giờ trong hệ thống PL của họ chủ yếu là tồn tại dưới dạng không thành văn, thừa nhận rất nhiều Án lệ: những nước trong hệ thống luật Anh- Mĩ.

    5. Tập quán pháp và tiền lệ pháp có cùng điểm chung?

    Hoặc: Hình thái XH nguyên thuỷ không có nhà nước

    b. Quyền lực chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp

    Câu I: (4 điểm) Những nhận định sau đúng hay sai, tại sao?

    1. Pháp luật chỉ mang tính giai cấp.

    Đáp án: sai, bởi vì pháp luật còn mang tính xã hội.

    2. Hệ thống cơ quan xét xử gồm: Tòa án và Viện kiểm sát.

    Đáp án: sai, bởi vì hệ thống cơ quan xét xử là Tòa án.

    3. Người đứng đầu Nhà nước trong hình thức chính thể cộng hòa luôn là tổng thống.

    Đáp án: sai, bởi vì hình thức chính thể cộng hòa đại nghị thì người đứng đầu đất nước luôn là Thủ tướng.

    4. Chỉ có hành vi hợp pháp của con người mới trở thành sự kiện pháp lý.

    Đáp án: sai, bởi vì ngoài ra còn sự biến pháp lý không do hành vi của con người.

    5. Người bị phạt tù là người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

    Đáp án: sai, bởi vì người bị phạt tù không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

    6. Việc ly hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài được tiến hành tại UBND cấp tỉnh.

    Đáp án: sai, bởi vì việc ly hôn chỉ được giải quyết tại Tòa án.

    7. Tuổi bắt đầu có năng lực hành vi dân sự là đủ 15 tuổi.

    Đáp án: sai, bởi vì tuổi bắt đầu có năng lực hành vi dân sự là đủ 6 tuổi.

    8. Theo quy định của Luật hình sự Việt Nam, án treo là hình phạt nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt.

    Đáp án: sai, bởi vì án treo không phải là hình phạt.

    Câu II: (3 điểm)

    Cho một ví dụ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và phân tích cấu thành vi phạm pháp luật trong ví dụ đó.

    Đáp án: Sinh viên phải đáp ứng các yêu cầu sau:

    Một ví dụ cụ thể về một hành vi vi phạm pháp luật cụ thể (ví dụ là vi phạm pháp luật giao thông đường bộ).

    – Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật trong ví dụ đã cho thì phải làm rõ những nội dung sau :

    + Về chủ thể của vi phạm pháp luật

    + Về khách thể của vi phạm pháp luật

    + Về chủ quan của vi phạm pháp luật

    + Về khách quan của vi phạm pháp luật

    Câu III: (3 điểm) Giải quyết tình huống sau:

    Năm 1989, Ông A và bà B kết hôn với nhau. Họ có hai người con là C (1990) và D (1996). Tài sản của chung của A và B gồm có: 1 căn nhà mang tên 2 vợ chồng (có giá 1,2 tỉ đồng) và một mảnh đất do bố ông A cho ông A năm 1987 (mảnh đất này do ông A đứng tên có giá trị là 900 triệu đồng), một sổ tiết kiệm mang tên ông A được mở năm 2009, trong tài khoản có 300 triệu đồng.

    a. Năm 2012, ông A bị tòa án tuyên bố đã chết và không để lại di chúc. Hãy chia di sản của ông A.

    b. Giả sử trước đó ông A để lại di chúc cho toàn bộ tài sản của mình cho cháu nội là K. D cho rằng mình là con dù không có tên vẫn được hưởng thừa kế. Bố mẹ K thì bảo ông A cho ai thì người đó hưởng. Hãy giải quyết tranh chấp trên.

    a. Chia di sản thừa kế của A:

    Thời điểm mở thừa kế của A: năm 2012

    Di sản thừa kế của A:

    Xác định di sản thừa kế của A là:

    Theo đề bài thì tài sản chung của A và B bao gồm: căn nhà 1,2 tỷ, mảnh đất 900 triệu, sổ tiết kiệm 300 triệu. Đây là tài sản chung của A và B do vậy để xác định di sản thừa kế của A thì trong trường hợp trên ta phải chia đôi khối tài sản chung đó. (phần này sinh viên xác định không đúng phần di sản thì vẫn cho điểm nếu việc chia di sản thừa kế thực hiện đúng, nhưng không đạt điểm tuyệt đối).

    Do vậy di sản thừa kế của A là: (1,2 tỷ + 900 triệu + 300 triệu)/2 = 1,2 tỷ đồng.

    Trong trường hợp A không để lại di chúc thì di sản thừa kế của A được chia theo pháp luật như sau:

    Áp dụng điều 676 BLDS 2005 ta có:

    Hàng thừa kế thứ nhất của A là (tổng cộng có 3 người): vợ của A là B và 2 (là C và D) con, mỗi người nhận được:

    1,2 tỷ đồng/3 = 400 triệu đồng.

    b. Trong trường hợp trên ông A có để lại di chúc. Tuy nhiên có con (là D) của A là chưa thành niên và vợ của A được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cụ thể như sau:

    Thời điểm mở thừa kế của A năm 2012:

    Di sản thừa kế của A là 1,2 tỷ đồng:

    Áp dụng điều 669 BLDS ta có:

    1 suất thừa kế theo pháp luật của A nếu di sản của A được chia theo pháp luật là

    1,2 tỷ đồng/3 = 400 triệu đồng.

    áp dụng điều 669 thì B được hưởng di sản của A như sau: 2/3 x 400 triệu = 266,7 triệu đồng.

    Con của A là D được hưởng như sau: 2/3 x 400 triệu = 266,7 triệu đồng

    Còn lại chia theo di chúc cho K là: 1,2 tỷ đồng – (266,7 triệu + 266,7 triệu) = 666,6 triệu đồng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vui Lòng Giúp Em Một Số Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Và Giải Thích. Xin Chân Thành Cảm Ơn!
  • 102 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam Xhcn
  • Vấn Đề Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Giao An Phap Luat Dai Cuong
  • 102 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Vui Lòng Giúp Em Một Số Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Và Giải Thích. Xin Chân Thành Cảm Ơn!
  • Nhận Định Đúng Sai Môn Lí Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Xhcn) Và Tư Sản
  • Chương 2 Những Vấn Đề Cơ Bản Về Nhà Nước
  • 169611

    Câu hỏi nhận định đúng sai lý luận nhà nước và pháp luật

    1. Mọi quy tắc xử sự tồn tại trong xã hội có Nhà nước đều là pháp luật.

    2. Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với xã hội có giai cấp.

    3. Tùy vào các kiểu Nhà nước khác nhau mà bản chất Nhà nước có thể là bản chất giai cấp hoặc bản chất xã hội.

    4. Nhà nước mang bản chất giai cấp có nghĩa là Nhà nước chỉ thuộc về một giai cấp hoặc một liên minh giai cấp nhất định trong xã hội.

    5. Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt do giai cấp thông trị tổ chức ra và sử dụng để thể hiện sự thống trị đối với xã hội.

    6. Không chỉ Nhà nước mới có bộ máy chuyên ch ế làm nhiệm vụ cưỡng chế, điều đó đã tồn tại từ xã hội cộng sản nguyên thủy.

    7. Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng.

    8. Nhà nước trong xã hội có cấp quản lý dân cư theo sự khác biệt về chính trị, tôn giáo, địa vị giai cấp.

    9. Trong ba loại quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tư tưởng thì quyền lực chính trị đóng vai trò quan trọng nhất vì nó đảm bảo sức mạnh cưỡng chế của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị.

    10. Kiểu Nhà nước là cách tổ chức quyền lực của Nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực Nhà nước.

    11. Chức năng lập pháp của Nhà nước là hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.

    12. Chức năng hành pháp của Nhà nước là mặt hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh và bảo vệ pháp luật trước những hành vi vi phạm.

    • Quyền lập quy là quyền ban hành những văn bản dưới luật nhắm cụ thể luật pháp do cơ quan lập pháp ban hành
    • Quyền hành chính là quyền tổ chức tất cả các mặt các quan hệ xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước.

    13. Chức năng tư pháp của Nhà nước là mặt hoạt động bảo vệ pháp luật.

    14. Giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội.

    15. Chức năng xã hội của Nhà nước là giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội.

    16. Lãnh thổ, dân cư là những yếu tố cấu thành nên một quốc gia.

    định, cộng đồng dân cư ổn định, Chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế, Khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế.

    17. Nhà nước là chủ thể duy nhất có khả năng ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật.

    18. Nhà nước thu thuế của nhân dân với mục đích duy nhất nhằm đảm bảo công bằng trong xã hội và tiền thuế nhằm đầu tư cho người nghèo.

    • Tất cả mọi hoạt động của chính quyền cần phải có nguồn tài chính

      để chi (đầu tiên là nuôibộ máy Nhà nước); nguồn đầu tiên đó là các khoản thu từ thuế.

    • Thuế là công cụ rất quan trọng để chính quyền can thiệp vào sự hoạt động của nền kinh tế bao gồm cả nội thương và ngoại thương.
    • Giữa các nhóm công dân có sự chênh lệch về thu nhập và do đó là chênh lệch về mức sống, nên chính quyền sẽ đánh thuế để lấy một phần thu nhập của người giàu hơn và chia cho người nghèo hơn (thông qua cung cấp hàng hóa công cộng).
    • Chính quyền có thể muốn hạn chế một số hoạt động của công dân (ví dụ hạn chế vi phạm luật giao thông hay hạn chế hút thuốc lá, hạn chế uống rượu) nên đánh thuế vào các hoạt động này.
    • Chính quyền cần khoản chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế.
    • Rõ ràng rằng, tiền thuế không chỉ nhằm đầu tư cho người nghèo.

    19. Thông qua hình thức Nhà nước biết được ai là chủ thể nắm quyền lực Nhà nước và việc tổ chức thực thi quyền lực Nhà nước như thế nào.

    20. Căn cứ chính thể của Nhà nước, ta biết được Nhà nước đó có dân chủ hay không.

    21. Chế độ chính trị là toàn bộ các phương pháp , cách thức thực hiện quyền lực của Nhà nước.

    22. Chế độ chính trị thể hiện mức độ dân chủ của Nhà nước.

    23. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hình thức cấu trúc Nhà nước đơn nhất.

    24. Cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn mang tính quyền lực Nhà nước.

    25. Bộ máy Nhà nước là tập hợp các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

    27. Quốc hội là cơ quan hành chính cao nhất của nước cộng hòa xả hội chủ nghĩa Việt Nam.

    28. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.

    29. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    30. Chủ quyền quốc gia là quyền độc lập tự quyết của quốc gia trong lĩnh vực đối nội.

    31. Chủ tịch nước không bắt buộc là đại biểu quốc hội.

    32. Thủ tướng chính phủ do chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm.

    33. Hội đồng nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra.

    34. Ủy ban nhân dân địa phương có quyền ban hành nghị định, quyết định.

    35. Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân là hai cơ quan có chức năng xét xử ở nước ta.

    36. Đảng cộng sản Việt Nam là một cơ quan trong bộ máy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    37. Chỉ có pháp luật mới mang tính quy phạm.

    38. Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác thể hiên tính quy phạm phổ biến của pháp luật.

    39. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước, các cá nhân tổ chức ban hành.

    40. Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng những biện pháp như giáo dục thuyết phục, khuyến khích và cưỡng chế.

    41. Pháp luật Việt Nam thừa nhận tập quán, tiền lệ là nguồn chủ yếu của pháp luật.

    42. Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận nguồn hình thành pháp luật duy nhất là các văn bản quy phạm pháp luật.

    43. Tập quán là những quy tắc xử sự được xã hội công nhận và truyền từ đời này sang đời khác.

    44. Tiền lệ là những quy định hành chính và án lệ.

    45. Chủ thể pháp luật chính là chủ thể quan hệ pháp luật và ngược lại.

    46. Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia thì luôn thể hiện ý chỉ của Nhà nước.

    47. Quan hệ pháp luật phản ánh ý chí của các bên tham gia quan hệ.

    48. Công dân đương nhiên là chủ thể của mọi quan hệ pháp luật.

    49. Cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật sẽ trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật.

    50. Năng lực hành vi của mọi cá nhân là như nhau.

    51. Năng lực pháp luật của mọi pháp nhân là như nhau.

    52. Năng lực pháp luật của chủ thể là khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ do chủ thể đó tự quy định.

    53. Năng lực pháp luật của chủ thể trong quan hệ pháp luật phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia.

    54. “Năng lực hành vi của chủ thể” phụ tuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe, trình độ của chủ thể.

    55. Chủ thể không có năng lực hành vi thì không thể tham gia vào các quan hệ pháp luật.

    56. Năng lực pháp luật phát sinh kể từ khi các cá nhân được sinh ra.

    57. Khi cá nhân bị hạn chế về năng lực pháp luật thì đương nhiên cũng bị hạn chế về năng lực hành vi.

    58. Năng lực pháp luật của Nhà nước là không thể bị hạn chế.

    59. Nội dung của quan hệ pháp luật đồng nhất với năng lực pháp luật vì nó bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý.

    60. Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể chính là hành vi pháp lý.

    61. Khách thể của quan hệ pháp luật là những yếu tố thúc đẩy cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật.

    62. Sự kiện pháp lý là yếu tố thúc đẩy chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật.

    63. Các quan hệ pháp luật xuất hiện do ý chí các cá nhân.

    64. Đối với cá nhân, năng lực hành vi gắn với sự phát triển của con người và do các cá nhân đó tự quy định.

    65. Người bị hạn chế về năng lực hành vi thì không bị hạn chế về năng lực pháp luật.

    66. Người bị kết án tù có thời hạn chỉ bị hạn chế về năng lực hành vi, không bị hạn chế năng lực pháp luật.

    67. Người say rượu là người có năng lực hành vi hạn chế.

    68. Năng lực pháp luật có tính giai cấp, còn năng lực hành vi không có tính giai cấp.

    – Năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân ( thể nhân), pháp nhân (tổ chức, cơ quan) hưởng quyền và nghĩa vụ theo luật định. Do vậy, khả năng này chịu ảnh hưởng sâu sắc của tính giai cấp, và do đặc trưng giai cấp quyết định. Mỗi giai cấp cầm quyền sẽ có đặc trưng khác nhau, xây dựng một chế độ khác nhau nên sẽ trao cho công dân của mình những quyền và nghĩa vụ khác nhau.

    – Còn Năng lực hành vi (hay còn gọi là năng lực hành vi dân sự của cá nhân) là khả năng của một người, thông qua các hành vi của mình để xác lập hoặc/và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với người khác. Như vậy, có thể hiểu là năng lực hành vi dân sự gắn với từng người, mang tính cá nhân, phát sinh khi cá nhân mỗi người bằng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, xác lập quan hệ với người hay tổ chức khác, nó không phụ thuộc vào đặc trưng giai cấp.

    69. Người đủ từ 18 tuổi trở lên là chủ thể của mọi quan hệ pháp luật.

    70. Nhà nước là chủ thể của mọi quan hệ pháp luật.

    71. Nghĩa vụ pháp lý đồng nhất với hành vi pháp lý của chủ thể.

    72. Chủ thể của hành vi pháp luật luôn là chủ thể của quan hệ pháp luật và ngược lại.

    73. Năng lực pháp luật của người đã thành niên thì rộng hơn người chưa thành niên.

    74. Năng lực pháp luật của các cá nhân chỉ được quy định trong các văn bản pháp luật.

    75. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều là những hành vi trái pháp luật.

    76. Mọi biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đều là biện pháp trách nhiệm pháp lý.

    77. Những quan điểm tiêu cực của chủ thể vi phạm pháp luật được xem là biểu hiện bên ngoài (mặt khách quan) của vi phạm pháp luật.

    78. Hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra đều phải là sự thiệt hại về vật chất.

    79. Sự thiệt hại về vật chất là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm pháp luật.

    80. Chủ thể của vi phạm pháp luật có thể chịu đồng thời nhiều trách nhiệm pháp lý.

    81. Không thấy trước hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thì không bị xem là có lỗi.

    82. Hành vi chưa gây thiệt hại cho xã hội thì chưa bị xem là vi phạm pháp luật.

    83. Phải là người đủ 18 tuổi trở lên thì mới được coi là chủ thể của vi phạm pháp luật.

    84. Sự thiệt hại thực tế xảy ra cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm pháp luật.

    85. Một hành vi vừa có thể đồng thời là vi phạm pháp luật hình sự vừa là vi phạm pháp luật hành chính, nhưng không thể đồng thời là vi phạm pháp luật dân sự, vừa là vi phạm pháp luật hình sự

    86. Trách nhiệm pháp lý là bộ phận chế tài trong quy phạm pháp luật.

    87. Mọi biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đều là biện pháp trách nhiệm pháp lý và ngược lại.

    88. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý.

    89. Mọi hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi phạm pháp luật.

    90. Quan điểm tiêu cực của các chủ thể vi phạm pháp luật được xem là biểu hiện bên ngoài của vi phạm pháp luật.

    91. Mọi hậu quả do vi phạm pháp luật gây ra đều phải được thực hiện dưới dạng vật chất.

    92. Một vi phạm pháp luật không thể đồng thời gánh chịu nhiều loại trách nhiệm pháp lý.

    93. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật lạc hậu, thể hiện trình độ pháp lý thấp.

    94. Pháp luật luôn tác động tích cực đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.

    95. Pháp luật là tiêu chuẩn (chuẩn mực) duy nhất đánh giá hành vi của con người.

    96. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật lạc hậu, thể hiện trình độ pháp lý thấp.

    97. Các quy phạm xã hội luôn đóng vai trò hỗ trợ việc thực hiện pháp luật.

    98. Mọi Nhà nước đều phải trải qua 4 kiểu Nhà nước.

    99. Nhà nước là một hiện tượng bất biến trong xã hội.

    100. Quyền lực chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp.

    101. Công xã nguyên thủy không tồn tại Nhà nước vì không tồn tại hệ thống quản lý quyền lực.

    102. Nhu cầu trị thủy là yếu tố căn bản hình thành Nhà nước ở các quốc gia phương Đông.

    Download file nhận định đúng sai lý luận nhà nước và pháp luật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam Xhcn
  • Vấn Đề Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Giao An Phap Luat Dai Cuong
  • Câu Hỏi Ôn Tập Pháp Luật Đại Cương
  • Giáo Trình: Đại Cương Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Nhà Nước
  • Khái Niệm Chức Năng Của Nhà Nước Và Bộ Máy Nhà Nước
  • Bài 2: Chức Năng Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Vấn đề bản chất và ý nghĩa của nhà nước luôn luôn là đối tượng của cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt nhất. Đồng thời đây cũng là một trong những vấn đề khó nhất đã “trở thành trung tâm của mọi vấn đề chính trị và mọi tranh luận chính trị”.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất chuyên chính vô sản, là bộ máy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội, để trấn áp những lực lượng thống trị cũ đã bị lật đổ và những phần tử chống đối cách mạng.

    Bản chất của nhà nước

    Khái niệm bản chất nhà nước

    Vấn đề bản chất và ý nghĩa của nhà nước luôn luôn là đối tượng của cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt nhất. Đồng thời đây cũng là một trong những vấn đề khó nhất đã “trở thành trung tâm của mọi vấn đề chính trị và mọi tranh luận chính trị” Những người đại diện cho triết học, sử học, chính trị, kinh tế học và chính luận tư sản đã đưa ra nhiều thứ lý luận làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn. Vì nhiều lý do, các nhà lý luận tư sản không giải thích được một cách đúng đắn và khoa học vấn đề bản chất nhà nước, nên ở góc độ này hay góc độ khác đã biện hộ cho sự thống trị của giai cấp bóc lột không thừa nhận những quy luật vận động khách quan của nhà nước. Với phương pháp luận khoa học, trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành tựu của nhiều bộ môn khoa học, học thuyết Mác- lênin về nhà nước và pháp luật đã giải thích được một cách đúng đắn vấn đề bản chất và ý nghĩa của nhà nước nói chung cũng như của nhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng.

    Xuất phát lừ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-lênin đi đến kết luận “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được”. Nghĩa là, nhà nước chỉ sinh ra và lồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất đó thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để thực hiện sự thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng. Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo đảm cho sự thống trị giai cấp. Quyền lực kinh tế co ý nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng có thể bắt những người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột. VÌ vậy, cần phải có nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột. Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị. Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

    Quyền lực chính trị “là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác”. Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối địch. Với ý nghĩa đó nhà nước chính là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình. Thông qua nhà nước ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước. Ý chí nhà nước có sức mạnh bắt buộc các giai cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do giai cấp thống trị đặt ra, phải phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Làm như vậy, giai cấp thống trị đã thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giai cấp khác. Công cụ chủ yếu để thực hiện sự chuyên chính giai cấp là nhà nước, một bộ máy do giai cấp thống trị tổ chức ra.

    Trong các xã hội bóc lột, nền chuyên chính của các giai cấp bóc lột đều có đặc điểm chung là duy trì sự thống trị về chính trị, kinh tế và tư tưởng của thiểu số người bóc lột đối với đông đảo nhân dân lao động. Các nhà nước bóc lột đều có chung bản chất là bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột: Nhà nước chủ nô là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô, nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến, nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản. Khác với điều đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất chuyên chính vô sản, là bộ máy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội, để trấn áp những lực lượng thống trị cũ đã bị lật đổ và những phần tử chống đối cách mạng.

    Nhưng để thực hiện sự chuyên chính giai cấp không thể chỉ đơn thuần dựa vào bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động về tư tưởng nữa. Giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng.

    Như vậy, nhà nước là một bộ máy đặc biệt để bảo đảm sự thống trị về kinh tê, để thực hiện quyền lực về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với quần chúng. Ngoài việc thực hiện các chức năng trên, nhà nước còn phải giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội, nghĩa là phải thực hiện các chức năng xã hội. Điều đó nói lên rằng nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang bản chất xã hội.

    Mặc dù mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng, nhưng các nhà nước đều có một số đặc điểm chung. Để khái quát hóa bản chất chung của nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-lênin đã đưa ra nhiều định nghĩa. Trong đó, phần lớn các định nghĩa đều xác định nhà nước là một bộ máy để thực hiện sự thống trị giai cấp, là bộ máy của quyền lực nhà nước. V.I.Lênin định nghĩa: “Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác”. Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Người giải thích rõ thêm “Nhà nước theo đúng nghĩa của nó, là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác”. Những định nghĩa này V.I.Lênin một mặt đã xác định rõ bản chất và ý nghĩa xã hội của nhà nước trong xã hội có giai cấp đối kháng (nhà nước theo đúng nghĩa của nó); mặt khác, đã nêu ra những yếu tố cơ bản cấu thành khái niệm nhà nước của bất kỳ kiểu nhà nước. Theo V.I.Lênin nhà nước trước hết là một bộ máy đặc biệt tách ra khỏi xã hội để thực hiện một quyền lực mang tính cưỡng chế và xét về bản chất, nhà nước bao giờ cũng là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp. Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng có một số đặc điểm chung như các kiểu nhà nước khác, nhưng với bản chất là chuyên chính vô sản nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa nữa mà chỉ là “nửa nhà nước”.

    Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của nhà nước . Tuy nhiên, bên cạnh đó nhà nước còn thể hiện rõ nét tính xã hội. Dù trong xã hội nào, nhà nước cũng một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp (lực lượng) cầm quyền, nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội.

    Từ những kết luận trên có thể đi đến định nghĩa sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.

    Vị trí của nhà nước trong xã hội có giai cấp

    Để xác địnhvị trí của nhà nước trong xã hội có giai cấp trước hết cần tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp nói chung. Nhà nước và xã hội có giai cấp là hai hiện tượng có quan hệ qua lại với nhau; giữa chúng vừa có sự thống nhất lại vừa có sự khác biệt. Sự thống nhất thể hiện ở chỗ xã hội có giai cấp không thể tồn tại thiếu nhà nước đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Mặt khác, nhà nước và xã hội không đồng nhất với nhau. Khái niệm xã hội rộng hơn khái niệm nhà nước. Về mặt cơ cấu, xã hội được hình thành từ các giai cấp và đẳng cấp khác nhau, còn nhà nước được cấu thành từ những chế định pháp lý và thiết chế nhà nước. Trong mối quan hệ qua lại giữa chúng, xã hội giữ vai trò quyết định, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Những biến đổi trong sự vận động và phát triển của xã hội sớm hay muộn cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước. Ngược lại nhà nước cũng có sự tác động mạnh mẽ tới sự phát triển mọi mặt của xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu những vấn đề về nhà nước phải gắn chúng với những điều kiện cụ thể của xã hội, đồng thời cũng phải chú ý đến những quy luật phát triển riêng của nhà nước, chú ý đến vai trò của nó trong sự tác động trở lại đối với xã hội.

    Nhà nước là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, nó là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội nhất định. Sự phát triển của hạ long cơ sở quyết định sự phát triển của nhà nước. Tuy nhiên, những sự biến đổi của nhà nước không phải chỉ phụ thuộc vào những biến đổi trong cơ sở kinh tế của xã hội. Các điều kiện và yếu tố như đối sánh giai cấp mức độ gay gắt của những mâu thuẫn xã hội, các đảng phái chính trị, các trào lưu chính trị pháp lý… đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước. Đồng thời, nhà nước luôn tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, đến những điều kiện và quá trình phát triển của sản xuất xã hội cũng như đến các hiện tượng xã hội khác.

    Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của mình, ngoài nhà nước ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác nữa trong đó đáng chú ý nhất là các đảng phái chính trị. So với các tổ chức chính trị xã hội đó, nhà nước có một vai trò đặc biệt, nó nằm ở vị trí trung tâm giữa các tổ chức chính trị xã hội, bởi vì chỉ nhà nước mới có các cơ quan đặc biệt cùng với các phương tiện vật chất kèm theo như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tu… cho nên nó có thể tác động một cách mạnh mẽ và toàn diện đến đời sống xã hội. Sự tác động của nhà nước đến quá trình phát triển của xã hội được thực hiện thông qua việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị của giai cấp cầm quyền. Các chủ trương chính sách của nhà nước bao giờ cũng thể hiện một cách trực tiếp lợi ích kinh tế, chính trị của các giai cấp. Chẳng hạn, chính sách của nhà nước tư sản luôn luôn xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh và bảo vệ các lợi ích chung của giai cấp tư sản; chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất luôn phản ánh và bảo vệ lợi ích chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp cho nên sự tham gia của nhà nước vào việc xác định nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, xác định phương hướng, hình thức và nội dung hoạt động của nhà nước là yếu tố quan trọng trong chính sách của nhà nước.

    So với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, nhà nước có một số đặc điểm riêng sau đây:

    – Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư nữa; chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị. Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý; họ tham gia vào các cơ quan nhà nước và hình thành nên một bộ máy cưỡng chế để duy trì địavị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị.

    – Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính… Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất và dẫn đến việc hình thành các cơ quan trung ương và địa phương của bộ máy nhà nước.

    – Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể chia cắt của nhà nước.

    – Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân. Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật. Pháp luật do nhà nước ban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi người (công dân) đều phải tôn trọng pháp luật.

    – Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước. Sở dĩ nhà nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy của nhà nước bao gồm một lớp người đặc biệt, tách ra khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản lý; bộ máy đó phải được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp. Thiếu thuế, bộ máy nhà nước không thể tồn tại được. Nhưng mặt khác, chỉ có nhà nước mới có độc quyền đặt ra thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại diện chính thức của toàn xã hội.

    Những đặc điểm trên nói lên sự khác nhau giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác, đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp.

    Khái niệm chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước

    Chức năng của nhà nước là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định. Ví dụ: các nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột nhân dân lao động cho nên chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đàn áp sự phản kháng và phong trào cách mạng của nhân dân lao động, tổ chức, tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng ảnh hưởng và nô ḍch các dân tộc khác. Nhà nước xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, là công cụ để bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng lao động, vì vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác với chức năng của nhà nước bóc lột cả về nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện.

    Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:

    (i) Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước. Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế… la những chức năng đối nội của các nhà nước.

    (ii) Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác. Ví dụ: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác…

    (iii) Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn luôn phải xuất phát từ tình hình thực hiện các chức năng đối nội. Đồng thời, kết quả của việc thực hiện các chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức nang đối nội.

    Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động chính là: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong mỗi nhà nước, việc sử dụng ba hình thức hoạt động này cũng có những đặc điểm khác nhau. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nh́n chung có hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế. Trong các nhà nước bóc lột, cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng của nhà nước. Ngược lại, trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, thuyết phục là phương pháp cơ bản, còn cưỡng chế được sử dụng kết hợp và dựa trên cơ sở của thuyết phục và giáo dục. Các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước.

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương xuống địa phương, bao gồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp … Toàn bộ hoạt động của bộ máy nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan cũng có những chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao. Vì vậy cần phân biệt chức năng nhà nước với chức năng của mỗi cơ quan nhà nước cụ thể. Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của toàn thể bộ máy nhà nước, trong đó mỗi cơ quan khác nhau của nhà nước đều tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau. Chức năng của một cơ quan chỉ là những mặt hoạt động chủ yếu của riêng cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện những chức năng và nhiệm vụ chung của nhà nước.

    Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng nên chức năng của các nhà nước thuộc mỗi kiểu nhà nước cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có những đặc điểm riêng. Vì vậy, khi nghiên cứu các chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước phải xuất phát từ bản chất nhà nước trong mỗi kiểu nhà nước cụ thể để xem xét.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Công Tác Mặt Trận
  • Phát Huy Vai Trò Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh
  • Phát Huy Vai Trò Của Các Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư
  • Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư?
  • Nhà Nước Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Lịch Sử Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Bài Tập Tình Huống Môn Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Kho Bạc Nhà Nước Tổ Chức Bồi Dưỡng, Nâng Cao Kiến Thức Nghiệp Vụ, Kỹ Năng Chỉ Đạo, Điều Hành Cho Công Chức Lãnh Đạo
  • Chức Năng Của Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Nhà nước là gì? Định nghĩa bản chất của Nhà nước là gì?

    Nhìn chung, với bất kỳ nhà nước nào trong xã hội có giai cấp thì bản chất của nhà nước chính là bản chất của giai cấp thống trị xã hội. Bản chất của Nhà nước cụ thể được thể hiện ở hai mặt: tính giai cấp của nhà nước và vai trò xã hội.

    • Giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là hai giai cấp cơ bản của xã hội. Bộ máy nhà nước ra đời nhằm phục vụ cho sự thống trị cũng như quyền lợi của giai cấp thống trị. Việc tổ chức, sử dụng và củng cố Nhà nước giúp duy trì quyền lực.
    • Thể hiện bản chất cưỡng chế đặc biệt, nhà nước chính là công cụ của giai cấp thống trị giúp đàn áp giai cấp bị trị. Đó chính là tính giai cấp của Nhà nước mà khi tìm hiểu về bản chất của nhà nước chxhcn việt nam chúng ta cần nắm được.
    • Phục vụ cho quyền lợi giải cấp thống trị
    • Giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, cũng như các mối quan hệ với giai cấp bị trị và giai cấp khác giúp đảm bảo được trật tự chung và giữ sự ổn định cho Nhà nước.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa được biết đến là một tổ chức chính trị cơ bản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nó là một công cụ mà Đảng của giai cấp công nhân, nông dân tổ chức ra nhằm để phục vụ cho lợi ích và quyền lợi của nhân dân lao động. Như vậy, xã hội chủ nghĩa chính là nhà nước của toàn thể nhân dân lao động.

    Bản chất của nhà nước chxhcn việt nam

    Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là gì? Đây là thắc mắc của rất nhiều người. Có thể thấy, bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam là sự điển hình của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Theo hiến pháp của nước ta, đây là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và cũng vì nhân dân. Trong đó, quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, và nền tảng chính là liên minh giai cấp công nhân, nông dân và giai cấp trí thức. Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam được thể hiện với những đặc điểm chính như sau:

    Chủ thể của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là nhân dân và do nhân dân mà ra. Hình thức đưa ra đại diện cho nhà nước chính là việc bỏ phiếu để lập ra cơ quan đại diện quyền lực cho nhân dân.

    Nhân dân chính là lực lượng tạo nên Nhà nước và chính Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sinh ra từ nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam là sự tiếp nối của hình thức Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, với liên minh công-nông-trí.

    Trong giai đoạn kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã tiến hành Cách mạng với biết bao hy sinh và gian khổ. Nhân dân tự mình lập nên Nhà nước để bảo vệ cho những người lao động, và cũng chính họ là lực lượng phát triển cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Truyền thống lâu đời và nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước chính là ở tính dân tộc. Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam chính là Nhà nước của các dân tộc. Có thể nói, khả năng kết hợp của tính nhân dân, tính giai cấp và tính thời đại đã giúp tính dân tộc được gắn kết, được tăng cường và nâng cao.

    Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam là một đất nước thống nhất giữa các dân tộc đang cùng sinh sống tại Việt Nam. Trong đó, mọi dân tộc trên lãnh thổ đất nước đều tôn trọng, bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta ngăn cấm mọi hành động phân biệt, chia rẽ gây kì thị giữa các dân tộc.

    Tiếng việt chính là ngôn ngữ quốc gia. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo mọi điều kiện giúp các dân tộc có thể phát triển tiềm năng và mở rộng kinh tế của mình. Các dân tộc trên lãnh thổ đất nước đều có quyền sử dụng tiếng nói, bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán, chữ viết của dân tộc mình.

    • Bình đẳng chính là yếu tố then chốt quyết định sự bền vững của một chế độ xã hôi.
    • Tuy nhiên, đối với bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam thì nhân dân là người quyết định và quyền lực thuộc về nhân dân. Người dân có quyền bình đằng và tự do dân chủ trong mọi lĩnh vực đời sống, đồng thời cần thực hiện nghĩa vụ trước nhà nước.
    • Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo tính hai chiều giữa nhân dân và Nhà nước, trong đó lấy Pháp luật làm là công cụ thực thi trách nhiệm. Như vậy có thể thấy, quyền có công dân là nghĩa vụ trách nhiệm của Nhà nước và nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước.

    Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam chính là mong muốn người lao động có thể tham gia ngày càng rộng hơn vào công tác quản lý công việc của nhà nước và xã hội. Do đó, quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của nhà nước chính là quá trình xây dựng nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Dân chủ hóa chính là nhu cầu quan trọng và bức thiết mang tính thời đại.

    Tính dân chủ bao giờ cũng phải gắn liền với các quy chế của pháp luât. Đây chính là bản hất của nhà nước chxhcn Việt Nam gắn liền cùng tính pháp quyền. Những cơ quan như lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều tuân thủ hoạt động của pháp luật. Vì thế, cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những điều mà luật pháp cho phép, đồng thời cũng phát triển và đảm bảo quyền lợi người lao động.

    Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam còn được thể hiện rõ nết qua những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước dưới sự cho phép của luật pháp. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là nhà nước của nhân dân, của giai cấp lao động với sự quán triệt tư tưởng từ các cơ chế và chính sách của pháp luật.

    • Chức năng đối nội của nhà nước ta: tập trung và quản lý xã hội trên mọi lĩnh vực qua các công cụ như pháp luật, chính sách và các pháp chế.
    • Chức năng đối ngoại của nhà nước ta: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn mong muốn mở rộng mối quan hệ cũng như thiết lập các mối quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tin cậy và cùng có lợi cho hai bên.
    • Bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam thể hiện ở nhiệm vụ như quản lý, xây dựng và phát triển kinh tế, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật kỹ thuật và cải thiện đời sống nhân dân.
    • Đồng thời là quản lý xây dựng nền văn hóa đặc sắc, tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, nhà nước cũng cần chăm lo đến sức khỏe, đời sống tinh thần và sự nghiệp giáo dục đào tạo để hình thành nên những con người mới của đất nước xã hội chủ nghĩa.

    Sau các cuộc họp của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước ta đã coi trọng chú ý đến việc đưa ra những phương hướng cải cách trong quá trình xây dựng đất nước theo hướng hiện đại và đổi mới. Mọi cải cách đều cần gắn liền với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng như các đảng viên trong cơ quan nhà nước. Đây chính là sự đi lên, sự phát triển trong bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam.

    • Quốc hội là cơ quan quyền lực nhất với những quyền hạn quan trọng và tối cao. Do đó cần cải cách và phát triển Quốc hội như đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua trước mỗi kì Quốc hội, đồng thời coi trọng việc lấy ý kiến từ nhân dân trong quá trình chuẩn bị quốc sách của Quốc hội cũng như xây dựng Pháp luật.
    • Cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, bố trị lại cơ cấu tổ chức chính phủ để năng động và phù hợp hơn mang lại hiệu quả cao hơn.
    • Hiện đại hóa cơ quan hành chính các cấp đặc biệt các cơ quan tài chính công.
    • Nâng cao và đổi mới đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Đặc biệt chú trọng đào tạo cán bộ nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức theo các yêu cầu mới trong việc cải cách nhà nước. Bên cạnh đó là sự quản lý, đánh giá sử dụng công nhân viên chức.

    Nhà nước của dân, do dân và vì dân là mục tiêu bản chất của nhà nước chxhcn Việt Nam. Để đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới, cũng như những đòi hỏi bức thiết, quan trọng và cần thiết của người lao động, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách đổi mời phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mức Phụ Cấp Của Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Kiêm Thôn Đội Trưởng Từ 01/07/2019
  • Nâng Cao Vai Trò Của Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Trong Công Tác Giám Sát
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Nhân Dân Xã
  • Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Thú Y Trên Địa Bàn Cấp Xã
  • Về Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ban Dân Vận Huyện Uỷ.
  • Bản Chất Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?
  • Chuyên Đề 1:tổ Chức Hành Chính Bộ Máy Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Nội Dung Của Chế Độ Chi Ngân Sách Về Xây Dựng Cơ Bản, Đánh Giá Thực Tiễn áp Dụng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ngân Sách Cho Lĩnh Vực Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam
  • Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là sự biểu hiện của sự không thể điều hoà được của các mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt.

    Để làm rõ bản chất của nhà nước cần phải xác định nhà nước đó của ai? Do giai cấp nào tổ chức nên và lãnh đạo, phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào?

    Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện dưới ba hình thức: kinh tế, chính trị và tư tưởng. Trong ba quyền lực, quyền lực kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp.

    Quyền lực kinh tế tạo ra cho chủ sở hữu khả năng bắt những người khác phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế lại không có khả năng duy trì quan hệ bóc lột, vì thế để bảo đảm cho quan hệ bóc lột, giai cấp nắm quyền lực kinh tế phải thông qua quyền lực chính trị.

    Quyền lực chính trị xét về mặt bản chất là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhằm trấn áp các giai cấp khác trong xã hội. Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế đã trở thành chủ thể của quyền lực chính trị. Nhờ nắm trong tay nhà nước, giai cấp thống trị đã tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của mình, hợp pháp hoá ý chí của giai cấp mình thành ý chí nhà nước và như vậy buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Bằng cách đó giai cấp thống trị đã thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giai cấp khác.

    Để thực hiện sự chuyên chính giai cấp, giai cấp thống trị không đơn thuần chỉ sử dụng bạo lực cưỡng chế mà còn thông qua sự tác động về tư tưởng để buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc vào mình về mặt tư tưởng. Như vậy, nhà nước là công cụ sắc bén thể hiện và thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, bảo vệ trước tiên lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

    Nhà nước còn mang trong mình một vai trò xã hội to lớn. Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, một nhà nước không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Vì vậy, ngoài tư cách là công cụ bảo vệ, duy trì sự thống trị giai cấp, nhà nước còn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn, bảo đảm lợi ích chung của xã hội. Trên thực tế, nhà nước nào cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo đảm cho xã hội được trật tự ổn định và phát triển, thực hiện một số chức năng phù hợp với yêu cầu chung của toàn xã hội và bảo đảm những lợi ích nhất định của các giai cấp và giai tầng khác trong chừng mực những lợi ích đó không mâu thuẫn gay gắt với lợi ích của giai cấp thống trị.

    Qua những điều đã phân tích ở trên cho thấy rằng khi xác định bản chất của nhà nước phải dựa trên cơ sở đánh giá cơ cấu của xã hội, quan hệ giữa các giai cấp trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội khác nhau, nhà nước có bản chất khác nhau.

    Mặc dù có sự khác nhau về bản chất nhưng tất cả các nhà nước đều có chung các dấu hiệu. Những dấu hiệu đó là:

    Dấu hiệu thứ nhất, nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.

    Nếu trong xã hội cộng sản nguyên thủy, tổ chức thị tộc tập hợp các thành viên của mình theo dấu hiệu huyết thống thì nhà nước lại phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các cơ quan quản lý trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ. Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. Nhà nước thực thi quyền lực thống trị trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ. Nhà nước nào cũng có lãnh thổ riêng, trên lãnh thổ đó được phân thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã,… Do có dấu hiệu lãnh thổ mà xuất hiện chế độ quốc tịch – chế định quy định mối quan hệ giữa nhà nước với công dân.

    Dấu hiệu thứ hai, nhà nước thiết lập quyền lực công.

    Nhà nước là tổ chức công quyền thiết lập một quyền lực đặc biệt không còn hoà nhập với dân cư như trong xã hội thị tộc mà “dường như” tách rời và đứng lên trên xã hội. Quyền lực này mang tính chính trị, giai cấp, được thực hiện bởi bộ máy cai trị, quân đội, tòa án, cảnh sát,… Như vậy, để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội, nhà nước có một tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy thống trị có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phải phục tùng theo ý chí của mình.

    Dấu hiệu thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia.

    Nhà nước là một tổ chức quyền lực có chủ quyền. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị – pháp lý, thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về mọi chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn liền với nhà nước. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao. Tính tối cao của chủ quyền nhà nước thể hiện ở chỗ quyền lực của nhà nước phổ biến trên toàn bộ đất nước đối với tất cả dân cư và các tổ chức xã hội. Dấu hiệu chủ quyền nhà nước thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ.

    Dấu hiệu thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật và buộc mọi thành viên xã hội phải thực hiện.

    Nhà nước là người đại diện chính thống cho mọi thành viên trong xã hội, để thực hiện được sự quản lý đối với các thành viên, nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Tất cả các quy định của nhà nướcđối với mọi công dân được thể hiện trong pháp luật do nhà nước ban hành. Nhà nước và pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau; nhà nước không thể thực hiện được vai trò là người quản lý xã hội nếu không có pháp luật, ngược lại pháp luật phải thông qua nhà nước để ra đời. Trong xã hội có nhà nước chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật.

    Dấu hiệu thứ năm, nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế.

    Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và tiến hành các hoạt động quản lý đất nước, mọi nhà nước đều quy định và tiến hành thu các loại thuế bắt buộc đối với các dân cư của mình.

    Trong xã hội có nhà nước không một thiết chế chính trị nào ngoài nhà nước có quyền quy định về thuế và thu các loại thuế.

    Từ những phân tích ở trên về nguồn gốc, bản chất và những dấu hiệu của nhà nước, có thể đi đến một định nghĩa chung về nhà nước như sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước
  • Tổ Chức Thực Hiện Quyền Tư Pháp Theo Hiến Pháp 2013
  • Cơ Quan Tư Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Tư Pháp
  • 120 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật ( Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Cơ Quan Nhà Nước Với Cơ Quan Của Tổ Chức Khác
  • So Sánh Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Với Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước
  • So Sánh Các Quy Định Về Văn Hóa, Giáo Dục, Khoa Học Trong Hiến Pháp Trung Quốc Và Hiến Pháp Một Số Nước Đông Nam Á – Những Kinh Nghiệm Có Thể Tiếp Thu
  • Viên Dầu Cá Hồi Omega
  • Dầu Cá Omega 3 Chính Hãng Hàn Quốc Hộp 300 Viên
  • 06:16:18 17-07-2020

    Các tài liệu như này anh em sẽ không bao giờ có thể tìm thấy ở ngoài cổng trường hay bất kỳ quán photo nào cả.

    Trong bài viết này chỉ có 1 phần nhỏ, để xem phần tiếp theo, anh em có thể tham gia group 

    “Góc ôn thi NUCE – Thi không qua, xoá group!”

    (Ảnh group)

    Phần 2 các bạn xem 

    1. Mọi quy tắc xử sự tồn tại trong xã hội có Nhà nước đều là pháp luật.

     Các quan hệ xã hội của chúng ta được điều chỉnh bơi các quy phạm đao đức và các quy phạm pháp luật, mà các quy phạm đạo đức thì có thể được thể chế hóa và đưa lên thành các quy phạm pháp luật nhưng không phải quy phạm đạo đức nào cũng được dưa lên thành luật cả. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội cho nên các quy tắc ứng xử đựoc coi là các chuẩn mực đạo đứa đó đó không nhất thiết phải được xem là pháp luật mà nó song song tồn tại trong xã hội.

    2. Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với xã hội có giai cấp.

     Nhà nước mang bản chất giai cấp. Nó ra đời, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và do một hay một liên minh giai cấp nắm giữ.

    3. Tùy vào các kiểu Nhà nước khác nhau mà bản chất Nhà nước có thể là bản chất giai cấp hoặc bản chất xã hội.

    Nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp.

    4. Nhà nước mang bản chất giai cấp có nghĩa là Nhà nước chỉ thuộc về một giai cấp hoặc một liên minh giai cấp nhất định trong xã hội.

    Nhà nước mang bản chất giai cấp, nghĩa là Nhà nước là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị của giai cấp.

    5. Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt do giai cấp thông trị tổ chức ra và sử dụng để thể hiện sự thống trị đối với xã hội.

     Nhà nước là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị của giai cấp

    6. Không chỉ Nhà nước mới có bộ máy chuyên ch ế làm nhiệm vụ cưỡng chế, điều đó đã tồn tại từ xã hội cộng sản nguyên thủy.

    Sự cưỡng chế trong xã hội cộng sản nguyên thủy không phải là một bộ máy chuyên chế, mà do toàn bộ thị tộc bộ lạc tổ chức.

    7. Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng.

    Từ sự phân tích bản chất giai cấp của Nhà nước cho thấy: Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để chuyên chính các giai cấp đối kháng .

    8. Nhà nước trong xã hội có cấp quản lý dân cư theo sự khác biệt về chính trị, tôn giáo, địa vị giai cấp.

     Đặc điểm cơ bản của Nhà nước là phân chia dân cư theo lãnh thổ, tổ chức thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ trong phạm vi biên giới quốc gia.

    9. Trong ba loại quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tư tưởng thì quyền lực chính trị đóng vai trò quan trọng nhất vì nó đảm bảo sức mạnh cưỡng chế của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị.

    10. Kiểu Nhà nước là cách tổ chức quyền lực của Nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực Nhà nước.

    Kiểu Nhà nước là tổng thể các đặc điểm cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiên tồn tại và phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.

    11. Chức năng lập pháp của Nhà nước là hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.

     Quyền lập pháp là quyền làm luật, xây dựng luật và ban hành những văn bản luật trên tất cả các lĩnh vực của xã hội.

    12. Chức năng hành pháp của Nhà nước là mặt hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh và bảo vệ pháp luật trước những hành vi vi phạm.

     Chức năng hành pháp bao gồm 2 quyền, quyền lập quy và quyền hành chính :

    • Quyền lập quy là quyền ban hành những văn bản dưới luật nhắm cụ thể luật pháp do cơ quan lập pháp ban hành

    • Quyền hành chính là quyền tổ chức tất cả các mặt các quan hệ xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước.

    13. Chức năng tư pháp của Nhà nước là mặt hoạt động bảo vệ pháp luật.

     Chức năng tư pháp là chức năng của Nhà nước có trách nhiệm duy trì , bảo vệ công lý và trật tự pháp luật.

    14. Giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội.

     Do nắm quyền lực kinh tế và chính trị bằng con đường Nhà nước, giai cấp th ống trị đã xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội buộc các giai cấp khác bị lệ thuộc về tư tưởng.

    15. Chức năng xã hội của Nhà nước là giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội.

     Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra nhằm điều chính các mối quan hệ xã hội phát triển theo ý chí của Nhà nước.

    18. Nhà nước thu thuế của nhân dân với mục đích duy nhất nhằm đảm bảo công bằng trong xã hội và tiền thuế nhằm đầu tư cho người nghèo.

  • để chi (đầu tiên là nuôi 

    Tất cả mọi hoạt động của chính quyền cần phải có nguồn tài chính để chi (đầu tiên là nuôi bộ máy Nhà nước ); nguồn đầu tiên đó là các khoản thu từ thuế.

  • Thuế là công cụ rất quan trọng để chính quyền can thiệp vào sự hoạt động của nền kinh tế bao gồm cả nội thương và ngoại thương.

  • Giữa các nhóm công dân có sự chênh lệch về thu nhập và do đó là chênh lệch về mức sống, nên chính quyền sẽ đánh thuế để lấy một phần thu nhập của người giàu hơn và chia cho người nghèo hơn (thông qua cung cấp hàng hóa công cộng).

  • Chính quyền có thể muốn hạn chế một số hoạt động của công dân ( ví dụ hạn chế vi phạm luật giao thông hay hạn chế hút thuốc lá, hạn chế uống rượu) nên đánh thuế vào các hoạt động này.

  • Chính quyền cần khoản chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế.

  • Rõ ràng rằng, tiền thuế không chỉ nhằm đầu tư cho người nghèo.

  • 19. Thông qua hình thức Nhà nước biết được ai là chủ thể nắm quyền lực Nhà nước và việc tổ chức thực thi quyền lực Nhà nước như thế nào.

    21. Chế độ chính trị là toàn bộ các phương pháp , cách thức thực hiện quyền lực của Nhà nước.

     Chế độ chính trị là toàn bộ phương pháp, thủ đoạn, cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thực hiện quyền lực Nhà nước của mình.

    22. Chế độ chính trị thể hiện mức độ dân chủ của Nhà nước.

     Chế độ chính trị chỉ quyết định một phần mức độ dân chủ của Nhà nước, ngoài ra mức độ đó còn phụ thuộc vào thực trạng của Nhà nước đó.

    23. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hình thức cấu trúc Nhà nước đơn nhất.

    24. Cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn mang tính quyền lực Nhà nước.

     Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước tử TW đến địa phương được tổ ch ức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị.

     Cơ quan Nhà nước hoạt động dựa trên các quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo của cơ quan cấp cao hơn.

    27. Quốc hội là cơ quan hành chính cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành của quốc hội.

    28. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.

     Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, do dân bầu ra và là cơ quan quyền lực nhất của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    29. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Theo hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, mà quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, do dân bầu ra nên đây là cơ quan quyền lực nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    30. Chủ quyền quốc gia là quyền độc lập tự quyết của quốc gia trong lĩnh vực đối nội.

    Chủ quyền quốc gia là quyền độc lập tự quyết của quốc gia cả trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại.

    31. Chủ tịch nước không bắt buộc là đại biểu quốc hội.

     Căn cứ điều 87 hiến pháp 2013, chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu quốc hội.

    32. Thủ tướng chính phủ do chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm.

     Căn cứ điều 98 hiến pháp 2013, thủ tướng chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu quốc hội.

    33. Hội đồng nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra.

    Theo điều 1 luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (2003) Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

     

    34. Ủy ban nhân dân địa phương có quyền ban hành nghị định, quyết định.

     Nghị định là chủ trương đường lối chỉ do chính phủ ban hành.

    35. Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân là hai cơ quan có chức năng xét xử ở nước ta.

    Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử.

    36. Đảng cộng sản Việt Nam là một cơ quan trong bộ máy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     Đảng cộng sản Việt Nam là tổ chức lãnh đạo Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    37. Chỉ có pháp luật mới mang tính quy phạm.

     Ngoài pháp luật, các quy phạm xã hội khác cũng mang tính quy phạm.

    38. Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác thể hiên tính quy phạm phổ biến của pháp luật.

     Tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ Pháp luật là những quy tắc sử sự chung, được coi là khuôn mẫu chuẩn mực đối với hành vi của một cá nhân hay tổ chức.

    39. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước, các cá nhân tổ chức ban hành.

     Văn bản quy phạm Nhà nước do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân có thẩm quyền ban hành.

    40. Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng những biện pháp như giáo dục thuyết phục, khuyến khích và cưỡng chế.

    Nhà nước bảo đảm cho pháp luật bằng duy nhất biện pháp cưỡng chế.

    41. Pháp luật Việt Nam thừa nhận tập quán, tiền lệ là nguồn chủ yếu của pháp luật.

    Các văn bản quy phạm pháp luật là nguồn chủ yếu của pháp luật Việt Nam.

    42. Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận nguồn hình thành pháp luật duy nhất là các văn bản quy phạm pháp luật.

    Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật, nguồn của pháp luật còn bắt nguồn từ tiền lệ, tập quán, các quy tắc chung của quốc tế…

    43. Tập quán là những quy tắc xử sự được xã hội công nhận và truyền từ đời này sang đời khác.

    Tập quán chỉ được cộng đồng nơi tồn tại tập quán đó thừa nhận.

    44. Tiền lệ là những quy định hành chính và án lệ.

     

    Tiền lệ bao gồm hệ thống các án lệ, những vụ việc đã đc xét xử trước đó, được Nhà nước xem là khuôn mẫu. Các quy định hành chính được Nhà nước ban hành, không phải tiền lệ.

    45. Chủ thể pháp luật chính là chủ thể quan hệ pháp luật và ngược lại.

    Chủ thể pháp luật là Cá nhân, tổ chức có khả năng có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Chủ thể pháp luật khác với chủ thể quan hệ pháp luật. Để trở thành chủ thể pháp luật chỉ cần có năng lực pháp luật, nhưng để trở thành chủ thể của một quan hệ pháp luật cụ thể thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật, tức là phải có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

    46. Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia thì luôn thể hiện ý chỉ của Nhà nước.

    Nhà nước là chủ thể đặc biệt của những quan hệ pháp luật, do pháp luật do Nhà nước đặt ra. Khi tham gia những quan hệ pháp luật, thì những quan hệ đó luôn luôn thể hiện ý chí của Nhà nước.

    47. Quan hệ pháp luật phản ánh ý chí của các bên tham gia quan hệ.

    Quan hệ pháp luật phản ánh ý chí của Nhà nước và ý chí các bên tham gia quan hệ trong khuôn khổ ý chí của Nhà nước.

    48. Công dân đương nhiên là chủ thể của mọi quan hệ pháp luật.

    Chủ thể của pháp luật còn có thể là các tổ chức có năng lực pháp lý.

    49. Cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật sẽ trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật.

     Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật đó, cá nhân phải có năng lực hành vi.

    50. Năng lực hành vi của mọi cá nhân là như nhau.

     Năng lực hành vi của mỗi cá nhân có thể khác nhau, ví dụ người dưới 18 tuổi so với ngưới từ 18 tuổi trở lên.

     

    51. Năng lực pháp luật của mọi pháp nhân là như nhau.

     Các pháp nhân được quy định năng lực pháp luật ở mức độ khác nhau, dựa trên quy định của pháp luật.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước
  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Đặc Điểm Cơ Bản Nhà Nước Và Bộ Máy Nước Chxhcn Việt Nam
  • Bản Chất, Đặc Điểm, Xu Hướng Vận Động Của Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại
  • Phân Tích Bản Chất Nhà Nước? Bản Chất Nhà Nước Việt Nam Ta Hiện Nay?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Chế Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mac_Lê Nin Về Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng,đặc Trưng Của Nhà Nước?
  • Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Luận Văn Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • *Định nghĩa Nhà nước:

    Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.

    *Bản chất nhà nước:

    Khi nghiên cứu nguồn gốc Nhà nước ta thấy rằng nhà nước xuất hiện do 2 nguyên nhân: nguyên nhân kinh tế (sự xuất hiện chế độ tư hữu) và nguyên nhân xã hội (sự xuất hiện của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp). Căn cứ vào đó có thể thấy bản chất nhà nước được thể hiện ở hai mặt, đó là tính giai cấp của nhà nước và vai trò xã hội.

    a)Tính giai cấp:

    _Trong xã hội có hai giai cấp cơ bản là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Để thực hiện sự thống trị của mình, giai cấp thống trị phải tổ chức và sự dụng nhà nước, củng cố và duy trì quyền lực về chính trị, kinh tế, tư tưởng đối với toàn xã hội. Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thể hiện ý chí của mình qua nhà nước. Qua đó, ý chí của giai cấp thống trị trở thành ý chí của nha nước, mọi thành viên trong xã hội buộc phải tuân theo, hoạt động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.

    _Như vậy, Nhà nước do giai cấp thống trị lập ra, là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị, đàn áp giai cấp bị trị, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị. Đó chính là tính giai cấp của nhà nước.

    b)Vai trò xã hội:

    Nhà nước ra đởi và tồn tại trong xã hội có giai cấp, bao gồm: giai cấp thống trị, giai cấp bị trị và các tầng lớp dân cư khác. Giai cấp thống trị tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp và tầng lớp khác. Ngoài phục vụ giai cấp thống trị, nhà nước còn giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, đảm bảo trật tự chung, ổn định giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển. Nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và giai cấp khác khi lơợiích đó không mâu thuẫn với nhau. Đó chính là tính xã hội của nhà nước. Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể và mức độ thực hiện vai trò xã hội là khác nhau ở những kiểu nhà nước khác nhau, và ngay trong một kiểu nhà nước cũng khác nhau ở từng giai đoạn phát triển và tuỳ điều kiện kinh tế xã hội.

    *Bản chất của nhà nước Việt Nam hiện nay:

    _Bản chất của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở tính nhân dân của nhà nước, đó là “…nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước ko nằm trong tay 1 cá nhân hay 1 nhóm người nào trong xã hội. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức, hình thức cơ bản nhất là thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bẩu ra.

    _Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa công dân với nhà nước. Nhà nước ta là nhà nước dân chủ rộng rãi và thực sự. Dân chủ xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của Cách mạng xã hộiCN, là thuộc tính của nhà nước xã hộiCN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Giai Cấp Và Tính Nhân Dân Của Nhà Nước
  • Tính Giai Cấp Của Pháp Luật? Vì Sao Pháp Luật Mang Tính Giai Cấp?
  • Bản Chất Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Một Số Vấn Đề Về Quyền Tư Pháp, Hoạt Động Tư Pháp, Cơ Quan Tư Pháp, Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp
  • Tìm Hiểu Thuật Ngữ Cơ Quan Tư Pháp Và Cơ Quan Nội Chính
  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng,đặc Trưng Của Nhà Nước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Luận Văn Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Trong Việc Kiểm Soát Lợi Ích Nhóm Hiện Nay
  • Sơ Đồ Trang Web Là Gì? Làm Cách Nào Để Thiết Lập Sơ Đồ Trang Web?
  • Các Kiểu Và Hình Thức Nhà Nước
  • Chào bạn!

    Nội dung cần được trả lời cơ bản như sau:

    I. Nguồn gốc Nhà nước.

    Lịch sử cho thấy không phải khi nào xã hội cũng có nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ, do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa có nhà nước. Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là các tộc trưởng do nhân dân bầu ra, quyền lực của những người đứng đầu thuộc về uy tín và đạo đức, việc điều chỉnh các quan hệ

    xã hội được thực hiện bằng những quy tắc chung. Trong tay họ không có và không cần một công cụ cưỡng bức đặc biệt nào.

    Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện. Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội. Để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là nhà nước. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, xuất hiện trong cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ.

    Tiếp đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản. Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể

    điều hoà được. Đúng như V.I.Lênin nhận định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà

    nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được”1. Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa.

    II. Bản chất nhà nước.

    Khái niệm Nhà nước:

    Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Bản chất của Nhà nước:

    Theo quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước xét về bản chất, là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, tồn tại dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định; là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là một tổ chức quyền lực đặc biệt, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm thực hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng.

    Bản chất của nhà nước thể hiện dưới hai đặc tính cơ bản:

    Thứ nhất, là tính giai cấp của Nhà nước: thể hiện ở chỗ nhà nước là công cụ thống trị trong xã hội để thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, củng cố và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. Bản chất của nhà nước chỉ rõ nhà nước đó là của ai, do giai cấp nào tổ chức và lãnh đạo, phục vụ lợi ích của giai cấp nào?

    Trong xã hội bóc lột (xã hội chiếm hữu nô lê, xã hội phong kiến, xã hội tư sản) nhà nước đều có bản chất chung là thiết chế bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột trên 3 mặt: Kinh tế, chính trị và tư tưởng.

    Vì vậy, nhà nước tồn tại với hai tư cách:

    Một là bộ máy duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác.

    Hai là tổ chức quyền lực công – tức là nhà nước vừa là người bảo vệ pháp luật vừa là người bảo đảm các quyền của công dân được thực thi.

    Thứ hai là tính xã hội hay còn gọi là vai trò kinh tế – xã hội của Nhà nước.

    Trong nhà nước, giai cấp thống trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các tầng lớp giai cấp khác, do vậy ngoài tư cách là công cụ duy trì sự thống trị, nhà nước còn là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.

    Ví dụ: Nhà nước giải quyểt các vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội như: đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, các vấn đề về môi trường, phòng chống thiên tai, địch hoạ, về dân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội khác.v.v…

    Bảo đảm trật tự chung- bảo đảm các giá trị chung của xã hội để tồn tại và phát triển

    Như vậy, vai trò kinh tế – xã hội là thuộc tính khách quan, phổ biến của Nhà nước. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện cụ thể và thực hiện vai trò đó không giống nhau giữa các nhà nước khác nhau. Vai trò và phạm vi hoạt động của nhà nước phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển cũng như đặc điểm của mỗi nhà nước, song phải luôn tính đến hiệu quả hoạt động của nhà nước.

    Để hoạt động có hiệu quả, nhà nước phải chọn lĩnh vực hoạt động nào là cơ bản, cần thiết để tác động. Bởi nếu không có sự quản lý của nhà nước sẽ mang lại hậu quả xấu cho xã hội. Vì vậy, vai trò của nhà nước chỉ nên hoạt động và quản lý trên năm lĩnh vực sau:

    – Ban hành pháp luật và có các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật.

    – Ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô,điều tiết, điều phối các chính sách kinh tế – xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.

    – Đầu tư, cung cấp hàng hoá dịch vụ xã hội cơ bản (cấp phép, kiểm dịch, kiểm định, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực.v.v…)

    – Giữ vai trò là người bảo vệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mac_Lê Nin Về Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Cơ Chế Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Phân Tích Bản Chất Nhà Nước? Bản Chất Nhà Nước Việt Nam Ta Hiện Nay?
  • Tính Giai Cấp Và Tính Nhân Dân Của Nhà Nước
  • Tính Giai Cấp Của Pháp Luật? Vì Sao Pháp Luật Mang Tính Giai Cấp?
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Của Nhà Nước.

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Bản Chất Của Nhà Nước
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?
    • Theo quan điểm thần học: Thượng đế là người sáng tạo ra nhà nước quyền lực của nhà nước là vĩnh cửu và bất biến.
    • Thuyết gia trưởng: Nhà nước là kết quả của sự phát triển của gia đình, quyền lực của nhà nước như quyền gia trưởng của gia đình.
    • Thuyết bạo lực: Nhà nước ra đời là kết quả của việc bạo lực này với thị tộc khác
    • Thuyết tâm lý: họ dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy tâm để giải thích của sự ra đời nhà nước

    → Họ giải thích không đúng về sự ra đời của nhà nước.

    * Theo học thuyết Mác -Lênin:

    • Nhà nước ra đời khi có sự phân hóa và đấu tranh giai cấp.
    • Quyền lực của nhà nước không phải là vĩnh cửu.
    • Nhà nước tồn tại và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự phát triển của nó không còn nữa.
      • Lần 1: ngành chăn nuôi tách ra khỏi ngành trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập.
      • Lần 2: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và trồng trọt thủ công nghiệp cũng ra đời và phát triển dẫn đến lần phân công lao động thứ 2 là thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp.
      • Lần 3: sự ra đời của sản xuất hàng hóa làm cho thương nghiệp phát triển đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội lần thứ 3 đây là lần phân công lao động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự tan dã của chế động cộng sản nguyên thủy.

    Bản chất của nhà nước: Nhà nước là sản phẩm của giai cấp xã hội

    • Quyền lực về kinh tế: Có vai trò rất quan trọng nó cho phép người nắm giữ kinh tế thuộc mình phải chịu sự chi phối của họ về mọi mặt.
    • Quyền lực về chính trị: Là bạo lực của các tổ chức này đối với giai cấp khác.
    • Quyền lực về tư tưởng: Giai cấp thống trị trong xã hội đã lấy tư tưởng của mình thành hệ tư tưởng trong xã hội.

    * Bản chất của xã hội:

    • Nhà nước còn bảo vệ lợi ích của người dân trong xã hội.
    • Nhà nước là một tổ chức duy nhất có quyền lực chính trị một bộ máy chuyên làm cưỡng chế và chức năng quản lý đặc biệt để duy trì trật tự xã hội.
    • Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

    Chức năng của nhà nước:

    • Là các phương diện và những mặt hoạt động của nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ của nhà nước.
    • Chức năng đối nội: Là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước diễn ra ở trong nước.
    • Chức năng đối ngoại: Là những mặt hoạt động chủ yếu thể hiện với các nhà nước và dân tộc khác.

    → Hai chức năng của nhà nước là đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định từ tình hình thực hiện các chức nẳng đối ngoại phải xuất phát từ tình hình thực hiện các chức năng đối nội và phải phục vụ cho việc thực hiện các chức năng đối nội. đồng thời việc thực hiện các chức năng đối nội lại có tác dụng trở lại với việc thực hiện các chức năng đối ngoại. So với các chức năng đối ngoại thì các chức năng đối nội giữ vai trò quyết định. Bởi vì việc thực hiện các chức năng đối nội là việc giải quyết mối quan hệ bên trong. Thực hiện các chức năng đối ngoại là việc giải quyết mối quan hệ bên ngoài. Giải quyết mối quan hệ bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng quyết định đối với việc giải quyết các mối quan hệ bên ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước
  • Tổ Chức Thực Hiện Quyền Tư Pháp Theo Hiến Pháp 2013
  • Cơ Quan Tư Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Tư Pháp
  • Lập Pháp Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Lập Pháp
  • Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Tổng Cục Dự Trữ Nhà Nước
  • Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Tất Cả Chức Năng Của Đồng Hồ Thông Minh Smartwatch Bạn Cần Biết 2021
  • 72 Chức Năng Chính Của Đồng Hồ Thông Minh Smartwatch
  • Đồng Hồ Thông Minh Có Chức Năng Gì?
  • 21 Chức Năng Của Đồng Hồ Thông Minh Thay Thế Smartphone
  • 【 Tư Vấn 】Đồng Hồ Thông Minh Cho Trẻ Em Loại Nào Tốt Nhất
  • Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó. Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau.

    Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội. Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

    a) Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội

    Chức năng thống trị chính trị của giai cấp – chức năng giai cấp – là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó.

    Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thỏa mãn một số nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.

    Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất có vai trò chi phối chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Giai cấp thống trị bao giờ cũng biết giới hạn kiện toàn cách thực hiện chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình. Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp; bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph. Ăngghen viết “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”1.

    b) Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

    Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại.

    Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội. Thông thường điều đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục…) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.

    Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị. Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt.

    Cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị. Chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Nội Là Gì Và Những Chính Sách Đối Nội
  • Chức Năng Của Các Nút F1
  • Cách Sử Dụng Bàn Phím Của Máy Tính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Báo Chí
  • Đọc Chức Năng+ Nguyên Tắc Của Báo Chí
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100