Top 17 # Chức Năng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam / 2023

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THỤC ANH

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2004

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THỤC ANH

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mã số: 5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hàm Giá

HÀ NỘI – 2004

1

Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG

6

XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC CHXHCN VIỆT NAM

1.1. Khái niệm chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.1.1. Chức năng của nhà nước và chức năng xã hội của nhà nước 1.1.2. Chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.2. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 1.2.1. Yếu tố kinh tế 1.2.2. Yếu tố cơ cấu xã hội 1.2.3. Yếu tố truyền thống văn hoá, tâm lý dân tộc 1.2.4. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Chƣơng II:THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ

33

NƢỚC

CHXHCN VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1. Thực trạng việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên một số lĩnh vực 2.1.1. Lĩnh vực giáo dục – đào tạo 2.1.2. Lĩnh vực lao động – việc làm và điều tiết thu nhập 2.1.3. Lĩnh vực chăm sóc y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2.1.4. Lĩnh vực bảo đảm xã hội 2.2 . Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 2.2.1. Một số quan điểm 2.2.2. Một số giải pháp chủ yếu

KẾT LUẬN

65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

67

MỞ ĐẦU

1 . Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện hiện nay, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và đặc biệt là yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt chức năng xã hội của nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý luận nhận thức và thực tiễn . Trước đây, trong quá trình xây dựng nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa hầu như người ta mới chỉ quan tâm nhấn mạnh đến chức năng thống trị (chuyên chính của nhà nước) mà ít đề cập đến vai trò to lớn của chức năng xã hội. Mặt khác, thực tiễn hoạt động của một số nhà nước Tư sản hiện đại trong những chừng mực nhất định, chức năng xã hội của nhà nước cũng đã được thực hiện khá tốt trên một số lĩnh vực như : xây dựng phúc lợi công cộng xã hội, xây dựng quỹ từ thiện, bảo vệ thiên nhiên môi trường… Những hoạt động này đã dẫn đến sự ngộ nhận của một số người về bản chất của nhà nước Tư sản, đánh giá cao hoạt động xã hội của những nhà nước này. Trong những năm gần đây, trước những thay đổi to lớn của đời sống xã hội và quốc tế, dưới ảnh hưởng của những tiến bộ, những thành tựu của khoa học – công nghệ, sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trở thành một tất yếu như Mác đã từng tiên đoán, thì xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm tạo sự ổn định về xã hội, thực hiện tốt chức năng thống trị của mình. Ở nước ta từ sau thành công Cách mạng Tháng Tám, trong tất cả các giai đoạn phát triển của mình với tính cách là nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhà nước đã thực hiện chức năng xã hội ở những mức độ và hình thức nhất định. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi, trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp càng khẳng định rõ vai trò chức năng xã hội của Nhà nước ta, Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân…, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện”(Điều3). Như vậy, trên thực tế việc thừa nhận và phát huy tốt chức năng xã hội của nhà nước ngày càng trở thành yêu cầu khách quan. Do đó, vấn đề chức năng xã hội của nhà nước hiện nay đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực ( kinh tế, chính trị, pháp lý…).Tuy nhiên, cả về lý luận và thực tiễn từ giác độ triết học, chức năng xã hội của nhà nước vẫn là một vấn đề còn tương đối mới mẻ, cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần bổ sung những lý luận khoa học cho công cuộc cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chính yêu cầu này đã thôi thúc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.

Vũ Hồng Anh (2001), Về cơ chế thực hiện quyền lực ở nước ta. (Sách: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Lê Minh Thông (chủ biên)), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2.

Vũ Tuấn Anh (chủ biên), (1994), Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3.

Báo Nhân dân ngày16/3/1999

4.

Báo Nhân dân ngày 20/8/2000

5.

Báo thanh niên ngày 9/5/2001

6.

Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đào Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), (1999), Đổi mới và tăng

cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7.

Bộ giáo dục và đào tạo(1994), Triết học tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

8.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phần III: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam 1994, Tập 1: Lý luận về nhà nước, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

9.

Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến, (1996), Góp phần đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách, bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Các văn bản pháp luật về chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1986-1994). 11. Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hóa (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Nguyễn Đăng Dung (2000), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. 13. Lê Sỹ Dược (2000), Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Trần Thái Dương (1999), “Chức năng nhà nước – quan điểm và nhận thức”. Tạp chí Luật học (2). 15. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 16. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 17. Đảng cộng sản Việt Nam(1991),Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội

18. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành trung ương Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. “Đại hội VIII – Những tìm tòi và đổi mới”, Thông tin chuyên đề, Trung tâm thông tin tư liệu Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 21. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (1999), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2000), Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Nguyễn Duy Gia (1994), Nâng cao quyền lực, năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả của pháp luật, Nxb Lao động, Hà Nội. 26. Nguyễn Duy Gia (1996), Cải cách một bước bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Giáo trình triết học Mác – Lênin (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. James Goldsmith (1997): Cạm bẫy phát triển: Cơ hội và thách thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Hoàng Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32.

Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1995), Hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý các vấn đề thuộc chính sách xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

33. Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1994), Chính sách xã hội những vấn đề pháp lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 34. Trần Đình Hoan (chủ biên) (1996), Chính sách xã hội về đổi mới cơ chế việc quản lý thực hiện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Nguyễn Duy Hùng (1996), Vai trò quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường – Kinh nghiệm các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Phạm Hảo, Võ Văn Tiến, Mai Đức Lộc (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37.

Hiến pháp Việt Nam (1946,1954,1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

38. Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội (1997), Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội. 39. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. V.I.Lênin (1974) Toàn tập, Tập 1, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 43. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 20, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 44. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 45. Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1997), Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46.

Phạm Hữu Nghị (2000), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách, pháp luật xã hội, Viện Nghiên cứu Nhà nước – Pháp luật, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội.

47.

Nhà nước, thị trường và viện trợ (1995), Nxb Khoa học xã hội.

48. Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi (1998), Ngân hàng thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Niên giám Thống kê tóm tắt (1999), Nxb Thống kê, Hà Nội. 50. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo (1991), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 51. Nguyễn Phan Quang, Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hoà, Ngô Văn Lý, Nguyễn Thành Nam, Phạm Văn Cảnh (1995), Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Phạm Ngọc Quang (1992), “Quyền lực – một phạm trù cơ bản của chính trị học”, Nhà nước và pháp luật,(4) 53.

Phạm Ngọc Quang, Trần Thị Ngọc Hiên (1999), “Mối liên hệ giữa bản chất giai cấp, chức năng xã hội của Nhà nước và cải cách nền hành chính Nhà nước trong thời kỳ đổi mới ở nước ta” Tạp chí Triết học (1)

54. Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Viết Thông (2000), Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Phạm Ngọc Quang, Trần Đình Nghiêm (chủ biên) (2001), “Thời kỳ đổi mới và sứ mệnh của Đảng ta”, Nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 56. Bùi Thanh Quất (1996), “Suy nghĩ thêm về quyền lực chính trị như một phạm trù khoa học”, Triết học,(5). 57. Nguyễn Duy Quý (1992), “Xây dựng nhà nước pháp luật; một số suy nghĩ về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta”, Nhà nước và Pháp luật,(2) 58. Quyền con người – Quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam (1993), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 59. Lê Hữu Tầng (1993), “Tư tưởng C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội,” Triết học, (2).

60. Bùi Đình Thanh (1993), Chính sách xã hội – Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, KX-04. 61. Hà Huy Thành (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 62. Alvin Toffler và Heidi Toffler (1996): Tạo dựng một nền văn minh mới, Chính trị của làn sóng thứ 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Tìm hiểu học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2003), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 66. Võ Khánh Vinh (1994), Vai trò của pháp luật trong điều kiện mới của Việt Nam “trong xã hội và pháp luật”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Nguyễn Hữu Vui (2002), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 68. Về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

VUI LÒNG TẢI VỀ ĐỂ XEM BẢN FULL ĐẦY ĐỦ !

Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam / 2023

Chức năng của nhà nước là gì? Đây là vấn đề mà nhiều người thắc mắc khi tìm hiểu về vấn đề này. Trong bài viết này, Luận Văn Việt xin chia sẻ với bạn đọc bài viết về “Chức năng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Căn cứ vào phạm trù tác động của các phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, có thể chia các chức năng nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

2. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Vậy nhà nước có mấy chức năng? Chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước là gì? Bạn sẽ tìm thấy câu trả lời trong phần này.

Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước.

Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế … là những chức năng đối nội của các nhà nước.

Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đây là một trong những chức năng căn bản nhất của nhà nước ta. Muốn tiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước. Nhà nước phải có đủ sức mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch, đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh.

Muốn vậy, Nhà nước phải quan tâm xây dựng các lực lượng an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải “phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chúng tôi H1991, tr.87).

Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân.

Đây là một trong những chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan trọng; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ.

Đảng ta nhấn mạnh “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân”(Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng tôi H.1991, tr19).

Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.

Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao.

Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế.

Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục.

Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ. Đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoa học và công nghệ.

Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội. Trước mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển tiếp theo trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.

Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác …

Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng tôi H.1991, tr19).

Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Chức năng củng cố, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Tư tưởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nước ta là, trên cơ sở kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, “nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chúng tôi H1991, tr.88).

Bài 17. Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam / 2023

CÙNG CÁC EM HỌC SINH10Kiểm tra bài cũ:Em hãy điền tên cơ quan còn thiếu trong sơ đồ trên ?10Kiểm tra bài cũ:Em hãy điền tên cơ quan còn thiếu trong sơ đồ trên ?Tiết 30 Bài 17 NHÀ NƯỚCCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM( Tiết 2 )Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10I, THÔNG TIN, SỰ KIỆN( Tiếp )Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước Việt Nam( SGK- Trang 57 )II, NỘI DUNG BÀI HỌC( Tiếp )Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10NHÓM 1: Hãy nêu chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội ?NHÓM 2: Hãy nêu chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ?NHÓM 4: Hãy nêu chức năng, nhiệm vụ của Toà án ND, toà án quân sự và Viện kiểm sát ND ?NHÓM 3: Hãy nêu chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân?TÌM HIỂU THÔNG TINNhóm 1 : Quốc hộiQuốc hội: Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhât, do nhân dân bầu ra và được nhan dân giao cho nhiệm vụ trọng đại nhất của quốc gia:– Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật;– Quyết định các chính sách cơ bản về đối nội ( kinh tế- xã hội, tài chính, an ninh, quốc phòng…) và về đối ngoại của đất nước; Quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của công dân. (Theo điều 83 và 84 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 )Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992Điều 83 :Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.– Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.– Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.Điều 84 :Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;3- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;4- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;5- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước;6- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương; …..Nhóm 2 : Chính phủChính phủ: Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, có nhiệm vụ:Bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và Pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Đất nước.Đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân( Theo Điều 109 và 112 Hiến pháp Việt Nam năm 1992Theo Hiến pháp Việt Nam 1992Điều 109– Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.– Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.– Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nướcĐiều 112 Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;2- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;3- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;4- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước;5- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường; ……Nhóm 3 : Hội đồng nhân dânHội đồng nhân dân: Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra và được nhân dân địa phương giao nhiệm vụ: Đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương.Quyết định về kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, an ninh… của địa phương. ( Theo điều 119 và 120 Hiến pháp Việt Nam 1992 )Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992Điều 119: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

Điều 120: Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.Nhóm 3: Uỷ ban nhân dânUỷ ban nhân dân: Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân. ( Theo điều 123 Hiến pháp Việt Nam 1992 )Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992Điều 123: Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.10NHÓM 4: Toà án nhân dân, toà án quân sựToà án nhân dân, toà án quân sự là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án nhân dân xét xử công khai và quyết định theo đa số. ( Theo Hiến pháp Việt Nam 1992 ): Điều 127: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt. ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật. Điều 131 Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.10NHÓM 4: Viện kiểm sát nhân dânViện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất( Theo Hiến pháp Việt Nam 1992 ):Điều 137 Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.

Sơ đồ phân công bộ máy nhà nướcBỘ MÁY NHÀ NƯỚCCác cơ quan quyền lực, đại Biểu của nhân dân

Quốc hộiHĐND tỉnh ( Thành phố)HĐND huyện( quận, thị xã )HĐND xã( phường, thị trấn

Chính phủUBND tỉnh( thành phố )UBND huyện( quận, thị xã )UBND xã ( phường, thị trấn)

Câu hỏi:Câu hỏi: Bộ máy nhà nước ta gồm mấy loại cơ quan ? Mỗi loại cơ quan có những cơ quan cụ thể nào? Bộ máy nhà nước có 4 loại cơ quan: – Cơ quan quyền lực, đại biểu của nhân dân. (Bao gồm : Quốc hội, HĐND các cấp. ) – Cơ quan hành chính nhà nước. ( Bao gồm : Chính phủ, UBND các cấp) – Cơ quan xét xử. ( Bao gồm : Toà án nhân dân tối cao, toà án nhân dân địa phương và các toà án quân sự ) – Cơ quan kiểm sát. ( Bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự )Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10I, THÔNG TIN SỰ KIỆN( Tiếp )Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước Việt Nam( SGK- Trang 57, 58 )II, NỘI DUNG BÀI HỌC ( Tiếp )C, Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Việt Nam Ý (c) SGK- Trang 58, 59Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10NHÓM 1: Vì sao Quốc hội được gọi là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực cao nhất ?NHÓM 2: Vì sao HĐND được gọi là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương và là cơ quan quyền lực nhag nước ở địa phương?NHÓM 4: Vì sao UBND được gọi là cơ quan chấp hành của HĐND ?NHÓM 3: Vì sao Chính phủ được gọi là cơ quan chấp hành của Quốc hội?THẢO LUẬN NHÓMBài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM101 Quốc hội: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vì :Quốc hội do nhân dân dân bầu ra thông qua các cuộc bầu cử, Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vì: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền làm Hiến pháp; ban hành các bộ luật; quyết định các chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại…của Đất nước.Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10 2, Hội đồng nhân dânHội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, vì: HĐND do nhân dân địa phương bầu ra và được nhân dân địa phương giao nhiệm vụ.HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vì: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước chịu sự quản lý của Quốc hội, thay mặt Quốc hội đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phươngBài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10 3, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vì: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nứơc do quốc hội bầu ra, chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc đảm bảo tôn trọng và chấp hành Hiến pháp, pháp luật. 4,UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, vì: UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương do HĐND bầu ra, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nứơc cấp trên và nghị quyết của HĐND.Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10Theo em trách nhiệm chung của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là gì?

Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữ gìn và nâng cao đời sống ấm no, tự do, hạnh phức của nhân dân; bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước giàu mạnh.Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10I, THÔNG TIN SỰ KIỆN( Tiếp )Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước Việt Nam( SGK- Trang 57, 58 )II, NỘI DUNG BÀI HỌC ( Tiếp )C, Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Việt Nam Ý (c) SGK- Trang 58, 59D, Trách nhiệm của nhà nước Ý (d) SGK- Trang 59Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10Công dân có quyền và nghĩa vụ gì đối với nhà nước ?

Công dân có quyền và trách nhiệm giám sát, góp ý kiến vào hoạt động của các đại biểu và các cơ quan đại diện do mình bầu ra, đồng thời có nghĩa vụ thực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước, bảo vệ các cơ quan nhà nước, giúp đỡ các cán bộ nhà nước thi hành công vụ.Bài 17 NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM10I, THÔNG TIN SỰ KIỆN( Tiếp )Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước Việt Nam( SGK- Trang 57, 58 )II, NỘI DUNG BÀI HỌC ( Tiếp )C, Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Việt Nam Ý (c) SGK- Trang 58, 59D, Trách nhiệm của nhà nước Ý (d) SGK- Trang 59Đ, Quyền và nghĩa vụ của công dân Ý (đ ) SGK- Trang 59III, BÀI TẬP

Bài tập d SGK- Trang 59Em hãy chọn câu trả lời mà em cho là đúng.Chính phủ làm nhiệm vụ: 1, Biểu quyết thông qua Hiến pháp, luật 2, Tổ chức thi hành Hiến pháp, luậtChính phủ do: 3, Nhân dân bầu ra 4, Quốc hội bầu raUỷ ban nhân dân do: 5, Uỷ ban nhân dân cấp trên bầu ra 6, Nhân dân bầu ra 7, Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra

Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay / 2023

CHỨC NĂNG KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (Phần 1)

Trần Võ Như Ý- Khoa Luật, Đại học Duy Tân

1.1 Khái niệm, đặc điểm chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước là một thiết chế đặc biệt của xã hội, có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển xã hội loài người. Nhân loại đã và đang tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phát huy hơn nữa vai trò to lớn của Nhà nước nhằm hướng tới xây dựng một Nhà nước ngày càng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của con người.

Từ thời cổ đại, vai trò kinh tế của Nhà nước đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như chính trị học, triết học, luật học thể hiện qua các quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc như Aritxtốt, Platôn, Mạnh Tử, Khổng Tử… Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, nhiều lý thuyết kinh tế học chính trị đã đi sâu tìm hiểu về cơ chế tác dụng của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó tiểu biểu như: A.Smith về nền kinh tế tự do, lý thuyết của Keynes về nền kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước, lý thuyết của A.Samuelson về nền kinh tế hỗn hợp. Và lịch sử đã chứng minh các nền kinh tế thị trường thành công đều không phát triển một cách tự phát mà cần có sự can thiệp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vì vậy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với nền kinh tế. Với những quan niệm về vai trò kinh tế của các Nhà nước trên thế giới có thể thấy việc vận dụng mô hình kinh tế hợp lý cũng như xác định rõ vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế hiện đại có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đổi mới Nhà nước ta, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quốc tế cho quá trình nhận thức về chức năng kinh tế của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chức năng của Nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận Nhà nước và pháp luật, gắn liền với những phạm trù bản chất, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của Nhà nước…Theo từ điển tiếng Việt, “chức năng” là từ gốc Hán bao gồm hai thành tố “chức” và “năng”. Thành tố “chức” trong các từ “chức phận”, “chức trách”, “chức vụ”. Thành tố “năng” trong các từ “bản năng”, “năng lực”, “khả năng”. Chức năng được hiểu với hai sắc thái nghĩa là “hoạt động, tác dụng bình thường” và “vai trò bình thường hoặc đặc trưng”. Như vậy, chức năng Nhà nước được hiểu như là hoạt động, khả năng vốn có của Nhà nước.

Trong khoa học pháp lý nước ta đã xuất hiện nhiều quan điểm về chức năng của nhà nước: Theo cách hiểu truyền thống, chức năng của Nhà nước là những phương diện (những phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước; chức năng Nhà nước là sự thể hiện vai trò của Nhà nước đối với xã hội, là biểu hiện cụ thể năng lực của Nhà nước; chức năng của Nhà nước chính là những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể…Trong điều kiện hiện nay, để góp phần xác định đầy đủ khái niệm về chức năng của Nhà nước, theo chúng tôi cần tiếp cận phạm trù chức năng nhà nước gắn liền với bản chất và vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội, đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng kinh tế, chức năng chính trị của Nhà nước. Như vậy, từ phạm trù chức năng của Nhà nước thể hiện vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội có thể hình thành nên khái niệm chức năng kinh tế của Nhà nước như là một bộ phận của khái niệm chức năng nhà nước, cũng như chức năng xã hội, chức năng chính trị của Nhà nước. Từ đó có thể định nghĩa Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (hay chức năng tổ chức và quản lý kinh tế) được hiểu là những hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất mang tính thường xuyên, liên tục thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.

Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng;

Thứ hai, việc thực hiện chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam phải bảo đảm được định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…;

Thứ ba, Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác như: kế hoạch, chương trình, quy hoạch phát triển kinh tế; các chính sách kinh tế; bộ máy hành chính và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước.

1.2 Nội dung, hình thức và nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nội dung của chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện tập trung ở hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác (như xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội…); hoạt động quản lý đối với doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

– Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế khác

Chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm nhiều thành phần kinh tế với đa dạng các loại hình sở hữu và nhà nước quản lý tổng thể các hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế. Vì vậy, pháp luật có ý nghĩa, vai trò to lớn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế nhưng phải đáp ứng các tiêu chí sau: Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới nhằm tạo cơ sở để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quy định cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các loại thị trường; quy định chế độ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường; quy định các điều kiện cạnh tranh nhằm trật tự hóa thị trường; xác định cơ cấu chủ thể kinh tế thị trường và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới; xác định các quy tắc hành vi của các chủ thể kinh tế; bảo đảm sự an toàn xã hội nhằm khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường; pháp luật quy định cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế. Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng các công cụ quản lý kinh tế sau: Chính sách kinh tế vĩ mô; Chính sách về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế; Chính sách quản lý và sử dụng đất đai.

Nền kinh tế thị trường là hệ thống phức tạp và đầy biến động, các hoạt động kinh tế đều hướng tới lợi ích cục bộ, vì vậy sự bất ổn, rủi ro và sự xâm phạm lợi ích lẫn nhau có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh để điều chỉnh. Từ nhu cầu khách quan đó mà pháp luật trở thành công cụ không thể thay thế để đảm bảo cho các quan hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định. Bằng cách gián tiếp, Nhà nước tạo ra khung pháp lý cho các chủ thể tự do hoạt động; quy định tư cách chủ thể; ngăn ngừa các yếu tố tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường để vận hành các quan hệ kinh tế một cách thuận lợi, an toàn, đồng thời định ra các phương thức nhằm duy trì và đảm bảo trật tự kinh tế.

Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh, ổn định nền kinh tế thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng là những đòn bẩy tác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát và hạn chế hậu quả trước các biến động bất lợi của thị trường. Nhà nước quản lý vĩ mô về tài chính đối với các doanh nghiệp thông qua các công cụ như thuế, lãi suất, tỉ giá…Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả cho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức mua đồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn. Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường theo hướng nhất định.

– Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng phương pháp kinh tế, vận dụng các quy luật kinh tế để quản lý, đảm bảo hiệu quả quản lý thông qua các công cụ vĩ mô như pháp luật, kế hoạch, chính sách…Nội dung của kế hoạch vĩ mô trong nền kinh tế thị trường là sự cụ thể hóa những quyết định chiến lược, đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu đề ra trong chính sách của Nhà nước. Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là kế hoạch gián tiếp, hướng dẫn và tổng quát thể hiện tính năng động gắn với hiệu quả và lợi ích kinh tế. Với tính định hướng, kế hoạch nhà nước chỉ tập trung vào việc thiết lập các cân đối lớn của nền kinh tế như giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa xuất và nhập khẩu….Nhà nước đưa ra dự kiến về khả năng phát triển kinh tế; điều chỉnh và thay đổi chính sách nhằm hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường đã xóa bỏ mọi hình thức áp đặt trong giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ kế hoạch cho các chủ thể, kích thích các nhà kinh doanh cạnh tranh, cải tiến kỹ thuật công nghệ để đứng vững trên thị trường.

– Xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, trong đó chiến lược phát triển bao gồm hệ thống những mục tiêu, chính sách và giải pháp cơ bản, có tính chất dài hạn về phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng; và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là cụ thể hóa chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng: luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân bố mạng lưới kết cấu hạ tầng trên các vùng lãnh thổ, các giải pháp và tổ chức thực hiện, các công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên.

– Kiểm tra, giám sát nền kinh tế

Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là chủ thể quản lý tối cao thông qua các cơ quan chức năng nhằm điều chỉnh thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Đảm bảo bình đẳng xã hội và giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường

Cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường thể hiện ưu thế ở chỗ phát huy tính năng động, sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế trong việc đáp ứng nhu cầu phong phú và biến động của xã hội, đồng thời hệ thống pháp luật hướng dẫn, điều chỉnh và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những khuyết tật dễ nhận thấy là: đầu cơ, độc quyền, tiêu thủ cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái…

Hơn nữa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – điểm khác biệt với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là phải hạn chế thấp nhất tình trạng người bóc lột người, đảm bảo sự bình đẳng xã hội. Việc phát triển kinh tế không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà phải lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm cơ sở để phát triển toàn diện con người, giải quyết hài hòa những vấn đề kinh tế – xã hội, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

– Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn kinh tế nhà nước

Chức năng kinh tế của nhà nước không chỉ được thực hiện thông qua sự quản lý, điều tiết và định hướng bằng pháp luật; công cụ quản lý kinh tế như các chính sách kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội mà còn bằng thực lực của kinh tế nhà nước đó là các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước. Việc tăng cường, củng cố, xây dựng và phát triển sức mạnh kinh tế nhà nước nói chung và của doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng trong các ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước vừa là công cụ quản lý kinh tế, vừa là cơ sở kinh tế để nhà nước thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hơn nữa, do thực tiễn nảy sinh ở các nước tư bản chủ nghĩa khi mà các tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh không ngừng lấn át kinh tế nhà nước, các tập đoàn kinh tế tư nhân từ chỗ lũng đoạn kinh tế chuyển sang lũng đoạn chính trị cho nên nhà nước phải quản lý các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước để thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Về mặt lý luận, các chức năng của nhà nước luôn được thực hiện thông qua những hình thức và phương pháp nhất định của bộ máy nhà nước. Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, do đó các chức năng được thực hiện dưới ba hình thức pháp lý cơ bản là xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và bảo về pháp luật. Với mục đích là xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho Chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng kinh tế thông qua ba hình thức chủ yếu là ban hành pháp luật kinh tế; tổ chức thực hiện pháp luật kinh tế; và bảo vệ pháp luật kinh tế.

Trên cơ sở phân tích nội dung và hình thức thực hiện chức năng kinh tế, chúng ta có thể đưa ra các nguyên tắc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm hai loại nguyên tắc là:

– Các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị-pháp lý như: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý kinh tế; tập trung dân chủ; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ.

– Các nguyên tắc mang tính chất riêng phù hợp với hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước như: Nhà nước quản lý vĩ mô, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế…