Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học

--- Bài mới hơn ---

  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi.

    Vì vậy chức năng đầu tiên của văn học là chức năng nhận thức và dự báo. Văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mỹ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả. Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người.

    Trong tác phẩm “Ông già và biển cả” chúng ta có thể hiểu thêm về biển, về sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn ra trong lòng đại dương mà còn ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người và biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người.

    Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học còn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực. Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai.

    Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động của lịch sử, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái bốn phương phẳng lặng.

    Nhà văn tài năng sẽ không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển. Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên, mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học.

    Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người. Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào quá trình thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai.

    Please follow and like us:

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Văn Học Dân Gian Là Gì? Một Số Nét Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Mở Bài Dùng Cho Lí Luận Văn Học
  • Cách Làm Một Mở Bài Nghị Luận Xuất Phát Từ Lý Luận Văn Học
  • Kỹ Năng Viết “Mở Bài” Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Alfred Kazin, “Chức Năng Của Phê Bình Văn Học Hôm Nay”
  • Nhiệm Vụ Chính Của Phê Bình Văn Học
  • Văn học dân gian là gì?

    Văn học dân gian được khái niệm là một sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp người dân và được phát sinh từ thời kỳ công xã nguyên thủy, quá trình phát triển qua nhiều thế kỷ, qua nhiều thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

    Ở Việt Nam, có 3 thuật ngữ được xem là tương đương nhau đó là: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân và Folklore văn học.

    Một số ít những khái niệm khác xuất hiện trước những năm 50 như văn học bình dân, văn học truyền miệng, văn học đại chúng. Đến nay, những khái niệm này đã không còn được sử dụng nữa.

     

    Thuật ngữ Folklore được biết đến do một nhà nhân chủng học người Anh tên là William Thoms định nghĩa với ý nghĩa là những di tích của nền văn học vật chất và chủ yếu đó là di tích của nền văn học tình thần phải kể đến như: Phong tục, tín ngưỡng, những bài dân ca, đạo đức, những câu chuyện kể của một cộng đồng.

    Ở Việt Nam, thuật ngữ Folklore được dịch là văn học dân gian với 3 ý nghĩa bao hàm đó là: Nghĩa rộng, nghĩa hẹp và nghĩa chuyên biệt.

    • Theo nghĩa rộng: Bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do người dân sáng tạo ra. Theo như cách hiểu này, văn học dân gian là một trong những đối tượng của nhiều ngành khoa học, trong đó bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời đây cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học.
    • Theo nghĩa hẹp: Đó là những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật. Trong đó, văn học dân gian bao gồm 3 thành tố là văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian.
    • Theo nghĩa chuyên biệt: Văn học dân gian là gì? Theo thuật ngữ Folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, múa, kịch,… do tập thể người dân sáng tạo ra. Cũng có thể sử dụng Folklore để chỉ văn học dân gian đồng thời dùng nó để phân biệt các đối tượng văn học khác.

    Phân loại văn học dân gian

    Phân loại văn học dân gian thường gồm 3 cấp cơ bản đó là: Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra việc phân loại giữa các loại và thể loại còn có một cấp trung gian đó là nhóm thể loại.

    1. Loại tự sự:

    • Văn xuôi tự sự bao gồm: Truyền thuyết, thần thoại, sử thi, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.
    • Thơ ca tự sự bao gồm: Sử thi, truyện thơ và các loại vè.
    • Các câu nói vần bao gồm: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

    2. Loại trữ tình

    • Thơ ca trữ tình nghi lễ bao gồm: Bài ca nghi lễ sinh hoạt, bài ca nghi lễ lao động, bài ca nghi lễ tế thần.
    • Thơ ca trữ tình phi nghi lễ: Bài cao lao động, bài ca sinh hoạt, bài cao giao duyên.

    3. Loại kịch: Bao gồm các loại hình ca kịch và trò diễn dân gian như chèo sân đình, tuồng, múa rối, những trò diễn có tích truyện.

    Một số nét đặc trưng của văn học dân gian

    Văn học dân gian thường có 3 nét đặc trưng cơ bản bao gồm: Tính nguyên hợp, tính tập thể và văn học dân gian gắn liền với sinh hoạt của nhân dân.

    1. Tính nguyên hợp của văn học dân gian

    Văn học dân gian thường được biểu hiện bởi sự hòa hợp của nhiều những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong nhiều các thể loại.

    Có thể nói, văn học dân gian là một bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp của văn học dân gian phản ánh tình trạng về ý thức xã hội thời kỳ nguyên thủy, khi mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được gọi là chuyên môn hóa.

    Trong các thời kỳ xã hội về sau thì tính nguyên hợp của văn học dân gian vẫn được phát huy về mặt nội dung để có thể phản ánh thực trạng của xã hội hiện tại. Bởi vì, đại đa số bộ phận người dân đều là tác giả của văn học dân gian.

    Văn học dân gian là gì? Văn học dân gian thường có 3 dạng tồn tại: Tồn tại trong chính trí nhớ của tác giả dân gian, tồn tại bằng văn tự, tồn tại thông qua diễn  xướng.

    Sự tồn tại thông qua diễn xướng là một trong những dạng tồn tại đích thực của nền văn học dân gian. Tuy nhiên, vấn đề là cũng không thể phủ nhận hoàn toàn 2 dạng tồn tại còn lại.

    2. Tính tập thể trong văn học dân gian

    Văn học dân gian là gì? Văn học dân gian là sự sáng tạo của người dân, nhưng không phải toàn bộ những tác phẩm của sáng tác ra đều là của người dân. Một số điều cần chú ý tới cá nhân và mối quan hệ giữa một cá nhân với một tập thể trong các quá trình biểu diễn.

    Tính tập thể trong văn học dân gian thường được nhiều bộ phận người dân biết đến qua quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng nhất đó là tác phẩm đó có được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không và có đạt được những thành tựu trong cộng đồng người dân hay không.

    Cái gọi là truyền thống của nghệ thuật dân gian được biết đến là sự sáng tác một cách chớp nhoáng mà không cần phải chuẩn bị trước, một mặt là sự quy định về khuôn khổ cho việc sáng tác.

    3. Văn học dân gian – Một loại hình nghệ thuật gắn liền với quần chúng

    Văn học dân gian là gì? Đó là sự nảy sinh và tồn tại như một phần hợp thành không thể thiếu trong sinh hoạt của nhân dân. Sinh hoạt của nhân dân chính là một trong những môi trường sống và phát triển của những tác phẩm văn học dân gian.

    Những tác phẩm văn học, những bài hát ru gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của gia đình và đại bộ phận người dân. Việc đưa con vào trong giấc ngủ cho đến ngày nay cũng không thể thiểu.

    Tương tự đó là những bài dân ca, những nghi lễ, các truyền thuyết gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội,… Từ những đặc tính trên thì văn học dân gian được biết đến là một loại hình nghệ thuật đa chức năng và nó cũng là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt hằng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Trạm Y Tế
  • Công Ty Cổ Phần Quản Lý & Xây Dựng Đường Bộ Quảng Nam
  • Công Ty Tnhh Tư Vấn Xây Dựng Sông Dinh
  • Khoa Xét Nghiệm – Chẩn Đoán Hình Ảnh
  • Văn Phòng Đại Diện Là Gì? Vpđd Có Chức Năng Gì ?
  • Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Nguyên hợp chỉ trạng thái khởi đầu, nhất nguyên, chưa phân tách của mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội. Trong sáng tạo nghệ thuật, ” nguyên hợp chỉ sự hòa lẫn làm một ở thời kì đầu của các loại hình sáng tạo văn hóa”

    Sở dĩ văn học dân gian có tính nguyên hợp là do văn học dân gian ra đời từ rất sớm (có thể vào đầu thời kỳ công xã nguyên thủy) nên nó tất yếu mang đặc điểm của trạng thái khởi đầu. Hơn nữa, văn học dân gian là những sáng tạo tinh thần phản chiếu kiểu tư duy nguyên hợp của con người thời nguyên thủy. Vì vậy có thể xem đặc trưng nguyên hợp như là bản chất của văn học dân gian

    Nếu hiểu ” nguyên hợp là sự hòa lẫn làm một” của những trạng thái khởi nguyên thì đặc trưng này của văn học dân gian được biểu hiện qua các nội dung sau:

    Thứ nhất, tính nguyên hợp thể hiện ở môi trường tồn tại của văn học dân gian. Hoạt động diễn xướng văn học dân gian trong suốt quá trình ra đời và tồn tại chưa từng tách rời các hoạt động của đời sống, từ hoạt động nhận thức đến hoạt động tâm linh, từ lao động sản xuất đến sinh hoạt nghi lễ…

    Thứ hai, tính nguyên hợp thể hiện ở sự chưa tách rời các loại hình nghệ thuật. Văn học dân gian, tức thành phần ngôn từ trong các sáng tác dân gian có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, trong đó, ngôn từ là chất liệu, là phương tiện chủ yếu. Sự dung hợp vốn có, tự nhiên, nhịp nhàng này đã tạo nên hiệu quả biểu đạt thẩm mĩ cho tác phẩm văn học dân gian.

    Thứ ba, tính nguyên hợp thể hiện ở sự nhất nguyên các dạng thức văn hóa tinh thần như tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán… Đây chính là khởi nguồn của hiện tượng nhập nhằng, giao thoa giữa các thể loại văn học dân gian. Chẳng hạn trường hợp “Con rồng cháu tiên” hay “Sơn Tinh, Thủy Tinh”.

    Tính nguyên hợp là đặc trưng phổ quát, có thể xem là bản chất của văn học dân gian. Nó làm nảy sinh và chi phối mạnh mẽ đến các đặc điểm, đặc trưng khác của văn học dân gian.

    Trong đó, tính đa chức năng là một hệ quả.

    + Đứng trong hệ quy chiếu văn học, văn học dân gian cũng như văn học viết, có các chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ. Tuy nhiên, do đặc thù, văn học dân gian còn có thêm chức năng sinh hoạt. “Trong văn học dân gian, chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ và chức năng sinh hoạt hợp thành một thể thống nhất”

    + Về chức năng nhận thức, văn học dân gian được xem như “bộ bách khoa toàn thư về kiến thức (…), tôn giáo, triết học” của nhân dân2. Văn học dân gian gìn giữ và lưu truyền hệ thống tri thức tự nhiên; xã hội; tâm linh; kinh nghiệm sinh sống, ứng xử… Văn học dân gian là người thầy lớn đem lại cho nhân loại những bài học sinh động, gần gũi và sâu sắc về mọi phương diện của đời sống.

    + Về chức năng giáo dục, văn học dân gian có khả năng định hướng đạo đức, luân lí cho con người trong đời sống xã hội. Chức năng này gần gũi và có sự giao thoa với phương diện xã hội của chức năng nhận thức. Tuy nhiên, nếu chức năng nhận thức là sự phản ánh các hiện tượng xã hội một cách khách quan thì chức năng giáo dục lại là sự tác động, ảnh hưởng, chi phối cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến cộng đồng. Có những tác phẩm, nhiều nhất thuộc thể loại hát nói, mang nghĩa giáo dục trực tiếp, tức ý nghĩa giáo dục được thể hiện một cách tường minh. Song, phần lớn các sáng tác dân gian chứa đựng ý nghĩa giáo dục hàm ẩn, tức mang nghĩa giáo dục gián tiếp.

    + Về chức năng thẩm mĩ, văn học dân gian là nghệ thuật, là quan niệm thẩm mĩ của cộng đồng, nó mang chứa vẻ đẹp hồn hậu, giản mộc và sâu sắc của nhân dân. Mang bản chất nguyên hợp, văn học dân gian chỉ thực sự phô diễn vẻ đẹp của mình khi sống trong môi trường nảy sinh và tồn tại, tức thành phần nghệ thuật ngôn từ phải được kết nối với thành phần nghệ thuật âm nhạc, vũ đạo… trong môi trường diễn xướng.

    + Về chức năng sinh hoạt, khác biệt với văn học viết, văn học dân gian ra đời và trở thành một bộ phận hữu cơ trong môi trường sinh hoạt và lao động của nhân dân. Văn học dân gian gắn bó mật thiết với cuộc đời mỗi người xuyên suốt “từ chiếc nôi ra tới nấm mồ”. Môi trường và thói quen sinh hoạt của nhân dân là điều kiện quan trọng cho văn học dân gian hình thành và phát triển.

    Như vậy, tính đa chức năng của văn học dân gian luôn được thể hiện trong sự phối hợp thống nhất giữa các chức năng, một hệ quả trực tiếp của đặc trưng nguyên hợp. Giá trị thẩm mĩ của hệ thống sáng tác dân gian văn học sẽ được minh định sáng rõ hơn khi kết hợp điểm nhìn nguyên hợp với tính đa chức năng cùng các đặc trưng khác.

    Ths.Đàm Nghĩa Hiếu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Giới Thiệu Vị Trí, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Trạm Chăn Nuôi Và Thú Y Các Huyện, Thành Phố Thuộc Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Hòa Bình
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Y Tế Huyện Lộc Ninh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Trung Tâm Y Tế Huyện
  • Thông Tư Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Số 51/2014/tt
  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

    Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương : Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).

    Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương) bình dân , văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng),văn học (văn chương) đại chúng. Những khái niệm này nay không dùng nữa.

    Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau :

    a.Nghĩa rộng : bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture). Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

    b.Nghĩa hẹp : Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố : Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian.

    c.Nghĩa chuyên biệt : folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch chúng tôi tập thể dân chúng sáng tác.Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore – văn hoá văn dân gian .

    II.ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN : 1.Tính nguyên hợp của văn học dân gian :

    – Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sựû hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó. Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lãình vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá. Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lãnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung. Bởi vì đại bộ phận nhân dân , tác giả văn học dân gian , không có điều kiện tham gia vào các lãnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm , tri thức , tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian, một loại nghệ thuật không chuyên.

    -Về loại hình nghệ thuật : Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ : Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó , không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…

    – Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn tại cố định ( tồn tại bằng văn tự ), tồn tại hiện ( tồn tại thông qua diễn xướng). Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của văn học dân gian . Tuy nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường. Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn , các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp.

    2.Tính tập thể của văn học dân gian :

    Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian.

    Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm

    Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác( sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác. Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống

    3.Văn học dân gian – một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân :

    Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng .Bài hát ru gắn với việc ru con ngủ- một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội…Từ đặc trưng này mà văn học dân gian có tính đa chức năng , trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt

    III.VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN : 1.Văn học dân gian và văn học thành văn ( văn học viết )

    Ðiểm chung : Văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Từ điểm chung này mà khoa học về văn học dân gian có thể sử dụng những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian ở một mức độ nào đó. Chẳng hạn, có thể miêu tả các thành phần của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc…

    Những đặc trưng loại biệt của văn học dân gian so với văn học viết :

    + Văn học dân gian là sáng tác tập thể. (văn học viết là sáng tác của cá nhân)

    + Văn học dân gian chỉ tồn tại thực tế khi diễn xướng nên có khả năng biến đổi, do vậy, nó có các dị bản. (văn học viết cố định trong văn bản và chỉ có một bản duy nhất)

    + Văn học dân gian là thành phần hữu cơ của các hình thức sinh hoạt của nhân dân.

    2.Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết :

    Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học này bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết

    Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Ví dụ: Truyền thuyết Thánh Gióng đã mở đầu cho dòng văn học yêu nước, chống xâm lược trong nền văn học dân tộc. Thể thơ lục bát, thể thơ được thi hào Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, bắt nguồn từ bộ phận văn vần dân gian…

    Văn học viết cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện . Chẳng hạn , tác giả dân gian đã đưa những chất liệu văn học viết vào ca dao ( những nhân vật trong Truyện Kiều , Lục Vân Tiên …)

    Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Có thể nói , mảng truyện thơ Nôm khuyết danh là sự gặp gỡ của hai bộ phận văn học dân tộc.

    IV. PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN : 1.Phân loại văn học dân gian :

    Khung phân loại văn học dân gian gồm 3 cấp cơ bản : Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra, giữa loại và thể loại còn có cấp trung gian là nhóm thể loại.

    a.Loại tự sự :

    a.1 Văn xuôi tự sự: Thần thọai, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

    a.2 Thơ ca tự sự : Sử thi, các loại vè, truyện thơ.

    a.3 Câu nói vần vè: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

    b.Loại trữ tình :

    b.1 Thơ ca trữ tình nghi lễ:

    – Bài ca nghi lễ lao động.

    – Bài ca nghi lễ sinh hoạt.

    – Bài ca nghi lễ tế thần

    b.2 Thơ ca trữ tình phi nghi lễ:

    – Bài ca lao động.

    – Bài ca sinh hoạt.

    – Bài ca giao duyên.

    c.Loại kịch :

    Bao gồm ca kịch và trò diễn dân gian: chèo sân đình , tuồng đồ, những trò diễn có tích truyện.

    2.Hệ thống thể loại :

    Hệ thống thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể. Ðây là một hệ thống chịu sự chi phối của mỹ học dân gian để cho các tác phẩm thuộc mọi thể loại của nó đều mang ” tính dân gian “. Mặt khác , giữa các thể loại của hệ thống lại có quan hệ với nhau .

    V .KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC

    1.Khoa học về văn học dân gian :

    Khoa học về văn học dân gian nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, sinh hoạt văn học dân gian, tác giả và công chúng văn học dân gian. Trong đó, tác phẩm văn học dân gian là đối tượng chính. Tác phẩm văn học dân gian ở đây là một chỉnh thể gồm lời, nhạc, điệu bộ…Khoa nghiên cứu văn học dân gianï gồm các phân môn sau :Lý luận văn học dân gian, Lịch sử văn học dân gian, Phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian.Và bộ phận đặc thù là công tác sưu tầm văn học dân gian.

    2.Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học :

    Văn học dân gian, một thành tố của văn hóa dân gian là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học.

    Nhiều thể loại văn học dân gian phát sinh từ xã hội công xã nguyên thủy và ngay cả văn học dân gian ở các giai đoạn phát triển sau này luôn bị quy định bởi các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian. Do vậy cần dựa vào dân tộc học để nghiên cứu. Chẳng hạn truyện Sao Hôm, sao Mai, Sự tích trầu cau là tiếng vọng xa xôi của chế độ quần hôn trong xã hội công xã thị tộc đồng thời chúng cũng cho thấy chế độ phụ quyền với vị trí của người con trưởng được khẳng định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Giới Thiệu Vị Trí, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Trạm Chăn Nuôi Và Thú Y Các Huyện, Thành Phố Thuộc Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Hòa Bình
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Y Tế Huyện Lộc Ninh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Trung Tâm Y Tế Huyện
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề
  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Cần Phát Huy Đầy Đủ Chức Năng Xã Hội Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • DANH SÁCH NHÓM 1:

    1.TĂNG THỊ PHƯƠNG 7.NGUYỄN THỊ NGỌC

    2.LÊ THỊ THẢO 8.TRẦN THỊ LAN

    3.ĐỒNG THỊ DUNG 9. VŨ THỊ UYÊN.

    chúng tôi THỊ NHẤT

    5.NGÔ THỊ YẾN

    chúng tôi THỊ THU TRANG

    CHỦ ĐỀ 3:

    VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

    I:Đại cương về văn học dân gian Việt Nam

    II: Truyện cổ dân gian Việt Nam

    III: Văn vần dân gian Việt Nam

    IV:Phân tích câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng giao

    V: Phân tích các bài văn vần ở chương trình tiểu học

    VI: Đóng kịch: Sơn Tinh- Thủy Tinh.

    I. Đại cương về văn học dân gian Việt Nam

    1.Khái niệm

    2.Đặc trưng

    3.Thể loại

    4.Gía trị

    SƠ ĐỒ TÓM TẮT TiỂU CHỦ ĐỀ:KN, ĐẶC TRƯNG,THỂ LOẠI,GIÁ TRỊ

    Khái niệm

    Là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của tầng lớp dân chúng

    Đặc trưng

    Tính tập thể-truyền miệng của tầng lớp nhân dân

    Là một loại hình nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình thức…

    Là những sáng tác nghệ thuật mang tính thực hành

    Thể loại

    Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao, các thể loại sân khấu dân gian,..

    Giá trị

    Là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống

    Có giá trị sâu sắc về đạo lý làm người

    Có giá trị thẩm mĩ

    1: Khái niệm

    Văn học dân gian chính là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu đạt,ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên, vũ trụ.

    2:Đặc trưng của văn học dân gian

    + Có 3 đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

    Đặc điểm thứ nhất: Tính tập thể-truyền miệng của văn học dân gian.Trước hết, nó là sản phẩm sáng tạo của nhiều người, thuộc nhiều thế hệ qua những thời gian và không gian khác nhau.Có thể hình dung sự ra đời và tồn tại của một tác phẩm VHDG như sau:lúc đầu,một người nào đó trong phút giây ngẫu hứng nghĩ ra một mẩu truyện hoặc vài câu phát ngôn trước tập thể, người nghe tiếp nhận với một tinh thần hào hứng, để rồi tái bản bằng lời cho nhiều người khác, vòng tuần hoàn ấy.

    Dường như không kết thúc và cũng khó đoán định được thời điểm khởi đầu.

    Tính tập thể-truyền miệng đã tạo nên đặc trưng thẩm mĩ của sáng tác dân gian, trong đó nổi nên là hai yếu tố cách tân và kế thừa .

    Tính tập thể-truyền miệng của VHDG luôn có sự thay đổi theo thời gian tuỳ theo xu thế tình cảm, tư tưởng của quần chúng nhân dân

    VD: truyện Tấm Cám.Ban đầu,truyện được kết bằng chi tiết mẹ con Cám tuy được Tấm tha bổng nhưng dọc đường bị thiên lôi đánh chết.Thế nhưng càng về sau,khi mà mâu thuẫn giai cấp trong xã hội càng trở nên sâu sắc,với một tâm lý luôn bị ức chế,người ta càng không thoả mãn với kết thúc này.Đó là lý do ví sao truyện lại được kết thúc theo một kiểu khác.

    Văn học dân gian truyện tấm cám

    Đặc điểm thứ 2:VHDG là một loại hình nghệ thuật nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình thức phản ánh khiến cho nó không chỉ là một hiện tượng văn học mà còn là một hiện tượng văn hoá.

    – Về nội dung: Tác phẩm VHDG phản ánh nhiều phương diện khác nhau của đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội, do vậy, nó vừa thực hiện chức năng văn học( thẩm mỹ ), của sử học (phản ánh lịch sử)….VHDG gắn với tôn giáo như. Nó được dùng như một phương tiện thể hiện thế giới quan,nhân sinh quan của người xưa.

    -Về hình thức:Khác với văn học viết chỉ được diễn đạt bằng phương tiện ngôn ngữ, tác phẩm VHDG

    Ngoài việc sử dụng phương tiện chính là ngôn ngữ còn sử dụng thêm vài phương tiện khác nữa như âm nhạc,vũ điệu, động tác.

    Đặc trưng thức 3:VHDG là những sáng tác nghệ thuật mang tính thực hành.Đây chính là chức năng sinh hoạt của VHDG,nó thể hiện sự gắn bó của VHDG với đời sống cộng đồng mà văn học viết không thể nào có được.

    3.Thể loại VHDG Việt Nam

    Văn học dân gian gồm 12 thể loại:

    1.Thần thoại 8.Câu đố

    2.Sử thi chúng tôi dao,dân ca

    3.Truyền thuyết 10.Truyện, thơ

    4.Truyện cổ tích 11.Các thể loại sân

    5.Truyện ngụ ngôn khấu dân gian

    6.Truyện cười

    7.Tục ngữ

    *Thần thoại:là thể loại tự sự bằng văn xuôi, kể lại sự tích các vị thần sáng tạo thế giới tự nhiên và văn hoá, phản ánh nhận thức cách hình dung của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người.

    *Sử thi: Là loại hình tự sự bằng văn vần hoặc văn biền ngẫu kết hợp với văn xuôi.

    *Truyền thuyết: là thể loại tự sự bằng văn xuôi,thường dùng yếu tó tưởng tượng hoá các sự kiện, nhân vật được kể, thể hiện ý thức lịch sử của nhân dân.

    *Truyện cổ tích: là loại hình tự sự bằng văn xuôi thường kể về: người mồ cô, người lao động giỏi…

    *Truyện cười: Là thể loại tự sự bằng văn xuôi,kể lại các hiện tượng gâu cười nhằm giải trí và phê phán những cái đáng cười trong cuộc sống.

    *Tục ngữ: là sự đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thế giới tự nhiên và đời sống con người.

    *Ca dao,dân ca: Là loại hình trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người.

    *Truyện,thơ: là loại văn kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, phản anhs số phận của người nghèo khổ và khát vọng về tình yêu,hạnh phúc lứa đôi, về công lý xã hội.

    *Các thể loại sân khấu dân gian : Diễn tả những cảnh sinh hoạt và những điển hình con người trong xã hội nông nghiệp cổ truyền Việt Nam.

    4.Giá trị cơ bản của VHDG Việt Nam

    Giá trị cơ bản của VHDG Việt Nam

    VHDG là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc

    VHDG có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người

    Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn hoá dân tộc

    * Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc

    Tri thức trong văn học dân gian thuộc đủ các lĩnh vực đời sống:tự nhiên, xã hội con người.

    Tri thức dân gian thể hiện quan điểm và nhận thức của người dân, vì vậy có sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là các vấn đề lịch sử,xã hội.

    Việt Nam có 54 dân tộc.Mỗi dân tộc có một kho tàng văn hoá dân gian riêng vì thế vốn tri thức của dân tộc ta là vô cùng phong phú và sâu sắc.

    *VHDG có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người.

    Trước hết VHDG giáo dục con người tinh thần nhân đạo và lạc chúng tôi góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp:Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, đức kiên trung và vị tha, tính cần kiệm và óc thực tiễn.

    * VHDG có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

    VHDG được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian dã trở thành những viên ngọc sáng những mẫu mực về nghệ thuật để chúng ta học tập.

    Nhờ có giá trị to lớn như vậy nên trong nhiều thế kỷ,khi văn học viết chưa hính thành thì VHDG đóng vai tro chủ

    đạo.khi văn học viết đã phát triển thì VHDG là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết. Trong tiến trình lịch sử,VHDG đã phát triển song song với văn học viết, làm cho nền văn học Việt Nam trỏ nên phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.

    VHDG Có nhiều giá trị to lớn về nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ cần được trân trong và phát huy

    II: Truyện cổ dân gian Việt Nam.

    1.Định nghĩa

    2.Phân loại

    3.Giá trị

    4.cách dạy HSTH kể và phân tích truyện dân gian

    SƠ ĐỒ TÓM TẮT TiỂU CHỦ ĐỀ 2:ĐỊNH NGHĨA, PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ, CÁCH DẠY HSTH KỂ VÀ PHÂN TÍCH

    Định nghĩa

    Giá trị

    Phân loại

    Thần thoại, truyện thuyết, ngụ ngôn, truyện cười

    Là gi sản tinh thần vô giá của cha ông ta để lại

    Giúp con nguoif vượt qua khó khăn để kiên trì vươn lên trong cuộc sống

    Cách dạy HSTH kể

    Cách dậy HSTH phân tích

    Cách dạy HSTH kể và phân tích

    Góc độ đặc trưng

    Góc độ nhân vật

    Với thần thoại

    Với truyền thuyết

    Với cổ tích

    Với ngụ ngôn

    Với truyện cười

    Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quá…

    1.Định nghĩa

    -Thời gian:Nảy sinh từ cuối thời kì công xã nguyên thuỷ

    -Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại

    -Nội dung:truyện cổ dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội,thể hiện tình cảm, mơ ước của nhân dân, về hình thức mang thường mang nhiều yếu tố thần kì,tượng trưng và ước lệ

    2.Phân loại

    Truyện cổ dân gian Việt Nam được phân làm 5 loại chính:

    1.Thần thoại

    2.Truyền thuyết

    3.Cổ tích

    4.Ngụ ngôn

    5.Truyện cười

    3.Giá trị của truyện cổ dân gian Việt Nam

    Truyện cổ dân gian Việt Nam là di sản tinh thần

    Vô giá của cha ông ta để lại.Đằng sau nhưng lời kể giản dị là những cuộc đời, số phận, những chuyện vui buồn của cuộc đời.Đến với truyện cổ dân gian ta cón gặp những mơ ước khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp.Con người được an ủi, động viên vượt qua những trắc trở khó khăn để kiên trì vươn lên trong cuộc sống.

    4.Cách dạy HSTH kể và phân tích truyện cổ dân gian

    Cách dạy HSTH kể truyện cổ dân gian: Đặc điểm

    Tiếp nhận văn học của các em trong hai phương diện đồng cảm và đối thoại thì các em mới chỉ đạt tới mức độ đồng cảm.

    Cụ thể,cần hướng dẫn các em cách tiếp cận các tác phẩm truyện cổ dân gian theo các hướng dẫn sau

    .Từ góc độ đặc trưng thể loại: điều này giúp trẻ nhanh chóng nắm bắt được nội dung cơ bản cũng như mục đích sáng tác của từng thể loại.

    .Tứ góc độ nhân vật: Mỗi thể loại xây dựng một kiểu

    nhân vật riêng cho mình,vì vậy nhân vật là nơi hội tụ những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức đời sống và tình cảm thẩm mĩ mà tác phẩm thể hiên.

    .Từ các môtíp cốt truyện hoặc các thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu.

    -Cách dạy HSTH phân tích truyện cổ dân gian: hs biết truyện cổ dân gian thuộc thể loại nào?Và cần lưu ý những vấn đề sau

    .Với thần thoại: Nêu rõ vai trò của các vị thần trong việc giải thích tự nhiên của người xưa.

    .Về truyền thuyết: Dặc biệt nhấn mạnh các công trạng của người anh hùng và cho học sinh thấy rõ thái độ tôn sùng của người xưa đối với họ thông qua việc sử dụng những chi tiết hư cấu.

    .Với cổ tích: Khơi dạy tình cảm yêu thương chia sẻ của học sinh thông qua số phận các nhân vật, đúc kết bài học giáo dục từ cốt truyện.

    .Với ngụ ngôn: Cần làm rõ ý nghĩa tượng trưng của các nhân vật loài vật,giúp học sinh phát hiện các bài học triết lí của truyện.

    .Với truyện cười: khai thác cái cười trong truyện thông qua những biểu hiện bất thường của nhân vật.

    biện pháp đúc kết bài học giáo dục từ truyện cổ:Sử dụng câu hỏi gợi ý, sử dụng phép so sánh, sử dụng bài tập trắc nhiệm…

    III.Văn vần dân gian Việt Nam

    1.Định nghĩa

    2.Phân loại

    3.Tác dụng

    4.Hướng dẫn HSTH đọc diễn cảm

    SƠ ĐỒ TiỂU CHỦ ĐỀ 3:ĐN, PL, TD ,HƯỚNG DẪN HSTH ĐỌC DIỄN CẢM

    Định nghĩa

    Phân loại

    Tác dụng

    Là loại văn viết bằng những câu có vần với nhau

    Ca dao

    Tục ngữ

    Câu đố

    Phạm vi phản ánh

    Thể thơ

    Về mặt nhận thức

    Về mặt phương diện tình cảm

    Về phương diện thẩm mỹ

    Hướng dẫn học sinh tiểu học đọc diễn cảm

    Đặc điểm thể loại

    Biện pháp nghệ thuật

    Góc độ tình cảm

    1.Định nghĩa

    Văn vần là loại văn viết bằng những câu có vần với nhau, như thơ, ca .

    VD: vần “eo” trong câu thơ sau:

    Đừng tréo trông theo cảnh hắt heo

    Đường đi thiên thẹo quán cheo leo

    Lợp lều,mái có tranh xơ xác

    Xỏ kẽ,kèo tre đốt khăng kheo

    Ba trạc cây xanh xanh hình uốn éo

    Một dòng nước biển cỏ leo teo.

    (Hồ Xuân Hương)

    2. Phân loại văn vần dân gian Việt Nam

    Thơ ca dân gian bao gồm 4 thể loại chính là ca dao, tực ngữ, câu đố, đồng dao.

    Ca dao:là phần lời của bài hát dân gian(dân ca), là thơ ca dân gian truyền thống

    Ca giao có 2 đặc trưng cơ bản.

    thứ nhất, về phậm vi phản ánh,ca giao là nơi bộc lộ tình cảm, xúc cảm,tư tưởng của quần chúng. nhân dân lao động.

    VD: Ca giao nói về những tập quán trong lao động

    Người ta đi cấy lấy công

    còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,

    Trông trời, trông đất, trông mây,

    Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

    Trông cho chân cứng, đá mềm,

    Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.

    Thứ hai: Về thể thơ, Thể thơ dùng phổ biến nhất trong ca dao là lục bát và còn sử dụng thêm song thất, song thất lục bát, hỗn hợp tự do

    VD: Ca dao sử dụng thể thơ lục bát

    Hôm nay tát nước đầu đình,

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Em được thì cho anh xin,

    Hay là em để làm tin trong nhà…

    *Tục ngữ: là thể văn vần dân gian gồm những câu nói ngắn ngọn, dễ nhớ, dễ truyền, có trức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiên nhiên, lao dộng sản xuất, con người và xã hội

    VD: – Ai ơi chẳng chóng thì chầy,

    Có công mài sắt có ngày nên kim

    – Lời nói chẳng mất tiền mua,

    Lựa nời mà nói ch vừa lòng nhau

    Về đặc trưng thể loại,tục ngữ nổi lên với một kho kinh nghiệm, kho triết lý dân gian sâu sắc.

    * Câu đố: là thể loại văn vần dân gian có chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng những phương pháp giấu tên và nghệ thuật lạ hoá , được sử dụng trong sinh hoạt tập thể nhằm thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết của con người, đặc biệt là trẻ em, mua vui,giải trí.

    VD: câu đố về đồ vật(con tầu)

    Con gì ăn lửa với nước than?

    * Đồng dao: Là những câu hát dân gian có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ em, được trẻ em hát lên lúc vui chơi, có thể do người lớn sáng tác.Đồng dao còn được gọi là ca dao và vè cho các em.

    VD: Bài đồng dao ” Dung dăng dung dẻ”

    Dung dăng dung dẻ

    Dắt trẻ đi chơi

    Đến ngõ nhà trời

    Lậy cậu lậy mợ

    Cho cháu về quê

    Cho dê đi học

    Cho cóc ở nhà

    Cho gà bớt bếp

    Xì xà xì xụp

    Ngồi thụp xuống đây

    3.Tác dụng của văn vần dân gian

    + Về mặt nhận thức: Câu đố và đồng dao đều cung cấp cho trẻ những tri thức đời sống, đó là giúp trẻ có được những hiểu biết về thế giới đồ vật, cây cối,các con vật, ccas hiện tượng đời sống qua những câu ca dễ hiểuj dễ nhớ,nhớ thuộc.

    +Về phương diện tình cảm: Khi tham gia các hoạt động đố giải hoặc tham gia cấc trò chơi dân gian, tình bạn của các em càng được giữ gìn và phát triển.Các em được sống trong không khí tran hoà, thân ái,được cùng nhau chia sẻ niềm vui,được trao đổi thậm chí là tranh cãi về cùng một vấn đề,được củng cố ý thức cộng đồng.

    +Về phương diện thẩm mĩ: Thơ ca dân gian là nguồn suối ngọt ngào bồi dưỡng năng lực hiểu và sử dụng năng lực tiếng mẹ đẻ của trẻ thơ. Các em học dduocj cách diễn đạt độc đáo trong thơ ca dân gian,biết nói nhiều ngụ ý.

    4.Hướng dẫn học sinh tiểu học đọc diễn cảm

    Để học sinh tiểu học đọc diễn cảm được văn vần cần phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích thơ ca dân gian và cần tiếp cạn theo những định hướng sau.

    – Về đặc trưng thể loại:Đó à những gợi ý cho việc hiểu nội dung cũng như mục đích mà các câu ca hướng tới.

    – Từ các biện pháp nghệ thuật:Có thể là cách gieo vần,cách kết cấu, cách dùng từ, thể hiện hình ảnh…chúng giúp người đọc hiểu và khám phá vẻ đẹp của hình tượng.

    – Từ góc độ tình cảm:thơ ca dân gian cũng như thơ ca nói chung luôn là nơi gửi gắm, bộc lộ tình cảm. Vì vậy, khi muốn hiểu rõ nội dung một câu ca, phải bắt đầu từ góc độ tình cảm.

    IV:Phân tích câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng dao( lấy vd rồi phân tích)

    1:Câu đố :

    VD:Câu đố về đồ vật “cái thước kẻ”

    Đầu đuôi vuông vắn như nhau

    Thân chia nhiều đốt rất mau rất đều

    Tính tình chân thức đáng yêu

    Muốn biết dài ngắn mọi điều có em?

    Phân tích:

    Thước kẻ là dụng cụ đo, được dùng hàng ngày của con người dùng trong học tập và công việc.Thước có phần đầu và phần đuôi vuông vắn ” đầu đuôi vuông vắn như nhau”.Để đo được chính xác kích thước đồ vật thì thước kẻ chia cm đều nhau

    “Thân chia nhiều đốt rất mau rất đều”

    Nếu như không có thước thì chúng ta không thể biết được độ dài ngắn của vật.

    “Muốn biết dài ngắn mọi điều có em.”

    Có thể thấy thước kẻ là một dụng cụ đo không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người. Chúng không chỉ được dùng để đo mà còn cho chúng ta những đường thẳng thì thước kẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng.

    thước kẻ có rất nhiều công dụng. Vậy nên, chung ta cần phải giữ gìn nó.

    5.Phân tích các bài văn vần ở lớp 1

    * Các bài văn vần ở lớp 1:

    *Phân tích:

    1. Bài “Cái Bống”:

    “Cái Bống là cái bống bang

    Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ bống nấu cơm.

    Mẹ Bống đi chợ đường trơn

    Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng”.

    (Đồng dao)

    -Bài thuộc thể loại: Đồng dao.

    -Nội dung: Nói về sự chăm chỉ của Bống khi giúp đỡ mẹ làm những công việc nhỏ.

    -Biện pháp nghệ thuật:

    +Thể thơ lục bát, gieo vần chân- lưng “bang-sàng” ở câu 1 và 2; “cơm- trơn” ở câu 3 và 4 làm cho bài đồng dao trở nên uyển chuyển, trôi chảy và liên kết với nhau cả về nội dung và hình thức.

    + Sử dụng những từ ngữ bình dị làm cho nhân vật cái Bống trở nên gần gũi, thân thương và sáng lên phẩm chất của một người con hiếu thảo, biết giúp đỡ mẹ nhưng công việc nhỏ.

    – Ý nghĩa: Bài nhắn nhủ chúng ta phải biết hiếu thảo với cha mẹ, biết giúp đỡ mẹ những việc nhỏ.

    2- Bài ” Câu đố”:

    “Con gì bé tí

    Chăm chỉ suốt ngày

    Bay khắp vườn cây

    Tìm hoa gây mật”

    Thể loại: Câu đố

    Nội dung: Câu đố trên nói về một con vật nhỏ bé, chăm chỉ bay đi tìm hoa làm mật nuôi đời. Đó là một chú ong gần gũi với cuộc sống của con người. Câu đố mang một tính chất mua vui, giải trí và nó còn là một trò chơi trí tuệ, Phát triển tư duy con người, đặc biệt là đối với trẻ thơ.

    3- Bài “Hoa sen”:

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.

    Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

    – Thể loại: Ca dao

    – Nội dung: Vẻ đẹp, hương thơm tinh khiết và ý chí mãnh liệt vươn lên từ bùn đất mà không bị bùn lầy hôi tanh. Hoa sen là loài hoa biểu tượng cho đất nước và con người Việt Nam.

    4- Bài “Câu đố”:

    “Nhỏ như cái kẹo

    Dẻo như bánh dày

    Ở đâu dây mực

    Có em sạch ngay.”

    Thể loại: Câu đố.

    Nội dung: Nói về một cái tẩy bút chì với những so sánh và ẩn dụ rất thú vị. Câu đố ngoài giá trị giải trí, mua vui còn phát triển cả trí tuệ cho trẻ.

    V: Diễn kịch “Sơn Tinh- Thủy Tinh

    Phân vai.

    Vua hùng: Vi Trang.

    Hoàng Hậu:Tăng Phương

    Mị Nương: Ngọc Lan

    Sơn Tinh: Vũ Uyên

    Thủy Tinh: Cam Nhất

    Dẫn Truyện: Nguyễn Ngọc

    Người hầu: Ngô Yến

    VI: Ý nghĩa, bài học giáo dục:

    -Làm giàu cho kho tàng văn học Việt Nam.

    -Mang lại giá trị tinh thần lớn cho con người. Nuôi dưỡng tâm hồn người (đặc biệt là đối với tâm hồn trẻ thơ), làm cho tâm hồn con người trở lên phong phú và nhạy cảm.

    -Giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nguồn gốc các truyền thống, các nhân vật lịch sử thông qua các sự tích, truyền thuyết…

    -Qua các tác phẩm VHDGVN, ta thêm yêu và tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc; biết giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc.

    -Các em yêu thích môn văn, TV nói chung và yêu thích các tác phẩm VHDG nói riêng.

    -Các em học tập được các phẩm chất tốt đẹp của các nhân vật trong các tác phẩm VHDG. Từ đó các em biết vận nó vào cuộc sống hàng ngày trong cách giao tiếp ứng xử giữa con người với con người.

    -VHDG mang lại cho chúng ta những giây phút thư giãn, giải trí, mua vui, phát triển tư duy và hoàn thiện nhân cách người.

    -The end-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề
    • I. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN.
      • 1. Văn học dân gian là gì?
      • 2. Về khái niệm folklore:
    • II. ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN:
      • 1. Tính nguyên hợp của văn học dân gian:
      • 2. Tính tập thể của văn học dân gian:
      • 3. Văn học dân gian – một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân:
    • III. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
      • 1. Về chức năng nhận thức:
      • 2. Về chức năng giáo dục:
      • 3. Về chức năng thẩm mĩ:
      • 4. Về chức năng sinh hoạt:
    • III. VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN:
      • 1. Văn học dân gian và văn học thành văn (văn học viết )
      • 2. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết:
    • IV. PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN:
        1. Phân loại văn học dân gian:
    • V.KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC
      • 1. Khoa học về văn học dân gian:
      • 2. Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học:

    I. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN.

    1. Văn học dân gian là gì?

    Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

    Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).

    Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương) bình dân, văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng),văn học (văn chương) đại chúng. Những khái niệm nầy nay không dùng nữa.

    2. Về khái niệm folklore:

    Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau:

    a.Nghĩa rộng: bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture). Theo cách hiểu nầy, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

    b. Nghĩa hẹp: Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố: Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian.

    c. Nghĩa chuyên biệt: folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch chúng tôi tập thể dân chúng sáng tác.Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore – văn hoá văn dân gian.

    II. ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN:

    1. Tính nguyên hợp của văn học dân gian:

    – Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó. Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá. Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lãnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung. Bởi vì đại bộ phận nhân dân, tác giả văn học dân gian, không có điều kiện tham gia vào các lãnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm, tri thức, tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian, một loại nghệ thuật không chuyên.

    – Về loại hình nghệ thuật: Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ: Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…

    – Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba dạng tồn taị: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), tồn taị cố định ( tồn taị bằng văn tự ), tồn taị hiện ( tồn taị thông qua diễn xướng). Tồn taị bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn học dân gian. Tuy nhiên,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường. Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp nầy một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn taị của tính nguyên hợp.

    2. Tính tập thể của văn học dân gian:

    Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian.

    Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm

    Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác( sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác. Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống

    3. Văn học dân gian – một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân:

    Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng.Baì hát ru gắn với việc ru con ngủ- một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội…Từ đặc trưng này mà văn học dân gian có tính đa chức năng, trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt.

    * Đặc trưng của truyền thuyết:

    – Đề tài: lấy từ lịch sử, thường là những vấn đề có tính chất trọng đại

    – Sử dụng nhiêu yếu tố tưởng tượng, hư cấu

    – Nhân vật được xây dựng đơn giản

    – Cốt truyện đơn giản, ít tình tiết.

    * Đặc trưng của cổ tích:

    – Có sự tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câu chuyện.

    – Thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng.

    * Đặc trưng truyện cười:

    – Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian.

    – Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười.

    – Dung lượng ngắn, kết thúc bằng những sự việc bất ngờ.

    – Mang ý nghĩa giáo dục và giải trí.

    * Đặc trưng ca dao:

    – Thể thơ: chủ yếu là thể lục bát.

    – Ngôn ngữ: giản dị, gần gũi với lời nói hàng ngày. Có lối diễn đạt mang tính môtip.

    – Các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa…

    III. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

    1. Về chức năng nhận thức:

    Văn học dân gian được xem như “bộ bách khoa toàn thư về kiến thức, tôn giáo, triết học” của nhân dân. Văn học dân gian gìn giữ và lưu truyền hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tâm linh, kinh nghiệm sống, ứng xử… Văn học dân gian là người thầy lớn đem lại cho nhân loại những bài học sinh động, gần gũi và sâu sắc về mọi phương diện của đời sống.

    2. Về chức năng giáo dục:

    Văn học dân gian có khả năng định hướng đạo đức, luân lí cho con người trong đời sống xã hội. Chức năng này gần gũi và có sự giao thoa với phương diện xã hội của chức năng nhận thức. Tuy nhiên, nếu chức năng nhận thức là sự phản ánh các hiện tượng xã hội một cách khách quan thì chức năng giáo dục lại là sự tác động, ảnh hưởng, chi phối cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến cộng đồng. Có những tác phẩm, nhiều nhất thuộc thể loại hát nói, mang ý nghĩa giáo dục trực tiếp, tức ý nghĩa giáo dục được thể hiện một cách tường minh. Song, phần lớn các sáng tác dân gian chứa đựng ý nghĩa giáo dục hàm ẩn, tức ý nghĩa giáo dục gián tiếp.

    3. Về chức năng thẩm mĩ:

    Văn học dân gian là nghệ thuật, là quan niệm thẩm mĩ của cộng đồng, nó mang vẻ đẹp hồn hậu, giản mộc của nhân dân. Mang bản chất nguyên hợp, văn học dân gian chỉ thực sự phô diễn vẻ đẹp của mình khi sống trong môi trường nảy sinh và tồn tại, tức thành phần nghệ thuật ngôn từ phải được kết nối với thành phần nghệ thuật âm nhạc, vũ đạo trong môi trường diễn xướng.

    4. Về chức năng sinh hoạt:

    Khác với văn học viết, văn học dân gian ra đời và trở thành một bộ phận hữu cơ trong môi trường sinh hoạt và lao động của nhân dân. Văn học dân gian gắn bó mật thiết với cuộc đời mỗi người xuyên suốt “từ chiếc nôi ra tới nấm mồ”. Môi trường và thói quen sinh hoạt của nhân dân là điều kiện quan trọng cho văn học dân gian hình thành và phát triển.

    III. VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN:

    1. Văn học dân gian và văn học thành văn (văn học viết )

    Ðiểm chung: Văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Từ điểm chung nầy mà khoa học về văn học dân gian có thể sử dụng những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian ở một mức độ nào đó. Chẳng hạn, có thể miêu tả các thành phần của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc…

    Những đặc trưng loại biệt của văn học dân gian so với văn học viết:

    + Văn học dân gian là sáng tác tập thể. (văn học viết là sáng tác của cá nhân)

    + Văn học dân gian chỉ tồn tại thực tế khi diễn xướng nên có khả năng biến đổi, do vậy, nó có các dị bản. (văn học viết cố định trong văn bản và chỉ có một bản duy nhất)

    + Văn học dân gian là thành phần hữu cơ của các hình thức sinh hoạt của nhân dân.

    2. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết:

    Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc.Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học nầy bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết

    Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật.Ví dụ: Truyền thuyết Thánh Gióngđã mở đầu cho dòng văn học yêu nước, chống xâm lược trong nền văn học dân tộc. Thể thơ lục bát, thể thơ được thi hào Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, bắt nguồn từ bộ phận văn vần dân gian…

    Văn học viết cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện. Chẳng hạn, tác giả dân gian đã đưa những chất liệu văn học viết vào ca dao ( những nhân vật trong Truyện Kiều, Lục Vân Tiên …)

    Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Có thể nói, mảng truyện thơ Nôm khuyết danh là sự gặp gỡ của hai bộ phận văn học dân tộc.

    IV. PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN:

    1. Phân loại văn học dân gian:

    Khung phân loại văn học dân gian gồm 3 cấp cơ bản: Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra, giữa loại và thể loại còn có cấp trung gian là nhóm thể loại.

    a. Loại tự sự:

    a.1. Văn xuôi tự sư û: Thần thọai, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

    a.2. Thơ ca tự sự: Sử thi, các loại vè, truyện thơ.

    a.3. Câu nói vần ve ì: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

    b.1. Thơ ca trữ tình nghi lễ:- Bài ca nghi lễ lao động.- Bài ca nghi lễ sinh hoạt.- Bài ca nghi lễ tế thần

    b.2. Thơ ca trữ tình phi nghi lễ:- Bài ca lao động.- Bài ca ù sinh hoạt.- Bài ca ù giao duyên.

    Bao gồm ca kịch và trò diễn dân gian: chèo sân đình, tuồng đồ, những trò diễn có tích truyện.

    2. Hệ thống thể loại:

    Hệ thống thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể. Ðây là một hệ thống chịu sự chi phối của mỹ học dân gian để cho các tác phẩm thuộc mọi thể loại của nó đều mang ” tính dân gian “. Mặt khác, giữa các thể loại của hệ thống lại có quan hệ với nhau.

    V.KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC

    1. Khoa học về văn học dân gian:

    Khoa học về văn học dân gian nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, sinh hoạt văn học dân gian, tác giả và công chúng văn học dân gian. Trong đó, tác phẩm văn học dân gian là đối tượng chính. Tác phẩm văn học dân gian ở đây là một chỉnh thể gồm lời, nhạc, điệu bộ…Khoa nghiên cứu văn học dân gianï gồm các phân môn sau:Lý luận văn học dân gian, Lịch sử văn học dân gian, Phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian.Và bộ phận đặc thù là công tác sưu tầm văn học dân gian.

    2. Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học:

    Văn học dân gian, một thành tố của văn hóa dân gian là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học. Nhiều thể loại văn học dân gian phát sinh từ xã hội công xã nguyên thủy và ngay cả văn học dân gian ở các giai đoạn phát triển sau này luôn bị quy định bởi các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian. Do vậy cần dựa vào dân tộc học để nghiên cứu. Chẳng hạn truyện Sao Hôm, sao Mai, Sự tích trầu cau là tiếng vọng xa xôi của chế độ quần hôn trong xã hội công xã thị tộc đồng thời chúng cũng cho thấy chế độ phụ quyền với vị trí của người con trưởng được khẳng định

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Giới Thiệu Vị Trí, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Trạm Chăn Nuôi Và Thú Y Các Huyện, Thành Phố Thuộc Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Hòa Bình
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Y Tế Huyện Lộc Ninh
  • Nhận Thức Trong Văn Học Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học
  • Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Bản chất nhận thức của văn học đã được biết đến từ lâu. Hễ nói đến văn học là người ta không quên nói tới các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ.Lí luận văn học ngày nay đã đặt đúng vị trí thẩm mĩ lên hàng đầu, song bản chất nhận thức của văn học vẫn là điều khẳng định. Vấn đề là cần xác định bản chất ấy như thế nào cho phù hợp với đặc trưng của văn học.

    Nghiên cứu bản chất nhận thức của văn học, theo chúng tôi, nhất thiết đòi hỏi phải chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học, phải giải thích cái lô gích vì sao nhận thức trong văn học lại cho phép nhà văn hư cấu và gắn liền với lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống cũng như tình cảm chủ quan của chủ thể nhận thức và sáng tạo, những điều mà nhận thức khoa học nói chung không chấp nhận.

    Câu trả lời thiết nghĩ, có thể tìm thấy ở gợi ý ban đầu của Aristote từ trong sách Thi pháp học (Nghệ thuật thơ ca) của ông viết cách đây 2300 năm trước công nguyên. Nói về nhiệm vụ của nhà thơ ông viết: “Nhiệm vụ của nhà thơ không phải ở chỗ nói về các sự việc đã thực sự xảy ra, mà là nói về cái có thể xảy ra theo quy luật xác suất hay quy luật tất nhiên… Nhà sử học nói về những điều đã xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra. Vậy nên thơ ca có ý vị triết học và nghiêm chỉnh hơn lịch sử, vì thơ ca nói về cái chung mà lịch sử lại nói về cái cá biệt” (1). Aristote đã nêu ra sự phân biệt rất quan trọng: lịch sử – lĩnh vực của cái đã xảy ra, còn thơ ca (văn học) – lĩnh vực của cái có thể xảy ra theo quy luật xác suất hay tất yếu. Sự phân biệt này cho ta thấy hai điểm. Một là không nên hiểu tư tưởng văn học của Aristote một cách giản đơn thô thiển chỉ là sự mô phỏng – bắt chước – sao chép cuộc sống đã có như lâu nay nhiều người vẫn hiểu. Điều này nhà triết học Nga A. F. Losev đã phân tích rõ trong công trình của ông về triết học cổ Hi Lạp(2). Hai là Aristote cho thấy lĩnh vực quan tâm của văn học không phải là hiện thực đã và đang tồn tại, mà là lĩnh vực của những cái có thể xảy ra. Theo chúng tôi, đó là một tư tưởng rất sâu sắc, có thể lấy làm điểm xuất phát để tìm hiểu đặc trưng nhận thức của văn học.

    Triết học duy vật biện chứng từ lâu cho thấy, hiện thực và khả năng là một cặp phạm trù của sự thống nhất đối lập, chuyển hoá cho nhau. Từ điển triết học của Rodental chủ biên, viết: “Hiện thực là bất cứ khách thể nào (sự vật, trạng thái, tình huống) đã tồn tại với tính cách là kết quả của một khả năng nào đó”. “Khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển khách quan nằm trong những hiện tượng đang tồn tại”(3). Khả năng tiềm tàng trong hiện thực (tiềm lực), và trong những điều kiện nhất định nó có thể chuyển hoá thành hiện thực, song không thể gọi khả năng là hiện thực, bởi vì cái gì là khả năng thì không phải là hiện thực và ngược lại cũng vậy, cái gì đã là hiện thực thì không còn là khả năng. Như thế, có thể nói, theo Aristote thì văn học không phản ánh hiện thực, mà chỉ là sự tư duy về những khả năng của hiện thực, hoặc nói theo lối đã quen, văn học chỉ phản ánh các khả năng của hiện thực.

    Kiến giải của Aristote buộc ta phải suy nghĩ tới phạm trù khả năng trong triết học, và mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cái khả năng. Mặc dù mọi lĩnh vực kiến thức của con người đều có phần khám phá cái khả năng, song muốn hiểu bản chất của văn học không thể không nghiên cứu nội dung, đặc điểm của phạm trù quan trọng này. Điều đáng tiếc là phạm trù này cho đến nay trong phạm vi triết học thường chưa được phát triển đúng mức phải có. Trong khi nhấn mạnh tới sự thống nhất mâu thuẫn của chúng, người ta phân biệt “khả năng thực tế” với “khả năng trừu tượng” và quan tâm trước hết đến khả năng thực tế, còn khả năng trừu tượng (khả năng hình thức), những khả năng không có điều kiện chuyển hoá thành hiện thực trong thực tế, những khả năng đã mất thì ít có ý nghĩa và dĩ nhiên là không được quan tâm. Như thế, văn học, nhất là văn học hiện thực chủ nghĩa, theo lí thuyết nói trên, chỉ quan tâm đến hiện thực với các khả năng thực tế mà thôi. Thực ra điều đó không hoàn toàn đúng. Đối với nhu cầu sáng tạo và đời sống tinh thần của con người thì cái khả năng là quan trọng nhất, bất kì là khả năng nào. Con người khác con vật ở chỗ biết sáng tạo ra của cải vật chất, biến đổi tự nhiên và biến đổi cả bản thân mình, do đó ngoài thực tại ra, mọi cái khả năng đối với nó đều có ý nghĩa sống còn, bởi có khả năng là có viễn cảnh, có đổi thay, có chân trời. Mọi khả năng của hiện thực, dù là khả năng trừu tượng, thậm chí khả năng khó tin như người lấy tiên, người lấy ma, người chết sống lại… đều có tác dụng mở rộng không gian nhận thức thế giới, nhận thức hiện tại. Nhà triết học Đức M. Heidegger cho rằng thơ sáng tạo tồn tại, thơ nói về cái “vô”. “Vô” không phải là không có gì mà là vô hạn. Vô hạn là trạng thái tự do vượt lên cái hữu hạn, mà trạng thái ấy chỉ có thể có trong thế giới tinh thần. Vì thế theo Haidegger thơ không phải là đồ trang sức bề ngoài, không phải cảm xúc, tình cảm nhất thời, không phải thứ tiêu khiển, mà là một nền tảng được hun đúc của lịch sử. Ông nói con người “tràn đầy thành quả lao động, nhưng vẫn ngự trị trên mặt đất một cách thi vị” (4). Cái thi vị ở đây là sự tồn tại hướng tới cái vô hạn. Hiểu như vậy, cái khả năng đáp ứng được nhu cầu vươn lên cái vô hạn của con người, cho nên nó trở thành đối tượng của văn học.

    Thật vậy, nếu hiện thực là sự thực hiện của một trong những khả năng của hiện thực, thì nó luôn luôn là hữu hạn, còn khả năng là vô hạn. Hiện thực gồm tất cả những cái đang có trong hiện tại hữu hạn. Trái lại khả năng là vô hạn. Bởi cái hiện thực có thể có khả năng là không hiện thực. Cái khả năng cũng có thể là cái không có khả năng. Cái tất yếu cũng có thể không tác động mà bị chi phối bởi cái ngẫu nhiên. Cái hiện thực đã thành quá khứ cũng hàm chứa nhiều khả năng. Đằng sau mỗi cái dĩ nhiên đã thành quá khứ có vô vàn cái khả năng đã không còn cơ hội trở thành hiện thực. Nhưng những khả năng đã mất, không còn hiệu lực thực tế ấy vẫn còn ý nghĩa như là những bài học cho tương lai. Con người vẫn thường nhớ và hối tiếc những việc đã qua. Ấy là hối tiếc những khả năng tốt đẹp đã bị phí hoài, những cơ hội nghìn năm đã ra đi không trở lại. Nhà lí luận văn học Nga Iu. Lotman khi bàn về lịch sử đã nói rất chí lí: “Lịch sử chỉ là một trong vô vàn con đường có thể đi. Mỗi con đường đã đi đồng thời là một sự đánh mất các con đường khác” (5). Những khả năng đã mất không phải là vô nghĩa đối với cuộc sống con người, chúng vẫn tiếp tục là đề tài bàn luận, suy nghĩ để lựa chọn con đường tối ưu cho cuộc đời. Và bên trong mỗi cái hiện thực đang tồn tại lại có vô vàn khả năng có thể xảy ra mà không phải bao giờ con người cũng nắm bắt được hết. Đồng thời cùng với một khả năng có thể xảy ra lại có vô vàn khả năng đa dạng, đa chiều có thể xảy ra tiếp sau đó. Các khả năng trừu tượng, phi lí cũng không phải là vô nghĩa. Chúng mở rộng tư duy để hiểu những khả năng, giống như cái ảo giúp hiểu thêm cái thực, cái âm giúp hiểu thêm cái dương! Khả năng luôn luôn phong phú hơn hiện thực và chính nó mở rộng không gian cho tư duy, cho lựa chọn và cho phát triển. Trong triết học chúng ta thường đánh giá rất cao cái tất yếu. Lịch sử chỉ phát triển theo cái tất yếu và theo triết học mác xít, con người chỉ có được tự do khi nhận thức được cái tất yếu ấy. Nhưng khoa học tự nhiên hiện đại đã cho thấy một bức tranh khác. Theo nhà vật lí Prigoring “Các quá trình được dự báo vận động theo các quy luật đã tính trước. Rồi sau đó xuất hiện cái điểm, khi sự vận động đạt đến chỗ không thể dự báo, và đó là chỗ giao nhau của ít nhất là hai, mà thực tế là của vô vàn con đường. Nếu trước đó chúng ta cho rằng có thể tính được xác suất gặp một đường nào đó, nhưng chính ở đó, theo Prigoring, tính xác suất không tác động, mà lại do cái ngẫu nhiên tác động”(6). Nhưng ở đâu có cái ngẫu nhiên tác động thì ở đó có không gian của những cái khả năng mà con người không thể lường trước được.

    Khả năng là khuynh hướng, xu thế chuyển biến, vận động, phát triển của hiện thực, là viễn cảnh của tồn tại con người. Con người sẽ ra sao, cuộc sống sẽ ra sao, xã hội sẽ về đâu,… những câu hỏi lớn về hiện tại và tương lai đặt ra từ thời xa xưa mà tôn giáo, triết học và nghệ thuật đều có sứ mệnh trả lời cho mỗi người. Các khả năng, do vậy làm thành đối tượng nhận thức cao nhất của con người. Nhận thức khoa học lịch sử xét cho cùng cũng là nhằm dự báo khả năng cho tương lai.

    Nghệ thuật là sáng tạo những thế giới tưởng tượng không có thực, nhằm thể hiện quan niệm nhà văn về cuộc sống, thể hiện những ý nghĩa của hiện thực được nhà văn phát hiện. Tính chất của cái khả nhiên cho phép nghệ thuật có thể tưởng tượng, hư cấu, tạo ra những những thế giới chưa từng có. Các hình tượng văn học kiệt xuất xưa nay, Hămlet, Đôn Kihôtê, Gia Cát Lượng, Quan Vũ, A Q, Kiều, Chí Phèo, Lão Hạc, Xuân Tóc Đỏ… đều thế. Hiện thực với tư cách là sự thực hiện của những khả năng, nó là sự thật, là vật chất, nó có tính ngoan cố không cho phép ai có thể bóp méo, cắt rời, nhào nặn để sáng tạo nên bất cứ hình tượng nào. Bởi như thế là bóp méo, xuyên tạc thực tế. Khi người ta nói nhào nặn chất liệu của hiện thực để sáng tạo nghệ thuật, thì thực chất là nói về việc nhào nặn chất liệu có tính khả năng, chứ không phải nhào nặn hiện thực như nó vốn có. Chỉ có tính khả năng là cái có tính mềm dẻo, tính co dãn cho phép có thể nhào nặn để làm nên sản phẩm mới bằng hư cấu, tưởng tượng.

    Cái khả năng còn cho phép người ta được tự do lựa chọn những yếu tố phù hợp với lí tưởng và thị hiếu thẩm mĩ nhằm thể hiện quan niệm sống của mình. Khả năng khi đang là những khuynh hướng tiềm tàng trong hiện thực, nếu không có con người biết phát hiện ra thì nó vẫn chìm khuất trong thực tế. Khả năng là phương diện dành riêng cho con người tự do phát hiện và gắn liền với tính tích cực tư duy, sáng tạo của nó. Ở đây cái khả năng cho phép thống nhất các hiện tượng đời sống với lí tưởng và sáng tạo, thống nhất cái khả nhiên với cái thẩm mĩ. Do thế cái khả năng mới là đối tượng đặc thù của nhận thức văn học.

    Cái khả năng với tính chất của nó có thể tác động đến tư tưởng, tình cảm con người rất mãnh liệt. Chẳng hạn khả năng trừng phạt là một nhân tố ngăn ngừa tội phạm mạnh hơn là sự trừng phạt tàn khốc thực tế. Khả năng về sự khổ cực, nghèo túng, đói kém, bệnh tật, khả năng bị khinh bỉ, chê cười thường làm nảy sinh niềm sợ hãi nhiều hơn là các trạng thái đó trong thực tế. Sợ hãi là chức năng của cái khả năng đau đớn hay mất mát cũng giống như mong muốn là chức năng của các khả năng hưởng thụ. Nhà lí luận văn học Nga M. Epstein trong Triết học về cái khả năng nhận xét: “Nói chung, nếu chúng ta nhớ lại lịch sử, thì cái khả năng cũng có ảnh hưởng đến hành vi và tình cảm con người không ít hơn cái hiện thực. Cái tiềm năng có sức tác động mạnh mẽ khi nó vẫn là tiềm năng, có thể nói là tác động đến con người một cách “phi hiện thực”. Niềm tin và sự nghi ngờ, niềm khát khao và nỗi sợ hãi, hi vọng và thất vọng, sự dũng cảm và sự hèn nhát, sự thánh thiện và sự điên cuồng và những trạng thái cảm xúc hay đạo đức thường được gợi lên không phải bằng tình trạng thực tế của sự vật mà là bằng cái khả năng của chúng. Đó là khả năng Chúa còn hay là không, khả năng tôi được cứu hay là bị hại.”(7) Cả dân tộc Việt đi vào hai cuộc kháng chiến không cân sức bằng niềm tin vào khả năng chiến thắng chứ không phải chỉ bằng hiện thực khổ đau. Văn học phản ánh sâu sắc cái khả năng chính là do cội nguồn tác động lớn lao của cái khả năng đối với đời sống con người. Dù kết thúc có hậu hay kết thúc bi kịch văn học đều đặt con người đứng trước sự thể nghiệm, suy tư và lựa chọn về khả năng.

    Tất nhiên, văn học không giản đơn chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực. Làm như thế văn học sẽ chẳng khác gì chính trị, tương lai học, xã hội học… Mọi người đều biết, tư duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó. Như thế, chỉ nói đến khả năng là chưa đủ. Điểm đặc thù của văn học còn là sáng tạo những cái khả nhiên của đời sống. “Cái khả năng” mà Aristote nói đến trong bản dịch tiếng Việt nêu trên, theo Chu Quang Tiềm, có thể dịch là “cái khả nhiên”, nghĩa là “cái có thể như thế”. Hiện thực tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái đã có như thế) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải như thế). Chỉ có trong văn học cái khả năng đã chuyển hoá thành cái khả nhiên do nhà văn sáng tạo dưới dạng hình tượng nghệ thuật. Mọi tác phẩm văn học hư cấu – mọi hình tượng nghệ thuật có giá trị của nhân loại xưa nay thực chất đều là những cái khả nhiên như vậy. Một hình tượng người nông dân (như chị Dậu, anh Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố) hay hình tượng Bác Hồ (chẳng hạn trong thơ Tố Hữu, Minh Huệ, Chế Lan Viên…) đều là những cái khả nhiên trong cảm thụ của tác giả. Không có cái khả nhiên duy nhất. Hình tượng văn học với tư cách là cái khả nhiên còn giàu tính khả năng hơn nữa, bởi ở đây còn có tính khả năng của sức tưởng tượng mang tính cá thể của nhà văn.

    Vậy cái khả nhiên văn học có giá trị nhận thức như thế nào? Về mặt này văn học có đặc điểm nhận thức gần gủi với triết học. Nhà triết học Bertrand Russell trong chương “Giá trị của triết học” trong sách Những vấn đề triết học (1912) đã viết: “Mặc dù triết học không thể nói với ta một cách chắc chắn câu trả lời chân lí đối với các mối nghi ngờ do triết học gợi lên thì nó cũng có thể đề xuất với ta nhiều khả năng, những khả năng ấy mở rộng tư tưởng của ta và giải phóng ta khỏi sự chuyên chế của cái thói quen. Bằng cách đó, trong khi giảm bớt tình cảm tin cậy của ta đối với trạng thái sự vật như chúng đang có, triết học tăng cường mạnh mẽ tri thức của ta về những trạng thái mà chúng có thể xuất hiện…, nó đánh thức sự kinh ngạc của ta bằng cách cho thấy những sự vật quen thuộc qua các bình diện khác lạ. Cần nghiên cứu triết học không phải nhằm để đưa ra các câu trả lời xác định đối với các câu hỏi, bởi vì thông thường, không có câu trả lời xác định nào có thể được coi là chân lí, mà là vì bản thân các câu hỏi, bởi các câu hỏi đó mở rộng quan niệm của ta về những gì có thể có, chúng làm phong phú sức tưởng tượng trí tuệ của ta.”(8) Có thể nghĩ rằng, kiến giải của nhà triết học về triết học cũng hoàn toàn phù hợp với bản chất của văn học. Chúng ta không thể nói một cách chắc chắn hoàn toàn những gì văn học biểu hiện là chân lí, bởi đó là nhận thức của nhà văn trong những hoàn cảnh nhất định dưới hình thức hư cấu với rất nhiều ngẫu nhiên. Nhưng ta có thể nói đó là những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống, giải thoát con người khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn bề ngoài, kích thích sự chú ý đến mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời. Nhưng đồng thời nhận thức văn học khác xa triết học, bởi nhà văn không chỉ khái quát những khả năng mà còn sáng tạo cái khả nhiên, là cái có gía trị thẩm mĩ ở chỗ nó gây khoái cảm cho con người, kích thích và mài sắc không chỉ là tư duy, mà còn mài sắc cảm giác con người về sự đa dạng và khác lạ bất tận của cuộc đời, nuôi dưỡng tình cảm và sự đánh giá có tính nhân văn đối với mọi biến đổi của đời sống. Văn học khác hẳn khoa học vì khoa học chủ yếu nhận thức cái quy luật, cái tất yếu, cái dĩ nhiên của hiện thực dưới hình thức khái niệm, phạm trù, công thức trừu tượng.

    Nhìn nhận văn học từ phạm trù cái khả nhiên giúp chúng ta có cơ sở để hiểu chức năng nhận thức đặc thù của nó, nhìn thấy cơ chế bên trong của sự phản ánh thẩm mĩ và do đó có cơ sở đánh giá đúng đắn đối với văn học.

    Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 231 – 05 – 2008

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Và Hiện Thực Trong Lý Thuyết Ký Hiệu Học Văn Hóa
  • Vấn Đề Tính Chân Thực Trong Phản Ánh Hiện Thực Của Văn Học
  • Hội Nghị “tổng Kết Công Tác Năm 2022 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022” Của Trung Tâm Hỗ Trợ Sáng Tác Văn Học Nghệ Thuật
  • Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Nếu trước đây, nhà phê bình văn học giữ vai trò làm cầu nối giữa sách và người đọc, họ đầy thẩm quyền, gần như độc quyền thì nay công việc, chức năng này đã bị giảm trừ, san sẻ dần cho nhiều chủ thể chuyên trách khác. Điều này khiến chúng ta phải đặt lại, nhìn nhận lại cho đúng vấn đề nghiệp dư và chuyên nghiệp trong phê bình văn học.

    Nhân viên PR trong các công ty sách

    * Một công ty sách khác, tuyển nhân viên PR mảng sách văn học Trung Quốc thông báo thế này. Thời gian làm việc: toàn thời gian. Mô tả công việc: tham gia xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty; quản lý và triển khai các kế hoạch truyền thông trên mạng xã hội, diễn đàn, báo điện tử, báo giấy; triển khai các công việc: quan hệ với báo chí, viết và xuất bản (thông cáo báo chí, tin, bài về các sản phẩm của công ty); đề xuất ý tưởng PR, Marketing trên các kênh truyền thông; quản trị nội dung website và các kênh truyền thông khác của công ty: phát triển nội dung, viết tin bài… Yêu cầu chung: Tốt nghiệp các chuyên ngành Marketing, Quan hệ công chúng, Báo chí, Văn học, Ngoại ngữ … (tiếng Trung). Trình độ CĐ trở lên; Am hiểu về truyền thông, marketing online và các công cụ truyền thông… ; Biết tiếng Trung (yêu cầu bắt buộc), Sử dụng thành thạo máy tính, Internet…; Tác phong trẻ trung, sôi nổi; Có khả năng cảm thụ văn học, có phông kiến thức xã hội rộng; nếu đã từng có bài đăng trên các báo, tạp chí… trong nước là một ưu thế; Có khả năng sắp xếp công việc một cách khoa học, làm việc nhóm và làm việc độc lập; Hoà nhã, thân thiện, không nói ngọng, năng động, sáng tạo, chịu được sức ép công việc; Ưu tiên: Hiểu biết về thị trường sách và có định hướng gắn bó lâu dài với ngành xuất bản;

    Tựu trung, đối với PR, “phê bình như một công nghệ”. PR đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao. Phê bình PR – phê bình truyền thông cũng là một kiểu phê bình chuyên nghiệp trong thời đại ngày nay; tất nhiên so với các loại phê bình khác, nó chuyên nghiệp theo những vai trò, chức năng, mục đích, nhiệm vụ riêng của nó. Điều đáng nói là cách đối xử hiện nay của các nhà phê bình hàn lâm, phê bình đại học, phê bình chính trị đối với hoạt động PR, phê bình truyền thông còn thiên về chê trách, phủ nhận. Sau khi nhà văn đặt dấu chấm kết thúc văn bản, đưa đi xuất bản, phát hành thì tác phẩm đó sẽ có đời sống riêng, chịu sự phối của những quy luật riêng của tiếp nhận, kinh tế thị trường. Do đó, nên nhìn nhận văn học như một hàng hóa, và cùng với nó các là dịch vụ, các cách thức truyền thông, quảng bá sản phẩm, thương hiệu. Chuyện PR là chuyện chiến lược kinh doanh của các công ty, nó cần thiết, cần được tôn trọng cho dù nó nặng về tính thương mại, cho dù họ đề cao tác phẩm này và bỏ qua tác phẩm kia (khác hẳn với mong đợi của người viết, nhà phê bình hàn lâm….), điều này là tất yếu, dễ hiểu trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, không có gì đáng chê trách. Kinh doanh là câu chuyện hoàn toàn khác với câu chuyện lý thuyết phê bình, học thuật. Ngay cả đối với các loại phê bình khác như phê bình hàn lâm, phê bình đại học, phê bình chính trị, người đọc vẫn luôn cần trở thành “người tiêu dùng thông thái”.

    Các tác giả tự PR tác phẩm

    Trong thời đại bùng nổ thông tin, các sản phẩm sách đa dạng, phong phú bề bộn như ngày nay, bất kỳ nhà văn nào nếu chưa có thương hiệu, chưa có tên tuổi được thời gian đảm bảo, nhất là các tác giả trẻ nếu không biết cách đánh dấu sản phẩm của mình, và phải liên tục gây được sự chú ý đối với công chúng thì sản phẩm ấy có thể không được ai biết đến, nhanh chóng bị chìm khuất, lãng quên ngay khi sau khi ra đời.

    Giai đoạn trước, việc giới thiệu sách chủ yếu được tiền hành theo kiểu: tác giả có sách in, tặng sách trước cho một số tác giả có tiếng hoặc thân gần (sáng tác, phê bình, nhà báo, dịch giả…), rồi nhờ họ viết bài, phát biểu ý kiến về tác phẩm đó khi ra mắt sách. Buổi ra mắt sách trở thành buổi phê bình sách, đánh giá, khen chê, chia sẻ, kể chuyện, trao đổi thông tin… Lúc này, nhà văn vẫn gắn bó với nhà phê bình đủ kiểu, vẫn tấn phong cho bất kỳ ai đến dự có ý kiến phát biểu là các nhà này, nhà nọ để làm sang trọng buổi ra mắt sách, và quan trọng hơn, là để đảm bảo cho các thông tin về sách, các giá trị của sách. Nhưng bây giờ, thời thế có khác, kĩ năng giới thiệu sách cũng khác: người viết có thể chọn cách sân khấu hóa sáng tác, để tổ chức thành công cuộc trình diễn tác phẩm họ cần đến nhiều người trong cuộc (người sáng tác), các nghệ sĩ hơn nhà phê bình văn học; họ chủ động làm ra “đời sống tác phẩm” lần thứ 2, làm nhà bình sách cho mình, làm cầu nối trung gian giữa sách và công chúng văn học, làm cả vai trò bán sách; đầu tư cho một buổi ra mắt sách cũng tăng cao hơn, cả về thời gian, lực lượng, công sức và kinh phí. Một MC của chương trình trình diễn văn chương gần đây khẳng định với công chúng rằng: phần trình diễn “không giới thiệu nhiều về tác giả tác phẩm mà có sự tham gia tích cực, trực tiếp của tác giả sẽ là một cách đọc, cách cảm độc đáo dành cho những độc giả”. Trình diễn là một cách đọc, diễn giải tác phẩm (phê bình), đọc không chỉ còn là đọc trên giấy mà đọc trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin điện tử, đọc trên sân khấu chuyên nghiệp. Một số tác giả khác thì mời chủ nhân các blog, website có lượng truy cập cao tham gia giới thiệu sách, mục đích chính vẫn là để việc quảng bá sách lan tỏa rộng hơn, tranh thủ được thêm các fan, đạt hiệu quả cao hơn trong xây dựng thương hiệu.

    Nói chung, chính sự phát triển của nhiều chiêu thức PR mới, sự xuất hiện của các website, blog, faceboook, như là các không gian văn hóa/xã hội mới, sự xuất hiện của đội ngũ người viết truyền thông đông đảo nhạy cảm với các yếu tố thị trường đã dần dần đánh bật nhiều nhà phê bình có tuổi thủ cựu ra khỏi sân chơi văn hóa hiện đại. Vai trò định hướng, làm cầu nối trung gian của nhà phê bình thế hệ trước giảm đi rất nhiều. Sách và nhà văn có thêm nhiều con đường để tiếp cận với độc giả.

    Nguồn: Toquoc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học
  • Văn Học Dân Gian Van Hoc Dg Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Kiểu Nhân Vật Trong Truyện Dân Gian Ở Chương Trình Ngữ Văn Thcs
  • Dạy Học Sử Thi Dân Gian Theo Chức Năng Nhân Vật Dungvan Doc
  • Kiểu Nhân Vật Trong Vhdg
  • Văn Học Trẻ: Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Ở Đâu?
  • Tính Giải Trí Có Cần Thiết Cho Văn Học?
  • 3.2-Tính dị bản thể hiện ở chỗ trong quá trình tiếp ứng sáng tác tác phẩm VHDG ngày càng xuất hiện hiện nhiều văn bản khác so với bản gốc ban đầu. Tính dị bản làm cho VHDG không nhất thành bất biến do đó dễ thích ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của nhân dân từng địa phương, các thời kỳ lịch sử cụ thể ( Phong tục tập quán,địa danh, ngôn từ).

    Vd : “Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia ai bới, ai đào mà sâu” (Lưu truyền ở nhiều địa phương)

    “Non Hồng ai đắp mà cao

    Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu” (Lưu truyền ở Nghệ Tĩnh)

    4.1- Tính quốc tế (Hay tính nhân loại) là những điểm tương đồng gần gũi của VHDG các dân tộc khác nhau trên thế giới. Tính quốc tế thể hiện trên nhiều phương diện: Nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, hệ thống đề tài, đặc trưng thể loại, thi pháp , tư duy nghệ thuật tạo nên những môtýp ổn định tong sáng tác VHDG trên toàn thế giới

    + Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng (Việt)

    + To sell the bear’s skin before one has caught the bear (Anh)

    4.2- Bên cạnh tính quốc tế (Motýp, kiểu truyện giống nhau) tác phẩm VHDG của mỗi dân tộc lại chứa đựng những đặc điểm riêng in đậm dấu ấn tâm lý, phong tục tập quán, bản sắc riêng của từng cộng đông dân tộc.

    Vd: Tấm Cám khác với Lọ lem của Pháp, Bạch Tuyết với bảy chú lùn của Đức

    1.1-VHDG Việt Nam là nền văn học đa sắc tộc, bao gồm toàn bộ những sáng tác ngôn từ truyền miệng của nhân dân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam . Hiện nay cộng đồng dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc đều có sáng tác VHDG độc đáo riêng về nội dung và hình thức nghệ thuật.

    1.3-VHDG người Việt có số lượng tham gia sáng tác và lưu truyền đông , lịch sử phát triển dài, địa bàn phát triển rộng, sự giao lưu văn hóa với các dân tộc lâu đời nên có nhiều thành tựu và được coi là dòng chủ lưu của VHDG V iệt Nam . VHDG các dân tộc thiểu số những năm gần đây đã được sưu tầm nghiên cứu tạo nên kho tàng quý giá, phong phú đa dạng và có nhiều tác phẩm đặc sắc .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dẫn Chứng Cho Nghị Luận Xã Hội
  • Văn Học Việt Nam 1975
  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay
  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Phát Huy Đầy Đủ Chức Năng Xã Hội Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Bài tập minh họa

    Đề: Nêu các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam? Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam? Những giá trị cơ bản của văn học dân gian

    Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

    • Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. Thực chất của quá trình truyền miệng là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng miệng cho người khác. Văn học dân gian khi được phổ biến lại, đã thông qua lăng kính chủ quan (bộ não người) nên thường được sáng tạo thêm. Văn học dân gian thường được truyền miệng theo không gian (từ vùng này qua vùng khác), hoặc theo thời gian (từ đời trước đến đời sau).
    • Quá trình truyền miệng thường được thực hiện thông qua diễn xướng – tức là hình thức trình bày tác phẩm một cách tổng hợp (nói, hát, kể).
    • Văn học dân gian là kết quả của những quá trình sáng tác tập thể.
    • Tập thể là tất cả mọi người, ai cũng có thể tham gia sáng tác. Nhưng quá trình này, lúc đầu do một người khởi xướng lên, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận. Sau đó những người khác (địa phương khác, thời đại khác) tham gia sửa chữa, bổ sung cho tác phẩm biến đổi dần. Quá trình bổ sung này thường làm cho tác phẩm phong phú hơn, hoàn thiện hơn.
    • Mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sáng tác này ở những thời điểm khác nhau. Nhưng vì truyền miệng nên lâu ngày, người ta không nhớ được và cũng không cần nhớ ai là tác giả. Tác phẩm dân gian vì thế đã trở thành của chung, ai cũng có thể tùy ý thêm bớt, sửa chữa.
    • Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.
    • Sinh hoạt cộng đồng là những sinh hoạt chung của nhiều người như lao động tập thể, vui chơi ca hát tập thể, hội hè… Trong những sinh hoạt này, tác phẩm văn học dân gian thường đóng vai trò phối hợp hoạt động, tạo nhịp điệu cho hoạt động (những bài hò : hò chèo thuyền, hò đánh cá,…). Không những thế, văn học dân gian còn gây không khí để kích thích hoạt động, gợi cảm hứng cho ngừi trong cuộc (ví dụ những câu chuyện cười được kể trong lao động giúp tạo ra sự sảng khoái, giảm bớt sự mệt nhọc trong công việc).
    • Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam
    • Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ, chèo,
    • Những giá trị cơ bản của văn học dân gian
      • Văn học dân gian là kho trí thức vô cùng phong phú về đời sống của các dân tộc (kho trí khôn của nhân dân về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội, con người). Kho tri thức này phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân ta đúc kết từ thực tế. Vào trong các tác phẩm, nó được mã hoá bằng những ngôn từ và hình tượng nghệ thuật tạo ra sức hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu và có sức sống lâu bền cùng năm tháng.
      • Văn học dân gian ngợi ca, tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con người. Vì thế, nó có giá trị giáo dục sâu sắc về truyền thống dân tộc (truyền thống yêu nước, đức kiên trung, lòng vị tha, lòng nhân đạp, tinh thần đấu tranh chống cái ác, cái xấu,…). Văn học dân gian cũng vì thế mà góp phần hình thành những giá trị tốt đẹp cho các thế hệ xưa và nay.
      • Văn học dân gian có giá trị to lớn về nghệ thuật. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân nước nhà. Nó đã trở thành những mẫu mực để đời sau học tập. Nó là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100