Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ,quyền Hạn Của Ubnd Xã
  • Tìm Kiếm Và Thay Thế Trong Microsoft Word
  • Usb Type C Là Gì? Có Giúp Sạc Và Truyền Dữ Liệu Nhanh Hơn Không?
  • Các Cổng Kết Nối Trên Điện Thoại
  • Usb Wifi Là Gì? Chức Năng Của Usb Wifi Có Gì Đặc Biệt?
  • 48973

    Chức năng của mỗi bộ môn khoa học được phản ánh một cách phong phú ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học ấy với hoạt động thực tiễn xã hội. Người ta căn cứ vào nhu cầu của xã hội trong sự nhận thức và tác động đến thực tiễn xã hội để xác định chức năng của một môn khoa học. Chức năng của xã hội học pháp luật được quy định bởi nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Chức năng của xã hội học pháp luật bao gồm:

    Chức năng nhận thức

    Chức năng nhận thức của xã hội học pháp luật trước hết thể hiện ở chỗ, Xã hội học pháp luật trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pháp luật bằng trí thức xã hội học có việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của môn học. Trong khi chỉ ra những quy luật khách quan của sự kiện, hiện tượng pháp luật, xã hội học pháp luật đã tạo ra những tiền đề để nhận thức triển vọng phát triển cao hơn của sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu cũng như các mặt, các lĩnh vực sinh nhật của nó.

    Hoạt động điều tra, khảo sát xã hội học pháp luật cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cho việc nhận thức một cách khách quan, Toàn diện, đầy đủ và chính xác về nguồn gốc, bản chất của pháp luật; thực trạng của hệ thống pháp luật; về trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của giai cấp, các tầng lớp xã hội; về tình hình vi phạm pháp luật ở từng thời điểm, từng khu vực địa lý nhất định.

    Nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, hậu quả của hành vi sai lệch giúp cho các cá nhân, nhóm xã hội nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình, từ đó có thái độ, hành vi phù hợp với các quy định chuẩn mực pháp luật, phát huy tính tích cực xã hội, hạn chế hành vi sai lệch.

    Xã hội học pháp luật còn là cơ sở phát triển tư duy khoa học, tạo điều kiện hình thành thói quen suy xét mọi hiện tượng xã hội và quá trình phức tạp trên cơ sở thực nghiệm khoa học. Đặc biệt, xem luyện kỹ năng cho các chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tác phong nắm bắt kịp thời thông tin, cụ thể, sâu sắc về các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống và xu hướng biến đổi của các quan hệ xã hội, chỉ ban hành pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật khi có đầy đủ thông tin và những luận chứng khoa học về nó.

    Chức năng thực tiễn của xã hội học pháp luật có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức. Việc nghiên cứu xã hội học pháp luật không chỉ đơn thuần là vận dụng vào nhận thức hiện thực các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong thực tiễn mà quan trọng là đưa ra các giải pháp đúng đắn, Kịp thời kiểm soát các sự kiện, hiện tượng đó. Sự phong phú, đa dạng của xã hội học pháp luật cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, c ca ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, các của các văn bản pháp luật, của các văn bản pháp luật.

    Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, xã hội học pháp luật cùng cố và xây dựng những luận cứ khoa học giúp cho đảng và nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình phát triển xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. Quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; dân tộc, giới tính, trình độ học vấn. Thông tin từ các cuộc khảo sát xã hội học sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Các cuộc khảo sát xã hội học pháp luật trên thế giới cho thấy, nhân tố chính làm giảm hiệu quả của pháp luật không phải là do sự thiếu vắng các cơ chế thực hiện pháp luật mà do sự không tương thích của pháp luật với những đòi hỏi khách quan trong việc điều tiết các lợi ích của xã hội. Sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào công việc xây dựng pháp luật sẽ đảm bảo được đầy đủ và toàn diện lợi ích, Ý nguyện của nhân dân và sẽ tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Thực tế đã cho thấy, các đề xuất về pháp luật như nâng giá điện, thu phí đối với xe mang biển xuống máy tính và Hà Nội, quy định vòng ngực, cân nặng đối với người tham gia giao thông hãy đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam… gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận do không phù hợp với lợi ích của đông đảo người dân.

    Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật về những mặt, khía cạnh của đời sống pháp luật cung cấp những thông tin được phản ánh từ cơ sở thực tiễn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp họ cập nhật thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện được những mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật.

    Chức năng dự báo

    – Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập thông tin, xử lý thông tin, các nhà xã hội học pháp luật phân tích tính logic, tính khách quan, nhận diện các sự kiện, hiện tượng pháp luật trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các dự báo khoa học để làm sáng tỏ triển vọng phát triển xa hơn của những sự kiện, hiện tượng pháp luật trong tương lai.

    – Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, xã hội học pháp luật thu thập thông tin định tính, định lượng đánh giá dự báo tác động pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền nhận biết những khả năng có thể xảy ra khi văn bản pháp luật được ban hành. Đặc biệt là đối với các dự thảo, dự án luật, các nghiên cứu của xã hội học pháp luật sẽ làm sáng tỏ các điều kiện cụ thể mà ở đó các văn bản pháp luật đang được dự thảo hoặc sắp ban hành. Từ việc đánh giá tác động pháp luật đối với thực tiễn xã hội, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra phương án, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

    – Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng và ý thức pháp luật của các nhóm xã hội, về hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, tội phạm và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng, chống hành vi sai lệch, tìm ra nguyên nhân để đưa ra những dự báo về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội trong tương lai, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế hành vi sai lệch và tội phạm.

    Chức năng dự báo của xã hội học pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Việc hiểu biết sự kiện hiện tại và xu hướng phát triển đó trong tương lai là yếu tố cần thiết giúp cho các cơ quan nhà nước thông qua các quyết định một cách đúng đắn. Lựa chọn một giải pháp tôi yêu khánh liền với việc nhận thức đúng đắn những hậu quả pháp lý và xã hội của việc ban hành quy định đó, cũng như môi trường mà ở đó quyết định được ban hành sẽ được thực hiện trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Chứng Viên Và Tiêu Chuẩn Công Chứng Viên Theo Quy Định Hiện Nay
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chứng Viên Theo Quy Định
  • Công Chứng Viên Với Vai Trò Là Bổ Trợ Viên Tư Pháp
  • Đề Cương Giới Thiệu Luật Công Chứng Năm 2014
  • Để Công Chứng Viên Xứng Đáng Là “người Gác Cổng”…
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Luật Sư Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Vị Trí Vai Trò Và Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập 1)
  • Chức Năng Xã Hội Của Công Chứng Viên
  • Công Chứng Viên Là Gì? Những Điều Nên Biết Về Công Chứng Viên
  • Khẳng Định Vị Thế, Vai Trò Của Công Chứng Viên
  • Chức năng xã hội của Luật sư trong hoạt động tố tụng chính là thiên chức và sứ mệnh của Luật sư trong việc khẳng định những giá trị cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Chức năng này không phải tự nhiên mà có, bởi lẽ về bản chất, hoạt động hành nghề Luật sư trước hết phản ánh nhu cầu của các chủ thể về trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Qua quá trình phát triển của nghề Luật sư, điều dễ nhận thấy là nghề Luật sư được hình thành từ cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công xã hội. Chính từ hành động chống lại những bất công trong xã hội có giai cấp mà hình ảnh Luật sư xuất hiện như sự hiện diện của một đấng cứu thế, phản ánh ước vọng khát khao của các tầng lớp nhân dân về công bằng, dân chủ. Do đó, hoạt động của Luật sư không thể tách rời với các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và mô hình tố tụng hình sự của mỗi quốc gia. Từ đó có thể thấy, các quan hệ pháp luật điều chỉnh chính là những tiền đề để nghề Luật sư tồn tại và phát triển.

    Chức năng xã hội được quy định tại Điều của Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 như sau:

    Điều 3. Chức năng xã hội của luật sư [3]

    Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.”

    Vì vậy, chức năng xã hội của Luật sư được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý của các chủ thể trong xã hội một cách minh bạch, giúp những chủ thể này nhận biết chân thực và chính xác các nhu cầu chính đáng của mình. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật sư khi tham gia tố tụng là phải tuân thủ pháp luật, có kỹ năng, kỷ luật, có trình độ chuyên môn, tận tâm với khách hàng và còn phải là người có tấm lòng yêu thương con người, một lòng vì chính nghĩa, tin tưởng vào công bằng xã hội. Khi tham gia tố tụng, Luật sư được xem như người soi đường chỉ lối giúp phân định tính đúng sai trong xử sự của chủ thể nhằm đáp ứng mục tiêu phân xử công bằng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Với định hướng, xây dựng phát triển Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW chính là điều khẳng định nghề Luật sư trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay như một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Khi nói tới chức năng xã hội của Luật sư nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng, cần đặt vị trí Luật sư trong các mối quan hệ chi phối đến hoạt động nghề nghiệp và xem xét các yếu tố này trong tổng thể các giá trị của sự phát triển dân chủ, quan niệm về sự công bằng, văn minh cũng như các thành tố khác tạo nên xã một xã hội dân chủ. Hoạt động của Luật sư trong tố tụng thời gian qua đã góp phần mang đến cho xã hội nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng những giá trị dân chủ, thông qua sự bình đẳng trong tranh tụng, đề xuất yêu cầu, đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

    Chức năng xã hội của Luật sư còn được thể hiện thông qua hoạt động hành nghề trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, công dân nơi vùng xa, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn hay hoạt động trợ giúp pháp lý theo chỉ định của cơ quan tố tụng.

    Như vậy, có thể khẳng định yếu tố tín nhiệm đối với nghề Luật sư luôn là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi quá trình phấn đấu không ngừng trong tiến trình hoạt động hành nghề. Luật sư luôn phải ý thức được trách nhiệm xã hội của nghề nghiệp, luôn đảm bảo lấy việc phụng sự công lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng làm tôn chỉ thực hiện hoạt động nghề nghiệp, thực hiện trên cơ sở pháp luật, lấy uy tín làm gốc. Đây chính là yêu cầu nội tại, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình và hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ Luật sư.

    nguồn chúng tôi

    ” Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư Trong Hoạt Động Tố Tụng
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập1)
  • Chức Năng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Được Giao Giám Sát Người Hưởng Án Treo
  • Làm Sao Để Nhận Biết Thực Phẩm Chức Năng Thật
  • Top Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Hàng Đầu
  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi.

    Vì vậy chức năng đầu tiên của văn học là chức năng nhận thức và dự báo. Văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mỹ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả. Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người.

    Trong tác phẩm “Ông già và biển cả” chúng ta có thể hiểu thêm về biển, về sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn ra trong lòng đại dương mà còn ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người và biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người.

    Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học còn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực. Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai.

    Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động của lịch sử, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái bốn phương phẳng lặng.

    Nhà văn tài năng sẽ không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển. Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên, mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học.

    Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người. Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào quá trình thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai.

    Please follow and like us:

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư Trong Hoạt Động Tố Tụng
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư
  • Vai Trò Của Luật Sư Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Vị Trí Vai Trò Và Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập 1)
  • Chức Năng Xã Hội Của Công Chứng Viên
  • Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng phải được tính thù lao thông ua hợp đồng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Luật sư. Việc tính thù lao của Luật sư là lẽ thường tình trong quan hệ dân sự giữa một bên có nhu cầu dịch vụ pháp lý và một bên có khả năng đáp ứng nhu cầu đó. “Hàng hóa” mà Luật sư cung cấp ở đây là kiến thức pháp lý và kinh nghiệm xử lý các vấn đề đặt ra theo yêu cầu của khách hàng. Về bản chất Luật sư “bản chất xám” mà họ cho khách hàng theo sự thỏa thuận hai bên. Do đó, nghề Luật sư là một nghề “trí tuệ”. Mức thù lao của Luật sư đước tính tương ứng với khả năng, thương hiệu và uy tín xã hội. Nghề Luật sư là một nghề khó , đòi hỏi người hành nghề phải có kiến thức, có chuyên môn, đồng thời, phải có năng lực đặt ra trong quá trình hành nghề.Vì thế, không phải ai cũng có thể cản trở thành một Luật sư uy tín và thương hiệu.

    ở nước phát triển thì thường chỉ những người đứng đầu các khóa học phổ thông mới được ứng tuyển vào học nghành luật, còn để trỏ thành Luật sư thì sau khi có bằng cử nhân luật còn phải mất tương đối nhiều thời gian, công sức .Xuất phát từ bản chất nghề nghiệp, Luật sư được xem là ” hiệp sỹ” để giải cứu những người yếu thế trong xã hội không may rơi vào vòng lao lý. Chính vì thế, Luật sư và nghề Luật sư từ khi mới ra đời đã được ghi nhận và tôn vinh. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, những mâu thuẫn, tranh chấp không thể tránh khỏi, do đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý cũng tăng lên, tạo cơ hội cho nghề Luật sư phát triển, cùng với đó , thu nhập của Luật sư cũng tăng theo. Cót lõi của nghề Luật sư không chỉ là kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, mà là dạo đức. Luật sư vừa phải thấm nhuần tinh thần phục vụ vừa phải thể hiện kỹ năng đấu tranh vì lẽ phải, công lý, công bằng, như vậy mới được xã hội tôn vinh, đó chính là đạo đức nghề nghiệp hành nghề Luật sư , cũng chính là chức năng xã hội của Luật sư.

    Không nên qua đề cao việc kiếm tiền để làm giàu qua hoạt động hành nghề nghiệp. Bởi lẽ, không có nghề nào kiếm được rất nhiều tiền mà không có mặt trái. Nếu không xuất phát từ tinh thần phục vụ cộng đồng , từ tấm lòng trong sáng thì Luật sư rất khó có sự tin cậy của xã hội, những giá trị xã hội dành cho nghề Luật sư cũng từ đó mà bị tổn thương.

    Chức năng xã hội của Luật sư có thể được hiểu là những phương diện hoạt động nghề nghiệp đóng góp và mang lại những giá trị đích thực cho xã hội của Luật sư. Các phương diện hoạt động của Luật sư được triển khai ở một số nội dung như sau:

    • Hoạt động tranh tụng của Luật sư góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, các tổ chức kinh tế-xã hội và Nhà nước.. Trong hoạt động tư pháp nếu không có sự tham gia của Luật sư thì khó có thể xâu dựng một nền tư pháp dân chủ, minh bạch,công khai niềm tin của người dân vào công lý sẽ bị suy giảm . Đặc biệt trong trường hợp gây ra oan sai thì công lý sẽ bị tổn thương khó có thể bù đắp được. Do đó, hoạt động tranh tụng của Luật sư khi tham gia vào hoạt động tư pháp không những góp phần vào bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, các tổ chức kinh tế- xã hội, góp phần bảo vệ công lý, mà điều quan trọng là tạo được niềm tin của nhân dân vào công lý, lẽ phải, từ đó sẽ củng cố niềm tin vào chế độ xã hội.
    • Hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư thông qua tư vấn pháp luật, và dịch vụ pháp lý khác hay đại diện bến ngoài tố tụng đều xuất phát từ nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng trên cơ sở pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Dịch vụ pháp lý của Luật sư không những có khả năng giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn, kinh té – xã hội một cách văn minh, làm cho xã hội ổn định , an toàn cho mọi người mà còn góp phần ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra nếu như được sử dụng ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư sản xuất – kinh doanh , hay tham gia vào bất kỳ một quá trình nào đó của xã hội.
    • Ngoài ra chức năng xã hội của Luật sư còn được thể hiện thông qua các hoạt động trợ giúp pháp lý. Đây là hoạt động thể hiện tinh thần phục vụ cộng đồng của Luật sư đối với những người, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Sự cống hiến đối với xã hội của Luật sư và đội ngũ Luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý đã góp phần xây đắp lên những giá trị xã hội của nghề Luật sư. Những năm vừa qua, Luật sư và đội ngũ Luật sư cùng với sự quan tâm của nhà nước và xã hội đã góp phần không nhỏ trong việc thực hiện các chính sách xã hội, các chương trình xáo đối giảm nghèo, đảm bảo sự phát triển bền vững.

    Luật sư Việt Nam đang hành nghề ở hầu hết các lĩnh vực đời sống. Do đó chức năng của Luật sư, nghề Luật sư là hết sức đa dạng đáp úng các như cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của các chủ thể trong xã hội.

    Theo thống kê nhanh của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đến ngày 31-3-2017, số lượng Luật sư của liên đoàn là 11.113 Luật sư. So với dân số Việt Nam là hơn 90 triệu người thì đây vẫn là còn số rất khiêm tốn để có thể đáp ứng được như cầu dịch vụ pháp lý của xã hội, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như hiện nay. Luật sư khi cung cấp dịch vụ phải đảm bảo chất lượng, bởi lẽ, nếu việc cung cấp dịch vụ pháp lý không đảm bảo chất lượng không những ảnh hưởng chính cá nhân Luật sư mà còn ảnh hưởng đến cả dội ngũ Luật sư và nghề Luật sư. Thực trạng chất lượng đội ngũ Luật sư Việt Nam hiện nay không đồng đều cũng là một yếu tố chủ quan dẫn tới việc sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội còn ở mức hạn chế. Ngoài ra, các yếu tố khách quan như mô hình tố tụng thẩm vấn với những rào cản đối với sự tham gia của Luật sư cũng ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của Luật sư và nghề Luật sư.

    Với số lượng Luật sư nêu trên và 3.500 tổ chức hành nghề Luật sư, nếu chia trung bình thì cứ mỗi tổ chức hành nghề Luật sư sẽ chỉ có 3 Luật sư. Trên thực tế, các tổ chức hành nghề Luật sư nhỏ chỉ có khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý cho các cá nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà không đủ khả năng cung cấp dịch vụ pháp ý cho các doanh nghiệp lớn, có nhiều quan hệ kinh tế xã hội phức tạp trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay.

    Hiện nay, số lượng tổ chức hành nghề Luật sư Việt Nam có thương hiệu và uy tín , có khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế là con số đếm trên đầu ngón tay. Cụ thể, chỉ có khoảng 30-50 tổ chức hành nghề Luật sư có khả năng tư vấn và tham gia tranh tụng trong các vụ việc và vụ án thương mại quốc tế. Đây cũng là vấn đề cần được bàn tới để đội ngũ Luật sư Việt Nam không để mất thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý ngay trên “Sân nhà”. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tới năm 2022 sẽ có một triệu doanh nghiệp, đội ngũ Luật sư và nghề luật sư càng có nhiều cơ hội đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đi cùng với đó là nghĩa vụ, ý thức, trách nhiệm phục vụ cộng đồng, phục vụ khách hàng của mỗi Luật sư và cả đội ngũ Luật sư cân phải được nâng cao. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư phải bảo đảm chất lượng. Hạn chế tối đa việc làm ảnh hưởng đến sự uy tín thương hiệu và những giá trị xã hội to lớn của nghề Luật sư.

    Nhìn chung, xây dựng và phát triển đội ngũ Luật sư đông về số lượng, mạnh về chất lượng, có khả năng đáp ứng những nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của khách hàng và cộng đòng xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Đây không chỉ là trách nhiệm thuộc về tổ chức xã hội- nghề nghiệp của Luật sư, các tổ chức hành nghề Luật sư mà còn là trách nhiệm của mỗi Luật sư. Cụ thể, mỗi Luật sư không ngừng học tập, bồi dưỡng, rèn luyện về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức để phục vụ khách hàng và cộng đồng xã hội, từ đó góp phần vào việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của bản thân, xây dựng nghề Luật sư và đóng góp cho sự phát triển của đội ngũ Luật sư nước nhà. Có như vậy, vị trí, vai trò, chức năng xã hội của luật sư mới bao hàm được những ý nghĩa xã hội to lớn mà chế độ xã hội mang lại cho Luật sư và nghề Luật sư.

    Tiếp theo: Tổ chức hành nghề Luật Sư

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Được Giao Giám Sát Người Hưởng Án Treo
  • Làm Sao Để Nhận Biết Thực Phẩm Chức Năng Thật
  • Top Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Hàng Đầu
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Game Bài Uno Đơn Giản Để Trở Thành Game Thủ
  • Luật & Cách Chơi Game Bài Uno Online Cơ Bản Cho Người Mới
  • Bài Giảng Xã Hội Học Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Chỉ Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Ba Vì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Ba Vì, Tp Hà Nội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Phúc Thọ? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Phúc Thọ, Hà Nội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Thanh Trì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Thanh Trì, Hà Nội
  • Ser: Phục Hồi Chức Năng Kinh Tế Xã Hội
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • (bài giảng Xã hội học pháp luật – VB 2, ĐH Luật Hà Nội, 2022)

    Đại học Luật Hà Nội

    Lớp: K14CCQ (2015 – 2022)

    BÀI GIẢNG XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT MỤC LỤC Vấn đề 1: Nhập môn xã hội học pháp luật 1

    Thời lượng: 45 tiết

    III. Các chức năng cơ bản của xã hội học pháp luật 2

    1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của xã hội học pháp luật 1
    2. Nguyên nhân xuất hiện xã hội học pháp luật 1
    3. Một số trào lưu xã hội học pháp luật tiêu biểu. 1
    4. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật 2
    5. Tranh luận: xã hội học PL là ngành khoa học pháp lý hay khoa học xã hội 2
    6. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật 2

    Vấn đề 2: Phương pháp nghiên cứu của xã hội học pháp luật 2 III. Các phương pháp thu thập thông tin điều tra xã hội học. 11 Vấn đề 3: Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội 16 III. Các phân hệ cơ cấu xã hội và mối liên hệ với pháp luật 19

      Ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học pháp luật 2

    Vấn đề 4: Pháp luật trong mối liên hệ với chuẩn mực xã hội 21 Vấn đề 5: Các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật 26 Vấn đề 6: Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật 30 III. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, áp dụng PL ở nước ta hiện nay. 36

    1. Cơ cấu xã hội – nhân khẩu và mối liên hệ với pháp luật 19
    2. Cơ cấu xã hội – lãnh thổ. 20
    3. Cơ cấu xã hội – dân tộc. 21
    4. Cơ cấu xã hội – nghề nghiệp. 21
    5. Cơ cấu xã hội – giai cấp. 21
    6. Phân tầng xã hội và mối liên hệ với pháp luật 21

    Vấn đề 7: Sai lệch chuẩn mực pháp luật và hiện tượng tội phạm.. 36 III. Các yếu tố tác động tới sai lệch chuẩn mực pháp luật 39 VII. Các biện pháp phòng, chống sai lệch chuẩn mực pháp luật 44

    1. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL ở nước ta hiện nay. 36
    2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng PL ở nước ta hiện nay. 36

    Ngày 15/01/2017

    1. Biện pháp tiếp cận thông tin. 44
    2. Biện pháp phòng ngừa xã hội 44
    3. Biện pháp áp dụng hình phạt 44
    4. Biện pháp tiếp cận y – sinh học. 45
    5. Biện pháp tiếp cận tổng hợp. 45

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Tài liệu:

    Vấn đề 1: Nhập môn xã hội học pháp luật

    • Xã hội học pháp luật – Ngọ Văn Nhân
    • Tập bài giảng xã hội học

    I. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của xã hội học pháp luật

    1. Nguyên nhân xuất hiện xã hội học pháp luật

    – Mặc dù phải đến những năm 30 của thế kỷ 19 mới xuất hiện ngành xã hội học, nhưng những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của xã hội học đã xuất hiện từ thời cổ đại trong hành trình đi tìm tri thức của nhân loại:

    + thời cổ đại:

    • Phương đông: các tư tưởng của những triết gia Trung Quốc như Khổng Tử (đức trị), Tuân Tử, Hàn Phi Tử (pháp trị)
    • Phương tây: trong triết học Hy Lạp cổ đại, điển hình là Platon, Aristot, Heraclite

    2. Một số trào lưu xã hội học pháp luật tiêu biểu

    a. Xã hội học pháp luật thực dụng Mỹ

    – Xuất hiện vào những năm 20s của thế kỷ 20

    – Đại diện tiêu biểu: R. Pound, chia PL thành 2 loại:

    + pháp luật trong hành động: pháp luật gắn với thực tiễn xã hội

    b. Trào lưu hiện thực trong luật học Mỹ

    – Khẩu hiệu của trào lưu: hãy chuyển từ PL trên giấy tờ thành PL trong hành động, chuyển từ đời sống ảo sang đời sống thực của PL

    – Hoài nghi vào PL do NN làm ra, vì cho rằng trong đó có lợi ích của NN (lợi ích nhóm hiện nay), lợi ích của nhà cầm quyền

    – Hướng tới PL tự nhiên và PL thực định:

    + PL thực định: là PL do NN làm ra

    – Trào lưu PL tự do đề cao quyền tự do của con người, xuất phát từ Đức, lan rộng ra khắp châu Âu

    II. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    1. Tranh luận: xã hội học PL là ngành khoa học pháp lý hay khoa học xã hội

    – Có 3 quan điểm:

    + xã hội học PL là khoa học pháp lý: vì được khởi xướng, ra đời từ các nhà luật học (Montesquire)

    + xã hội học PL là ngành khoa học nằm giữa hoa học xã hội và khoa học pháp lý: là quan điểm của các nhà khoa học nhị nguyên, nhằm dung hòa 2 trường phái trên

    2. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    – Khái niệm xã hội học PL: là 1 ngành xã hội học chuyên biệt, nghiên cứu:

    + những quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, tồn tại, hoạt động của PL trong xã hội, trong mối liên hệ với các chuẩn mực xã hội khác

    + nguồn gốc, bản chất xã hội, các chức năng xã hội của PL

    + các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng PL

    III. Các chức năng cơ bản của xã hội học pháp luật

    1. Chức năng nhận thức
    2. Chức năng thực tiễn
    3. Chức năng dự báo

    IV. Ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học pháp luật

    1. Về tri thức khoa học
    2. Về phương pháp nghiên cứu

    Vấn đề 2: Phương pháp nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    I. Khái quát về phương pháp

    1. Phương pháp chung

    – Khái niệm: Phương pháp là cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu 1 cách có tổ chức, có hệ thống, được sắp xếp theo 1 trật tự nhất định nhằm đạt tới mục đích nào đó.

    a. Phương pháp phân tích và tổng hợp

    – Các phương pháp nghiên cứu:

    – Phân tích: là chia cái toàn bộ ra thành những bộ phận để đi sâu nhận thức, nghiên cứu các bộ phận

    – Tổng hợp: là liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nghiên cứu cái toàn bộ

    b. Phương pháp quy nạp và diễn dịch

    – Phân tích và tổng hợp là 2 phương pháp thống nhất với nhau, không tách rời nhau

    – Quy nạp: đi từ cái riêng đến cái chung

    – Diễn dịch: đi từ cái chung đến cái riêng

    c. Phương pháp lịch sử và logic

    – Hai phương pháp này có mối liên hệ hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau, cái này đòi hỏi cái kia và bổ sung cho cái kia

    – Phương pháp lịch sử: phải nghiên cứu trong quá trình lịch sử của sự vật hiện tượng, nắm được toàn bộ tính phong phú của nó

    – Phương pháp lo-gic: vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật hiện tượng

    – Hai phương pháp này thống nhất hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau

    Ngoài ra còn có các phương pháp khác như phương pháp tiếp cận hệ thống-cấu trúc, phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh, …

    2. Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành xã hội học

    – Các nguyên tắc, quy trình nghiên cứu: là hệ thống các nguyên tắc, cách thức là công cụ cho sự khảo sát và nghiên cứ các vấn đề xã hội học, gồm:

    + các nguyên tắc tổ chức triển khai đề tài nghiên cứu: diễn ra như thế nào, tuân thủ các yêu cầu gì, làm thế nào để thu thập được thông tin điều tra 1 cách chính xác

    + cách thức tiến hành 1 cuộc điều tra xã hội học: các công cụ để thu thập thông tin trong các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học

    + các phương pháp chọn mẫu điều tra: nhằm đảm bảo thông tin thu được là trung thực, khách quan, có tính đại diện cao

    – Kỹ thuật nghiên cứu: gồm

    + kỹ thuật xây dựng bảng câu hỏi

    + kỹ thuật phân loại và xử lý số liệu

    + kỹ thuật xử lý số liệu bằng máy vi tính: sử dụng phần mềm máy tính

    – Các phương pháp thu thập thông tin thông dụng:

    + phương pháp phân tích tài liệu

    + phương pháp quan sát

    + phương pháp phỏng vấn

    + phương pháp an-két

    + phương pháp thực nghiệm

    II. Các bước tiến hành một cuộc điều tra XHH về các vấn đề, sự kiện, hiện tượng pháp luật

    – Thông thường có 3 giai đoạn:

    + chuẩn bị

    + tiến hành thu thập thông tin

    + xử lý và phân tích thông tin

    – Cả 3 giai đoạn trên phải được thực hiện theo nguyên tắc trình tự thuận, tức là phải thực hiện tuần tự, lần lượt từng giai đoạn, có thực hiện giai đoạn trước thì mới được thực hiện giai đoạn sau, việc thực hiện giai đoạn trước là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện giai đoạn sau. Ngoài ra, trong 1 giai đoạn lại có nhiều khâu, nhiều bước cụ thể khác nhau, cũng phải được thực hiện theo nguyên tắc trình tự thuận.

    1. Giai đoạn chuẩn bị

    – Là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ cuộc điều tra XHH nào

    – Cần đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    Bước 1: Xác định vấn đề pháp luật cần nghiên cứu và đặt tên đề tài nghiên cứu

    – 9 bước của giải đoạn chuẩn bị:

    – Bước này nhằm trả lời cho câu hỏi: Nghiên cứu cái gì ?

    – Vấn đề PL cần nghiên cứu là bất kỳ vấn đề PL nào đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống, thường xuất phát từ đơn đặt hàng của NN, tổ chức xã hội, hoặc từ chính nhu cầu khảo sát thực tiễn của các nhà khoa học trên cả 2 phương diện là lý luận và ứng dụng. Đó thường là các vấn đề PL có tính thời sự cấp thiết, đang thu hút sự quan tâm của NN, nhân dân, dư luận xã hội, VD thẩm định các dự án luật, tìm hiểu thực trạng các quan hệ xã hội, …

    – Vấn đề nghiên cứu thường được xác định là sự sai lệch trong thực tế so với các tài liệu lý luận hoặc các tiêu chí tiêu chuẩn trong xã hội

    – Do đó, bất kỳ vấn đề PL cần nghiên cứu nào cũng phải được nghiên cứu trên 2 phương diện: mặt tích cực và mặt tiêu cực của vấn đề

    VD: nghiên cứu vấn đề ly hôn: hiện tượng số lượng vụ ly hôn ngày càng nhiều, độ tuổi lý hôn ngày càng trẻ hóa, tuy nhiên không được chỉ nhìn nhận vấn đề ly hon dưới góc độ tiêu cực, mà phải xem xét nó trên 2 phương diện:

    + mặt tích cực: ly hôn là thành quả của cuộc đấu tranh rất dài của việc nữ quyền trên thế giới, cho phép người phụ nữ đứng tên trên đơn ly hôn, nhằm chấm dứt 1 cuộc hôn nhân đã không còn phù hợp. Ly hôn cho phép giải phóng 2 con người không còn yêu thương nhau, không còn chung sống được với nhau.

    + mặt tiêu cực: tổn thương tinh thần, nhất là với phụ nữ và trẻ em, gây ra các tiêu cực với xã hội như trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, dễ lâm vào tệ nạn xã hội

    – Đặt tên đề tài nghiên cứu: phải thể hiện được 2 yếu tố:

    + đối tượng nghiên cứu

    + khách thể của cuộc điều tra

    Tránh việc đặt tên 1 cách chung chung, mập mờ dẫn đến khó xác định đâu là đối tượng nghiên cứu, đâu là khách thể của cuộc điều tra.

    VD: Đề tài “Quan niệm về hôn nhân gia đình của sinh viên K14CCQVB2 đại học Luật Hà Nội”, thì:

    + đối tượng nghiên cứu là “Quan niệm về hôn nhân gia đình”

    Bước 2: Xác định mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của cuộc điều tra

    + khách thể điều tra là “sinh viên K14CCQVB2 đại học Luật Hà Nội”

    – Mục đích nghiên cứu là những tìm kiếm cơ bản, xuyên suốt của đề tài nghiên cứu, giúp trả lời câu hỏi: Nghiên cứu để làm gì ?

    – Mục đích nghiên cứu: là những thông tin, kiến thức, hiểu biết khoa học về vấn đề PL, sự hiện hiện tượng PL mà ta sẽ thu được qua thực tế điều tra, là kết quả cuối cùng mà cuộc điều tra phải đạt được.

    – Việc xác định mục đích nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì 3 lý do:

    + mục đích nghiên cứu là yếu tố xuyên suốt toàn bộ tiến trình thực hiện cuộc điều tra

    + mục đích nghiên cứu quy định nhiệm vụ và sự lựa chọn phương pháp thu thập thông tin, cách thức tiến hành và xử lý thông tin sau này

    + cùng 1 đề tài nghiên cứu nhưng nếu xác định mục đích nghiên cứu khác nhau thì kết quả sẽ khác nhau

    – Nhiệm vụ nghiên cứu là sự cụ thể hóa mục đích nghiên cứu. Tức là để đạt được mục đích nghiên cứu thì cần phải thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng.

    – Các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

    – Giữa mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu phải có sự phù hợp và tương quan hài hòa:

    + nếu xác định quá nhiều nhiệm vụ thì đề tài sẽ bị phân tán, khó hướng theo mục đích đã chọn

    Bước 3: Xây dựng giả thiết nghiên cứu

    + nếu xác định quá ít nhiệm vụ khó đánh giá mục đích của cuộc điều tra đã được hoàn thành đến mức nào

    – Giả thiết nghiên cứu là những giả định mang tính khoa học về cơ cấu, thực trạng của đối tượng nghiên cứu, là những nhận định ban đầu về thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu.

    – Nói cách khác, giả thiết nghiên cứu là 1 câu hỏi về thực trạng của vấn đề được nghiên cứu, mang giá trị lo-gic khẳng định hoặc phủ định nhưng chưa biết có được thừa nhận hay bác bỏ đòi hỏi phải được kiểm nhiệm thông qua cuộc điều tra.

    – Thông thường giả thuyết nghiên cứu được biểu hiện dưới dạng mệnh đề lo-gic như: nếu thế này thì thế kia; trong điều kiện thế này thì thế kia, …

    VD: nếu tất cả các sinh viên văn bằng 2 đại học luật thực sự nghiêm túc học tập thì sự nghiệp xây dựng xã hội pháp quyền của nhà nước ta sẽ thành công

    – Lập giả thuyết nghiên cứu là đưa ra 1 nhận thức sơ bộ về vấn đề, sự kiện pháp lý được nghiên cứu

    – Lưu ý khi đưa ra giả thiết nghiên cứu:

    + giả thuyết nghiên cứu không được trái với các nguyên tắc, quy định của Hiếp pháp, PL hiện hành

    + giả thuyết nghiên cứu phải dựa trên các luận cứ khoa học chặt chẽ và phải phù hợp tương đối so với tình hình thực tế của vấn đề PL cần nghiên cứu

    + giả thuyết nghiên cứu phải dễ kiểm tra trong quá trình triển khai, nghiên cứu, và trong thực tiễn đời sống PL

    Bước 4: Xây dựng mô hình lý luận, thao tác hóa các khái niệm và xác định các chỉ báo nghiên cứu

    – Mô hình lý luận: là hệ thống các phạm trù, khái niệm của xã hội học PL được sắp xếp theo 1 kết cấu lo-gic nội tại chặt chẽ, giúp nhà nghiên cứu đánh giá, khái quát bản chất của vấn đề PL được nghiên cứu. Một mô hình lý luận phải được thể hiện ra bằng ngôn từ, thuật ngữ, khái niệm khoa học và những khái niệm khoa học này phải được mọi người cùng hiểu theo cùng 1 nghĩa để tránh những sự nhầm lẫn có thể xảy ra.

    – Thao tác hóa khái niệm trong điều tra xã hội học về 1 vấn đề PL là những thao tác lo-gic nhằm chuyển từ những khái niệm xã hội học, luật học có tính phức tạp, trừu tượng, khó hiểu thành những khái niệm trung gian, cụ thể, đơn giản và dễ hiểu hơn, có thể đo lường được, nhằm giúp mọi người cùng hiểu những khái niệm đó theo cùng 1 nghĩa, tránh những nhầm lẫn không đáng có.

    – Xác định các chỉ báo nghiên cứu là quá trình cụ thể hóa các khái niệm thực nghiệm thành các đơn vị (tiêu chí) có thể đo lường và quan sát được. Mỗi phương án trả lời được nêu trong các câu hỏi chính là những tiêu chí phản ánh các chỉ báo nghiên cứu.

    – Gồm 5 phương pháp:

    + phương pháp phân tích tài liệu có sẵn

    + phương pháp quan sát

    + phương pháp phỏng vấn

    + phương pháp an-két

    + phương pháp thực nghiệm

    – Nhà nghiên cứu phải lựa chọn và quyết định sử dụng phương pháp nào là phương pháp chủ đạo trong cuộc điều tra của mình.

    – Nguyên tắc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào 2 yếu tố:

    + căn cứ vào mục đích của cuộc điều tra

    + căn cứ vào khả năng tài chính, các trang thiết bị kỹ thuật và các thông tin sẵn có

    Bước 6: Soạn thảo bảng câu hỏi

    – Chú ý: không có 1 phương pháp nào là chìa khóa vạn năng, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng. Do đó thông thường, 1 cuộc điều tra xã hội học sẽ sử dụng phối hợp 1 nhóm các phương pháp có thể bổ sung cho nhau để phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi phương pháp.

    – Trong 5 phương pháp thu thập thông tin, có 2 phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất và đều sử dụng bảng câu hỏi là phương pháp phỏng vấn và phương pháp an-két.

    Một bảng hỏi được xây dựng tốt sẽ cho phép thu thập được lượng thông tin đa dạng, phong phú và đầy đủ. Ngược lại, nếu bảng hỏi được xây dựng không tốt sẽ làm giảm khả năng thu thập thông tin, thậm chí xuyên tạc phản ánh sai thực tế.

    Các loại câu hỏi thông dụng:

    + câu hỏi đóng dạng đơn giản: là loại câu hỏi chỉ gồm 2 phương án trả lời là Có hoặc Không

    VD: Anh / Chị có thích đọc báo Pháp luật Việt Nam không ?

    Loại câu hỏi đóng đơn giản này có nhược điểm là dễ hướng người trả lời lựa chọn phương án tích cực (hiện tượng tâm lý tôn vinh hình ảnh cá nhân). Như ở ví dụ trên thì hầu như mọi người sẽ trả lời Có mặc dù có những người chưa từng đọc báo Pháp luật VN.

    + câu hỏi đóng dạng phức tạp (còn gọi là câu hỏi lựa chọn): là loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời theo các mức độ khác nhau để người trả lời lựa chọn, các phương án trả lời phải loại trừ nhau (tức là chỉ được chọn 1 phương án trả lời).

    VD: Anh / Chị có thích ăn thịt chó không ?

    Loại câu hỏi đóng phức tạp này thường dùng để đo lường các mức độ đánh giá như thái độ (rất thích-thích-bình thường-không thích), niềm tin (tin tưởng tuyệt đối – rất tin tưởng – bình thường – không tin tưởng), tình cảm (yêu – bình thường – ghét), … trước các vấn đề, sự kiện hiện tượng PL đang nghiên cứu.

    + câu hỏi mở: là câu hỏi chưa có phương án trả lời, người trả lời phải tự suy nghĩ, tự ghi phương án trả lời của mình vào ô trả lời. Về kỹ thuật trình bày, sau khi nêu câu hỏi cần phải dành ra 1 số dòng trống để người trả lời ghi câu trả lời.

    VD: Anh / Chị thích làm gì vào thời gian rỗi ?

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    Nhược điểm: trả lời dễ lan man, lệch khỏi trọng tâm nghiên cứu của nhà nghiên cứu, khó phân chia câu trả lời theo các phương án đã định, và khó xử lý thông tin ở giai đoạn sau.

    + câu hỏi kết hợp: là loại câu hỏi mở có liệt kê sẵn một số phương án trả lời mang tính định hướng của nhà nghiên cứu, và ở phần cuối dành 1 phương án mở, được trình bày dưới dạng “ý kiến khác”.

    VD: Anh / Chị thích làm gì vào thời gian rỗi ?

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

    Các yêu cầu đối với việc xây dựng câu hỏi, bảng hỏi:

    + trong câu hỏi, cần hạn chế sử dụng những thuật ngữ có tính chất chung chung, mơ hồ, không xác định như: thường xuyên, thỉnh thoảng, đôi khi, …

    + không nên sử dụng những khái niệm không phổ thông, quá khoa học, ít người biết, không sử dụng từ viết tắt, từ địa phương, dân tộc, vùng miền

    + câu hỏi đặt ra phải phù hợp với trình độ học vấn của người trả lời

    + không nên sử dụng câu hỏi hàm ý, biểu thị cách trả lời thế này là đúng, trả lời thế kia là sai

    VD: hỏi đảng viên

    Bạn có tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng không ?

    + kết cấu của bảng câu hỏi không quá phức tạp, rườm rà, dễ gây chán nản cho người được hỏi

    Kết cấu của bảng câu hỏi: 1 bảng câu hỏi thông thường có kết cấu 3 phần:

    + phần kết thúc: để trình bày 1 số câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu của người trả lời (hay thông tin cá nhân người trả lời) như câu hỏi về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn cư trú. Những thông tin cá nhân này chỉ nhằm mục tiêu thống kê khoa học.

    Nguyên tắc ẩn danh: tuyệt đối không yêu cầu ghi tên, tuổi, địa chỉ của người trả lời, vì có thể dẫn tới người trả lời ngần ngại khi đưa ra quan điểm, ý kiến, thái độ.

    Bước 7: Chọn mẫu điều tra

    Bày tỏ lời cảm ơn đối với người trả lời, VD “Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Ông / Bà, xin gửi đến quý Ông / Bà lời chào trân trọng !”

    – là 1 bộ phận có thể đại diện được cho toàn bộ khách thể nghiên cứu. Khi chọn mẫu cần chú ý đến tính đại diệntính thuần nhất của mẫu, vì đây là 2 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thu được:

    + tính đại diện: bao quát được toàn bộ khách thể. VD khảo sát trong 1 tỉnh có 10 đơn vị hành chính, thì mẫu phải có đủ đại diện của 10 đơn vị hành chính đó, hoặc trong tỉnh có vùng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng ven biển thì mẫu phải có đủ đại diện cho mỗi vùng đó

    + tính thuần nhất: những người trong cuộc khảo sát càng gần gũi nhau về địa bàn sinh sống, thuần phong mỹ tục, mặt bằng nhận thức, trình độ học vấn thì câu trả lời của họ có sự gần gũi nhau

    Điều tra mẫu: là tiến hành thu thập thông tin trên 1 bộ phận mẫu đã lựa chọn, rồi suy rộng kết quả cho tổng thể với 1 độ chính xác nào đó.

    Dung lượng mẫu: là số người cần thiết tham gia vào cuộc điều tra để cung cấp thông tin cho nhà nghiên cứu đủ để đạt được độ chính xác đã xác định.

    Các phương pháp chọn mẫu: có nhiều phương pháp, nhưng có thể quy về 2 phương pháp:

    + phương pháp ngẫu nhiên đơn giản: chọn ngẫu nhiên, bất kỳ các thành viên trong 1 nhóm xã hội

    + phương pháp ngẫu nhiên cơ học: nhà nhiên cứu phải có danh sách tổng thể các thành viên của nhóm xã hội, sau đó xác định số K = N/n , trong đó N là số lượng người theo danh sách tổng thể các thành viên của nhóm xã hội, n là dung lượng mẫu cần lựa chọn., sau đó trong danh sách thành viên đã được đánh số thứ tự, cứ cách k người lại lấy người.

    Bước 8: Dự kiến phương án xử lý thông tin

    VD: 1 lớp học có 100 sinh viên, cần chọn mẫu 20 người để khảo sát, thì K = 100 / 20 = 5 , như vậy mẫu sẽ gồm những sinh viên có số thứ tự 5, 10, 15, …

    – Nhà nghiên cứu dự kiến trước sẽ sử dụng bộ máy công thức toán học nào, chương trình phần mềm máy vi tính nào để áp dụng xử lý thông tin thu thập được.

    Bước 9: Điều tra thử, hoàn chỉnh lại toàn bộ bảng câu hỏi và các chỉ báo nghiên cứu

    – Chú ý: Phương án xử lý thông tin có ảnh hưởng đến việc xây dựng bảng câu hỏi, đặc biệt khi ứng dụng phần mềm máy vi tính để xử lý thông tin, thông thường việc xây dựng (hình thức) câu hỏi phải phù hợp với khả năng xử lý của chuyên gia phần mềm máy tính.

    – Điều tra thử là nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá sự hoạt động, khả năng thu nhận thông tin của từng câu hỏi cũng như toàn bộ bảng câu hỏi để xem chúng đạt kết quả tới đâu, có gì khiếm khuyết cần khắc phục hay bổ sung, để mục đích cuối cùng là xây dựng được bảng câu hỏi tối ưu, phù hợp với thực tế của vấn đề.

    Ngoài ra, qua điều tra thử, chúng ta có căn cứ để hoàn chỉnh văn phong của bảng câu hỏi, phù hợp với môi trường của địa phương, của vùng miền.

    – Khi tiến hành điều tra thử, cần chú ý 2 yêu cầu sau:

    + điều tra thử phải được tiến hành trên đúng bộ phận mẫu đã chọn

    + khoảng cách giữa điều tra thử và điều tra thật chỉ nên là 1 khoảng thời gian ngắn, để tránh những biến động có thể xảy ra ở khách thể của cuộc điều tra

    2. Giai đoạn tiến hành thu thập thông tin

    Bước 1: Lựa chọn thời điểm tiến hành điều tra

    – Gồm 6 bước công việc:

    – Lưu ý rằng mọi sự kiện chính trị, xã hội quan trọng, hoặc những sinh hoạt cộng đồng đều có tác động nhất định đến trạng thái tư tưởng, tâm lý của đối tượng điều tra, qua đó có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin mà họ cung cấp cho nhà nghiên cứu.

    – Nhìn chung, điều tra XHH nói chung, và điều tra XHH PL nói riêng, không nên diễn ra vào:

    + thời điểm có những hoạt động quan trọng của quốc gia, địa phương: VD ngày quốc khánh, ngày bầu cử, ngày kỷ niệm thành lập tỉnh, …

    Bước 2: Chuẩn bị kinh phí cho cuộc điều tra

    + không nên diễn ra vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết cổ truyền của dân tộc: VD với người làm văn phòng không nên điều tra vào thời điểm cuối năm và giữa năm (cuối năm có nghỉ tết, giữa năm có nghỉ hè), với người nông dân không nên khảo sát vào thời điểm mùa màng, …

    – Một cuộc điều tra xã hội học thường rất tốn kém về kinh phí. Thông thường chi cho các khoản sau:

    + xây dựng chương trình, đề cương nghiên cứu soạn thảo bảng câu hỏi

    + chi cho công tác đánh máy, in ấn tài liệu, giấy tờ, phiếu điều tra

    + chi mua văn phòng phẩm, dịch thuật (tài liệu tiếng nước ngoài)

    + chi công tác phí của điều tra viên, cộng tác viên trong những ngày thu thập thông tin tại địa bàn

    + thù lao cho điều tra viên, cộng tác viên, báo cáo viên, …

    + chi tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học, nghiệm thu đề tài, …

    – Kinh phí có ảnh hưởng lớn đến những người tiến hành điều tra:

    + kinh phí ít có thể làm giảm hứng thú, giảm sự hăng hái, nhiệt tình đối với điều tra viên

    + ngược lại, kinh phí nhiều có thể làm tăng sự hứng thú, sự hăng hái, nhiệt tình của điều tra viên

    Bước 3: Công tác tiền trạm

    – Kinh phí ít có thể làm chậm tiến độ điều tra, ngược lại kinh phí nhiều quá gây ra sự lãng phí

    – Là việc đoàn điều tra cử đại diện của mình đi trước tiếp xúc, liên hệ với cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương nơi sẽ diễn ra cuộc điều tra

    – Mục đích của công tác tiền trạm: là tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở, tin cậy với các cơ quan đoàn thể và nhân dân địa phương.

    – Công tác tiền trạm có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc điều tra:

    Bước 4: Lập biểu đồ tiến độ cuộc điều tra

    + ngược lại, nếu công tác tiền trạm không tốt, cuộc điều tra sẽ gặp khó khăn, chi phí có thể tăng lên mà hiệu quả có thể thấp đi

    – Căn cứ vào nhận lực của cuộc điều tra, chỉ đạo viên cùng với các điều tra viên xây dựng biểu đồ trong đó xác lập toàn bộ tiến độ thực hiện các công việc cần thiết của cuộc điều tra: nêu rõ ai, làm gì, lúc nào, khi nào phải hoàn thành, kết quả cần đạt được như thế nào

    Bước 5: Lựa chọn và tập huấn điều tra viên

    – Việc xây dựng biểu đồ cuộc điều tra một cách khoa học sẽ giúp cho từng thành viên chủ động công việc của mình, đồng thời giúp cho chỉ đạo viên có thể theo dõi, điều phối công việc hiệu quả.

    – Tiêu chuẩn của điều tra viên đối với cuộc điều tra XHH PL:

    + học vấn: phải là người có trình độ học vấn nhất định, có kiến thức và hiểu biết nhất định về PL. Đề tài PL càng phức tạp thì đòi hỏi trình độ, hiểu biết chuyên sâu về PL càng cao.

    + hiểu biết xã hội: phải là người có trình độ hiểu biết xã hội nhất định, am hiểu nhất định về truyền thống, văn hóa, tập quán, lối sống, ngôn ngữ của địa phương đang diễn ra cuộc điều tra

    + công tác quần chúng (dân vận): phải có khả năng làm tốt công tác vận động quần chúng, có khả năng tiếp cận các loại đối tượng xã hội khác nhau, có khả năng ứng xử linh hoạt các tình huống phức tạp có thể xảy ra.

    – Tập huấn điều tra viên với các nội dung:

    + giới thiệu mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra: để giải thích cho các đối tượng cung cấp thông tin

    + hiểu 1 cách thống nhất các khái niệm, thuật ngữ PL được sử dụng trong bảng câu hỏi

    + biết cách ghi nhận thông tin theo các dạng câu hỏi khác nhau. Đối với phương pháp phỏng vấn, cần trang bị kỹ năng đặt câu hỏi, cách lắng nghe, ghi chép thông tin và kiểm tra tính trung thực, khách quan trong các câu trả lời

    + giới thiệu trước các đặc điểm xã hội của đối tượng trả lời: hiểu về phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa, lối sống, ngôn ngữ địa phương

    Bước 6: Tiến hành thu thập thông tin

    + giao công việc cụ thể cho từng điều tra viên với tiến độ triển khai thực hiện 1 cách chi tiết

    – Là việc phát ra – thu về các phiếu điều tra, hoặc thực hiện phỏng vấn với đối tượng nghiên cứu

    – Kết quả của bước này chính là lượng thông tin thu nhận được

    3. Giai đoạn xử lý và phân tích thông tin

    – Giai đoạn này do chính các nhà nghiên cứu đảm nhiệm cùng các chuyên gia lập trình máy tính.

    – Kết quả của giai đoạn này chính là sản phẩm cuối cùng của cuộc điều tra: báo cáo khoa học chuyên đề, các giải pháp, kiến nghị về vấn đề PL đang nghiên cứu.

    – Gồm 4 bước:

    + tập hợp tài liệu

    + phân tích thông tin thu được

    + kiểm tra các giả thiết đã đặt ra tước đó

    + trình bày báo cáo và xã hội hóa kết quả nghiên cứu

    (tiếp bài trước)

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    III. Các phương pháp thu thập thông tin điều tra xã hội học

    1. Phương pháp phân tích tài liệu

    a. Nguồn tài liệu

    – Nguồn tài liệu được cất giữ bằng những hình thức đa dạng, phong phú. Trong đó phổ biến nhất là hình thức xuất bản phẩm, tức là thể hiện dưới hình thức sách, VD bộ luật, giáo trình, báo, tạp chí. Ngoài ra còn có phim, đĩa, hoặc trên Internet

    – Nguồn tài liệu có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu tư nhân:

    + nếu nguồn tài liệu thuộc sở hữu NN: khi sử dụng cần trích dẫn nguồn 1 cách tường minh

    + nếu nguồn tài liệu thuộc sở hữu tư nhân: khi sử dụng phải xin phép và phải được sự đồng ý của các giả, và khi tác giả đồng ý cho sử dụng thì phải nêu rõ dẫn nguồn 1 cách tường minh

    b. Đánh giá giá trị nguồn tài liệu

    Chú ý: việc sử dụng tài liệu mà không nêu trích dẫn nguồn, không xin phép tác giả có thể dẫn đến những vấn đề pháp lý về bản quyền tác giả.

    – Đánh giá xem nguồn đó có giá trị khoa học không, có ý nghĩa thực tiễn không, có giá trị đối với hiện tại không hay đã lạc hậu.

    – Để có thể đánh giá được tài liệu, cần xem xét các yếu tố:

    + văn cảnh, xuất xứ của tài liệu

    + tác giả tài liệu

    + tên tài liệu, mục đích tài liệu

    + do nhà xuất bản nào phát hành, vào năm nào, tại địa phương nào

    + ảnh hưởng xã hội của tài liệu

    + độ tin cậy của tài liệu

    + …

    c. Thực chất của phương pháp phân tích tài liệu

    Trong đó, quan trọng nhất là phân biệt tính xác thực của bản thân tài liệu với độ tin cậy của các thông tin trong tài liệu.

    – Có 2 phương pháp chính:

    + Phương pháp phân tích định tính (còn gọi là phương pháp phân tích cổ điển): đọc tài liệu, tìm ra các ý tưởng hay của tài liệu đó

    e. Đánh giá về phương pháp phân tích tài liệu

    + Phương pháp phân tích định lượng: thường được sử dụng khi nhà nghiên cứu cần xử lý 1 số lượng thông tin lớn, thường gắn với các bảng biểu, đồ thị, con số, và hiện nay thường sẽ sử dụng máy vi tính với phương pháp này.

    – Ưu điểm:

    + ít tốn nhân công, thời gian, chi phí, mà vẫn cho kết quả có giá trị, có chất lượng

    + ưu thế vượt trội khi nghiên cứu các vấn đề nhạy cảm, tế nhị, phức tạp mà nếu dùng các phương pháp khác sẽ gặp nhiều khó khăn. VD nghiên cứu tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, bệnh xã hội

    – Nhược điểm:

    2. Phương pháp quan sát

    a. Khái niệm

    – Thực chất của phương pháp quan sát là sự tri giác trực tiếp của nhà nghiên cứu đối với những đặc điểm, dấu hiệu, biểu hiện bên ngoài trong hành vi, hoạt động ở 1 trạng thái nhất định của đối tượng cần quan sát nhằm tìm kiếm, thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

    – Cần phân biệt giữa quan sát khoa học và quan sát thông thường:

    b. Phân loại quan sát

    Sự quan sát luôn tuân theo 1 mục đích nhất định

    Quan sát không có mục đích rõ ràng

    Cần thực hiện theo kế hoạch tương ứng với mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trước đó

    Không tuân theo kế hoạch, mục tiêu

    Phải có sự ghi chép, nhật ký, biên bản quan sát

    Không có ghi chép

    Kết quả đòi hỏi phải kiểm tra lại về tính trung thực, độ tin cậy

    Kết quả thu nhận được không cần kiểm chứng, không cần kiểm tra tính trung thực

    – Có nhiều tiêu chí để phân loại

    – Phân loại theo vị trí của người quan sát:

    + quan sát tham dự: người quan sát thâm nhập, tham gia, tham dự cùng với nhóm xã hội cần quan sát để thu thập thông tin. Để có thể quan sát khách quan thì người quan sát phải âm thầm, bí mật thâm nhập vào nhóm xã hội, cố ý thu mình lại, không để những người xung quanh chú ý đến sự hiện diện của mình. Đây là sự quan sát “từ bên trong” nên thông tin thu được có sự tin cậy khá cao.

    – Phân loại theo địa điểm:

    – Ưu điểm:

    + ít tốn nhân công, thời gian, chi phí

    + cho phép nắm bắt, ước lượng 1 cách trực tiếp, đầy đủ những đặc điểm, những mối liên hệ có thực đang diễn ra tự nhiên, bình thường trong cuộc sống

    + cho phép đánh giá nhanh chóng các giả thiết nghiên cứu, nhất là các giả thiết có tính chất mô tả

    – Nhược điểm:

    + chỉ bằng quan sát, khó xác định được mục đích, nguyên nhân của hành động, khó nắm bắt thế giới nội tâm, tâm lý của đối tượng quan sát

    + khó tránh khỏi sự áp đặt ý chí chủ quan của người quan sát lên đối tượng

    3. Phương pháp phỏng vấn

    a. Khái niệm

    – Phỏng vấn là cuộc nói chuyện được tiến hành theo 1 kế hoạch nhất định thông qua cách thức hỏi – đáp trực tiếp giữa người phỏng vấn và người cung cấp thông tin theo 1 bảng câu hỏi (phiếu điều tra) được chuẩn bị trước, trong đó, người phỏng vấn nên lên các câu hỏi cho đối tượng cần khảo sát, lắng nghe ý kiến trả lời, và ghi nhận kết quả vào phiếu điều tra.

    b. Phân loại phương pháp phỏng vấn

    Chú ý: việc vừa lắng nghe, vừa ghi chép là rất khó thực hiện, vì tốc độ ghi chép chậm hơn nhiều so với tốc độ nói. Giải pháp có thêm người ghi tốc ký, tuy nhiên khi có người thứ 3 thì cuộc phỏng vấn có thể không thoải mái, người được phỏng vấn có thể trả lời không trung thực. Giải pháp khác là ghi âm, tuy nhiên phải xin phép trước khi ghi âm, và thực tế rất ít người đồng ý cho ghi âm Giải pháp cuối cùng là “ghi âm trộm”, tuy nhiên chỉ được dùng tệp ghi âm cho mục đích nghe lại và ghi chép lại cuộc phỏng vấn, không được dùng vào việc khác, đặc biệt là việc gây bất lợi cho người được phỏng vấn.

    – Căn cứ vào diễn biến trình tự thực hiện cuộc phỏng vấn:

    + phỏng vấn tiêu chuẩn hóa: được diễn ra theo đúng trình tự nhất định với 1 nội dung đã vạch sẵn như nhau cho mọi người, người phỏng vấn tiến hành thu thập thông tin theo đúng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước, người phỏng vấn không được tùy tiện thay đổi nội dung hay trình tự câu hỏi, không được bổ sung câu hỏi và không được gợi ý phương án trả lời. Đặc điểm của phỏng vấn tiêu chuẩn là mang tính gò bó, khô khan, cứng nhắc. Phỏng vấn tiêu chuẩn phù hợp với đối tượng trả lời là chính khách, cán bộ lãnh đạo cấp cao (vì mỗi lời nói của những người này đều có sức ảnh hưởng rất lớn).

    – Căn cứ vào tính chất nông sâu của cuộc phỏng vấn:

    + phỏng vấn thường: về những vấn đề thông thường của đời sống PL, xã hội

    – Căn cứ vào số lượng người tham gia:

    + phỏng vấn cá nhân: 1 người hỏi và 1 người trả lời

    + phỏng vấn xã hội: 1 người hỏi và nhiều người trả lời.

    c. Trình tự dẫn dắt 1 cuộc phỏng vấn

    Phỏng vấn qua điện thoại: thường được áp dụng khi muốn điều tra nhanh 1 vấn đề nóng bỏng trong xã hội mà dư luận đang quan tâm

    – Thông thưởng 1 cuộc phỏng vấn trải qua 5 bước:

    + B1: Thiết lập sự tiếp xúc bước đầu, mục đích là tạo không khí thân thiện, cởi mở cho cuộc phỏng vấn, chưa đi vào nội dung chính của cuộc phỏng vấn

    + B2: Củng cố cuộc tiếp xúc bằng các câu hỏi đầu tiên theo kế hoạch, thường là những câu hỏi dễ dàng mang tính khởi động như câu hỏi thông thường về cuộc sống, sinh hoạt, mối quan tâm, … của người được phỏng vấn

    + B3: Chuyển tới nội dung chính của cuộc phỏng vấn, nêu các câu hỏi chính đã chuẩn bị sẵn theo đúng thứ tự, không dẫn dắt trả lời. Người hỏi cần thể hiện thái độ cầu thị, chăm chú lắng nghe, khích lệ người trả lời, nếu người trả lời tỏ thái độ lúng túng, còn e ngại chưa cởi mở thì điều tra viên không nên cố ép phải trả lời mà có thể chuyển qua câu hỏi tiếp theo, để sau đó chờ lúc thích hợp quay trở lại câu hỏi đó.

    + B4: Nhanh chóng thiết lập lại cuộc phỏng vấn khi bị ngắt quãng vì lý do nào đó. Người trả lời vì lý do nào đó có thể từ chối việc trả lời câu hỏi, hoặc trả lời lan man, lệch trọng tâm, hoặc cuộc phỏng vấn bị ngắt quãng vì lý do khách quan (có điện thoại, có người khác vào, …). Khi đó điều tra viên phải biết dừng lại đúng lúc, biết gợi ý, khích lệ hoặc chuyển qua câu hỏi khác.

    d. Đánh giá

    + B5: Kết thúc cuộc phỏng vấn: điều tra viên đề nghị người trả lời cung cấp 1 số thông tin cá nhân (cần nhấn mạnh với người trả lời là những thông tin cá nhân chỉ nhằm mục đích thống kê hoa học), cảm ơn người trả lời và nhấn mạnh tầm quan trọng của những thông tin họ đã cung cấp.

    – Ưu điểm:

    + phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu định tính cơ bản, cho phép thu thập được thông tin về thực tại cũng như quan điểm cá nhân, suy nghĩ, tình cảm của đối tượng điều tra

    + thông tin thu được có chất lượng cao vì tính chân thực và độ tin cậy của thông tin có thể được kiểm nhiệm ngay trong quá trình phỏng vấn

    – Nhược điểm:

    + việc tiếp xúc đối tượng phỏng vấn tương đối khó, lý do thường là không muốn bày tỏ quan điểm cá nhân, ngại tiếp xúc, ngại va chạm

    4. Phương pháp an-két

    – Phương pháp an-két là hình thức hỏi – đáp gián tiếp dựa trên bảng câu hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến) được soạn thảo trước, theo đó điều tra viên tiến hành phát bảng câu hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời, người được hỏi tự đọc các câu hỏi, ghi trả lời vào phiếu hỏi, sau đó gửi lại điều tra viên.

    – Đặc trưng của phương pháp an-két là chỉ sử dụng 1 bảng câu hỏi đã được quy chuẩn, dùng để hỏi chung cho mọi người. Và thông thường nhà nghiên cứu không tiếp xúc trực tiếp với người trả lời, mà thông qua cộng tác viên phát câu hỏi, thu thập câu trả lời, và nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên thông tin trả lời đó.

    Câu hỏi: Về bản chất phương pháp phỏng vấn và phương pháp an-két là 1 vì đều sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin.

    b. Phân loại

    : Sai. Vì phương pháp phỏng vấn là hỏi -đáp trực tiếp giữa nhà nghiên cứu và người trả lời, còn phương pháp an-két là hỏi – đáp gián tiếp, tức là nhà nghiên cứu không tiếp xúc trực tiếp với người trả lời, mà thông qua cộng tác viên phát câu hỏi, thu thập câu trả lời, và nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên thông tin trả lời đó.

    – Căn cứ vào kết cấu câu hỏi:

    + phương pháp an-két đóng: sử dụng câu hỏi đóng (đã có sẵn các phướng án trả lời)

    + phương pháp an-két mở: sử dụng câu hỏi mở (chưa có phương án trả lời)

    – Căn cứ vào phương thức phát – thu phiếu an-két:

    + gửi phiếu qua đường bưu điện đến người trả lời và đợi phiếu quay trở về địa chỉ của nhà nghiên cứu: trường hợp này thì dịch vụ bưu điện thay cho vai trò cộng tác viên, đóng vai trò kết nối giữa nhà nghiên cứu với người cung cấp thông tin. Ưu điểm là tiết kiệm chi phí, nhưng cần chú ý cần phát dư số phiếu an-két vì khả năng thư đi không có thư về là khá cao.

    c. Kết cấu của phiếu an-két

    + phát phiếu an-két tại chỗ qua đội ngũ cộng tác viên: cộng tác viên trực tiếp phát ra và thu về phiếu an-két

    – Thông thường phiếu an-két có kết cấu 3 phần:

    + phần mở đầu: trình bày mục tiêu, ý nghĩa của cuộc điều tra, tên cơ quan nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời, kêu gọi sự hợp tác, giúp đỡ của người trả lời phiếu

    + phần nội dung: các câu hỏi về nội dung của đề tài nghiên cứu

    d. Đánh giá

    + phần kết thúc: các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người trả lời, cảm ơn người trả lời, đánh giá cao thông tin mà người trả lời đã cung cấp.

    – Ưu điểm:

    + an-két là phương pháp nghiên cứu định lượng, có thể triển khai trên quy mô rộng, thu thập ý kiến của nhiều người cùng lúc

    – Nhược điểm:

    + việc soạn thảo bảng câu hỏi đòi hỏi chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ cao cả về lý luận và thực tiễn

    5. Phương pháp thực nghiệm

    a. Khái niệm

    – Trong phương pháp thực nghiệm, nhà nghiên cứu tạo ra 1 sự kiện, tình huống pháp lý gần giống với sự kiện, tình huống thực tế đã xảy ra trong thực tiễn đời sống PL, qua đó quan sát các hoạt động, cách ứng xử của những người tham gia vào sự kiện, tình huống đó nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho vấn đề, sự kiện PL cần nghiên cứu, kiểm tra những giả thuyết đang nghiên cứu.

    b. Phân biệt phương pháp thực nghiệm với phương pháp quan sát

    VD: khi nghiên cứu vụ án hình sự, nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm để “dựng lại hiện trường” vụ án để kiểm tra tính xác thực của các tình tiết trong vụ án.

    c. Đánh giá

    Giống nhau:

    + đều là hoạt động thực tiễn, có định hướng nhất định nhằm vào 1 hiện tượng xã hội để thu nhận thông tin

    + đều sử dụng tri giác trực tiếp để nhìn, nhận xét tình huống đang diễn ra

    Quan sát sự kiện do chính các nhà nghiên cứu tạo dựng nội dung: đã có sự chi phối, can thiệp của người nghiên cứu

    Là sự quan sát hiện tượng đang diễn ra tự nhiên trong cuộc sống, không có sự can thiệp của ý chí chủ quan của người thực hiện

    Tình huống nhân tạo

    Tình huống tự nhiên

    – Ưu điểm:

    + ít tốn kém về thời gian, kinh phí, nhân lực mà vẫn có thể thu được thông tin có chất lượng và độ tin cậy cao

    + nhanh chóng kiểm tra, đánh giá được tính đúng – sai, phù hợp – không phù hợp của giả thuyết nghiên cứu

    – Nhược điểm:

    + rất khó tạo ra được sự kiện, tình huống PL giống với thực tế

    Vấn đề 3: Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội

    + đòi hỏi phải có chuyên gia trình độ cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn

    I. Nguồn gốc, bản chất xã hội, các chức năng xã hội của PL

    (Tài liệu: Giáo trình xã hội học PL, chương 3)

    1. Nguồn gốc xã hội của pháp luật

    – Pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, nhà nước ra đời thì ngay lập tức tạo ra pháp luật.

    – Theo lý thuyết thần học: nhà nước và PL do “thượng đế” sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung của xã hội

    – Theo lý thuyết nguồn gốc tự nhiên: NN và PL hình thành theo nhu cầu của con người, đây là tư tưởng của những thiết gia nổi tiếng thời cổ đại như Platon, Aristot

    – Theo lý thuyết về khế ước xã hội: để tránh những cuộc chiến nguy hiểm của con người chống lại con người, thì con người tập hợp lại với nhau và cùng thỏa thuận nhượng 1 số quyền cho quyền lực chung là NN và PL, đây được gọi là khế ước xã hội, các học giả nổi tiếng của thuyết này là T. Hobben, J. Locke, Montesqieur, J. Rouseau

    – Học thuyết bạo lực: NN và PL ra đời do các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, sự chinh phục của bộ lạc này với bộ lạc khác, đại diện của học thuyết này là E. Đuy-ring, L. Gumplovich

    – Theo quan điểm mac-xit:

    + xã hội cộng sản nguyên thủy đã trải qua 3 lần phân công lao động xã hội:

    + NN cần có công cụ để điều hòa xã hội, đó chính là PL, PL thể hiện ý chí của giai cấp thống trị về duy trì trật tự xã hội.

    2. Bản chất xã hội của pháp luật

    – Hai quan điểm về PL:

    + pháp luật thực định: (còn gọi là pháp luật trên giấy tờ) gắn với ý chí của NN, do NN ban hành.

    Khái niệm PL: PL là hệ thống các quy tắc xử sự do NN ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    + pháp luật tự nhiên: là 1 loại chuẩn mực xã hội bên cạnh những chuẩn mực xã hội khác, gắn với lợi ích con người, xuất phát từ nhu cầu của con người

    – Quan điểm pháp luật tự nhiên chính là cơ sở lý luận, là nền tảng của xã hội học pháp luật. Theo đó nhận thức về pháp luật phải dựa trên 2 yếu tố:

    + bình đẳng: nhận thức về pháp luật như là mức độ ngang nhau của tự do trong các quan hệ xã hội

    + lợi ích: để điều chỉnh hành vi luôn xuất phát từ phạm trù lợi ích, đây là phạm trù then chốt của xã hội học

    – Các đặc trưng cơ bản của pháp luật:

    – Trong xã hội học pháp luật, pháp luật được hiểu là hình thức thực hiện các lợi ích xã hội theo nguyên tắc bình đẳng. Các lợi ích xã hội được thực hiện dưới hình thức pháp luật khi và chỉ khi nó không làm tổn hại đến lợi ích của chủ thể khác (tức là không được tạo ra đặc quyền, đặc lợi cho lợi ích này mà gây tổn hại đến lợi ích khác)

    + tính chuẩn mực của pháp luật: PL là hệ thống các quy tắc xử sự, là những “khuôn mẫu” được xác định 1 cách cụ thể, rõ ràng. Thường biểu hiện dưới dạng “cái có thể”, “cái được phép”, “cái không được phép”, “cái bắt buộc thực hiện”, … và nếu vượt ra khỏi phạm vi đó thì bị coi là vi phạm PL.

    Chuẩn mực pháp luật khác với các chuẩn mực xã hội khác là nó mang tính cưỡng bức của NN.

    + tính ý chí của pháp luật: PL là ý chí của NN, của giai cấp thống trị

    – Vai trò của pháp luật:

    + tính cưỡng chế của pháp luật: NN thông qua các công cụ quyền lực của mình như quân đội, cảnh sát, nhà tù, … để đảm bảo PL do NN ban hành được thực thi trong thực tế

    + PL là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực NN

    + PL là phương tiện để NN quản lý kinh tế, xã hội

    + PL góp phần tạo dựng những quan hệ xã hội mới

    + PL tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia

    3. Các chức năng xã hội của pháp luật

    Chức năng điều hòa, giải quyết các xung đột: đây là chức năng cơ bản, quan trọng nhất của PL. Xung đột ở đây được hiểu là xung đột giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa các tổ chức với nhau. Các chế định PL cho chức năng này là các tòa án (tòa hình sự, tòa dân sự, tòa lao động, tòa hôn nhân gia đình, tòa kinh tế, …).

    Chức năng bảo vệ:

    + PL là công cụ để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích NN và nhân dân

    + PL bảo vệ, củng cố và điều chỉnh những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị

    + PL bảo vệ quan hệ sở hữu, điều chỉnh các phương pháp và hình thức phân công lao động, phân phối sản phẩm giữa các thành viên của xã hội

    Chức năng giáo dục: các thành viên của xã hội (cá nhân, tổ chức) đều phải tuân thủ PL, qua đó PL tác động vào ý thức con người, chi phối ý thức và điều chỉnh hành vi của cá nhân sao cho phù hợp với ý chí chung của xã hội.

    (Tập bài giảng XHH, chương II)

    1. Khái niệm cơ cấu xã hội

    – Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức xã hội bên trong của hệ thống xã hội nhất định, biểu hiện như là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xã hội đó. Những thành tố này tạo ra bộ khung cho tất cả xã hội loài người. Những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xã hội là nhóm xã hội với vai trò, vị thế của nó và các thiết chế.

    – Các đặc trưng của cơ cấu xã hội:

    + cơ cấu xã hội không những được xem như là tổng thể, tập hợp các bộ phận cấu thành xã hội, mà còn được xem xét về mặt kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của hệ thống xã hội. Tức là cơ cấu xã hội giải thích được: xã hội được cấu thành từ những thành tố nào, theo kiểu gì, cách thức sắp xếp và liên kết giữa các bộ phận, các thành tố như thế nào.

    + cơ cấu xã hội là sự thống nhất của 2 mặt: các thành phần xã hội và các mối liên hệ xã hội

    a. Nhóm xã hội

    – Đây là khái niệm được dùng phổ biến và rộng rãi trong các nghiên cứu xã hội học nói chung và xã hội học PL nói riêng.

    – Nhóm xã hội là 1 khái niệm “linh hoạt”:

    + theo nghĩa rộng: dùng để chỉ 1 giai cấp, 1 tầng lớp xã hội (gồm hàng triệu người). VD tầng lớp công nhân, tầng lớp trí thức

    + theo nghĩa hẹp: dùng để 1 tập thể gồm từ 2 người trở lên mà giữa họ có mối liên hệ nhất định với nhau. VD nhóm xã hội nhỏ nhất là 2 vợ chồng

    – Chú ý: nhóm xã hội khác với đám đông người: đám đông người chỉ là tập hợp người ngẫu nhiên đơn thuần, không có mối liên hệ nội tại nào bên trong; còn nhóm xã hội có mối liên hệ với nhau.

    – Định nghĩa: Nhóm xã hội là khái niệm dùng để chỉ tập hợp những cá nhân con người có chung quan điểm, sở thích, định hướng, giá trị, chuẩn mực xã hội. Nói cách khác, nhóm xã hội là sự liên kết giữa những con người dựa trên những tiêu chí, tiêu chuẩn liên kết nhất định.

    VD: tập thể lớp K14CCQ là 1 nhóm xã hội

    – Phân loại nhóm xã hội theo số lượng thành viên:

    + nhóm xã hội lớn

    + nhóm xã hội nhỏ

    Chú ý: tính “lớn” hay “nhỏ” chỉ mang tính tương đối.

    – Căn cứ vào tính chất của mối liên kết giữa các thành viên:

    + nhóm xã hội chính thức: là nhóm xã hội trong đó mối liên hệ giữa các thành viên mang tính bền vững, ổn định, dài lâu. VD tập thể lớp K14CCQ là 1 nhóm xã hội chính thức

    + nhóm xã hội không chính thức: là nhóm xã hội trong đó mối liên hệ giữa các thành viên chỉ mang tính nhất thời, lỏng lẻo, trong khoảng thời gian nhất định. VD cổ động viên trong 1 trận đấu bóng đá là 1 nhóm xã hội, nhưng chỉ hình thành trong 90 phút của trận đấu, kết thúc trận đấu thì nhóm xã hội đó cũng không còn nữa

    (tiếp bài trước) b. Vị thế xã hội

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    – Khái niệm: Vị thế xã hội là vị trí (chỗ đứng) của 1 cá nhân trong xã hội và mối quan hệ giữa cá nhân đó với những người xung quanh.

    – Thông thường, mỗi cá nhân có nhiều vị thế trong xã hội, nhưng trong số đó, vị thế xã hội quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo trong việc xem xét đánh giá các đặc điểm xã hội của cá nhân là vị thế do nghề nghiệp của cá nhân đó tạo nên (gọi là vị thế nghề nghiệp)

    – Vị thế gồm 2 loại:

    + vị thế tự nhiên: là vị thế gắn với những thiên chức, nhưng đặc điểm cơ bản mà cá nhân không thể tự kiểm soát được. VD giới tính, lứa tuổi, chủng tộc, …

    + vị thế xã hội: là vị thế phụ thuộc vào những đặc điểm mà trong chừng mực nhất định cá nhân có thể kiểm soát được. Vị thế xã hội phụ thuộc vào sự nỗ lực phấn đấu và nghị lực vươn lên của cá nhân.

    Trong quá trình cá nhân phấn đấu cho 1 vị thế xã hội nhất định, có các yếu tố ảnh hưởng:

    + địa vị kinh tế: được tạo nên từ tài sản, tiền tài cá nhân (thường được gọi “triệu phú”, “tỷ phú”)

    + địa vị chính trị: quyền lực chính trị mà NN trao cho 1 người (chính trị gia, chính khách, quan chức)

    + địa vị xã hội: năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp, uy tín của cá nhân đối với tập thể

    c. Vai trò

    Chỉ có địa vị xã hội mới là địa vị đích thực mà 1 cá nhân tạo dựng nên cho mình.

    – Khái niệm: Vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn liền với vị thế xã hội nhất định.

    d. Thiết chế xã hội

    VD: Giảng viên là 1 vị thế xã hội, vai trò của giảng viên thực hiện công việc giảng dạy cho sinh viên, phải tuân thủ các chuẩn mực của 1 giảng viên mà PL và XH đã quy định

    – Khái niệm: Thiết chế xã hội là tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội.

    VD:

    + thiết chế chính trị: đảm bảo việc thiết lập và giữ vững quyền lực chính trị

    + thiết chế pháp luật: đảm bảo trật tự, công bằng xã hội và kiểm soát xã hội

    + thiết chế kinh tế: đảm bảo quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối lợi ích của hàng hóa, dịch vụ

    + thiết chế gia đình: điều hòa hành vi tình cảm, tình dục, nuôi dạy con cái

    + thiết chế giáo dục: truyền thụ những tri thức văn hóa cho thế hệ trẻ, kế thừa và phát triển các tri thức khoa học

    + …

    III. Các phân hệ cơ cấu xã hội và mối liên hệ với pháp luật

    1. Cơ cấu xã hội – nhân khẩu và mối liên hệ với pháp luật

    a. Cơ cấu giới tính

    – Cơ cấu xã hội – nhân khẩu là 1 phân hệ của xã hội theo 1 cơ cấu bộ phận được xem xét, đánh giá dựa vào 3 dấu hiệu quan trọng về mặt sinh học – xã hội của con người: giới tính, lứa tuổi, và tình trạng hôn nhân.

    – Cơ cấu giới tính là sự phân chia tổng số thành viên trong xã hội thành số người nam và số người nữ.

    – Xét theo cơ cấu xã hội học giới tính, thì toàn bộ số thành viên trong xã hội chia vùng về cơ bản chỉ gồm 2 bộ phận là namnữ.

    – Nam và nữ tồn tại nhiều sự khác biệt về mặt xã hội, như thể chất, năng lực chuyên môn, trình độ học vấn, tâm lý giới tính, vị thế xã hội, vai trò chức năng trong gia đình và ngoài xã hội, … Do đó cần điều chỉnh tỷ lệ cơ cấu giới tính sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội, và sao cho để cho mỗi nhóm cơ cấu (nam và nữ) có sự đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của xã hội.

    – Nam, nữ bình quyền được luật hóa: trong Hiến pháp, Luật bình đẳng giới

    – Quan hệ nam, nữ được điều chỉnh trong Luật hôn nhân và gia đình

    – Giải quyết mâu thuẫn nam, nữ: Luật phòng chống bạo lực gia đình

    b. Cơ cấu lứa tuổi

    – Luật lao động: quy định những ưu tiên khi phụ nữ sinh đẻ, về những công việc (nặng nhọc, độc hại) mà phụ nữ không được làm (để bảo vệ sức khỏe nữ giới)

    – Phân chia các thành viên trong xã hội thành những nhóm tuổi, độ tuổi nhất định tùy theo mục đích của cuộc khảo sát, nghiên cứu.

    VD: nghiên cứu về nguồn nhân lực lao động sẽ gồm các nhóm:

    + nhóm chưa đến tuổi lao động: dưới 15 tuổi

    + nhóm trong độ tuổi lao động: nam từ 15 đến 60, nữ từ 15 đến 55

    + nhóm hết độ tuổi lao động: nam trên 60, nữ trên 55

    VD: có thể chia thành:

    + nhóm trẻ em: quy định trong Hiến pháp, Luật lao động, Luật bảo vệ trẻ em, Luật giáo dục, Luật hình sự

    Tuy nhiên: quy định về độ tuổi được coi là trẻ em hiện đang có sự mâu thuẫn trong các văn bản Luật

    + nhóm thanh niên: quy định trong Hiến pháp, Luật thanh niên, Luật hôn nhân gia đình, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật dạy nghề, Luật đại học, Luật lao động, Luật cán bộ công chức, Luật viên chức, …

    + nhóm người cao tuổi: quy định trong Luật người cao tuổi, Luật về hội

    c. Cơ cấu tình trạng hôn nhân

    – Thông thường nghiên cứu cơ cấu xã hội – nhân khẩu theo đồng thời cả 2 tiêu chí giới tính và lứa tuổi

    – Cơ cấu nhân khẩu theo tình trạng hôn nhân là sự phân chia dân số trên 15 tuổi thành các nhóm:

    + Nhóm chưa bao giờ kết hôn

    + Nhóm đang trong hôn nhân: quy định trong Luật Hôn nhân gia đình

    + Nhóm góa: chồng chết hoặc vợ chết

    + Nhóm ly thân: PL VN hiện chưa thừa nhận tình trạng hôn nhân này

    + Nhóm ly hôn: là 1 chế định trong luật hôn nhân gia đình

    + Nhóm liên minh tự do: (thuật ngữ dùng ở phương Tây) nam, nữ chưa vợ chưa chồng sống chung như vợ chồng với nhau, không đăng ký kết hôn, vẫn có con chung (ở VN có 1 thời gian dùng thuật ngữ “hôn nhân thực tế” để chỉ nhóm này)

    2. Cơ cấu xã hội – lãnh thổ

    – Được phân chia dựa trên hình thức tổ chức cư trú, lao động, sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Theo đó về cơ bản có 2 cộng đồng:

    + cộng đồng đô thị

    + cộng đồng nông thôn

    – Hai cộng đồng xã hội đô thị và nông thôn có sự khác biệt về điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng, lối sống, các đặc trưng văn hóa, thiết chế xã hội, …

    + Vấn đề được lãnh thổ được quy định ngay trong Hiến pháp: ” Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.”

    + với cộng đồng đô thị: Luật quy hoạch đô thị 2009,

    + với cộng đồng nông thôn: chưa có Luật nông thôn, chỉ có các văn bản dưới luật

    + ngoài ra còn có Luật tổ chức chính quyền địa phương

    3. Cơ cấu xã hội – dân tộc

    – Được phân chia dựa trên tiêu chí dân tộc, theo đó VN có cơ cấu 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 87%

    – Với các dân tộc thiểu số, ngoài các chính sách hỗ trợ, phát triển dân tộc, cần chú ý vấn đề luật tục của từng dân tộc

    4. Cơ cấu xã hội – nghề nghiệp

    – Là sự phân chia tổng số thành viên xã hội theo nghề nghiệp mà họ đang thực hiện

    – Cơ cấu nghề nghiệp ở đô thị phong phú hơn so với cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn.

    – PL điều chỉnh gồm có: Luật lao động, Luật giáo dục đại học, Luật dạy nghề, Luật cán bộ công chức, Luật viên chức, …

    5. Cơ cấu xã hội – giai cấp

    – Là sự phân chia tổng số thành viên xã hội thành những giai cấp, tầng lớp xã hội tùy theo tính chất, địa vị giai cấp của họ

    – Sự xuất hiện của giai cấp, tầng lớp xã hội chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của NN, và từ đó dẫn tới sự ra đời của PL

    – Sự xuất hiện của giai cấp, tầng lớp xã hội chính là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành hệ thống chính trị, mô hình tổ chức khác nhau của từng quốc gia cụ thể. Có 3 thành phần chủ yếu:

    + đảng chính trị: ở NN tư bản là hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; còn ở VN là nhất nguyên chính trị, 1 đảng

    + Nhà nước: là thành tố trung tâm của bất cứ chế độ chính trị nào. NN là hiện thân của đảng chính trị, mà đảng chính trị là đại diện cho giai cấp cầm quyền trong xã hội

    + các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp: là các tổ chức chính trị được PL thừa nhận, ở VN quan trọng nhất là Mặt trận tổ quốc

    IV. Phân tầng xã hội và mối liên hệ với pháp luật

    – Khái niệm: là sự phân chia tầng lớp trong xã hội.

    Vấn đề 4: Pháp luật trong mối liên hệ với chuẩn mực xã hội

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    I. Khái quát về chuẩn mực xã hội

    1. Khái niệm chuẩn mực xã hội

    – Khái niệm: Là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân, nhóm xã hội, trong đó xác định ít hay nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép, hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người nhằm củng cố, đảm bảo sự ổn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội.

    – Đặc điểm:

    + chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, do chính các thành viên của xã hội đặt ra nhằm áp đặt cho mỗi hành vi xã hội của mỗi người. Đặc điểm này cho thấy chuẩn mực xã hội là do con người làm ra chứ không phải là do “thánh thần” áp đặt cho con người (loại bỏ nguồn gốc thần học).

    • Cái có thể: khả năng thực hiện hay không thực hiện 1 hành vi xã hội của con người khi tham gia vào quan hệ xã hội cụ thể. VD thấy 1 người ngã xuống sông có nguy cơ chết đuối thì người phát hiện có nhảy xuống cứu hay không phụ thuộc vào việc người đó có biết bơi hay không, và việc có sẵn lòng cứu người hay không.
    • Cái được phép: những hành vi, hoạt động của con người đã và đang được phép thực hiện trong cuộc sống hàng ngày, phù hợp với các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chuẩn mực xã hội nói chung và của PL nói riêng khi họ tham gia vào quan hệ xã hội. VD đi bộ trên vỉa hè, công dân được phép kinh doanh tất cả những gì PL không cấm
    • Cái không được phép: những hành vi, hoạt động mà chuẩn mực xã hội cấm cá nhân thực hiện vì chúng gây ra hoặc có thể gây ra sự nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quan hệ xã hội. Thông thường cái không được phép được quy định trong chuẩn mực PL (các quy phạm cấm trong luật Hành chính, luật Hình sự). VD không được vượt đèn đỏ, trông được trộm cắp tài sản của người khác
    • Cái bắt buộc phải thực hiện: những hành vi, hoạt động mà chuẩn mực xã hội buộc cá nhân phải thực hiện, dù muốn hay không muốn, khi tham gia 1 quan hệ xã hội nhất định (thường được quy định trong PL hình sự). VD thấy người khác trong hoàn cảnh nguy hiểm đến tính mạng mà mình có điều kiện cứu giúp thì bắt buộc phải cứu giúp người bị nạn, nếu không thực hiện sẽ phải chịu trách nhiệm theo Điều 102: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. VD biết người phạm tội đang ẩn nấp mà không tố cáo thì sẽ bị khép tội Không tố giác tội phạm

    + hướng tới thực hiện các chức năng xã hội: góp phần tạo ra sự ổn định xã hội giữ gìn và bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội.

    2. Phân loại chuẩn mực xã hội

    a. Theo tính chất phổ biến

    – Chuẩn mực xã hội công khai: được phổ biến công khai, rộng rãi trong xã hội để mọi người cùng biết và tuân thủ, qua đó đảm bảo kỷ cương, an toàn xã hội. VD hiến pháp, các bộ luật sau khi được thông qua thì sẽ được phổ biến, tuyên truyền, giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân

    b. Theo đặc điểm ghi chép lại hay không ghi chép lại

    – Chuẩn mực xã hội ngầm ẩn: chỉ được công bố và áp dụng trong phạm vi nhóm xã hội nhất định, để cho các thành viên của nhóm đó thực hiện. VD luật omerta (im lặng hay là chết) của giới maphia ở Ý, theo đó thành viên của maphia Ý khi bị bắt thì phải tuyệt đối im lặng không được khai báo với cảnh sát, nếu không sẽ bị thủ tiêu

    – Chuẩn mực xã hội thành văn: là loại chuẩn mực xã hội mà các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi được ghi chép lại thành văn bản, gồm 3 loại

    + chuẩn mực pháp luật: các quy phạm PL đều được thể hiện trong các bộ luật và các văn bản PL khác

    + chuẩn mực chính trị

    + chuẩn mực tôn giáo

    – Chuẩn mực xã hội bất thành văn: là chuẩn mực xã hội có các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chúng không được ghi chép thành văn bản, mà được lưu truyền thông qua truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, gồm 3 loại:

    + chuẩn mực đạo đức

    + chuẩn mực phong tục tập quán

    + chuẩn mực thẩm mỹ

    3. Các đặc trưng cơ bản của chuẩn mực xã hội

    – Chuẩn mực xã hội dùng là công khai hay ngầm ẩn, thành văn hay bất thành văn đều có 3 đặc điểm sau:

    + Tính tất yếu xã hội: các chuẩn mực xã hội đều được hình thành từ chính các thành viên của xã hội nhằm củng cố, bảo vệ, phục vụ nhu cầu, lợi ích của họ. Ngoài ra, chuẩn mực xã hội còn mang tính lợi ích và tính bắt buộc thực hiện, tức là mọi thành viên của xã hội, dù muốn hay không muốn, đều phải tuân thủ theo, nếu không tuân theo sẽ bị phê phán, lên án, hoặc trừng phạt. VD: Hiến pháp là tất yếu xã hội vì xã hội cần có 1 đạo luật gốc, đạo luật cơ bản để trên cơ sở đó xây dựng các đạo luật cụ thể. VD luật hình sự, luật dân sự là tất yếu xã hội vì xã hội cần có chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế cuộc sống hàng ngày.

    + Tính định hướng của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian và đối tượng: Ví dụ với các đạo luật luôn có quy định về hiệu lực theo không gian (thường có phạm vi trên toàn lãnh thổ, hoặc 1 bộ phận của lãnh thổ như Luật thủ đô, Luật quy hoặc đô thị, Luật biển), theo thời gian (có hiệu lực kể từ ngày), và theo đối tượng (như Thanh niên, Luật người cao tuổi)

    + Tính vận động, biến đổi của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc:

    • Chuẩn mực xã hội không mang tính bất biến hay tồn tại vĩnh hằng, mà chúng luôn được đặt trong sự vận động, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của cộng đồng, và của các nhóm xã hội. Trong quá trình vận động, biến đổi đó, có những chuẩn mực xã hội sau khi hình thành đã phát huy được vai trò, tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; tuy nhiên cùng với thời gian chúng có thể trở nên lạc hậu, lỗi thời không phù hợp với xã hội hiện tại. Khi đó chúng sẽ tự mất đi hoặc bị thay thế bằng chuẩn mực xã hội mới phù hợp hơn, tiến bộ hơn. VD trước kia có truyền thống đốt pháo nổ ngày tết, sau đó tục lệ này đã bị loại bỏ do sự nguy hiểm của nó
    • Đối với mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước đều có hệ thống các chuẩn mực xã hội riêng của mình tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội có tính phổ biến, điển hình trong xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. VD trong xã hội chiếm hữu nô lệ thì quan hệ xã hội phổ biến, điển hình là quan hệ chủ nô và nô lệ
    • Có những chuẩn mực xã hội được phổ biến, tuân thủ ở 1 giai cấp, dân tộc này, nhưng lại không được phổ biến, không được tuân thủ ở 1 giai cấp, dân tộc khác. VD một số phong tục, tập quán của dân tộc Thái (như phong tục “chọc sàn”) không được phổ biến, áp dụng với người Kinh. VD trong triều đại nhà Trần có quy định hoàng tộc không được lấy người ngoài mà chỉ được lấy người trong họ.

    II. Các loại chuẩn mực xã hội và mối quan hệ của chúng với pháp luật

    1. Chuẩn mực chính trị

    a. Khái niệm chuẩn mực chính trị

    – Chuẩn mực chính trị là hệ thống những quy tắc, yêu cầu được xác lập nhằm điều tiết, điều hòa mối quan hệ chính trị – quyền lực giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, các tập hợp chính trị khác nhau trong 1 xã hội nhất định hoặc xác lập mối quan hệ chính trị giữa các NN với nhau.

    – Hai phương diện của chuẩn mực chính trị:

    + chuẩn mực chính trị đối nội: là các quy tắc, yêu cầu được xác lập nhằm điều tiết, điều hòa mối quan hệ chính trị – quyền lực giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, các tập hợp chính trị khác nhau trong phạm vi nội bộ 1 quốc gia

    + chuẩn mực chính trị đối ngoại: các nguyên tắc ngoại giao, các quy tắc ứng xử quốc tế, điều ước quốc tế nhằm điều tiết quan hệ giữa các NN với nhau. Có 2 loại:

    b. Đặc điểm của chuẩn mực chính trị

    • Quan hệ chính trị song phương: quan hệ chính trị giữa NN này với NN khác
    • Quan hệ chính trị đa phương: quan hệ chính trị giữa 1 NN với 1 nhóm NN khác (VD quan hệ giữa VN với EU), hoặc giữa 1 nhóm NN này với 1 nhóm NN khác, VD quan hệ giữa ASEAN với EU

    – Là loại chuẩn mực xã hội thành văn, nhưng phần lớn các quy tắc, yêu cầu của nó được ghi chép trong các chuẩn mực xã hội thành văn khác, như được ghi chép trong chuẩn mực pháp luật (gồm chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền), chuẩn mực tôn giáo (trong các quốc gia Hồi giáo, Thiên chúa giáo), …

    Câu hỏi: Tại sao chuẩn mực chính trị lại được thể hiện trong chuẩn mực pháp luật ?

    Câu hỏi: Tại sao lại không ban hành luật về đảng tại VN ?

    : Vì nếu có luật về đảng thì tức là đã luật hóa Điều lệ đảng, mà điều lệ đảng chỉ có hiệu lực trong phạm vi đảng viên, với người không phải là đảng viên thì không có bổn phận phải tuân theo điều lệ đảng

    c. Mối quan hệ giữa chuẩn mực chính trị và pháp luật

    – Ý nghĩa và việc áp dụng các chuẩn mực chính trị chỉ mang tính tương đối: cùng với sự vận động phát triển của xã hội qua các thời kỳ khác nhau mà giá trị, ý nghĩa của các chuẩn mực chính trị chỉ phát huy ở những giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định. Điều này đúng với cả chuẩn mực đối nội và chuẩn mực chính trị đối ngoại. VD ở nước Mỹ, khi 1 đảng trúng cử và cầm quyền thì sẽ thi hành các chuẩn mực chính trị của mình (tức là thực hiện cương lĩnh, chính sách, đường lối), đến kết nhiệm kỳ nếu không tiếp tục trúng cử thì đảng khác lên cầm quyền, và chuẩn mực chính trị của đảng thất cử sẽ bị mất đi ý nghĩa (được thay thế bằng chuẩn mực chính trị của đảng cẩm quyền mới đắc cử).

    – Chuẩn mực chính trị và PL có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, gắn bó với nhau, song hành với nhau “như hình với bóng”, trong đó:

    + chính trị là nền tảng, định hướng để hình thành nên bộ máy NN và xây dựng PL

    + ngược lại, PL là công cụ để giai cấp cầm quyền có thể thực hiện quyền lực chính trị của mình

    – Chuẩn mực chính trị là định hướng để hình thành, phát triển hệ thống PL của quốc gia.

    – Chuẩn mực chính trị trong mối quan hệ giữa các NN với nhau là cơ sở góp phần hình thành nên hệ thống PL quốc tế.

    – Ngược lại, PL là công cụ, phương tiện để định hướng, điều chỉnh hoạt động của các giai cấp, đảng phái, nhằm đảm bảo sự ổn định, phát triển của xã hội.

    2. Chuẩn mực tôn giáo

    a. Khái niệm

    – Chuẩn mực tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo (nhà thờ, chùa, thánh đường), được ghi chép và thể hiện trong các bộ kinh của các dòng tôn giáo.

    – Một tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố:

    + giáo chủ: là lực lượng siêu tự nhiên, được cộng đồng tôn giáo đó tôn thờ, “thần thánh hóa”, trở thành linh thiêng và tác động ngược trở lại tới niềm tin của con người. VD giáo chủ của Phật giáo là Phật tổ Thích ca mâu ni, giáo chủ của Thiên chúa giáo là Chúa Jesus, giáo chủ của Hồi giáo là Thánh Allah.

    Chú ý: người đứng đầu giáo hội không phải là giáo chủ: giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo, chỉ có duy nhất, còn người đứng đầu giáo hội là người được các tông đồ bầu lên đứng đầu cộng đồng tôn giáo đó

    + giáo hội: là cơ quan trị sự điều hành hoạt động của cộng đồng tôn giáo trên phạm vi quốc tế và quốc gia

    + giáo dân: là cộng đồng những người có cùng niềm tin vào giáo chủ, giáo lý. VD giáo dân của Thiên chúa giáo được gọi là con chiên, giáo dân của Phật giáo là tăng ni, phật tử, giáo dân của Hồi giáo là tín đồ

    + giáo lý: là những quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi mà tất cả giáo dân phải tuân theo. Giáo lý thường được ghi chép trong các bộ kinh của tôn giáo

    Chú ý: phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng:

    + cả tôn giáo và tín ngưỡng đều dựa trên cơ sở niềm tin của con người vào các lực lượng siêu tự nhiên (Chúa, Thượng đế, Ngọc hoàng, Phật, …) và đều dựa trên tâm lý sợ hãi để tuyên truyền

    b. Đặc điểm của chuẩn mực tôn giáo

    + tôn giáo khác với tín ngưỡng ở chỗ để được coi là tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố: giáo chủ, giáo hội, giáo dân, giáo lý

    – Chuẩn mực tôn giáo là chuẩn mực xã hội thành văn, được thể hiện trong các giáo điều, giáo lý được ghi chép trong các bộ kinh (như Kinh Thánh, Kinh Phật, Kinh Coran).

    – Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắc của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên như Thượng Đế, Đức Phật, Chúa Trời. Chừng nào trong tự nhiên, trong xã hội vẫn còn những sự kiện, hiện tượng thần kỳ, bí ẩn mà khoa học hiện đại chưa thể giải thích, chưa thể làm rõ nguyên nhân thì chừng đó niềm tin tôn giáo vẫn tiếp tục được củng cố, duy trì, lan tỏa và ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của giáo dân trong cộng đồng.

    – Chuẩn mực tôn giáo được đảm bảo tôn trọng và thực hiện nhờ 2 yếu tố:

    + niềm tin tôn giáo: là yếu tố đảm bảo cho chuẩn mực tôn giáo được tôn trọng và thực hiện trong các tầng lớp xã hội

    Như vậy, khác với chuẩn mực PL, thì chuẩn mực tôn giáo dù không có bất ký sức mạnh cưỡng chế nào thì cũng được con người tuân thủ 1 cách tự nguyện, vô điều kiện.

    – Chuẩn mực tôn giáo có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi của con người:

    + tác động tích cực: đề cao cái thiện, phê phán cái ác, mang tính nhân văn sâu sắc

    – Về nguyên tắc, tôn giáo và pháp luật độc lập với nhau.

    – Một số chuẩn mực tôn giáo phù hợp với thuần phong, mỹ tục, với các giá trị đạo đức, pháp luật hiện hành sẽ có tác dụng tích cực đối với việc thực hiện PL của cá nhân

    – Ở VN, ngay trong Hiến pháp đã xác định mọi người được tự do tín ngưỡng và tôn giáo, và đã ban hành Luật tín ngưỡng tôn giáo 2022.

    3. Chuẩn mực đạo đức

    a. Khái niệm

    b. Đặc điểm

    – Là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội.

    – Chuẩn mực đạo đức là chuẩn mực xã hội bất thành văn, tức là các quy tắc, yêu cầu của nó không được ghi chép thành văn bản dưới bất kỳ hình thức nào (không tồn tại cái gọi là “bộ luật đạo đức”), mà tồn tại dưới hình thức những giá trị trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phép đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội.

    – Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, nhưng tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức không “mạnh mẽ” như đối với chuẩn mực PL. Tính giai cấp thể hiện ở chỗ, chuẩn mực đạo đức được sinh ra cũng là nhằm củng cố, bảo vệ hay phục vụ cho nhu cầu, lợi ích vật chất, tinh thần của giai cấp nhất định trong xã hội.

    – Chuẩn mực đạo đức được tôn trọng và đảm bảo thực hiện bởi 02 nhóm yếu tố:

    + các yếu tố chủ quan: là các yếu tố tồn tại, thường trực trong ý thức của mỗi cá nhân, gồm:

    • thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi người
    • sự tự nguyện, tự giác trong thực hiện hành vi
    • sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người

    + các yếu tố khách quan:

    c. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật

    • sự ảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục
    • sức mạnh phê phán, lên án của dư luận xã hội

    – Có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:

    + chuẩn mực đạo đức là 1 trong những nguồn cơ bản để hình thành nên hệ thống PL: vì chuẩn mực đạo đức đã có từ trước khi NN hình thành, nên khi NN hình thành và xây dựng PL thì NN lựa chọn những chuẩn mực đạo đức phù hợp và biến chúng thành các quy phạm PL

    + chuẩn mực đạo đức tham gia vào việc đảm bảo cho PL được thực thi trong đời sống xã hội, bởi vì trong nhiều trường hợp rất khó phân biệt đâu là đạo đức, đâu là PL

    + ngược lại, PL vừa là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, vừa là công cụ, phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. PL có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội; đồng thời PL có vai trò loại bỏ những chuẩn mực đạo đức đã lạc hậu, lỗi thời.

    Vấn đề 5: Các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    I. Khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật

    1. Khái niệm hoạt động xây dựng pháp luật

    – Xây dựng PL là 1 trong những hoạt động đầu tiên của bất kỳ NN nào kể từ khi được ra đời. Nó tạo ra công cụ pháp lý, phương tiện để NN thể hiện ý chí của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ XH, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và của XH nói chung.

    – Hoạt động xây dựng PL là toàn bộ quá trình:

    + đề xuất, nêu sáng kiến PL

    + xây dựng

    + phê chuẩn

    + công bố luật

    2. Chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật

    – Chủ thể của hoạt động xây dựng PL gồm:

    + cơ quan NN có thẩm quyền,

    + tổ chức cá nhân được NN giao quyền

    Chú ý: kể cả việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật cũng được coi là 1 hoạt động xây dựng PL

    – Tất cả các chủ thể của hoạt động xây dựng PL đều phải tuân thủ Hiến pháp là Luật ban hành VBPL 2022

    – Mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành 1 số loại văn bản PL:

    + Quốc hội: Hiến pháp, Luật

    + UBTV Quốc hội: Pháp lệnh, Nghị quyết

    + Chủ tịch nước: Lệnh (lệnh công bố luật, lệnh tổng động viên), Quyết định (thi đua khen thưởng, phong cấp phong hàm, cử đại sứ đi nước ngoài)

    + Chính phủ: Nghị định (có “đầu” và không “đầu”)

    + Thủ tướng Chính phủ: Quyết định

    + Bộ và cơ quan ngang bộ: Thông tư

    + HĐND: Nghị quyết

    + UBND: Quyết định

    3. Quy trình hoạt động xây dựng pháp luật

    – Thông thường quy trình gồm 4 bước:

    + đề xuất, nêu sáng kiến PL

    + xây dựng dự thảo luật

    + phê chuẩn luật

    + công bố luật (Chủ tịch nước)

    II. Nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật

    1. Các khía cạnh của hoạt động trước và trong khi xây dựng PL

    a. Mối liên hệ giữa PL với hiện thực xã hội với các nhân tố, yếu tố có ảnh hưởng tới lĩnh vực PL đó

    Gồm 8 nội dung:

    – Nghiên cứu, quan sát nhằm đánh giá những quan hệ đang cần có PL điều chỉnh

    – Đây là mối liên hệ giữa PL với thực tiễn đời sống xã hội: 1 đạo luật có được ban hành hay không không phải do NN quyết định mà do yêu cầu, đòi hỏi từ xã hội

    b. Nghiên cứu, khảo sát, điều tra XHH nhằm đánh giá tình hình, thực trạng, nguyên nhân của quan hệ xã hội đang cần PL điều chỉnh

    – Nghiên cứu mối quan hệ này chính là phần “Tính cấp thiết / Sự cần thiết …” của đạo luật đó. Đây là bước khởi đầu, tạo nền tảng, luận cứ khoa học cho việc xây dựng PL

    – Hoạt động này nhằm đảm bảo đạo luật đưa ra là dựa trên nhu cầu xã hội chứ không phải là sản phẩm của sự “võ đoán”, của “trí tưởng tượng”, của sự “thiên kiến chủ quan duy ý chí”.

    Thực tế xây dựng PL ở nước ta, có nhiều văn bản PL vừa ra đời đã “chết yểu”, hoặc thậm chí còn chưa có hiệu lực đã bị “chết yểu”. Nguyên nhân chính là thiếu luận cứ thực tiễn để xây dựng pháp luật.

    – Khía cạnh này hiện nay đã được luật hóa trong Luật ban hành VBPL 2022, có hiệu lực từ 01/07/2016, trong đó yêu cầu bất kỳ dự luật nào khi trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải có 3 báo cáo:

    + Báo cáo khảo sát điều tra xã hội học: đánh giá tổng thể toàn bộ thực trạng tình hình quan hệ xã hội mà dự luật sẽ điều chỉnh

    + Báo cáo tổng kết đánh giá công tác thi hành luật: với trường hợp là luật bổ sung vào 1 đạo luật hiện hành

    + Báo cáo đánh giá tác động dự kiến của văn bản pháp luật với đối tượng điều chỉnh trực tiếp khi đạo luật được ban hành và có hiệu lực thực thi.

    c. Tiến hành các hoạt động thu thập thông tin, luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng dự thảo luật

    – Thực hiện qua các hình thức:

    + tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm

    + phỏng vấn chuyên gia

    – Mục đích là để tham khảo, tiếp thu ý kiến, học hỏi trong quá trình xây dựng dự thảo luật.

    d. Vấn đề thực nghiệm xã hội học pháp luật

    – Chú ý: tránh việc “bê nguyên” luật nước ngoài vào VN, vì xã hội nào cũng có đặc thù riêng về trình độ phát triển kinh tế xã hội, về văn hóa, tập quán, lịch sử

    e. Vai trò của nhân dân

    – Đối với những vấn đề, quy phạm PL còn có ý kiến khác nhau, còn gây tranh luận thì trước khi đệ trình cơ quan chức năng biểu quyết thông qua, các nhà xã hội học PL sẽ tiến hành thực nghiệm XHH PL: đưa dự thảo luật đó vào thực tế để xem nó bộc lộ như thế nào, những điểm hay / dở, để từ đó có sự điều chỉnh để dự thảo luật phù hợp hơn

    f. Mối liên hệ giữa cương lĩnh chính trị, đường lối của đảng cầm quyền với VBPL dự kiến ban hành

    – Đảm bảo sự tham gia của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động xây dựng PL. Mục đích để phát huy được cao nhất trí tuệ tập thể đóng góp vào quá trình xây dựng dự án luật.

    g. Tiến hành thăm dò phản ứng của dư luận xã hội đối với dự luật sắp ban hành

    – Nội dung của VBPL dự kiến ban hành với cương lĩnh chính trị, đường lối, lợi ích của chính đảng cầm quyền càng gần thì càng dễ được thông qua

    – Dư luận xã hội + thông tin đại chúng = công luận

    Công luận là cơ quan quyền lực thứ 4, sau lập pháp, hành pháp, tư pháp

    h. Mối liên hệ giữa cử tri địa phương với đại biểu quốc hội

    – Nếu dự luật bị công luận phản đối thì gần như không thể trở thành hiện thực. VD dự luật “cộng 2 điểm thi đại học cho bà mẹ VN anh hùng”, dự luật bắt buộc trang bị bình cứu hỏa trên xe ô tô

    2. Các khía cạnh của hoạt động xây dựng PL sau khi PL được ban hành và có hiệu lực thực thi

    a. Các biện pháp bảo đảm tính hiệu lực của văn bản PL sau khi được ban hành

    b. Các giải pháp để bảo đảm phát huy được hiệu quả của PL trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

    – Ngoài chế tài, cần chú ý có các biện pháp xã hội khác: đảm bảo các điều kiện về kinh tế, chính trị, tạo dựng môi trường văn hóa xã hội, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, .. để văn bản PL thực sự đi vào cuộc sống

    – Đánh giá tính hiệu quả của VBPL trong thực tiễn bằng các phương pháp thu thập thông tin xã hội học, như:

    + phân tích tài liệu: các báo cáo, thống kê, các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, …

    + phương pháp quan sát: quan sát hành vi PL của các chủ thể PL

    + phương pháp an-kết: thu thập ý kiến, nhận xét, đánh giá về VBPL

    c. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình triển khai, đưa PL vào cuộc sống, bao gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, …

    + …

    – Mục đích để có cái nhìn toàn cảnh về các mặt được và chưa được của VBPL vì về nguyên tắc chỉ khi đưa vào thực tiễn chúng mới bộc lộ hết.

    e. Vấn đề biến đối của NN trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa

    – Nghiên cứu khía cạnh này là cơ sở để đề xuất các sáng kiến, yêu cầu về sửa đổi, bổ sung VBPL

    – PL của VN phải tương thích với PL quốc tế, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo giữ được bản sắc của VN

    3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pháp luật

    a. Kỹ năng soạn thảo các dự án luật

    – Một hệ thống PL được coi là “hoàn thiện”, một VBPL được coi là “hoàn thiện” khi nó đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính kịp thời và dựa trên nền tảng lập pháp trình độ cao.

    Trình độ lập pháp của VN hiện nay nói chung là “kém”, khả năng dự báo PL rất thấp, không có các VBPL đi trước, nhìn xa trông rộng, mà hoạt động xây dựng PL mới chỉ dừng lại ở việc “chờ” cho thực tiễn bộc lộ những yêu cầu cần điều chỉnh thì mới bắt đầu xây dựng VBPL để giải quyết những yêu cầu đó, nếu đã ban hành mà “sai” thì lại sửa đổi, bổ sung.

    – Kỹ năng soạn thảo VBPL là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động xây dựng PL, bao gồm các khía cạnh sau:

    + nhận thức của các chủ thể xây dựng PL về tầm quan trọng, sự cần thiết của VBPL cần xây dựng

    + trình độ hiểu biết xã hội, sự am hiểu của chủ thể tham gia xây dựng PL về lĩnh vực mà VBPL sẽ điều chỉnh

    + tri thức, hiểu biết PL và ý thức PL của các chủ thể tham gia xây dựng PL: VD các quy định trong VBPL có hợp hiến không, có trùng lặp với VBPL khác không

    b. Dư luận xã hội

    + hoạt động của cơ quan soạn thảo và các cơ quan phối hợp: về nguyên tắc phải tránh “vừa đá bóng vừa thổi còi”, cần độc lập, khách quan trong hoạt động xây dựng VBPL

    – Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực đối với quá trình xây dựng VBPL, là 1 trong những cơ sở để NN ban hành các VBPL hợp lòng dân

    c. Thông tin đại chúng

    – Dư luận xã hội có tác dụng phát hiện những thiếu hụt, những khe hở trong các VBPL, giúp NN có biện pháp sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh 1 cách kịp thời.

    – Các phương tiện thông tin đại chúng gồm: báo chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng, mạng xã hội, … có tác động rất mạnh mẽ đến hoạt động xây dựng PL, thể hiện ở các khía cạnh:

    + cung cấp thông tin để định hướng dư luận xã hội: luật đã quy định tất cả các dự thảo VBPL đều phải đăng dự thảo toàn văn lên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến các tầng lớp xã hội

    + là hình thức phản hồi từ dư luận xã hội để phản ánh tới các cơ quan chức năng theo chiều “từ dưới lên”

    + có vai trò định hướng dư luận xã hội, hướng đến các vấn đề về lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng cồng

    – Hiện nay thông tin đại chúng là là cơ quan quyền lực thứ 4

    4. Các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta

    Tăng cường thẩm định các dự án luật bằng công cụ xã hội học: đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi VBPL trước khi đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (Luật ban hành VBQPPL 2022); thậm chí ngay ở giai đoạn khởi thảo dự án luật cũng đã cần phải có công tác điều tra bằng xã hội học

    Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong tham gia xây dựng PL: quốc hội, chính phủ, cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, các tổ chức chính trị, xã hội, các tầng lớp nhân dân cần chủ động phát huy vai trò của mình trong tham gia xây dựng PL để đảm bảo cho luật được ban hành phù hợp với yêu cầu và thực tiễn cuộc sống

    Hoàn thiện các quy định của PL về hoạt động xây dựng PL, đáp ứng yêu cầu mở rộng nền dân chủ xã hội và phát triển bền vững: trong Luật ban hành VBQPPL 2022 đã thể hiện được khía cạnh mở rộng nền dân chủ trong cây dựng PL, tuy nhiên có sự thiếu sót lớn là chưa đưa khía cạnh phát triển bền vững theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế vào, như chưa hề có các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường

    Vấn đề 6: Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    I. Khái quát về hoạt động thực hiện PL và áp dụng PL

    1. Khái niệm hoạt động thực hiện PL

    – Kết thúc quá trình hoạt động xây dựng PL, sản phẩm là hệ thống PL (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, …), khi này PL mới là “pháp luật trên giấy tờ”, hay còn gọi là “đời sống thứ nhất” của PL

    Việc đưa PL vào thực tiễn cuộc sống để chúng phát huy được vai trò, hiệu lực của mình trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong định hướng hành vi xã hội của mỗi con người, thì khi đó PL mới là “pháp luật trong hành động”, hay còn gọi là “đời sống thứ hai” của PL.

    Như vậy, hoạt động thực hiện PL chính là việc chuyển “PL trên giấy tờ” thành “PL trong hành động”, hay chuyển PL từ “đời sống thứ nhất” sang “đời sống thứ hai”.

    – Khái niệm: Hoạt động thực hiện PL là 1 quá trình hoạt động PL có mục đích nhằm đưa các quy phạm PL đi vào thực tiễn đời sống xã hội, trở thành các hành vi PL thực tế hợp pháp của các chủ thể PL

    2. Các hình thức thực hiện PL

    Tuân thủ PL (tránh quy phạm cấm): là hình thức thực hiện PL trong đó các chủ thể PL tự kiềm chế, kiểm soát bản thân để không thực hiện những hành vi, hoạt động mà PL cấm.

    Những điều PL cấm được quy định chủ yếu trong luật hình sự, luật hành chính, và trong Điều “Những hành vi bị cấm” của các đạo luật khác.

    Chú ý: tuân thủ PL chưa làm phát sinh quan hệ PL. Ví dụ: buôn bán ma túy trái phép là tội hình sự, vậy 1 người không buôn bán ma túy (tức là tuân thủ PL) thì sẽ không phát sinh quan hệ với cơ quan NN về việc buôn bán ma túy.

    Sử dụng PL (các quy phạm về quyền của công dân):là hình thức thực hiện PL trong đó chủ thể sử dụng những quyền mà PL trao cho. VD quyền ứng cử, quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu khi NN trưng cầu dân ý, các quyền về học tập, lao động, nghỉ ngơi, …

    Chú ý: việc chủ thể được trao quyền và việc chủ thể đó có sử dụng quyền đó hay không là 2 việc hoàn toàn khác nhau:

    + Có những quyền mà chủ thể được trao quyền có thể không sử dụng, VD như công dân có quyền bầu cử, nhưng nếu không đi bầu cử thì chỉ mất quyền của mình chứ không vi phạm PL.

    + Tuy nhiên, có những quyền mà khi chủ thể được trao quyền không thực hiện thì sẽ vi phạm PL, ví dụ như Tố cáo là quyền của công dân, nhưng nếu thấy người khác phạm tội mà không tố cáo thì sẽ bị khép vào Tội không tố giác tội phạm được quy định trong Luật hình sự.

    Áp dụng PL (phải có sự tham gia của cơ quan NN có thẩm quyền): là hình thức thực hiện PL đặc biệt, đòi hỏi phải có sự tham gia của cơ quan NN có thẩm quyền thì PL mới được thực hiện. VD hai bên tranh chấp hợp đồng phải đưa nhau ra Tòa án, lúc này cần có cơ quan NN là Tòa án tham gia thì mới giải quyết được; VD công dân cần công chứng, chứng thực thì cần có sự tham gia của Phòng công chứng (là cơ quan NN có thẩm quyền)

    II. Nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện PL và áp dụng PL

    1. Sự phù hợp giữa các quy tắc của chuẩn mực PL với lợi ích của chủ thể thực hiện PL

    – Về nguyên tắc, khi NN ban hành PL thì đều mong muốn thể hiện tính nghiêm minh của PL, đều muốn hướng tới lẽ công bằng, công lý, và rất mong muốn PL do mình ban hành sẽ được “thương tôn”, được đề cao, được thực thi nghiêm túc trong xã hội.

    Để đảm bảo PL được thực hiện, NN xây dựng các thiết chế như quân đội, công án, viện kiểm sát, tòa án, nhà tù, trại giam, … Tuy nhiên, bất chấp mong muốn của NN và hệ thống các thiết chế để đảm bảo PL, sự vi phạm PL vẫn xảy ra trong xã hội. Vì sao ?

    Vì nếu các quy định của PL càng đáp ứng, thỏa mãn tối đa nhu cầu, lợi ích của các chủ thể chịu tác động thì quy định đó càng được tuân thủ, tôn trọng, và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Ngược lại, nếu các quy định của PL “đụng chạm” đến lợi ích, nhu cầu của các chủ thể chịu tác động thì rất dễ nảy sinh tư tưởng, tâm lý thờ ơ, bàng quang, chống đối, bất tuân, và sẵn sàng vi phạm PL.

    – Vì vậy, hoạt động thực hiện PL diễn ra như thế nào phụ thuộc vào sự phù hợp, tương thích của PL với vợi ích của chủ thể thực hiện PL.

    – Ở nước ta hiện nay, để hoạt động thực hiện PL thực sự đạt hiệu quả, mang tính tự giác, trở thành thói quen, nếp sống trong hành vi của các chủ thể thực hiện PL thì hoạt động xây dựng PL phải được đặt trong lăng kính của lợi ích xã hội và nhu cầu điều chỉnh xã hội.

    2. Cơ chế thực hiện pháp luật

    – Dưới góc độ luật học: cơ chế thực hiện PL được vận hành thông qua các hình thức thực hiện PL:

    + sau khi luật được ban hành, cơ quan chức năng ban hành các văn bản pháp quy để hướng dẫn (nghị định, thông tư, công văn, …)

    + phổ biến, tuyên truyền, giáo dục PL, nâng cao nhận thức PL

    a. Hiểu biết PL nên thực hiện PL và không hiểu biết PL nên không thực hiện PL

    – Dưới góc độ xã hội học PL: là những cách thức tác động, những yếu tố ảnh hưởng tới việc cá nhân, nhóm xã hội lựa chọn hành vi thực hiện PL hay không thực hiện PL. Gồm các cơ chế sau:

    – Cơ chế này chủ yếu đề cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng của tri thức, hiểu biết PL trong hoạt động thực hiện PL: tri thức, hiểu biết PL là phương thức tồn tại của ý thức PL, và ý thức PL đến lượt mình lại thường trực trong mỗi người, và sẽ định hướng, điều khiển hành vi PL của mỗi người.

    – Như vậy, để thực hiện PL 1 cách nghiêm túc theo tinh thần thượng tôn PL, đòi hỏi phải có vai trò của tri thức, hiểu biết PL.

    VD: ở miền núi, những người dân tộc thiểu số thường có thói quen đốt rừng làm nương rẫy, có thể dẫn đến cháy rừng, họ không biết họ đã vi phạm PL

    VD: người dân khu vực hẻo lánh không biết trồng cây cần sa là vi phạm PL

    – Tuy nhiên thực tế thì ngay cả những người rất am hiểu về PL (cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ luật) cũng vẫn có nhiều trường hợp vi phạm PL. Ví dụ: có luật sư, tiến sỹ luật nhận tiền để lo lót chạy án, ngụy tạo chứng cứ để giúp tội phạm thoát khỏi sự trừng trị của PL

    Ngược lại, với đa số người dân, dù họ có hiểu biết, ít hiểu biết, hay không hiểu biết về PL nhưng vẫn thực hiện PL một cách nghiêm túc và đầy đủ. VD mọi người đều biết ăn trộm, cướp tài sản của người khác là phạm tội nên không thực hiện.

    – Bắt chước là sự mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành vi, tâm trạng, cách suy nghĩ hay ứng xử của người khác hay của 1 nhóm người khác, thông thường đó là (những) người được coi là “thần tượng”, “ngôi sao”. Theo đó cơ chế này thường tạo ra và định hình các “khuôn mẫu hành vi” cho các thành viên trong xã hội noi theo.

    – Vì vậy, nếu ta phát huy được cơ chế này để phổ biến, tuyên truyền PL, để lan tỏa những hành vi tuân theo PL thì sẽ có tác dụng rất lớn trong thực hiện PL.

    VD: khi vận động quần chúng các dân tộc thiểu số tuân theo PL, cần tác động vào những người có uy tín như già làng, trưởng bản, thầy, … để họ trở thành tấm gương cho quần chúng noi theo

    – Tuy nhiên, nếu có những “phần tử” lợi dụng sự ảnh hưởng của mình để lôi kéo quần chúng tham gia các hoạt động “chống phá” PL, chống phá NN thì lại có ảnh hưởng tiêu cực. VD một số linh mục lợi dụng tự do tôn giáo tuyên truyền lôi kéo người dân tham gia phản đối các chính sách của NN

    c. Cơ chế lây lan tâm lý trong thực hiện PL

    – Nói chung đây là cơ chế tích cực trong hoạt động thực hiện PL

    – Nói chung đây là cơ chế tiêu cực trong hoạt động thực hiện PL.

    – Lây lan tâm lý là sự bột phát, lan truyền tâm lý hứng khởi, kích động từ người này sang người khác một cách tức thời, nằm ngoài sự kiểm soát về ý thức của cá nhân, và do đó thường gây ra các hiện tượng như manh động, quá khích.

    VD: việc đua xe trái phép trên đường phố thường bắt đầu từ vài cá nhân, nhưng sau đám đông bị kích động và hình thành cả đoàn đua

    VD: những kẻ trộm chó bị dân trong làng, thôn xóm đánh chết, lúc đầu chỉ có 1 vài người bắt được kẻ trộm và đấm đá kẻ trộm, sau đó thường sẽ có vài chục người bị kích động xông vào đánh kẻ trộm, và có thể gây ra cái chết cho kẻ trộm

    – Là việc các cơ quan NN có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng bức đối với các chủ thể không muốn thực hiện PL, hoặc trường hợp chủ thể không thể thực hiện PL nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan NN có thẩm quyền.

    VD: cơ quan chức năng truy bắt tội phạm (là trường hợp chủ thể không muốn thực hiện PL)

    e. Tâm lý e ngại, lo sợ bị áp dụng PL nên thực hiện PL

    VD: hai bên tranh chấp hợp đồng, cần đến cơ quan chức năng (tòa án) để giải quyết (là trường hợp chủ thể không thể thực hiện PL nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan NN có thẩm quyền)

    – Đây là cơ chế thường xảy ra trong lĩnh vực hình sự, hành chính. Theo đó các chủ thể có thể do hiểu biết đầy đủ về các quy định của PL, hoặc đã từng nghe thấy, chứng kiến người khác bị áp dụng PL (như phạt tù, phạt tiền) nên tuân thủ, chấp hành PL, không dám vi phạm PL

    VD: hiểu rõ buôn bán ma túy là vi phạm PL nên không thực hiện buôn bán ma túy

    VD: đã từng chứng kiến kẻ trộm cướp tài sản bị phạt tù nên không dám trôm cướp

    3. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện PL

    a. Yếu tố kinh tế

    – Nhìn chung, nếu nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết PL, ý thức PL của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nếu nền kinh tế – xã hội chậm phát triển, kém năng động có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc PL.

    + cơ chế kinh tế hiện nay là cơ chế thị trường định hướng XHCN:

    – Yếu tố chính trị là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan NN có thẩm quyền áp dụng PL (nói chung là các cơ quan công quyền):

    + môi trường chính trị – xã hội ổn định là điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên và quần chúng với sự lãnh đạo của Đảng, mà Đảng chủ trương xây dựng NN pháp quyền

    + cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động thực hiện PL, vì ở nước ta, sự vận hành của hệ thống PL luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng thành công NN pháp quyền thì vấn đề thực hiện PL một cách nhất quán, nghiêm minh từ phía cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải luôn đặt lên vị trí hàng đầu

    + tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội:

    c. Yếu tố văn hóa – lối sống

    • Nếu xã hội thiếu dân chủ, thông tin bị bưng bít, công dân không dám nói thật suy nghĩ của mình thì việc thực hiện PL sẽ chỉ là sự miễn cưỡng, đối phó, không hiệu quả

    – Các yếu tố văn hóa, lối sống luôn gắn liền với 1 môi trường văn hóa – xã hội nhất định, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện PL qua các khía cạnh sau:

    + các phong tục, tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện PL của các tầng lớp nhân dân, thể hiện rõ nét ở khu vực nông thôn: bên cạnh những phong tục tập quán tích cực như tôn sư trọng đạo, kính trọng người già, … thì cũng có những phong tục tập quán lạc hậu như hội hè, gỗ chạp, cưới hỏi, may chay … tốn kém, lãng phí, những thói hư tật xấu ghanh ghét người thành đạt, tư duy “cục bộ” (như “trai làng ta quyết giữ gái làng ta”), mê cơ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ, bạo lực gia đình … Những phong tục, tập quán tiêu cực gây ra khó khăn cho việc thực hiện PL, đồng thời là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi trái PL

    + lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động thực hiện PL:

    • Lối sống nông thôn có tính cộng đồng rất cao và chặt chẽ. Điểm tích cực là nhờ sự gắn bó của làng xã mà việc tuyên truyền, phổ biến PL khá thuận lợi. Tuy nhiên điểm tiêu cực lại chính là do tính cộng động bị “biến tướng” quá mức, trở thành “chủ nghĩa tập thể”, làm mất đi trách nhiệm của cá nhân, hiện nay đang là điểm gây khó khăn lớn cho việc thực hiện PL (với tâm lý “hòa cả làng”, “trách nhiệm thuộc về tập thể”, “đúng quy trình”)

    + quan hệ dòng họ, thân tộc: tính tích cực là với niềm tự hào về truyền thống của dòng họ sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy việc thực hiện PL một cách tự giác, nhiệt tình, hiệu quả. Điểm tiêu cực là quan hệ thân tộc dễ nảy sinh tính cục bộ, hẹp hòi, ganh đua, ganh ghét nhau giữa các dòng họ, là 1 trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết, gây bất ổn trong xã hội, và do đó gây cản trở cho việc thực hiện PL

    + các phương tiện thông tin đại chúng: như báo chí, truyền hình, báo điện tử, mạng xã hội là công cụ để tuyên truyền, phổ biến PL, nêu lên những tấm gương “người tốt việc tốt”, các vụ vi phạm PL bị xử lý nghiêm khắc, … có tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi người, khiến cho họ thực hiện PL tốt hơn

    d. Yếu tố pháp luật

    + dư luận xã hội: có sự tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện PL. Trong thực tế có những cá nhân coi thường sự trừng phạt của PL, nhưng lại vô cùng sợ hãi trước sự lên án, tẩy chay của dư luận xã hội. Vì vậy dư luận xã hội khiến cho mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ trước khi thực hiện hành vi PL, và nhờ đó ý thức tôn trọng PL, tuân thủ PL của mỗi chủ thể được nâng cao.

    – Bản thân PL được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là cơ sở để các chủ thể thực hiện PL. Tuy nhiên chính các mặt, các khía cạnh của PL cũng ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện PL:

    + văn hóa PL: là hệ thống các giá trị, chuẩn mực PL được kết tinh từ tri thức PL, tình cảm, niềm tin đối với PL và hành vi PL. Văn hóa PL được biểu hiện trực tiếp thông qua hành vi PL. Văn hóa PL là cơ sở, nền tảng, là “khuôn mẫu tư duy”, là “chuẩn mực hành vi” của hoạt động thực hiện PL

    + các yếu tố truyền thống: nét đặc trưng trong các cộng đồng dân cư nước ta, nhất là ở khu vực nông thôn và miền núi, là tính tự quản, thể hiện qua “lệ làng”, “hương ước”. Trong “lệ làng”, dù có nhiều hủ tục, nhiều quan niệm lạc hậu, không phù hợp với hiện tại, nhưng cũng có nhiều quy định có giá trị rất tích cực. Vì vậy việc xây dựng và thực hiện PL cần có sự hài hòa giữa lệ làng và pháp luật, đảm bảo dân chủ tại cơ sở, nhằm giảm thiểu những tiêu cực, thúc đẩy những mặt tích cực của các yếu tố truyền thống, qua đó tạo sự thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL.

    + tình trạng thờ ơ với PL hoặc coi thường PL ở một bộ phận nhân dân có tác động tiêu cực tới việc thực hiện PL ở những người khác: VD một bộ phận không nhỏ cán bộ, lãnh đạo có sự dung túng, bao che lẫn nhau, hoặc bao che cho người thân vi phạm PL; hoặc trù dập những người tố cáo tội phạm,… dẫn đến tâm lý “người ngay sợ kẻ gian”, phát sinh tâm lý nghi ngờ hiệu quả của việc thực hiện PL.

    + ý thức, niềm tin đối với PL của con người có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc thực hiện PL: nếu tin tưởng vào PL công bằng, nghiêm minh thì sẽ tự giác thực hiện PL, ngược lại sẽ thờ ơ, chống đối việc thực hiện PL. VD việc xử án gây oan sai hiện nay, việc các vụ án xử không đúng người đúng tội, việc các bản án, quyết định thiếu khách quan, không thấu tính đạt lý hiện nay đang làm xói mòn niềm tin của người dân vào PL, dẫn tới hiệu quả của việc thực hiện PL bị giảm sút (câu nói “quan xử theo lễ, dân xử theo luật”)

    + sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện PL: khi các chủ thể có hành vi vi phạm PL hoặc không thể tự mình giải quyết được các tranh chấp phát sinh trong quan hệ xã hội, thì rất cần thiết có sự vào cuộc, sự can thiệp kịp thời của cơ quan chức năng để đảm bảo PL được tôn trọng và thực hiện. VD một vụ án xảy ra thì cơ quan điều tra phải nhanh chóng “phá án”, đưa kẻ thủ ác ra trừng trị. VD khi có tranh chấp giữa các chủ thể dân sự, đưa lên tòa án, các chủ thể đều mong muốn cơ quan xét xử đưa ra quyết định công bằng, thấu tình đạt lý để các bên tuân theo

    4. Vai trò của nhân tố chủ quan trong áp dụng pháp luật

    (chương III, trang 369)

    – Về nguyên tắc, khi đưa ra quyết định áp dụng PL, các cá nhân (nhà chức trách: thẩm phán, kiểm sát viên, chủ tịch UBND, công tố viên, cán bộ công chức hành chính …) có thẩm quyền phải công bằng, vô tư, khách quan, không xuất phát từ động cơ cá nhân. Tuy nhiên vì đều là con người nên đều không tránh khỏi các nhân tố chủ quan.

    – Có 2 nhân tố chủ quan chủ yếu trong áp dụng PL:

    + yếu tố tâm lý: như tâm trạng, niềm tin, quan điểm, cảm xúc, … của cá nhân có thẩm quyền áp dụng PL có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xét xử tại phiên tòa hay ban hành các quyết định hành chính. VD các mức hình phạt đều có khung, việc quyết định mức hình phạt cao hay thấp trong khung phụ thuộc rất nhiều vào bản thân của thẩm phán

    + năng lực chuyên môn: là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, hiểu biết PL, kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm sống, các quan hệ riêng tư, … của những người có thẩm quyền áp dụng PL đều có tác động nhất định đến phán quyết của thẩm phán, đến quyết định của cơ quan hành chính. VD thường thấy là ở những vùng sâu vùng xa, trình độ của lãnh đạo các cơ quan hành chính còn hạn chế nên thường hay mắc lỗi ban hành nhưng văn bản hành chính không đúng quy định của PL hoặc không hợp tình hợp lý

    5. Vai trò của các nhân tố khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật

    (chương III, trang 371)

    Có 2 yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng PL:

    – Những hạn chế, bất cập của hệ thống PL hiện hành: nguyên nhân là do PL không theo kịp với sự vận động phát triển liên tục của xã hội. Việc chưa có quy phạm PL điều chỉnh, hoặc quy phạm PL đã lạc hậu, bất cập sẽ gây khó khăn cho cá nhân, cơ quan có thẩm quyền áp dụng PL, dẫn đến hiệu quả áp dụng PL không như mong muốn. VD quy định về tội gây ô nhiễm môi trường chưa rõ ràng, chưa nghiêm khắc dẫn tới việc xử lý không triệt để và hậu quả là tội phạm về môi trường ngày một gia tăng.

    – Áp lực từ dư luận xã hội: chức năng cơ bản của dư luận xã hội là chức năng giám sát, tư vấn, thể hiện rõ nét nhất khi đối tượng phán xét là hoạt động của cơ quan NN, chính quyền các cấp, trong đó có cơ quan thực thi và bảo vệ PL. Dư luận xã hội thường lên tiếng tố cáo, tố giác những hành vi phạm tội, giúp cơ quan chức năng 1 cách tích cực trong công tác điều tra, phá án. Dư luận xã hội bày tỏ sự đồng tình với những bản án, quyết định đúng người đúng tội, có tình có lý; đồng thời phản đối những bản án, quyết định chưa phù hợp. Áp lực từ dư luận xã hội sẽ khiến cho bản thân cán bộ, công chức tham gia hoạt động áp dụng PL phải luôn có ý thức điều chỉnh hành vi của mình tuân theo PL. VD vụ xe ô tô của hiệu trưởng trường trung học Nam Trung Yên đâm gãy chân học sinh đang chơi trong trường, sau đó đổ tội cho học sinh đó chạy nhảy bị gãy chân đã khiến dư luận lên tiếng và thủ phạm đã phải chịu sự trừng phạt mặc dù được bao che.

    III. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, áp dụng PL ở nước ta hiện nay

    1. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL ở nước ta hiện nay

    (chương VII, trang 341)

    Gồm 03 biện pháp:

    – Nâng cao ý thức PL, hình thành thói quen “sống và làm việc theo PL” trong các chủ thể PL

    – Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đối với công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục PL cho các tầng lớp nhân dân: đặc biệt là ứng dụng mạng Internet

    – Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện PL: chủ yếu gồm các cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính

    2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng PL ở nước ta hiện nay

    (chương VIII, trang 379)

    – Tăng cường giáo dục PL, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL: nguyên nhân chính trong hạn chế, khiếm khuyết của hoạt động áp dụng PL là sự thiếu tri thức PL và yếu về kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL. Việc tăng cường giáo dục PL cho đội ngũ cán bộ, công chức NN cần chú ý đến các khía cạnh: mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức

    – Nâng cao ý thức PL nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL

    – Thông báo công khai kết quả áp dụng PL trên các phương tiện thông tin đại chúng: tạo ra sức mạnh lan tỏa, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự công bằng, nghiêm minh của PL. VD khi đưa tin về 1 vụ án, cần đưa đầy đủ thông tin, nhất là kết quả xét xử, bản án, kết quả thi hành án (kể cả việc thi hành án tử hình ở đâu, khi nào, bằng phương tiện gì)

    Vấn đề 7: Sai lệch chuẩn mực pháp luật và hiện tượng tội phạm

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    I. Lý thuyết sai lệch trong xã hội học pháp luật

    1. Bản chất xã hội học của sự sai lệch

    – Hành vi không đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng người thì bị coi là “hành vi sai lệch”, hay hành vi bất bình thường.

    – Tuy nhiên, không có khái niệm “hành vi bình thường” hay “hành vi sai lệch”, mà việc coi 1 hành vi là bình thường hay sai lệch hoàn toàn phụ thuộc vào lăng kính và lòng tin của cộng đồng người.

    – Một hành vi là “sai lệch” hay “không sai lệch” mang tính xác định về không gian và môi trường. Cùng 1 hành vi nhưng trong cộng đồng này bị coi là sai lệch, nhưng trong cộng đồng khác lại không bị coi là sai lệch, và ngược lại. VD việc quan hệ tình dục trước hôn nhân được coi là bình thường ở rất nhiều nước, nhưng trong các nước Hồi giáo lại bị coi là “tội ác” và bị trừng phạt nghiêm khắc. VD đa thê là hành vi vi phạm PL ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng lại được coi là bình thường ở các nước Hồi giáo

    – Hành vi là “sai lệch” hay “không sai lệch” ngay trong 1 cộng đồng người cũng có thể thay đổi theo thời gian. VD ngày trước phụ nữ ăn mặc “hở, khoe cơ thể” thì bị xã hội lên án là không đoan trang, nhưng hiện nay phụ nữ có thể ăn mặc thoải mái và được coi là khoe nét đẹp cơ thể.

    – Tóm lại: Về mặt xã hội, hành vi sai lệch không thể được quan niệm như 1 cái gì tuyệt đối hay phổ biến, mà phải được coi như sự biến đổi về mặt xã hội tùy thuộc vào những gì mà 1 xã hội đặc thù hay 1 nhóm xã hội ở 1 thời điểm đặc thù, xác định là lệch lạc.

    2. Thuyết dãn nhãn: sai lệch và tội phạm như là một sự dán nhãn

    – Thuyết dãn nhãn: từ 1 hiện tượng suy ra bản chất, hành vi trong quá khứ của 1 người bị coi là đã chứa đựng trong đó “động cơ nham hiểm và lệch lạc”, còn hành vi trong tương lai được dự báo “không thay đổi, không bao giờ thay đổi”. VD 1 người bị kết án vì tội trộm cắp, trong tù anh ta cải tạo rất tốt và được giảm án ra tù sớm, khi ra tù trở về cộng đồng, anh ta cố gắng thể hiện mình là người thành thật, lương thiện nhưng vẫn bị gán nhãn “kẻ trộm cắp” và bị cộng đồng xa lánh, cảnh giác. Tuy nhiên chính sự xa lánh của cộng đồng lại nhanh chóng đẩy anh ta trở lại con đường trộm cắp, gây mất trật tự xã hội.

    – Như vậy, việc dán nhãn hành vi là sai lệch, hay dán nhãn 1 người là tội phạm không những không có vai trò giảm bớt sự lệch lạc mà thực tế lại có thể sản sinh ra nhiều sự lệch lạc hơn

    II. Khái niệm về sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Định nghĩa về hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các nguyên tắc, quy định của chuẩn mực PL.

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL rất đa dạng, phong phú vì trong bất kỳ lĩnh vực PL nào cũng có những hành vi xâm phạm đến những nguyên tắc, quy định của nó. Trong đó hành vi vi phạm PL hình sự được coi là nghiêm trọng nhất, bị coi là hành vi phạm tội và phải chịu chế tài mạnh nhất là các hình phạt.

    – Theo luật học, hành vi sai lệch chuẩn mực PL là hành vi vi phạm PL, và có 4 yếu tố cấu thành:

    + tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi

    + trái pháp luật

    + có lỗi của chủ thể

    + chủ thể có năng lực pháp lý

    – Dưới góc nhìn của luật pháp thì mọi hành vi sai lệch chuẩn mực PL đều là tiêu cực, đây là góc nhìn xơ cứng, giáo điều. Tuy nhiên dưới góc nhìn của xã hội học PL thì không phải hành vi sai lệch chuẩn mực PL nào cũng chỉ có mặt tiêu cực, mà có những hành vi dù sai lệch chuẩn mực PL nhưng lại có mặt tích cực, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

    2. Phân loại hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    a. Căn cứ và nội dung, tính chất của các chuẩn mực PL bị xâm hại

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL tích cực: là những hành vi (cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế xã hội hiện tại, gây cản trở sự phát triển tiến bộ của cộng đồng. Có 2 khả năng xảy ra hành vi sai lệch chuẩn mực PL tích cực:

    + sự thay thế của 1 NN mới cho 1 NN cũ, khi đó hệ thống PL cũ sẽ bị thay thế bằng hệ thống PL mới. Trong quá trình thay đổi đó thì hành vi sai lệch chuẩn mực PL cũ đã không còn phù hợp sẽ mang ý nghĩa tích cực, tiến bộ

    b. Căn cứ vào thái độ tâm lý chủ quan của người thực hiện

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL tiêu cực: là những hành vi (cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL hiện hành, có nội dung, tính chất phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh hành và được NN và cộng đồng xã hội thừa nhận. Đây chính là các hành vi vi phạm PL, như trộm cắp, hiếp dâm, vượt đèn đỏ, …

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL chủ động: là hành vi có ý thức, có tính toán, cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL, dù chuẩn mực PL đó đã lạc hậu, lỗi thời, hay còn đang tiến bộ, phù hợp. VD hành vi giết người luôn bị coi là lỗi cố ý (theo quy định của Bộ luật hình sự)

    c. Căn cứ đồng thời vào nội dung, tính chất của chuẩn mực PL và tâm lý chủ quan của người thực hiện

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL thụ động: là hành vi vô ý, không mong muốn vi phạm, phá vỡ tính ổn định, sự tác động của các chuẩn mực PL. VD tội vô ý làm chết người (trong Bộ luật hình sự)

    – Hành vi sai lệch chủ động – tích cực: là hành vi cố ý vi phạm, phá vỡ sự tác động của các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội hiện tại. VD vụ việc ông Kim Ngọc (đã nêu trên), ông Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng

    Câu hỏi trắc nghiệm: Hành vi sai lệch chuẩn mực PL chủ động – tích cực có tác động thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, hoàn thiện PL. Đúng hay Sai ?

    – Hành vi sai lệch chủ động – tiêu cực: là hành vi cố ý vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL hiện hành mang tính tiến bộ, phù hợp, đang phổ biến, thịnh hành và được NN, xã hội thừa nhận rộng rãi. VD hành vi giết người

    – Hành vi sai lệch thụ động – tích cực: là hành vi vô ý vi phạm, phá vỡ sự tác động của chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội. VD trong vụ ông Kim Ngọc, với những người nông dân nghe theo ông Kim Ngọc ở tỉnh Vĩnh Phúc, họ đã không tuân theo PL, đây được coi là hành vi sai lệch thụ động – tích cực

    – Hành vi sai lệch thụ động – tiêu cực: là hành vi vô ý vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL tiến bộ, phù hợp, đang phổ biến, thịnh hành và được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. VD tội vô ý giết người

    3. Hậu quả của sai lệch chuẩn mực pháp luật

    – Khi xem xét, đánh giá hậu quả của 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL nào đó, cần căn cứ vào các yếu tố:

    + căn cứ vào tính chất, khuynh hướng và sự phổ biến tương đối của hành vi sai lệch chuẩn mực PL đó

    + căn cứ vào các điều kiện lịch sử, địa lý, hoàn cảnh xã hội cụ thể

    + căn cứ vào địa điểm, thời gian xảy ra hành vi sai lệch chuẩn mực PL đó

    – Theo những căn cứ trên, hậu quả của hành vi sai lệch chuẩn mực PL có thể được đánh giá trên 2 phương diện:

    III. Các yếu tố tác động tới sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Hệ thống các giá trị
    2. Sự rối loạn các thiết chế xã hội
    3. Sự biến đổi của các chuẩn mực xã hội
    4. Sự thay đổi của các quan hệ xã hội

    IV. Các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Sự không hiểu biết, hiểu biết không đúng, không chính xác các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực PL

    – Trong trường hợp này, đa số các hành vi sai lệch chuẩn mực PL là do cá nhân, nhóm xã hội thiếu thông tin, kiến thức, hiểu biết về chuẩn mực PL, hoặc hiểu không đúng, không chính xác các quy tắc yêu cầu của chuẩn mực PL dẫn đến thực hiện những hành vi sai lệch chuẩn mực PL. VD hành vi tháo bu lông, đường ray của tàu hỏa để bán là hành vi phá hoại công trình quốc gia thì hầu hết là do thiếu hiểu biết PL

    – Giải pháp phắc phục: các cơ quan chức năng cần phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phỏ biến, giáo dục PL một cách sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân

    2. Tư duy diễn dịch không đúng, sự suy diễn các chuẩn mực PL thiếu căn cứ logic và sử dụng các phán đoán phi logic

    – Khi tham gia vào lĩnh vực cụ thể, do thói quen suy diễn sai, sử dụng các phán đoán phi logic nên một số cá nhân nhầm lẫn; hoặc cố ý áp dụng chuẩn mực lĩnh vực PL này vào chuẩn mực PL lĩnh vực khác, do đó đã vi phạm các chuẩn mực PL đó.

    VD pháp lệnh dân số 2003 quy định “vợ chồng có quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp …”, và vì lý do nào đó mãi đến 9 tháng sau Chính phủ mới ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành, vì Nghị định ra muộn nên trong 9 tháng đó quy định của Pháp lệnh bị hiểu nhầm, suy diễn thành NN không hạn chế số con, và hệ quả là số người sinh con thứ 3 thứ 4 tăng vọt, vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình.

    – Giải pháp khắc phục: khi xây dựng PL, các nhà làm luật cần cân nhắc sử dụng ngôn từ, thuật ngữ pháp lý, các quy phạm PL phải có bố cục chặt chẽ, rõ ràng và chính xác để tránh bị suy diễn sai và áp dụng sai.

    3. Việc củng cố, tiếp thu các quy tắc, yêu cầu của những chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với PL hiện hành

    – Là việc cá nhân, nhóm xã hội do không biết, hoặc biết những vẫn cố tình thực hiện, áp dụng các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, dẫn đến vi phạm chuẩn mực PL hiện hành.

    VD mặc dù đã có Nghị định hướng dẫn chi tiết Pháp lệnh dân số 2003, nhưng nhiều người vẫn cố tình viện dẫn Pháp lệnh dân số 2003 để sinh vượt số con cho phép (lý do của việc ra đời Pháp lệnh dân số 2003 là khi VN hội nhập quốc tế, không thể áp đặt việc sinh nở vì đó là vi phạm quyền con người, nên VN đã phải “hạ cấp” quy định về dân số kế hoạch hóa gia đình xuống cấp Nghị định)

    – Giải pháp khắc phục: với những quy phạm PL tỏ ra lỗi thời lạc hậu, hoặc đã hết hiệu lực thì NN cần sớm thay đổi, bổ sung, hoặc tuyên bố chấm dứt hiệu lực của chúng 1 cách kịp thời, nhằm ngăn chặn, không tạo ra khe hở để kẻ xấu lợi dụng.

    4. Cơ chế đi từ quan niệm sai lệch tới việc thực hiện hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Là việc những quan niệm từ thời phong kiến, thực dân vẫn được một số cá nhân, nhóm xã hội áp dụng dẫn tới vi phạm chuẩn mực PL hiện hành. VD như quan niệm “phép vua thua lệ làng” trong thời phong kiến, nếu áp dụng vào thời nay rất có thể sẽ dẫn tới hành vi vi phạm chuẩn mực PL, như việc lệ làng quy định “phụ nữ không chồng mà chửa” bị trừng phạt rất nghiêm khắc, bị sỉ nhục, nhưng trong thời hiện nay nếu áp dụng như vậy sẽ bị coi là xúc phạm nhân phẩm người khác, thậm chí bị khép tội Làm nhục người khác, vì luật pháp hiện nay cho phép phụ nữ sinh con không cần kết hôn, khai sinh cho con chỉ cần người mẹ.

    – Giải pháp khắc phục: NN cần có biện pháp định hướng, giải thích, điều chỉnh những quan niệm sai lệch để kịp thời ngăn chặn những hành vi phạm pháp

    5. Các khuyết tật về tâm sinh lý dẫn tới hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Có những cá nhân do dị tật bẩm sinh hoặc tai nạn mắc phải khiến họ mang trên mình những khuyết tật nhất định về tâm sinh lý (có thể khuyết tật về thể chất như mù, câm, điếc, què, cụt tay ; hoặc khuyết tật về trí lực như tâm thần, rối loạn, hoang tưởng, …) làm cá nhân đó bị mất đi 1 phần hoặc toàn bộ khả năng nhận biết về các yêu cầu của chuẩn mực PL, dẫn đến vi phạm chuẩn mực PL mà không biết hoặc không thể kiềm chế, kiểm sát bản thân.

    VD: người mắc bệnh hoang tưởng lên máy bay, hét lên rằng “máy bay có bom” gây ảnh hưởng đến an toàn bay

    6. Cơ chế về mối liên hệ nhân quả giữa các hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Là trường hợp cá nhân đi từ việc thực hiện 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL này tới việc thực hiện 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL khác theo mối liên hệ nhân – quả mà không biết, hoặc biết mà vẫn cố tình thực hiện. Trong đó hành vi sai lệch thứ nhất được coi là nguyên nhân dẫn tới hành vi sai lệch thứ hai, và từ hành vi sai lệc thứ hai lại có thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi sai lệch thứ ba, …

    VD: một thanh niên vượt đèn đỏ (hành vi sai lệch thứ nhất) bị cảnh sát giao thông giữ lại, vì không muốn nộp phạt nên đã đưa tiền hối lộ chiến sỹ cảnh sát giao thông (hành vi sai lệch thứ hai), bị chiến sỹ cảnh sát giao thông từ chối nên đã quay sang xúc phạm, lăng mạ, hành hung chiến sỹ cảnh sát giao thông (hành vi sai lệch thứ ba)

    V. Hiện tượng tội phạm

    (tập Bài giảng xã hội học, trang 153)

    1. Khái niệm hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm là khái niệm không dùng để chỉ tội phạm nói chung hay hành vi phạm tội cụ thể, mà phản ánh ở mức độ nhận thức cao hơn, khái quát hơn xung quanh vấn đề tội phạm.

    – Khái niệm: Hiện tượng tội phạm là 1 hiện tượng xã hội – pháp lý luôn ở trạng thái động, xuất hiện trong xã hội có giai cấp, là thể thống nhất các tội phạm xảy ra trong xã hội nhất định và ở thời kỳ nhất định, có các nguyên nhân, các đặc điểm định lượng (thực trạng) và định tính (tính chất, cơ cấu) của nó, đồng thời có tính độc lập tương đối.

    2. Các đặc trưng cơ bản của hiện tượng tội phạm

    a. Tính quyết định xã hội của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm trước hết là hiện tượng xã hội, có quá trình hình thành, phát sinh và phát triển cùng với sự vận động của xã hội.

    – Hiện tượng tội phạm chỉ có thể xuất hiện, tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội, mang nội dung xã hội, có nguyên nhân từ xã hội và chịu sự quyết định bởi thực tế xã hội.

    b. Tính pháp lý hình sự của hiện tượng tội phạm

    – Mặt khác, hiện tượng tội phạm mang tính quyết định xã hội vì nó được hình thành và xuất phát từ những hành vi phạm tội được thực hiện bởi những cá nhân – là thành viên của xã hội

    c. Tính biến đổi về mặt lịch sử của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm còn là hiện tượng pháp lý và mang tính pháp lý hình sự: Chúng ta không thể phán xét, đánh giá về hành vi phạm tội một cách cảm tính mà cần phải căn cứ vào những nguyên tắc, quy định của PL hình sự. Trong hệ thống PL chỉ có duy nhất Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt, đưa ra khái niệm tội phạm, theo đó tội phạm không chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn là hành vi trái với PL hình sự

    – Hiện tượng tội phạm luôn ở trạng thái động, tức là thường xuyên biến đổi qua các giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định. Nguyên nhân là do các quan điểm, quan niệm về tội phạm có sự thay đổi theo lịch sử.

    d. Tính giai cấp của hiện tượng tội phạm

    VD trong Luật hình sự 1985 có chia tội phạm làm 2 loại là tội phạm ít nguy hiểm (phạt tù đến 5 năm) và tội phạm nguy hiểm (phạt tù từ 3 năm trở lên tới chung thân, tử hình), việc để khung hình phạt quá rộng dẫn tới nhiều hiện tượng tiêu cực trong việc áp dụng PL, và đến khi ban hành Luật hình sự 1999 thì tội phạm được chia làm 4 loại là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, và đặc biệt nghiêm trọng.

    – Hiện tượng tội phạm chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp, gắn liền với sự ra đời của NN và quá trình phân tầng xã hội.

    – Theo không gian: thông thường hiện tượng tội phạm xác định theo lãnh thổ quốc gia. Chú ý rằng cùng 1 hành vi có thể ở quốc gia này bị coi là tội phạm, nhưng ở quốc gia khác lại không bị coi là tội phạm; hoặc cùng 1 tội ở quốc gia này coi là ít nghiêm trọng, nhưng ở quốc gia khác lại coi là đặc biệt nghiêm trọng.

    VD tội đánh bạc ở VN bị coi là tội phạm, nhưng ở Macau lại coi là hợp pháp; môi giới mại dâm là tội phạm ở VN, nhưng lại hợp pháp ở Thái Lan

    – Theo thời gian: hiện tượng tội phạm có sự theo đổi theo thời gian trong cùng 1 quốc gia.

    3. Các mô hình nghiên cứu xã hội học về hiện tượng tội phạm

    a. Mô hình nghiên cứu theo phân loại các nhóm tội phạm

    – Căn cứ vào quan hệ xã hội được PL hình sự bảo vệ bị xâm hại bởi tội phạm, gồm:

    + nhóm tội phạm quốc sự: xâm phạm an ninh quốc gia, có tính chất đặc biệt nguy hiểm. VD tội phản bội tổ quốc, tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, tội bạo loạn

    + nhóm tội phạm kinh tế: xâm phạm chế độ kinh tế, sở hữu NN, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. VD tội buôn lậu, tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, các tội tham nhũng

    + nhóm tội hình sự: xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm sở hữu, các quyền tự do dân chủ của công dân; xâm phạm an toàn công cộng, … VD tội giết người, tội bức tử, tội cướp tài sản, tội hiếp dâm

    + nhóm tội phạm thuộc tệ nạn xã hội: xâm hại truyền thống văn hóa, đạo lý dân tộc, thuần phong mỹ tục, xâm phạm niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. VD tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, các tội phạm về môi trường, các tội phạm về ma túy, mại dâm

    + nhóm tội phạm vi phạm Hiến pháp: xâm phạm đến các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp. VD tội ban hành văn bản PL trái với Hiến pháp

    + nhóm tội phạm có tổ chức (mafia): đây là nhóm tội phạm đặc biệt nguy hiểm, có tính liên kết và tổ chức rất cao, có 3 đặc điểm sau:

    b. Mô hình nghiên cứu định lượng về hiện tượng tội phạm

    • Xâm hại tới tính mạng với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và tài sản với khối lượng lớn
    • Có sự cấu kết, liên hệ chặt chẽ với những người có chức vụ, quyền lực cao trong bộ máy NN
    • Sử dụng các đối tượng phạm pháp hình sự chuyên nghiệp làm công cụ để gây án

    – Là mô hình cho phép chia ra mức độ, tình trạng thực tế của hiện tượng tội phạm, nghiên cứu thông qua các chỉ báo sau:

    + chỉ báo về mối tương quan giữa số lượng các tội phạm đã được khai báo bởi người bị hại với cơ quan chức năng và số lượng các tội phạm được cơ quan chức năng phát hiện (tội phạm rõ)

    + chỉ báo về số lượng các tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng không được người bị hại khai báo với các cơ quan chức năng, hoặc không được cơ quan chức năng phát hiện (gọi là tội phạm ẩn giấu)

    c. Mô hình nghiên cứu định tính

    – Nghiên cứu về định lượng cho ta bức tranh tổng thể về hiện tượng tội phạm. Thực tế cho thấy, không chỉ ở VN mà ở tất cả các quốc gia trên thế giới, tỷ lệ tội phạm ẩn giấu luôn cao hơn nhiều so tội phạm rõ (như phần chìm so với phần nổi của tảng băng trôi). Tỷ lệ giữa tội phạm ẩn giấu so với tội phạm rõ ở các tội phạm khác nhau thì khác nhau: có những tội phạm có tỷ lệ ẩn giấu rất thấp như tội giết người, cướp giật; có những tội phạm có tỷ lệ ẩn giấu cao như tội phạm về ma túy, tham nhũng, hiếp dâm

    – Cho phép xem xét tính chất, cơ cấu, quá trình vận động và biến đổi của hiện tượng tội phạm trong không gian và thời gian nhất định:

    + tính chất của hiện tượng tội phạm: là tính nguy hiểm cho xã hội, tức là nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp rất lớn, rất đáng kể cho xã hội. Tính chất của hiện tượng tội phạm còn thể hiện ở các đặc điểm phức tạp của nhân thân người phạm tội.

    + cơ cấu của hiện tượng tội phạm: được phản ánh qua các chỉ số về mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau (như giữa các tội phạm cố ý / vô ý, tội phạm tái phạm, tội phạm chuyên nghiệp, tội phạm có tổ chức)

    + sự vận động và biến đổi của hiện tượng tội phạm: hiện tượng tội phạm không bất biến mà có quá trình diễn biến, có sự vận động, biến đổi khác nhau

    c. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, theo lứa tuổi và giới tính, theo sự phân tầng xã hội

    – Nghiên cứu các đặc điểm, dấu hiệu định tính của hiện tượng tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ các nguyên nhân của hiện tượng tội phạm

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý: là sự phân tích theo cơ cấu-lãnh thổ, theo đó thường chia thành khu vực đô thị và khu vực nông thôn. Tại phần lớn các xã hội thì tỷ lệ tội phạm ở khu vực đô thị thường cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Có nhiều nguyên nhân:

    + kiến trúc không gian đô thị vô tình tạo môi trường thuận lợi cho tội phạm hoạt động (vì tập trung nhiều đường phố, cửa hàng, siêu thị, nhà kho, bến bãi, phương tiện giao thông, …), còn kiến trúc không gian sống nông thôn không thuận lợi cho tội phạm hoạt động

    + do lối sống đô thị thiếu tình người so với lối sống cộng đồng ở nông thôn. Thành phần dân cư đô thị hỗn tạp, mật độ cao nên tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm hoạt động; trong khi ở nông thôn thành phần dân cư tương đối thuần nhất, mật độ thấp nên gây khó khăn cho hoạt động tội phạm

    + do cơ cấu kinh tế ở đô thị đa dạng, phong phú, nhưng sự kiểm soát xã hội nhìn chung là lỏng lẻo; ngược lại ở nông thôn cơ cấu kinh tế rất ít đa dạng và sự kiểm soát xã hội (của chính quyền) chặt chẽ hơn nhiều

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo lứa tuổi và giới tính: nhìn chung tội phạm ở nam giới luôn cao hơn ở nữ giới và cao hơn cả ở trong tương quan của mỗi loại tội phạm cụ thể. Có những tội phạm gần như chỉ có ở nam giới như tội hiếp dâm, tội quấy rối tình dục. Có những tội phạm mà nữ giới hầu như không phạm phải, như tội hiếp dâm trẻ em.

    Xét theo cơ cấu lứa tuổi, tỷ lệ tội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng, trong khi ở độ tuổi trung niên và tuổi già thì tỷ lệ tội phạm lại giảm rõ rệt.

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội: là sự phân tích theo cơ cấu – giai cấp, theo đó ở tầng lớp bình dân, người nghèo thường có tỷ lệ phạm tội cao hơn. Ngoài ra con em của người nghèo còn có nguy cơ vi phạm PL cao hơn do phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường tội phạm

    VI. Một số hiện tượng hành vi sai lệch có tính nguy hiểm cao cho xã hội

    1. Nghiện ma túy

    – Nghiện ma túy là căn bệnh xã hội nguy hiểm, gây ra tác hại khon lường cho xã hội, là biểu hiện của hành vi sai lệch nghiêm trọng. Tác hại của nghiện ma túy thể hiện ở việc phá hủy sức khỏe người nghiện, hủy hoại nhân cách người nghiện (thường thấy cuộc đời bế tắc, cư xử tiêu cực, bi quan, sống gấp, …), gây khánh kiệt kinh tế, phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng xấu đến an tinh trật tự, tạo gánh nặng cho xã hội.

    – Mặc dù nghiện hút ma túy đã không còn bị coi là tội phạm nhưng nghiện hút ma túy thường là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, như cướp giật, trộm, …

    2. Say rượu

    – Là một trạng thái tinh thần bệnh hoạn, hình thành do kết quả của việc sử dụng quá nhiều rượu. Hậu quả là người nghiện rượu tạo hình ảnh bê tha, nhếch nhác, tự hạ thấp nhân cách của mình, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động lao động, gây tốn kém về tiền bạc. Mặt khác, nghiên rượu còn làm cho người say mất đi năng lực kiềm chế, năng lực điều chỉnh, kiểm soát hành vi, dẫn tới dễ bị kích động và dẫn tới phạm tội.

    – Say rượu thường là nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Luật hình sự quy định Người phạm tội do say rượu thì không được miễn trách nhiệm hình sự

    3. Côn đồ, càn quấy (Hooligan)

    – Là những hành vi sai lệch có tính chất hung hãn, côn đồ, quậy phá, ẩu đả, chống đối xã hội, thường do những kẻ lưu manh, quá khích thực hiện.

    – Thường xảy ra trong lĩnh vực thể thao, kinh doanh, xây dựng, … Trong Luật hình sự có quy định các tội như Tội tổ chức đua xe trái phép, Tội đua xe trái phép, Tội gây rối trật tự công cộng, Tội chống người thi hành công vụ

    4. Tự tử

    – Là hành vi sai lệch bộc lộ rõ nét nhất thái độ tiêu cực của cá nhân bằng việc tự loại bỏ cuộc sống của chính mình.

    – Nguyên nhân của tự tử có thể do chủ quan (chán sống), nhưng đa phần là do các nguyên nhân xã hội như thất tình, thất nghiệp, nghèo khổ, khủng hoảng tinh thần, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, mê tín dị đoan, …

    – Tự tử có thể gây ra những hậu quả xã hội to lớn, VD để lại món nợ, gây tâm lý tiêu cực cho người thân

    – Có 3 loại tự tử:

    + tự tử vì ích kỷ: là loại phổ biến nhất, là kết quả của “chủ nghĩa cá nhân thái quá”

    + tự tử vị tha: xảy ra khi cá nhân hoàn toàn bị ngập vào trong nhóm xã hội. VD người vợ tự tử khi chồng chết trong một số xã hội

    + tự tử vô tổ chức: xảy ra khi diễn ra một tình thế “vô tổ chức” khiến các thành viên xã hội mất đi cái trật tự tiêu chuẩn. VD khủng hoảng kinh tế khiến nhiều người tự tử (thường là doanh nhân, nhà đầu tư thua lỗ)

    5. Sự tha hóa về đạo đức

    – Là sự thoái hóa về nhân cách, phẩm chất và đạo đức con người. Thường xảy ra ở những người có quan niệm sai lệch, thái độ lệch lạc, hành vi coi thường các giá trị truyền thống, thuần phong mỹ tục, và do đó tự đánh mất lương tâm, danh dự, nhân phẩm của chính mình; buông thả mình theo lối sóng phóng túng, trụy lạc và thực dụng

    VII. Các biện pháp phòng, chống sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Biện pháp tiếp cận thông tin

    – Có tác dụng nâng cao nhận thức, hiểu biết PL của con người

    – Gồm các khía cạnh:

    + cung cấp thông tin cần đầy đủ, chính xác

    + chú trọng nâng cao uy tín của hệ thống PL: PL cần công bằng và nghiêm minh để mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng thực hiện. Cần đặc biệt chú ý tính công bằng và nghiêm minh trong quá trình thực hiện và áp dụng PL của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền

    + cần cảnh giác, tích cực đấu tranh với những thông tin sai trái, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của những thế lực thù địch

    2. Biện pháp phòng ngừa xã hội

    – Đây là biện pháp phòng chống sai lệch chuẩn mực xã hội có hiệu quả cao nhất. Theo đó sẽ tìm hiểu, phát hiện, làm sáng tỏ những nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi sai lệch chuẩn mực để từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp phòng ngừa cụ thể

    – Phòng ngừa xã hội là tổng thể các biện pháp tác động về mặt xã hội (tác động về kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, pháp luật, đạo đức, …) mà NN và xã hội áp dụng nhằm loại trừ các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Hai cấp độ phòng ngừa:

    + phòng ngừa chung: nhằm loại trừ sai lệch chuẩn mực PL nói chung

    + phòng ngừa chuyên ngành: đi sâu vào ngăn ngừa những loại hành vi sai lệch PL cụ thể, nhất là phòng ngừa hình sự

    3. Biện pháp áp dụng hình phạt

    – Là việc truy tố, xét xử và buộc kẻ phạm tội phải chịu 1 hình phạt nhất định. Có 2 ý nghĩa:

    + trừng trị kẻ phạm tội, cải tạo, cảm hóa họ để họ trở lại con đường hướng thiện

    + giáo dục, răn đe, ngăn ngừa người khác có ý định phạm tội

    – Trong Luật hình sự, có 2 nhóm hình phạt:

    + hình phạt chính: phạt tù, tử hình, …

    + hình phạt bổ sung: phạt tiền, cấm giữ chức vụ, …

    4. Biện pháp tiếp cận y – sinh học

    – Nhằm tìm hiểu người phạm tội có bị khuyết tật về thể chất hay tâm lý không, nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện của hành vi sai lệch

    5. Biện pháp tiếp cận tổng hợp

    – Là biện pháp gồm các nội dung cụ thể sau:

    + cần nhận thức rõ công tác phòng chống sai lệch chuẩn mực không phải là nhiệm vụ của riêng cơ quan nào, mà là của toàn xã hội

    + củng cố các nguyên tắc đạo đức gắn liền với sự tôn trọng người có thẩm quyền khi họ thực hiện công việc, đồng thời cơ quan chức năng cũng cần có thái độ trân trọng đúng mức đối với các nhu cầu, đòi hỏi chính đáng của người dân

    + giáo dục các giá trị văn hóa PL, giá trị đạo đức truyền thống, xây dựng và phổ biến lối sống lành mạnh, tiến bộ, đề cao nguyên tắc pháp chế trên cơ sở công bằng, dân chủ, văn minh

    + mở rộng các loại hình vui chơi, giải trí lành mạnh, tiến bộ cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên

    + cải tiến, đổi mới công tác giáo dục PL trong hệ thống nhà trường từ phổ thông đến đại học. Mở rộng hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giải thích PL trong các tầng lớp nhân dân

    + thông tin đầy đủ, chi tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng những vụ việc xử lý tội phạm để nhân dân tin tưởng và sự nghiêm minh và công bằng của PL. Đồng thời thường xuyên tổ chức thăm dò dư luận xã hội đối với những vấn đề cụ thể của cuộc sống để có phương hướng điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung PL

    + dựa trên cơ sở các dự báo và diễn biến của tình hình tội phạm để xây dựng các kế hoạch đấu tranh có hiệu quả đối với từng loại tội phạm

    Một số câu hỏi thi (thầy Nhân đã nhắc trên lớp):

    + trong bối cảnh hội nhập ngày nay, việc phòng chống tội phạm cần được mở rộng sự hợp tác quốc tế, như tham gia Interpol, AseanPol

    – Trình bày các hình thức thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày các cơ chế thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố chính trị có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố văn hóa, lối sống có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố pháp luật có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày nội dung cơ bản của hiện tượng tội phạm, cho ví dụ ?

    – Trình bày mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo phân loại nhóm tội phạm, cho ví dụ ?

    – Trình bày mô hình nghiên cứu định lượng và mô hình nghiên cứu định tính về hiện tượng tội phạm.

    – Trình bày mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, theo lứa tuổi và giới tính, theo sự phân tầng xã hội

    – Trình bày các hiện tượng sai lệch có tính nguy hiểm cao cho xã hội

    – Trình bày các biện pháp phòng chống sai lệch chuẩn mực PL

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Giáo Dục Nhung Chuc Nang Xa Hoi Cua Giao Duc1 Doc
  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Lợi Ích, Tác Dụng Của Thể Dục Thể Thao
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì? Vai Trò Của Doanh Nghiệp Xã Hội
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • Đừng Triệt Tiêu Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Là Gì? Những Điều Cần Biết Trong Nghề Luật Sư
  • Môi Trường Có Những Chức Năng Cơ Bản Nào?
  • Nâng Cao Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Hội Môi Trường Gtvt Vn
  • 10 Lợi Ích Khi Sử Dụng Mạng Xã Hội
  • Những Lợi Ích Của Mạng Xã Hội Không Phải Ai Cũng Biết
  • Luật sư phải ứng xử và phát ngôn trên phương tiện thông tin đại chúng, trang mạng xã hội theo đúng nguyên tắc hành nghề LS, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của LS,

    Bộ Tư pháp đang soạn thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 123/2013 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư. Tôi thiết nghĩ, mục đích nâng cao trách nhiệm của Luật sư (LS) trong việc giữ gìn uy tín, đạo đức nghề nghiệp, đòi hỏi các Luật sư hay tổ chức hành nghề Luật sư này phải ứng xử và phát ngôn trên phương tiện thông tin đại chúng, trang mạng xã hội theo đúng nguyên tắc hành nghề LS, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của LS, là một nhận thức đúng đắn, phù hợp. Tuy nhiên, những nguyên tắc này đã được giới Luật sư xây dựng và chuẩn hóa trong Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp một cách đầy đủ, do đó việc đưa vào Nghị định liệu có cần thiết.

    Ở một góc độ khác, những chuẩn mực này không được nêu trong Luật Luật sư 2006, vậy căn cứ nào để chúng ta xây dựng văn bản dưới luật khác đi, không tương thích hay mở rộng các nội dung trong luật, việc xây dựng hệ thống pháp luật cần đảm bảo phù hợp với luật vì không tuân thủ nguyên tắc 1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật., được quy đinh tại điều 5, Luật Ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật năm 2022. Ngoài ra, việc đòi hỏi Luật sư phải có những ứng xử và phát ngôn trên phương tiện thông tin đại chúng, trang mạng xã hội, với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín nghề LS, phương hại đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác” sẽ được hiểu như thế nào, trong trường hợp Luật sư phát ngôn trên các cơ quan báo chí thì đã có Luật Báo chí điều chỉnh, phát ngôn trên mạng xã hội đã có nghị định 72/2013/NĐ-CP quy định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng điều chỉnh chung, vì Luật sư cũng là công dân nên bị kiểm soát và xử lý bởi chế tài chung.

    Trên thực tế, việc phát ngôn của Luật sư có thể “gây phương hại” cho những quyền và lợi ích bất hợp pháp của các cá nhân tổ chức, nếu không trái luật thì đây chính là việc người Luật sư thực hiện Chức năng xã hội của luật sư “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Theo quy định tại điều 3 Luật luật sư, thử hỏi cứ “gây phương hại” cho những đối tượng xấu mà Luật sư bị xác định là vi phạm luật thì thử hỏi còn Luật sư nào dám đương đầu để đấu tranh với cái xấu, nếu áp dụng máy móc điều này sẽ dẫn đến triệt tiêu chức năng xã hội của Luật sư, điều mà Đảng, nhà nước và nhân dân đang mong chờ ở chúng tôi, thực tế trong thời gian qua Luật sư đang thưc thi rất tốt chức năng này. Như chúng ta đã biết, trong thời gian qua, nhiều vụ án oan sai, nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều vụ án tham nhũng ….đã được các Luật sư phanh phui, tạo được niềm tin lớn trong quần chúng nhân dân, giúp Đảng nhà nước trong công tác cải cách tư pháp chung.

    Không chỉ gói gọn hoạt động của mình trong lĩnh vực tư pháp, những người Luật sư cũng tích cực hòa mình vào công cuộc phòng chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước đang đẩy mạnh. Đảng đã xác định, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng cần phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, và phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, nhân dân, cơ quan truyền thông và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân trong phòng chống tham nhũng, như vậy trong việc phòng ngừa, phát hiện phát hiện tham nhũng không ai có khả năng thực hiện điều này bằng những Luật sư, nhà báo. Như vậy, tiếng nói của Luật sư không chỉ cần thiết, mà còn là sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước cần tới trong công cuộc phòng chống tham những hiện nay.

    Còn lại, những nội dung khác trong dự thảo (LS không được nhận và thực hiện vụ việc với mục đích trái pháp luật, trái nguyên tắc hành nghề LS. LS không được tập trung, lôi kéo, kích động người khác nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.) nghị định bị trùng lặp với nội dung điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác, do đó tôi thấy việc đưa ra những nội dung này trong nghị định là không cần thiết, không phù hợp.

    Luật sư Trương Anh Tú (VPLS Trương Anh Tú – Hà Nội)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tiền Lương, Tiền Công Là Gì, Chức Năng Của Tiền Lương
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Hội Khuyến Học Hà Nội Triển Khai Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022
  • Phương Hướng, Nhiệm Vụ Của Hội Khuyến Học Nhiệm Kỳ 2005
  • Tổng Kết 5 Năm Của Hội Khuyến Học Xã An Hiệp Tong Ket 0510 Nhiem Vu 1015 Hoi Khuyen Hoc A Hiep Doc
  • Hành Vi Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội. Các Hình Thức Và Chức Năng Của Kiểm Soát Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Đại Cương 2
  • Nhiệm Vụ Và Công Việc Của Nhân Viên Qc Trong Nhà Máy
  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam
  • Hành vi xã hội và kiểm soát xã hội (SC) là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học tương đối trẻ – tâm lý học xã hội. Sự hiểu biết của họ là cần thiết cho mỗi người. Rốt cuộc, thành công của nó ở một mức độ lớn phụ thuộc vào khả năng xây dựng các mối quan hệ xã hội mang tính xây dựng.

    Về mức độ xã hội hóa trẻ em

    Xã hội hóa của trẻ nhỏ được gọi là chính. Một đứa trẻ đi vào thế giới. giống như một tờ giấy trắng (tabula rasa), hoàn toàn không biết gì về xã hội. Chẳng mấy chốc, anh phát hiện ra rằng không gian xung quanh mình bị người khác chiếm chỗ. Chính họ là người xây dựng các mô hình cho em bé (mô hình, ma trận) để tìm hiểu về thế giới.

    Lĩnh vực xã hội sự kiểm soát xung quanh mỗi cá nhân rất phức tạp bởi hành vi xã hội phát triển của anh ta.

    Xã hội hóa thứ cấp của đứa trẻ trùng với việc mua lại một nền giáo dục chính thức. Nhiệm vụ chính của nó là trí thức hóa, tiếp thu các kỹ năng tư duy logic. Đứa trẻ mất đi địa vị độc nhất, đặc trưng của vị trí trong gia đình, trở nên bình đẳng trong trường với các đồng tu. Đồng thời, chính ở giai đoạn giáo dục, ông nhận được những ý tưởng chính về nhà nước, về bất bình đẳng xã hội, về hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội. Trong suốt quá trình xã hội hóa, đứa trẻ được cha mẹ chăm sóc.

    Xã hội hóa ở tuổi trưởng thành

    Ở giai đoạn thứ ba, đặc trưng bởi sự trưởng thành xã hội, một người trưởng thành (18-60 tuổi) giành được độc lập như một tác nhân kinh tế. Anh ấy (cô ấy) cá nhân kiếm tiền để cung cấp cho cuộc sống của mình, có được gia đình riêng của mình.

    Ở giai đoạn trưởng thành, vai trò xã hội của một người có được các địa vị pháp lý khác nhau (chồng, vợ, cha, mẹ). Ông cũng thích vị thế chuyên nghiệp, chính thức. Thông qua sau này, quyền lực có thể được giao phó cho anh ta. Sự trưởng thành xã hội của một người được thể hiện ở sự tham gia tích cực của anh ta vào đời sống xã hội của các cộng đồng khác nhau xung quanh anh ta – công nghiệp, quốc gia, chung chung.

    Xã hội hóa người về hưu

    Xã hội hóa tuổi già bao gồm sự ra đi dần dần của một người từ hoạt động lao động tích cực. Ý nghĩa của nó là đi chệch khỏi đặc tính trì trệ bản ngã của tuổi nghỉ hưu, thể hiện ở:

    • giảm các biểu hiện của tinh thần;
    • cô lập về quá khứ;
    • trong sự gián đoạn của giao tiếp với hiện tại;
    • tổ chức một vòng tròn mới của truyền thông.

    Các lĩnh vực có thể có của chuyên môn này là một vị trí công cộng tích cực trong sự giáo dục của thế hệ trẻ, trong các nhóm xã hội tại nơi cư trú (ủy ban sân, hợp tác xã nhà mùa hè, v.v.)

    Sự thích nghi của con người trong xã hội là kết quả của hành vi xã hội

    Hành vi xã hội tích cực của đa số các thành viên trong xã hội cho phép họ giải quyết thành công các nhiệm vụ thích ứng quan trọng nhất ban đầu đối với một người, góp phần vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật, tăng trưởng hạnh phúc và theo đó là mức sống.

    Về các loại hành vi xã hội

    Hành vi xã hội là có mục đích, với sự giúp đỡ của một người đạt được một mức độ định vị nhất định trong xã hội và trong một nhóm xã hội.

    Các loại hành vi xã hội khác nhau về chức năng và lợi ích:

    • đại chúng (phong trào chính trị, tôn giáo và kinh tế, tin đồn, thời trang);
    • nhóm (tập thể lao động, câu lạc bộ, sân, đồng tu, v.v.);
    • Porolevoy (mẹ, cha, macho, aksakal, con, v.v.).

    Ngoài ra, hành vi xã hội của một người được đặc trưng bởi định hướng mối quan hệ của anh ta với người khác, đó có thể là:

    • prosocial (thân thiện, gắn liền với mong muốn giúp đỡ, hợp tác);
    • cạnh tranh (mong muốn nổi bật, trở thành người giỏi nhất);
    • loại A (cáu kỉnh, yếm thế, thiếu kiên nhẫn, thù địch với mọi người);
    • loại B (thiện chí).

    Cuối cùng, việc phân loại hành vi xã hội xảy ra với một số mẫu hành vi nhất định:

    • thành tích thành công (vị trí sống tích cực);
    • tránh các thất bại (cô lập, giả định không tin tưởng);
    • tìm kiếm liên lạc hoặc tránh chúng;
    • mong muốn quyền lực, thờ ơ hoặc vâng lời nó;
    • mô hình hành vi chủ động hoặc bất lực.

    Các loại hành vi xã hội trên được phân loại là tuân thủ pháp luật. Ngoài họ, hành vi có vấn đề, lệch lạc và bất hợp pháp cũng xảy ra.

    Chúng tôi sẽ đề cập đến chúng trong bài viết này, coi các biện pháp trừng phạt là một yếu tố của thể loại kiểm soát xã hội.

    Kiểm soát xã hội là gì?

    Khái niệm này đã được chứng minh bởi nhà khoa học người Pháp T. Tarde, và cuối cùng được các nhà xã hội học người Mỹ R. Park và E. Ross đưa ra.

    Họ đã hiểu được bản chất của nó, xem xét tác động xã hội toàn diện đối với một cá nhân có hành vi lệch lạc (xã hội). Thông qua ảnh hưởng này, hành vi của anh ta đã được chuyển thành phù hợp với các chuẩn mực xã hội hiện có.

    Theo nghĩa rộng, các nhà khoa học coi kiểm soát xã hội là sự tương tác và tương quan liên tục của một cá nhân với xã hội và các nhóm xã hội. Rõ ràng, bản chất của sự kiểm soát như vậy rất quan trọng phụ thuộc vào loại hình xã hội. Một xã hội cổ xưa, toàn trị và dân chủ có những đặc điểm riêng, được thể hiện trong các tính năng của các quy tắc và chế tài xã hội.

    Hai hình thức kiểm soát xã hội

    Tùy thuộc vào sự hiện diện của địa vị xã hội, hai hình thức kiểm soát xã hội được phân biệt: không chính thức (tức là không chính thức) và chính thức.

    Nếu xã hội là cổ xưa, thì Vương quốc Anh hoàn toàn dựa trên sự lên án hoặc chấp thuận của một nhóm xã hội (thành viên gia đình, bạn bè, người quen và đồng nghiệp). Trong trường hợp này, họ đang nói về một Vương quốc Anh không chính thức.

    Trong một xã hội văn minh hơn, hành vi của các cá nhân được điều chỉnh bởi các thể chế nhà nước chuyên ngành: lập pháp và hành pháp, truyền thông. Sau này hoạt động ở cấp quốc gia và thành phố. Kiểm soát xã hội như vậy được gọi là chính thức.

    Sự kiểm soát bên ngoài quá mức đối với các hoạt động xã hội của công dân bởi quân đội, cảnh sát, tòa án và các cơ quan kiểm soát là đặc trưng của chế độ quyền lực – độc tài. Trong điều kiện như vậy, các quá trình xã hội bị biến dạng. Chúng giống như một con đường điều chỉnh một chiều. Kiểm soát xã hội nhà nước đối với các quốc gia có hệ thống toàn trị tìm cách trở nên toàn diện, nghĩa là kiểm soát toàn bộ xã hội. Một đặc điểm là trong hầu hết các trường hợp, những người xin lỗi của chế độ độc tài biện minh cho sự sáng tạo của mình bằng nhu cầu khôi phục trật tự, được cho là vì lợi ích của mọi công dân.Tuy nhiên, với cô, họ luôn xuống cấp về mặt xã hội, sự tự nhận thức và những nỗ lực ý chí cần thiết cho sự tự chủ hoàn toàn bị giảm đi.

    Trong một xã hội dân chủ, 70% quy định xã hội là tự kiểm soát. Sự phát triển của kiểm soát xã hội thường gắn liền với chế độ dân chủ quyền lực nhà nước.

    Mục đích của cả hai hình thức SC (bên ngoài và bên trong) là:

    • duy trì sự ổn định và trật tự trong xã hội;
    • tuân thủ tính liên tục trong lối sống và đặc thù của sự phát triển.

    Trong các xã hội phát triển cao, cả hai hình thức kiểm soát xã hội đồng thời cùng tồn tại, bổ sung hữu cơ cho nhau.

    Các loại kiểm soát xã hội

    Chính những nỗ lực chung của những người bị kiểm soát bởi lương tâm của chính họ là động lực chính của tiến bộ xã hội.

    Chức năng kiểm soát xã hội

    Có hai chức năng chính của kiểm soát xã hội:

    Một mặt, điều quan trọng là phải nhanh chóng và đầy đủ chống lại các nỗ lực phá hủy các giá trị xã hội. Các chức năng bảo vệ là bảo thủ trong tự nhiên. Nó đóng vai trò là nền tảng cho sự ổn định trong xã hội, kêu gọi sử dụng cẩn thận các sáng kiến ​​xã hội khác nhau. Trước hết, nó bảo vệ các giá trị nhà nước và tôn giáo, đời sống con người, quyền và nghĩa vụ và tính toàn vẹn về thể chất của công dân. Chức năng bảo vệ trực tiếp góp phần chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ cũ sang thế hệ trẻ.

    Với sự giúp đỡ của chức năng ổn định của kiểm soát xã hội, dự đoán và kỳ vọng về hành vi xã hội được đảm bảo. Điều này bảo tồn trật tự xã hội hiện có.

    Kiểm soát xã hội là công cụ quan trọng nhất của xã hội giúp cho sự đồng hóa và chấp nhận của mỗi người trong nền văn hóa thịnh hành. Nó là phổ quát. Rốt cuộc, hoàn toàn bất kỳ cấu trúc xã hội nào, thậm chí tồn tại trong một thời gian ngắn, là không thể nếu không có SK.

    Hệ thống kiểm soát xã hội

    Hệ thống kiểm soát xã hội bao gồm tám yếu tố:

    • hành động xã hội gây ra phản ứng môi trường đầy đủ;
    • một dẫn xuất của các giá trị xã hội hiện có, một hệ thống để đánh giá các hành động xã hội;
    • phân loại các hành động xã hội thành đáng trách và khuyến khích;
    • đánh giá nhóm đặc trưng của các tình huống xã hội phát sinh trong nhóm này (nhận thức xã hội);
    • các biện pháp trừng phạt xã hội như một phản ứng của xã hội đối với các hành động xã hội;
    • tự phân loại, tức là tự nhận dạng một người bằng cách thuộc về một nhóm nhất định trong môi trường xã hội;
    • lòng tự trọng cá nhân;
    • một đánh giá cá nhân về môi trường và hoàn cảnh mà người đó tiếp xúc với người khác.

    Về cơ chế kiểm soát xã hội

    Cơ chế kiểm soát xã hội bao gồm các chuẩn mực xã hội và các biện pháp trừng phạt.

    Các chuẩn mực xã hội (chính thức và không chính thức) quy định mọi người cách cư xử trong xã hội. Với sự giúp đỡ của họ:

    • quá trình xã hội hóa đang được điều chỉnh;
    • các cá nhân đoàn kết trong các nhóm xã hội, và các nhóm hòa nhập với xã hội;
    • kiểm soát hành vi lệch lạc.

    Theo mức độ nghiêm trọng, các tiêu chuẩn có thể được sắp xếp theo thứ tự sau: cấm kỵ (xúc phạm đền thờ, vi phạm điều răn, loạn luân), luật pháp (hành vi quy phạm của lực lượng pháp lý cao nhất), quyền và tự do, thói quen của một nhóm xã hội, truyền thống, nghi thức, phong tục.

    Họ hành động như một tiêu chuẩn, một bộ điều chỉnh cho các hành động, cảm xúc, suy nghĩ và bảo vệ các giá trị xã hội. Sau này đề cập đến các khái niệm của con người được xã hội chấp nhận về lòng yêu nước, công bằng, lòng tốt, tình yêu, tình bạn.

    Xử phạt tuân thủ kiểm soát xã hội

    Kiểm soát xã hội trong xã hội được thực hiện bởi mọi người trên cơ sở các chuẩn mực hiện có. Quy định diễn ra trên cơ sở nguyên tắc của mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và các chế tài tương ứng với nó. Bị tước bỏ các biện pháp trừng phạt kèm theo, chuẩn mực xã hội rơi ra khỏi hệ thống kiểm soát xã hội, biến thành một lời kêu gọi, một khẩu hiệu, v.v.

    Các chế tài là:

    • tích cực (danh dự, danh tiếng, công nhận, khuyến khích, phê duyệt) và tiêu cực (kết luận, tịch thu tài sản phạt tiền, khiển trách, nhận xét, kết án);
    • chính thức (đến từ các tổ chức nhà nước), không chính thức (nhận từ người thân và đồng nghiệp trong các nhóm xã hội);
    • vật chất (quà tặng, tiền thưởng, tiền phạt, tịch thu) và đạo đức (bằng tốt nghiệp, giải thưởng, khiển trách).
    • lệch lạc (vi phạm là nhỏ và không bị trừng phạt);
    • phạm pháp (xử phạt của Bộ luật hành chính);
    • hình sự (chế tài của Bộ luật hình sự).

    Kết luận

    Kiểm soát xã hội là một công cụ mạnh mẽ để quản lý xã hội. Hầu hết dân số tự nguyện và không ngừng tuân thủ các chuẩn mực được thiết lập bởi xã hội.

    Hiện tại, điều này góp phần vào sự phát triển của các tổ chức siêu quốc gia, làm tăng tỷ lệ quan hệ doanh nghiệp.

    Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thông qua sự ủy thác của các cường quốc nhà nước cho các cơ quan siêu quốc gia. Tuy nhiên, bản chất của kiểm soát xã hội trong xã hội thông tin hầu như không thay đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trật Tự Xã Hội, Lệch Lạc Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội
  • Kiểm Soát Xã Hội Đối Với Các Chuẩn Mực Trong Hoạt Động Khoa Học
  • Động Kinh Và Rối Loạn Cảm Xúc: Mối Liên Hệ & Cách Khắc Phục Hiệu Quả!
  • Các Rối Loạn Nhân Cách Và Hành Vi Do Bệnh Lý Não, Tổn Thương Não Và Rối Loạn Chức Năng Não
  • Bệnh Rối Loạn Thần Kinh Chức Năng Là Gì? Đối Tượng Nào Dễ Mắc Bệnh Nhất?
  • Chức Năng, Giá Trị Của Pháp Luật Nhìn Dưới Góc Độ Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 1 Chức Năng Thời Gian Làm Việc
  • Phòng Y Tế Cấp Huyện: Bỏ Thì Thương, Vương Thì Tội
  • Chức Năng Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Là Gì?
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế & Hạ Tầng Huyện Kon Plông
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Thuộc Ubnd Cấp Huyện
  • Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà n ước ban hành (hoặc thừa nhận), thể hiện I. Mở đầu ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà n ước bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế; là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ x II. Chức năng, giá trị xã hội của pháp luật ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp. Trong bài viết này tác giả đề cập đến khía cạnh chức năng và giá trị của pháp luật nhìn d ưới gốc độ x

    Trong xã hội để tồn tại và phát triển, các cá nhân buộc phải liên kết với nhau thành những cộng đồng lớn nhỏ khác nhau. Đời sống cộng đồng cần phải phối hợp, quy tụ hoạt hoạt động của những cá nhân riêng lẻ trong xã hội theo những h ướng nhất định. Để đạt được mục đích đó, loài người đã sử dụng rất nhiều các công cụ điều chỉnh khác nhau, trong đó có pháp luật. Pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan (do nhu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội đã phát triển ở một trình độ nhất định) vừa mang tính chủ quan (phụ thuộc ý chí nhà nước). Pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó không chỉ là công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu mà còn xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh. Vậy dưới góc nhìn của xã hội pháp luật có chức năng, giá trị như thế nào?

    Khái niệm chức năng là một khái niệm rất đa dạng và đôi khi rất mâu thuẫn. Trong các nghiên cứu xã hội hiện nay khái niệm đó có một số nghĩa. Chức năng là sự thể hiện của sự lệ thuộc trong sự tác động lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nhân tố hay thay đổi. Chức năng là tổng thể các quá trình diễn ra trong phạm vi của khách thể nghiên cứu (ví dụ: sự hoạt động của các cơ quan tư pháp). Chức năng là kết quả mong muốn của sự hoạt động, của quá trình, của hiện tượng xã hội nào đó. Chức năng là tổng thể tất cả các hậu quả mong đợi và thứ yếu của sự hoạt động, của quá trình, của hiện tượng.

    Ở dạng chung nhất chức năng của pháp luật được hiểu là phương hướng tác động của pháp luật được quyết định bởi mục đích xã hội của nó đến các quan hệ xã hội.

    Đối với từng ngành pháp luật riêng biệt chúng ta còn có thể tách ra một khía cạnh nữa của khái niệm chức năng không được bao trùm bởi định nghĩa nói trên. Ở đây muốn nói về sự tác động của các ngành pháp luật với nhau. Tất cả các mối liên hệ phụ thuộc đó cần được nghiên cứu trong phạm vi của vấn đề chức năng của pháp luật.

    Trong khoa học pháp lý có quan điểm khác về các chức năng cơ bản của pháp luật. Thông thường, trong lý luận về pháp luật người ta tách ra chức năng điều chỉnh và chức năng bảo vệ của pháp luật. Việc phân loại đó xuất phát từ thuộc tính của pháp luật và chop phép đưa ra đặc trưng pháp lý trong hoạt động của pháp luật. Nhưng việc phân loại đó không thể đưa ra cơ sở đầy đủ cho việc nhận thức và làm sáng tỏ mực đích xã hội của pháp luật, vai trò sáng tạo, tích cự của nó trong việc cải tạo biến đổi các quan hệ xã hội. Việc phân loiaj các chức năng của pháp luật thành chức năng điều chỉnh và chức năng bảo vệ hoàn toàn phù hợp với giai đoạn phát triển của khoa học pháp lý đó chỉ tiến hành nghiên cứu những vấn đề pháp lý bên trong của nó.

    Vì vậy, để đưa ra cách luận giải đúng đắn về chức năng của pháp luật cần phải xuất phát từ các tiền đề sau:

    – Pháp luật với tư cách là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc suy cho cùng được quy định bởi các điều kiện vật chất của đời sống xã hội và cùng với những thay đổi của các điều kiện đó các chức năng của pháp luật cũng được biến đổi. Ở nghĩa đó, các chức năng của pháp luật được phát sinh từ hệ thống các quan hệ xã hội được biểu hiện dưới hình thức pháp lý, dừ rằng các chức năng đó phụ thuộc vào các thuộc tính đặc thù và nội dung của chính pháp luật.

    – Pháp luật là một trong những yếu tố của hệ thống xã hội và các yếu tố của hệ thống đó đều ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận hợp thành của nó.

    Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    Chính vì vậy cần phải xem xét, nghiên cứu các chức năng xã hội của pháp luật trong hệ thống thống nhất của sự quản lý xã hội và cả trong mối quan hệ lẫn nhau với các nhân tố kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng riêng của sự phát triển xã hội.

    Trên cơ sở đó tôi cho rằng cần xem xét chức năng xã hội của pháp luật trên các chức năng cơ bản sau:

    Một là, chức năng điều chỉnh: Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

    Hai là, chức năng bảo vệ: Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hnàh vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự.

    Ba là, chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật. Việc giáo dục có thể được thực hiện thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự,…).

    2.2. Giá trị xã hội của pháp luật

    Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước.

    Giá trị xã hội của pháp luật là một hiện tượng xã hội, pháp luật chứa đựng các giá trị xã hội vốn có; đồng thời, giá trị đó còn được quy định bởi thuộc tính điều chỉnh và tính quy phạm riêng có của pháp luật.

    Giá trị xã hội của pháp luật được được thể hiện ở những khía cạnh:

    Pháp luật đảm bảo cho những chủ thể có ngang quyền với nhau thực hiện những nhu cầu về quyền lựa chọn hành vi và trách nhiệm của mình thông qua các phạm trù pháp lý: quyền chủ thể, nghĩa vụ chủ thể, năng lực hành vi…

    Pháp luật là thước đo trong mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực. Ví như giữa Đảng cầm quyền và các tổ chức xã hội, giữa các cơ quan nhà nước với nhau,…Là thước đo các quan hệ trên – dưới như quan hệ Trung ương và địa phương. Việc thiết lập mối quan hệ này phải tuân theo các quy định của pháp luật về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ trên cơ sở ” bình đẳng trước pháp luật “. Pháp luật là cơ sở cho hoạt động của các thiết chế quyền lực, còn các thiết chế quyền lực phải thực sự đảm bảo để cho pháp luật có được thuộc tính công bằng, bình đẳng và dân chủ. Bên cạnh đó, pháp luật còn tạo ra mối quan hệ bình đẳng giữa nhân dân với chính quyền. Nhờ đó mà nhà nước mới thực sự là nhà nước của nhân dân, vì nhân dân, tạo nên môi trường và pháp lý đúng đắn, dân chủ, công khai,…

    Pháp luật là công cụ và là cơ sở để nhận thức xã hội. Xuất phát từ tính quy phạm của pháp luật đã hình thành và phát triển trong lịch sử, chúng ta có thể hình dung của các quan hệ xã hội của xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay. Nó duy trì một trật tự xã hội mà trong đó các giai cấp và các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, đấu tranh với nhau cùng tồn tại, tạo tiền đề cần thiết cho sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, pháp luật mang tính giai cấp. Nó trước hết là công cụ của giai cấp thống trị nhằm duy trì địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, đàn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp và các tầng lớp xã hội khác. Như vậy, pháp luật là công cụ điều chỉnh và điều hòa các quan hệ xã hội trong xã hội có sự phân chia giai cấp với những lợi ích khác biệt nhau.

    Pháp luật của bất cứ xã hội nào cũng có vai trò điều chỉnh và điều hòa các quan hệ xã hội. Những vai trò đó không phải là bất biến. Xã hội càng phát triển thì vai trò nói trên của pháp luật càng lớn, mà vai trò xã hội của pháp luật càng lớn thì càng tạo ra các tiền đề, điều kiện cho sự tiêu vong của chính nó: tính cưỡng chế giảm, phạm vi các quan hệ xã hội được chuyển từ lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật sang lĩnh vực điều chỉnh của các quy phạm xã hội càng tăng.

    Trên cơ sở đánh giá về tính điển hình, tính quy luật và chuẩn mực ổn định của pháp luật mà ta có thể từ pháp luật hiểu, nhận thức được một cách khoa học lịch sử của các quan hệ xã hội trong quá khứ.

    Xuất phát từ tính quy phạm của pháp luật chúng ta có thể thêm một phương pháp nghiên cứu xã hội, ngoài những phương pháp của các khoa học xã hội khác như: triết học, kinh tế chính trị học, xã hội học,…

    III. Kết luận

    Pháp luật khi được chính thức ban hành có giá trị và đăng tải thông tin, định hướng hành vi xã hội, tác động mạnh mẽ vào ý thức và tâm lý xã hội.Pháp luật là phương tiện thông báo quan điểm chính thức của nhà nước, của xã hội về khuôn mẫu, hành vi về mô hình giải quyết các vấn đề và phương thức điều chỉnh các giá trị xã hội thông qua pháp luật, các chủ thể có thể biết được những phương thức, biện pháp, và phương tiện dùng để đạt được mục đích của hành vi. Đồng thời, pháp luật cũng chỉ rõ những hậu quả pháp lý có thể xảy ra (có thể là khuyến khích, có thể là các chế tài cưỡng chế) để các chủ thể điều chỉnh hành vi cho phù hợp.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Như vậy, pháp luật cung cấp cho con người một lượng thông tin về khả năng khác nhau của hành vi. Từ đó, thông qua ý thức của con người mà nó điều khiển toàn bộ quá trình định hướng hành vi, xác định mục đích, động cơ, điều chỉnh và kiểm tra hành vi con người đó.

    Từ việc phân tích chức năng, giá trị xã hội của pháp luật, ta nhận thấy được tầm quan trọng của pháp luật không chỉ đối với mọi cá nhân, tổ chức, mà còn đối với sự tồn tại và vận hành bình th ường của x ã hội. Muốn xã hội ổn định và ngày càng phát triển cần phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động của con người và của toàn xã hội. Sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

    2. Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội – TS Nguyễn Đoan – NXB Chính trị Quốc gia;

    3. Lý luận Nhà nước và Pháp luật – chúng tôi Nguyễn Thị Hồi – NXB Tư Pháp;

    4. Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật – Tập 1 – PGS. TS Trần Ngọc Dương;

    5. Xã hội học pháp luật, những vấn đề cơ bản – chúng tôi Võ Khánh Vinh, NXB khoa học xã hội;

    6. Xã hội học pháp luật – TS. Ngọ Văn Nhân – NXB Tư Pháp;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Pháp Luật
  • Các Chức Năng Của Pháp Luật, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Của Phòng Nội Vụ Thuộc Ủy Ban Huyện?
  • Oppo F9 Chính Hãng 64Gb Ram 4Gb
  • Thay Màn Hình Oppo F9 Chuẩn Zin Với Giá Kịch Sàn Tại Tphcm
  • Phòng Lý Luận Và Xã Hội Học Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Các Phòng Ban Trực Thuộc Ubnd Thị Xã Duyên Hải
  • Tcpdump Là Gì? Tìm Hiểu Về Các Thủ Thuật Sử Dụng Tcpdump
  • Phân Tích Gói Tin: 15 Lệnh Tcpdump Được Sử Dụng Trong Thực Tế
  • The Man With No Face
  • Tìm Hiểu Nguyên Lý Hoạt Động Của Mạng Thông Qua 2 Mô Hình, Tìm Hiểu Đặc Điểm 2 Mô Hình Truyền Thông Osi Và Tcp
  • 1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÒNG LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI HỌC VỀ PHÁP LUẬTXuất phát từ chức năng và nhiệm vụ của mình, Viện Nhà nước và Pháp luật luôn luôn coi Lý luận về pháp luật là một trong những hướng nghiên cứu chủ đạo ngay từ những ngày đầu thành lập cho đến ngày hôm nay.

    Khi còn là Tổ Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước, trong số các phân tổ thuộc cơ cấu của Tổ đã có Phân tổ Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật do Luật sư Trần Công Tường phụ trách. Các nhà nghiên cứu có uy tín lúc bấy giờ như Luật sư Phan Anh, Vũ Đình Hoè, Tạ Như Khuê, v.v.., đã có nhiều bài viết đề cập các vấn đề lý luận, trong đó có lý luận về pháp luật. Các bài viết đã tập trung chủ yếu vào phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lý luận cách mạng về nhà nước và pháp luật, về pháp chế xã hội chủ nghĩa, vạch rõ bản chất phản cách mạng, phản dân chủ của pháp luật chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng nên. Nhiệm vụ của hoạt động lý luận lúc này là góp phần vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của nhân dân ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam nhằm thống nhất đất nước. 

    Từ năm 1967 với việc thành lập Viện Luật học, công tác nghiên cứu lý luận Nhà nước và pháp luật được đặc biệt đẩy mạnh. Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nhà nước và pháp luật tiếp tục được các nhà khoa học phân tích và làm sáng tỏ trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, các vấn đề về bản chất của chế độ XHCN, về pháp luật kiểu mới được phân tích trong các bài viết và được công bố trong tạp chí của Viện và các công trình xuất bản khác đã góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng khẳng định tính ưu việt của Nhà nước và pháp luật XHCN, phê phán các quan điểm tư sản đối với các vấn đề Nhà nước và pháp luật. Đặc biệt, sau năm 1975, khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật được nâng lên một bước mới. Lực lượng cán bộ khoa học trong và ngoài Viện tham gia nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật ngày càng đông đảo. Số lượng các bài viết về lý luận nhà nước và pháp luật luôn chiếm ưu thế trong các bài báo, các công trình khoa học pháp lý được công bố. Các vấn đề lý luận được tập trung nghiên cứu trong thời kỳ này gắn liền với nhu cầu của quá trình thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật trong phạm vi cả nước. Các bài viết của nhiều tác giả như Nguyễn Ngọc Minh, Ngô Bá Thành, Ngô Khai Phong…, đã góp phần làm sáng tỏ nhiều khía cạnh pháp lý của việc thống nhất về nhà nước và pháp luật ở nước ta.

    Hiến pháp 1992 được thông qua, đất nước trong thời kỳ đổi mới, nghiên cứu lý luận nhà nước và pháp luật được tiếp tục đẩy mạnh. Các công trình nghiên cứu được tập trung vào các vấn đề bản chất Nhà nước ta- nhà nước của dân, do dân, vì dân; dân chủ; nhà nước và cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước; đổi mới, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hệ thống chính trị và việc đổi mới hệ thống chính trị; sự thay đổi xã hội và pháp luật; pháp luật và thị trường; đổi mới hệ thống pháp luật nước ta; ý thức pháp luật, tăng cường pháp chế…

    Nhiều cuộc hội thảo trong các lĩnh vực này đã được tổ chức, đặc biệt cuộc hội thảo khoa học quốc tế “Xã hội và pháp luật” được tổ chức vào năm 1993 đã góp phần lý giải nhiều vấn đề lý luận về pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Các công trình khoa học cấp nhà nước KX.01.14 “Xây dựng nền chính trị và hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ”; KX.07.17 “Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật” do tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thực hiện từ năm 1991 đến năm 1995 và đã được nghiệm thu với kết quả xuất sắc, đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về pháp luật.

    Bước vào thời kỳ đổi mới, trên tất cả các lĩnh vực đối nội và đối ngoại, vai trò của pháp luật ngày càng được khẳng định và đề cao; yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, thể chế hoá các hoạt động trong xã hội, xây dựng và thực hiện pháp luật, khẳng định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Những nhiệm vụ quan trọng và không đơn giản này đòi hỏi trước hết một sự tổng kết, đánh giá thực tiễn pháp lý ở nước ta trên tất cả ba mặt của nó là hoạt động xây dựng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và hoạt động giáo dục pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân theo pháp luật cho nhân dân. Phải thực hiện những yêu cầu đó trên những cơ sở khoa học và để rút ra  được những khái quát khoa học bổ sung cho vốn lý luận của khoa học pháp lý nước nhà. Khoa học pháp lý Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, bắt đầu có những công trình nghiên cứu lý luận chuyên khảo với tầm khái quát cao hơn về pháp luật và ngày càng có nhiều những nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học pháp lý cụ thể.

    2. LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT-  MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

    2.1 Quan niệm mới về pháp luật và hệ thống pháp luật

    Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra mắt một công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận pháp luật của TS. Đào Trí Úc: “Những vấn đề cơ bản về pháp luật”. Lần đầu tiên lý luận về pháp luật được trình bày trong một chỉnh thể dựa trên phương pháp chính là xã hội học pháp luật và luật so sánh. Chỉnh thể đó bao gồm bản thân những quy định pháp luật, với bản chất, nhiệm vụ, khả năng của nó; thực tiễn áp dụng pháp luật và cuối cùng là ý thức pháp luật. Quan điểm khoa học đó đang càng ngày càng được khẳng định trong thực tế, trong nhu cầu của đất nước ta đưa pháp luật vào cuộc sống, biến pháp luật thành hành vi sinh động hàng ngày và lối sống của cá nhân, của tập thể.

    Ở công trình này, lập luận của tác giả về tính khách quan của pháp luật có thể được coi là điểm sáng lý luận cơ bản nhất. Tác giả đã góp phần bàn kỹ để nhận thức một cách đầy đủ về quan điểm của C. Mác được trình bày trong Bộ Tư bản rằng, “những quan hệ dân sự đòi hỏi những hình thức pháp lý tương ứng”, “những cách biểu thị văn minh”, rằng “đây sẽ không đơn thuần chỉ là các quan hệ giữa những cá nhân mà là những quan hệ phổ biến”.

    Quan điểm khoa học đó đã được thực tiễn kiểm chứng. Khi nào những vấn đề của phát triển xã hội tìm được những câu trả lời xác đáng trong quá trình làm luật thì sẽ có được những văn bản, những quy định pháp luật tốt, điều chỉnh một cách có hiệu quả các lĩnh vực quan hệ xã hội. Sự chậm trễ trong việc thể chế hoá cũng như sự chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tiễn đã làm giảm hiệu quả của pháp luật, thậm chí làm phát sinh các yếu tố tiêu cực.

    Quan điểm của tác giả về pháp luật là quan điểm đặt pháp luật trong dòng chảy xã hội. Nghiên cứu lý luận chung về pháp luật từ đó đã có những bước phát triển quan trọng về chất. Nhờ xử lý tốt những vấn đề lý luận chung về pháp luật chúng ta đã tạo điều kiện rất quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý chuyên ngành, góp phần tạo cơ sở lý luận cho hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta.

    Có thể thấy rõ hướng nghiên cứu lý luận về pháp luật đã được Viện Nhà nước và Pháp luật triển khai trong hơn hai thập niên vừa qua như sau:

    1. Hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về pháp luật: phân tích các điều kiện, nhu cầu khách quan và chủ quan của việc nhận thức các giá trị, vai trò, ý nghĩa thực tiễn của pháp luật trong đời sống xã hội; làm rõ bản chất, các đặc điểm, những hình thức, các lĩnh vực quan hệ và phương thức thể hiện của pháp luật; cơ cấu của hệ thống pháp luật; mức độ điều chỉnh và hiệu lực pháp lý của pháp luật, thứ tự ưu tiên của việc điều chỉnh pháp luật; yếu tố khách quan và chủ quan chi phối hành vi pháp luật và những biện pháp đưa pháp luật vào cuộc sống.

    2. Đưa ra những đặc điểm về mặt xã hội, về nhận thức của quá trình hình thành ý thức pháp luật của con người Việt Nam và trên cơ sở làm sáng tỏ cơ cấu, nội dung ý thức pháp luật của các tầng lớp dân cư, các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức và lối sống theo pháp luật, đề xuất mô hình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật và hệ thống các biện pháp xây dựng lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay.

    3. Đã phân tích rõ vị trí của việc áp dụng pháp luật trong hệ thống pháp luật, những tiêu chí, điều kiện, các hình thức, cơ chế áp dụng pháp luật, các yếu tố tác động đến việc áp dụng pháp luật; đưa ra những chỉ số để đánh giá hiệu quả của pháp luật, các điều kiện bảo đảm và mức độ các điều kiện bảo đảm hiệu quả của pháp luật.

    4. Trên cơ sở đánh giá khái quát, toàn diện hệ thống pháp luật nước ta, phân tích những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hệ thống pháp luật, các xu hướng phát triển, các quan hệ xã hội trong thời gian tới, để đưa ra những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng khung pháp lý tạo mặt bằng cần thiết cho quá trình hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.

    5. Phân tích nội dung các học thuyết chính trị – pháp lý cơ bản ở Việt Nam trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, tạo cơ sở cho việc kế thừa và phát triển tư tưởng chính trị – pháp lý trong giai đoạn hiện nay.

    6. Trong lĩnh vực hợp tác và hội nhập quốc tế, các công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ vị trí vai trò quan trọng của pháp luật với tính cách là công cụ quản lý, tổ chức thực hiện chức năng mới của Nhà nước trong việc thực thi các cam kết quốc tế; đã góp phần làm rõ mức độ tương thích giữa pháp luật nước ta với toàn bộ không gian pháp lý ngoài phạm vi quốc gia; xác định rõ những khác biệt trong các hệ thống pháp luật, đặc biệt sự đa dạng về nguồn của luật, nội dung của các nguyên lý, khái niệm, chế định pháp luật khác nhau; đã tìm hiểu những xu hướng phát triển của pháp luật các quốc gia, các khu vực, các cộng đồng quốc tế, đặc biệt là xu hướng hội nhập của các hệ thống pháp luật, những khả năng và phương thức thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật; phương thức “nội hoá” các cam kết quốc tế trong quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hiện nay. Đã có những đề tài đi sâu nghiên cứu về các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc tế, của các tổ chức và định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tìm hiểu sự tương thích giữa pháp luật nước ta với các cam kết quốc tế song phương (chẳng hạn Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Kết quả của hướng nghiên cứu này đã góp phần vào quá trình rà soát các văn bản pháp luật để có những sửa đổi, bổ sung phù hợp với các cam kết quốc tế và của cộng đồng quốc tế.

    Có thể nói rằng, việc nghiên cứu lý luận về pháp luật ở Viện Nhà nước và pháp luật đã được đặt trên một “đường ray” mới nhằm khắc phục lối nghiên cứu tư biện coi pháp luật như một sản phẩm thuần tuý của ý chí chủ quan thiếu đời sống thực của nó, thiếu những quy luật hình thành, tồn tại và phát triển.

    Thật vậy, điều chú ý đầu tiên được các công trình nghiên cứu của Viện tập trung vào thuộc tính khách quan của pháp luật để qua đó tìm thấy những cái chung, và đồng thời cho phép phân biệt pháp luật với những hiện tượng của xã hội khác như đạo đức, tập quán, tôn giáo, tư tưởng quy phạm kỹ thuật, v.v.. Nhờ làm rõ các thuộc tính của pháp luật mà chúng ta mới có thể chỉ ra được mặt mạnh, mặt yếu của nó trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, hành vi của con người, từ đó biết sử dụng pháp luật đúng nơi, đúng lúc, đúng mức độ cần thiết với những hình thức diễn đạt pháp lý chặt chẽ, kết hợp đúng đắn và hài hoà pháp luật với các quy chuẩn xã hội khác trong quá trình quản lý đất nước.

    Lần đầu tiên trong lĩnh vực lý luận về pháp luật, một thuộc tính quan trọng của pháp luật đã được xác định: tính được bảo đảm thực hiện bằng toàn bộ hoạt động và sức mạnh của Nhà nước. Có thể nhận thấy rằng trước đó, khi nói đến pháp luật, người ta thường nói đến tính được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quan điểm đó đã trở nên phiến diện trong tiến trình thay đổi vai trò và chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đương nhiên khi làm ra luật, Nhà nước đã tạo cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, tuỳ theo các mức độ cần thiết, Nhà nước không chỉ cưỡng chế thực thi pháp luật mà phải có trách nhiệm tạo ra những bảo đảm về kinh tế, về tổ chức, về tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền, khuyến khích để đưa pháp luật vào cuộc sống. Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp không chỉ với quan điểm về chức năng của Nhà nước mà còn phản ánh nhận thức mới về pháp luật không phải chủ yếu để trừng phạt mà là sắp đặt, dự liệu và điều chỉnh hành vi của con người.

    Trong các hướng nghiên cứu của lý luận về pháp luật của Viện Nhà nước và pháp luật không thể không kể đến nghiên cứu về các mối liên hệ của pháp luật với kinh tế, với chính trị, tư tưởng, đạo đức, tôn giáo. Những kết luận quan trọng của việc nghiên cứu đã góp phần vào lý giải vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý các mặt đời sống của xã hội. Đồng thời, các nghiên cứu đó cũng đã góp phần chỉ ra nhu cầu về tính tương thích cần thiết của hệ thống pháp luật, của các thiết chế và thủ tục pháp lý trước nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    2.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa- sự thăng hoa của lý luận

    Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khoá VII của Đảng (tháng 1 năm 1994), Đảng ta đã nêu vấn đề về định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chính thức khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 trong lần sửa đổi vào năm 2001 đã thể chế hoá quan điểm quan trọng đó của Đảng.

    Vào thời gian đó, các nhà nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật đã tập trung sự chú ý của mình nghiên cứu các khía cạnh lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền, từ nguồn gốc đến hiện tại và khả năng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Giới nghiên cứu lý luận nói chung và các chuyên gia lý luận về pháp luật nói riêng (trong đó có Viện Nhà nước và pháp luật) có quyền tự hào đã góp phần mình vào tiến trình phát triển và thăng hoa lý luận đó của Đảng ta. 

    Quá trình nghiên cứu, tìm tòi lý luận này xuất phát từ học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng ta về đổi mới hệ thống chính trị, về Nhà nước và pháp luật. Nhờ đó, việc nghiên cứu đã thu hái được những kết quả quan trọng qua việc đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình và đề tài nghiên cứu cấp nhà nước như Chương trình KX 04. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (giai đoan 2001 – 2005), KHXH 05 – 05 Đề tài: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng”, KX 04-02: “ Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, v.v..

    Qua thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền như một xu thế khách quan, tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế.

    Một trong những kết luận quan trọng của các nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền là việc chỉ ra vai trò và vị trí chi phối và hiệu lực tối thượng của pháp luật trong xã hội, đặc biệt là sự chịu ràng buộc của Nhà nước trước pháp luật. Pháp quyền đồng nghĩa với với sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực nhà nước với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện sự kết hợp đúng đắn ý chí của giai cấp cầm quyền với công lý và công bằng. Quyền lực nhà nước không dựa trên công lý thì đó là một thứ bạo lực thuần tuý. Đến lượt mình, công lý và lẽ phải mà không có sự bảo đảm của quyền lực nhà nước thì không thể có được. Nhà nước ta ban hành ra pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý bản thân mình. Pháp luật trở thành công cụ để chế ước, quy định, kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của Nhà nước, để duy trì sự tồn tại của Nhà nước. Tự đặt mình trong chế độ pháp quyền, Nhà nước sẽ mạnh; ngoài lĩnh vực pháp quyền, Nhà nước luôn luôn nằm trong nguy cơ của sự chuyên quyền và mất dân chủ. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xây dựng trên cơ sở hợp lẽ phải, hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân. Trong Nhà nước pháp quyền chức năng, quyền hạn của Nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp luật, công chức, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật quy định, còn công dân lại được làm tất cả những gì luật không cấm.

    Nghiên cứu pháp luật từ góc độ bản chất  khách quan của nó, các công trình khoa học của các tác giả Viện Nhà nước và Pháp luật đã khẳng định tính pháp quyền của Nhà nước ta – Nhà nước thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân được đưa lên thành luật với tính cách là tiếng nói của công lý và lẽ phải, là đại lượng phổ biến bảo đảm tự do và bình đẳng của mỗi thành viên xã hội. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền chúng ta là ý chí của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động đã trở thành công cụ phản ánh lợi ích xã hội, công cụ của sự đồng thuận xã hội.

    Khẳng định về chế độ pháp quyền ở nước ta đã giúp các công trình nghiên cứu đặt vấn đề sâu hơn không chỉ đối với hoạt động lập pháp mà còn dẫn đến đòi hỏi về tính công khai, minh bạch của việc áp dụng pháp luật, về khả năng tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý của công dân. Đây chính là lý do để đẩy tới yêu cầu về việc cải cách các thủ tục pháp lý – bộ phận hết sức quan trọng của cải cách hành chính và cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta.

    Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu về pháp luật và về Nhà nước pháp quyền, các nhà nghiên cứu lý luận về pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật đã góp phần làm rõ sự liên hệ mật thiết giữa pháp luật với các giá trị công bằng xã hội và đạo đức cách mạng, làm rõ sự kết hợp giữa tính nghiêm minh của pháp luật với đạo lý, tình thương và sự khoan dung, những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Quan điểm tiếp cận về một mô hình Nhà nước pháp quyền khoan dung, nhân nghĩa Việt Nam có thể được coi là quan điểm xuyên suốt của nhiệm vụ xây dựng và tiếp tục phát triển chế độ Nhà nước pháp quyền ở nước ta.

    Trên cơ sở quan điểm tiếp cận đó, đã có những công trình ở Viện Nhà nước và pháp luật đi sâu nghiên cứu về vị trí, vai trò của hương ước trong đời sống xã hội, quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và áp dụng các quy chế dân chủ ở cơ sở.

    Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hương ước, một mặt, phản ánh quy chuẩn của phong tục, tập quán, mặt khác, thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư trong việc quản lý các mặt đời sống xã hội, bảo vệ trật tự, trị an và các sinh hoạt văn hoá tinh thần gắn với đời sống thường ngày của cộng đồng. Với tính cách là “Bộ luật của làng”, Hương ước trực tiếp điều chỉnh hầu hết các quan hệ giữa các cá nhân, giữa các gia đình, dòng họ trong nội bộ làng và những quan hệ với các cộng đồng làng khác và với Nhà nước.

    Các nhà nghiên cứu của Viện đã chỉ rõ những khía cạnh tích cực của hương ước là khả năng gắn kết mọi thành viên trong làng thành một cộng đồng chặt chẽ; tổ chức và quản lý có hiệu quả các mặt đời sống làng xã; duy trì trật tự, kỷ cương; tạo ra môi trường sống ổn định và an toàn cho cả cộng đồng; duy trì, phát huy thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hoá cộng đồng, củng cố các giá trị đạo lý và nhân bản; gắn con người với thiên nhiên, gắn cá nhân với cộng đồng; xây dựng ý thức cộng đồng làng xã với ý thức công dân, ý thức quốc gia, v.v Nói đến hương ước là nói đến những chuẩn mực, những quy phạm và sự tự quản ở địa phương, thể hiện sự làm chủ của nhân dân ở các làng, thôn nước ta trong khuôn khổ những gì mà pháp luật không điều chỉnh. Từ đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, hương ước là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quản ý nhà nước bằng pháp luật, cụ thể hoá các quy định của pháp luật, là tố chất bảo đảm cho pháp luật có tính khả thi cao trong từng đơn vị xã hội hết sức đa dạng ở nông thôn nước ta. Nhìn nhận hương ước như sự thẩm thấu, sự hoá thân các quy định của pháp luật vào các quy ước của thôn, làng là một quan điểm lý luận độc đáo.

    Các công trình nghiên cứu về hương ước đã chỉ rõ nhu cầu phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội ở nông thôn theo hướng phân định rành mạch phạm vi điều chỉnh và mức độ giao thoa giữa hai loại công cụ quan trọng này. Trong quá trình cải cách pháp luật, đặc biệt là đối với các ngành luật có quan hệ đến phát triển nông thôn, cần tính đến sự đa dạng, phức tạp và nghịch lý của nông thôn Việt Nam, sao cho có thể tạo ra một môi trường pháp lý mới làm tiền đề cho sự hồi sinh các giá trị truyền thống, kiên quyết loại bỏ các mặt tiêu cực của các lệ làng qua các hương ước xưa đồng thời tạo cơ sở để nông thôn Việt Nam thực sự bước vào cơ chế  kinh tế – xã hội mới, văn minh và hiện đại. Pháp luật là đại lượng chung có tính quy chuẩn bắt buộc cho các quan hệ xã hội của mọi công dân, do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, có tính phổ biến và điển hình đối với toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong mọi loại hình nông thôn mà trước hết là quan hệ giữa công quyền và công chúng trên địa bàn làng, thôn. Những mối quan hệ trong nội bộ cộng đồng không có tính phổ biến, thể hiện chuẩn giá trị đạo đức của từng loại cộng đồng, cần dành cho sự điều chỉnh của hương ước và các quy phạm xã hội khác. Pháp luật có chức năng tạo ra không gian pháp lý cho sự điều chỉnh này thông qua sự thừa nhận quyền tự quản của cộng đồng.

    Với những kết quả nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu về hương ước của Viện Nhà nước và Pháp luật đã kiến nghị: cần dứt khoát khẳng định trong nhận thức và trong pháp luật rằng thôn, làng là một hình thức tự quản cộng đồng, cần lấy thôn làng làm địa bàn để xây dựng hương ước. Các cơ cấu tổ chức và thiết chế ở thôn phải thực sự “phi quan phương” để thực sự là các hình thức tập hợp cộng đồng, giữ gìn và phát huy bản sắc cộng đồng.

    Các nghiên cứu lý luận về pháp luật mà trước hết là nghiên cứu về hệ thống pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, đã khẳng định rõ ràng rằng, các giá trị pháp lý phổ biến của Nhà nước pháp quyền là một hệ thống giá trị mở, không phải nhất thành bất biến. Từ đó các tác giả đã khẳng định sự kế thừa và phát triển của hệ thống pháp luật nước ta để từ đó chủ động tiếp thu những nét ưu việt của các hệ thống pháp luật trên thế giới.

    Trên tinh thần của quan điểm mở đó, nhiều nhà nghiên cứu lý luận ở Viện Nhà nước vàPpháp luật đã đặt sự quan tâm thích đáng đến mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và luật quốc tế. Hướng nghiên cứu này là hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh của yêu cầu giữ vững độc lập và chủ quyền trong quá trình hợp tác và hội nhập, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá.

    Cần nhớ lại rằng, khi bắt tay vào nghiên cứu các vấn đề lý luận lớn này, chúng ta đã đứng trước sự hiện diện của hai quan điểm tiếp cận về mô hình Nhà nước pháp quyền. Quan điểm thứ nhất cho rằng, có một khuôn mẫu nhà nước pháp quyền chung, và cần thiết phải áp dụng một cách đầy đủ, không thêm bớt các yếu tố thuộc khuôn mẫu chung đó vào việc thiết kế và xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền ở mỗi nước. Quan điểm thứ hai, trái lại, cho rằng, bên cạnh những yếu tố phổ biến, các giá trị chung cần được đặt vào trong những điều kiện đặc thù và phát triển sáng tạo ở mỗi nước.

    Xuất phát từ nhận thức vững chắc về giá trị của Nhà nước pháp quyền được tạo nên trước hết và ở mức độ cơ bản nhất bởi các giá trị của pháp luật do tinh thần của nó “xuất phát từ tinh thần của nhân dân” như cách diễn đạt của Montesquieu, các nhà nghiên cứu lý luận về pháp luật của chúng ta đã khẳng định dứt khoát rằng, pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế phải phù hợp với lợi ích của nhân dân ở từng quốc gia. Việc xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải sáng tạo, chủ động chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các quốc gia và quốc tế, ưu tiên những giá trị phổ biến, mở đường cho sự hội nhập đầy đủ và bình đẳng của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế.

    Chính vì vậy, kể từ ngày 10/10/2001 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế, phù hợp với việc thừa nhận nguyên tắc Pacta Sunt Servanda về tuân thủ điều ước quốc tế. Các đạo luật ban hành trong thời gian gần đây đã thể hiện nguyên tắc: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của bộ luật (luật, pháp lệnh, nghị định) của Việt Nam thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế” (Bộ luật Dân sự, Luật quốc tịch, Luật tài nguyên nước, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Luật bình đẳng giới v.v…).

    2. Xã hội học pháp luật

    Như đã nói ở trên, lý luận về pháp luật của chúng ta có nhiệm vụ tiếp tục làm rõ những khái niệm, nguyên tắc, những quy luật của hệ thống pháp luật, làm rõ nhiệm vụ và vai trò mới của pháp luật. Làm thế nào để chúng ta sử dụng được pháp luật và các tính chất ưu việt của nó một cách đầy đủ? Trong việc điều chỉnh các vấn đề ở trong từng lĩnh vực chúng ta cần biết pháp luật có những khả năng gì? Có khả năng đến đâu? Làm thế nào để có được những văn bản pháp luật tốt? Làm thế nào để pháp luật được áp dụng đúng đắn? Làm thế nào để những quy định của pháp luật được nhân dân đồng tình, những giá trị và những đòi hỏi của điều luật được biến thành nội lực của hành vi hiện thực, thành thói quen và lối sống tuân theo pháp luật, văn minh và kỷ luật? v.v..

    Từ trước đến nay, những vấn đề như vậy cũng đã từng được đặt ra trong lý luận chung về pháp luật cũng như trong từng lĩnh vực lý luận chuyên ngành pháp lý. Đặc biệt là trong quá trình xây dựng pháp luật, trước khi tiến hành soạn thảo, những vấn đề cụ thể tương tự như vậy đều được đặt ra. Một số hướng nghiên cứu đã phần nào đi sâu vào các lĩnh vực ấy như tội phạm học, luật hình sự v.v… Nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề Nhà nước pháp quyền, ý thức pháp luật, pháp luật và chính sách xã hội đã cho thấy rằng, lý luận phải soi sáng thực tiễn, nhưng lý luận ấy phải là kết quả của sự tổng kết một cách đầy đủ, cụ thể và khách quan thực tiễn xã hội trong từng lĩnh vực. Những câu hỏi bức xúc vừa nêu ở trên chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở cứ liệu thực tế chứ không thể chỉ dựa vào sự nghiên cứu tư biện, quy nạp hình thức hay suy đoán, mô phỏng, sao chép.

    Nhận thức rõ vai trò của xã hội học trong quá trình giải quyết những vấn đề nói trên, vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, lãnh đạo Viện Nhà nước và Pháp luật đã quyết định thành lập Phòng Nghiên cứu Lý luận và Xã hội học pháp luật, coi xã hội học pháp luật là một “mũi giáp công” của khoa học pháp lý hiện đại và của hoạt động nghiên cứu của Viện.

    Hoạt động nghiên cứu đã được triển khai trên cả hai bình diện: xã hội học pháp luật lý luận và xã hội học pháp luật ứng dụng.

    Xã hội học pháp luật lý luận đi sâu vào các vấn đề cơ bản, nền tảng của pháp luật như vấn đề về cơ chế hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả và hiệu lực của pháp luật; nội dung và cơ cấu của pháp luật, bản chất xã hội của pháp luật, mối liên hệ giữa pháp luật và xã hội.

    Tính cụ thể đó là yêu cầu không thể thiếu được của các kiến nghị, các đề xuất trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật.

    Các công trình nghiên cứu xã hội học pháp luật đã tập trung và giải quyết những vấn đề sau đây:

    Thứ nhất, làm rõ những gì đã và đang phát sinh và phát triển, gây ảnh hưởng và tác động trong quá trình xây dựng pháp luật, tức là xem xét cơ sở xã hội của pháp luật, của các đạo luật. Các tác giả đã khẳng định rằng cơ sở xã hội, tính được quy định về mặt xã hội của pháp luật, hay nói cách khác, lý do của việc ban hành pháp luật vừa là điểm khởi đầu của pháp luật vừa là tiền đề hiệu quả và hiệu lực của nó. Nghiên cứu xã hội học theo bình diện này nhằm làm rõ khả năng phản ánh hiện thực của pháp luật, mức độ phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Nói cách khác, nó cho phép nhìn rõ, có phải chúng ta điều chỉnh đúng cái cần điều chỉnh.

    Có thể nói rằng, đây là vấn đề trung tâm của việc nghiên cứu về pháp luật và của xã hội học pháp luật.

    Các công trình nghiên cứu xã hội học pháp luật đã cố gắng tìm ra các quy luật của các hành vi xã hội cần điều chỉnh và dự báo về các hành vi đó trong tương lai. Hành vi pháp luật đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các công trình nghiên cứu của Viện, chẳng hạn, như Đề tài KX 17 – 07 “Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật”, “Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật”. Xã hội học pháp luật với các phương pháp của nó có thể làm được điều đó, thông qua việc nghiên cứu các quan hệ xã hội thể hiện qua lợi ích, động cơ, mục đích hành động, ý thức của cá thể; phản ánh qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức, tập thể.

    Thứ hai, các đề tài về xã hội học pháp luật đã nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả xã hội của pháp luật, của các quy định cụ thể của pháp luật.

    Nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả của pháp luật không có gì khác hơn ngoài việc xem xét những gì đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực tế. “Hộp đen” của việc xử lý vấn đề đó là cơ sở không thể thiêu được cho các kết luận về điều chỉnh pháp luật: ban hành? bổ sung? sửa đổi? bãi bỏ? v.v…

    Trên cơ sở nhận thức về hai loại đối tượng nghiên cứu đó, xã hội học pháp luật là cơ sở khách quan cho các hoạt động: xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, xây dựng ý thức và hành vi pháp luật đúng đắn. Tương ứng với ba phạm vi đó, các nhà nghiên cứu xã hội học pháp luật ở Viện Nhà nước và Pháp luật đã chỉ rõ ba nhánh quan trọng của xã hội học pháp luật là:

    a) Xã hội học xây dựng pháp luật; 

    b) Xã hội học áp dụng pháp luật;

    c) Xã hội học về hành vi pháp luật.

    Xã hội học pháp luật có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khoa học pháp lý mà gần gũi nhất là các bộ môn như tội phạm học, luật hình sự, luật kinh tế – thương mại, bởi vì đây là lĩnh vực cần đến hiểu biết đầy đủ nhất về hành vi của con người, trách nhiệm của cá nhân và phản ứng của Nhà nước.

    Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian qua các lĩnh vực này đã đi đầu trong việc nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu xã hội học và nhiều lĩnh vực như xã hội học về tội phạm, xã hội học về nhân thân người phạm tội, xã hội học về hình phạt, xã hội học về kinh doanh v.v…

    Xuất phát từ quan điểm của xã hội học pháp luật, Viện đã chủ chương xây dựng cơ sở dữ liệu thông qua việc tiến hành thực hiện Dự án điều tra cơ bản về thực trạng thi hành pháp luật ở các ngành, các lĩnh vực, các địa phương (1998 – 2000).

    Xây dựng các căn cứ xã hội học cho các đề xuất khoa học đã trở thành đòi hỏi không chỉ đối với các đề tài nghiên cứu của Viện mà còn đối với các luận văn cao học và luận án tiến sĩ.

    Quan điểm tiếp cận xã hội học hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đó là đòi hỏi phải “đưa đời sống xã hội vào trong pháp luật”. Khi nói về cơ chế xây dựng pháp luật, Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ (Ban hành kèm theo Quyết định số 933/QĐ – TTG ngày 27/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ) đã chỉ ra nhiều vấn đề về cơ chế đó. Theo nhận xét của Chính phủ thì cơ chế xây dựng pháp luật hiện nay của ta còn bộc lộ rất rõ nét tính chủ quan, thậm chí tính cục bộ, chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của một số ngành. Bộ, ngành nào cũng muốn kéo quyền, lợi ích và thuận lợi về phía mình. Tình hình đó đã dẫn đến việc trình và ban hành các dự án Luật, pháp lệnh, Nghị định kém chất lượng, khó đi vào cuộc sống vì nhân dân không chấp nhận; do đó, trật tự, kỷ cương trong một số lĩnh vực bị buông lỏng. Trong quy trình xây dựng các dự án, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản này chưa được xem xét như là kết quả của quá trình nắm bắt nhu cầu và thực tiễn xã hội. Các văn bản đã không được tổ chức phản biện, thiếu tính khách quan và khoa học, chưa tham khảo triệt để ý kiến của nhân dân, của các doanh nghiệp, các đoàn thể, hội nghề nghiệp cũng như ý kiến của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp của các dự án, dự thảo văn bản. Việc “tự biên, tự diễn” đó đã kéo dài tình trạng một số văn bản đã dành sự thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, đùn sự khó khăn cho nhân dân, cho các doanh nghiệp.

    Gần đây, Chính phủ đã có chủ trương coi việc trưng cầu ý kiến nhân dân, các đối tượng bị điều chỉnh của văn bản như là một điều kiện bắt buộc đối với quy trình soạn thảo và thông qua các dự án luật. Quy trình đó đã được sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử, làm tăng thêm tính công khai, minh bạch của chính sách và pháp luật của Nhà nước ta.

    3 Lý luận về pháp luật- những thách thức và đòi hỏi mới

    Trong quá trình nghiên cứu về lý luận và xã hội học pháp luật, các nhà nghiên cứu của Viện cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và thách thức của công tác nghiên cứu lý luận về pháp luật ở nước ta nói chung cũng như tại Viện nói riêng.

    Toàn cầu hóa và những thách thức về phương diện pháp luật nảy sinh từ quá trình toàn cầu hóa đang đặt ra cho Việt Nam không ít bài toán cần phải giải trong mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương và giải pháp cải cách hệ thống pháp luật quốc gia. Hệ thống pháp luật nước ta được xây dựng trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc thủ tiêu cơ bản cơ chế pháp lý của thời kinh tế tập trung bao cấp, tạo lập được các cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng, so với các yêu cầu, đòi hỏi và các thách thức về phương diện luật pháp trong bối cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập, thì hệ thống pháp luật nước ta hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng được các “chuẩn” của hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu đánh giá một cách thật sự cầu thị cũng có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn chưa tương thích với tính chất của một nền kinh tế thị trường và trên thực tế vẫn đang ở trình độ của một hệ thống pháp luật hướng tới thị trường mà thôi.

    Với tinh thần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, Nhà nước ta đang tích cực cải cách pháp luật, cải cách các thể chế pháp lý để một mặt đáp ứng các yêu cầu cải cách kinh tế trong nước, mặt khác làm cho pháp luật nước ta nhanh chóng tương thích với các chuẩn mực pháp luật khu vực và quốc tế, tạo thế chủ động trong các quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay. Để làm được việc này, đòi hỏi không chỉ ở quyết tâm chính trị trong các chủ trương cải cách pháp luật mà phải được tiến hành trên các cơ sở và luận cứ khoa học và thực tiễn đúng đắn, với một lộ trình xác định và nhất là của sự đổi mới tư duy pháp lý. Đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và quán triệt trong giai đoạn đấu tranh loại bỏ cơ chế pháp lý của kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho cơ chế kinh tế mới trước đây. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý phải được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ hơn, kiên quyết vượt ra khỏi khuôn khổ có tính truyền thống lâu nay trong việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Cần phải thấy được rằng, sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như các vấn đề xã hội nước ta vẫn chưa thực sự đi vào thế ổn định. Sự phát triển và biến đổi nhanh chóng đời sống kinh tế xã hội trong quá trình thương mại toàn cầu đã làm cho các quy định pháp luật nước ta cũng như cả hệ thống cung cấp các dịch vụ pháp lý, các thiết chế pháp lý nhanh chóng trở nên lạc hậu. Không ít văn bản pháp luật xây dựng công phu, tốn kém, vừa ban hành chưa lâu đã có nhu cầu sửa đổi. Tình hình này đã làm cho pháp luật nước ta khó bắt kịp nhịp điệu phát triển kinh tế – xã hội và khả năng tương thích với pháp luật quốc tế và của các nước. 

    Hàng loạt vấn đề mới và đang đặt ra trong hoạt động lập pháp ở nước ta cần được làm sáng tỏ và lý giải tường tận về mặt lý luận, cần phải tiến hành tổng kết thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm khái quát góp phần hình thành mô hình pháp luật của nước ta. Tuy vậy, khoa học pháp lý nước nhà vẫn chưa đáp ứng thỏa đáng được yêu cầu đó. Mảng lý luận về xây dựng lập pháp gần đây được các nhà luật học bao gồm những nhà nghiên cứu ở Viện Nhà nước và Pháp luật và những người hoạt động thực tiễn, các nhà quản lý quan tâm nhiều hơn, song vẫn chưa thật ngang tầm với vai trò, vị trí, tính chất của nó. Ở đây, có hàng loạt vấn đề cần được lý giải về mặt khoa học như: mối quan hệ giữa hoạt động lập pháp với quyền lực của nhân dân, với việc đảm bảo các loại lợi ích trong xã hội, với dân chủ, với chiến lược kinh tế – xã hội… Việc tìm hiểu những vấn đề đó góp phần tạo dựng cơ sở khoa học vững chắc cho hoạt động lập pháp và trong chiến lược lập pháp nước nhà. Trong thực tiễn hoạt động lập pháp và áp dụng, thi hành pháp luật của nước ta, có hàng loạt vấn đề bất cập, hạn chế nảy sinh: chương trình lập pháp, kế hoạch lập pháp, quy trình lập pháp, mô hình lập pháp, dự báo lập pháp, kỹ thuật lập pháp, cơ chế thi hành pháp luật, tuyên truyền, giáo dục và đào tạo pháp luật. Đó là mặt hạn chế của khoa học pháp lý và đồng thời cũng là nhiệm vụ của khoa học pháp lý trong thời gian tới.​

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nước Uống Tahitian Noni Juice Của Mỹ Giá Rẻ Nhất Thị Trường
  • Nước Ép Trái Nhàu Noni Tahitian Juice – Noni Cơ Bản Giá 1,999K
  • Thực Phẩm Chức Năng Noni Giá Rẻ Chính Hãng
  • Bộ 3 Giảm Cân Cơ Bản Của Unicity – Thanh Lọc Cơ Thể – Vua Giá
  • Bộ Giảm Cân Của Unicity Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu Và Nơi Mua Uy Tín
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư Trong Hoạt Động Tố Tụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư
  • Vai Trò Của Luật Sư Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Vị Trí Vai Trò Và Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập 1)
  • Chức Năng Xã Hội Của Công Chứng Viên
  • Công Chứng Viên Là Gì? Những Điều Nên Biết Về Công Chứng Viên
  • LV5: Chức năng xã hội của Luật sư chính là thiên chức và sứ mệnh của Luật sư trong việc khẳng định những giá trị cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Chức năng này không phải tự nhiên mà có, bởi lẽ về bản chất, hoạt động hành nghề Luật sư trước hết phản ánh nhu cầu của các chủ thể về trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Vì vậy, chức năng xã hội của Luật sư được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý của các chủ thể trong xã hội một cách minh bạch, giúp những chủ thể này nhận biết chân thực và chính xác các nhu cầu chính đáng của mình. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật sư khi tham gia tố tụng là phải tuân thủ pháp luật, có kỹ năng, kỷ luật, có trình độ chuyên môn, tận tâm với khách hàng và còn phải là người có tấm lòng yêu thương con người, một lòng vì chính nghĩa, tin tưởng vào công bằng xã hội. Khi tham gia tố tụng, Luật sư được xem như người soi đường chỉ lối giúp phân định tính đúng sai trong xử sự của chủ thể nhằm đáp ứng mục tiêu phân xử công bằng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Với định hướng, xây dựng phát triển Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW chính là điều khẳng định nghề Luật sư trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay như một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Khi nói tới chức năng xã hội của Luật sư nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng, cần đặt vị trí Luật sư trong các mối quan hệ chi phối đến hoạt động nghề nghiệp và xem xét các yếu tố này trong tổng thể các giá trị của sự phát triển dân chủ, quan niệm về sự công bằng, văn minh cũng như các thành tố khác tạo nên xã một xã hội dân chủ. Hoạt động của Luật sư trong tố tụng thời gian qua đã góp phần mang đến cho xã hội nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng những giá trị dân chủ, thông qua sự bình đẳng trong tranh tụng, đề xuất yêu cầu, đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

    Chức năng xã hội của Luật sư còn được thể hiện thông qua hoạt động hành nghề trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, công dân nơi vùng xa, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn hay hoạt động trợ giúp pháp lý theo chỉ định của cơ quan tố tụng.

    Như vậy, có thể khẳng định yếu tố tín nhiệm đối với nghề Luật sư luôn là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi quá trình phấn đấu không ngừng trong tiến trình hoạt động hành nghề. Luật sư luôn phải ý thức được trách nhiệm xã hội của nghề nghiệp, luôn đảm bảo lấy việc phụng sự công lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng làm tôn chỉ thực hiện hoạt động nghề nghiệp, thực hiện trên cơ sở pháp luật, lấy uy tín làm gốc. Đây chính là yêu cầu nội tại, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình và hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ Luật sư.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập1)
  • Chức Năng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Được Giao Giám Sát Người Hưởng Án Treo
  • Làm Sao Để Nhận Biết Thực Phẩm Chức Năng Thật
  • Top Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Hàng Đầu
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Game Bài Uno Đơn Giản Để Trở Thành Game Thủ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100