Nhiệm Vụ Của Đội Bảo Vệ Dân Phố

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Doanh Nghiệp Kinh Doanh Trong Cơ Chế Thị Trường
  • Tiểu Luận Vị Trí, Chức Năng, Nguyên Tắc Tổ Chức Hoạt Động Và Nhiệm Vụ Của Dân Quân Tự Vệ Việt Nam Hiện Nay
  • Vị Trí, Chức Năng, Nguyên Tắc Tổ Chức Hoạt Động Và Nhiệm Vụ Của Dân Quân Tự Vệ Việt Nam Hiện Nay
  • Thành Phần, Vị Trí, Chức Năng Dân Quân Tự Vệ Theo Quy Định Pháp Luật
  • Luật Dân Quân Tự Vệ 2022
  • Nhiệm vụ của đội bảo vệ dân phố. Bảo vệ dân phố có những nhiệm vụ chính quy định tại Thông tư liên tịch 02/2007/TTLT-BCA-BLĐTBXH-BTC.

    Bảo vệ dân phố là một thành phần không thể thiếu trong mọi phường dân cư nhằm đảm bảo trật tư, an ninh của khu phố. Tuy nhiên đã có nhiều trường hợp người dân phản ánh việc lực lượng này lạm dụng quyền hạn cho phép của mình như việc tịch thu đồ của người bán hàng rong hoặc phạt vi phạm giao thông.

    Bảo vệ dân phố là lực lượng quần chúng tự nguyện làm nòng cốt trong phong trào bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, được thành lập ở các phường, thị trấn nơi bố trí lực lượng Công an chính quy, do Ủy ban nhân dân phường quyết định thành lập. Bảo vệ dân phố có trách nhiệm làm nòng cốt trong việc thực hiện phong trào quần chúng, bảo vệ an ninh tổ quốc, thực hiện một số biện pháp công tác phòng ngừa đấu tranh chống , tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn.

    Bảo vệ dân phố có những nhiệm vụ chính theo quy định tại Thông tư liên tịch 02/2007/TTLT-BCA-BLĐTBXH-BTC như sau:

    – Nắm tình hình an ninh trật tự, phát hiện các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, các vụ vi phạm hành chính, vi phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường, phản ánh cho cơ quan công an và ủy ban nhân dân phường có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, tham gia hòa giải, giải quyết kịp thời không để những hậu quả xấu xảy ra.

    – Phổ biến, tuyên truyền nâng cao cảnh giác, ý thức phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh trật tự nhằm vận động nhân dân trong phường tự giác chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, các quy tắc, quy ước, nội quy về bảo vệ an ninh trật tự; tham gia xây dựng phường, cụm dân cư, hộ gia đình an toàn về an ninh trật tự, không có tội phạm, tệ nạn xã hội.

    – Đôn đốc, nhắc nhở nhân dân trong phường chấp hành các quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; sử dụng, quản lý Chứng minh nhân dân và giấy tờ tùy thân khác; quy định về đăng ký hoạt động ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, tham gia giữ gìn trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông, an toàn phòng cháy chữa cháy.

    – Vận động nhân dân tham gia cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ và quản lý những người đã chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trung tâm cai nghiện, người chưa thành niên phạm tội, người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Phối hợp với các cơ quan tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục giúp đỡ những đối tượng đang trong diện quản lý, giáo dục tại phường. Vận động, thuyết phục người thân của các đối tượng đang bị truy nã, trốn thi hành án, đối tượng phạm tội đang lẩn trốn để tác động họ ra đầu thú.

    – Khi có vụ việc phức tạp về an toàn trật tự xảy ra trong địa bàn, phải kịp thời có mặt và tìm mọi cách báo ngay cho Công an phường; bảo vệ hiện trường, tham gia sơ cứu người bị nạn, giải cứu con tin, bắt giữ người phạm pháp quả tang, tham gia chữa cháy, cứu tài sản và thực hiện các công việc khác theo sự phân công, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân và Công an phường.

    – Phối hợp với lực lượng dân phòng và bảo vệ chuyên trách các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa bàn để bảo vệ an ninh trật tự theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và Công an phường. Tổ chức tuần tra, kiểm soát và tham gia các hoạt động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội và các vi phạm khác về trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên, bảo vệ dân phố không được phép tự ý kiểm tra giấy tờ, hàng hóa, phương tiện hoặc vào nơi ở của công dân để kiểm tra, kiểm soát trái quy định của pháp luật.

    Trong những trường hợp đặc biệt, bảo vệ dân phố được cấp vũ khí thô sơ gồm: gậy, dùi cui cao su, roi điện, gậy điện…Việc sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ phải đảm bảo an toàn, đúng mục đích theo quy định của pháp luật. Phải được phép khi mang vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ theo người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Đại Diện Bán Hàng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán Bán Hàng Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán Bán Hàng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bệnh Viện Chuyên Khoa Hạng Iii
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Thôn, Tổ Trưởng Tổ Dân Phố

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức
  • Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian
  • Vai Trò Của Trung Gian Tài Chính
  • Chào Ban biên tập, êm tên Huỳnh Khả Hương hiện sinh sống tại Kiên Giang, theo em biết thì hầu như khu phố nào cũng có 01 tổ trưởng tổ dân phố, nơi em cũng có một bác, nhưng em không được rõ là nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là gì? Nên rất mong các anh/chị hỗ trợ giúp.

    (****@gmail.com)

      Tại Khoản 8 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV sửa đổi Thông tư 04/2012/TT-BNV hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành, có hiệu lực từ 20/01/2019 có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố như sau:

      1. Nhiệm vụ:

      a) Triệu tập và chủ trì hội nghị thôn, tổ dân phố; tổ chức thực hiện những công việc thuộc phạm vi thôn, tổ dân phố đã được nhân dân bàn và quyết định; bảo đảm các nội dung hoạt động của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Điều 5 Thông tư này;

      b) Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở và hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

      c) Tập hợp, phản ánh, đề nghị chính quyền cấp xã giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thôn, tổ dân phố. Báo cáo kịp thời với Ủy ban nhân dân cấp xã về những hành vi vi phạm pháp luật trong thôn, tổ dân phố;

      d) Thực hiện việc lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết định trực tiếp những công việc của thôn, tổ dân phố; lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và biểu quyết những công việc thuộc phạm vi cấp xã; báo cáo kết quả cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

      đ) Phối hợp với Ban công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội ở thôn, tổ dân phố để vận động nhân dân tham gia thực hiện các phong trào và cuộc vận động do các tổ chức này phát động;

      e) Sáu tháng đầu năm và cuối năm phải báo cáo kết quả công tác trước hội nghị thôn, tổ dân phố.

      2. Quyền hạn:

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Dân Phố Là Gì? Tìm Hiểu Về Cách Tổ Chức Của Tổ Dân Phố
  • Tái Cấp Vốn Là Gì? Hoạt Động Tái Cấp Vốn Ngắn Hạn Của Ngân Hàng Nhà Nước?
  • Luật Các Tổ Chức Tín Dụng: 9 Điểm Cần Lưu Ý
  • Tổ Chức Tín Dụng Là Gì? Đặc Điểm Và Hệ Thống Các Tổ Chức Tín Dụng Tại Việt Nam
  • Bài Giảng Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Tìm Hiểu Về Cách Tổ Chức Của Tổ Dân Phố

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Thôn, Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức
  • Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian
  • 1. Khái niệm tổ dân phố là gì?

    Khái niệm tổ dân phố là gì?

    Tổ dân phố là một tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư Việt Nam theo Từ điển Bách Khoa Wikipedia nhận định. Theo đó, có thể thấy rằng, tổ dân phố không phải là một đơn vị cấp hành chính là một tổ chức tự quản của mỗi một cộng đồng dân cư chung nhau một địa bàn cư trú trong một phường, nơi mà người dân bao gồm các đối tượng trẻ em, người lớn, người cao tuổi… có thể thực hiện những quyền dân chủ của mình một cách rộng rãi và trực tiếp nhằm phát huy sức mạnh của hoạt động tự quản, tổ chức cho nhân dân thực hiện các đường lối, chủ chương và chính sách của Đảng và Nhà nước.

    2. Những điểm mới trong tổ chức và hoạt động của tổ dân phố

    Những hoạt động tích cực của tổ dân phố ở các thành phố đều được Đảng, chính quyền và Nhân dân ghi nhận. Những hiệu quả đó mang đến cho xã hội những giá trị về cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Nhưng song hành với những ưu điểm thì trong công tác tổ chức, hoạt động của các tổ dân phố vẫn còn tồn tại nhiều bất cập.

    2.1. Điểm mới về tổ chức của tổ dân phố

    Tại Điều 4 của Thông tư 4/2012/TT-BNV có quy định cụ thể rằng mỗi một tổ dân phố đều sẽ có một người tổ trưởng tổ dân phố và một tổ phó. Cùng với đó là những tổ chức tự quản thuộc tổ dân phố. Nếu như tổ dân phố có nhiều hơn 600 hộ gia đình thì tổ dân phố đó có thể cử thêm một Tổ phó. Về điều này, Thông tư 04/2012/TT-BNV đã căn cứ vào số hộ gia đình thay vì nhìn vào số dân để quy định về số lượng Tổ phó Tổ dân phố.

    2.2. Điểm mới về điều kiện thành lập tổ dân phố

    Điều 7 của Thông tư 04/2012/TT-BNV có quy định về điều kiện thành lập một tổ dân phố mới. Cụ thể như sau:

    Về quy mô hộ gia đình: tổ dân phố được thành lập cần phải có từ 250 hộ trở lên đối với vùng đồng bằng. Khi thành lập tổ dân phố tại vùng núi, hải đảo, vùng biên giới thì cần có từ 150 hộ trở lên.

    Về những điều kiện khác: tổ dân phố cần phải có được cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ở mức thiết yếu nhất.

    Nhìn vào các chỉ tiêu trên có thể thấy, số lượng hộ gia đình đã được tăng lên mới đáp ứng được nhu cầu thành lập tổ dân phố. Việc nâng lên về số lượng, quy mô để thành lập tổ dân phố đem tới lợi ích có thể tinh giảm được bộ máy, tổ chức và cán bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và đầu tư cho cộng đồng dân cư.

    2.3. Điểm mới về quy trình, hồ sơ thành lập tổ dân phố

    Tại Điều 8 trong Thông tư 04/2012/TT-BNV có quy định về quy trình, hồ sơ thành lập tổ dân phố mới với nội dung cụ thể như sau:

    • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đưa ra quyết định chủ trương thành lập tổ dân phố mới
    • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao cho cấp xã xây dựng đề án để trình lên Hội đồng Nhân dân cấp xã, hoàn thiện hồ sơ để trình Ủy ban nhân dân cấp huyện
    • Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ gửi Tờ trình và Hồ sơ lên Sở Nội vụ nhằm thẩm định, sau đó trình lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
    • Cuối cùng, khi đã có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ban hành quyết định về việc thành lập tổ dân phố mới.

    – Về thời gian thực hiện trong quy trình thành lập tổ dân phố:

    • Không quá 10 ngày để Ủy ban nhân dân xã hoàn thiện hồ sơ và trình lên Ủy ban nhân dân Huyện, tính từ ngày có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Xã
    • Không quá 15 ngày để Ủy ban nhân dân Huyện thẩm định hồ sơ từ Ủy ban Nhân dân xã gửi lên
    • Không quá 15 ngày để Sở Nội vụ thẩm định tờ trình và hồ sơ từ Ủy ban Nhân dân Huyện

    2.4. Điểm mới về quy trình ghép cụm dân cư vào tổ dân phố

    Điểm mới trong tổ chức và hoạt động của tổ dân phố

    Tại Khoản 5, Điều 9 có quy định rõ về việc ghép cụm dân cư và tổ dân phố. Theo đó, trong vòng 15 ngày làm việc tính từ khi Ủy ban nhân dân Huyện nhận được hồ sơ được chuyển đến từ cấp xã, Ủy ban Nhân dân cấp huyện cần phải xem xét và thông qua. Giao cho Chủ tịch ban hành quyết định ghép cụm dân cư vào tổ dân phố.

    2.5. Điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của người tổ trưởng

    Quy định rõ tại Điều số 10 Thông tư 04/2012/TT-BNV có đưa ra 11 nhiệm vụ, 3 quyền hạn của người Tổ trưởng tổ dân phố. Thế nhưng các quy định về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của người tổ trưởng tổ dân phố được đưa ra khá chung chung cho nên đã dẫn tới việc ở nhiều nơi vô tình coi tổ chức tổ dân phố này giống như một cấp chính quyền.

    Do đó, chính quyền nhiều nơi này đã giao vào tay người trưởng thôn quá nhiều nhiệm vụ mà vốn dĩ thuộc vào trách nhiệm quản lý nhà nước của các công chức làm việc tại phường. Chính điều này đã gây ra những áp lực lớn đối với người tổ trưởng tổ dân phố khi mà họ vốn chỉ là những người hoạt động không chuyên trách tại tổ dân phố, có chế độ làm việc theo hình thức bán thời gian và phong thái làm việc xuất phát từ tâm huyết, từ thái độ nhiệt tình bởi được dân tin tưởng.

    Việc làm Công chức – Viên chức

    3. Điều kiện để thành lập tổ dân phố

    Các điều luật luôn được chú trọng sửa đổi khi chưa giải quyết được bất cập trong công tác quản lý Nhà nước. Đối với vấn đề thành lập tổ dân phố cũng vậy, so với Thông tư 04/2012/TT-BNV thì trong nội dung tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV đã có sửa đổi với quy định về điều kiện thành lập tổ dân phố.

    3.1. Quy mô về số lượng hộ gia đình trong tổ dân phố

    Tại các tỉnh trung du – miền núi phía Bắc, tổ dân phố cần có từ 200 hộ gia đình trở lên. Đối với những tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng thì cần có từ 350 hộ gia đình trở lên. Đối với riêng thành phố Hà Nội, muốn thành lập một tổ dân phố mới thì cụm dân cư đó cần phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

    Điều kiện thành lập tổ dân phố

    Các tỉnh ở miền Trung du muốn thành lập tổ dân phố cần phải có từ 300 hộ trở lên. Tổ dân phố tại các tỉnh thành miền Nam cần đảm bảo điều kiện có từ 400 hộ trở lên. Với riêng thành phố Hồ Chí Minh thì con số này yêu cầu phải là 450 hộ.

    Còn các tỉnh Tây Nguyên, tổ dân phố cần phải có từ 250 hộ gia đình. Các tỉnh vùng biên giới, đảo thì cần từ 150 hộ gia đình.

    3.2. Những điều kiện thành lập tổ dân phố khác

    Đối với điều này, chúng ta cần phải căn cứ vào điều kiện thực tế của thực trạng kinh tế – xã hội theo giai đoạn và theo từng vùng miền. Và cần phải xuất phát từ mục đích phục vụ hoạt động cộng đồng, bảo đảm sự ổn định về cuộc sống cho người dân.

    3.3. Các trường hợp đặc thù

    Tổ dân phố thuộc vào quy hoạch giải phóng mặt bằng hay giãn dân thì có quy mô từ 100 hộ gia đình trở lên. Đối với khu vực miền hải đảo hay vùng biên giới ở xa đất liền diễn ra hoạt động di dân nhằm bảo vệ chủ quyền, đường biên giới cho vùng biển đảo thì việc thành lập tổ dân phố sẽ không áp dụng theo quy định tại Khoản 1.

    4. Nhiệm vụ và quyền hạn của người Tổ trưởng tổ dân phố

    Tại Khoản 8, Điều 1 Thông tư số 14/2018/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 20/01/2019 đưa ra những quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của người Tổ trưởng tổ dân phố.

    4.1. Nhiệm vụ của Tổ trưởng tổ dân phố

    – Tổ trưởng tổ dân phố có nhiệm vụ triệu tập và chủ trì hội nghị tổ dân phố; tổ chức thực hiện các công việc trong tổ dân phố được nhân dân quyết định. Đồng thời đảm bảo những nội dung hoạt động của tổ dân phố được diễn ra theo đúng quy định ở Điều 5 của Thông tư 14/2018/TT-BNV.

    – Vận động và tổ chức cho dân thực hiện dân chủ tại cơ sở, hương ước, quy ước của tổ dân phố đã được phê duyệt bởi những cơ quan có thẩm quyền.

    – Tập hợp, đề nghị chính quyền xã giải quyết các kiến nghị và nguyện vọng của nhân dân trong tổ dân phố. Đồng thời báo cáo với Ủy ban xã về hành vi vi phạm pháp luật trong tổ dân phố.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của người Tổ trưởng tổ dân phố

    – Thực hiện lập biên bản kết quả được nhân dân trong tổ quyết định công việc của tổ dân phố, lập biên bản kết quả được bàn và biểu quyết sau đó báo cáo kết quả đó cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

    – Phối hợp với các Tổ chức chính trị ở tổ dân phố để vận động người dân tham gia vào các phong trào, các cuộc vận động.

    – Báo cáo kết quả công tác theo giai đoạn 6 tháng đầu năm và cuối năm trong hội nghị tổ dân phố.

    4.2. Quyền hạn của Tổ trưởng tổ dân phố

    – Được quyền phân công nhiệm vụ cho phó Tổ trưởng tổ dân phố, không những thế còn nhận được lời mời họp của chính quyền cấp xã, được nhận bồi dưỡng , tập huấn về việc tổ chức, hoạt động trong tổ dân phố.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tái Cấp Vốn Là Gì? Hoạt Động Tái Cấp Vốn Ngắn Hạn Của Ngân Hàng Nhà Nước?
  • Luật Các Tổ Chức Tín Dụng: 9 Điểm Cần Lưu Ý
  • Tổ Chức Tín Dụng Là Gì? Đặc Điểm Và Hệ Thống Các Tổ Chức Tín Dụng Tại Việt Nam
  • Bài Giảng Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Phân Biệt Quầy Thuốc Và Nhà Thuốc
  • Trách Nhiệm Của Thanh Niên Với Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Và Bảo Vệ Đất Nước Trong Giai Đoạn Mới
  • Phát Huy Vai Trò Nhà Báo Chiến Sĩ Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát Của Cơ Quan Dân Cử Đối Với Việc Thực Thi Chính Sách, Pháp Luật Về An Sinh Xã Hội Ở Việt Nam
  • 8 Bí Quyết Mạnh Khỏe Sống Lâu
  • Hãy Đề Ra Các Biện Pháp Luyện Tập Để Có Thể Có Một Hệ Hô Hấp Khỏe Mạnh: Vệ Sinh Hô Hấp
  • Một số đoạn văn ngắn hay bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của công dân đối với Tổ Quốc

    Mỗi người chúng ta khi sinh ra trên đời này, ai cũng sẽ có cho mình những trách nhiệm, trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, và hơn hên là trách nhiệm của một công dân đối với Tổ Quốc của chúng ta. Ta được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương, trên dải đất hình chữ S này, được sống dưới một bầu tự do, hạnh phúc và yên bình, được hưởng những quyền lợi mà đất nước mang lại, vậy nên con người hoàn toàn cũng cần có trách nhiệm đối với Tổ Quốc mình. Trước hết, là một công dân, mà nòng cốt là thế hệ trẻ, cần không ngừng nỗ lực và rèn luyện để dựng xây Tổ Quốc. Bác Hồ đã từng nói “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần vào công học tập của các cháu”.Thế hệ trẻ là mầm non tương lai của đất nước, là những người đóng vai trò quan trọng trong việc đưa đất nước phát triển sau này, vậy nên, việc học tập tốt và tu dưỡng đạo đức, tác phong là một điều vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, là một công dân, cần biết yêu thương, sẻ chia với những người xung quanh. Một đất nước, một xã hội chỉ thực sự phát triển khi những hạt nhân trong xã hội ấy biết yêu thương, đoàn kết, gắn bó với nhau vượt qua bất kỳ khó khăn, thử thách nào. Giống như, khi xưa, thế hệ ông cha ta đã không tiếc thân mình, đổ mồ hôi và xương máu để bảo vệ Tổ Quốc, chống lại kẻ thù xâm lược, quyết tâm đem lại cuộc sống hòa bình cho dân tộc như ngày hôm nay. Ngoài ra, là một công dân, con người ta cần biết tự hào và phát huy truyền thống của dân tộc. Dòng máu trong tim ta là dòng máu của Tổ Quốc, luôn phải biết hướng về cội nguồn, đừng bao giờ chối bỏ hay quay lưng lại với chính Tổ Quốc của mình, nơi đã cho ta sự sống. Hãy tự hào về những giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước và phát huy, giữ gìn cũng như phát triển chúng, mang những nét cổ truyền ấy đi xa hơn trên thế giới này, để bạn bè khắp năm châu đều biết đến Việt Nam, Tổ Quốc thân yêu của ta. Có rất nhiều những tấm gương sáng đã làm rạng danh Tổ Quốc trên nhiều lĩnh vực như giáo sư Toán học Ngô bảo Châu, hoa hậu Hoàn vũ H’hen Niê hay Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam,…họ đều là những con người đã không ngừng nỗ lực, học tập, thi đấu để đạt được những thành tích lớn, đem cái tên Việt Nam tỏa sáng trên những đấu trường quốc tế danh giá khác nhau, khiến người người đều nhớ mãi đến tên họ. “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay”, là một công dân, đặc biệt là một thế hệ trẻ, trách nhiệm đối với Tổ Quốc là một điều mà mỗi cá nhân đều phải ghi nhớ và thực hiện, chính nó sẽ là tác động to lớn, thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của đất nước sau này.

    Mỗi người khi sinh ra không phải một cá nhân riêng lẻ, đều có cho mình một gia đình, một quê hương và một tổ quốc. Chúng ta không thể chối từ tổ quốc trong ta cũng như không làm gì cho tổ quốc. Sinh ra thuộc về tổ quốc và sống phải có trách nhiệm với vùng đất thiêng liêng ấy. Trước hết mỗi công dân cần phải bảo vệ độc lập, tự do cho tổ quốc mà ông cha ta đã gây dựng và giữ gìn. Biết bao thế hệ đã hy sinh về với đất mẹ “đất nước đi lên bát ngát mùa xuân”, để giờ đây ta được sống trong bầu không khí yên bình. Thật là đáng hổ thẹn nếu chúng ta đánh mất đi độc lập tự do mà ông cha đã đánh đổ giữ gìn. Như chúng ta đã biết gần đây Trung Quốc đang ngày càng ngang ngược khi tiến vào lãnh thổ Biển Đông với đường lưỡi bò, xâm phạm đến chủ quyền biển đảo của chúng ta. Mỗi người dân Việt Nam phải có trách nhiệm giữ vững mãi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, không riêng gì những người chiến sĩ. Không chỉ bảo vệ, trách nhiệm của mỗi công dân còn là dựng xây và phát triển tổ quốc ngày càng lớn mạnh. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nòng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ Quốc. Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa cho tổ quốc. Tuổi trẻ chỉ đến với chúng ta một lần vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước. Việc xây dựng và đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nước như lời dặn của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, thì Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xong pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó. Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, chèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ Quốc. Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nữa, học mãi… Có biết bao công dân những tấm gương sáng mà chúng ta nhìn thấy đang cống hiến cho tổ quốc: đội tuyển bóng đá Việt Nam hay hoa hậu H’hen Niê,… và biết bao người đang từng ngày từng giờ cống hiến thầm lặng cho Tổ Quốc. Bạn thấy đấy, Tổ Quốc là một điều gì thiêng liêng đến nhường nào, luôn tồn tại trong trái tim mỗi người để nhắc nhở mỗi người phải làm gì đó cho tổ quốc dù chỉ là những hành động rất nhỏ. Là học sinh mỗi chúng ta cần không ngừng học tập tu dưỡng đạo đức để sau này đưa Tổ Quốc sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

    Top 2 bài văn nghị luận hay bàn về trách nhiệm của thanh niên với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

    Trách nhiệm của thanh niên với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mẫu số 1:

    Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống của thế hệ trẻ Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng, thanh niên tiếp tục “rèn đức, luyện tài”, thực sự là lực lượng xung kích, sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc. Trong mùa tuyển quân năm nay, Thanh Thủy có 145 thanh niên ưu tú lên đường nhập ngũ và công an nghĩa vụ. Với truyền thống cách mạng của quê hương tin tưởng rằng các anh sẽ làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc quyền, nghĩa vụ thiêng liêng của tuổi trẻ.

    Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đánh giá rất cao vai trò của thanh niên, luôn quan tâm chăm lo xây dựng và phát huy sức mạnh của các thế hệ thanh niên tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp, các ngành và các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội cũng đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm phát huy vai trò, sức mạnh của thanh niên trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: “Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, điều đó đã tạo ra môi trường hết sức thuận lợi để họ có điều kiện phát triển toàn diện, nhưng cũng đặt ra trách nhiệm cho thanh niên cần tham gia tích cực hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị… bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

    Để phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay cần đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cho thanh niên. Đây là nhiệm vụ nền tảng quan trọng góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên đối với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường thuận lợi để thanh niên tham gia tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Ngày nay, trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, âm mưu của các thế lực thù địch đã ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, trách nhiệm của thế hệ trẻ. Vì vậy, việc quan trọng và cấp thiết là “phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, tinh thần tình nguyện, khơi dậy tiềm năng to lớn, lòng nhiệt huyết của các tầng lớp thanh niên… tạo môi trường thuận lợi để thanh niên tự rèn luyện, tìm được lẽ sống cao đẹp cho mình” các cấp bộ Đoàn cần tập hợp, tổ chức cho thanh niên tham gia vào các hoạt động thiết thực, bổ ích như thông qua các phong trào: “Thanh niên với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”; “Tuổi trẻ giữ nước”; “Khi Tổ quốc cần”; “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”; “Vì Trường Sa thân yêu”; “Góp đá xây Trường Sa”…

    Cùng với đó cần có sự quan tâm và chính sách đãi ngộ đối với thanh niên khi tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; Tích cực cải thiện và nâng cao hơn nữa về đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ; chăm lo chu đáo đến hậu phương người lính; kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nghĩa vụ quân sự với đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương… Những việc làm đó sẽ giúp cho thanh niên luôn yên tâm, toàn tâm, toàn ý đối với chức trách, nhiệm vụ được giao, đủ tỉnh táo để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá của các thế lực thù địch trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, mọi tình huống để giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Phát huy tinh thần tự giác học tập, rèn luyện bản thân của thanh niên để góp phần nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động gây rối, biểu tình gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, kiên quyết giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để hội nhập và phát triển đất nước.

    Ngày nay, tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha anh, thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Thanh niên có khát vọng, ý chí vươn lên, đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, vì cộng đồng và lợi ích quốc gia. Họ luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, xung kích hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao. Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam với vai trò, trách nhiệm của mình đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện các chương trình phối, kết hợp với các lực lượng khác nhằm tạo cơ sở và điều kiện để thanh niên phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của mình trong phát triển kinh tế; ổn định cuộc sống; tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh; củng cố quốc phòng, an ninh góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Minh Cảnh

    Trách nhiệm của thanh niên với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mẫu số 2:

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thanh niên là rường cột nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, khẳng định vai trò của thanh niên vô cùng to lớn và bao trùm rất nhiều lĩnh vực. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, các ngành cần phát huy tốt vai trò của thanh niên; Đồng thời, thanh niên cũng cần tiếp tục tự khẳng định mình thực sự là lực lượng xung kích, sáng tạo trong đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Ngay từ khi đất nước còn chìm đắm trong đêm trường nô lệ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh thức tỉnh, giác ngộ, thanh niên Việt Nam đã tin tưởng, đi theo Đảng, cùng với nhân dân cả nước làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành độc lập dân tộc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi đầu một thời kỳ lịch sử huy hoàng, đưa dân tộc đến ấm no, hạnh phúc.

    Đất nước ta giành được độc lập nhưng lại phải đối diện với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gay go, ác liệt. Phát huy truyền thống cha ông, với tinh thần và ý chí: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và những phong trào Cách mạng: “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”… thanh niên Việt Nam đã cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làm nên chiến công vĩ đại: giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; tiếp đó, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đại bộ phận thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bên cạnh đó, thanh niên luôn có khát vọng, ý chí vươn lên, có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, vì cộng đồng và lợi ích quốc gia nên đã luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, xung kích hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao.

    Những việc làm và hoạt động của thanh niên được thể hiện rõ nhất ở các phong trào hành động Cách mạng, các chương trình hành động, tiêu biểu, như: “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”; Cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, với các hoạt động như: “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Góp đá xây Trường Sa”… đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng thế hệ trẻ và nhân dân cả nước; góp phần làm thay đổi thái độ và nhận thức chính trị của thanh niên.

    Thanh niên hiện nay, trong đó, không ít bạn trẻ có trình độ học vấn cao luôn sẵn sàng gia nhập Quân đội, thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây là điều rất đáng phấn khởi và là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Bên cạnh đó, phong trào “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Sáng tạo trẻ”, “Thanh niên chung tay xây dựng Nông thôn mới”… đã cổ vũ đoàn viên thanh niên phát huy sáng kiến, tích cực nghiên cứu khoa học, tăng năng suất lao động với nhiều mô hình, cách làm mới, hiệu quả. Qua đó, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị; giải quyết những vấn đề bức xúc của cộng đồng, thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia ở những nơi khó khăn, gian khổ; xây dựng tiềm lực quốc phòng – an ninh của từng địa phương, đơn vị.

    Các hoạt động xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, “Đền ơn đáp nghĩa”, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục mở rộng về quy mô, nội dung, hình thức, ngày càng đi vào chiều sâu…

    Thanh niên bao giờ cũng là lực lượng đáng tin cậy của Đảng, của nhân dân. Vì vậy, việc quan tâm, chăm lo đầu tư cho thanh niên phát triển toàn diện vừa là trách nhiệm, vừa là tình cảm của toàn xã hội, trước hết là các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể cần có kế hoạch cụ thể thiết thực trên nhiều lĩnh vực để nâng cao đạo đức, thể lực, trí lực và vật lực cho thanh niên.

    Có như vậy, thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay mới đủ sức khoẻ và trí tuệ vượt qua khó khăn, thách thức, cùng nhân dân xây dựng đất nước, làm cho Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có vị trí xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, sánh vai cùng các cường quốc trong thế kỷ XXI.

    BBT: truyenhinhnghean.vn

    Chúc các em học tốt môn Văn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Của Bản Thân Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc Hiện Nay?
  • Đại Hội Xii: Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Và Bảo Vệ Đất Nước
  • Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Của Báo Chí Đối Với Công Tác Lãnh Đạo, Quản Lý Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • Phát Huy Vai Trò, Trách Nhiệm Của Đảng Viên Và Tuổi Trẻ Thành Phố Trong Việc Xây Dựng Và Bảo Vệ Đảng, Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Khoa Học Chính Trị: Các Tỉnh Ủy Trên Địa Bàn Quân Khu 1 Lãnh Đạo Công Tác Quốc Phòng Ở Địa Phương Giai Đoạn Hiện Nay
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Thường Trực Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố

    --- Bài mới hơn ---

  • Thường Trực Hội Đồng Nhân Dân Huyện Khảo Sát Tình Hình Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Thường Trực Hđnd Các Xã, Thị Trấn Năm 2022
  • Phân Tích Vị Trí, Tính Chất Và Chức Năng Của Hội Đồng Nhân Dân Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Tiểu Luận Vị Trí, Tính Chất, Chức Năng Của Hội Đồng Nhân Dân Theo Pháp Luật Hiện Hành
  • Đề Tài Vị Trí, Tính Chất, Chức Năng Của Hội Đồng Nhân Dân Theo Pháp Luật Hiện Hành
  • Điện Thoại Iphone 11 Pro Xách Tay Chính Hãng Giá Rẻ
  • Các chức năng chính bao gồm:

    1. Triệu tập các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

    2. Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

    3. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương.

    5. Tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định của pháp luật; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân để báo cáo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân.

    6. Phê chuẩn danh sách Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số đại biểu Hội đồng nhân dân và việc cho thôi làm Ủy viên của Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Trưởng ban của Hội đồng nhân dân.

    7. Trình Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.

    8. Quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân.

    9. Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

    10. Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thống Nhất Quy Định Thẩm Quyền Của Thường Trực Hđnd
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quyết Định Của Hđnd Các Cấp: Tăng Cường Kỹ Năng
  • Đoàn Đbqh Và Hđnd Tỉnh Thanh Hóa
  • Điều 15. Chức Năng, Quyền Hạn Của Các Ban Hđnd Tỉnh
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hdnd Cấp Tỉnh
  • ​quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ấp, Khu Phố, Tổ Nhân Dân, Tổ Dân Phố

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa
  • 10 Sản Phẩm Unicity Bán Chạy Nhất Và 4 Bộ Sản Phẩm Chủ Đạo Của Unicty
  • Thực Phẩm Chức Năng Unicity
  • Unimate Unicity Thực Phẩm Bảo Vệ Sức Khỏe
  • Thực Phẩm Bổ Sung Unicity Unimate Fuel Supplemented Food
  •  QUY CHẾ TỔ

    CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ẤP, KHU PHỐ, TỔ NHÂN DÂN, TỔ DÂN PHỐ

     (Ban hành kèm theo Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2022

    của UBND thành phố Hồ Chí Minh)

     

    Điều 3.Nguyên tắc tổ chức và hoạt động ấp, Khu phố (KP),  Tổ dân phố ( TDP) 

    1. KP,

    TDP chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Uỷ Ban nhân dân (UBND) phường. Hoạt động của KP, TDP  phải tuân thủ pháp luật, dân chủ, công khai,

    minh bạch; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền và sự hướng

    dẫn, triển khai công tác của  Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các

    tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội ở phường.

    2. Quan hệ giữa Trưởng KP, Phó Trưởng KP với

    Tổ trưởng, Tổ phó TDP là mối quan hệ phối hợp nhằm hoàn thành nhiệm vụ theo sự

    lãnh đạo của cấp ủy chi bộ KP và UBND phường. Trưởng KP, Phó Trưởng KP và Tổ trưởng,

    Tổ phó TDP do Chủ tịch UBND phường quyết định công nhận.

    Điều 5. Nội dung hoạt động của Khu phố

    1. Cộng

    đồng dân cư KP bàn

    và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định những nội dung theo quy định của

    pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; bàn và quyết định trực

    tiếp việc thực hiện các công việc tự quản không trái với quy định của pháp luật

    trong việc xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, hiện đại, phát triển sản xuất,

    xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, giảm nghèo tăng hộ

    khá; thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của

    Nhà nước; những công việc do cấp ủy Đảng, chính quyền,  MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội cấp

    trên triển khai đối với KP; thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước;

    bảo đảm đoàn kết, dân chủ, công khai, minh bạch, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn

    xã hội và vệ sinh môi trường; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp ở

    địa phương; xây dựng, giữ vững và phát huy danh hiệu “KP văn hóa”; phòng chống

    các tệ nạn xã hội và xóa bỏ hủ tục lạc hậu.

    2. Thực

    hiện dân chủ ở cơ sở; xây dựng và thực hiện quy ước của KP; tích cực tham gia

    cuộc vận động “TDĐKXD nông

    thôn mới, đô thị văn minh” và các phong trào, các cuộc vận động do các tổ chức

    chính trị – xã hội phát động.

    3. Thực

    hiện theo lãnh đạo của chi bộ KP, củng cố và duy trì hoạt động có hiệu quả các tổ chức tự

    quản khác của KP theo quy định  pháp luật.

    4. Bầu,

    miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng KP và Phó Trưởng KP. Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban

    thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của pháp luật

    về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

    5. Các

    nội dung hoạt động của KP theo quy định tại Điều này được thực hiện thông qua

    sinh hoạt và hội nghị của KP.

    Điều 6. Sinh hoạt Khu phố

    1.  Trưởng KP tổ chức buổi sinh hoạt KP mỗi tháng một

    lần. Trường hợp họp đột xuất Trưởng KP phải thông qua UBND phường. Buổi họp do

    Trưởng KP (hoặc Phó Trưởng KP) chủ trì, cử thư ký ghi biên bản. Trước khi sinh

    hoạt ấp, KP, UBND phường hướng dẫn nội dung, đề ra những công tác trọng tâm

    trong thời gian tới.

    2.

    Thành phần tham dự buổi sinh hoạt KP gồm đại diện Ban công tác Mặt trận, các tổ chức

    chính trị – xã hội của KP và các Tổ trưởng, Tổ phó TDP; mời đại diện chi ủy chi

    bộ ấp, KP và   cảnh sát khu vực cùng tham dự.

    3. Nội

    dung buổi sinh hoạt gồm: rà soát tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của KP và các TDP,

    tìm ra nguyên nhân, đề ra hướng khắc phục; thông tin kết quả giải quyết của cơ

    quan có thẩm quyền đối với các kiến nghị, đề xuất, phản ánh của nhân dân; đồng

    thời triển khai công việc của UBND phường, bàn biện pháp và phân công thực hiện nhiệm vụ

    trong tháng tới. Biên bản cuộc họp được gửi đến UBND phường 

    sau ba ngày.

    Điều 7. Xây dựng và thực hiện Quy ước cộng đồng

    1. Quy

    ước cộng đồng do nhân dân trong KP xây dựng.   Trưởng KP căn cứ hướng dẫn của UBND phường để dự thảo quy

    ước của KP lấy

    ý kiến góp ý rộng rãi đến các cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình ở  KP trước khi tổng hợp thông qua hội

    nghị của KP.

    2. Chủ

    tịch UBND phường sau khi thống

    nhất với Chủ tịch Ủy ban  MTTQViệt Nam

    cùng cấp và Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường đề nghị Chủ tịch

    UBND quận công nhận; trường hợp không công nhận thì phải trả lời bằng văn bản

    và nêu rõ lý do.

    3.

    Nhân dân trong  KP có trách

    nhiệm cùng nhau thực hiện tốt Quy ước cộng đồng. Trưởng KP có

    trách nhiệm theo dõi việc thực hiện, hàng tháng kiểm điểm những việc làm được,

    chưa làm được, những hộ, cá nhân làm tốt hoặc chưa tốt để đề nghị UBND phường, thị trấn

    nêu gương, biểu dương hoặc nhắc nhở, làm cơ sở bình xét gia đình văn hóa hoặc đề

    nghị UBND phường  khen thưởng vào các dịp thích hợp.

    Điều 8. Hội nghị của Khu phố

    1. Hội

    nghị KP được tổ chức mỗi năm hai lần (thời gian vào giữa năm và cuối năm), khi

    cần có thể họp bất thường. Thành phần cử tri dự hội nghị là toàn thể cử tri hoặc

    cử tri đại diện hộ gia đình trong KP. Hội nghị do Trưởng KP triệu

    tập và chủ trì. Hội nghị được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại

    diện hộ gia đình trong  KP tham dự.

    Nội

    động quy định tại Điều 5 của Quy chế này; Bàn biện pháp thực hiện Nghị quyết của

    Hội đồng nhân dân, quyết định của UBND 

    phường, thị trấn nghĩa vụ công dân và nhiệm vụ do phường giao.

    2. Việc

    tổ chức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp có thẩm

    quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều

    4 và Điều 5 của Hướng dẫn ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ

    và Ủy ban Trung ương  MTTQViệt Nam.

    Điều 12. Tiêu chuẩn Trưởng KP và Phó Trưởng KP

    Trưởng

    KP, Phó

    Trưởng KP là người có đầy đủ quyền công dân, có hộ khẩu thường trú và cư trú thường

    xuyên ở KP; đủ

    21 tuổi trở lên; có sức khỏe, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm

    trong công tác; có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm; bản

    thân và gia đình gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính

    sách, pháp luật , các

    quy định của địa phương; có kiến thức VH, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ

    chức nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng dân cư và công

    việc cấp trên giao.

    Điều 13. Nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng ấp, Trưởng

    KP

    1. Nhiệm vụ:

    a) Bảo

    đảm các hoạt động của KP theo quy định tại Điều 5, 6, 7 và Điều 8 của Quy chế

    này;

    b) Triệu

    tập và chủ trì hội nghị KP;

    c) Triển

    khai thực hiện những nội dung do cộng đồng dân cư của KP bàn và quyết định trực

    tiếp; tổ chức o pháp luật.

    nhân dân

    trong KP thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật

    của Nhà nước, nhiệm

    vụ do cấp trên giao;

    d) Vận

    động và tổ chức nhân dân thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; tổ chức việc xây dựng,

    thực hiện quy ước cộng đồng của KP không trái với quy định của pháp luật;

    đ) Phối

    hợp với Ban CTMTvà các tổ chức chính trị – xã hội của   KP, tổ chức nhân dân tham gia thực hiện cuộc vận

    động “TDĐKXD nông

    thôn mới, đô thị văn minh”, các phong trào, các CVĐ do 

    MTTQvà các tổ chức chính trị – xã hội phát động;

    e) Tổ

    chức vận động nhân dân giữ gìn an ninh, trật tự và an toàn xã hội; phòng, chống

    tội phạm và các tệ nạn xã hội trong KP không để xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp phức

    tạp trong nội bộ nhân dân; báo cáo kịp thời với UBND phường những hành vi vi phạm

    pháp luật trong KP;

    g) Tập

    hợp, phản ánh, đề nghị UBND phường, thị trấn giải quyết những kiến nghị, nguyện

    vọng chính đáng của nhân dân tron KP; lập biên bản về những vấn đề đã được nhân dân của

      KP bàn và quyết định trực tiếp, bàn và biểu

    quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; báo cáo kết quả cho Chủ tịch UBND ; phường;

    h) Phối

    hợp với Trưởng Ban CTMT và trưởng các tổ chức chính trị – xã hội của KP trong việc

    triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị – xã hội trong cộng đồng dân cư; đẩy mạnh

    hoạt động của các tổ chức tự quản (nếu có) của KP như: Tổ dân

    vận, Tổ hòa  giải, Tổ quần chúng bảo vệ an

    ninh và trật tự, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng và các tổ chức

    tự quản khác theo quy định của pháp luật;

    i) Thực

    hiện các nhiệm vụ do cấp trên giao và các nhiệm vụ khác tại cộng đồng dân cư

    theo quy định của pháp luật;

    k)

    Hàng tháng báo cáo kết quả công tác với UBND xã, phường, thị trấn; sáu tháng đầu

    năm và cuối năm phải báo cáo công tác trước hội nghị KP.

    2. Quyền

    hạn:

    a) Được

    ký hợp đồng về dịch vụ phục vụ sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình

    phúc lợi công cộng do KP đầu tư đã được hội nghị KP thông qua.

    b) Trưởng Trưởng KP giới

    thiệu Phó Trưởng

    KP giúp việc; phân công nhiệm vụ và quy định quyền hạn giải quyết công việc của

    c) Được

    UBND phường  cấp sổ ghi chép, theo dõi các nội dung: sổ ghi

    chép biên bản cuộc họp; sổ ghi chép tình hình các hộ gia đình trong  KP; sổ ghi chép thu – chi các khoản đóng góp của

    nhân dân.

    Khi

    thay đổi Trưởng KP, người cũ phải bàn giao tất cả sổ sách, công việc đang làm

    cho người mới và phải lập thành biên bản, có sự chứng kiến của đại diện Ban

    CTMT KP.

    Điều 14. Chế độ, chính sách đối với Trưởng KP, Phó Trưởng KP

    1. Trưởng

    KP và Phó Trưởng KP là những người hoạt động không chuyên trách ở KP; được hưởng

    phụ cấp hàng tháng, mức phụ cấp do Hội đồng nhân dân thành phố quyết định theo

    quy định của pháp luật.

    2. Trưởng

    KP và Phó Trưởng KP được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn những kiến thức, kỹ năng

    cần thiết; nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì được biểu dương, khen thưởng;

    không hoàn thành nhiệm vụ, có vi phạm khuyết điểm, không được nhân dân tín nhiệm

    thì tùy theo mức độ sai phạm sẽ bị miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc truy cứu trách

    nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Điều 22. Tổ chức Tổ dân phố

    1. Quy

    mô của TDP phải có từ 100 hộ gia đình trở lên, TDP có Tổ trưởng và một Tổ phó.

    TDP có

    trên 120 hộ gia đình trở lên có thể bố trí thêm một Tổ phó.  

    2. Tổ

    trưởng TDP do nhân dân trong tổ đề cử hoặc do Ban CTMT giới thiệu và

    có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình tham dự thống nhất. Hình

    thức bầu được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do buổi sinh

    hoạt tổ quyết định.

    3. Tổ

    phó là người giúp Tổ trưởng, thay mặt Tổ trưởng chủ trì các buổi họp dân khi Tổ

    trưởng vắng và thực hiện các nhiệm vụ do Tổ trưởng giao. Tổ phó do Tổ trưởng đề

    nghị sau khi trao đổi thống nhất với Trưởng Ban công tác Mặt trận.

    4. Trường

    hợp khuyết Tổ trưởng thì Tổ phó thực hiện các nhiệm vụ của tổ; nếu khuyết cả Tổ

    trưởng và Tổ phó TDP thì Chủ tịch UBND phường  chỉ định Tổ trưởng lâm thời hoạt động cho đến

    khi đề cử Tổ trưởng mới theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

    Điều 23. Sinh hoạt Tổ dân phố

    TDP

    sinh hoạt ba tháng một lần. Buổi sinh hoạt được tiến hành khi có

    trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn tổ tham dự. Tổ

    trưởng hoặc Tổ phó chủ trì sinh hoạt, cử người làm thư ký (được đa số người dự

    hợp đồng ý) ghi biên bản sinh hoạt; Trưởng KP (hoặc Phó Trưởng KP), cảnh sát

    khu vực cùng tham dự.

    Nội

    dung sinh hoạt tổ phải chuẩn bị chu đáo, việc kiểm điểm thực hiện công việc cần

    ngắn gọn, kế hoạch và biện pháp thực hiện công tác cần rõ ràng, cụ thể để nhân

    dân trong tổ dễ nhớ, dễ thực hiện nhằm thực hiện tốt chủ trương của Đảng, pháp

    luật của Nhà nước, nhiệm vụ do Trưởng KP giao, đồng thời kiến nghị, đề xuất lên KP những nguyện

    vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân trong tổ và tổ chức bầu Tổ trưởng (nếu

    có). Biên bản cuộc họp tổ được gửi đến Trưởng KP sau một ngày.

    Điều 24. Quyền lợi và trách nhiệm của Tổ trưởng, Tổ phó TND, TDP

    1. Tổ

    trưởng, Tổ phó được dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ công

    tác và hưởng mức phụ cấp do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định theo quy định.

    2. TDP được

    UBND  phường cấp phát sổ

    ghi chép theo dõi các nội dung: Biên bản các cuộc họp tổ; Danh sách các hộ gia đình

    trong tổ; Thu, chi các khoản đóng góp của nhân dân.

    Khi có

    thay đổi Tổ trưởng thì người cũ phải bàn giao tất cả sổ sách, tài chính cho người

    mới và phải lập biên bản có sự chứng kiến của Trưởng KP (hoặc Phó Trưởng KP).

    3. Tổ

    trưởng, Tổ phó làm việc thông qua mối quan hệ trực tiếp với hộ dân, thường

    xuyên gắn kết với KP để kịp thời nắm bắt tình hình và

    giải quyết công việc trong tổ một cách nhanh chóng, định kỳ hàng tháng dự sinh

    hoạt KP để

    báo cáo tình hình trong tổ và tiếp nhận các công việc của Trưởng KP giao.

    4. Tổ

    trưởng, Tổ phó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được biểu dương, khen thưởng. Trưởng KP đề

    nghị UBND phường xem xét, khen

    thưởng Tổ trưởng, Tổ phó.

    5. Tổ trưởng, Tổ phó không hoàn thành nhiệm vụ,

    có sai phạm hoặc không được nhân dân tín nhiệm thì tùy mức độ sai phạm sẽ bị xử

    lý theo quy định. Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn xem xét tạm đình chỉ, cho

    thôi nhiệm vụ theo đề nghị của   Trưởng KP hoặc của Ban CTMT hoặc có ít nhất một

    phần ba tổng số cử tri đại diện hộ gia đình trong tổ kiến nghị hoặc đề nghị cơ

    quan có thẩm quyền xử lý

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Ubnd Các Cấp Trong Thực Hiện Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng Tại Địa Phương.
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Phun Xăng Điện Tử Trên Xe Máy
  • Nguyên Lí Hoạt Động Hệ Thống Phun Xăng Điện Tử Fi
  • Van An Toàn, Van Xả Áp, Van An Toàn Cho Hơi, Van An Toàn Hơi
  • Npp Chính Thức Tại Việt Nam
  • Quyền Hạn Của Lực Lượng Bảo Vệ Dân Phố

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Lượng Bảo Vệ Dân Phố Có Được Thu Giữ Xe Để Ở Vỉa Hè Không?
  • Nhiệm Vụ Hằng Ngày Của Nhân Viên Bảo Vệ Là Gì?
  • Quyền Hạn Và Nhiệm Vụ Của Lực Lượng Bảo Vệ Cơ Quan, Doanh Nghiệp
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Bảo Vệ
  • Nhiệm Vụ Của Phòng Nghiệp Vụ Công Ty Bảo Vệ
  • Quyền hạn của lực lượng bảo vệ dân phố. Lực lượng bảo vệ dân phố tham gia với công an phường trong việc giữ trật tự an toàn xã hội.

    Bảo vệ dân phố là lực lượng quần chúng tự nguyện làm nòng cốt trong phong trào bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, được thành lập ở các phường, thị trấn (sau đây gọi chung là phường) nơi bố trí lực lượng công an chính quy, do ủy ban nhân dân phường quyết định thành lập.

    Bảo vệ dân phố có trách nhiệm làm nòng cốt trong việc thực hiện phong trào quần chúng, bảo vệ an ninh tổ quốc, thực hiện một số biện pháp công tác phòng ngừa đấu tranh chống , tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn”.

    Theo căn cứ tại Điều 6 Nghị định 38/2006/NĐ-CP về Bảo vệ dân phố, thì Quyền hạn của bảo vệ dân phố bao gồm:

    1. Bắt, tước hung khí và áp giải người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, trốn thi hành án phạt tù đến trụ sở công an phường theo quy định của pháp luật.

    2. Yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm và báo cáo với Ủy ban nhân dân, công an phường để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với những người đang có hành vi vi phạm trật tự công cộng, trật tự xây dựng, trật tự an toàn giao thông, các vi phạm quy định an toàn cháy nổ và những người vi phạm các quy định khác về trật tự, an toàn xã hội.

    3. Tham gia với lực lượng công an hoặc lực lượng chức năng để truy bắt người phạm tội, người đang bị truy nã, trốn thi hành án; kiểm tra tạm trú, tạm vắng; kiểm tra giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tuỳ thân khác của những người tạm trú, người có nghi vấn đến địa bàn khu phố được phân công phụ trách.

    Ngoài ra, quyền hạn của Bảo vệ dân phố được hướng dẫn tại mục III Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCA-BLĐ-BTC hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức hoạt động và chế độ chính sách đối với Bảo vệ dân phố như sau:

    1. Bắt, tước hung khí và áp giải người phạm pháp quả tang, người đang bị truy nã trốn thi hành án phạt tù đến trụ sở Công an phường theo đúng quy định của pháp luật:

    2. Yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm và báo cáo với Ủy ban nhân dân, công an phường để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với những người đang có hành vi vi phạm trật tự công cộng, trật tự xây dựng, trật tự an toàn giao thông, các vi phạm quy định về an toàn cháy nổ và những người vi phạm các quy định khác về trật tự an toàn xã hội.

    Khi thực hiện quyền hạn này, bảo vệ dân phố phải có sự phối hợp với các lực lượng chức năng như cảnh sát giao thông, cảnh sát khu vực, cảnh sát trật tự, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, thanh tra giao thông công chính, thanh tra xây dựng, thanh tra y tế…

    Trong trường hợp không có các lực lượng trên, bảo vệ dân phố có quyền nhắc nhở, yêu cầu cá nhân, tổ chức có vi phạm chấm dứt ngay hành vi vi phạm và kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

    3. Tham gia với lực lượng Công an hoặc lực lượng chức năng để truy bắt người phạm tội, người đang bị truy nã, trốn thi hành án; kiểm tra tạm trú, tạm vắng, kiểm tra chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác của những người tạm trú, người có nghi vấn đến địa bàn khu phố được phân công phụ trách.

    3.2. Nghiêm cấm bảo vệ dân phố tự ý kiểm tra giấy tờ, hàng hóa, phương tiện hoặc vào nơi ở của công dân để kiểm tra, kiểm soát trái quy định của pháp luật.

    4. Ngoài các quyền theo quy định tại Điều 6 của Nghị định, Bảo vệ dân phố còn được sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điểm 1 Điều 12 của Nghị định.

    Khi sử dụng quyền này, bảo vệ dân phố cần chú ý: Việc sử dụng vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ phải đảm bảo an toàn, đúng mục đích theo quy định của pháp luật. Phải được phép khi mang vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ theo người.

    – Đối tượng tham gia nghĩa vụ dân quân tự vệ

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

    – Luật sư tư vấn xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

    – Luật sư tư vấn về xử phạt hành chính hành vi gây mất trật tự sau 22h

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Dân Phố Được Phép Xử Phạt Vi Phạm Giao Thông?
  • Nâng Cao Chất Lượng Và Hiệu Quả Hoạt Động Của Lực Lượng Bvdp, Đáp Ứng Yêu Cầu, Nhiệm Vụ Trong Tình Hình Mới
  • Vai Trò Của Bộ Phận Lễ Tân Khách Sạn
  • Giám Sát Bán Hàng Là Gì? Bạn Biết Gì Về Nghề Bán Hàng?
  • Tìm Hiểu Về Nhiệm Vụ Của Giám Sát Bán Hàng Trong Doanh Nghiệp
  • Bảo Vệ Dân Phố Có Quyền Hạn Và Nghĩa Vụ Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Dân Quân Tự Vệ
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển
  • Cổng Ttđt Bộ Quốc Phòng Việt Nam
  • Tiêu Chuẩn Và Nhiệm Vụ Của Dược Sĩ Hạng 3
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Doanh Nghiệp Tư Nhân Theo Quy Định Hiện Hành.
  • Quyền hạn của bảo vệ dân phố

    – Được quyền bắt, áp giải những đối tượng phạm tội, người bị truy nã, trốn tránh việc thi hành án theo pháp luật đến các trụ sở Công an gần nhất.

    – Xử lý các hành vi vi phạm, gây rối trật tự an ninh, vi phạm quy định về an toàn cháy nổ, báo cáo trực tiếp với Công an địa phương.

    – Tham gia và hỗ trợ lực lượng Công an, cơ quan chức năng truy bắt tội phạm, kiểm tra tạm trú tạm vắng phát hiện nhanh chóng các đối tượng có dấu hiệu khả nghi báo ngay cho cơ quan chức năng biết và xử lý kịp thời.

    Nghĩa vụ của bảo vệ dân phố

    – Nắm bắt tình hình an ninh, trật tự, các vụ việc mâu thuẫn tranh chấp trên địa bàn phường. Báo cáo ngay cho cơ quan Công an, chính quyền địa phương kịp thời đưa ra biện pháp phòng ngừa, hòa giải đôi bên tránh gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

    – Tuyên truyền, phổ biến người dân địa phương nâng cao ý thức cảnh giác, phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội. Tuân thủ các quy định, nội quy về đảm bảo an toàn an ninh xã hội, cùng nhau xây dựng gia đình văn hóa, địa phương văn minh, an toàn.

    – Đôn đốc nhắc nhở người dân thực hiên các quy định về đăng ký giấy tờ, hộ khẩu, sử dụng đất đai,… theo đúng quy định pháp luật được ban hành.

    – Quản lý vũ khí, công cụ hỗ trợ giữ gìn trật tự công cộng, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.

    – Kịp thời có mặt hỗ trợ và báo ngay cho Công an địa phương khi có tình huống rủi ro gây ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản người dân địa phương.

    – Thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa phòng chống tội phạm, bảo vệ an toàn xã hội theo đúng quy định pháp luật.

    Xã hội ngày càng rối loạn và cần có lực lượng có đủ quyền hạn chuyên môn đảm nhận công tác bảo vệ, ổn định trật tự giúp người dân an tâm sinh sống. Vì vậy, bảo vệ dân phố là lực lượng nồng cốt không thể thiếu ở mọi địa phương ngăn chặn các đối tượng phạm tội, gây hại đến tài sản tính mạng con người, đảm bảo cuộc sống con người được an toàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ , Tổ Chức Của Bệnh Viện Đa Khoa Hạng Iii
  • Ngân Hàng Á Châu Acb
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn
  • Nhiệm Vụ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Địa Đạo Củ Chi Điểm Hẹn Lễ Hội Truyền Thống
  • Trao Đổi Về Nhiệm Vụ Chi Bộ Tổ Dân Phố Các Phường

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Hoạt Chi Bộ Ở Thôn, Bản, Tổ Dân Phố: Bám Sát Thực Tiễn, Nhân Rộng Cách Làm Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Lãnh Đạo Của Chi Bộ Tổ Dân Phố Tại Đảng Bộ Phường Thạch Bàn
  • Đảng Bộ Phường Gia Thụy : Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Tổ Dân Phố
  • Chi Bộ Công An Phường Phúc Đồng Tăng Cường Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Công Đoàn Cơ Sở Trong Doanh Nghiệp Ngoài Nhà Nước
  • Văn bản hướng dẫn số 17 HD/TU ngày 31-5-2004 của Thành ủy là sự chỉ đạo rất trúng, rất kịp thời về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ tổ dân phố – loại hình chiếm 80-90% trong tổng số các chi bộ trực thuộc Đảng bộ phường. Qua hai năm thực hiện hướng dẫn, với những đặc điểm của chi bộ tổ dân phố trong khu tập thể, 100% đảng viên đã nghỉ hưu, tôi xin mạnh dạn góp ý kiến như sau.

    Hướng dẫn số 17 đề ra 5 nhiệm vụ của chi bộ tổ dân phố. Nhiệm vụ 1 là lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng. Theo tôi, đó không phải là nhiệm vụ, mà là một trong ba mặt (nội dung) công tác của các chi ủy, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ của mình (công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra). Nhiệm vụ 2 là lãnh đạo phát triển sản xuất, kinh doanh, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo tôi, việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân là đúng; nhưng lãnh đạo phát triển sản xuất, kinh doanh là không phù hợp đối với chi bộ tổ dân phố trong khu tập thể mà nhân dân hầu hết là cán bộ nghỉ hưu, con cái đi học, đi làm ở cơ quan Nhà nước hoặc công ty tư nhân, một số ít làm các nghề tự do và buôn bán vặt, bán quà sáng; thảng hoặc có 1- 2 công ty tư nhân nhỏ, thường giao dịch thẳng với phường.

    Nhiệm vụ 3 là lãnh đạo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và công tác quốc phòng. Đề ra nhiệm vụ này là đúng; nhưng đối với chi bộ tổ dân phố không cần nêu thành một nhiệm vụ riêng mà đưa vào nội dung nhiệm vụ của chi bộ lãnh đạo nhân dân tổ dân phố. Nhiệm vụ 5, không nên ghi câu “đảng viên phải là người gương mẫu trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế”. Nội dung nhiệm vụ này là không sát thực tiễn, không phù hợp với chi bộ tổ dân phố mà 100% đã nghỉ hưu, không sản xuất, kinh doanh gì. Từ những phân tích trên, tôi xin được kiến nghị, chi bộ tổ dân phố trong khu tập thể có 3 nhiệm vụ: Lãnh đạo nhân dân tổ dân phố đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tốt đẹp; Lãnh đạo, xây dựng các tổ trưởng dân phố và các chi hội đoàn thể hoạt động có hiệu quả cao; Lãnh đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh.

    Trong 3 nhiệm vụ đó, nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân tổ dân phố là trung tâm, là nhiệm vụ chính trị của chi bộ tổ dân phố. Nhiệm vụ thứ 2 và 3 nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ 1. Nội dung cụ thể của nhiệm vụ này là lãnh đạo nhân dân tổ dân phố tự giác thực hiện nghĩa vụ công dân và chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Đảng, chính quyền địa phương. Thường xuyên nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trước những diễn biến của tình hình xã hội trong nước và thế giới; phát hiện nêu gương tốt, góp ý uốn nắn những biểu hiện sai trái trong nhân dân; những vấn đề vượt khả năng của chi bộ thì phản ánh lên phường. Đồng thời chống đọc, luân chuyển những tài liệu ngoài luồng; cảnh giác, phát hiện, đấu tranh với những luận điệu, âm mưu “diễn biến hòa bình”; phát hiện những biểu hiện tham nhũng, nhũng nhiễu trên địa bàn; đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, xa dân của cán bộ, đảng viên trong bộ máy chính quyền; chăm lo giải quyết những nhu cầu vật chất, tinh thần thiết thực của nhân dân tổ dân phố.

    Chi bộ tổ dân phố phải quan tâm đến số hộ nghèo, động viên nhân dân tự lo giải quyết chính đáng cuộc sống, việc làm cho gia đình. Tôn trọng, khuyến khích nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; quy ước của tổ dân phố do chính bà con xây dựng nên. Lãnh đạo nhân dân tự giác thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phấn đấu xây dựng nhiều gia đình văn hóa về thực chất, xây dựng tổ dân phố văn hóa, xây dựng con người Thủ đô văn minh thanh lịch. Lãnh đạo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vận động thanh niên thực hiện nghiêm Luật Nghĩa vụ quân sự. Thực hiện xây dựng và động viên lực lượng an ninh trên địa bàn tích cực phòng chống, ngăn chặn các tệ nạn xã hội; nhất là ma túy, cờ bạc, mại dâm, mê tín dị đoan, trộm cướp…

    (Bí thư Chi bộ K3-5, phường Thành Công)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hưng Yên: Hiệu Quả Thực Hiện Quy Chế Phối Hợp Giữa Bí Thư Chi Bộ Với Trưởng Thôn, Khu Phố
  • Tphcm: Hoàn Thành Việc Thực Hiện Không Tổ Chức Chi Bộ Cơ Quan Phường, Xã, Thị Trấn
  • Tổ Chức Chi Bộ Đảng Ở Thôn Ấp, Khu Phố: Những Bất Cập Khi Thực Hiện Mô Hình
  • Luận Văn Hay: Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Của Chi Bộ Khu Phố Ở Quận Gò Vấp
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Đảng Viên
  • Trách Nhiệm Công Dân Về Nghĩa Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Tham Khảo Bài 1 Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Mới
  • Tài Liệu Tham Khảo Bài 1 Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Mới Pp Bai 1 Bao Ve Tqvn Xhcn Pptx
  • Chủ Trương Bảo Vệ Tổ Quốc Của Đảng Trong Thời Kỳ Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Đất Nước
  • Tăng Cường Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • 7 Nhiệm Vụ Của Nghị Quyết 35
  • Quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong xây dựng LLVT thuộc phạm trù đạo đức và ý thức xã hội, là thành tố hết sức quan trọng về tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Nghĩa vụ BVTQ vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm thiêng liêng, đòi hỏi mọi công dân phải chấp hành thực hiện nghiêm những quy định của Hiến pháp và pháp luật.

    Quan niệm và nghĩa vụ tạo thành chỉnh thể vừa tự giác, vừa bắt buộc đối với mọi công dân trong thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm BVTQ, gắn liền với quyền của công dân trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa công dân với tổ chức, giữa công dân với nhau; đi liền và đặt trong mối quan hệ với khái niệm đất nước, Tổ quốc, Nhà nước… Chúng ta BVTQ dựa vào sức mạnh của toàn dân, trong đó LLVT làm nòng cốt. Để BVTQ tất yếu phải tổ chức, xây dựng LLVT vững mạnh.

    Quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong xây dựng LLVT bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phát triển đến đỉnh cao trong thời đại Hồ Chí Minh. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc trường kỳ gian khổ, quan niệm về nghĩa vụ BVTQ, tham gia LLVT trở thành ý thức tự giác của lớp lớp thế hệ người Việt Nam, thành lẽ sống thiêng liêng cao cả, thành sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn… Ý chí chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn gấm vóc của dân tộc Việt Nam hết sức mạnh mẽ, kiên cường, trở thành truyền thống quý báu ngàn đời. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm kéo dài 30 năm, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhiều gia đình có 3-4 thế hệ tham gia kháng chiến; người trước ngã xuống, người sau đứng lên; “lớp cha trước, lớp con sau” lên đường tòng quân ra trận đánh giặc, cứu nước.

    Ngày nay, quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân có những thuận lợi cơ bản là: Đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và BVTQ. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo ra hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn nhân lực… trở thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước ở các chặng đường tiếp theo. Đời sống đông đảo nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế đất nước được nâng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc; sức mạnh BVTQ lớn mạnh hơn nhiều so với trước đây; lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chủ nghĩa yêu nước tiếp tục được vun đắp, khơi dậy bằng sức mạnh ý chí thống nhất của toàn dân tộc…

    Nếu như trong chiến tranh, thiên hướng trội của xã hội là được tòng quân ra chiến trường đánh giặc, cứu nước, cứu nhà thì trong nền kinh tế thị trường, có thể thấy, thiên hướng trội lại là lợi ích. Bởi vậy, để củng cố, nâng cao nhận thức về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ các chủ trương, giải pháp về chính trị, kinh tế, luật định, về văn hóa, xã hội…; trong đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

    Một là, triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc chủ trương, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và từng người dân đối với nhiệm vụ BVTQ…”.

    Trước hết, cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò công tác giáo dục quốc phòng toàn dân (QPTD). Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, nhằm nâng cao nhận thức về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức chính trị-xã hội và toàn dân với nhiệm vụ BVTQ. Chủ thể chịu trách nhiệm lãnh đạo giáo dục QPTD là các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở; trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện là chính quyền các cấp, cơ quan quân sự làm tham mưu. Trong nền kinh tế thị trường, các quan niệm về chuẩn mực, thang giá trị… tuy có vận động phát triển, song trong tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam vẫn luôn đề cao các giá trị về đạo lý và tình nghĩa, nhất là các giá trị về sự cống hiến, về danh dự, về đạo đức… Do đó, các hoạt động văn hóa, thông tin tuyên truyền cần hướng vào tôn vinh những giá trị tiêu biểu về công lao cống hiến, hy sinh, đóng góp của các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và BVTQ ngày nay.

    Hai là, xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Một câu hỏi đặt ra là vì sao việc thực hiện nghĩa vụ BVTQ, xây dựng LLVT của nhân dân ta lại phát triển đến đỉnh cao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Câu trả lời có tính thuyết phục rất cao, là: Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm; mục tiêu lãnh đạo của Đảng đánh đuổi giặc ngoại xâm là để nhân dân ta thoát khỏi sự đàn áp, áp bức, bất công; để toàn thể dân tộc ta được sống trong hòa bình, độc lập, thống nhất; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong cuộc đấu tranh đó, cán bộ, đảng viên của Đảng đều là những người tiêu biểu cả về trí tuệ, phẩm chất, lối sống; gương mẫu đi tiên phong trên mọi lĩnh vực của cuộc đấu tranh…

    Ngày nay, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống của nhân dân được nâng lên hơn nhiều so với trước, nhưng những yếu kém, tiêu cực; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào chế độ. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải tập trung xây dựng các tổ chức đảng, cơ quan công quyền các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nguy cơ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo động lực nâng cao nhận thức về trách nhiệm BVTQ của toàn dân.

    Ba là, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh… theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống xâm lược, trách nhiệm và nghĩa vụ của thanh niên là phải tham gia LLVT, toàn dân đánh giặc, đóng góp sức người, sức của cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, BVTQ. Ngày nay, đất nước hòa bình, một số quan niệm, cơ chế, chính sách từ thời chiến tranh đã có những thay đổi lớn, thậm chí không còn phù hợp. Việc điều tiết các lợi ích, các mối quan hệ xã hội đều phải thực hiện theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

    Thực tế, một công nhân, một sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp (nhất là ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) có thu nhập khá cao, trong khi một chiến sĩ làm nghĩa vụ quân sự phải công tác trong “môi trường lao động đặc biệt”, xa nhà, thực hiện nhiệm vụ nặng nề và thiêng liêng… nhưng phụ cấp và một số chính sách bảo đảm còn khiêm tốn, thậm chí chưa thỏa đáng. Chế độ chính sách đối với chiến sĩ dân quân tự vệ, theo quy định của luật hiện hành cũng còn thấp, nhất là phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách của từng địa phương. Chính sách hậu phương quân đội cũng còn những bất cập, như việc giải quyết nhà ở cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng; việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho chiến sĩ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự…

    Thực trạng trên đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn, thiết thực động viên toàn dân, nhất là thanh niên tự giác chấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật về thực hiện nhiệm vụ BVTQ, xây dựng LLVT trong thời kỳ mới, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhất là trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình khu vực, thế giới và những nguy cơ, yếu tố tác động thường xuyên, trực tiếp đến nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng LLVT và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Đại tá DƯƠNG VĂN THỰC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Quốc Phòng, An Ninh Trong Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Quốc Phòng
  • Xây Dựng Tp Thanh Hóa Giàu Đẹp, Văn Minh, Hiện Đại, Là Động Lực Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Văn Hóa, Con Người Là Nhiệm Vụ Quan Trọng, Thường Xuyên Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên Nông Dân
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100