Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Giải Thích Hiến Pháp, Luật, Pháp Lệnh Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Góp Ý Sửa Đổi Dự Thảo Hiến Pháp 1992 Về “hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia”
  • Hội Đồng Bầu Cử ‘bất Ngờ’ Việc Bà Nguyệt Hường Có Hai Quốc Tịch
  • Việc sáp nhập các quận 2, 9 và Thủ Đức để thành lập TP.Thủ Đức trực thuộc chúng tôi sẽ được thực hiện theo lộ trình như thế nào?

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, xã và thành lập TP.Thủ Đức thuộc TP.HCM.

    Chiều 9.12, với 100% ủy viên có mặt tán thành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập TP.Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 1.3.2021.

    Chiều 9.12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thành lập TP.Thủ Đức thuộc TP.HCM.

    Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang làm thủ tục để trình Quốc hội bãi nhiệm ông Phạm Phú Quốc tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10 tới đây, theo Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc.

    Đây là kiến nghị của Ủy ban Kinh tế khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả phiên giải trình thực trạng, giải pháp phát triển ngành điện lực mới đây.

    Đánh giá công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Bộ Công an khẳng định, tình trạng lộ lọt bí mật nhà nước trên không gian mạng ngày càng trở nên nghiêm trọng.

    Theo thông tin từ Văn phòng Quốc hội, chiều nay (10.9) sẽ khai mạc phiên họp thứ 48 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Chủ nhiệm ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, bà Nguyễn Thúy Anh cho hay, đa số ý kiến trong ủy ban tán thành việc quy định điều kiện chặt chẽ hơn đối với việc công nhận liệt sĩ thời bình.

    Ủy ban Pháp luật Quốc hội đề nghị kéo dài việc sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy đến hết năm 2025 trong lúc chờ hoàn thiện hệ thống quản lý cư trú điện tử mà Bộ Công an đang triển khai.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý thông qua nghị quyết áp trần giá sách giáo khoa. Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, đây là vấn đề tác động lớn, có thể phải xin ý kiến cấp có thẩm quyền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Của Ban Dân Nguyện
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Dân Nguyện
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Của Ban Dân Nguyện Do Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Tổ Chức Ban Dân Nguyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia Và Việc Sửa Đổi Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Có Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 1050/2015/ubtvqh13 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Viện Nghiên Cứu Lập Pháp Do Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 618/2013/ubtvqh13 Sửa Đổi Nghị Quyết 417/2003/nq
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Chủ Tịch Nước Như Thế Nào?
  • Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng Làm Việc Với Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Phân Tích Vai Trò Hoạt Động Giám Sát Của Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước Đối Với Việc Đảm Bảo Pháp Chế Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Ủy ban thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn gì?

      Ủy ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

      1. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội;

      2. Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

      3. Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

      4. Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

      5. Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội;

      6. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước;

      7. Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng Nhân dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp Hội đồng Nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân;

      8. Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

      9. Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp Quốc hội không thể họp được và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

      10. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

      11. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

      12. Phê chuẩn đề nghi bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

      13. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

      Theo Tài liệu Hỏi – Đáp về Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Cổng Điện Tử Nghệ An
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd Cấp Tỉnh
  • Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
  • Bài 17. Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 575/ubtvqh12 Năm 2008 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Công Tác Đại Biểu Do Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Trong Hoạt Động Đối Ngoại
  • Bài 17. Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd Cấp Tỉnh
  • Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội về ngân sách nhà nước được quy định thế nào? Chào Ban biên tập Thư ký luật, tôi là Trang, đang sinh sống tại Hải Dương. Tôi có một thắc mắc rất mong nhận được câu trả lời của Ban biên tập. Ban biên tập cho tôi hỏi nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội về ngân sách nhà nước được quy định thế nào? Vấn đề này được quy định ở đâu? Mong nhận được câu trả lời của Ban biên tập. Xin cám ơn. (Ngọc Trang_093***)

      Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội về ngân sách nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 20 Luật Ngân sách Nhà nước 2022, theo đó:

      1. Ban hành pháp lệnh, nghị quyết về lĩnh vực tài chính – ngân sách theo quy định của pháp luật.

      2. Cho ý kiến về các dự án luật, các báo cáo và các dự án khác về lĩnh vực tài chính – ngân sách do Chính phủ trình Quốc hội.

      3. Ban hành Quy chế lập, thẩm tra, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.

      5. Quyết định về:

      a) Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách nhà nước;

      b) Bổ sung dự toán số tăng thu ngân sách nhà nước; phân bổ, sử dụng số tăng thu, số tiết kiệm chi của ngân sách trung ương, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

      6. Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính – ngân sách.

      7. Đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực tài chính – ngân sách trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, trình Quốc hội tại kỳ họp gần nhất quyết định việc hủy bỏ các văn bản đó.

      8. Bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực tài chính – ngân sách trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

      9. Bãi bỏ các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về lĩnh vực tài chính – ngân sách trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật 57/2014/qh13 Tổ Chức Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Dân Nguyện
  • Thường Vụ Quốc Hội Không Đồng Ý Tách Vụ Dân Nguyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn Đại Biểu Quốc Hội
  • Cơ Cấu Đại Biểu Và Vấn Đề Thực Hiện Các Chức Năng Của Quốc Hội
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Trong Hoạt Động Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 17. Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd Cấp Tỉnh
  • Cổng Điện Tử Nghệ An
  • Quốc Hội Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động đối ngoại được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập, tôi là Hoàng Oanh, giáo viên đã về hưu hiện đang sinh sống và làm việc tại Đống Đa, Hà Nội. Có thắc mắc tôi muốn nhờ Ban biên tập giải đáp và cung cấp thông tin giúp, cụ thể là nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động đối ngoại được quy định như thế nào? Tôi có thể tìm hiểu vấn đề này tại văn bản pháp luật nào? Mong sớm nhận được phản hồi từ Ban biên tập, chân thành cảm ơn!

      Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động đối ngoại được quy định tại Điều 4 Nghị quyết 1170/2016/NQ-UBTVQH13 Quy chế hoạt động đối ngoại của Quốc hội, cụ thể như sau:

      – Trong thời gian Quốc hội không họp, xem xét báo cáo định kỳ của Chính phủ về công tác đối ngoại; cho ý kiến về những vấn đề thuộc chính sách cơ bản về đối ngoại của Nhà nước trước khi trình Quốc hội.

      – Quyết định việc gia nhập hoặc rút khỏi tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực; quyết định đăng cai tổ chức hội nghị liên nghị viện thế giới và khu vực tại Việt Nam.

      – Quyết định việc thành lập, quyết định tổ chức và hoạt động của tổ chức nghị sĩ hữu nghị Việt Nam.

      – Thông qua chương trình hoạt động đối ngoại hằng năm của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xem xét, quyết định dự toán ngân sách hoạt động đối ngoại.

      – Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động đối ngoại của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tổng thư ký Quốc hội, các nhóm nghị sĩ hữu nghị, nhóm nữ nghị sĩ, nhóm nghị sĩ trẻ.

      – Xem xét, đánh giá kết quả thực hiện chương trình hoạt động đối ngoại hàng năm của Quốc hội; xem xét báo cáo kết quả chuyến thăm, làm việc của đoàn Quốc hội tại nước ngoài và đoàn Quốc hội nước ngoài, tổ chức quốc tế đến thăm, làm việc với Quốc hội Việt Nam; xem xét báo cáo kết quả các hội nghị quốc tế do Quốc hội đăng cai tổ chức; xem xét báo cáo hoạt động đối ngoại định kỳ của các cơ quan của Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội và Văn phòng Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Kiểm toán nhà nước.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 575/ubtvqh12 Năm 2008 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Công Tác Đại Biểu Do Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Ngân Sách Nhà Nước
  • Luật 57/2014/qh13 Tổ Chức Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Dân Nguyện
  • Thường Vụ Quốc Hội Không Đồng Ý Tách Vụ Dân Nguyện
  • Chức Năng Giải Thích Hiến Pháp, Luật, Pháp Lệnh Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Góp Ý Sửa Đổi Dự Thảo Hiến Pháp 1992 Về “hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia”
  • Hội Đồng Bầu Cử ‘bất Ngờ’ Việc Bà Nguyệt Hường Có Hai Quốc Tịch
  • Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia Họp Phiên Họp Thứ Nhất
  • Thứ tư, 24 Tháng 7 2022 10:06

    (LLCT) – Trong cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là một thiết chế quan trọng không chỉ có vai trò như người đứng đầu tập thể cơ quan lập pháp, giữa các kỳ họp của Quốc hội, mà còn có quyền ban hành pháp lệnh và giải thích luật, pháp lệnh. Trong điều kiện Quốc hội chuyển sang hoạt động thường xuyên, theo hướng chuyên nghiệp thì chức năng giải thích luật và pháp lệnh sẽ cần có sự thay đổi.

    1. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong điều kiện Quốc hội không làm việc thường xuyên

    Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Khoản 2 Điều 74), Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội 2014. Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 91 Hiến pháp l992), Điều 7 Luật Tổ chức Quốc hội 2001. Hiến pháp Việt Nam 1980 quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước (Điều 100). Còn theo Hiến pháp 1959, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, có nhiệm vụ giải thích pháp luật (Điều 53). Như vậy có thể thấy, quy định về thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh gần như không thay đổi.

    Chỉ duy nhất Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước ta là chưa có quy định về thẩm quyền giải thích và cũng chưa quy định cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, còn trong các Hiến pháp kế tiếp – từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp 2013, thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh đều được giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (mặc dù tên gọi và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này có thay đổi và khác nhau theo quy định của các Hiến pháp).

    Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về hoạt động lập pháp thì việc giải thích pháp luật thuộc chức năng của chính cơ quan ban hành pháp luật. Theo quan điểm này, người làm ra luật, hơn ai hết, có khả năng hiểu và xác định đúng nhất hiệu lực, phạm vi áp dụng của đạo luật(1); cùng với việc lựa chọn mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật ở nước ta, Quốc hội giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội – cơ quan thường trực của Quốc hội – thực hiện việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Việc giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện thẩm quyền này là xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta: “Quyền lực nhà nước là thống nhất”. Theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp Việt Nam 2013 thì “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”. Tính chất quyền lực nhà nước là thống nhất được thể hiện không chỉ trong việc ban hành mà cả trong việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Việc giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội một số thẩm quyền về lập pháp, như ban hành pháp lệnh, giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh không làm mất đi tính tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội vì Ủy ban Thường vụ Quốc hội không là cơ quan nào khác mà chính là cơ quan thường trực của Quốc hội. “Việc thành lập ra cơ quan thường trực của cơ quan lập pháp giữa hai kỳ họp có thẩm quyền to lớn để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp bằng cách thông qua các pháp lệnh và các quyết định khác là một loại cơ quan đặc biệt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa”(2).

    Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định:

    1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc kiến nghị của đại biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

    2. Tùy theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội xây dựng dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

    3. Dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh với tinh thần và nội dung quy định được giải thích của Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

    Khi nhận được đề nghị giải thích, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường giao một cơ quan soạn thảo Dự thảo Nghị quyết giải thích, giao Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua Dự thảo Nghị quyết giải thích. Với trình tự như vậy, văn bản giải thích của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có các đặc điểm sau đây:

    – Không bị giới hạn những vấn đề cần giải thích;

    – Có giá trị bắt buộc thi hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và công dân;

    – Duy nhất có hiệu lực pháp luật so với các văn bản giải thích khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    Chúng ta có thể thấy, hoạt động giải thích tuy không bị hạn chế về những vấn đề được đưa ra giải thích nhưng lại hoàn toàn bị động theo yêu cầu của các cơ quan kiến nghị giải thích và không được định trước trong kế hoạch hay chương trình giải thích pháp luật. Còn việc hoạt động ban hành pháp lệnh tuy bị hạn chế bởi chương trình lập pháp được Quốc hội thông qua nhưng nó lại được chủ động qua việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội được lập dự án về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và trình Quốc hội quyết định. Những hạn chế này được quy định tại khoản 1 Điều 70 Hiến pháp 2013: “Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật”; và tại khoản 2 Điều 74 Hiến pháp 2013 và khoản 2 Điều 48 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao”.

    Vậy cho đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lịch sử của mình đã bao nhiêu lần sử dụng quyền hiến định này?

    Ba trường hợp còn lại, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giải thích pháp luật trên cơ sở cân nhắc đến sự thay đổi của tình hình hiện tại so với các quy định pháp luật được ban hành trước đó. Các giải thích này của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành mang nặng tính hướng dẫn, quy định chi tiết, có những nội dung được quy định thêm, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Như vậy là, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giải thích theo phương pháp “lập pháp bổ sung”, tức là giải thích nhưng gắn liền với việc quy định thêm, loại giải thích này chỉ ở cơ quan có quyền xây dựng pháp luật mới được làm. Xét thực tế, đó là xây dựng pháp luật chứ không phải giải thích pháp luật. Như vậy điều này có thể không đúng với tinh thần mà Hiến pháp muốn đặt ra cho chủ thể giải thích pháp luật ở nước ta. Quyền hạn và nhiệm vụ giải thích pháp luật chắc chắn phải khác quyền hạn và nhiệm vụ ban hành pháp luật. Từ “giải thích” trong Hiến pháp, dù không được định nghĩa nhưng chắc hẳn không thể bao hàm cả nghĩa làm luật, xây dựng pháp luật. Giải thích pháp luật không thể là xác lập quy phạm mới mà phải là xác định nghĩa của quy phạm đã có rồi(3).

    Như vậy, với tư cách là chủ thể duy nhất có quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh nhưng rất ít khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, mà hầu hết luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành đi được vào đời sống đều thông qua chủ thể khác ban hành các văn bản hướng dẫn, mà trong đó ít nhiều chứa đựng nội dung giải thích pháp luật (Chính phủ, các Bộ…). Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì Ủy ban Thường vụ Quốc hội không phải là chủ thể quan trọng của sự áp dụng pháp luật. Một khi không là chủ thể áp dụng sẽ không bao giờ cảm thấy sự khó khăn trong áp dụng khi có hơn một cách hiểu về nội dung của quy phạm.

    Vì vậy, cũng có quan điểm cho rằng Chính phủ, và các Bộ cũng có thẩm quyền giải thích pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động giải thích pháp luật của Chính phủ, và các Bộ chưa có cơ sở pháp lý. Giải thích pháp luật của Chính phủ, các Bộ, trên thực tế là diễn giải, thuyết minh một văn bản pháp luật nào đó để cho các cơ quan, cá nhân, tổ chức thi hành. Sản phẩm giải thích pháp luật của Chính phủ, các Bộ,… xen lẫn trong văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật, rất khó phân biệt đâu là giải thích, đâu là quy định chi tiết, đâu là hướng dẫn. Phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật đã gây nhiều phức tạp, phải giải thích quá nhiều quy định pháp luật mà chưa có quy trình riêng lại càng phức tạp hơn, đó là đặc điểm thuộc bối cảnh của hoạt động giải thích pháp luật của Chính phủ, các Bộ… Có thể bối cảnh này đã dẫn đến tình trạng: Chính phủ, các Bộ, … giải thích pháp luật trong sự không thể kiểm soát nổi. Thực chất, chỉ nên coi nội dung giải thích pháp luật trong Nghị định, Thông tư là yếu tố giải thích pháp luật, mà không phải là giải thích pháp luật theo đúng nghĩa đích thực của hoạt động này, không phải là giải thích pháp luật chính thức. Yếu tố giải thích pháp luật đó nhằm làm sáng tỏ quy phạm pháp luật để thi hành được trôi chảy, chứ không nhằm vào một tình huống cụ thể nào. Theo quy luật tự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, văn bản quy định chi tiết sẽ dần ít đi, đồng thời về mặt chủ quan, Nhà nước cũng không khuyến khích loại văn bản này, trái lại, có chủ trương giảm bớt. Điều này một lần nữa xác nhận rằng quy luật hoạt động của giải thích pháp luật là tập trung về nơi thực hiện, đặc biệt là nơi áp dụng pháp luật chứ không phải nơi xây dựng, ban hành pháp luật. Bên cạnh việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì giải thích các văn bản quy phạm pháp luật cũng cần phải được quy định. Chỉ có như vậy, mới khắc phục được tình trạng đánh đồng hoạt động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ với việc giải thích pháp luật.

    2. Chức năng giải thích pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong một Quốc hội ngày càng trở nên chuyên nghiệp

    Trong nhà nước pháp quyền, giải thích pháp luật là nhân tố không tách rời với việc đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Nhà nước ta đang vận động và phát triển theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, thì việc giải thích pháp luật nhất định phải đổi mới và hoàn thiện một cách căn bản phù hợp với xu hướng chung của nhân loại(4).

    Từ quan điểm trên ta có thể thấy, không phải lập pháp hay hành pháp mà tư pháp mới là cơ quan hiểu rõ và gắn liền với nhu cầu giải thích pháp luật; là cơ quan giải thích pháp luật mang tính khách quan, trung thực và thiết thực nhất. Điều này cũng phù hợp với tiến trình cải cách thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền đến năm 2010, đã được Đảng ta đề ra(5).

    Thực tiễn cho thấy rằng, một quy tắc của quy phạm có thể được hiểu ở nhiều giác độ khác nhau, các chủ thể có thể áp dụng theo cách hiểu đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để có được quyền lợi về mình. Một khi giữa họ không có mâu thuẫn về quyền lợi thì sẽ không có vấn đề gì. Quốc hội – với tư cách là một cơ quan lập pháp – có quyền sửa đổi các đạo luật đã được Quốc hội ban hành ra, theo một trình tự nhất định. Khi đạo luật đã được sửa đổi các cơ quan áp dụng phải theo tinh thần của đạo luật mới chứ không phải đạo luật cũ. Đó là quyền lập pháp chứ không phải là quyền giải thích. Như vậy, quyền làm luật là một chuyện, còn quyền giải thích nó để áp dụng, lại là một chuyện khác. Đó là hai chuyện khác nhau, và không nên nhầm lẫn.

    Việc giải thích phải được áp dụng trong thực tế mới có ý nghĩa, nếu giải thích mà không áp dụng, thì việc giải thích không có ý nghĩa. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích một văn bản luật nào đó, tức là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thực hiện quyền làm pháp lệnh của mình để thay thế cho một pháp lệnh trước đó.

    Muốn giải thích được điều luật một cách chính xác, thì phải trăn trở với nó. Và muốn trăn trở thì buộc phải đặt việc giải thích trong một vụ việc cụ thể, gắn với các sự kiện pháp lý. Chỉ có Toà án với nguyên tắc nghĩa vụ phải xét xử của thẩm phán (Obligation de juger) mới có điều kiện cho việc giải thích này. Điều này có nghĩa là giải thích điều luật phải gắn với một trường hợp cụ thể, tức là phải gắn với hoạt động xét xử một vụ việc cụ thể, và có thể được áp dụng cho những trường hợp tương tự sau này.

    Nếu như để quyền giải thích Hiến pháp trong thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì đã lầm lẫn giữa quyền tư pháp và lập pháp, không bảo đảm được nguyên tắc về sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như trong Điều 2 của Hiến pháp của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hiện hành quy định(6). Nói về tầm quan trọng của sự cần phải phân biệt giữa lập pháp và tư pháp, ông Sandra Day O’ Connor cho rằng:

    “Khi vai trò của những nhà lập pháp và quan tòa được trao cho hai cơ quan khác nhau, sự quản lý tùy tiện sẽ không còn. Khi quyền làm luật được tách ra khỏi quyền hiểu và áp dụng luật, thì chính nền tảng của pháp quyền sẽ được tăng cường, khi đó các tranh chấp được điều chỉnh trên cơ sở luật đã được xây dựng từ trước”(7).

    Tất cả những điều được phân tích ở trên nói lên sự đặc biệt của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, không là một loại cơ quan phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Việc tồn tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội luôn luôn gắn bó với Quốc hội. Về cơ bản, trừ một số ít nhiệm vụ mang nặng tính chất của Nguyên thủ quốc gia, phần nhiều còn lại là gắn bó với Quốc hội. Thực tiễn Việt Nam do Quốc hội không hoạt động thường xuyên như nhiều nước khác nên cần phải có một cơ quan mang tính chất thường trực cho Quốc hội, có quyền giải quyết những nhiệm vụ quyền hạn Quốc hội, kể cả việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật giống như luật (tức là pháp lệnh).

    Phân tích vị trí, vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nghiệm Văn phòng Chính phủ, Giáo sư Đoàn Trọng Truyến viết: “Cơ quan quyền lực nhà nước tối cao (Quốc hội) lại ủy cái quyền tối cao ấy cho một cơ quan do mình bầu ra là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong khi Quốc hội không họp. Cơ quan này có ba quyền lớn thuộc quyền lực tối cao. Đó là: Quyền lập pháp ra pháp lệnh (vì pháp lệnh thuộc quyền lực tối cao). Quyền nhân sự đối với Chính phủ (Phó Thủ tướng, Bộ trưởng) và quyền giám sát giống như Quốc hội. Thực chất Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Hiến pháp 1992 là Hội đồng Nhà nước của Hiến pháp 1980, trừ một số nhiệm vụ giao cho Chủ tịch nước”(8).

    Như vậy, sự hiện diện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam là gắn liền với vị trí, vai trò của Quốc hội, khi mà Quốc hội chưa trở thành một cơ quan hoạt động một cách thường xuyên. Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa là thực thể của Quốc hội, vừa là cơ quan có một vị trí tương đối độc lập, gắn liền với vị trí, chức năng của Nguyên thủ quốc gia, đảm trách các công việc thường trực, đảm bảo các hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Trong tương lai, một khi Quốc hội trở thành hoạt động chuyên trách thường xuyên, những phần việc mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội đảm trách thay mặt cho Quốc hội ngày sẽ một giảm đi.

    (1) Giải thích pháp luật ở Canađa, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1992, tr.246.

    (2) Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam – Những khía cạnh pháp lý theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1992, tr.53-54.

    (3) Phạm Thị Duyên Thảo: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ luật học 2012, bảo vệ thành công tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.

    (4) Trần Ngọc Đường: Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh của nước ta trong thời gian tới từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội, Hội thảo giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh theo Hiến pháp 2013, Viện nghiên cứu lập pháp, 2013.

    (5) Hoàng Văn Tú: Giải thích Pháp luật – Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 127, tháng 7-2008.

    (6) Nguyễn Đăng Dung: Kiến nghị hoàn thiện chế định giải thích Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp 2013, Hội thảo giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh theo Hiến pháp 2013, Viện nghiên cứu lập pháp, 2013.

    (7) Remarks by Sandra Day O’ Connor: The importance of Judicical Independence, Arab Judicical Forum, Manama, Bahrain, September 15, 2003.

    (8) Đoàn Trọng Truyến: Bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1997, tr.31.

    Đặng Phương Hải

    Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Của Ban Dân Nguyện
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Dân Nguyện
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Của Ban Dân Nguyện Do Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 1156/2016/ubtvqh13 Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Tổ Chức Ban Dân Nguyện
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Cho Ý Kiến Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd Cấp Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 1000/2020/ubtvqh14 Về Bộ Máy Giúp Việc Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Nghị Quyết 1074/2015/ubtvqh13 Về Bộ Máy Giúp Việc Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Mối Quan Hệ Giữa Quốc Hội Với Các Cơ Quan Nhà Nước Ở Trung Ương Theo Hiến Pháp Năm 2013
  • Luận Văn Đề Tài Tiêu Chí Và Yếu Tố Bảo Đảm Hiệu Quả Tính Đại Diện Của Quốc Hội
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quốc Hội
  • Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng.

    Về tên gọi của Dự thảo Nghị quyết thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh, hiện còn 2 ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất đề nghị ghi rõ tên của Nghị quyết này là: “Nghị quyết về việc thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh”. Ý kiến thứ hai đề nghị xác định tên gọi là “Nghị quyết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh”, bỏ cụm từ “thành lập”.

    Cho ý kiến về thẩm quyền thành lập Văn phòng, Tờ trình nêu 2 phương án giao Thường trực HĐND cấp tỉnh quyết định thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh sau khi thống nhất với Trưởng Đoàn, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội và phương án giao HĐND cấp tỉnh quyết định sau khi thống nhất với Trưởng Đoàn, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành lập để phù hợp với quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

    Về thẩm quyền thành lập, đa số ý kiến thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành với phương án giao HĐND có thẩm quyền quyết định việc thành lập cơ quan. Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh là cơ quan tương đương cấp sở, vì vậy cũng cần giao HĐND cấp tỉnh quyết định. Nếu giao cho Thường trực HĐND cấp tỉnh thành lập Văn phòng thì chưa thực sự phù hợp về mặt pháp lý bởi khoản 4 Điều 43 của Luật Tổ chức Quốc hội giao chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức và bảo đảm kinh phí hoạt động cho Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh là đã gián tiếp quy định thẩm quyền cho HĐND hoặc Uỷ ban nhân dân. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 6 và Điều 104 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Thường trực HĐND cấp tỉnh không có thẩm quyền này.

    Về vấn đề này, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho rằng, nếu là văn phòng tại địa phương thì giao HĐND cấp tỉnh quyết định là phù hợp nhưng đây là văn phòng phục vụ hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội – là cơ quan Trung ương mà Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội không nằm trong chính quyền địa phương, tương đương cấp sở vì vậy đề nghị quy định Thường trực HĐND và Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn thống nhất thành lập.

    Đối với quy định về số lượng và tên gọi các phòng, đa số ý kiến thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành với phương án thứ nhất nêu trong Tờ trình của Văn phòng Quốc hội, đó là Dự thảo Nghị quyết quy định cứng Văn phòng có 3 phòng và giao cho địa phương có thể quyết định thành lập thêm 01 phòng, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương.

    Phó chủ tịch Thường trực Tòng Thị Phóng và Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đề nghị cần căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương có thể quyết định thành lập thêm 01 phòng để phụ trách mảng công việc có tính chất tương đối độc lập, thuộc chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh và có khối lượng công việc yêu cầu phải bố trí tối thiểu là 05 đến 07 biên chế tùy vào từng thành phố loại 1, loại 2 và loại 3.

    Về số lượng trưởng, phó phòng, đa số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành với phương án 1 trưởng phòng và 2 phó phòng. Trưởng ban Dân nguyện Dương Thanh Bình đề xuất, biên chế của Văn phòng Đoàn sau khi hợp nhất không vượt quá số lượng biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng HĐND được cấp có thẩm quyền giao trước khi hợp nhất.

    Về thẩm quyền thành lập Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đề nghị giao HĐND quyết định vì theo quy định của Luật Chính quyền địa phương, Thường trực HĐND không có thẩm quyền này.

    Đối với kinh phí hoạt động, trụ sở, trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng đã quy định rõ giao cho chính quyền địa phương bố trí trụ sở của Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh. Kinh phí của Đoàn Đại biểu Quốc hội do Văn phòng Quốc hội giao cho Đoàn Đại biểu Quốc hội ở địa phương. Kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh do chính quyền địa phương đảm bảo.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia Và Kiểm Toán Nhà Nước Theo Hiến Pháp 2013
  • Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia Họp Phiên Họp Thứ Nhất
  • Hội Đồng Bầu Cử ‘bất Ngờ’ Việc Bà Nguyệt Hường Có Hai Quốc Tịch
  • Góp Ý Sửa Đổi Dự Thảo Hiến Pháp 1992 Về “hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia”
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Phường Như Thế Nào Trong Lĩnh Vực Giao Thông ?
  • Csgt Có Quyền Dừng Xe Kiểm Tra Hành Chính Khi Không Có Lỗi Không?
  • Chức Năng Điều Chỉnh Và Kiểm Soát (Stabilization Function) Của Tài Chính Công Là Gì?
  • Chức Năng Bày Tỏ Ý Kiến Của Kiểm Toán Là Gì? Cách Thể Hiện
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Doanh Nghiệp
  • 1. Là cơ quan tham mưu, giúp việc Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của đảng trong Đảng bộ tỉnh theo quy định của Điều lệ Đảng; thực hiện các nhiệm vụ do Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao.

    2. Là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng của Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

    1. Nghiên cứu, đề xuất và thực hiện

    a) Tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy được quy định trong Điều lệ Đảng, quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hằng năm do Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy quyết định.

    b) Chủ trì, phối hợp tham mưu xây dựng và triển khai tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy trong nhiệm kỳ và hằng năm theo quy định của Điều lệ Đảng; chuẩn bị các vụ việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, các đề án về công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ trình Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xem xét, quyết định theo thẩm quyền; các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát của Tỉnh ủy.

    c) Nghiên cứu, đề xuất ủy ban kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên theo quy định tại Điều 30 và Điều 32, Điều lệ Đảng; thực hiện trách nhiệm, thẩm quyền trong công tác phòng, chống tham nhũng theo quy định của Bộ Chính trị.

    d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy đề xuất Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy thành lập đoàn kiểm tra giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng; xem xét, xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

    đ) Đề xuất ý kiến đóng góp vào sự lãnh đạo, chỉ đạo chung của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong Đảng bộ.

    e) Thực hiện thông tin tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng.

    g) Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của Ủy ban kiểm tra và cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Thực hiện việc thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo quy định.

    2. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát

    a) Giúp Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đảng viên trong Đảng bộ tỉnh thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; giúp Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng cho tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp ủy trực thuộc và các cơ quan tham mưu, giúp việc cùng cấp; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra đảng.

    b) Kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới. Tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy theo Điều lệ Đảng quy định; quy chế làm việc, chương trình công tác kiểm tra, giám sát hằng năm.

    b) Với Văn phòng Tỉnh ủy giúp Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

    c) Với Ban Tổ chức Tỉnh ủy trong công tác cán bộ theo quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phân cấp quản lý cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử; trong việc quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; tham gia ý kiến về các trường hợp cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan chức năng đề nghị khen thưởng theo phân cấp.

    5. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy giao

    a, Bố trí, phân công cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và của cấp ủy. Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, 1 năm.

    b, Thực hiện thông tin tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng.

    c, Kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và ủy ban kiểm tra các cấp ủy trực thuộc theo các quy định của Đảng.

    d, Xây dựng, quản lý sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy theo thẩm quyền.

    đ, Giúp Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy duyệt kế hoạch công tác hàng năm của các phòng và văn phòng thuộc cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

    e, Bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác của Ủy ban Kiểm tra và cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

    g, Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của Ủy ban Kiểm tra và cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Thực hiện việc thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo quy định.

    h, Giúp Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao.

    (Theo Quy định số 2682 -QĐi/TU ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Chế Làm Việc Của Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Khóa Ix
  • Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubkt Huyện Uỷ
  • Bài 9: Kiểm Tra Xử Phạt Và Cưỡng Chế Hành Chính Ở Cơ Sở Ts. Bùi Quang Xuân
  • Gợi Ý Trả Lời Ôn Tập Môn Khoa Học Hành Chính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung, Phương Pháp Công Tác Của Tổ Trưởng Tổ Công Đoàn
  • Thành Lập Tổ Công Đoàn Và Công Nhận Tổ Trưởng Công Đoàn
  • Một Số Phương Pháp Hoạt Động Tổ Trưởng Công Đoàn Cần Biết
  • Quyết Định: Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Cơ Quan Chuyên Môn Về Nội Vụ Thuộc Ubnd Tỉnh, Ubnd Cấp Huyện Trang Điện Tử Sở Nội Vụ Tỉnh Thanh Hóa
  • Qđ: Về Việc Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Tổ Chức Và Biên Chế Của Phòng Nội Vụ Huyện Đình Lập (01/2016/qđ
  • Ủy ban kiểm tra là cơ quan kiểm tra của công đoàn được thành lập ở các cấp công đoàn, do ban chấp hành công đoàn cấp đó bầu ra và phải được công đoàn cấp trên trực tiếp công nhận.

    1. Ủy ban kiểm tra công đoàn mỗi cấp chịu sự lãnh đạo của ban chấp hành công đoàn cấp đó và sự chỉ đạo của ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên.

    2. Số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra do ban chấp hành công đoàn cùng cấp quyết định, gồm một số ủy viên trong ban chấp hành và một số ủy viên ngoài ban chấp hành; số ủy viên ban chấp hành không được vượt quá một phần ba (1/3) tổng số ủy viên ủy ban kiểm tra.

    3. Việc bầu ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thực hiện theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, người trúng cử phải được quá một phần hai (1/2) số phiếu bầu.

    Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra công đoàn mỗi cấp, do ban chấp hành công đoàn cấp đó bầu, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra do ủy ban kiểm tra bầu.

    Tổ chức cơ sở của công đoàn có dưới 30 đoàn viên thì cử 1 ủy viên ban chấp hành công đoàn làm nhiệm vụ kiểm tra.

    4. Khi mới thành lập hoặc tách, nhập tổ chức công đoàn, công đoàn cấp trên trực tiếp chỉ định ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra lâm thời.

    5. Nhiệm kỳ của ủy ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của ban chấp hành công đoàn cùng cấp.

    6. Ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp là cán bộ chuyên trách công đoàn khi chuyển công tác không là cán bộ chuyên trách công đoàn thì thôi tham gia ủy ban kiểm tra. Ủy viên ủy ban kiểm tra khi chuyển công tác ra khỏi ngành hoặc địa phương, đơn vị thì thôi tham gia ủy ban kiểm tra công đoàn ở ngành, địa phương, đơn vị đó. Ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp khi nghỉ hưu, thôi việc thì thôi tham gia ủy ban kiểm tra kể từ thời điểm nghỉ hưu hoặc thôi việc ghi trong quyết định.

    Nhiệm vụ Ủy ban kiểm tra công đoàn:

    1. Giúp ban chấp hành, ban thường vụ thực hiện kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Công đoàn đối với công đoàn cùng cấp và cấp dưới.

    2. Kiểm tra công đoàn cùng cấp và cấp dưới khi tổ chức hoặc đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn.

    3. Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn cùng cấp và cấp dưới.

    4. Giúp ban chấp hành, ban thường vụ: giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của công đoàn; tham gia với các cơ quan chức năng nhà nước và người sử dụng lao động giải quyết khiếu nại, tố cáo của đoàn viên, CNVCLĐ theo quy định cuả pháp luật.

    5. Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra đối với ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn cùng cấp và cấp dưới.

    Quyền hạn Ủy ban kiểm tra công đoàn:

    1. Ủy viên ủy ban kiểm tra được tham dự các hội nghị của ban chấp hành và được mời dự đại hội hoặc hội nghị đại biểu công đoàn cùng cấp.

    2. Báo cáo với ban chấp hành công đoàn cùng cấp về hoạt động kiểm tra công đoàn và đề xuất các nội dung, chương trình công tác của ủy ban kiểm tra trong các kỳ họp thường kỳ của ban chấp hành.

    3. Yêu cầu đơn vị và người chịu trách nhiệm của đơn vị được kiểm tra báo cáo, cung cấp các tài liệu cho công tác kiểm tra và trả lời những vấn đề do ủy ban kiểm tra nêu ra.

    4. Báo cáo kết luận kiểm tra và đề xuất các hình thức xử lý với cơ quan thường trực của ban chấp hành công đoàn cùng cấp. Những kiến nghị của ủy ban kiểm tra không được cơ quan thường trực giải quyết thì ủy ban kiểm tra có quyền báo cáo với ban chấp hành công đoàn cùng cấp và báo cáo lên ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên.

    5. Ủy viên ban kiểm tra được học tập, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ về công tác kiểm tra

    Tin bài: Lê Thị Hạnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sửa Đổi Chức Năng, Nhiệm Vụ Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia
  • Bàn Giao Nhiệm Vụ Chính Ủy Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh
  • Bộ Chqs Tỉnh Nghệ An Hoàn Thành Luyện Tập Chuyển Trạng Thái Sẵn Sàng Chiến Đấu
  • Thường Trực Tỉnh Ủy Dự Hội Nghị Trực Tuyến Góp Ý Vào Dự Thảo Quy Định Của Ban Bí Thư Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Mối Quan Hệ Công Tác Của Cấp Ủy, Ban Thường Vụ Cấp Ủy Cấp Huyện
  • Góp Ý Vào Dự Thảo Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Mối Quan Hệ Công Tác Của Cấp Ủy, Ban Thường Vụ Cấp Ủy Cấp Huyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Ban Thường Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Kiểm Điểm Của Ban Chấp Hành Và Ban Thường Vụ Huyện Ủy Cần Giờ Khóa Vi (1991
  • Google Giải Đáp Các Câu Hỏi Về Chức Năng Mới
  • 4 Bước Đơn Giản Để Tắt Chức Năng Tự Động Sửa Lỗi Chính Tả Trên Iphone
  • Cách Tắt Tiên Đoán Iphone, Ipad, Bật Tắt Gợi Ý Từ Khi Nhắn Tin
  • Kiểm Tra Lỗi Chính Tả Văn Bản Nhanh Chóng Và Hiệu Quả Bằng Tummo Spell
  • Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 12 đồng chí:

    – Bí thư Huyện ủy;

    – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy;

    – Phó Bí thư Huyện ủy phụ trách xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện;

    – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy;Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch HĐND huyện;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND huyện;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chỉ huy Trưởng BCH Quân sự huyện;

    – Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Công an huyện.

    – Cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, của Huyện ủy và lãnh đạo, tổ chức thực hiện toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ.

    – Quyết định về công tác tổ chức và cán bộ của huyện theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Ban Thường vụ Huyện ủy về phân cấp quản lý cán bộ; quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử, bầu cử, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ.

    – Quyết định kết nạp đảng viên mới, chuyển Đảng chính thức, xóa tên đảng viên, xem xét quyết định kỷ luật và giải quyết khiếu nại về kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên; xét và quyết định công nhận tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, chất lượng cán bộ, đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương và Tỉnh ủy. Sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về những chương trình, chuyên đề công tác hoặc nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất của Đảng bộ.

    – Quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, chia tách, tiếp nhận, chuyển giao các TCCS Đảng theo qui định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn thực hiện cấp ủy của cấp trên; cho chủ trương về việc thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể các đơn vị hành chính thuộc huyện.

    – Quyết định phân công công tác đối với các đồng chí Ủy viên Thường vụ, Huyện ủy viên.

    – Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Huyện ủy theo Điều 30 và Điều 32 của Điều lệ Đảng; xem xét, quyết định và đề nghị thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên theo thẩm quyền.

    – Kiểm tra các cấp, các ngành và sơ kết, tổng kết việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, các mặt công tác xây dựng Đảng và chính quyền; các hoạt động kinh tế – xã hội, công tác nội chính và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội. Chỉ đạo việc làm thí điểm để rút kinh nghiệm những vấn đề lớn và mới.

    – Chuẩn bị nội dung và triệu tập các kỳ họp của Huyện ủy. Thay mặt Huyện ủy báo cáo các mặt công tác theo định kỳ hoặc đột xuất với cấp trên và thông báo cho các cấp ủy trực thuộc theo quy định của Điều lệ Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ví Dụ Về Thực Phẩm Chức Năng Và Dinh Dưỡng Dược Có Bằng Chứng Khoa Học Cụ Thể
  • Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá
  • Chức Năng, Tổ Chức, Trách Nhiệm, Quyền Hạn Của Ubkt Tỉnh Ủy
  • Kết Quả Hoạt Động Của Ubkt Công Đoàn Các Cấp Năm 2022
  • Kiểm Tra Lỗi Chính Tả Trong Powerpoint 2010
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Vai Trò Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Công Tác Mặt Trận
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Nhà Nước
  • Khái Niệm Chức Năng Của Nhà Nước Và Bộ Máy Nhà Nước
  • 1. Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Bình có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; phối hợp với các cơ quan nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Bình hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động đảm bảo quyền và trách nhiệm của mỗi thành viên; thực hiện theo luật MTTQ Việt Nam và Điều lệ MTTQ Việt Nam; giữ mối quan hệ hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau.

    2. Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Bình là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội do Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Bình hiệp thương dân chủ cử ra.

    3. Quyết định kế hoạch chuẩn bị Đại hội MTTQ Việt Nam tỉnh nhiệm kỳ tiếp theo, theo hướng dẫn của Uỷ ban TWMTTQ Việt Nam; Hiệp thương dân chủ cử Ban Thường trực; cử, cử bổ sung, thay thế, cho thôi các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Uỷ viên Thường trực, Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Xét, quyết định kết nạp làm thành viên của MTTQ Việt Nam cấp tỉnh.

    4. Ra lời kêu gọi, vận động nhân dân trong tỉnh hưởng ứng thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam. Triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; chủ trì phối hợp triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”,…

    5. Uỷ viên Uỷ ban có nhiệm vụ tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân và thông báo kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động với Uỷ ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên, nhân dân thi hành Hiến pháp, pháp luật và thực hiện tốt chương trình hành động của MTTQ Việt Nam; vận động các thành viên của MTTQ Việt Nam thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và tham gia công tác Mặt trận ở nơi cư trú.

    Mối quan hệ công tác

    1. Quan hệ công tác giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh với Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐND và UBND tỉnh là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Quan hệ phối hợp công tác giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh với Đoàn đại biểu Quốc hội; Thường trực HĐND, UBND tỉnh được thực hiện theo Quy chế phối hợp.

    2. Quan hệ công tác giữa Uỷ ban MTTQ tỉnh với các tổ chức thành viên cùng cấp. Uỷ ban MTTQ tỉnh chủ trì việc hiệp thương dân chủ giữa các thành viên để bàn bạc thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương, cùng xây dựng chương trình phối hợp và thống nhất hành động, cùng nhau thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động đã đề ra.

    3. Quan hệ công tác giữa Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp huyện, thành phố là quan hệ hướng dẫn, kiểm tra thực hiện theo quy định của Điều lệ MTTQ Việt Nam. Quan hệ giữa Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh với cấp uỷ, chính quyền các huyện, thành phố, thị xã thực hiện theo các quy định của Đảng và Nhà nước.

    4. Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam các cấp mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, phát huy vai trò người tiêu biểu, xây dựng cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ảnh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Vai Trò Của Các Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư
  • Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư?
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Ban Công Tác Mặt Trận
  • Kiện Toàn Tổ Chức Và Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Ubnd Xã Lương Hòa Lạc Chuc Nang Nhiem Vu Cua Ubnd Cap Xa Doc
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100