Chức Năng Của Gia Đình Trong Việc Nuôi Dưỡng Và Hình Thành Con Người

--- Bài mới hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Giám Đốc Tài Chính
  • Câuhooiro Ôn Thi Lý Thuyết Tài Chính Cau Hoi On Thi Ly Thuyet Tai Chinh Ktsxab Doc
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Tổng Giám Đốc ( Giám Đốc Điều Hành)
  • Phó Giám Đốc Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp Và Những Điều Cần Biết
  • Trưởng Phòng Kinh Doanh Là Gì?
  • Gia đình Việt Nam hiện nay vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng và …

    Gia đ ình Việt Nam hiện nay vẫn là mô hình gia đ ình truyền thống đ a chức năng và đ ể đ ạt đ ược mục tiêu xây dựng hạnh phúc, ấm no hòa thuận thì gia đ ình cần phải thực hiện hàng loạt các chức năng của mình. Vấn đ ề này cũng có nhiều quan đ iểm khác nhau. Tác giả Mai Thúy Bích viết trong “lối sống gia đ ình ngày nay”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội , 1987 đ ưa ra 6 chức năng của gia đ ình : chúng tôi đ ẻ duy trì nòi giống 2.Tổ chức sinh hoạt gia đ ình 3.Xã hội hóa (giáo dục ) thế hệ trẻ 4.Tổ chức thời gian tự do cho các thành viên.

    Thỏa mãn những nhu cầu tình cảm 6. Chăm sóc người già và những thành viên không có khả năng lao đ ộng . Theo tác giả Trần Trọng Thủy viết trong “giáo dục đ ời sống gia đ ình” Hà Nội, 1990. Gia đ ình phải thực hiện các chức năng : chúng tôi đ ẻ và nuôi dạy con 2.Tổ chức cuộc sống vật chất và văn hóa 3.Tổ chức kinh tế 16 Trong “tâm lý học gia đ ình”, tác giả Ngô Công Hoàn đ ã tổng kết có 6 chức năng mà gia đ ình cần phải thực hiện :

    2. Chức năng giáo dục trẻ em

    3.Chức năng tiêu dùng

    4. Chức năng kinh tế

    5. Chức năng thỏa mãn nhu cầu

    6. Chức năng chăm sóc người già.

    Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, trong cuốn “bàn về tâm lý học gia đ ình”, Nxb Thế giới, 1990, ngoài các chức năng trên thì gia đ ình còn có chức năng thứ 7 đ ó là chức năng tình cảm lứa đ ôi giữa vợ và chồng . Các quan niệm trên đ ều là hợp lý. Các chức năng mà các tác giả đ ã nêu ra là những nhiệm vụ cơ bản mà gia đ ình phải thực hiện và là những yếu tố tạo ra sự bền vững của gia đ ình trong cả quá trình phát sinh, phát triển xã hội loài người. Khái quát các quan đ iểm trên, chúng tôi cho rằng gia đ ình gồm 6 chức năng cơ bản : * Chức năng tình dục lứa đ ôi giữa vợ và chồng : Trong quan hệ vợ chồng, chức năng quan hệ tình dục hay ái ân là không thể thiếu đ ược. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đ ã chứng minh sự tan vỡ gia đ ình là do không có quan hệ tình dục, do phản bội nhau, có quan hệ tình dục với người khác hoặc do không có sự hòa hợp tình dục giữa hai người.Vì vậy, cả hai vợ chồng cần có kiến thức cần thiết cũng như có sự “cởi mở” với nhau đ ể có đ ược sự thỏa mãn ở cả hai người. Dưới góc đ ộ khoa học và nhân văn chức năng này có vị trí quan trọng hàng đ ầu trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đ ình. Từ trước tới nay, con người vẫn rất e ngại khi nói đ ến vấn đ ề này, chỉ vì quan niệm cổ hủ, lạc hậu cho rằng chuyện quan hệ ái ân là chuyện thường 17 tình không cần dạy rồi ai cũng biết.

    .

    Để đôi bạn có một địa điểm tổ chức tiệc cưới hoàn hảo

    Khi tổ chức lễ cưới tại nhà hàng bạn không phải lo lắng về thời tiết như khi tổ chức lễ cưới ngoài trời. Đừng chạy theo xu hướng thời trang bằng cách lựa chọn những mẫu váy của các thương hiệu nổi tiếng, kiểu dáng mới và đang là trào lưu của mùa này. Bạn có thể chọn những kiểu váy đơn giản, giá thấp, quan trọng là phù hợp với thân hình và phong cách của mình. Nếu bạn yêu thích phong cách vintage, bạn cần chọn chất liệu váy cưới nhẹ nhàng, kiểu tóc cổ điển và nhà hàng tổ chức tiệc cưới có phong cách Châu Âu như địa điểm cưới Capella Parkview

    .

    Dịch vụ trang trí tiệc cưới chuyên nghiệp

    Một lễ cưới thành công cần hội tụ đầy đủ nhiều yếu tố, trong đó việc làm cho sảnh cưới của đôi bạn trở nên sang trọng và lung linh hơn chắc chắn bạn sẽ phải cần đến d ịch vụ trang trí tiệc cưới chuyên nghiệp.

    Hiện nay, trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh có rất nhiều công ty chuyên về cung cấp các dịch vụ trang trí tiệc cưới chuyên nghiệp. Mỗi nơi lại có những lợi thế về tone màu hay ý tưởng thiết kế khác nhau. Với Riverside Palace, sự chuyên nghiệp trong từng chi tiết và sự sáng tạo trong quá trình trang trí đã làm cho sảnh cưới của nhiều cô dâu chú rể đẹp ngất ngây, khiến các khách mời luôn bất ngờ khi được đến dự một lễ cưới sang trọng.

    Để ngày cưới là ngày đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người, cô dâu chú rể có thể phối hợp với chính nhà hàng tiệc cưới để dễ dàng cùng nhau lên ý tưởng và trao đổi trong quá trình trang trí sảnh cưới cho hai bạn.

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Bếp Điện Sanaky Có Tốt Không, Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu
  • Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi
  • Từ Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Hay Về Tình Cảm Gia Đình, Em Hãy Trình Bày Cảm Nhận Của Mình Khi Được Sống Trong Vòng Tay Yêu Thương Của Gia Đình
  • Những Biến Đổi Của Gia Đình Việt Nam Hiện Nay Và Một Số Khuyến Nghị Chính Sách
  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Bài Giảng Giáo Dục Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Gia Đình Góp Phần Quan Trọng Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Con Người
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Chương I

    GIA ĐÌNH – TẾ BÀO CỦA XÃ HỘI

    Thời gian giảng:

    I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIA ĐÌNH

    1. Khái niệm Gia đình

    Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội. Gia

    đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu

    dài. Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa

    vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, những hình

    thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện. Lịch sử nhân loại đã

    trải qua nhiều hình thức gia đình như: Gia đình đối ngẫu, gia đình hôn nhân

    từng cặp, gia đình một vợ một chồng…

    Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế – xã hội các kiểu dạng tổ chức cộng

    đồng mang tính tự nhiên, ngay từ đầu đã chịu sự quy định của sự biến đổi

    trong sản xuất trong đời sống kinh tế – xã hội.

    Để quan hệ với thiên nhiên, tác động vào thiên nhiên, con người cần

    phải quần tụ thành các nhóm cộng đồng. Ban đầu, các quan hệ chi phối trong

    những nhóm cộng đồng ấy còn mang sắc thái tự nhiên sinh học sống quần tụ

    với nhau theo bày đàn, sinh sống bằng săn bắn hái lượm…

    Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt những đòi hỏi của

    đời sống kinh tế các quan hệ ấy dần trở nên chặt chẽ, giữa các thành viên

    trong cộng đồng ấy xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và

    thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền sản

    xuất. Gia đình dần dần trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh “xã hội

    thu nhỏ”. Nhưng không phải là sự thu nhỏ một cách giản đơn các quan hệ

    xã hội. Những gia đình được coi như một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ

    nhất, cơ bản nhất.

    Nếu như văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con

    người sáng tạo ra, nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của chính mình thì

    1

    gia đình không chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội

    mà điều quan trọng gia đình còn là một giá trị văn hoá xã hội. Tính chất, bản

    sắc của gia đình lại được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm

    thoả mãn những nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình trong sự tương tác

    gắn bó với văn hoá cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp, tầng lớp trong mỗi

    giai đoạn lịch sử của quốc gia, dân tộc.

    Như vậy: Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản

    trong đời sống cộng đồng của con người một thiết chế văn hoá xã hội đặc

    thù được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của những quan hệ

    hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa

    các thành viên.

    b. Đặc trưng các mối quan hệ cơ bản của gia đình

    * Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình

    thành, tồn tại và phát triển gia đình

    – Hôn nhân là một hình thức quan hệ tính giao giữa nam và nữ nhằm

    thoả mãn các nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm và bảo đảm tái sản xuất ra con

    người nhằm duy trì, phát triển nòi giống.

    Cùng với sự phát triển của lịch sử Hôn nhân cũng có sự biến đổi sâu

    sắc về hình thức tính chất và sắc thái của nó: Nếu như trong chế độ CSNT

    hình thái hôn nhân chủ yếu là quần hôn. Trong các chế độ tư hữu hôn nhân

    được hình thành xây dựng và thực hiện trên cơ sở bảo đảm lợi ích của những

    người chủ sở hữu (gia đình gia trưởng – bảo đảm quyền lực của người chồng,

    người cha, người chủ sở hữu tài sản và kế thừa tài sản…).

    – Hôn nhân là hình thức quan hệ tính giao của con người và chỉ có ở

    con người. Cho nên ngay từ đầu hôn nhân đã mang bản chất người nhân văn

    và nhân đạo. Sự phù hợp về tâm lí, sức khoẻ và nhất là trạng thái tình cảm

    ngay từ ban đầu nó đã là cơ sở trực tiếp của hôn nhân, mang lại bản sắc đặc

    thù của quan hệ hôn nhân.

    2

    – Tuy nhiên, cũng như mọi quan hệ xã hội khác Hôn nhân luôn chịu sự

    chi phối của các quan hệ kinh tế và bản chất của chế độ xã hội mà trên đó nó

    được hình thành và phát triển.

    Vì vậy, hôn nhân trong bất cứ thời đại nào cũng có thể và cần phải

    được xã hội thừa nhận ở những mức độ, trình độ khác nhau. Trong chế độ tư

    hữu và các xã hội có sự phân chia giai cấp sự thừa nhận đó của các chuẩn

    mực văn hoá và lối sống truyền thống của cộng đồng (tổ chức cưới, hỏi…).

    – Sự phù hợp về trạng thái tâm lý, tình cảm, lối sống giữa đôi nam nữ

    trước khi đi đến hôn nhân là cơ sở trực tiếp cho hôn nhân: Tình yêu. Cũng

    như hôn nhân, tình yêu của mỗi thời đại, mỗi giai tầng, mỗi dân tộc và cộng

    đồng tâm lý văn hoá cũng có những giá trị và chuẩn mực riêng với những

    biểu hiện riêng, cụ thể và sinh động.

    * Huyết thống, quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản, đặc trưng của

    gia đình

    Do nhu cầu hết sức tự nhiên cần duy trì và phát triển nòi giống, con

    người đã sáng tạo ra gia đình với tính cách là một thiết chế xã hội. Trong gia

    đình cùng với quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống được coi là một quan

    hệ cơ bản nhất. Tuy nhiên, ngay cả quan hệ cơ bản này cũng có những thay

    đổi theo tiến trình lịch sử, những sự thay đổi ấy được quy định, chịu sự chi

    phối của các điều kiện: Kinh tế, văn hoá, chính trị của xã hội. Mặt khác quan

    hệ huyết thống ấy cũng gia nhập đan xen vào các quan hệ kinh tế và chính trị

    xã hội của mỗi thời đại.

    Thí dụ: Trong chế độ công xã nguyên thuỷ huyết thống về đằng mẹ

    được coi là chuẩn mực để tính quan hệ thân tộc gần xa khi ấy gia đình được

    xây dựng trên cơ sở huyết thống mẫu hệ.

    Khi chế độ tư hữu ra đời vai trò của người đàn ông ngày càng được

    khẳng định trong quan hệ gia đình gia trưởng. Gia đình theo huyết thống về

    đằng cha (gia đình phụ hệ ra đời). Khi quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ

    3

    ngày càng gay gắt thì gia đình phu hệ phát triển: Gia đình chủ nô, gia đình

    phong kiến gia trưởng và gia đình tư sản.

    Chỉ có thể khắc phục được những mâu thuẫn này khi xoá bỏ được chế độ

    tư hữu về tư liệu sản xuất và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất được xác lập.

    * Quan hệ quần tụ trong một không gian sinh tồn

    Ngay từ đầu xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong quan hệ với tự nhiên và

    giữa con người với nhau cộng đồng gia đình đã luôn cư trú quần tụ trong

    một không gian sinh tồn từ lúc trong một hang đá hốc cây → sau đó là trong

    một mái nhà. Dù không gian sinh tồn ấy ngày càng mở rộng và chịu sự chi

    phối của các quan hệ kinh tế – xã hội nhưng nhu cầu quần tụ vẫn luôn luôn

    được đặt ra, cho dù ngày nay khái niệm không gian sinh tồn không còn giữ

    nguyên nghĩa như một giới hạn địa lý thuần tuý nữa. Cho dù sự can thiệp,

    mức độ quan tâm giữa các thành viên gia đình đã được thay thế, đảm nhận ở

    mức độ đáng kể sự quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên, các thế hệ trong

    mỗi gia đình không vì thế mà mất đi mà trái lại nó được củng cố, được thực

    hiện nhờ thiết bị, phương tiện và tiện nghi ngày càng hiện đại đầy đủ hơn

    (An cư lập nghiệp).

    * Quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và các thế hệ thành viên

    trong gia đình

    Nuôi dưỡng là một nghĩa vụ, một trách nhiệm đồng thời còn là một

    quyền lợi thiêng liêng của gia đình của các thành viên gia đình đối với nhau.

    Nuôi dưỡng không đơn thuần chỉ là các bậc cha mẹ, ông bà nuôi dưỡng con

    cháu mà còn là hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của con cháu đối với cha mẹ,

    ông bà, giữa các thành viên khoẻ mạnh có thuận lợi trong làm ăn sinh sống

    đối với những thành viên gặp khó khăn, rủi ro về sức khoẻ về làm ăn sinh

    sống. Mặc dù xã hội phát triển sự quan tâm của xã hội đối với gia đình và các

    thành viên gia đình qua các chính sách bảo hiểm, chăm sóc y tế, dưỡng lão..

    nhưng nuôi dưỡng của gia đình có những đặc thù mà xã hội dù có hiện đại

    4

    đến đâu cũng không thể thay thế được và càng không nên đặt vấn đề thay thế

    hoàn toàn.

    2. Vị trí gia đình trong xã hội

    a. Gia đình là tế bào của xã hội

    Có thể ví xã hội là một cơ thể sống hoàn chỉnh và không ngừng biến

    đổi được “sắp xếp tổ chức” theo nhiều mối quan hệ, trong đó gia đình được

    xem là một tế bào, một thiết chế cơ sở đầu tiên.

    Mỗi một chế độ xã hội được sinh thành, vận động và biến đổi trên cơ

    sở một phương thức sản xuất xác định và có vai trò quy định đối với gia đình.

    Nhưng xã hội ấy lại tồn tại thông qua các hình thức kết cấu và quy mô gia

    đình. Mỗi gia đình hoà thuận thì cả cộng đồng xã hội tồn tại và vận động một

    cách êm thấm. Mục đích chung của sự vận động, biến đổi của xã hội trước hết

    vì lợi ích của mỗi công dân và thành viên của xã hội nhưng lợi ích của mỗi

    công dân, mỗi thành viên xã hội lại chịu sự chi phối của lợi ích các tập đoàn

    giai cấp thống trị trong xã hội, trong điều kiện xã hội phân chia thành giai cấp.

    b. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội quyết định quy mô, kết cấu,

    hình thức tổ chức và tính chất của gia đình

    Theo quan điểm về duy vât lịch sử đã chỉ ra rằng: Gia đình là những

    hình thức phản ánh đặc thù của trình độ sản xuất của trình độ phát triển kinh

    tế. Trong tiến trình lịch sử nhân loại các phương thức sản xuất: cộng sản

    nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, địa chủ phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và xã

    hội chủ nghĩa đã lần lượt thay thế nhau, kéo theo và dẫn đến sự biến đổi về

    hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu cũng như tính chất của gia đình.

    Từ gia đình tập thể quần hôn với hình thức huyết thống → gia đình

    đối ngẫu cặp đôi bước sang hình thức gia đình cá thể một vợ một chồng. Từ

    chỗ gia đình một vợ một chồng bất bình đẳng đối với người phụ nữ, người

    vợ sang gia đình một vợ một chồng bình đẳng giữa nam và nữ, vợ và chồng.

    Tất cả những bước phát triển ấy của gia đình phụ thuộc chủ yếu và trước hết

    5

    vào những bước tiến trong sản xuất, trong trình độ phát triển kinh tế của mỗi

    thời đại.

    c. Gia đình là một thiết chế cơ sở, đặc thù của xã hội là cầu nối giữa

    cá nhân và xã hội

    Trong hệ thống cơ cấu tổ chức của xã hội gia đình được coi là thiết chế

    cơ sở, đầu tiên và nhỏ nhất. Sự vận động biến đổi của thiết chế độ tuân theo

    những quy luật chung của cả hệ thống. Nhưng thiết chế ấy vận động biến đổi

    còn nhiều cơ sở kế thừa các giá trị văn hoá truyền thống mỗi nền văn hoá mỗi

    vùng và địa phương khác nhau, và còn được bộc lộ, thể hiện ở mỗi thành viên

    và thế hệ thành viên trong sự “giao thoa” của mỗi cá nhân và mỗi gia đình.

    Thông qua các hoạt động, tổ chức đời sống gia đình mỗi cá nhân, mỗi

    gia đình tiếp nhận chịu sự tác động và phản ứng lại đối với những tác động

    của xã hội. Thông qua các tổ chức, các thiết chế, chính sách… của xã hội. Sự

    đồng thuận hay không đồng thuận của những tác động từ xã hội, Nhà nước

    với những hình thức tổ chức, sinh hoạt trong thiết chế gia đình sẽ tạo ra kết

    quả tốt hay xấu của mỗi chế độ xã hội mỗi thời đại.

    Cá nhân con người (thành viên của xã hội) chịu sự ảnh hưởng rất sâu

    sắc của gia đình từ tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong cách làm việc bởi vì

    cha ông ta đã có câu: “Nòi nào giống ấy, giỏ nhà ai qua nhà nấy”.

    d. Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hoà trong

    đời sống cá nhân của mỗi thành viên mỗi công dân của xã hội

    Từ thuở lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay mỗi thành viên được

    nuôi dưỡng chăm sóc để trở thành công dân của xã hội, lao động, cống hiến

    và hưởng thụ đóng góp cho xã hội trước hết và chủ yếu là thông qua gia đình

    và với gia đình.

    Sự yên ổn hạnh phúc của mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng

    cho sự hình thành, phát triển nhân cách, bảo đảm đạt hiệu quả cho các hoạt

    động lao động của xã hội.

    6

    Rõ ràng là muốn xây dựng xã hội phải chú ý xây dựng gia đình, xây

    dựng gia đình là trách nhiệm, là một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các

    mục tiêu phấn đấu của xã hội vì sự ổn định và phát triển của chính xã hội.

    II. CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH

    1. Chức năng tái sản xuất ra con người

    Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội. Gia đình đảm nhận

    chức năng tái sản xuất ra con người, tái tạo bảo dưỡng sức lao động cho xã

    hội. Trong sự phát triển của lịch sử, các chức năng của gia đình đã có nhiều

    biến động một số chức năng của gia đình truyền thống đã bị mai một hay bị

    thay thế bằng các chức năng khác phù hợp hơn khi xã hội chuyển từ xã hội

    nông nghiệp chuyển sang xã hội công nghiệp. Nhưng chức năng tái sản xuất

    ra con người vẫn luôn luôn và bao giờ vẫn là chức năng quan trọng nhất của

    gia đình. Bởi nó là chức năng cố hữu đặc thù không một thiết chế xã hội nào

    có thể thay thế được. Nó thực hiện việc duy trì nòi giống, chuyển giao văn

    hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác và do đó nó là một trong hai nhân tố quyết

    định sự tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại. Anghen đã từng viết: “Theo

    quan điểm duy vật nhân tố quyết định trong lịch sử phát triển của xã hội loài

    người quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp của

    con người. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt ra thức ăn, quần áo, nhà

    ở, và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó, mặt khác là sản

    xuất ra chính bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những thiết chế xã

    hội trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và một nước

    nhất định đang sống là do 2 loại sản xuất đó quyết định: Một mặt do trình độ

    phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”1.

    Ngày nay ở các nước phương Tây xuất hiện một số kiểu gia đình kỳ

    quặc như: Gia đình độc thân, gia đình không sinh đẻ, gia đình đồng tính luyến

    ái (Pháp luật cho phép)… Đó là hiện tượng không bình thường của gia đình.

    Bởi lẽ nếu gia đình không sinh đẻ, không nuôi dạy con cái cũng có nghĩa là

    1

    M.E Tuyển tập T6. NXB Sự thật. H.1984, tr.26

    7

    không có sự duy trì nòi giống, không có sự chuyển giao văn hoá và như vậy

    xã hội sẽ đi vào ngõ cụt không có sự phát triển. Gia đình không chỉ tái sản

    xuất ra con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm,

    tâm hồn, văn hoá tức là quá trình xã hội hoá con người. Quá trình biến đứa trẻ

    từ một sinh vật người thành con người xã hội.

    – Ngày nay trước sự tác động của khoa học – công nghệ hiện đại con

    người không những làm chủ được quá trình sinh đẻ mà con người đẻ theo ý

    muốn. Vì vậy mà chức năng sinh đẻ tái sản xuất ra con người của gia đình

    ngày nay đã được xã hội hoá và kế hoạch hoá. Như vậy mới bảo đảm tái sản

    xuất ra con người hợp lí vừa đảm bảo chất lượng chăm sóc vừa đảm bảo hạnh

    phúc cho cha mẹ. Việc kế hoạch hoá trong sinh đẻ vừa có lợi cho gia đình, cá

    nhân và xã hội.

    Trong thực tế xã hội hiện nay một số gia đình vẫn còn tồn tại tư tưởng

    bảo thủ, lạc hậu; đẻ nhiều để có con đàn cháu đống, đẻ nhiều con để trông cậy

    khi tuổi già, đẻ con trai để nối dõi tông đường, đẻ con gái để có nếp có tẻ, có

    người chấy rận chăm sóc mẹ… Những tư tưởng lạc hậu này cần phải đấu tranh

    để loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, để góp phần làm cho xã hội phát triển hợp

    lí giữa sự phát triển kinh tế – văn hoá và sự gia tăng dân số. Muốn thực hiện

    tốt điều này cần trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức về kế hoạch hoá gia

    đình, sức khoẻ sinh sản…

    2. Chức năng nuôi dưỡng giáo dục con trẻ

    Nuôi dưỡng giáo dục con trẻ là trách nhiệm nghĩa vụ của mỗi người

    làm cha, làm mẹ như Luật hôn nhân Gia đình đã ghi: “Cha mẹ có trách nhiệm,

    nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành công dân có ích cho xã hội”1. Trẻ em sinh ra

    phải được sinh trưởng và phát triển một cách bình thường và các quyền được

    sống, được học tập, vui chơi, được chăm sóc và giáo dục, được tôn trọng về

    nhân cách. Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo lập môi trường sống,

    môi trường xã hội an toàn đối với cuộc sống và phát triển thể chất, tinh thần

    cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển nhân cách toàn diện về tất cả mọi mặt.

    8

    Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên đối với trẻ em và là môi

    trường giáo dục suốt đời đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con

    người. Từ khi lọt lòng trẻ em đã được thừa hưởng nền văn hoá gia đình qua

    sự quan tâm chăm sóc của cha me, ông bà, cô dì, chú bác… Trẻ em được giáo

    dục bằng những tình cảm ruột thịt của những người thân trong gia đình. Đó là

    sự yêu thương của người mẹ, sự gia uy chỉ bảo của người cha, sự yêu quí của

    ông bà nội ngoại, sự ganh đua đoàn kết của anh em trong bầu không khí hoà

    thuận, êm ấm tất cả những gì trẻ nghe thấy, nhìn thấy, trẻ cảm nhận được đều

    ghi sâu trong tâm trí trẻ thơ và trẻ có thể bắt chước những gì mà ông bà, cha

    mẹ, anh chị đã thể hiện,..

    Khi lớn lên quan hệ xã hội của trẻ được mở rộng nhưng tình cảm của

    gia đình vẫn là động lực thôi thúc con người tự hoàn thiện nhân cách của

    mình. Nếu gia đình có bầu không khí tâm lí không hoàn thuận sẽ có ảnh

    hưởng không tốt tới trẻ thơ, sẽ là nguyên nhân dẫn tới sự bất ổn trong tâm hồn

    trẻ thơ và là mầm mống cho những hành vi sai lệch ở trẻ em. Trong quá trình

    hình thành và phát triển nhân cách của con người vai trò của gia đình ở mỗi

    giai đoạn, lứa tuổi là khác nhau:

    + Giai đoạn ấu thơ: Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con

    người, gia đình là cầu nối giữa đứa trẻ với môi trường xung quanh, giúp trẻ

    làm quen với thế giới đồ vật và hình thành những thói quen ban đầu cần thiết

    của con người.

    + Giai đoạn tuổi mẫu giáo nhi đồng: Gia đình có vai trò chăm sóc giáo

    dục trẻ tiếp tục hình thành và củng cố những thói quen tốt cho trẻ. Tổ chức

    hướng dẫn các hoạt động cho trẻ giúp trẻ biết nhận thức cái đúng cái sai, cái

    được phép và cái không được phép.

    + Giai đoạn thiếu niên và thanh niên mới lớn: Giai đoạn này gia đình

    có nhiệm vụ giúp cho trẻ có khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc

    sống hoạt động học tập và sinh hoạt, giúp trẻ hình thành những giá trị, những

    9

    chuẩn mực, thiết lập những mối quan hệ với những người xung quanh, giúp

    trẻ hình thành, phát triển năng lực tự chủ, tự ý thức về bản thân.

    + Giai đoạn tuổi trưởng thành: Gia đình giúp cá nhân chuẩn bị bước

    vào cuộc sống tự lập và phải trả lời được các câu hỏi làm nghề gì để kiếm

    sống; sống theo lối sống nào? Yêu ai? Yêu như thế nào?…

    + Giai đoạn chuẩn bị kết hôn: Gia đình giúp cá nhân hiểu biết về ý

    thức trách nhiệm của người làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ…

    + Giai đoạn tuổi già: Gia đình có chức năng chăm sóc, kính trọng và

    chuẩn bị đón nhận tuổi già.

    Tóm lại: Chúng ta có thể khẳng định rằng: Gia đình luôn luôn đóng vai

    trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người nói

    chung và trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng. Chúng ta cần tránh tư

    tưởng ỷ lại, dồn hết trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ cho giáo dục nhà trường,

    để giáo dục gia đình có hiệu quả cha mẹ cần phải thường xuyên quan tâm đến

    con trẻ và phối hợp với nhà trường, với các tổ chức xã hội, đoàn thể để giáo

    dục con trẻ.

    3. Chức năng kinh tế

    Trong bất cứ thời đại nào kinh tế gia đình vẫn giữ vai trò quyết định

    cho sự phát triển bền vững của gia đình.

    Kinh tế gia đình phát triển, giàu có đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của

    mỗi cá nhân sẽ giúp cho gia đình có điều kiện thực hiện tốt các chức năng

    khác đồng thời cũng là điều kiện thực hiện tốt hạnh phúc gia đình.

    Trong xã hội nông nghiệp lạc hậu, gia đình là đơn vị sản xuất, một đơn

    vị kinh tế độc lập mọi người trong gia đình cùng chung lưng đấu cật cùng làm

    cùng hưởng…

    Trong xã hội công nghiệp hiện đại kinh tế gia đình được chuyển hoá

    dưới dạng hoàn toàn khác. Trước kia gia đình là một đơn vị sản xuất nên chức

    năng kinh tế của gia đình được thể hiện qua sự điều hành, tổ chức sản xuất,

    kinh doanh ngay trong gia đình. Trong xã hội công nghiệp hiện đại mỗi thành

    10

    viên trong gia đình lại tham gia hoạt động ở một cơ sở sản xuất, kinh doanh

    khác nhau. Họ chỉ còn lệ thuộc với nhau bằng sự góp tiền để tạo ra ngân sách

    chi tiêu trong gia đình, nhằm thoả mãn những nhu cầu chung của mọi thành

    viên trong gia đình và nhu cầu sống của mỗi cá nhân và như vậy là chức năng

    kinh tế của gia đình chuyển từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng và điều

    phối các chức năng còn lại của gia đình.

    Chính do có sự chuyển đổi như vậy nên mọi người trong gia đình có

    cảm tưởng bị mất đi chức năng kinh tế. Sự nhận thức thiếu đúng đắn về vấn

    đề này sẽ làm cho các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo dẫn tới tình

    trạng chồng một vốn, vợ một vốn, mọi người giấu diếm nhau về các khoản

    thu nhập → Do đó chỉ cần có sự bất hoà nho nhỏ về tình cảm là dễ dàng dẫn

    đến sự đổ vỡ của hạnh phúc gia đình. Điều này lí giải cho tại sao ở các nước

    phát triển hiện nay tỉ lệ ly hôn ngày càng tăng.

    Ở nước ta đang trên đường đổi mới từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu

    chuyển sang nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh phát triển hiện tượng ly

    hôn ngày càng tăng ở các đô thị vấn đề đặt ra cho mỗi gia đình Việt Nam

    trong thời kỳ mới là: Đi đôi với việc phát triển kinh tế gia đình thì vấn đề giữ

    gìn mối quan hệ đầm ấm đảm bảo hạnh phúc gia đình là vấn đề vô cùng quan

    trọng không thể thiếu trong từng ngày, từng giờ của những cặp vợ chồng và

    con trẻ.

    4. Chức năng tổ chức đời sống vật chất và văn hoá gia đình

    Gia đình như là tế bào thu nhỏ của xã hội, nó có chức năng tổ chức đời

    sống vật chất và văn hoá tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình. Gia

    đình tổ chức đời sống hợp lí, khoa học cho mỗi thành viên: Thoả mãn nhu cầu

    ở chừng mực cần thiết như nhu cầu về ăn, uống, ở, mặc, vui chơi giải trí và

    học tập, tu dưỡng.

    Gia đình không chỉ thoả mãn nhu cầu vật chất cho mỗi thành viên mà

    còn phải thoả mãn về nhu cầu tinh thần. Trong đời sống gia đình mối quan hê

    giữa các thành viên trong tình ruột thịt, thương yêu hết mức trên kính, dưới

    11

    nhường nhằm tạo ra bầu không khí tâm lý gia đình đầm ấm hết sức tránh

    những xung đột cãi vã đáng lí không thể xảy ra nếu không may xảy ra thì cần

    phải được giải quyết kịp thời bằng con đường tình cảm, tế nhị. Mục tiêu chính

    của việc tổ chức đời sống gia đình là nhằm mang lại hạnh phúc cho mỗi thành

    viên trong gia đình. Tạo điều kiện cho mỗi thành viên trong gia đình được bảo

    đảm về sức khoẻ, có chăm sóc đầy đủ vui vẻ → tạo điều kiện cho mọi thành

    viên trong gia đình gắn bó, thông cảm, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau cùng

    chung sức để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nếu người chủ gia đình biết cách

    tổ chức tốt đời sống gia đình thì cuộc sống dù có nghèo đói một chút mọi

    thành viên có thể thiếu thốn về vật chất nhưng họ lại được bù đắp bằng tình

    cảm yêu thương đùm bọc lẫn nhau còn hơn những gia đình giàu sang phú quý

    nhưng lại có bầu không khí tâm lý không hoà thuận, không tôn trọng lẫn

    nhau, luôn luôn mâu thuẫn → biến gia đình thành địa ngục trần gian.

    III. CÁC MỐI QUAN HỆ QUAN TRỌNG NHẤT TRONG GIA ĐÌNH

    1. Quan hệ vợ chồng

    Quan hệ vợ chồng trong gia đình là mối quan hệ: Bình đẳng, hiểu

    nhau, yêu thương tôn trọng lẫn nhau, chung thuỷ với nhau, giúp đỡ nhau

    cùng tiến bộ.

    a. Trách nhiệm của người chồng

    Người chồng là trụ cột trong gia đình. Có trách nhiệm lo toàn định

    hướng cuộc sống cho cả gia đình đồng thời cũng là người phân sử mọi việc

    gia đình. Muốn thực hiện được những điều đó người chồng phải có những

    phẩm chất sau:

    – Biết cách nói năng, hoạt bát, biết động viên vợ, con trong lúc khó khăn.

    – Biết quan tâm chiều chuộng vợ.

    – Biết cách đối xử ngoại giao lịch thiệp, ôn hoà và rộng lượng.

    – Sống có bản lĩnh với những ước mơ cao đẹp, chung thuỷ với vợ, biết

    cách chủ động thoả mãn nhu cầu tình dục của vợ để tạo ra sự hoà hợp.

    12

    2. Quan hệ cha mẹ và con cái

    a. Trách nhiệm của cha mẹ với con cái

    Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái là trách nhiệm của công dân

    đối với cộng đồng, đối với xã hội, là trách nhiệm của người vợ đối với chồng

    đồng thời cũng là trách nhiệm của cả hai vợ chồng trong việc chăm lo hạnh

    phúc gia đình. Chăm sóc giáo dục con trẻ không chỉ là trách nhiệm quyền lợi

    của các bậc cha mẹ mà còn là bổn phận của cha mẹ với con cái.

    Cha mẹ có bổn phận nuôi con khôn lớn và bổn phận dạy con nên người

    trở thành công dân có ích cho xã hội, đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai còn khó

    khăn vất vả khôn lường.

    Dạy con nên người bao gồm các nội dung sau:

    – Dạy cho trẻ những tri thức hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người.

    – Dạy cho trẻ biết cách làm người: Hiếu thảo, sống có tình nghĩa, cần

    cù, chịu khó, kiên trì, năng đông, tự chủ sống có bản lĩnh, có đức tính khiêm

    tốn, có lòng tự trọng, làm tốt trách nhiệm của con cái với cha mẹ, người thân

    và đối với xã hội…

    Dạy trẻ phải được tiến hành từ khi tuổi còn thơ như cha ông ta đã dạy:

    “Dạy con từ thuở còn thơ,..”. Bởi lẽ những thói quen tốt của con người phải

    thường hình thành từ khi còn nhỏ, “tre già khó uốn” nếu có uốn được cũng rất

    nhiều công sức.

    Dạy trẻ cần phải hiểu con trẻ về mọi mặt không nên dùng vũ lực để uy

    hiếp trẻ, cần phải dùng tình thương yêu, quan tâm chăm sóc, sự gương mẫu

    của cha mẹ và những lời nói ngọt ngào của cha mẹ sẽ giúp cho trẻ hiểu được

    những điều hay lẽ phải những việc nên làm và những điều không được phép

    làm. Tuy nhiên cũng có những lúc lời nói ngọt ngào của cha mẹ không có tác

    dụng thì cha mẹ phải dùng những biện pháp cứng rắn và nghiêm khắc.

    Khi trẻ ở tuổi thiếu niên, tuổi dậy thì thì cha mẹ cần quan tâm đến cuộc

    sống nội tâm của trẻ, cha mẹ phải luôn đóng vai người bạn lớn của con trẻ

    mới dễ dàng dắt dẫn con, khuyên nhủ con có kết quả tốt hơn. Giai đoạn này

    14

    trẻ em không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn vì vậy mà suy

    nghĩ và hành động của trẻ chưa được chín chắn còn thiếu suy nghĩ và bồng

    bột, đôi khi tỏ ra ngang bướng lạ thường. Các em còn có sự lẫn lộn giữa dũng

    cảm và liều lĩnh, kiên trì với bảo thủ, độc lập với cô lập… Cho nên nhiều

    người còn gọi trẻ thiếu niên là “trẻ khó dạy”, “trẻ nổi loạn”…. Vì vậy mà đòi

    hỏi các bậc làm cha mẹ phải thường xuyên quan tâm gần gũi đối với các em,

    thông cảm chia sẻ với các em những vướng mắc khó khăn của các em và uốn

    nắn kịp thời những sai lệch ở các em. Dạy con không chỉ đơn giản là những

    điều giáo huấn hàng ngày mà cha mẹ cần quan tâm đến việc lo cho con học

    hành đến nơi đến chốn. Người xưa có câu: “Cho con học chữ, học nghề là

    thông minh nhất”. Cha mẹ cần chú ý con mình học dốt dễ sinh chán học

    nhưng có thể có khiếu khi học một nghề nào đó. Vì vậy mà không nên ép

    buộc con trẻ theo ý muốn chủ quan của cha mẹ. Tuỳ theo năng lực sở trường

    của con mà hướng cho con học chữ hay học một nghề nào đó phù hợp với con

    trẻ. Nhưng dù học chữ hay học nghề thì cha mẹ cũng cần phải hiểu rằng trong

    một xã hội phát triển trình độ văn hoá tối thiểu của con người, lao động phải

    đạt được là hết THPT. Do đó mà dù làm gì đi chăng nữa thì cha mẹ cũng cần

    phải tạo điều kiện, giúp đỡ con mình có được trình độ học vấn ở mức trung

    bình đó.

    Việc học tập của con trẻ đòi hỏi cha mẹ phải thường xuyên quan tâm,

    theo dõi, đôn đốc nhắc nhở, cha mẹ phải thường xuyên liên hệ với thầy cô để

    nắm được tình hình học tập của con và có những biện pháp phối hợp với nhà

    trường để giáo dục con một cách kịp thời. Đồng thời ở gia đình cha mẹ phải

    quan tâm đến thời gian biểu của con, đến phương pháp học tập của con, đến

    các nhiệm vụ mà con mình phải hoàn thành trước khi đến lớp để giúp con

    mình học tập tốt (Nêu một vài ví dụ cụ thể để chứng minh).

    b. Trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ

    Con cái cần phải thấu hiểu công lao sinh thành và nuôi dưỡng của cha

    mẹ phải đền ơn và trả nghĩa cha mẹ:

    15

    – Phải lễ phép với cha mẹ, vâng lời cha mẹ. Cha mẹ là người sinh thành

    và nuôi dạy con nên người vì vậy con cái không được vô lễ với cha mẹ, cha

    mẹ gọi phải dạ, bảo phải vâng. Nói chuyện với cha mẹ phải xưng con, nói lời

    phải nhẹ nhàng lễ phép, không được xúc phạm cha mẹ, to tiếng với cha mẹ và

    không được quyền từ bỏ cha mẹ. Cha mẹ là người sống lâu năm có nhiều kinh

    nghiệm, từng trải với đời nên những lời khuyên bảo của cha mẹ đều mang

    tính khôn ngoan từng trải vì vậy mà con trẻ cần phải học tập và bắt chước

    nghe theo những lời khuyên vàng ngọc đó.

    Quan tâm chăm sóc cha mẹ, làm vui lòng cha mẹ khi cha mẹ ốm đau,

    con cái phải tận tâm chăm sóc sức khoẻ cho cha mẹ, chăm lo đời sống vật

    chất cũng như cuộc sống tinh thần cho bố mẹ. Con trẻ phải hiểu rằng tỏ lòng

    hiếu thảo đối với cha mẹ cốt ở sự thành tâm, thành ý chứ không phải ở hình

    thức bề ngoài.

    Phải luôn luôn tôn trọng cha mẹ, hỏi ý kiến, xin phép cha mẹ mỗi khi

    làm những công to việc lớn trong gia đình đó cũng là tạo điều kiện cho cha

    mẹ một tâm lý thoải mái bằng lòng với sự trưởng thành của con trẻ.

    Tóm lại: Gia đình là một cộng đồng người, một tế bào xã hội mà các

    thành viên của nó liên kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết

    thống (giữa ông bà, cha mẹ và con cháu) bằng sinh hoạt chung và có trách

    nhiệm với nhau, theo đạo lý và pháp luật. Gia đình là một hiện tượng xã hội

    lịch sử được hình thành rất sớm và tồn tại bền vững cùng với sự tồn tại của xã

    hội loài người. Gia đình có những chức năng xã hội của nó đó là chức năng

    duy trì nòi giống chức năng kinh tế, chức năng chăm sóc giáo dục trẻ em,

    chức năng văn hoá và các chức năng xã hội khác.

    16

    CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

    1. Theo Anh (chị) trong giai đoạn hiện nay số lượng trẻ em hư gia tăng

    có đúng không? Trẻ em hư do nguyên nhân nào là chính?

    2. Ly hôn hiện đang gia tăng ở thị xã, thị trấn, thành phố nơi trung tâm

    văn hoá xã hội của địa phương tại sao vậy? Nguyên nhân nào là chủ yếu nhất?

    3. Trong thời đại ngày nay với nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều

    thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, mối quan hệ giữa các thành viên

    gia đình trong một không gian sinh tồn đang có xu hướng tăng”. Đúng hay

    sai? Vì sao?

    17

    Chương 2

    GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

    Thời gian giảng:

    MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

    Khi nghiên cứu chương này yêu cầu sinh viên phải thực hiện các yêu

    cầu sau đây:

    – Hiểu và nắm vững khái niệm giáo dục gia đình, các đặc điểm, nội

    dung của giáo dục Gia đình. Nắm vững các nguyên tắc và phương pháp tổ

    chức giáo dục gia đình.

    – Trên cơ sở và nắm vững những nội dung tri thức nêu trên sinh viên

    phải biết vận dụng để nghiên cứu, xem xét thực tế giáo dục gia đình Việt Nam

    trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm cách phát huy ảnh hưởng của giáo dục gia

    đình trong công tác chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ.

    – Để học tập, nghiên cứu có chất lượng sinh viên cần có thái độ nghiêm

    túc khi nghiên cứu chương này đồng thời phải thực hiện đầy đủ những yêu

    cầu chỉ dẫn của giảng viên.

    NỘI DUNG BÀI GIẢNG

    Gia đình là tế bào của xã hội gia đình tốt sẽ tạo nên một xã hội tốt đẹp

    điều này đã được Lịch sử phát triển của loài người thừa nhận. Từ xa xưa các

    thế hệ đi trước luôn luôn coi trọng vai trò của giáo dục gia đình đối với sự

    phát triển của xã hội. Khổng Tử (551 – 479 TCN) nhà giáo dục nổi tiếng của

    Trung Quốc đã nói: “Tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ”.

    Ngày nay trong xu thế phát triển của thời đại thì giáo dục gia đình lại

    càng có vai trò quan trọng Hồ Chí Minh đã dạy “Giáo dục Nhà trường dù tốt

    đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng

    không hoàn toàn”.

    Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là môi trường giáo dục suốt

    đời đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Sức mạnh to lớn

    18

    của giáo dục gia đình là giáo dục bằng tình cảm yêu thương chăm sóc, bằng

    sự gương mẫu của những người làm cha mẹ, bằng sự kết hợp giữa quyền quy

    của người cha và tình thương yêu chăm sóc của người mẹ. Thông qua hoạt

    động sống, sinh hoạt lao động và học tập trong gia đình.v.v… Nhằm giúp cho

    mọi thành viên hình thành và phát triển nhân cách con người theo những tiêu

    chí mà gia đình mong đợi và phù hợp với những yêu cầu của xã hội.

    I. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

    1. Định nghĩa

    Như chúng ta đã biết giáo dục là một quá trình tác động có mục đích,

    có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm giúp cho thế hệ trẻ tự tổ chức, tự điều

    khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mình theo yêu cầu,

    mục đích và nhiệm vụ giáo dục đã đề ra do đó ta có định nghĩa:

    “Giáo dục gia đình là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch

    của cha mẹ và những người thân trong gia đình tới thế hệ trẻ nhằm giúp các

    em biết tự tổ chức, tự điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách

    của mình để hình thành và phát triển các năng lực người và những phẩm chất

    tốt đẹp của con người theo yêu cầu của xã hội”.

    2. Các khâu trong giáo dục gia đình

    * Hình thành ý thức cá nhân

    Hình thành ý thức cá nhân là làm cho thế hệ trẻ trong gia đình hiểu

    được đạo lý của gia đình là gì? Cùng hàng loạt các chuẩn mực xã hội giúp họ

    nhận thức được cái tốt, cái xấu, nhận thức rõ về vai trò trách nhiệm, vị thế của

    mỗi thành viên trong gia đình. Vai trò bổn phận của người làm cha, làm mẹ,

    làm con cái trong gia đình. Cùng với sự hiểu biết về gia lễ, gia phong, gia

    pháp.v.v… Hiểu những quy tắc ứng xử trong gia đình, hiểu được đạo lý làm

    con phải lấy chữ hiếu làm đầu, vợ chồng phải lấy chữ chung thuỷ làm cốt lõi.

    Chỉ có nhận thức đầy đủ, sâu sắc thì con người mới tránh được những sai lầm,

    thiếu sót trong cuộc sống gia đình, trong quan hệ ứng xử với những người

    xung quanh và trong mọi hành động.

    19

    * Hình thành tình cảm niềm tin

    Là khâu giúp cho mọi thành viên trong gia đình có được thái độ rung

    động trước những vấn đề của cuộc sống gia đình và các vấn đề xã hội. Hình

    thành cho thế hệ trẻ tình yêu thương đối với ông bà, cha mẹ và những người

    thân trong gia đình. Tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương, tình cảm thầy trò,

    tình yêu thương đồng loại đối với cộng đồng, giai cấp, dân tộc. Chính những

    tình cảm đó sẽ là động lực thôi thúc con người đi đến chân lý. Trong giáo dục

    gia đình tình yêu thương của cha mẹ đối với con trẻ và sự kính yêu của con

    trẻ đối với cha mẹ sẽ là sợi dây liên kết tâm hồn của các thành viên trong gia

    đình đối với nhau thành một tổ ấm.

    Nên nhớ rằng tình yêu thương quan tâm chăm sóc của cha mẹ đối với

    con trẻ là liều thuốc diệu kỳ, là động lực để cha mẹ dạy con nên người và là

    một thứ keo gắn kết giữa cha mẹ và con trẻ. Một số gia đình hiện nay không

    tạo ra được điều đó nên đã để xảy ra nhiều hiện tượng phi đạo đức: Con cái

    không nghe lời cha mẹ cãi lại cha mẹ, hành hạ cha mẹ…v.v.

    * Rèn luyện hành vi và thói quen

    Hành vi và thói quen là thước đo của ý thức, tình cảm và nhân cchs của

    con người. Con người nói mà không làm là con người sáo rỗng tình thương

    yêu đối với cha mẹ phải được thể hiện bằng sự kính trọng lễ phép, sự quan

    tâm chăm sóc cha mẹ khi khoẻ cũng như khi ốm đau già cả.

    Thước đa của sự giáo dục gia đình là những hành vi, cử chỉ ứng xử thật

    khớp giữa lời nói và việc làm của các thành viên trong gia đình. Trong thực tế

    cuộc sống vẫn tồn tại hiện tượng nói một đằng làm một nẻo vì vậy mà mục

    đích chính của giáo dục gia đình là rèn luyện các hành vi, hành động mang

    tính chất gia lễ, gia phong, gia giáo cho các thành viên trong gia đình.

    Sự giáo dục này phải được bắt đầu ngay tư khi đứa trẻ mới sinh ra bằng

    việc tập luyện các kỹ năng về hành vi văn minh, văn hoá trong ăn uống, đi,

    ngồi, nằm đứng. Các hành vi lễ độ với ông bà, cha mẹ, thầy cô và những

    người lớn tuổi sao cho phù hợp với truyền thống và phong tục tập quán của

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Tại Sao Cha Mẹ Phải Giáo Dục Con Cái
  • Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh: Thay Đổi Nhận Thức Và Hành Động
  • Trình Bày Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Chức Năng Giáo Dục, Xã Hội Hóa Đối Với Trẻ Em Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Bộ Lao Động
  • Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Gồm 21 Đơn Vị
  • Nâng Cao Vai Trò Giám Sát, Phản Biện, Tập Hợp Quần Chúng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình có 4 chức năng, trong đó có chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em”. Chức năng đó được thể hiện:

    Có thể hiểu xã hội hoá đối với trẻ em là một quá trình bao gồm việc đứa trẻ học tập (được chỉ dẫn) về những cách thức, qui định của gia đình và xã hội để nó có thể tham gia vào các hoạt động đời sống của gia đình và xã hội. Đứa trẻ không thể trưởng thành và phát triển nếu chúng bị tách khỏi gia đình và bị biệt lập với xã hội. Với cách tiếp cận như vậy, thì xã hội hóa đối với trẻ em chính là việc dạy dỗ và trao truyền kỹ năng sống của các thành viên gia đình, họ tộc để đứa trẻ trưởng thành, thích ứng được yêu cầu của đời sống.

    Mỗi gia đình là một nhóm xã hội khác nhau, do vậy quá trình xã hội hoá đối với trẻ em cũng bị chi phối bởi những đặc điểm khác nhau trong nếp sống. Nội dung và các hình thức của lối sống trong mỗi gia đình không phải là bất biến, ngược lại chúng cũng bị tác động và biến đổi theo từng thời đại. Sự biến đổi đó chủ yếu do tác động của các nhân tố kinh tế và văn hoá, trong đó văn hoá là một nhân tố cực kỳ quan trọng làm thay đổi kết quả quá trình xã hội hoá trẻ em trong những gia đình khác nhau.

    Do vậy chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em” là một trong những chức năng quan trọng của gia đình, giúp trẻ em có điều kiện và cơ hội phát triển toàn diên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất
  • Tạo Watermark Cho Tài Liệu Word 2007, 2010
  • Bài 9. Định Dạng Tab
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng So Sánh – Compare Trong Word
  • Cách Viết Chữ Vào Hình Vẽ Trong Word
  • Gia Đình Với Chức Năng Giáo Dục Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giám Đốc, Tổng Giám Đốc Công Ty Là Gì?
  • Chức Năng Của Giám Đốc Là Gì?
  • Nhiệm Vụ, Chức Năng, Quyền Hạn Của Giám Đốc Điều Hành ( Tổng Giám Đốc)
  • Mô Tả Công Việc Vị Trí Giám Đốc Điều Hành
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Máy Quản Lý, Điều Hành Công Ty
  • Gia đình là môi trường nguyên thủy mỗi con người sinh ra và trưởng thành. Là một nhóm xã hội đặc biệt, gia đình được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên gia đình cùng chung sống và có chung ngân sách. Bài học đầu tiên mỗi chúng ta học trên cuộc đời này là trong gia đình. Giáo dục gia đình thực sự là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời mỗi con người. Giáo dục gia đình đó là sự tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Quan niệm, thái độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự nghiệp… của cha mẹ để lại dấu ấn sâu nặng đối với con cái mỗi gia đình. Nó tạo nên sản phẩm mà dân gian gọi là “giỏ nhà ai quai” nhà ấy.

    Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.

    Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha, mẹ. Dĩ nhiên, giáo dục gia đình thường sử dụng các phương pháp đơn giản như: khuyên bảo, thuyết phục, đó là vừa dạy vừa dỗ vừa phân tích, diễn giải, chỉ bảo, khuyên nhủ; tập luyện, xây dựng thói quen, tạo lập nếp sống nền nếp tốt đẹp; cổ vũ, khích lệ, khen thưởng kịp thời những cố gắng, những thành tích đạt được dù là rất nhỏ; và, kỷ luật, răn đe, trừng phạt nghiêm khi trẻ có sai trái, không nghe lời… Tuy nhiên, các phương pháp này thường được mỗi gia đình sử dụng một cách linh hoạt và mềm dẻo rất khác nhau tùy thuộc vào môi trường gia đình cũng như đối tượng, mục đích giáo dục.

    Giáo dục gia đình tuân thủ các nguyên tắc: tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng của trẻ; phải nghiêm khắc nhưng lại khoan dung, độ lượng, nhân từ; yêu thương, tình cảm, gần gũi, thân tình; sử dụng quyền uy của cha, mẹ một cách hợp lý và quyền uy chủ yếu được sử dụng trong ngăn chăn và răn đe; và, thống nhất mục tiêu giữa các thành viên gia đình. Có thống nhất mục tiêu chung mới tạo ra được sản phẩm giáo dục hoàn hảo. Không thống nhất sẽ tạo ra sản phẩm méo mó, lệch lạc, phiến diện, dở dơi dở chuột.

    Về cơ bản, nội dung giáo dục gia đình bao gồm: hành vi đạo đức; tri thức căn bản; thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất và thẩm mỹ. Kỹ năng sống là một nội dung mới và đặc biệt quan trọng của giáo dục gia đình trong xã hội hiện đại. Mục tiêu của giáo dục gia đình muôn đời vẫn là tạo ra những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có suy nghĩ lành mạnh, có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cao đáp ứng được mọi yêu cầu của gia đình và xã hội. Nói cách khác, giáo dục gia đình đó là nhằm tạo ra những con người chân chính, có đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có năng lực trí tuệ cao, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương, đất nước.

    Cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cách toàn diện. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống gia đình. Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; ngoại tình; sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ em nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, lang thang có xu hướng tăng; bạo lực gia đình; buôn bán phụ nữ; bất bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa người với người; tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức diễn ra phổ biến trong xã hội… đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi phương diện.

    Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng nề, hết sức bất lợi đối với sự bền vững và phát triển của gia đình nói chung và giáo dục gia đình và sự trưởng thành của trẻ em nói riêng. Cùng với những điều kiện khách quan đó, bản thân các gia đình hiện nay cũng đang gặp rất nhiều rắc rối, khó khăn. Đó là giá cả thị trường tăng cao, đời sống kinh tế bấp bênh, các thành viên gia đình gặp nhiều rủi ro, bất thường trong cuộc sống, trình độ văn hóa, học vấn của cha, mẹ thấp hoặc do dồn hết sức lực vào việc kiếm sống nên nhiều bậc cha, mẹ không có thời gian gần gũi, chăm sóc, dạy dỗ con…; mặt khác, do tác động nhiều mặt của xã hội mở cửa, tốc độ phát triển tâm – sinh lý của trẻ hiện nay diễn ra nhanh, có khi đột biến, bất thường trong khi các bậc cha, mẹ vừa chưa đủ kiến thức, chưa kịp nhận thức, chưa đủ thời gian, chưa có phương pháp phù hợp để kịp thời quản lý, điều chỉnh, giáo dục và định hướng phát triển đối với trẻ.

    Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia đình không còn là một tổ chức bền vững mang tính khép kín. Để có được các nguồn thu nhập mới nuôi sống gia đình, nhiều cha, mẹ phải rời xa tổ ấm tìm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp, họ không những không có điều kiện gần gũi chăm sóc, giáo dục con nhỏ mà bản thân cũng gặp rất nhiều nguy cơ và rủi ro khi sống xa gia đình. Trong điều kiện đó, trong khi, cùng với sự phai nhạt tình cảm gia đình, sự cố kết giữa các thành viên gia đình trở nên thất thường, lỏng lẻo thì các thiết chế xã hội từng bước thay thế vai trò của gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây là sự chuyển đổi vai trò vô cùng nguy hiểm trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em giai đoạn chuyển đổi hiện nay. Nó rất có thể sẽ để lại nhiều dấu ấn khuyết tật trong nhân cách gốc của thế hệ tương lai. Hậu quả của nguy cơ này dường như được báo trước.

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự chuyển đổi toàn diện về kinh tế – xã hội cũng đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ về hệ thống giá trị, trong đó, có cả những giá trị gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đều thống nhất khẳng định trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay mặc dù đang có rất nhiều tác động xấu đến đời sống gia đình, nhưng về cơ bản, gia đình Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống quý báu của mình như: tình yêu trong sáng, hôn nhân lành mạnh; lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô hạn của cha, mẹ cho con cái; con, cháu hiếu thảo với cha, mẹ, kính yêu ông, bà, biết ơn tiên tổ; anh em, họ hàng đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; các thành viên đề cao lợi ích chung của gia đình; lòng tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương… Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng đã tiếp thu nhiều tinh hoa của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng sự lựa chọn cá nhân; dân chủ, bình đẳng trong quan hệ; bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm và thụ hưởng; không phân biệt đối xử nam, nữ, trai, gái, dâu, rể… Với những yếu tố trên, rõ ràng gia đình Việt Nam vẫn đang và sẽ là một giá trị xã hội bền vững. Đây chính là cơ sở hiện thực để gia đình Việt Nam tiếp tục tồn tại và phát triển vững chắc và cũng là cơ sở để gia đình ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng giáo dục của mình.

    Tuy nhiên, để giáo dục gia đình trong điều kiện hiện nay vượt qua những cản trở, thách thức, đạt được hiệu quả cao hơn nữa cần thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ cả về nhận thức, kinh tế, văn hóa, xã hội. Có thể nêu một số giải pháp cụ thể là:

    – Cần tuyên truyền phổ biến để cả hệ thống chính trị, các đoàn thể, tổ chức và mọi công dân, mọi thành viên gia đình thấm nhuần chiến lược xây dựng và phát triển gia đình, Luật Hôn nhân Gia đình, quyền trẻ em và bình đẳng giới.

    – Có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo việc làm, tăng thu nhập, nhất là tạo việc làm tại chỗ, nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của gia đình, nhất là gia đình nông thôn.

    – Xây dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện thoái hóa, biến chất về đạo đức, những tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí và lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền.

    – Xây dựng mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa gia đình – nhà trường và các tổ chức xã hội để có sự thống nhất, đồng thuận trong thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.

    – Xã hội cần hỗ trợ các bậc cha, mẹ để họ có những phương pháp, biện pháp, nội dung giáo dục mới phù hợp với sự thay đổi những giá trị mới của gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay./.

    SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ – chúng tôi NGUYỄN LINH KHIẾU

    Trích dẫn từ: http://tapchicongsan.org.vn

    ( MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Đình Là Gì? Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên
  • Sản Phẩm Chức Năng Gan Bảo Nguyên Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu?
  • Chuyên Đề 10: Chức Năng Giao Tiếp
  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Giao Tiếp
  • Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Anh Chị Về Cách Giáo Dục Con Cái
  • Những Nguyên Tắc Vàng Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Những Sai Lầm Phổ Biến Trong Cách Dạy Con Của Cha Mẹ Hiện Nay
  • Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • Mấy Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Ở Đơn Vị Cơ Sở Hiện Nay
  • Giáo dục con trong gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình lớn lên và hình thành nhân cách của trẻ.Trong thời đại đầy đủ tện nghi vật chất ngày nay, nhiều người trẻ bị cuốn vào nhịp sống nhanh và nhiễm các căn bệnh thời @. Bên cạnh đó, sự buông xuôi, bỏ mặc hay lúng túng, bất lực của các bậc làm cha mẹ trong việc giáo dục con cái trở thành một đề tài rất được quan tâm

    Có những bậc làm cha mẹ thiếu chuẩn bị và thiếu kinh nghiệm, nên thường phản ứng theo bản năng. Hơn nữa, nhiều bậc làm cha mẹ có quan niệm cho rằng con cái là sở hữu riêng, nên họ có quyền quyết định phương thức giáo dục chúng. Đôi khi đó là cách thức tùy hứng và sai lầm. Cách giáo dục quá nuông chiều con hay quá nghiêm khắc đều để lại những chấn thương trong nhân cách trẻ.

    Thời gian gần đây, con số thanh thiếu niên vi phạm pháp luật ngày càng cao và càng mang tính nghiêm trọng. Điều này là một dẫn chứng thuyết phục để đặt lại vấn đề: giáo dục con trong gia đình cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản nào, nhằm đạt hiệu quả trong việc giúp nhân cách trẻ được hình thành và phát triển cách tốt nhất.

    Chiều ngày 21/11/2009 tại Hội Trường Lầu I của Trung Tâm Mục Vụ, Tổng Giáo Phận Tp HCM, hơn 200 tham dự viên gồm sinh viên, phụ huynh, các nhà giáo dục, Linh mục, Muc sư và rất nhiều nam nữ tu sĩ tham dự. Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, giảng viên trường ĐHSP đã thuyết giảng về “Các nguyên tắc giáo dục con trong gia đình”. Với kinh nghiệm sống thực tế và kinh nghiệm giáo dục phong phú, Cô đã xây dựng bầu khí lớp học rất sinh động, thân thiện và dễ hiểu. Bằng giọng văn dí dỏm và cách dẫn dắt thông minh, Cô đã hướng dẫn cộng đoàn dần dần khám phá ra 8 nguyên tắc cơ bản trong việc giáo dục con cái trong gia đình như sau:

    1. Ý thức tầm quan trọng:

    • Cha mẹ phải nghiêm túc trong việc dạy bảo con cái
    • Ý thức được trách nhiệm làm cha mẹ là quan trọng và không thể thay thế. Điều này giúp các bậc làm cha mẹ không trao phó hay ỷ lại quá nhiều vào những người khác như nhà trường, người thân, người giúp việc….
    • Họ cần có định hướng để chủ động và phá huy tính sáng tạo nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất.
    • Ý thức được tầm quan trọng này, các bậc làm cha mẹ có trách nhiệm hơn và đủ ý chí chống trả lại những cám dỗ bằng mọi giá, để dành thời gian sống cùng và nuôi dạy con cái.
    • Các bậc làm cha mẹ cần trang bị, nâng cao kiến thức và khả năng giáo dục
    • Cha mẹ là người có quyền tác động đến sự phát triển và định hướng con người trong tương lai của con mình. Nếu giáo dục không có định hướng, đứa trẻ không phát huy được khả năng của mình. Tuy nhiên, nếu cha mẹ định hướng một cách chủ quan theo kỳ vọng và ý thích, đứa trẻ sẽ luôn cảm thấy căng thẳng, tự trách, suy sụp tinh thần và thể chất, oán hận và trách cứ cha mẹ. Bản thân người làm cha mẹ, sau một khoảng thời gian dài, cũng đau khổ nhận ra mình đã làm uổng phí thời gian, tuổi trẻ và sức lực của con cái
    • Để đạt hiệu quả, đòi hỏi việc định hướng phải dựa vào khả năng thực tế của đứa trẻ. Điều này giúp trẻ cảm thấy an toàn và được yêu thương

    2. Xác định mục tiêu giáo dục con:

    • Mục tiêu là ý định, là nguyện vọng, là điều muốn đạt được
    • Trên thực tế, có nhiều bậc làm cha mẹ không hề đặt mục tiêu trong việc giáo dục con cái. Họ có thái độ buông xuôi, bỏ mặc cho đứa trẻ “tự do phát triển”. Sự thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm này, làm cho trẻ bị thiệt thòi. Đối lập với thái cực này, là có không ít bậc làm cha mẹ xác định mục tiêu theo ý riêng của mình. Họ mong đợi quá nhiều ở con cái. Sự kỳ vọng đó làm cho đứa trẻ cảm thấy căng thẳng, thiếu tự nhiên, thiếu tự tin, mệt mỏi, trầm cảm…..Tham vọng và đòi hỏi này dẫn đến sự mất mát nơi trẻ tính hồn nhiên, sự bình an trong đời sống nội tâm và đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến tinh sáng tạo và tự tin
    • Cha mẹ cần xác định rõ những mục tiêu ngắn hạn theo từng giai đoạn phát triển của trẻ và những mục tiêu lâu dài trong tương lai. Việc xác định các mục tiêu này cần dựa trên cơ sở đặc điểm cụ thể của từng đứa trẻ và điều kiện gia đình. Đồng thời cũng dựa trên sự hiểu biết, tôn trọng và làm gương sáng cho con cái.

    3. Thống nhất tác động giáo dục:

    • Trong một gia đình có nhiều thế hệ, việc giáo dục con cái đòi hỏi sự tế nhị, khéo léo và thống nhất tác động giáo dục dựa trên cơ sở vì lợi ích của con cái.
    • Tác hại của cách giáo dục không thống nhất là gây cho trẻ nhiều hoang mang, làm giảm uy tín của người lớn và hình thành tính không trung thực nơi trẻ. Khi lâm vào tình trạng hoang mang, trẻ thường tìm cách xoay xở và làm theo quyết định của người có quyền lực cao nhất trong gia đình. Do đó, trẻ thường giả vờ và thiếu trung thực để đối phó với quyết định ngược lại của những người có quyền lực thấp hơn.
    • Gia đình cần thống nhất:

      i. Quan điểm, mục tiêu trong việc giáo dục con cái

      ii. Phân công vai trò

      iii. Phương pháp sử dụng

    • Giáo dục trẻ bắt đầu từ cái nôi gia đình và cha mẹ là những người thầy đầu tiên của chúng. Nhãn quan của trẻ con về thế giới xung quanh được hình thành, dựa trên những tiếp xúc và giao tiếp của chúng với những người chúng gần gũi. Con cái lệ thuộc, hay để ý và bắt chước cha mẹ. Do đó cha mẹ là người trực tiếp gieo vào tâm hồn trẻ những hạt giống yêu thương, trung thực, tốt bụng….hay giả dối, gây hấn, bạo lực….
    • Dạy con từ thưở còn thơ vì trẻ con có thể phân biệt được đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu. Để nhân cách trẻ được hình thành và phát triển tốt, trẻ con cần thấy được gương sáng nơi người lớn: chúng cần thấy được phản ứng của cha mẹ trước những hành động xấu xa. Chính bằng phản ứng và nhất là gương sáng của mình, cha mẹ đóng dấu lên tâm hồn trẻ niềm xác tín về cách hành xử và giải quyết vấn đề.
    • Nhân bất thập toàn. Không bắt buộc bậc làm cha mẹ phải là người hoàn hảo để làm gương sáng cho con. Tuy nhiên, họ cần có ý muốn hoàn thiện bản thân cách tốt nhất và thẳng thắn, có bản lĩnh để biết nhận lỗi và sửa sai một cách cụ thể. Qua đó, trẻ học được lòng can đảm, tính trung thực, sự cảm thông với những sai lầm của người khác và lòng bao dung. Điều này cũng có nghĩa là dạy chúng thấy những giới hạn trong thân phận con người. Chính vì thế mà chúng phải cảm thông trước những giới hạn và khuyết điểm của người khác

    5. Tổ chức lối sống trong gia đình:

    • Tạo bầu không khí gia đình ấm áp và đầy tình thương
    • Xây dựng nếp sống sinh hoạt lành mạnh để trẻ có thời gian luyện tập nhân cách của mình.
    • Tổ chức lối sống trong gia đình giúp trẻ học hỏi tính kỷ luật, sự tôn trọng người khác…
    • Dạy con bằng hành vi và cách sống của cha mẹ có hiệu quả hơn bằng lời nói
    • Tôn trọng là bảo vệ sự phát triển hồn nhiên theo từng lứa tuổi và tạo điều kiện để nhân cách trẻ phát triển cách toàn diện
    • Cha mẹ cần lắng nghe, không áp đặt và chấp nhận những suy nghĩ, cảm xúc của chúng
    • Lắng nghe và tham dự vào cuộc sống hằng ngày của con cái. Không xúc phạm, vùi dập trẻ bằng những hình thức hữu hình và vô hình
    • Không làm tổn hại đến tinh thần và thể chất của trẻ (Ví dụ: ép học là làm tổn hại đến sự phát triển của trẻ và làm chúng đánh mất tuổi thơ của mình)
    • Sự trao đổi, đối thoại là điều cần thiết trong công tác giáo dục
    • Sự thiếu tôn trọng con cái dẫn đến những tác hại nghiệm trọng về thể lý và tâm lý. Đứa trẻ không được tôn trọng, nâng đỡ thường tỏ ra bi quan và thường co cụm trong bản thân. Như thế, chúng cũng khó lòng nghĩ đến người khác

    7. Yêu thương + nghiêm khắc.

    • Yêu thương là giúp trẻ cảm nhận và biết biểu lộ tình cảm, cảm xúc với người khác. Khi được yêu thương, trẻ cảm thấy mình có giá trị. Từ đó, hình thành tính tự tin và lòng tự trọng
    • Cha mẹ cần có một tình yêu bao la, vô điều kiện đối với con cái. Tuy nhiên, nuông chiều con quá đáng sẽ làm con cái dễ hư hỏng, hình thành thành tính ích kỷ và đòi hỏi… Lớn lên, chúng thiếu ý thức cộng đồng, thiếu kỹ năng sống, không đủ bản lĩnh để vượt qua khó khăn trong cuộc sống
    • Nghiêm khắc với con cái là điều cần thiết để trẻ học biết những giới hạn và có những điều chỉnh cần thiết. Qua đó, trẻ học sống độc lập và tự tin. Tuy nhiên, những trẻ bị đối xử quá nghiêm khắc, không nhìn thấy được lòng yêu thương và biểu lộ tình cảm, lớn lên chúng trở thành người vô cảm, có một trái tim chai lì trước nỗi khổ đau và khó khăn của người khác. Thánh Phaolo khuyên các bậc làm cha mẹ: đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng trở nên nhát đản, sợ sệt
    • Cha mẹ cần nói “không” khi cần thiết. Điều này giúp chúng hiểu rằng không phải bất cứ điều gì chúng muốn, cũng được thỏa mãn. Qua đó, ý chí và sự tự chế được tôi luyện
    • Giữ được chừng mực, hài hòa giữa yêu thương và nghiêm khắc trong giáo dục con cái là cả một nghệ thuật đòi hỏi nhiều thời gian và hy sinh.

    8. Hiểu con để có phương pháp giáo dục đúng:

    • Cha mẹ cần có đủ sự hiểu biết về tâm lý con cái theo lứa tuổi và đặc điểm riêng, để đồng hành với chúng trong cuộc sống
    • Cha mẹ phải tin tưởng rằng bất cứ đứa con nào cũng có một tiềm năng để trở thành người tốt, nhưng con cái cũng có thế giới riêng tư của chúng. Cha mẹ cần có đủ thời gian, tình yêu, sự kiên nhẫn,… để có thể thấu hiểu và cảm thông với những diễn biến tâm lý phức tạp và những thay đổi về thể lý trong từng giai đoạn phát triển của chúng
    • Không hiểu con và áp đặt chúng theo những tiêu chuẩn mình mong muốn, cha mẹ gây ra những phát triển không lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần của con cái
    • Không hiểu con, cha mẹ dễ dàng đẩy chúng ra khỏi vòng tay yêu thương và sự bảo vệ cần thiết của mình
    • Không hiểu con, căng thẳng và xung đột giữa 2 phía ngày càng leo thang

    Tóm lại, giáo dục trong gia đình là bước đầu tiên và quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Để giáo dục trong gia đình đạt hiệu quả, đòi hỏi các bậc làm cha mẹ một sự huy sinh lớn lao, không vụ lợi, không cần được con cái đáp đền. Tám nguyên tắc cơ bàn giáo dục trên cần sử dụng đan xen nhau. Nó là chiếc chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc của con cái, nền tảng hạnh phúc của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Suy Nghĩ Những Biện Pháp Trong Giáo Dục Con Cái Của Bố Mẹ Để Có Gia Đình Hạnh Phúc
  • Bài 18: Giáo Dục Con Cái
  • 10 Cách Giáo Dục Con Cái Bằng Lời Nói
  • Những Biện Pháp Hay Về Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mn
  • Gia Đình Việt Nam Với Chức Năng Giáo Dục Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Máy Quản Lý, Điều Hành Công Ty.
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Giám Đốc
  • Luận Văn, Đồ Án, Đề Tài Tốt Nghiệp
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Chức Năng Và Các Thành Phần Của Hệ Điều Hành
  • Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Và Vai Trò Của Chúng
  • Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội. Gia đình vừa tạo dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng sự biến đổi của xã hội.

    Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của cả xã hội, gia đình cũng đang biến đổi một cách toàn diện. Do sự thay đổi các quan hệ và các hệ thống giá trị xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa nên vấn đề thực hiện chức năng giáo dục của gia đình cũng đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức. 

    Gia đình với chức năng giáo dục

    Gia đình là môi trường nguyên thủy mỗi con người sinh ra và trưởng thành. Là một nhóm xã hội đặc biệt, gia đình được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên gia đình cùng chung sống và có chung ngân sách. Bài học đầu tiên mỗi chúng ta học trên cuộc đời này là trong gia đình. Giáo dục gia đình thực sự là một sự nghiệp diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời mỗi con người. Giáo dục gia đình đó là sự tác động một cách kiên trì, thường xuyên, tổng thể và sâu sắc của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Quan niệm, thái độ, lối sống, cách ứng xử, hành vi đạo đức, tính cách, năng lực, công việc, sự nghiệp… của cha mẹ để lại dấu ấn sâu nặng đối với con cái mỗi gia đình. Nó tạo nên sản phẩm mà dân gian gọi là “giỏ nhà ai quai” nhà ấy.

    Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.

    Giáo dục gia đình được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ và cơ bản là dựa trên nền tảng căn bản là sự gương mẫu, sự nêu gương của các bậc cha, mẹ. Dĩ nhiên, giáo dục gia đình thường sử dụng các phương pháp đơn giản như: khuyên bảo, thuyết phục, đó là vừa dạy vừa dỗ vừa phân tích, diễn giải, chỉ bảo, khuyên nhủ; tập luyện, xây dựng thói quen, tạo lập nếp sống nền nếp tốt đẹp; cổ vũ, khích lệ, khen thưởng kịp thời những cố gắng, những thành tích đạt được dù là rất nhỏ; và, kỷ luật, răn đe, trừng phạt nghiêm khi trẻ có sai trái, không nghe lời… Tuy nhiên, các phương pháp này thường được mỗi gia đình sử dụng một cách linh hoạt và mềm dẻo rất khác nhau tùy thuộc vào môi trường gia đình cũng như đối tượng, mục đích giáo dục.

    Giáo dục gia đình tuân thủ các nguyên tắc: tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng của trẻ; phải nghiêm khắc nhưng lại khoan dung, độ lượng, nhân từ; yêu thương, tình cảm, gần gũi, thân tình; sử dụng quyền uy của cha, mẹ một cách hợp lý và quyền uy chủ yếu được sử dụng trong ngăn chăn và răn đe; và, thống nhất mục tiêu giữa các thành viên gia đình. Có thống nhất mục tiêu chung mới tạo ra được sản phẩm giáo dục hoàn hảo. Không thống nhất sẽ tạo ra sản phẩm méo mó, lệch lạc, phiến diện, dở dơi dở chuột.

    Về cơ bản, nội dung giáo dục gia đình bao gồm: hành vi đạo đức; tri thức căn bản; thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất và thẩm mỹ. Kỹ năng sống là một nội dung mới và đặc biệt quan trọng của giáo dục gia đình trong xã hội hiện đại. Mục tiêu của giáo dục gia đình muôn đời vẫn là tạo ra những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có suy nghĩ lành mạnh, có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cao đáp ứng được mọi yêu cầu của gia đình và xã hội. Nói cách khác, giáo dục gia đình đó là nhằm tạo ra những con người chân chính, có đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có năng lực trí tuệ cao, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương, đất nước. 

    Thách thức đối với giáo dục gia đình hiện nay

    Cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cách toàn diện. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống gia đình. Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; ngoại tình; sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ em nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, lang thang có xu hướng tăng; bạo lực gia đình; buôn bán phụ nữ; bất bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa người với người; tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức diễn ra phổ biến trong xã hội… đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi phương diện.

    Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng nề, hết sức bất lợi đối với sự bền vững và phát triển của gia đình nói chung và giáo dục gia đình và sự trưởng thành của trẻ em nói riêng. Cùng với những điều kiện khách quan đó, bản thân các gia đình hiện nay cũng đang gặp rất nhiều rắc rối, khó khăn. Đó là giá cả thị trường tăng cao, đời sống kinh tế bấp bênh, các thành viên gia đình gặp nhiều rủi ro, bất thường trong cuộc sống, trình độ văn hóa, học vấn của cha, mẹ thấp hoặc do dồn hết sức lực vào việc kiếm sống nên nhiều bậc cha, mẹ không có thời gian gần gũi, chăm sóc, dạy dỗ con…; mặt khác, do tác động nhiều mặt của xã hội mở cửa, tốc độ phát triển tâm – sinh lý của trẻ hiện nay diễn ra nhanh, có khi đột biến, bất thường trong khi các bậc cha, mẹ vừa chưa đủ kiến thức, chưa kịp nhận thức, chưa đủ thời gian, chưa có phương pháp phù hợp để kịp thời quản lý, điều chỉnh, giáo dục và định hướng phát triển đối với trẻ. 

    Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia đình không còn là một tổ chức bền vững mang tính khép kín. Để có được các nguồn thu nhập mới nuôi sống gia đình, nhiều cha, mẹ phải rời xa tổ ấm tìm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp, họ không những không có điều kiện gần gũi chăm sóc, giáo dục con nhỏ mà bản thân cũng gặp rất nhiều nguy cơ và rủi ro khi sống xa gia đình. Trong điều kiện đó, trong khi, cùng với sự phai nhạt tình cảm gia đình, sự cố kết giữa các thành viên gia đình trở nên thất thường, lỏng lẻo thì các thiết chế xã hội từng bước thay thế vai trò của gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây là sự chuyển đổi vai trò vô cùng nguy hiểm trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em giai đoạn chuyển đổi hiện nay. Nó rất có thể sẽ để lại nhiều dấu ấn khuyết tật trong nhân cách gốc của thế hệ tương lai. Hậu quả của nguy cơ này dường như được báo trước.

    Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục gia đình

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự chuyển đổi toàn diện về kinh tế – xã hội cũng đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ về hệ thống giá trị, trong đó, có cả những giá trị gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đều thống nhất khẳng định trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay mặc dù đang có rất nhiều tác động xấu đến đời sống gia đình, nhưng về cơ bản, gia đình Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống quý báu của mình như: tình yêu trong sáng, hôn nhân lành mạnh; lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô hạn của cha, mẹ cho con cái; con, cháu hiếu thảo với cha, mẹ, kính yêu ông, bà, biết ơn tiên tổ; anh em, họ hàng đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; các thành viên đề cao lợi ích chung của gia đình; lòng tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương… Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng đã tiếp thu nhiều tinh hoa của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng sự lựa chọn cá nhân; dân chủ, bình đẳng trong quan hệ; bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm và thụ hưởng; không phân biệt đối xử nam, nữ, trai, gái, dâu, rể… Với những yếu tố trên, rõ ràng gia đình Việt Nam vẫn đang và sẽ là một giá trị xã hội bền vững. Đây chính là cơ sở hiện thực để gia đình Việt Nam tiếp tục tồn tại và phát triển vững chắc và cũng là cơ sở để gia đình ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng giáo dục của mình.

    Tuy nhiên, để giáo dục gia đình trong điều kiện hiện nay vượt qua những cản trở, thách thức, đạt được hiệu quả cao hơn nữa cần thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ cả về nhận thức, kinh tế, văn hóa, xã hội. Có thể nêu một số giải pháp cụ thể là:

    – Cần tuyên truyền phổ biến để cả hệ thống chính trị, các đoàn thể, tổ chức và mọi công dân, mọi thành viên gia đình thấm nhuần chiến lược xây dựng và phát triển gia đình, Luật Hôn nhân Gia đình, quyền trẻ em và bình đẳng giới.

    – Có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo việc làm, tăng thu nhập, nhất là tạo việc làm tại chỗ, nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của gia đình, nhất là gia đình nông thôn.

    – Xây dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện thoái hóa, biến chất về đạo đức, những tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí và lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền.

    – Xây dựng mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa gia đình – nhà trường và các tổ chức xã hội để có sự thống nhất, đồng thuận trong thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.

    – Xã hội cần hỗ trợ các bậc cha, mẹ để họ có những phương pháp, biện pháp, nội dung giáo dục mới phù hợp với sự thay đổi những giá trị mới của gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay./.

    Nguyễn Linh Khiếu

    – PGS,TS. Trưởng ban Chính trị, Tạp chí Cộng sản (Nguồn: TCCS)

    (Theo Cinet)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên Giải Pháp Hiệu Quả Cho Người Bệnh Gan Nhiễm Mỡ,men Gan Tăng
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên 30 Viên
  • Bài 4 – Làm Việc Với Bảng Biểu
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Hàm Tính Toán Số Học Formula Trong Bảng Biểu Table Của Word Hoặc Outlook
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Công Cụ Flash Fill Để Tách, Gộp Dữ Liệu Trong Excel
  • Phương Pháp Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Là Động Lực Cho Cán Bộ, Đảng Viên Thực Hiện Tốt Nhiệm Vụ Chính Trị Của Cơ Quan, Đơn Vị
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Giáo Dục Giới Tính Cho Trẻ Em Như Thế Nào Là Hiệu Quả Nhất?
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Giáo Dục Học Sinh Khuyết Tật Hoà Nhập Lớp 5 Ở Trường Tiểu Học Bắc Lương
  • 1. Phương pháp giáo dục con cái trong gia đình khi điều kiện kinh tế thoải mái hơn

    Một trong những điểm thuận lợi trong phương pháp giáo dục con cái trong gia đình ngày nay đó là điều kiện kinh tế, vật chất thoải mái hơn trước rất nhiều. Khi Việt Nam bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều công ty, doanh nghiệp, công trình được mở ra… vì thế mức sống của người dân đã cao hơn trước. Nếu như trước đây thời kì kinh tế còn khó khăn, nhiều gia đình con cái không được đi học thì ngày nay với những gia đình có điều kiện trẻ được học trường đạt chuẩn quốc tế, những gia đình vùng núi hay nông thôn cũng cố gắng cho con theo học ở các trường của xã đảm bảo cho trẻ ở độ tuổi đi học được đến trường đầy đủ. Kinh tế của gia đình tốt thì mọi việc học tập, ăn mặc của trẻ hàng ngày đều được quan tâm chú trọng không chỉ ăn no mặc ấm mà còn ăn ngon mặc đẹp.  Điều kiện kinh tế, vật chất tốt còn tạo thuận lợi trong quá trình nuôi dưỡng trẻ, trẻ được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể phát triển toàn diện, có sức đề kháng tốt để chống chọi lại bệnh tật. Trước đây nhiều trường hợp trẻ bị sốt xuất huyết hay những bệnh về hô hấp, tiêu hóa do y tế chưa phát triển, cha mẹ không biết cách chăm sóc con theo khoa học mà theo những bài thuốc dân gian dẫn đến việc trẻ bị tử vong. Từ đây ta có thể thấy được điều kiện kinh tế tác động rất lớn đến sự phát triển của trẻ.

    2. Những điều kiện thuận lợi môi trường sống cho trẻ phát triển toàn diện về thể lực và nhân cách

    Môi trường sống xung quanh trẻ đó là nhà trường, gia đình, điều kiện chăm sóc sức khỏe… Để nuôi dưỡng và giáo dục con cái từ khi trẻ còn nhỏ cho đến khi chúng khôn lớn lên người quả không phải là điều dễ dàng. Đối với cha mẹ chăm sóc con cái không còn là nghĩa vụ, bổn phận mà đó còn là tình yêu thương vô bờ bến. Trẻ sinh ra khôn lớn bình thường là điều mong muốn của mỗi ông bố, bà mẹ nhưng nếu trẻ ốm đau bệnh tật con đau một thì cha mẹ đau năm lần. Trước đây khi môi trường sống chưa tốt khi trẻ ốm đi bác sĩ là một vấn đề khá nan giải không phải vì điều kiện kinh tế gia đình mà một phần còn vì khoa học chưa phát triển, ngành y tế còn nhiều hạn chế nhưng ngày nay điều thuận lợi cho phương pháp giáo dục con cái trong gia đình đó là trẻ được tiêm phòng đầy đủ, được theo dõi sức khỏe định kỳ… rất tốt cho sự phát triển của trẻ.

    Điều kiện thuận lợi thứ 2 cho việc chăm sóc con cái của bố mẹ đó là: Trẻ được đi học đến trường từ khi trẻ lên 2 – 3 tuổi. Đây là thời điểm lý tưởng cho phương pháp giáo dục con cái trong gia đình nên biết chứ không phải độ tuổi dậy thì như nhiều bậc cha mẹ vẫn nghĩ. Thay vì cho trẻ ở nhà hãy cho trẻ đi học sớm, việc này vừa giúp bố mẹ có thể yên tâm đi làm vừa tạo điều kiện cho trẻ được uốn nắn trong môi trường giáo dục.

    Trong thời đại công nghệ thông tin trẻ sớm được tiếp xúc với những tiến bộ của khoa học nên khả năng nhận thức, độ nhanh nhạy, tư duy của trẻ em thời nay thường nhanh hơn sự phát triển của trẻ so với thời kì trước đây. Vì thế cha mẹ cần thường xuyên dành thời gian bên con để dạy bảo con những điều hay, lẽ phải, định hướng cho bé những cuốn sách hay nên đọc, những chương trình bổ ích nên xem để bé biết được thế giới ngoài kia còn rộng lớn bao nhiêu. Cha mẹ nên theo dõi, quan sát tránh cho trẻ học những thói hư tật xấu từ bên ngoài, nếu trẻ có những biểu hiện sai trái hãy phân tích cho trẻ hiểu hành động mình vừa làm để trẻ phát triển đúng hướng.

    Dù có bao nhiêu điều kiện thuận lợi nhưng điểm quan trọng nhất trong phương pháp giáo dục con cái trong gia đình vẫn là vai trò của người bố người mẹ trong gia đình. Gia đình hòa thuận, bố mẹ yêu thương nhau, luôn là tấm gương sáng cho con học tập và noi theo thì nhân cách, tính nết con cái sẽ phát triển theo hướng tốt và ngược lại.

    Cập nhật : bởi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Về Giáo Dục Con Cái Ngày Nay
  • 3 Nguyên Tắc Vàng Trong Phương Pháp Giáo Dục Con Cái
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non – Phòng Gd&đt Mộc Châu
  • 5 Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Mầm Non Nổi Tiếng Trên Thế Giới
  • Biện Pháp Giáo Dục Nhân Cách Văn Hóa Cho Sinh Viên Sư Phạm
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Giáo Dục Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận: Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Tại Trung Tâm Bồi Dưỡng Chính Trị Các Huyện, Thị, Thành Phố Trong Thời Gian Đến
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Nhà Giáo Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Cải Thiện Công Tác Quản Lý Oda, Vốn Vay Ưu Đãi Trong Thời Gian Tới Trên Địa Bàn Tỉnh Sóc Trăng
  • Ô Che Nắng Xe Hơi
  • Trường được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất mới, với kinh phí trên 14 tỉ đồng. Ảnh: H.NHƯ  

    Ở lứa tuổi này trẻ luôn tò mò, hoạt động nhiều, ham học hỏi, khả năng tiếp thu kiến thức mới thông qua việc phát triển ngôn ngữ và tư duy logic phát triển nhanh, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt sáng tạo khi tổ chức các hoạt động cho trẻ và để trẻ được chăm sóc, giáo dục cần phải có sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao của đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường. Đối với Trường Mầm non Tuân Tức, một trong những giải pháp được nhà trường thực hiện để nâng cao công tác chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trẻ là tích cực đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện gắn với các cuộc vận động do ngành giáo dục phát động. Đồng thời, đổi mới cách thức quản lý, thực hiện kỷ cương nề nếp trong dạy học và chăm sóc trẻ.

    Ban Giám hiệu nhà trường luôn xác định, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên là khâu then chốt, tạo nên chất lượng giáo dục. Vì vậy nhà trường thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, hiện nay trường có 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đạt trình độ chuẩn, 100% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non. Hàng năm, nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên được học bồi dưỡng nâng cao trình độ, tổ chức tập huấn các chuyên đề, thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi kinh nghiệm, khuyến khích giáo viên tham gia các hội thi, hội giảng do nhà trường và phòng giáo dục phát động. Qua đó tạo động lực cho đội ngũ giáo viên hăng say, toàn tâm cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. 

    Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Ảnh: H.NHƯ

    Nhà trường còn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, sắp xếp công việc phù hợp với năng lực trình độ chuyên môn để giáo viên phát huy hết khả năng, tâm huyết với công việc. Tổ chức đánh giá kết quả đúng quy trình, biểu dương khen thưởng kịp thời, tạo động lực khuyến khích cán bộ, giáo viên nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện 100% giáo viên đều soạn bài trên máy vi tính và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên hăng hái thi đua dạy tốt, có nhiều giáo viên dạy giỏi như: 18 giáo viên đạt dạy giỏi cấp trường, 7 giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 1 giáo viên đạt dạy giỏi cấp tỉnh. Ngoài ra, nhiều giáo viên có sáng kiến kinh nghiệm trong làm đồ dùng đồ chơi, tổ chức các hoạt động ngoài trời, giáo dục trẻ vận động bằng phương pháp mới. Cùng với đó, nhà trường luôn chú trọng và làm tốt công tác tham mưu, xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp khang trang, đáp ứng yêu cầu dạy và học của con em ở địa phương.

    Đặc biệt, để nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ, nhà trường luôn chú trọng khâu nề nếp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và làm tốt công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ thể hiện qua việc khám sức khỏe định kỳ 2 lần/năm và theo dõi sức khỏe bằng biểu đồ tăng trưởng được nhân viên y tế cân, đo định kỳ theo quý và được treo trước phòng học để phụ huynh theo dõi và cùng phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, y tế trường học đối với những cháu suy dinh dưỡng.

    Hoạt động học tập của cô và trò Trường Mầm non Tuân Tức. Ảnh: H.NHƯ

    Việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mà Trường Mầm non Tuân Tức đã đạt được là niềm vui để khuyến khích, động viên tập thể cán bộ, giáo viên nỗ lực phấn đấu hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người”, góp phần ươm những mầm non phục vụ cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Đặc biệt, với những kết quả đạt được, nhà trường đã duy trì trường đạt chuẩn quốc gia từ năm 2007 cho đến nay.

    H.NHƯ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Tư Vấn Giải Pháp Môi Trường Xanh
  • Công Ty Tư Vấn Dịch Vụ Môi Trường Việt Nam
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Môi Trường Và Nước Việt
  • Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Tài Nguyên Để Phát Triển Bền Vững
  • Bảo Đảm An Ninh Nguồn Nước Cho Sự Phát Triển Bền Vững
  • Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 37: Trách Nhiệm Gia Đình
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình (Tiết 2)
  • Bài 12. Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • (Tư Vấn) +8 Máy May Gia Đình Tốt Nhất (Review: 2022)
  • Chức năng cơ bản của gia đình là vai trò cơ bản của gia đình mà vai trò đó làm cơ sở cho toàn bộ sự hoạt động và phát triển của gia đình.

    Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng mỗi con người, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì gia đình có ba chức năng cơ bản: chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế. Chức năng sinh đẻ nhằm tái sản xuất ra con người, nhằm duy trì và phát triển nòi giống. Nhờ có chức năng sinh để của gia đình mà xã hội không thể bị diệt vong. Chức năng giáo dục nhằm trang bị cho con người những tri thức cần thiết để phục vụ cuộc sống, phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Chức năng kinh tế của gia đình nhằm tạo ra những gia đình ấm no. Kinh tế gia đình phát triển thì nền kinh tế quốc gia mới hưng thịnh. Trong các chức năng trên, chức năng giáo dục đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, gia đình Việt Nam còn có chức năng quan tâm, chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi.

    • Yêu cầu phản tố là gì ? Quy định về yêu cầu phản tố(09/11)
    • Yêu cầu của đương sự là gì ? Quy định về yêu cầu của đương sự(09/11)
    • Yếu tố nước ngoài là gì ? Quy định pháp luật về yếu tố nước ngoài ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là gì ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật là gì ? Quy định về ý thức pháp luật(09/11)
    • Ý thức công dân là gì ? khái niệm ý thức công dân được hiểu thế nào ?(09/11)
    • Ý chí nhà nước là gì ? Khái niệm ý chí nhà nước hiểu thế nào cho đúng ?(09/11)
    • Xử phạt vi phạm hành chính là gì ? Quy định về xử phạt vi phạm hành chính(09/11)
    • Xử lý vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về xử lý vi phạm pháp luật(09/11)
    • Xử lý vi phạm kỷ luật lao động là gì ? Quy định về xử lí vi phạm kỷ luật lao động(09/11)
    • Bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?
    • Vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về hành vi vi phạm pháp luật
    • Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là gì ? Quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trung Tâm Dân Số
  • Hậu Quả Của Việc Không Thực Hiện Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Máy Hàn Điện Tử Legi Tig
  • Máy Hàn 3 Chức Năng Que
  • Máy Hàn Điện Tử, Hàn Inox, Co2, Hàn Tig, Hàn Mig
  • Vai Trò Của Gia Đình Trong Giáo Dục Nhân Cách Thế Hệ Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Thiếu Nhi Việt Nam: Phát Huy Sức Mạnh Giáo Dục
  • Về Vấn Đề Tính Khoa Học Của Triết Học, Một Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Về Thể Chế Phát Triển Giáo Dục Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra Trong Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Là Nhiệm Vụ Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • NGUYỄN THỊ NGA*

    TÓM TẮT

         Gia đình là thiết chế quan trọng bậc nhất cho sự hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách, đạo đức của mỗi người, bởi đây là nơi ta được sinh ra, được giáo dưỡng để lớn khôn, trưởng thành. Gia đình không chỉ là môi trường đầu tiên ươm mầm nhân cách con trẻ mà còn ảnh hưởng lâu dài tới quá trình phát triển, hoàn thiện và gìn giữ đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân trong suốt cả cuộc đời. Mặt khác, giáo dục trong nhà trường, ngoài xã hội chỉ phát huy hiệu quả vai trò của mình khi giáo dục trong gia đình được chú trọng, được xem là nền tàng. Vì vậy, mỗi gia đình, mỗi ông bố, bà mẹ cần thấy được vai trò, trách nhiệm của mình trong giáo dục đạo đức, dạy con biết cách trở thành người tốt, người có ích cho xã hội.

    Từ khóa: Gia đình, giáo dục, nhân cách.

    x

    x x

    1. Đặt vấn đề

         Chúng ta chỉ cần gõ cụm từ “bạo lực học đương” hay “tội phạm trẻ vị thành niên” trên thanh công cụ google trong vòng 0,3 giây đã có tới hơn 2 triệu kết quả tìm kiếm từ tin tức, hình ảnh và các video. Đây thực sự là con số lớn không tưởng đã phản ánh thực trạng ở mức báo động “đỏ” về nhân cách, đạo đức thế hệ trẻ hiện nay. Và khi xem các hình ảnh, video, ta thấy các bạn học sinh đang khoác trên mình bộ đồng phục nhưng sẵn sàng cầm gậy, ghế lao vào đánh nhau như phim chưởng, những tốp nữ sinh với áo dài trắng thướt tha nhưng không ngại túm tóc, đạp liên tiếp vào mặt vào người bạn, thẫm chí là xé áo bạn thành nhiều mảnh như phim cung đấu… Và xung quanh là sự thờ ơ, vô cảm đến đáng sợ của các bạn xung quanh trước sự đau đớn, bất lực của chính người bạn của mình, thẫm chí còn nói cười, quay clip đăng mạng để câu like. Thực sự đây là những hành vi phi nhân tính, thiếu trái tim, sự trống rỗng cảm xúc đến tàn nhận từ các bạn học sinh – đối tượng được cho là ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên nhất. Và còn là sự xuống cấp về văn hóa, thuần phong mỹ tục ở cách hành xử, ăn mặc, lối sống phóng túng, buông thả trong chuyện tình cảm đã để lại những hậu quả khôn lường cho bản thân, gia đình, xã hội.

         Không những thế, theo các báo cáo hàng năm về các vụ vi phạm do trẻ em, người chưa thành niên gây nên, chúng ta thấy số lượng, tính chất phức tạp, mức độ nghiêm trọng của các vụ án đều tăng qua các năm. Nếu trước đây thường là các vụ gây rối trật tự công cộng, đánh nhau, vi phạm an toàn giao thông, trộm cắp tài  sản ở mức độ ít nghiêm trọng… thì hiện nay có thể là giết người, cướp tài sản, hiếp dâm… đây thực sự là mối lo ngại, sợ hại của người dân, đồng thời cũng phản ánh sự xuống cấp của đạo đức, nhân cách của giới trẻ, là nỗi đau, sự bất lực của gia đình, trường học, xã hội.

         Chúng ta biết rằng việc giáo dục nhân cách giới trẻ chỉ phát huy hiệu quả khi có sự giáo dục đồng bộ của cả ba thể chế từ xã hội, trường học và gia đình. Tuy nhiên, khi con cái hư hỏng, khi các vụ việc xẩy ra thì người ta thường đổ lỗi cho nhà trường nhiều hơn mà nhiều khi quên đi vai trò, trách nhiệm của gia đình trong giáo dục con cái, đây thực sự là sai lầm. Bởi gia đình không chỉ nuôi dưỡng con cái lớn khôn về mặt thể chất mà còn là môi trường đầu tiên in dấu nhân cách lên mỗi cá thể, là suối nguồn yêu thương góp phần quan trọng hoàn thiện, nuôi dưỡng nhân cách, đạo đức mỗi người. Chính vì vậy, vai trò của gia đình trong việc giáo dục nhân cách thế hệ trẻ là quan trọng bậc nhất, nếu các em không được giáo dục, đã hư ngay từ trong gia đình thì nhà trường khó lòng giáo dục các em trở thành những người con ngoan, trò gỏi, người vừa có đức vừa có tài. Vì vậy, “Vai trò của gia đình trong giáo dục nhân cách thế hệ trẻ” là vô cùng quan trọng.

    2. Nội dung

         2.1.  Một số khái niệm cơ bản

         Khái niệm gia đình

         Gia đình là nơi ta được sinh ra, lớn lên trong sự nuôi dưỡng, dạy bảo, chở che của người thân, là môi trường đầu tiên con người được tiếp nhận các giá trị. Vì vậy có câu nói rằng: “Gia đình là nơi trang bị cho bạn những hành trang quí giá để bạn bước vào ngưỡng cửa cuộc đời” và câu nói này mãi đúng với mọi thời đại.

         Theo xã hội học thì gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên.

         Nếu như khái niệm gia đình của xã hội học nhấn mạnh tới hình thức tổ chức, mối quan hệ hình thành nên gia đình thì khái niệm gia đình của luật học đề cập tới mối quan hệ cũng như quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo luật pháp: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo qui định của luật hôn nhân và gia đình”.

         Như vậy, gia đình được hiểu dưới nhiều cách khác nhau, tuy nhiên vấn đề cốt lõi xoay quanh các khái niệm về gia đình vẫn là mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên để hình thành nên gia đình. Và chính mối quan hệ này tạo nên “sứ mệnh” của gia đình trong giáo dục nhân cách con người bằng cả trách nhiệm và tình yêu thương.

         Khái niệm giáo dục

         Có thể nói rằng chính sự giáo dục đã tạo nên sự khác biệt giữa con người với các loài vật về mặt nhận thức, hành vi. Và bản thân mỗi người chịu sự giáo dục của nhiều môi trường khác nhau từ gia đình, trường học tới xã hội. Vậy thế nào là giáo dục?

         Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội loài người.

         Giáo dục theo nghĩa hẹp là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể – là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, thuộc lĩnh vực đạo đức, lao động, tư tưởng chính trị, thẩm mỹ, vệ sinh,… Chức năng trội của giáo dục là hình thành phẩm chất đạo đức của con người.

         Như vậy, giáo dục không đơn thuần là dạy chúng ta biết chữ, biết chiếm lĩnh các tri thức, học thuật, các kỹ năng… mà giáo dục còn dạy ta biết cách làm người – một người tử tế từ tâm hồn tới nhân cách.

         Khái niệm về nhân cách

         Chính nhân cách làm nên nét độc đáo, bản sắc là nội dung bên trong của mỗi cá nhân. Nó chi phối hành vi của mỗi người và giúp chúng ta phân định người tốt với kẻ xấu, trung thực với gian manh, sự cao thượng với thấp hèn, lòng bác ái với sự hiểm ác…

         Như vậy, nhân cách được coi như là toàn bộ những đặc điểm cùng với những phẩm chất tâm lý cá nhân có tác dụng quy định giá trị và hành vi xã hội của một con người.

         2.2. Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục hoàn thiện nhân cách trẻ

         Gia đình là trường học đầu đời của mỗi người

         Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên, là trường học đầu đời của con người. Ngay từ khi sinh ra, con trẻ đã được tắm mình trong văn hóa dân tộc, gia đình qua những lời hát ru của bà của mẹ, tâm hồn các em như những trang giấy trắng và chính cách giáo dục của gia đình, chính lời ăn tiếng nói, cách hành xử của các thành viên sẽ in dấu lên tâm hồn non trẻ của các bé. Nếu gia đình thuận hòa, các thành viên đều có hành vi, lời nói chuẩn mực, là tấm gương sáng về nhân cách thì được xem là môi trường thuận lợi đề gieo vào tâm hồn trẻ những hạt giống yêu thương, lòng nhân ái, những đức tính tốt cần có ở con người. Ngược lại, đứa trẻ sinh ra trong gia đình có sự “khiếm khuyết” về tình thương, các thành viên không phải là những tấm gương sáng để con trẻ noi theo thì thông thường đứa trẻ sẽ trở thành những kẻ hư hỏng. Hay theo giáo sư Đào Duy Anh thì: “Những đứa trẻ sớm mồ côi, bị ném vào xã hội thì chúng là cái mồi rất tốt cho những tật xấu, thói hư”. Và nhà phân tâm học D. Winnicott cũng từng nói “một trẻ sơ sinh – con người ấy không tồn tại”.  Như vậy, mỗi người không có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách tốt đẹp và bền vững nếu thiếu đi một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi và thực sự không gia đình con người rất khó trưởng thành theo đúng nghĩa một con người. Bởi vậy, cách giáo dục và môi trường sống trong mỗi gia đình đóng vai trò quyết định, ảnh hưởng đến việc đứa trẻ lớn lên như thế nào và sống ra sao.

         Một người trưởng thành, tất nhiên chịu ảnh hưởng của nhiều môi trường sống: gia đình, nhà trường, bạn bè, nơi làm việc… Từng môi trường có tác động khác nhau vào từng “góc” tiếp thu của con người. Song, môi trường gia đình giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong việc hình thành tính cách, nhân cách, lối sống của mỗi người. Vì vậy, hãy chú ý đến cách giáo dục trong gia đình. Muốn con cái trưởng thành, hãy tự xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, phù hợp và hiệu quả trong mỗi mái nhà.

         Gia đình là “tấm khiên” giúp thế hệ trẻ tránh những thói hư tật xấu

         Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thì chỉ cần một cái điện thoại, một cái máy tính có kết nối Internet thế giới đã được thu nhỏ trong tầm tay. Công nghệ, internet là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội hiện đại, tuy nhiên nó cũng có những mặt trái nếu con người không biết sử dụng đúng cách. Đặc biệt là giới trẻ dễ bị tiêm nhiễm bởi những thói hư tật xấu thì internet lại có đầy rẫy những thứ không nên xem như các trò chơi bạo lực, sex, các tệ nạn qua mạng… có thể tác động xấu tới việc hoàn thiện nhân cách, hành vi của giới trẻ. Mặt khác, với môi trường xã hội phức tạp như hiện nay, nếu trẻ không được giáo dục tốt sẽ dễ dàng bị cuốn theo những thói hư, các tệ nạn thẫm chí là phạm tội nghiêm trọng. Nhưng với một môi trường giáo dục tốt từ gia đình, được bố mẹ quan tâm và luôn hiện diện trong mỗi bước trưởng thành của con, được trao trọn tình yêu thương thì các bạn trẻ sẽ đủ sức chống lại mọi sự cám dỗ từ xã hội để trở thành những công dân có ích. Mặt khác, bố mẹ có thể nhanh chóng phát hiện những biểu hiện bất thường, những hành vi không đúng của các con để kịp thời tác động, uốn nắn, định hướng lại giúp các con tránh xa những điều không tốt.

         Như vậy, gia đình luôn là lá chắn, là bộ lọc thanh trừ những điều xấu để con trẻ tiếp nhận những điều hay ý đẹp, những đức tính, hành vi tốt giúp ích cho quá trình hoàn thiện nhân cách của bản thân.

         Giáo dục gia đình giúp quá trình giáo dục nhà trường, xã hội phát huy được giá trị

         Bản thân mỗi người sẽ chịu sự giáo dục của nhiều môi trường khác nhau: gia đình, trường học và xã hội. Tuy nhiên, như chúng ta đã nói gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên in dấu lên tâm hồn con trẻ nên nó có tác động sâu sắc tới việc hình thành và hoàn thiện nhân cách của mỗi người. Con cái là do bố mẹ sinh ra, là người gần gũi với các con nhất nhưng nếu không giáo dục được con em của mình thì tại sao lại đổ lỗi cho giáo viên, trường học? Vì vậy, giáo dục giá trị nhân cách trong nhà trường, ngoài xã hội chỉ có thể phát huy được hiệu quả khi gia đình hoàn thành được sứ mệnh giáo dục trong gia đình.

         Mặt khác, chương trình giáo dục của nước ta vẫn còn thiên về dạy chữ hơn dạy người, ngoài xã hội có nhiều điều tốt nhưng cũng có vô vàn cạm bậy. Chính vì thế, giáo dục gia đình là môi trường giáo dục quan trọng bậc nhất, không thể thiếu và cùng với giáo dục các giá trị ở trường học, tiếp tiếp nhận những điều tốt từ xã hội sẽ giúp con người từng bước hoàn thiện nhân cách và thế hệ trẻ sẽ là tương lai, trụ cột của đất nước.

         2.3.  Nội dung giáo dục trong gia đình

         Giáo dục đạo đức

         Trong giáo dục gia đình, giáo dục đạo đức là nội dung quan trọng nhằm xây dựng ý thức, bồi dưỡng tình cảm đạo đức, rèn luyện thói quen hành vi đạo đức và để mỗi thành viên trong gia đình được sống trong môi trường chan chứa tình thương, đậm tính nhân văn. Giáo dục đạo đức trong gia đình hướng tới sự hình thành và phát triển nhân cách với những phẩmchất sau: giáo dục lòng kính trọng, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ. Và từ xưa đến nay, nó vẫn được coi là yếu tố đạo đức quan trọng nhất đối với trẻ ở trong bất cứ gia đình nào. Giáo dục cho trẻ sự thông cảm sâu sắc với điều kiện, hoàn cảnh, đời sống của gia đình để trẻ biết sống “tùy gia phong kiệm”, tạo nên một không khí hòa thuận, ấm cúng trong đời sống gia đình. Phải giáo dục trẻ biết vâng lời và biết hoàn thiện công việc một cách vui vẻ khi bố mẹ sai bảo. Cha mẹ còn phải giáo dục cho trẻ ý thức trách nhiệm đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa anh chị em ruột thịt. Chính những hành vi, cư xử lễ phép, kính trên, nhường dưới, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ là cơ sở giúp trẻ hình thành những phẩm chất đạo đức tốt như: lòng nhân ái, tính khiêm tốn, tính chân thực trong quan hệ đối nhân xử thế với mọi người ngoài xã hội.

         Giáo dục tinh thần yêu thích sự học tập, yêu lao động và rèn luyện tính tự lập cho trẻ

         Giáo dục học tập có nội dung toàn diện, nhằm trang bị những tri thức văn hóa, khoa học – kỹ thuật, nhằm mở rộng sự hiểu biết, rèn luyện năng lực tư duy khoa học, óc phân tích và kỹ năng vận dụng những tri thức vào cuộc sống. Do đó, cùng với giáo dục ở nhà trường, giáo dục đức tính siêng năng học tập trong gia đình là hết sức quan trọng.

         Học tập là việc quan trọng bậc nhất đối với các em nhằm nâng cao kiến thức về mọi mặt, để trở thành người lao động có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ kiến thức khoa học và năng lực thực hành, đáp ứng yêu cầu của người lao động mới. Rèn luyện cho các em ý thức tự giác, lòng say mê học tập. Trong chừng mực có thể được, cha mẹ dạy con cái về kiến thức văn hóa và văn hóa ứng xử. Dù khó khăn đến đâu, gia đình cũng phải dành cho con trẻ những điều kiện thuận lợi nhất cho học tập, đồng thời, phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở việc học tập của con cái. Gia đình phải luôn tạo ra “không khí học tập”, phải tôn trọng việc học, giờ học của con, cần có sự phân công giữa cha và mẹ, các anh chị lớn tuổi, trong việc kèm cặp con cái học tập.

         Giáo dục lao động cũng là một nội dung quan trọng không thể thiếu bởi nó giúp con trẻ biết trân quí thời gian, thành quả lao động, giúp các em phát triển năng lực, kĩ năng ở những lĩnh vực khác nhau. Như vậy, lao động vừa sức, phù hợp với lứa tuổi trong gia đình sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện, tránh chây lười, ỉ lại trong công việc.

         Giáo dục của gia đình phải thông qua hoạt động của trẻ, học tập, lao động, tham gia các hoạt động xã hội mà hun đúc tinh thần, ý thức tập thể, có như vậy chúng ta mới hiểu trẻ và có những hình thức, biện pháp cụ thể, phối hợp trong giáo dục nhân cách cho trẻ hiệu quả cao. Vì vậy, trước hết mỗi gia đình phải trở thành một tổ chức giáo dục. Mỗi người lớn trong gia đình là những nhà giáo dục đầu tiên và nhà giáo dục thường xuyên đối với thế hệ trẻ.

         Giáo dục thể chất và thẩm mỹ

         Cuộc đời của một con người được khỏe mạnh, trường thọ hay không là do kết quả của một quá trình biết giữ gìn, chăm sóc sự phát triển của cơ thể ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, cả giai đoạn trung niên cho đến khi về già. Động viên khuyến khích trẻ thực hiện chế độ thể dục buổi sáng, tham gia các hoạt động thể thao phù hợp với sở thích, nhu cầu, nhằm phát triển năng khiếu cá nhân. Giáo dục con em ý thức phòng, chữa bệnh nhằm giữ gìn bảo vệ sức khỏe. Việc giáo dục thể chất cho trẻ cũng gắn liền với việc tổ chức vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, tham quan du lịch theo điều kiện hoàn cảnh của từng gia đình.

         Giáo dục giới tính, tình yêu và hôn nhân cho thế hệ trẻ

         2.4.  Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong gia đình

    Gia đình đóng vai trò không thể thay thế trong việc thỏa mãn nhu cầu vật chất và tình cảm cũng như giáo dục nhân cách cho mỗi cá nhân trong xã hội và sẽ giúp thúc đẩy xã hội phát triển cả về kinh tế, xã hội. Giáo dục của gia đình là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc gia, bên cạnh giáo dục của nhà trường và các tổ chức xã hội. Để gia đình thực sự trở thành tế bào của xã hội thì những người làm cha, mẹ – những người chủ của gia đình cần quan tâm đến những vấn đề sau:

         Nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình đối với sự hình thành nhân cách trẻ gắn liền với nâng cao trình độ và năng lực giáo dục con cái của các bậc cha mẹ

         Gia đình là trường học đầu tiên và suốt đời của mỗi con người, là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ. Do đó, môi trường gia đình là nền tảng, là cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Để phát huy vai trò của gia đình, của cha mẹ trong sự nghiệp giáo dục con cái thì trước hết phải nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ vị trí, vai trò của gia đình trong giáo dục các con. Giáo dục nhà trường xã hội, ảnh hưởng của bạn bè rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình xã hội hoá con người. Song, không thể thay thế vai trò của giáo dục gia đình vì 90% nhân cách đứa trẻ được hình thành từ bé đến lúc chúng 5 tuổi. Và chỉ khi các bậc cha mẹ nhận thấy được tầm quan trọng của gia đình trong giáo dục con cái thì mới giành nhiều thời gian để quan tâm, dạy bảo các con, tránh thực trạng “khoán trắng” trách nhiệm này cho trường học, người thân, người giúp việc.

         Đồng thời, để phát huy được hiệu quả giáo dục trong gia đình thì bố mẹ phải là những người phải có kiến thức, hiểu được tâm lý của các con. Kiến thức ở đây có thể từ kinh nghiệm, có thể học từ sách vở và trong cuộc sống. Dù thế nào cha mẹ cũng phải biết lựa chọn những vấn đề phù hợp với yêu cầu xã hội, phù hợp với hoàn cảnh và tâm lý lứa tuổi, phù hợp với đặc điểm của từng đứa trẻ. Cha mẹ phải cập nhật thông tin, nắm được nhu cầu tâm lý của con mình, có phương pháp giáo dục đối với từng đứa trẻ cho phù hợp.

         Bản thân cha mẹ phải là những tấm gương tốt

         Cách hành xử của bố mẹ với nhau, cách cư xử của bố mẹ với con cái và những người xung quanh có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách đứa trẻ. Nếu lúc nhỏ đứa trẻ được học cách hành xử “vô văn hóa”, “vô đạo đức” của bố mẹ thì lớn lên đứa trẻ cũng nhiễm cách cư xử như vậy. Ngược lại, nếu cha mẹ là những tấm gương sáng, mẫu mực thì con cái sẽ là những người có nhân cách tốt, ngoài trừ những đứa trẻ có quá trình giáo dục và tự giáo dục không tốt.

         Gia đình phải xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tiến bộ

         Bình đẳng ở đây thể hiện là mọi thành viên trong gia đình đều có quyền nói lên tiếng nói của mình. Mọi tâm tư nguyện vọng của các cá nhân trong gia đình đều được lắng nghe, chia sẻ, những tâm tư nguyện vọng nào chính đáng phải được đáp ứng cho phù hợp. Muốn có được điều này thì các thành viên trong gia đình phải thực sự tôn trọng nhau, đặc biệt không có sự bất bình đẳng giới. Trẻ em trai và trẻ em gái phải có quyền và nghĩa vụ như nhau, được thụ hưởng mọi giá trị như nhau, cùng nhau được học hành. Những người cha, người mẹ trong gia đình cũng phải được tôn trọng như nhau, lắng nghe và chia sẻ với nhau mọi việc trong cuộc sống.

         Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ

         Nội dung giáo dục phải toàn diện bao gồm cả đạo đức, tri thức, lao động và rèn luyện tính tự lập cho trẻ tới giáo dục thể chất, giáo dục giới tính. Trong mỗi một nội dung cụ thể cũng phải có sự thay đổi. Đổi mới nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục học tập, lao động, rèn luyện tính tự lập cho trẻ, đồng thời phải quan tâm đến giáo dục thể chất, thẩm mỹ, giới tính cho thế hệ trẻ. Phải giáo dục cho trẻ ý thức giữ gìn, bảo vệ sức khỏe cho bản thân và mọi người xung quanh. Có sức khỏe tốt thì mới thực hiện được việc học tập, lao động. Giáo dục trẻ có chế độ ăn uống, học tập, lao động khoa học, hợp lý; phòng chống các tệ nạn xã hội như nghiện hút, tiêm chích ma túy,… Có những hiểu biết nhất định về quá trình phát triển sinh học của cơ thể, sự khác biệt giữa những người khác giới,…Tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra do trẻ tò mò, thiếu hiểu biết như yêu và quan hệ tình dục quá sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần và tương lai của trẻ.

         Không nuông chiều con một cách thái quá

         Ngày nay, thường mỗi gia đình chỉ có 1 – 2 con, lại có điều kiện kinh tế. Do đó nhiều gia đình xem con là những “ông hoàng, bà hoàng”, họ đáp ứng mọi nhu cầu của con cái, nuông chiều, cung phụng con một cách thái quá. Chính điều này các ông bố, bà mẹ đang làm “hại” con mình mà không hay biết. Bởi những đứa trẻ được sinh ra, được giáo dục trong môi trường này thường xem mình là trung tâm bắt người khác phục tùng, có lối sống ích kỉ, xem thường người khác, ghét lao động, ưa hưởng thụ, thiếu sự cảm thông, thiếu kỹ năng sống tự lập… Và một người hội tụ đủ những điều này thì thực sự đang “khiếm khuyết” về mặt nhân cách. Chính vì vậy, các ông bố bà mẹ yêu thương con mình nhưng yêu thế nào cho đúng cách.

         Tăng cường sự kết hợp giữa gia đình với nhà trường và các tổ chức xã hội trong giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ

         Nhà trường quan tâm nhiều đến dạy chữ, dạy nghề hơn là giáo dục văn hoá ứng xử trong quan hệ thầy trò, bạn bè, tình yêu,… Cha mẹ thì dường như phó mặc việc dạy dỗ con cái cho nhà trường, chỉ quan tâm đến đời sống vật chất cho con cái. Các tổ chức xã hội dù đã có nhiều phong trào cho trẻ hoạt động nhưng còn nghèo nàn, chưa thu hút được đông đảo trẻ tham gia. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục thế hệ trẻ. Mỗi thiết chế này lại có những ưu nhược điểm khác nhau trong quá trình giáo dục trẻ, việc phối hợp sẽ giúp các thiết chế bổ sung, hỗ trợ cho nhau để hiệu quả giáo dục trẻ tốt hơn. Sự thành công trong giáo dục chỉ có được khi tất cả các lực lượng (gia đình, nhà trường, xã hội) thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung giáo dục, tất cả vì thế hệ tương lai đất nước.

    3. Kết luận

         Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, vừa chịu sự tác động mạnh mẽ, liên tục của các chuyển biến xã hội, vừa là động lực thúc đẩy xã hội. Gia đình có vai trò to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho con người, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là cơ sở để xây dựng xã hội tốt đẹp. Như Bác Hồ đã từng nói: “hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”.  Và giáo dục trong gia đình là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Cách giáo dục và nuôi dưỡng đúng đắn chính là nền tảng hạnh phúc cho mỗi gia đình và ổn định lâu dài cho xã hội.

         Giáo dục gia đình luôn giữ một vị trí quan trọng trong việc phát triển nhân cách trẻ. Vì vậy, người làm cha mẹ cần được trang bị nhiều hơn những kiến thức về giáo dục gia đình như chăm sóc, nuôi dạy con cái một cách khoa học, biết kỹ năng tư vấn, trò chuyện với con. Đồng thời cần phải tuyên truyền để nâng cao nhận thức về vị trí, giáo dục gia đình, từ đó có chính sách củng cố, tăng cường sức mạnh cho gia đình, phát huy vai trò của gia đình trong quá trình phát triển đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho gia đình thực hiện tốt các chức năng cơ bản là việc làm hết sức cần thiết và đúng đắn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.    Lê Ngọc Hùng (2006),  Xã hội học giáo học, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội,

    2.    Bùi Gia Thịnh (1999), Xã hội hóa công tác giáo dục – nhận thức và hành động, Viện khoa học giáo dục xuất bản.

    3.    Trần Thị Kim Xuyến (2002), Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại, Nxb. Thống kê.

    Trích dẫn: Trường Đại học Khánh Hòa

    Thánh Địa Việt Nam Học

    (https://thanhdiavietnamhoc.com)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
  • Trách Nhiệm Của Gia Đình Trong Việc Chăm Sóc, Bảo Vệ, Giáo Dục Con Cái
  • Vai Trò Của Bảo Tàng Nói Chung Và Bảo Tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh Nói Riêng Trong Giáo Dục Lịch Sử Đối Với Học Sinh Phổ Thông
  • Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Chuyên Ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100