Chức Năng Otg

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Chức Năng Otg xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/01/2021 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Chức Năng Otg để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 6.435 lượt xem.

Có 15 tin bài trong chủ đề【Chức Năng Otg】

【#1】Cáp Chuyển Đổi Công Nghệ Otg Dùng Cho Điện Thoại Android Hỗ Trợ Sạc Và Chức Năng Truyền Dữ Liệu Cùng Một Lúc (Xtm

Giới thiệu Cáp chuyển đổi công nghệ OTG dùng cho điện thoại Android hỗ trợ sạc và chức năng truyền dữ liệu cùng một lúc (XTM – CapAdroid)

Hỗ trợ chức năng OTG, có thể kết nối trực tiếp với USB

Đèn LED cho phép bạn nhìn thấy giao diện trong bóng tối.

Hỗ trợ sạc và chức năng truyền dữ liệu cùng một lúc.

Thiết kế lớp nhựa TPE chắc chắn, chống kéo và mòn.

Chất liệu thân thiện với môi trường không độc hại.

Kích thước: chiều dài cáp 1 mét

Ngày nay, các Smart phone với cấu tạo gọn nhẹ, dần dần thay thế chiếc Laptop to lớn cồng kềnh để thực hiện 1 số chức năng cần thiết. Công nghệ OTG được ứng dụng trên chiếc cáp điện thoại, hỗ trợ đắc lực và không thể thiếu.

Công nghệ OTG (One-The-Go) là công nghệ giúp smartphone của bạn có thể kết nối với các thiết bị ngoại vi (chuột máy tính, bàn phím vật lý, USB,) và sử dụng chúng một cách bình thường như khi ta thao tác trên máy tính.

Cửa hàng chúng tôi chuyên phân phối các phụ kiện điện thoại của Newzealand sẽ cung cấp loại cáp OTG này. Chất lượng vượt trội so với các loại cáp cùng sản xuất tại Trung Quốc. Mẫu mã đẹp đa dạng.

Công dụng của cáp USB OTG trên Android

Tương thích với: Điện thoại, Máy tính bảng Chất liệu: lớp nhựa TPE và lõi dây đồng nguyên chất Loại: Dòng dữ liệu Crystal OTG Giao diện: USB, Micro USB Chức năng: Sạc và truyền dữ liệu Màu sắc: Đen, Trắng, RoseRed, Cam, Xanh, Xanh.

Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

Thông tin chi tiết

Thương hiệu

OEM

SKU

1486677630174


【#2】Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android

2336 Lượt xem

Vậy bạn có thể làm gì với cổng USB OTG? Bạn có thể làm được nhiều thứ với cổng USB OTG, như bạn có thể gắn USB vào điện thoại để copy hình, gắn tay game Xbox 360 vào điện thoại android để chơi game

USB OTG không phải là một chức năng đặc biệt trên Android, hiện nay nó khá phổ biến và có mặt trên hầu hết các smartphone Android tầm trung trở lên. Một số máy in cũng đã hỗ trợ kết nối USB OTG, Microsoft đang dự định mang USB OTG vào Windows Phone 10, nhứng chưa có dấu hiệu Apple sẽ đưa USB OTG lên iPhone. Thêm một lý do nữa để chọn Android thay iPhone

Nếu bạn không thể tìm thấy thông tin từ nhà sản xuất, thì hãy thử kiểm tra thiết bị của bạn trên web chúng tôi Trong phần thông tin chi tiết, hãy tìm dòng “USB” và xem có ghi “USB Host” hay “USB OTG” không, nếu có thì chúc mừng, điện thoại của bạn có USB OTG.

Thêm một cách nữa là cài ứng dụng “USB OTG Checker” từ CH Play, đây là một ứng dụng miễn phí giúp bạn nhanh chóng xác định liệu điện thoại Android của mình có hỗ trợ USB OTG không.

Nếu điện thoại Android của bạn đã root thì bạn có thể kết nối với các tay game lại khác như tay game của PlayStation 3,…

5. Điều khiển máy ảnh DSLR của bạn

Các bạn ưu thích nhiếp ảnh sẽ thích chức năng này. Điện thoại Android của bạn có thể kết nối với máy ảnh DSLR và trở thành một màn hình động, với đầy đủ các chức năng chụp hình, lấy nét, chỉnh tốc độ màn chập, và nhiều thứ khác…

Theo: chúng tôi

THAM KHẢO THÊM CÁC SẢN PHẨM HOT NHẤT HIỆN NAY Tổng hợp các sản phẩm cho mẹ và bé Tổng hợp các sản phẩm làm đẹp Tổng hợp các sản phẩm mỹ phẩm Tổng hợp sản phẩm dung dịch nano bạc diệt khuẩn hot Tổng hợp sản phẩm tăng giảm cân hot Tổng hợp sản phẩm sinh lý nam nữ Tổng hợp sản phẩm đặc trị


【#3】Otg Là Gì? Cách Kết Nối & Chức Năng Usb Otg Chi Tiết 11/2019

Otg là gì? Ổ đĩa USB tiện lợi, nhưng bạn không thể sử dụng một chiếc với điện thoại của mình. Vâng, trừ khi bạn có điện thoại Android và biết USB OTG là gì?

Kết nối otg là gì?

Otg là viết tắt của USB On-The-Go ( USB OTG hoặc chỉ OTG ) là thông số kỹ thuật được sử dụng lần đầu tiên vào cuối năm 2001, cho phép các thiết bị USB , như máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh , hoạt động như một máy chủ, cho phép các thiết bị USB khác, như ổ flash USB , kỹ thuật số máy ảnh , chuột hoặc bàn phím , được gắn vào chúng. (theo wikipedia)

Điện thoại nào hỗ trợ OTG?

Cách 1:

Xem thông tin trên hộp của sản phẩm hoặc giấy hướng dẫn sử dụng kèm theo.

Cách 2:

Bạn có thể search cấu hình điện thoại muốn mua, hay xem trực tiếp bảng cấu hình điện thoại trên website bạn đang xem hàng.

Cách kết nối điện thoại với Otg

3. Sử dụng cáp OTG để kết nối điện thoại của bạn với Ổ cứng, sau đó bạn có thể tìm thấy thiết bị OTG của mình trong Trình quản lý tệp.

Chức năng otg là gì?

USB OTG là gì?

Là một chiếc USB có 2 đầu. 1 là đầu USB 2.0 để kết nối với máy tính. 2 là đầu microUSB kết nối với điện thoại.

Kết nối ổ đĩa flash và ổ cứng ngoài

Không có gì đáng ngạc nhiên, bộ nhớ ngoài nằm ở đầu danh sách này. Chỉ cần cắm một ổ đĩa và bạn sẽ sẵn sàng để đi. Sau đó bạn có thể chuyển tất cả các loại tập tin.

Ổ đĩa flash là dễ dàng nhất để kết nối; ổ cứng ngoài có thể hoặc không thể hoạt động. Ổ cứng di động lấy năng lượng từ điện thoại sẽ không luôn hoạt động, nhưng ổ đĩa ngoài có nguồn năng lượng riêng sẽ hoạt động tốt.

Chuyển dữ liệu trực tiếp giữa các điện thoại

Bạn có thể truyền dữ liệu dễ dàng với tốc độ cao và ổn định bằng cáp otg.

Điều khiển Android bằng bàn phím và chuột

Bản chất mở của Android giúp bạn dễ dàng kết nối mọi thứ. Nếu bạn muốn sử dụng máy tính bảng của mình như một máy tính xách tay, bàn phím và chuột là không thể thiếu cho trải nghiệm.

Bạn sẽ rất vui khi biết rằng Android hoạt động tốt với hầu hết các bàn phím và chuột không dây và có dây.

Sử dụng với bộ điều khiển chơi game cầm tay

Android Pie và mới hơn hỗ trợ bộ điều khiển Xbox One. Những bộ điều khiển Xbox 360 cũ hơn cũng hoạt động với các thiết bị Android thông qua USB OTG.

Nó đơn giản như plug-and-play để bắt đầu chơi game với bộ điều khiển. Tất nhiên, bạn cần chơi các trò chơi tương thích với bộ điều khiển.

Nếu bạn đã root thiết bị Android của mình, bạn cũng có thể kết nối bộ điều khiển PlayStation. Với điều này, bạn có thể kết nối bộ điều khiển PS2 và biến thiết bị Android của bạn thành một trung tâm chơi trò chơi retro!

Sạc cho thiết bị di động có dung lượng pin thấp hơn

Bạn có thể sử dụng cổng otg để sạc pin cho điện thoại của mình với điều kiện thiết bị di động của bạn có dung lượng pin thấp hơn.

In trực tiếp từ máy in

Giống như bàn phím, máy in có USB cắm và chạy tiêu chuẩn hoạt động tốt với các thiết bị Android. Những thứ này cho phép bạn bắt đầu in mà không yêu cầu kết nối không dây hoặc phải chuyển bất cứ thứ gì sang PC trước.

Android đã không hỗ trợ chế độ Bộ lưu trữ USB trong một thời gian. Do đó, nếu bạn muốn in ảnh và tài liệu, bạn sẽ cần sử dụng các chế độ PTP hoặc MTP cho kết nối USB của mình.

Bạn có thể mua cáp USB OTG dễ dàng tại các cửa hàng điện máy, linh kiện máy tính & điện thoại chuyên dụng trên toàn quốc.

Tùy theo loại dây cáp otg USB OTG và hãng sản xuất thì sẽ có những mức giá khác nhau. Thông thường, cáp OTG có nhiều mức giá 20.000 – 100.000 đồng, còn USB OTG có tầm giá khoảng 400.000 đồng – 1.000.000 đồng.

Danh sách điện thoại SamSung hỗ trợ OTG 2021

Danh sách đầy đủ các điện thoại thông minh Samsung Galaxy có hỗ trợ OTG (USB On-The-Go)


【#4】5 Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android

Hầu hết chúng ta đều có ít nhất 1 USB làm thiết bị lưu trữ dữ liệu cá nhân. Bạn đã bao giờ tự hỏi, liệu có thể kết nối USB vào điện thoại của mình để xem dữ liệu được không. Câu trả lời là được nếu bạn có điện thoại Android có hỗ trợ cổng USB OTG. Vậy cổng USB OTG là gì?

USB OTG là viết tắt của từ USB On-The-Go, một tiêu chuẩn kết nối của cổng USB cho phép một thiết bị có thể đọc được dữ liệu từ USB mà không cần phải có máy vi tính PC. Lúc này thiết bị đó trở thành một “USB Host”.

Vậy bạn có thể làm gì với cổng USB OTG? Bạn có thể làm được nhiều thứ với cổng USB OTG, như bạn có thể gắn USB vào điện thoại để copy hình, gắn tay game Xbox 360 vào điện thoại android để chơi game

USB OTG không phải là một chức năng đặc biệt trên Android, hiện nay nó khá phổ biến và có mặt trên hầu hết các smartphone Android tầm trung trở lên. Một số máy in cũng đã hỗ trợ kết nối USB OTG, Microsoft đang dự định mang USB OTG vào Windows Phone 10, nhứng chưa có dấu hiệu Apple sẽ đưa USB OTG lên iPhone. Thêm một lý do nữa để chọn Android thay iPhone, ?

Điện thoại Android của bạn có hỗ trợ USB OTG không?

Các dễ nhất để kiểm tra điện thoại hay máy tính bảng có hỗ trợ USB OTG không là kiểm tra trên website nhà sản xuất. Bạn sẽ thấy logo giống trên hay sẽ liệt kê trong phần thông tin chi tiết.

Nếu bạn không thể tìm thấy thông tin từ nhà sản xuất, thì hãy thử kiểm tra thiết bị của bạn trên web chúng tôi Trong phần thông tin chi tiết, hãy tìm dòng “USB” và xem có ghi “USB Host” hay “USB OTG” không, nếu có thì chúc mừng, điện thoại của bạn có USB OTG.

Thêm một cách nữa là cài ứng dụng “USB OTG Checker” từ CH Play, đây là một ứng dụng miễn phí giúp bạn nhanh chóng xác định liệu điện thoại Android của mình có hỗ trợ USB OTG không.

Để dùng USB OTG phải cần gì?

Điện thoại Android có 1 cổng chuẩn micro-USB. Tuy nhiên, hầu hết các thiết bị USB lại dùng cổng USB to. Vậy làm sao có thể gắn USB vào cổng micro-USB? Cáp chuyển đổi micro-USB sang USB sẽ giúp bạn.

Hiện nay cũng có một số USB vừa hỗ trợ cổng USB to vừa hỗ trợ cổng micro-USB, như Transcend, Kingston. Giá của nó thường không cao hơn so với USB thường nhiều.

Bạn có thể làm gì với cổng USB OTG?1. Kết nối USB flash hay ổ cứng di động

Phổ biến nhất là kết nối với USB hoặc ổ cứng di động USB để xem, copy, đọc dữ liệu như nghe nhạc, xem film, copy hình lưu trữ. Một số thiết bị USB cần dòng nhiều như ổ cứng di động USB khi kết nối vào có thể không nhận được vì điện thoại Android không đủ dòng cấp, lúc này nên cấp thêm nguồn rời cho ổ cứng di dộng USB.

2. Kết nối tay game để chơi game

Tay game Xbox 360 hoạt động rất ổn định với điện thoại Android hỗ trợ USB OTG. Chỉ đơn giản gắn vào và chơi thôi. Dĩ nhiên, bạn cần phải cài game có hỗ trợ tay game ngoài như: Asphalt 8: Airborne racing game hay Modern Combat 5.

Nếu điện thoại Android của bạn đã root thì bạn có thể kết nối với các tay game lại khác như tay game của PlayStation 3,…

3. Điều khiển Android bằng bàn phím, chuột

Nếu bạn muốn sử dụng điện thoại, máy tính bảng Android như một laptop, kết nối một bộ phím và chuột vào sẽ cho bạn một trải nghiệm tuyệt vời. Thật tuyệt vời là Android hoạt động tốt với hầu hết các bộ phím chuột không dây.

4. In trực tiếp ra máy in

Cũng giống bàn phím, máy in có cổng USB plug and play hoạt động tốt với thiết bị Android, bạn có thể kết nối trực tiếp máy in với cổng USB OTG của điện thoại Android để in mà không cần phải có máy in không dây hoặc phải copy vào máy tính để in từ máy tính.

5. Điều khiển máy ảnh DSLR của bạn

Các bạn ưu thích nhiếp ảnh sẽ thích chức năng này. Điện thoại Android của bạn có thể kết nối với máy ảnh DSLR và trở thành một màn hình động, với đầy đủ các chức năng chụp hình, lấy nét, chỉnh tốc độ màn chập, và nhiều thứ khác…

Theo: chúng tôi khác:

– Hướng dẫn reset máy in Brother 1111,1511,…

– Cuộc thi viết – Người thầy năm xưa


【#5】Usb Otg Là Gì Và 5 Chức Năng Tuyệt Vời Của Nó Trên Android

Ổ USB rất tiện lợi, nhưng bạn không thể sử dụng nó với điện thoại. Tuy nhiên với điện thoại Android và USB OTG thì điều này hoàn toàn có thể.

USB On-The-Go (OTG) là thông số tiêu chuẩn cho kết nối USB, cho phép một thiết bị đọc dữ liệu từ kết nối USB mà không cần máy tính. Về cơ bản, thiết bị này sẽ trở thành một “USB Host”, không phải mọi tiện ích đều có chức năng này.

Bạn có thể làm gì với nó? Có rất nhiều thứ bạn có thể thực hiện với USB OTG nhưng chúng ta sẽ bàn về vấn đề này sau. Ví dụ, nếu muốn kết nối ổ USB với điện thoại hoặc sử dụng bộ điều khiển Xbox 360 cũ với máy tính bảng Android, bạn hoàn toàn có thể thực hiện với USB OTG.

USB OTG không phải là một tính năng dành riêng cho Android, nhưng đây là chức năng được sử dụng nhiều nhất. Có một số máy in cung cấp hỗ trợ USB OTG này, Microsoft mong muốn mang USB OTG vào Windows Phone 10 nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy Apple sẽ cho phép điều này.

Kiểm tra Android có hỗ trợ USB OTG

Cách dễ nhất và đáng tin cậy nhất để kiểm tra xem điện thoại hoặc máy tính bảng có hỗ trợ USB OTG hay không là kiểm tra thông số kỹ thuật hoặc truy cập vào trang web của nhà sản xuất. Bạn sẽ thấy một biểu tượng giống như biểu tượng ở trên hoặc bạn sẽ thấy biểu tượng được liệt kê trong thông số kỹ thuật.

Nếu không thấy tìm thấy thông tin này ở đây, hãy thử kiểm tra thiết bị của bạn trên trang chúng tôi Trong danh sách thông số kỹ thuật, cuộn xuống để tìm USB và kiểm tra nếu mục nhập có ghi “USB Host”.

Một phương pháp khác là tải USB OTG Checker từ Play Store, đây là ứng dụng miễn phí. Bạn có thể chạy ứng dụng này để kiểm tra nhanh thiết bị Android của mình có được hỗ trợ tính năng này không.

Không phải tất cả các thiết bị Android đều hỗ trợ USB OTG, chỉ có một số nhà sản xuất kích hoạt tính năng này. Cài đặt này nằm trong nhân của máy tính bảng hoặc điện thoại, phần mềm trung gian cho phép phần cứng của bạn “nói chuyện” với hệ điều hành và các ứng dụng. Nếu câu trả lời bạn nhận được khi sử dụng USB OTG Checker là thiết bị không được hỗ trợ, bạn nên xem xét sử dụng một nhân Android tùy chỉnh khác hỗ trợ USB OTG.

Những thiết bị cần thiết khi sử dụng USB OTG

Thiết bị Android có cổng micro-USB chuẩn, nhưng hầu hết các thiết bị USB đều yêu cầu một cổng USB đầy đủ kích thước. Vậy bạn cần làm gì để giải quyết vấn đề này? Tất nhiên là sử dụng một dongle micro-USB-to-USB.

Bạn cần tìm kiếm một adapter micro-USB Male to full-size USB Female, lưu ý thông số Male và Female. Tuy nhiên với sự ra đời của USB Type C, bạn không cần lo sự nhầm lẫn này nữa. Bạn cũng cần chuẩn bị ổ flash với cả hai cổng micro USB và USB như Kingston Micro Duo siêu hữu ích. Giá của ổ này không đắt hơn các ổ USB thông thường nhưng có nhiều tính năng hữu ích.

Sau khi đã chuẩn bị những công cụ cần thiết để sử dụng USB OTG, bạn có thể tham khảo một số cách sử dụng tuyệt vời trên Android sau.

Cách sử dụng USB OTG trên Android

1. Kết nối ổ flash và ổ cứng ngoài

Hiển nhiên, chức năng sử dụng với bộ nhớ ngoài nằm ở đầu danh sách này, bạn chỉ cần cắm vào đó và sẵn sàng di chuyển. Ổ USB kết nối dễ dàng nhất mặc dù ổ cứng ngoài có thể hoặc không làm việc. Các ổ cứng di động lấy nguồn điện từ Android sẽ không làm việc, nhưng ổ cứng ngoài với nguồn điện riêng sẽ hoạt động tốt. Ví dụ, bạn có thể chuyển file video, sau đó chạy chúng với ứng dụng phát video tuyệt vời như MX Player.

Bạn cần định dạng những ổ đĩa này ở dạng FAT32 vì NTFS không phải lúc nào cũng hoạt động hoàn hảo. Để nhanh chóng kết nối và ngắt kết nối ổ flash, bạn nên tải StickMount.

2. Sử dụng với bộ điều khiển trò chơi video

Bộ điều khiển Xbox 360 hoạt động tuyệt vời với các thiết bị Android có USB OTG. Bạn chỉ cần đơn giản cắm nó và chơi trò chơi. Tất nhiên bạn phải chơi các trò chơi được thiết kế để sử dụng bộ điều khiển. Nếu điện thoại Android của bạn đã được root, bạn có thể kết nối với bộ điều khiển PlayStation 3.

3. Điều khiển Android bằng bàn phím và chuột

Tính chất mở của Android giúp nó có thể dễ dàng kết nối với nhiều thứ. Nếu muốn sử dụng máy tính bảng như laptop, bạn hoàn toàn có thể kết nối bàn phím và chuột với thiết bị Android bằng USB OTG. Bạn hẳn sẽ vui khi biết rằng Android có thể hoạt động tốt với hầu hết các chuột và bàn phím không dây và có dây.

Bạn nên sử dụng bàn phím và chuột không dây với bộ thu hợp nhất vì bạn chỉ có một kết nối USB. Ví dụ, bạn nên mua một bộ plug-and-play không dây tương thích với tất cả các nền tảng, tuy nhiên không nên mua thiết bị đi kèm với phần mềm như Logitech T400, yêu cầu phần mềm SetPoint.

Một điều cần lưu ý là khi kết nối bàn phím USB với thiết bị Android bàn phím mặc định là QWERTY, do vậy nếu muốn sử dụng bàn phím khác bạn cần phải sử dụng ứng dụng bàn phím đặc biệt như Colemak hoặc DVORAK.

4. In trực tiếp từ máy in

Giống như bàn phím, máy in có đầu cắm USB chuẩn plug-and-play hoạt động tốt với các thiết bị Android, vì vậy bạn có thể bắt đầu in mà không yêu cầu kết nối không dây và không cần chuyển bất kỳ thứ gì sang máy tính trước. Nếu bạn muốn in ảnh và tài liệu, bạn sẽ phải chuyển sang chế độ PTP (Photo to Photo) trong kết nối USB.

5. Điều khiển máy ảnh DSLR

Các nhiếp ảnh gia thực sự yêu thích tính năng này. Thiết bị Android có thể kết nối với máy ảnh DSLR và biến thành màn hình sống khổng lồ, có khả năng chụp, lấy nét, điều khiển tốc độ chụp và nhiều tính năng khác. Đây là một trong những cách sử dụng sáng tạo nhất của máy tính bảng Android.

Bạn cần ứng dụng DSLR Controller và máy ảnh Canon. Nó cũng có thể làm việc với một vài máy ảnh Nikon và Sony nhưng những loại này không chính thức hỗ trợ.


【#6】Mini Kẹp Mp3 1.5 Trong Màn Hình Cảm Ứng Bluetooth Mp3 Người Chơi Nhạc Mp3 Người Chơi Âm Thanh Hifi Người Chơi Có Fm Chức Năng Radio

1, MP3 Màn Hình Cảm Ứng của Máy Nghe Nhạc

2, hỗ trợ MP3, WMA và tất cả các định dạng Lossless âm nhạc

3, phát lại Video hỗ trợ

4, hỗ trợ NGHE đài FM

5, giọng hát Hỗ Trợ Thu Âm

6, đọc E-Cuốn Sách hỗ trợ, hình ảnh,

7, Hỗ trợ MỘT-B lặp lại

8, đồng bộ hiển thị văn bản

9, 4 loại chế độ bảo vệ mắt, 10 cấp độ điều chỉnh độ sáng

Mô hình: K1

Nguồn Thể loại: Điểm hàng

Loại sản phẩm: Thương Hiệu mới

Kích thước màn hình: 1.54 (inch)

Bộ nhớ: 8GB/16GB

Loại thẻ nhớ: không có thẻ nhớ mở rộng được hỗ trợ

Thẻ nhớ mở rộng: không hỗ trợ

Chế độ hoạt động: Cảm ứng

Giao diện: USB 2.0

Màu màn hình: Màn hình TFT

Độ phân giải màn hình: 320 × 240

Thực đơn Ngôn ngữ: 26 quốc gia

Loại pin: Pin Lithium

Dung lượng pin: 300

Tuổi thọ: 30 (giờ)

Kích thước sản phẩm (xấp xỉ.): Chiều dài 4.6CM chiều rộng 3.8CM dày 1.1CM/1.81*1.50 * 0.43in

Trọng lượng: khoảng 68 (g)

Màu sắc: Đen

Định dạng phát lại Video: AVI, AMV

Định dạng phát lại âm thanh: MP3 WMA WAV APE FLAC

Loại màn hình: Màn hình cảm ứng

Tính năng bổ sung: Đồng Hồ chức năng, chức năng NGHE FM, Hỗ Trợ Bluetooth, xem ảnh, chức năng Ghi Âm

1 X MP3 Người Chơi

1 X Dây Đeo Đồng Hồ (Quà Tặng Miễn Phí)

Full Màn Hình Cảm Ứng MP3 Người Chơi với Clip & Cổ Tay Đai

Nếu bạn loại tập gym Quạt ai muốn bới bèo ra tiếng ồn, grunts, và âm thanh tại phòng tập mà không lửng phối xung quanh một lớn chun điện thoại, này Mini MP3 người chơi là hoàn hảo cho bạn. Nó di động, trọng lượng nhẹ, khó-đáng chú ý, và không một công việc tuyệt vời của cung cấp những giai điệu!

Full Màn Hình Cảm Ứng — Dễ Dàng Hoạt Động

Bluetooth MP3 cầu thủ được trang bị màn hình 1.5 inch có độ nhạy cao màn hình cảm ứng, vì vậy bạn có thể êm hoạt động các cầu thủ như bạn sử dụng điện thoại.

Chức Năng FM Radio

Đài phát thanh có thể tìm kiếm tự động, dễ sử dụng. Nó hỗ trợ các vùng khác nhau và có thể sử dụng được widerly (87.5 MHz ~ 108 MHz).

Hi-Fi Âm Nhạc

Các MP3 Bluetooth người chơi thông qua chuyên nghiệp kỹ thuật số thông minh giảm tiếng ồn chip đảm bảo cao-Đạt tiêu chuẩn trải nghiệm âm thanh. Hỗ trợ hầu hết các định dạng âm thanh thông dụng: MP3 WMA APE FLAC WAV AAC.

Nó isn không tương thích với iTunes và audiobooks.

Lên đến 7 giờ Phát Nhạc Bluetooth

18 giờ Thời gian nghe có dây tai nghe, khoảng 3-4 giờ ở chế độ quay phim sau khi sạc đầy. Với hạng nhẹ mới nghe nhạc, bạn không cần phải giết Pin điện thoại của bạn nghe nhạc trong khi làm việc.

Rạp chiếu phim — trong Túi Của Bạn

Các MP4 Người Chơi đi kèm với Màn hình 1.5 inch có độ nhạy cao MÀN HÌNH LCD hyperbol gương màn hình cảm ứng, cung cấp tốt hơn xem kinh nghiệm.

Hỗ Trợ Video: định dạng AMV

Bạn cần phải chuyển đổi định dạng video bằng máy tính của bạn. Nếu bạn cần giúp đỡ, chúng tôi sẽ cung cấp phần mềm chuyển đổi video sang định dạng phim AMV.

OTG-Kỹ Thuật Số Người Trợ Giúp

Nó không chỉ có thể truyền tải dữ liệu với MÁY TÍNH thông qua cáp USB, nhưng cũng với điện thoại Android (với chức năng OTG). OTG Cáp Bộ sản phẩm bao gồm cổng Micro USB và Type-C. Bạn có thể nhanh chóng donwload dữ liệu từ di động Android tự do.

Lời khuyên: chức năng OTG là không áp dụng cho IOS hệ thống, điều đó có nghĩa là người chơi không hỗ trợ điện thoại Iphone, iPad và các thiết bị di động khác với IOS để trực tiếp tải tập tin âm nhạc.

Mới Tập Gym Buddy

Các MP3 người chơi đi kèm với một đẹp Giá đỡ kẹp và silicon dây đồng hồ. Bạn có thể dễ dàng đeo trên cổ tay của bạn hoặc treo trên Áo sơ mi hoặc áo bỏ túi. Nếu bạn thực sự chỉ cần một cái gì đó mà thuận tiện để chơi âm nhạc của bạn trong khi bạn chạy, mà không mang điện thoại của bạn cùng, MP3 người chơi là lựa chọn tốt.

Làm thế nào để cặp với AirPods

Mở nắp AirPods hộp sạc, sau đó bấm và giữ ghép nút trên lưng của hộp sạc. Khi đèn báo trong AirPods Hộp sạc được hiển thị trong trắng nhấp nháy bang, bạn có thể mở MP3 của người chơi Bluetooth tìm kiếm để ghép đôi.

1. trên hoạt động chỉ yêu cầu đầu tiên ghép nối trừ khi bạn đặt lại AirPods thông qua cặp nút.

2. này ghép nối phương pháp cũng làm việc với các thương hiệu khác của Bluetooth headpones với cặp nút, như Đánh Bại, jabra.

RUIZU-M8-16GB-Black

  • ♬❤【 Bluetooth5.0 】Nhanh hơn và ổn định hơn kết nối, Hỗ Trợ kết nối Bluetooth loa/tai nghe Bluetooth, trang bị với chuyên nghiệp kỹ thuật số thông minh giảm tiếng ồn chip, type-C kết nối phục hồi âm thanh ban đầu. Hỗ trợ hầu hết các định dạng âm thanh thông dụng: MP3 / WMA / APE / FLAC / WAV / / DRM / ACELP.
  • ♬❤【Portable Dây Đồng Hồ MP3 Player】Di động dây đồng hồ với kết cấu mềm mại và chất lượng tốt, không lo rơi rớt ngoài khơi trong khi chạy hoặc làm phù hợp các bài tập. Được trang bị Đồng Hồ Bấm Giờ, Đếm Bước Chân, hoàn hảo cho thể thao, chạy bộ, đi du lịch, được thiết kế cho các môn thể thao.
  • ♬❤【High Nhạy Cảm & Full Màn Hình Touch】Này Walkman có 1.54 inch có độ nhạy cao IPS HD Màn Hình Cảm Ứng, cầm thoải mái, chống trầy xước và độ bền cao. toàn màn hình có thể được kiểm soát và cảm động, slidable cảm ứng hiển thị màn hình giúp bạn thao tác MP3 người chơi êm ái hơn. Thuận tiện để khóa màn hình bằng cách nhấn nút nguồn.
  • ♬❤【 Đa functional】Di Động này MP3 Người Chơi không chỉ hỗ trợ Đài FM, Ghi Âm Giọng Nói, Xem Ảnh, Video Chơi, thư mục và Sách Điện Tử Đọc (Hỗ trợ định dạng TXT chỉ), Đo Quãng Đường Đi, đồng hồ Báo Thức, Đồng Hồ Bấm Giờ, nhưng cũng hỗ trợ thời gian màn hình-Bảo vệ, đồng hồ kỹ thuật số, một nút để khóa.
  • ♬❤【Long Thời Gian Playback】18 giờ để phát lại âm nhạc, 7 giờ ở chế độ Bluetooth và 3-4 giờ ở chế độ quay phim với 2 giờ sạc đầy. Nghe nhạc, xem phim, đọc Tiểu Thuyết sẽ cho bạn một bất ngờ của kéo dài tuổi thọ pin.

Đây là mới nhất Vòng Đeo Tay Bluetooth MP3 Cầu Thủ năm 2021, được trang bị với một Màn hình 1.54 inch IPS HD màn hình; bluetooth 5.0 chức năng; Xây Dựng trong dung lượng 16GB cho phép bạn thưởng thức âm nhạc lên đến 4000 bài hát; âm thanh Lossless chất lượng, cho bạn thưởng thức nâng cao trải nghiệm âm nhạc! MỘT vòng đeo tay mini MP3 cầu thủ sinh ra để dành cho thể thao và âm nhạc, bạn xứng đáng!

♥ Chất liệu: Kẽm Hợp Kim

♥ Màu sắc: Đen

♥ Kích thước màn hình: 1.54 inch IPS HD

♥ Độ phân giải: 240*240

♥ Phím hoạt động: Cảm Ứng Đầy Đủ

♥ Kích thước: 46.5*37*12mm

♥ Bluetooth: V5.0

♥ Khoảng cách kết nối Bluetooth: đường thẳng khoảng cách khoảng 10 mét mà không có rào cản

♥ Định dạng âm nhạc: MP3 / WMA / APE / FLAC / WAV / / DRM / ACELP

♥ Video định dạng: AMV / AVI

♥ Ghi âm định dạng: WAV / MP3

♥ Khoảng cách ghi âm: đường thẳng khoảng 3 mét

♥ Micro: cài microphone đơn Micro

♥ Định dạng E-Book: định dạng TXT

♥ Hỗ trợ hình ảnh: JPG định dạng BMP

♥ Các hệ thống tương thích: XP (Nhà, Pro, với SP1, SP2, SP3), 32bit / Windows 7 — 10 64bit

♥ Tai nghe thông số kỹ thuật: hỗ trợ Loại-C-USB giao diện Tai nghe (Bộ sản phẩm gồm MỘT cặp tai nghe có dây với Loại-C-USB)

♥ Tai nghe Công suất đầu ra: 10mW @ 32Ω, 20mW @ 16Ω

♥ Sạc/giao diện kết nối: Loại-C-USB giao diện, cáp sạc.

♥ Sạc Quy cách: 500ma-1A đầu ra

♥ Đầy đủ thời gian sạc: khoảng 2 giờ

♥Functions: âm nhạc, video, ghi âm, đài phát thanh, đo quãng đường đi, hình ảnh, sách điện tử, Bluetooth, đồng hồ báo thức, Đồng hồ bấm giờ, lịch

✔1 X MP3 Người Chơi

✔1 X Dây Tai Nghe

✔1 X Dây Đeo Có Thể Tháo Rời

✔1 X Hướng Dẫn Sử Dụng

Lưu ý: Cầu Thủ Này chỉ có một Loại-C-USB giao diện. Nếu bạn cần sử dụng khác 3.5mm Giao diện thiết bị, bạn cần mua một Loại-C-USB giao diện 3.5mm Giao diện chuyển đổi.

LOA RUIZU M8 MP3 Người Chơi

Các kỹ sư đã nâng cấp các bước tính toán một lần nữa, vì vậy mà bạn có thể tính mỗi bước của nỗ lực của bạn, và ghi lại dữ liệu chính xác cho đi bộ và chạy.

1. Thông minh dấu chức năng

3. Hỗ trợ nghe trong khi xem trong nền

4. Tùy chỉnh font điều chỉnh kích thước

5. 6 đọc nền có thể thay đổi

6. Hỗ trợ tự động đọc sách điện tử

Có thể kết nối Bluetooth nghe nhạc

Hỗ trợ AVI, AMN đa định dạng phát lại video, độ nét cao bảo vệ mắt lớn màn hình Thông Qua Ruizu cao Quy cách 1.54 inch TFT màn hình màu, video phát lại là rõ ràng hơn

Xây dựng trong chức năng FM Radio, nghe yêu thích của bạn đài phát thanh trong thời gian rảnh.

Sạc nhanh-Khoảng 2 giờ có thể được đầy đủ

Para crear UNA escucha de estudiante, está equipado especialmente côn funciones prácticas Como La función de repetición, EL favorito de UNA tecla Y La pantalla de subtítulo.


【#7】Phục Hồi Chức Năng Khớp Gối Sau Phẫu Thuật Kết Xương Vỡ Mâm Chày

Khớp gối là khớp phức tạp bao gồm hai khớp: khớp giữa xương đùi và xương chày là khớp lồi cầu – ổ chảo, khớp giữa xương đùi và xương bánh chè là khớp phẳng.

– Lồi cầu xương đùi gồm lối cầu trong và lồi cầu ngoài, giữa hai lồi cầu là rãnh liên lồi cầu.

– Diện khớp trên của xương chày gọi là mâm chày, có mâm chày trong tiếp khớp với lồi cầu trong và mâm chày ngoài tiếp khớp với lồi cầu ngoài. Giữa mâm chày trong và mâm chày ngoài có gai mâm chày là các điểm bám của dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.

– Sụn chêm: Sụn chêm trong hình chữ C nằm đệm giữa mâm chày trong và lồi cầu trong. Sụn chêm ngoài hình chữ O nằm đệm giữa mâm chày ngoài và lồi cầu ngoài. Sụn chêm trong gắn với bao khớp ở phía trong, sụn chêm ngoài gắn với bao khớp ở phía ngoài. Sụn chêm chia khoang khớp làm hai khoang, khoang trên sụn chêm và khoang dưới sụn chêm. Sụn chêm làm cho ổ chảo sâu thêm và sụn chêm trượt ra trước khi gấp gối và trượt ra sau khi duỗi gối.

– Dây chằng: Ngoài bao khớp, khớp gối được tăng cường bởi các dây chằng. Dây chằng bên trong (bên chày) và dây chằng bên ngoài (bên mác). Hai dây chằng chéo nằm ở giữa khớp, bắt chéo nhau hình chữ X là dây chằng chéo trước giữ cho mâm chày không bị trượt ra trước so với lồi cầu và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau so với lồi cầu. Phía trước có gân cơ bánh chè và các mạc phía trong và phía ngoài xương bánh chè. Phía sau có dây chằng khoeo chéo và dây chằng cung khoeo.

Khớp gối có hai loại vận động: vận động bản lề gấp-duỗi và vận động xoay nhưng vận động xoay chỉ thực hiện khi khớp gối ở tư thế gấp.

Mâm chày là phần xương xốp có bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối. Khi người ta đứng hoặc đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng của cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân. Như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể.

Mâm chày là phần xương xốp nên khi gãy dễ liền xương nhưng vì là xương xốp nên khi gãy dễ bị lún mất xương. Mâm chày có mặt sụn khớp nên khi gãy sẽ làm mất phẳng sụn khớp, bề mặt sụn khớp sẽ bị khấp khểnh. Khi nắn chỉnh không chính xác sẽ gây hạn chế vận động khớp và làm nhanh thoái hóa khớp về sau.

Vì là xương xốp nên sau phẫu thuật kết xương bệnh nhân không được phép đi chống chân ngay sau phẫu thuật do mâm chày sẽ bị bung ra dưới sức nặng của cơ thể. Thời gian để xương liền khoảng ba tháng vì vậy sau ba tháng bệnh nhân mới được phép đi chống chân xuống đất và tăng lực chống chân dần dần cho đến khi chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể mà không gây đau.

Tùy theo loại gãy xương, kiểu kết xương và trọng lượng bệnh nhân mà thời gian được phép đi chống chân có thể thay đổi nhưng không được dưới ba tháng. Thời gian bình phục để có thể đi lại bình thường, gấp duỗi gối bình thường thông thường khoảng 6 – 8 tháng.

Có nhiều cách phân loại gãy mâm chày của các tác giả khác nhau nhưng đều có những điểm chung là căn cứ vào loại gãy hình nêm, nén ép, hai bình diện.

– Hohl (1958) phân gãy mâm chày thành gãy có di lệch và gãy không di lệch. Gãy di lệch gồm nén ép khu trú, nén ép tách, lún hoàn toàn bình diện và gãy nát.

– Moore (1967) phân gãy mâm chày thành 5 loại:

+ Loại I: Gãy tách mâm chày trong theo mặt phẳng trán

+ Loại II: Gãy hoàn toàn một bình diện mà đường gãy bắt đầu ở khoang đối diện qua gai chày đến bình diện gãy.

+ Loại III: Gãy bong bờ chày (các loại gãy này thường có tỉ lệ cao kèm theo chấn thương mạch máu, thần kinh).

+ Loại IV: Chấn thương nén ép bờ chày kèm với tổn thương dây chằng đối bên.

+ Loại V: Gãy bốn phần mà gai chày bị tách ra từ bình diện và thân xương chày.

Phân loại của Moore đã tính đến hậu quả mất vững khớp gối.

– Schatzker (1979) phân ra 6 loại:

+ Loại I (gãy tách): Gãy chẻ hoàn toàn mâm chày ngoài tạo thành mảnh gãy hình chêm.

+ Loại II (lún-tách): Gãy chẻ mâm chày ngoài mà phần mặt khớp còn lại bị lún vào hành xương.

Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài

Hình 3: Gãy mâm chày loại I và II (phân loại của Schatzker)

+ Loại III: Gãy lún hoàn toàn trung tâm của mâm chày ngoài mà bờ xương còn nguyên vẹn.

Loại III: Gãy lún trung tâm mâm chày ngoài Loại IV: Gãy mâm chày trong

Hình 4: Gãy mâm chày loại III và IV (phân loại của Schatzker)

+ Loại V: Gãy 2 diện mâm chày (trong và ngoài) mà đường gãy thường tạo thành chứ “Y” đảo ngược.

+ Loại VI: Gãy loại V có sự tách ra giữa hành xương và thân xương, có thể có độ nát khác nhau của một hay hai diện mâm chày và mặt khớp.

Loại V: Gãy hai diện mâm chày Loại VI: Gãy loại V có tách hành và thân xương

Hình 5: Gãy mâm chày loại V và VI (phân loại của Schatzker)

Phân loại của Schatzker hiện nay được sử dụng phổ biến vì nó tính đến phương pháp kết xương, hậu quả mất vững khớp. Honkonen và Jarvinen gần đây đã sửa loại VI trong phân loại của Schatzker thành hai loại nhỏ là nghiêng trong và nghiêng ngoài để tính đến kết quả chức năng khớp trong điều trị với di lệch gập góc còn lại.

– Phân loại của hiệp hội chấn thương chỉnh hình (OTA) dựa trên phân loại của AO/ASIF: đầu trên xương chày được qui định là đoạn 41 và được chia thành 3 loại chính.

+ Loại A là gãy ngoài khớp chia ra A1, A2 và A3

Hình 6: Loại A (phân loại AO)

+ Loại B là gãy một phần mặt khớp, chia ra :

Hình 7: Loại B (phân loại AO)

+ Loại C là gãy hoàn toàn mặt khớp, chia ra:

C1: gãy đơn giản mặt khớp và hành xương.

C2: gãy đơn giản mặt khớp và gãy nhiều mảnh hành xương.

C3: gãy nhiều mảnh mặt khớp.

Hình 8: Loại c (phân loại AO)

– Giảm đau, giảm nề tại chỗ, tăng cường dinh dưỡng kích thích làm mau liền xương

– Duy trì trương lực cơ, phục hồi sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương

– Phục hồi tầm vận động khớp gối trở lại bình thường.

2.2.1. Giai đoạn 1: giai đoạn chưa được chống tỳ sức nặng lên chân tổn thương (thường kéo dài 3 tháng đầu)

+ Duy trì sức cơ, trương lực cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

+ Bất động tương đối khớp gối nhưng duy trì tầm vận động các khớp lân cận.

+ Đặt chân (cổ chân và gối) cao hơn mức tim (20 – 30cm trên mặt giường).

+ Chườm lạnh bằng túi nước đá hoặc túi nước lạnh lên vùng khớp gối cách lớp băng gạc và lớp khăn lót dày 1cm thời gian 10 – 15 phút/lần, 3 – 5 lần/ngày.

+ Tập gấp duỗi khớp cổ chân chủ động hết tầm 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Tập co cơ tĩnh (co cơ đẳng trường) cơ đùi và cơ cẳng chân 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Nâng chân lên khỏi mặt giường ở tư thế gối duỗi giữ càng lâu càng tốt sau đó hạ xuồng nghỉ 5 phút rồi nâng tiếp 10 lần, tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Khi đau giảm, khuyến khích bệnh nhân chủ động gấp và duỗi gối (loại trọng lực chi) bên tổn thương với biên độ càng rộng càng tốt trong phạm vi có thể chịu đựng được.

+ Giảm nề, tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng để kích thích liền sẹo và can xương.

+ Duy trì trương lực cơ, tăng cường sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

+ Điều trị nhiệt nóng vào khớp gối tổn thương bằng bức xạ hồng ngoại hoặc túi nhiệt 20 phút/lần, 2 – 3 lần/ngày.

+ Điều trị từ trường vào khớp gối cường độ 0,8 – 1,5 mT, 20 phút/lần, 2 lần/ngày để kích thích can xương.

+ Tiếp tục tập vận động khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi mà không tì sức nặng lên chân tổn thương.

+ Tập đi bằng nạng không tì lên chân tổn thương.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi không tì lên chân tổn thương.

+ Chân tổn thương chịu sức nặng tăng dần lên 25% trọng lượng cơ thể.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng tới 25% trọng lượng cơ thể.

+ Tăng dần sức nặng lên chân tổn thương dần dần đạt tới 100% trong lượng cơ thể.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng để đạt tới 100% trọng lượng cơ thể vào cuối tháng thứ 6.

+ Tập hòa nhập gồm tự phục vụ và trở lại công việc.

+ Tập dáng đi bình thường, cân đối không nạng.

+ Tập lên xuống cầu thang và đi trên các địa hình phức tạp.

+ Tập tự phục vụ và trở lại công việc

+ Tập đi bộ nhanh hoặc chạy bộ nhẹ nhàng.

Mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS. Dùng một thước chia các khoảng cách đều nhau từ 1 – 10 cho người lớn và các hình vẽ các vẻ mặt cho trẻ em. Hướng dẫn để bệnh nhân tự đánh giá có sự hỗ trợ của người đánh giá.

Hình 9: Thang điểm đánh giá mức độ đau VAS

Bảng 1: Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

Đo vòng chi so sánh với bên lành.

Sử dụng thước đo góc hai cành, đo và đánh giá kết quả theo phương pháp zero.

Lượng giá theo thang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985), tổng 100 điểm, trong đó dáng đi 5 điểm, đau 25 điểm, chống đỡ xuống chân tổn thương 5 điểm, sưng nề 10 điểm, kẹt khớp 15 điểm, lên xuống cầu thang 10 điểm, tính ổn định của khớp 25 điểm, ngồi xổm 5 điểm:

hang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985)

Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2015). Vật l‎ trị liệu và Phục hồi chức năng. Giáo trình dùng cho đại học. Bộ môn VLTL – PHCN HVQY. NXB QĐND.

CHIA SẺ BÀI VIẾT


【#8】Cấu Trúc Và Chức Năng Của Tế Bào Procaryot

Như chúng ta biết, tế bào của mọi cơ thể sống đều thuộc một trong hai loại: tế bào chưa có nhân điển hình, hay tế bào procaryot (procaryotic cells), và tế bào có nhân điển hình, hay tế bào eucaryot (eucaryotic cells).

Thuộc về các cơ thể procaryot có vi khuẩn (bacteria) tức vi khuẩn thật (eubacteria) và vi khuẩn cổ (archeobacteria hay archaea). Còn thuộc về các cơ thể eucaryot có tảo, nấm, động vật nguyên sinh, tất cả thực vật và mọi động vật. Như vậy khái niệm “vi sinh vât” chỉ hàm ý là những cơ thể có kích thước hiển vi chứ khong hàm ý gì vể mặt phân loại, hoặc về hệ thống học vốn dựa trên cơ sở cấu trúc và chức năng của tế báo. Vi sinh vật bao gồm các cơ thể thuộc cả hai nhóm, procaryot và eucaryot.

Sự khác nhau rõ ràng nhất giữa chúng là ở chỗ các tế bào procaryot có hình thái đơn giản hơn nhiều so với eucaryot và không có một nhân thật sự – tức nhân được bao quanh bởi một màng nhân; trái lại, tế bào eucaryot thường lớn hơn, phức tạp hơn về hình thái, và nhất là có nhân được bao quanh bởi màng nhân.

Ngoài ra còn hàng loạt sự khác biệt nữa giữa hai loại tế bào, được nêu trong bảng 1.

Bảng 1. So sánh các tế bào procaryot và eucaryot

a. Có thể có thêm thông tin di truyền trên các plasmit.

b. Chỉ có các Mycoplasma và các vi khuẩn dinh dưỡng metan (Methanotrophs) có chứa các sterol. Các Mycoplasma không thể tổng hợp các sterol và đòi hỏi được cung cấp. Nhiều procaryot chứa các hopanoit.

c. Các Mycoplasma và Archaea không có thành tế bào chứa peptidoglican.

Qua bảng 1 và hình 1 có thể khái quát hoá sự khác nhau và giống nhau giữa hai loại tế bào ấy như sau:

– Các tế bào procaryot không có nhân điển hình được bao bọc bởi màng nhân, còn các tế bào eucaryot thì có. Đây là sự khác nhau quan trọng nhất.

– Hầu hết các tế bào procaryot nhỏ hơn và đơn giản hơn cả về cấu trúc lẫn chức năng so với loại tế bào kia. Chúng nhỏ bằng khoảng các ty thể hoặc các lạp thể của eucaryot.

Sự đơn giản về cấu trúc của các procaryot thể hiện ở chỗ chúng không có nhiều cơ quan tử có màng bao quanh, còn sự đơn giản về chức năng thể hiện ở chỗ không có hai cơ chế phân bào gián phân và giảm phân, đơn giản về tổ chức của vật liệu di truyền, thiếu vắng nhiều quá trình phức tạp vẫn diễn ra ở các tế bào eucaryot.

Hình 1. Sơ đồ một tế bào procaryot (a) và eucaryot (b)

a) Sơ đồ lát cắt dọc của một tế bào vi khuẩn. Cm: màng sinh chất, Cp: sinh chất, Ge: tiên mao, Gly: hạt glycogen, Ka; vỏ bọc, Li: Các giọt lipit, N: nucleus, PHB: axit poly- β-hydroxybutyric, Pi: pili, Pl: plasmit, Po: các hạt polyphotphat, Rd: các ribosom và polysom, S: Các giọt lưu huỳnh, Zw: thành tế bào.

b) Sơ đồ lát cắt dọc của một tế bào thực vật. Chl: Các lạp thể, Cm: màng sinh chất, Cp: sinh chất, Di: thể lưới (dictyosom), ER: lưới nội chất, Ex: bóng tiết (exocytose); Li: các giọt lipit, Mi: ti thể, Mt: các vi quản, N: nucleus hoặc nhân, Rb: các ribosom, Tü: lỗ nhỏ trên thành tế bào, V: các không bào, Zw: thành tế bào.

Tuy nhiên sự giống nhau, sự thống nhất về sinh hoá ở mức độ phân tử giữa hai loại tế bào cũng rất hiển nhiên:

– Chúng được tạo thành từ những hợp phàn sinh hoá giống nhau.

– Mã di chuyển của chúng là giống nhau, trừ một vài loại lệ.

– Sự biểu hiện các thông tin di truyền chứa trong ADN của chúng cũng giống nhau.

– Các nguyên lý của trao đổi và các con đường trao đổi chất quan trọng của chúng là giống nhau.

– Do vậy, bên dưới sự khác nhau sâu sắc, rõ rệt về cấu trúc và chức năng của hai loại tế bào, chúng ta vẫn nhìn thấy sự thống nhất thậm chí còn sâu sắc, cơ bản hơn, giữa chúng: đó là sự nhất quán ở mức độ phân tử, sự nhất quán này là cơ sở cho mọi quá trình sống trên hành tinh này.

Trong thực tiễn, khái niệm procaryot được dùng theo nghĩa chung, bao gồm cả vi khuẩn thật (eubacteria) và vi khuẩn cổ (archeobacteria hay archea); khái niệm vi khuẩn (bacteria) thường để chỉ vi khuẩn thật.

Kích thước, hình dạng và sự sắp xếp các tế bào

Có một quan niệm phổ biến cho rằng những cơ thể nhỏ và đơn giản như procaryot thì khá đơn điệu về hình dạng và kích thước. Điều đó chỉ là một mặt của vấn đề. Mặt thứ hai là, chúng cũng khá đa dạng về hình thái và kích thước, do sự khác nhau về bản chất di truyền và cả do điều kiện sinh thái nữa (hình 2, 3, 4, 5).

Về hình dạng, có hai nhóm chính là vi khuẩn hình cầu, hay cầu khuẩn (coccus, cocci) và vi khuẩn hình que hay trực khuẩn (rocl, bacillus, bacilli).

Các cầu khuẩn thì khác nhau về sự sắp xếp các tế bào như sau:

– Song cầu khuẩn (diplococcus, diplococci) là những cầu khuẩn mà khi phân chia chúng không rời nhau, do đó tạo thành một cặp tế bào (Neisseria, hình 5).

– Liên cầu khuẩn (streptococcus, streptococci) là những cầu khuẩn mà sau nhiều lần phân chia trên cùng một mặt phẳng các tế bào không tách ròi nhau. Đó là trường hợp của các chi Streptococcus, Enterococcus, và Lactococcus (hình 2b).

– Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus, Staphylococci) là những cầu khuẩn phân chia theo những mặt phẳng bất kỳ do đó tạo thành những chùm tế bào giống như chùm nho (Staphylococcus, hình 2a).

– Vi cầu khuẩn (micrococcus, micrococci), thì thường phân bào trong hai mặt phẳng để tạo thành các khối vuông gồm bốn tế bào (micrococus).

– Ở chi Sarcina, các cầu khuẩn phân chia tế bào trong ba mặt phẳng, do đó tạo thành nhóm hình khối gồm tám tế bào.

Các trực khuẩn thì khác nhau về một vài đặc điểm:

– Tỷ lệ giữa chiều dài với chiều rộng: có những trực khuẩn ngắn đến mức trông gần giống cầu khuẩn, nên có thể gọi là cầu – trực khuẩn (côccbacilli).

– Hình dạng của đầu mút tế bào: phẳng, cong, hình đầu điếu xì gà, đầu xẻ đôi.

– Sự sắp xếp tế bào: nhiều trực khuẩn có tế bào đứng riêng rẽ, một số khác thì xếp tế bào thành chuỗi. Bacillus megaterium có tế bào to và xếp chuỗi dài (hình 2c).

– Dạng cong của tế bào: một số ít trực khuẩn có dạng cong như dấu phẩy hoặc như một vòng xoắn không hoàn toàn, đó là trường hợp của chi Vibrio (hình 2e).

Sự đa dạng về hình thái của vi khuẩn còn thể hiện ở các trường hợp sau đây:

– Xạ khuẩn (Actinomycetes) rất thường tạo những sợi dài – filaments, micelia (hình 3a).

– Nhiều vi khuẩn có dạng giống những trực khuẩn dài xoắn lại, được gọi là các xoắn khuẩn (Spirillum) nếu chúng là rắn chắc, và gọi là xoắn thể (Spirochetes) nếu chúng là mềm dẻo (hình 2d, 3c, 4a, 4b).

– Hypomicrobium có dạng oval đến dạng quả lê (hình 3d) thì tạo thành một chồi ở đầu nút của một sợi dài.

– Có những vi khuẩn khác thì tạo thành những cuống không sống, như Gallionella chẳng hạn (hình 3f).

– Một số ít vi khuẩn có dạng dẹt, ví dụ những khuẩn dẹt sống trong các hồ muối, do Anthony E.Walsby phát hiện (hình 3e). Chúng sống như những hộp dẹt hình vuông tới chữ nhật, kích thước 2 x 2-4μm, dầy chỉ có 0,25 μm.

– Cuối cùng, có những vi khuẩn có hình dạng không cố định, hay không có hình dạng đặc trưng (hình 3b). Bọn này được gọi là có tính đa hình (pleomorphic), thậm chí mặc dù chúng có thể, giống như Corynebacterrim, thường có dạng giống trực khuẩn.

Về kích thước, vi khuẩn cũng rất khác nhau theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, có thể kể:

– Nhỏ nhất và mới được biết đến gần đây nhất, là các “vi khuẩn cỡ nano” (nanobacteria) hay còn gọi là các vi khuẩn siêu nhỏ, có đường kính từ 0,2 μn đến dưới 0,05μm. Một số chủng đã được nuôi cấy thành công, còn hầu hết chúng chỉ là những vật thể giống như vi khuẩn và có kích thước hiển vi mà thôi. Người ta từng quan niệm rằng tế bào chỉ có thể nhỏ đến mức có đường kính 0,14 μm – 0,20 μm, nhưng gần đây người ta đã phát hiện thấy nhiều vi khuẩn nano còn nhỏ hơn thế. Một số nhà vi sinh vật học cho rằng các vi khuẩn nano là những vật thể nhân tạo. Dĩ nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để làm sáng tỏ ý nghĩa của những dạng sống này.

– Vi khuẩn có kích thước quen thuộc là Escherichia coli, với kích thước trung bình là 1,1 – 1,5 μm chiều rộng x 2,0 – 6,0 μm chiều dài.

– Một số ít vi khuẩn thì khá to, ví dụ một số xoắn thể đôi khi dài tới 500μm (nửa milimet!) và một vi khuẩn lam – Oscillatorria – có đường kính tới 7 μm (tương đương hồng cầu của máu).

– Một vi khuẩn khổng lồ, Epulopiscium fishelsoni, sống trong ruột của một loài cá, thì có kích thước tới 600 x 80 μm, nghĩa là xấp xỉ một dấu gạch nối! (hình 6a). Gần đây hơn, đã phát hiện một vi khuẩn còn to hơn thế, sóng trong tầng lắng đọng của đại dương, có tên gọi là Thiomargarita namibiensis, với đường kính 100 – 700 μm (hình 6b). Như vậy một số ít vi khuẩn còn lớn hơn cả một tế bào eucaryot trung bình (một tế bào thực vật hay động vật điển hình có đường kính từ 10 đến 50 μm).

Sự tổ chức của tế bào procaryot

Các tế bào procaryot có các cấu trúc rất khác nhau. Những chức năng chủ yếu của chúng được tóm tắt trong bảng 2 và được minh hoạ một phần ở hình 7. Không phải mọi cấu trúc đều có mặt ở mỗi chi vi khuẩn. Ngoài ra, các tế bào gram âm và gram dương cũng khác nhau về thành tế bào. Tuy vậy, các té bào procarryot vẫn có những đặc tính chung về cấu trúc cơ bản và về các hợp phần quan trọng nhất.

Bảng 2. Chức năng của các cấu trúc ở tế bào procaryot

Các tế bào procarryot là đơn giản hơn nhiều so với các tế báo eucaryot. Điều này sẽ dược thấy rõ hơn sau khi tìm hiểu về tế bào eucaryot trong chuyên đề tiếp theo (chuyên đề “Cấu trúc và chức năng của tế bào eucaryot”).

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?NHỮNG VI KHUẨN KÌ DỊ

Thế rồi, những quan niệm ấy bắt đầu lung lay, khi một vi sinh vật khổng lồ hình điếu xì gà, được phát hiện trong ruột của một loài cá ở Biển Đỏ (Acanthurus nigrofuscus): năm 1985, trong công bố của mình về phát triển nói trên, các tác giả Fishelson, Montgomery và Myrberg cho rằng đó là một sinh vật thuộc giới Protista. Sau đó vào năm 1993, bằng cách so sánh trình tự ARNr để nhận dạng vi sinh vật nói trên, mà ngày nay có tên gọi Epulopiscium fishelssoni, Esther Angert, Kendall Clemens và Norman Pace đã cho biết rằng vi sinh vật này là một procaryot có quan hệ với chi vi khuẩn gram dương Clostridium.

Khi ấy người ta thấy bất ngờ về kích thước của E.fishelsoni (từ chữ Latin epulum – bữa tiệc, và piscium – cá): 80 x 60μm, thông thường dài 200 đến 500μm (hình b). Như vậy vi khuẩn này có khối lượng gấp một triệu lần so với Escherrichia coli! Mặc dầu kích thước khổng lồ như vậy, nó vẫn có cấu trúc tế bào kiểu procaryot. Nó di động với tốc độ khoảng hai lần chiều dài cơ thể/ 1 giây (khoảng 2,4cm/phút) nhờ cá tiên mao kiểu vi khuẩn phủ khắp bề mặt tế bào. Khối sinh chất của nó chứa các nucleoit lớn và nhiều ribosom như ở một tế bào lớn phải có. Epulopiscium dường như đã vượt quá giới hạn về kích thước do sự khuếch tán quy định, nhờ có một lớp ngoài là màng tế bào được cuộn chặt. Điều đó làm tăng bề mặt tế bào và do đó làm tăng cường sự vận chuyển chất dinh dưỡng.

Epulopiscium có lẽ được lan truyền giữa các vật chủ của nó thông qua sự nhiễm phân cá và thức ăn của cá. Vi khuẩn này có thể bị loại trừ bằng cách làm cho con cá vật chủ bị đói trong thời gian vài ngày. Nếu những con cá con chưa bị nhiễm. Đáng chú ý là điều này không xảy ra ở các con cá trưởng thành.

Tuy vậy vi khuẩn nói trên vẫn chưa phải là to nhất, nó mới chỉ bằng 1% so với vi khuẩn Thiomargarita namibiensis được Heidi Schulz tìm thấy trong tầng lắng đọng của biển ở vùng bờ biển Namibia vào năm 1997. Vi khuẩn này có hình cầu, đường kính từ 100μm đến 750μm, thường tạo thành các chuỗi tế bào, trong các bao nhầy. Một không bào chiếm tới khoảng 98% tế bào và chứa chất lỏng giàu nitrat; bao quanh không bào này là một lớp chất nguyên dầy 0,5 μm – 2,0μm chưa đầy các hạt lưu huỳnh. Lớp chất nguyên sinh này có độ dầy đúng như các hầu hết vi khuẩn và đủ mỏng cho các tốc độ khuyếch tán vẫn diễn ra ở vi khuẩn. Nitrat được dùng làm chất nhận điện tử đối với quá trình oxy hoá lưu huỳnh và sản sinh năng lượng.

Như vậy, với sự phát hiện ra hai procaryot khổng lồ nói trên thì quan niệm phân biệt procarryot với eucaryot dựa theo kích thước tế bào đã không còn đứng vững. Những proaryot vừa nhắc đến là lớn hơn nhiều so với một tế bào eucaryot bình thường. Ngoài ra, một số tế bào eucaryot được “phát hiện lại” rằng chúng có kích thước nhỏ hơn so với người ta thường vẫn tưởng. Ví dụ điển hình là Nanochlorum eukaryotum, có đường kính chỉ 1- 2 μm. Hiện nay nó được xác định rằng đó là eucaryot thực sự, với một nucleus, một cloroplasst và một ty thể. Sự hiểu biết của chúng ta về những nhân tố giới hạn kích thước tế bào procarryot cần phải được xem xét lại. Quan niệm rằng các tế bào lớn là tế bào eucaryot và nhỏ là procaryot không thể đứng vững được nữa.

Câu hỏi:

  1. Sự khác nhau căn bản giữa tế bào procaryot và tế bào eucaryot là gì?
  2. Những sự khác nhau giữa chúng?
  3. Sự phát triển ra những vi khuẩn lớn hơn tế bào eucaryot bình thường, và những tế bào eucaryot nhỏ 1 – 2 μm đường kính, nói lên điều gì?
  4. Các tế bào Các tế bào procaryot có thể có những hình dạng đặc trưng nào, kích thước của chúng ra sao.
  5. Chúng có thể tụ tập với nhau theo những cách nào?
  6. Vẽ sơ đồ một tế bào vi khuẩn và ghi chú những cấu trúc quan trọng của nó.

Đại cương

Màng sinh chất

Trong các màng bao giờ cũng có nhiều loại protein và nhiều loại lipit, với tỷ lệ rất khác nhau giữa các loài. Nếu so với các màng ở eucaryot thì màng sinh chất của vi khuẩn thường chứa nhiều protein hơn, có lẽ vì chúng thực hiện nhiều chức năng mà màng các cơ quan tử của tế bào eucaryot thực hiện.

Hầu hết các lipit nào liên kết vớimàng thì có cấu trúc bất đối xứng, với một đầu phân cực và một đầu không phân cực (hình 8) và được gọi là lưỡng cực. Các đầu phân cực thì tương tác với nước (ưa nước, hydrophilic); các đầu không phân ực (kỵ nước, hydrophobic) thì không tan trong nước và có xu thế kết hợp với một đầu kỵ nước khác. Đặc tính này của các lipit làm cho chúng có khả năng tạo thành một loép kép ở trong các màng. Các bề mặt ngoài có tính ưa nước, còn các đầu kị nước thì được giấu vào bên trong, cách ly với nước ở xung quanh. Trong số các lipit lưỡng cực như vậy có rất nhiều phospholipit (hình 8).

Thành phần lipit của các màng vi khuẩn thay đổi theo nhiệt độ duy trì được trang thái lỏng của mình trong quá trình sinh trưởng. Ví dụ, những vi khuẩn sinh trưởng ở các nhiệt độ thấp thì phải chứa các axit béo có điểm nóng chảy thấp trong photpholipit ở màng của chúng.

Các màng của vi khuẩn thường khác với các màng của eucaryot ở chỗ chúng không chứa các sterol, như cholesterol chẳng hạn (hình 9a). Tuy nhiên, nhiều loại màng của vi khuẩn chứa các phân tử với các cấu trúc giống sterol nhưng có 5 vòng, được gọi là các hopanoit (hình 9b) và trong các hệ sinh thái thì có một lượng khổng lồ các chất này. Các tính toán cho biết rằng tổng lượng các hopanoit trong các tầng lắng đọng ở mọi thuỷ vực là khoảng 10 11-12 tấn, xấp xỉ tổng lượng cacbon hữu cơ trong tất cả các cơ thể sống (10 12 tấn). Có bằng chứng cho thấy rằng các hopanoit đã góp phần đáng kể vào sự hình thành dầu mỏ. Các hopanoit được tổng hợp từ cùng những tiền chất của các steroit. Giống như các steroit ở eucaryot, các hopaniot có lẽ làm ổn định màng vi khuẩn – các lipit của màng dược sắp xếp thành hai lớp phân tử có các đầu kị nước đối diện nhau (hình 10)

Đặc biệt, các màng của nhiều vi khuẩn cổ khác với màng vi khuẩn thật ở chỗ có lớp đơn chứa các phân tử lipit chiếm hầu như toàn bộ bề dày của màng, thay vì lớp kép.

Các màng tế bào là những cấu trúc rất mỏng, chỉ dày khoảng 5-10mm và chỉ có thể được nhièn thấy dưới kính hiển vi điện tử. Bằng các kỹ thuật hiện đại, người ta thấy rằng nhiều loại màng, trong đó có màng sinh chất, có cấu tạo bên trong phức tạp. Những hạt hình cầu nhỏ nhìn thấy trong các màng này có lẽ là những protein của màng, chúng nằm ở giữa lớp lipit kép của màng (hình 11).

Mô hình cấu trúc màng được thừa nhận rộng rãi nhất là mô hình khảm lỏng của S.Jonathan Singer và Garth Nicholson (hình 10). Theo mô hình này thì có hai loại protein của màng. Các protein phụ thì gắn lỏng lẻo với màng và có thể dễ dàng bị loại bỏ. Chúng tan trong các dung dịch nước và chiếm 20 – 30% tổng lượng protein của màng. Phần còn lại, 70-80%, là các protein thiết yếu của màng. Chúng không dễ dàng được tách chiết khấu và không tan trong các dung dịch nước.

Các protein thiết yếu, giống như các lipit của màng, có tính lưỡng cực: những vùng kị nước của chúng được vùi vào trong lớp lipit kép, còn những phần ưa nước thì nhô ra khỏi mặt bề mặt của màng (hình 10). Một số protein này thậm chí rất lớn, nằm xuyên qua toàn bộ bề dày của lớp lipit kép. Các protein thiết yếu có thể dịch chuyển một chút so với bề mặt màng nhưng không thể quay lộn đầu đuôi hoặc xoay quanh trục của nó, ở trong lớp lipit.

Ở bề mặt ngoài của các protein trong màng sinh chất cũng thường có những cacbohydrat đính vào và có lẽ chúng có những chức năng quan trọng nào đó.

Màng sinh chất của các tế bào procaryot phải hoàn thành hàng loạt chức năng như:

Rõ ràng, màng sinh chất là một bộ phận thiết yếu của vi sinh vật.

Sinh chất của các tế bào procaryot không chứa các quan tử có màng phức tạp kiểu như ty thể (mitôchndria) hoặc lục lạp (chloroplasts), nhưng vẫn có thể có một vài kiểu cấu trúc màng.

Kiểu cấu trúc màng phổ biến nhất là mesocom (mesosome). Đó là những phần của màng tế bào chìm sâu vào trong khối sinh chất, có dạng túi (bọng), ống, hoặc tấm dẹt (hình 12 và 16). Chúng thường có mặt ở vi khuẩn gram dương cũng như có mặt cả ở nhóm gram âm.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà vi khuẩn học cho rằng các mesosom không phải là những cấu trúc tự nhiên của tế bào, chúng xuất hiện do sự xử lý hoá học tế bào nhằm soi kính hiển vi điện tử. Có lẽ chúng là những phần của màng tế bào có sự khác biệt về hoá học và bị đứt ra bởi hoá chất dùng để xử lý tế bào.

Một kiểu màng khác, khác hẳn mesosom, cũng tồn tại ở nhiều vi khuẩn (hình 13). Đó là những màng sinh chất gấp khúc nhiều lân và chiếm một khoảng lớn trong tế bào như ở nhiều vi khuẩn quang hợp (vi khuẩn lam, vi khuẩn tía), hoặc như ở các vi khuẩn có cường độ hô hấp mạnh như vi khuẩn nitrat hoá.

Những màng này cũng có thể tụ tập lại thành các bóng hình cầu, bóng dẹt, hoặc các màng hình ống. Có lẽ nhờ sự gấp nếp này mà màng có được bề mặt rộng lớn để có thể hoạt động trao đổi chất mạng hơn.

Câu hỏi:

  1. Mô tả bằng sơ đồ có ghi chú và bằng lời, mô hình khảm lỏng của màng tế bào.
  2. Liệt kê các chức năng của màng sinh chất.
  3. Vai trò của lipit của màng đối với đời sống vi khuẩn?
  4. So sánh màng tế bào của tế bào procaryot với tế bào eucaryot, của vi khuẩn cổ với vi khuẩn thật.
  5. Hãy nói về các hopanoid.
  6. Các cấu trúc nội sing chất khắc của vi khuẩn, không kể mesosom?

Đại cương

Chất nguyên sinh của tế bào procaryot khá với các tế bào eucaryot ở chỗ không chứa cac cơ quan tử gắn với màng tế bào.

Khối chất nguyên sinh (cytoplasmic matrix) là khối chất nằm giữa màng sinh chất và nucleoit; nó chứa nhiều nước (70% khối lượng).

Qua kính hiển vi điện tử, thường thấy chất nguyên sinh chứa các ribosom (ribosomes) và có tổ chức cao (hình 14). Các protein đặc biệt được sắp xếp ở những vị trí đặc biệt, ví dụ ở cực của tế bào và tại nơi mà tế bào sẽ phân chia. Như vậy, mặc dù vi khuẩn có thể không có bộ khung tế bào thực sự, nhưng chúng có một hệ thống tương tự như thế, có bản chất protein, nằm trong khối chất nguyên sinh và nhờ thế mà tế bào có hình dạng nhất định.

Màng sinh chất và mọi cấu trúc được bao bọc trong nó hợp thành cái gọi là thể nguyên sinh (protoplast); như vậy khối chất nguyên sinh chính là phần chủ yếu của protoplast.

Các thể ẩn nhập (Inclusion Bodies)

Đó là những hạt chất hữu cơ hoặc vô cơ có mặt trong khối chất nguyên sinh, thường được nhìn thấy rõ dưới kính hiển vi quang học.

Những hạt này thường được tế bào dùng như những kho dự trữ chất dinh dưỡng hưu cơ, vô cơ và dự trữ năng lượng, và cũng làm giảm áp suất thẩm thấu trong tế bào bằng cách liên kết các phân tử thành dạng hạt.

Một số loại hạt ẩn nhập không có màng bao bọc mà nằm tự do trong bào chất, đó là:

Một số loại hạt ẩn nhập khác thì có màng bao quanh, màng này dầy khoảng 2-4mm, là màng đơn và không phải là màng kép đỉnh hình. Các ví dụ là:

Màng của các thể ẩn nhập có thành phần hoá học khác nhau: một số có bản chất protein, một số khác chứa lipit.

Như trên đã nói, các thể ẩn nhập được dùng để dự trữ dinh dưỡng và năng lượng, nên số lượng của chúng thay đổi theo trạng thái dinh dưỡng của tế bào. Ví dụ các hạt polyphotphat sẽ cạn kiệt nếu tế bào sống ở các môi trường nước ngọt vốn nghèo photphat.

  • Các hạt glycogen và các hạt poly-β-hydroxybutyrat (PHB) là những nguồn dự trữ cacbon để tế bào sinh ra năng lượng và thực hiện sinh tổng hợp. Nhiều vi khuẩn cũng dự trữ cacbon dưới dạng các giọt mỡ.

Poly-β-hydroxybutyrat (PHB) gồm những phân tử hydroxybutyrat nối với nhau bằng các cầu nối este giữa các nhóm cacboxyl của các phân tử liền kề.

Thông thường thì mỗi loài vi khuẩn chỉ chứa một trong hai loại polyme nói trên, nhưng các vi khuẩn quang dưỡng thì chứa cả hai.

Các hạt poly-β-hydroxybutyrat có kính 0,2 – 0,7μm dễ nhận biết, được nhuộm màu bằng thuốc nhuộm Sudan đen để quan sát dưới kính hiển vi quang học, chúng cũng dễ nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử (hình 16).

So với PHB, glycogen được bố tản mát hơn trong khối chất nguyên sinh, dưới dạng các hạt nhỏ các đường kính 20 – 100mm và thường chỉ được nhìn thấy qua kính hiển vi điện tử. Nếu các tế bào chứa nhiều glycogen thì phép nhuộm bằng dung dịch iodin sẽ làm cho chúng bắt màu nâu – đỏ.

– Các hạt xyanophyxin là dự trữ nitơ ở vi khuẩn lam (hình 18a) được cấu tạo từ các polypeptit lớn chứa những lượng gần bằng nhau của arginin và axit aspartic. Các hạt này thường đủ lớn để nhìn thấy qua kính hiển vi quang học.

– Cacboxysom là những hạt dự trữ về enzym ribulozơ 1,5 – biphotphat cacboxylazơ (ribulose -1,5 – biphosphat carboxylase) và có thể là một vị trí của sự cố định CO 2. Chúng có mặt ở nhiều vi khuẩn lam, nhiều vi khuẩn nitrat hoá, và nhiều Thiobacillus. Các hạt này là những khối đa diện có đường kính khoảng 100m.

– Các không bào khí, một loại thể ẩn nhập hữu cơ đáng chú ý nhất, có vai trò của những phao – làm cho tế bào nổi hẳn lên bề mặt hoặc ở gần bề mặt môi trường nước. Các không bào này có mặt ở nhiều vi khuẩn lam, vi khuẩn quang hợp màu tía và màu lục và ở một số vi khuẩn ở nước khác – như Halobacterium và Thiothrix.

Các không bào khí là một cấu trúc gồm nhiều cấu trúc nhỏ, hình trụ rỗng được gọi là các bóng khí (hình 17). Các thành của các bóng khí chứa lipit và chỉ bao gồm một protein nhỏ duy nhất. Các dưới đơn vị của protein này được xếp với nhau để tạo thành một hình trụ kín, cứng, rỗng và không thấm nước, nhưng các khí của không khí đi qua. Những vi khuản có không bào khí có thể tự nổi ở độ sâu cần thiết – phù hợp với cường độ ánh sáng, nồng độ oxy và nồng độ chất dinh dưỡng. Chúng tự chìm xuống bằng cách đơn giản làm vỡ các bóng khí, còn muốn nổi lên thì cần phải tạo thành các bóng khí mới.

Các thể ẩn nhập vô cơ bao gồm:

– Các hạt polyphotphat hoặc các hạt volutin (hình 18a), là những dự trữ photphat hoặc dự trữ năng lượng của nhiều vi khuẩn.

Polyphotphat là một polyme không phân nhánh của các ortophotphat liên kết với nhau bằng các cầu nối este. Như vậy các hạt volutin là những dự trữ photphat – một hợp phần quan trọng của các cấu trúc tế bào như các axit nucleic chẳng hạn. Ở một số vi khuẩn, các hạt volutin còn là dự trữ năng lượng.

Các hạt volutin đôi khi còn có tên là các hạt đổi màu (metachromatic granules): chúng có màu đỏ hay các màu xanh khác nhau tuỳ theo được nhuộm bằng xanh metylen hay bằng xanh toluidin, theo thứ tự.

– Các hạt lưu huỳnh, là kho dự trữ lưu huỳnh tạm thừi là một số vi khuẩn (hình 18b). Ví dụ, vi khuẩn quang hợp màu tía có thể sử sunfua hydro (hydrogen sulfide) làm chất cho điện tử trong quá trình quang hợp và tích luỹ lưu huỳnh sinh ra, trong khoang chu chất hoặc trong những giọt nhỏ đặc biệt của sinh chất.

– Thể từ tính (magetosome), là một loại thể ẩn nhập không có chức năng dự trữ mà là để tự định hướng trong những vùng có từ tính của trái đất. Thể này chỉ có ở một số ít vi khuẩn (Đọc chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?, bài Các nam châm sống). Trong các thể này có chứa sắc ở dạng quặng sắt từ.

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? CÁC NAM CHÂM SỐNG

Các vi khuẩn không những có thể đáp ứng với các nhân tố hoá học của môi trường, như chúng ta đã biết, mà còn đáp ứng với các nhân tố khác nữa. Một ví dụ hấp dẫn các vi khuẩn nước có đáp ứng với từ tính (aquatic magnetotactic bacteria), chúng có khả năng tự định hướng trong vùng có từ trường của trái đất. Hầu hết những vi khuẩn này có chứa những chuỗi nội bào của các hạt có từ tính (Fe 3O 4) hay còn gọi là các thể từ tính (magnetosomes), với đường kính khoảng 40 – 100mm (hình 19a,b); những vi khuẩn này cũng thường được bao bọc bởi một màng ngoài (hình 19a).

Một số loài khác, sống trong môi trường có lưu huỳnh, thì có các thể từ tính có bản chất là greigit (greigite, Fe 3S 4) và pyrit (pyrite, FeS 2).

Vì rằng mỗi hạt quặng sắt nói trên là một nam châm nhỏ xíu nên trên các vi khuẩn ở bắc bán cầu thì dùng chuỗi thể từ tính của mình để xác định hướng bắc và hướng đáy của thuỷ vực, để bơi xuống sâu tới tầng lắng đọng giàu dinh dưỡng hoặc tự định vị ở độ sâu tối ưu trong các môi trường nước ngọt và nước biển. Các vi khuẩn có đáp ứng từ tính ở nam bán cầu nói chung cũng xác định nam và hướng dấy theo cách như vậy.

Điều thú vị là các thể từ tính cũng có mặt ở não của chim, cá ngừ California, cá heo, rùa xanh và động vật khác, có lẽ giúp vào chuyển động bay hơi của chúng. Như vậy, động vật cũng có nhiều tập tính giống với của vi khuẩn và những sự giống nhau này là nhiều hơn những gì chúng tưởng tượng trước đậy.

Các ribosom (Ribosomes)

Dưới kính hiển vi điện tử có độ phóng đại thấp, các ribosom gắn lỏng lẻo với màng sinh chất. Các ribosom nằm trong khối chất nguyên sinh thì tổng hợp các protein được giữ trong tế bào, còn các ribosom gắn với màng chất thì tổng hơp các protein để được đưa ra bên ngoài tế bào.

Chuỗi polypetit mới được tạo thành thì cuốn (= gấp) khúc lại để có hình dạng cuối cùng của nó ngay khi được tổng hợp tại ribosom, hoạc không lâu sau khi được tổng hợp xong. Hình dạng của mỗi protein phụ thuộc vào trìh tự các axit amin của nó. Có những protein đặc biệt được gọi là chất “chăm sóc” (chaperones), làm nhiệm vụ trợ giúp chuỗi polytein đặc biệt được gọi là chất “chăm sóc” (chaperones), làm nhiệm vụ trợ giúp chuỗi polypeptit trong quá trình cuốn khúc để tạo thành các cấu hình riêng của mình. Sự tổng hợp protein, bao gồm rất nhiều hoạt động của các ribosom và các chaperon thì vượt quá khuôn khổ của mục này nên không được đề cập ở đây.

Cần lưu ý rằng các ribosom của tế bào pocaryot thì nhỏ hơn của tế bào eucaryot. Chúng thường được gọi là các ribosom 70S, có kích thước 14-15x20mm, có trọng lượng phân tử khoảng 2,7 triệu và được hợp thành bởi một tiểu phần 50S và một tiểu phần 30S. Chữ S trong các con số nói trên biểu thị đơn vị Svedberg. Đó là đơn vị của hệ số lắng, một đơn vị đo tốc độ lắng trong ly tâm; một hạt càng di chuyển nhanh khi bị ly tâm thì giá trị Svedberg của nó hay hệ số lắng của nó càng lớn. Hệ số lắng là một hàm số của trọng lượng phân tử của hạt, hàm số của khối lượng hạt ấy. Các hạt càng nặng và càng rắn chắc thì thường có trị số Svedberg lớn hơn và lắng nhanh hơn. Các ribosom trong khối chất nguyên sinh của tế bào eucaryot là những ribosom 80S với đường kính khoảng 22nm. Mặc dù khác nhau về kích thước, cả ribosom của tế bào procaryot cũng như eucaryot đều được cấu thành bởi một dưới đơn vị lớn và một dưới đơn vị nhỏ.

Câu hỏi:

  1. Mô tả vắn tắt bản chất và chức năng của khối chất nguyên sinh.
  2. Hỏi tương tự cho ribosom.
  3. Protoplast là gì?
  4. Các tế bào procaryot có những loại thể ẩn nhập nào, chức năng của chúng là gì?
  5. Không bào khí là gì, liên hệ giữa cấu trúc và chức năng của nó?

Thể nhiễm sắc của các tế bào procaryot nằm tại một vùng có hình dạng không cố định được gọi là nucleoit; tên này đồng nghĩa với: thể nhân (nuclear body), thể chất nhiễm sắc thể (chromatin body) và vùng nhân (nuclear region).

Có thể coi vùng nhân này tương đương với nhân (thực sự) ở các tế bào eucaryot, nucleus tức một cơ quan tử có màng bao bọc, trong đó có các thể nhiễm sắc (từ 2 thể trở lên). Sự khác biệt về cách đóng gói vật liệu di truyền này được coi là sự khác biệt lớn nhất giữa các tế bào procaryot và eucaryot.

Thông thường, mỗi tế bào procaryot chứa một vòng xoắn kép duy nhất của axit deoxyribonucleic (ADN), nhưng một số vi khuẩn thì lại có thể nhiễm sắc ở dạng ADN không đóng vòng kín. Ngoài ra, gần đây người ta còn biết thêm rằng một số vi khuẩn như Virio cholerae có hơn thể nhiễm sắc.

Mặc dù vẻ ngoài của các nucleoit ở các vi khuẩn là khác nhau tuỳ theo phương pháp cố định và phương pháp nhuộm, nhưng qua ảnh hiển vi điện tử đều thấy ở chúng có các sợi (hình 16) và có lẽ chúng đều là ADN.

Ngoài những hình ảnh thông thường của nucleoit qua kính hiển vi quang học sau khi nhuộm bằng thuốc nhuộm Feulgen đặc hiệu với ADN, còn có thể thấy những hình ảnh đặc biệt sau đây, thấy qua kính hiển vi quang hoặc hoặc điện tử.

  • Có nhiều hơn 1 nucleoit trong mỗi tế bào vi khuẩn, nếu đó là tế bào đang phân chia sau khi vật liệu di truyền được nhân đôi (hình 20a).
  • Nucleoit có những phần nhô ra, chĩa tua tủa ra xung quanh hướng vào khối sinh chất (hình 20b,c); đó là trường hợp ở những tế bào đang sinh trưởng mạnh. Có lẽ những phần nhô ra này chứa ADN đang được phiên mã mạnh để tạo thành ARN thông tin (mRNA).

Các nucleoit có thể được tách nguyên vẹn ra khỏi các màng để phân tích thành phần hoá học. Chúng gồm 60% ADN, 30% ARN và 10% protein, tính theo trọng lượng. Ở Escherichia coli, một trực khuẩn dài 2 – 6μm mà vẫn nằm gọn trong nucleoit,nghĩa là ADN ấy phải được cuộn lại rất chặt.

AND được xoắn chặt (hình 21), có lẽ là mở ARN và các protein của nucleoit (các protein này khác với các protein thuộc loại histon ở nhân của tế bào eucaryot).

Hình ảnh về một vùng nhân (nucleoit) ở mọi vi khuẩn như trên, bất kể giai đoạn phát triển hay mức độ phân chia, sẽ khác đi trong hai ngoại lệ sau đây thuộc planctomycetes (nhóm vi khuẩn nảy chồi).

  • Ở chi Pirellula, nucleoit dạng sợi cùng với các hạt giống như ribosom tạo thành một vùng, pirellulosom (pirellusosome), được bao bởi một màng đơn.
  • Ở Gemmata obscuriglobus thì thể nhân được bao bọc bởi một màng kép(hình 22).

Ngoài ta còn chưa rõ những màng này có chức năng gì và hai ngoại lệ vừa kể là phổ biến đến mức nào.

Ở một số vi khuẩn có những phân tử ADN xoắn kép, thường đóng vòng, nằm ngoài thể nhiễm sắc và thường không gắn với màng sinh chất, đó là các plasmit.

Các plasmit có thể tồn tại và sao chép không phụ thuộc vào thể nhiễm sắc, hoặc có thể được nhập làm một với thể nhiễm sắc. Dù thế nào đi nữa thì chúng vẫn được truyền cho các tế bào con (đôi khi một số tế bào con không nhận được plasmit trong quá trình phân bào).

Các plasmit là không cần thiết đối với sinh trưởng và sinh sản của tế bào chứa nó, mặc dù chúng có thể mang những gen làm cho tế bào có một ưu thế chọn lọc như:

  • Có tính kháng thuốc.
  • Có những khả năng mới về trao đổi chất.
  • Có tính gây bệnh.
  • Có một số đặc tính khác.

Vì các plasmit thường di chuyển từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác nên các đặc tính như kháng thuốc chẳng hạn có thể lan truyền trong quần thể.

Câu hỏi.

  1. Nêu khái niệm về nucleoit.
  2. Mô tả bằng lời và bằng hình vẽ, hình ảnh của nucleoit ở hai mức độ: quan sát qua kính hiển vi quang học và hiển vi điện tử. Qua đó nêu nên sự khác nhau về nucleoit giữa tế bào bình thường và tế bào sinh trưởng mạnh.
  3. Những nucleoit nào là đặc biệt nhất, vì sao?
  4. Plasmit là gì, cấu trúc và chức năng của nó?

Đại cương

Thành tế bào là một lớ vừa tương đối cứng, vừa mềm dẻo, co dãn, nằm ngay bên ngoài màng tế bào, mà bộ khung của nó là peptidoglycan hay còn gọi là murein. Mọi vi khuẩn đều có thành tế bào, trừ Mycoplasma và một số vi khuẩn cổ (archae bacteria).

Nhờ có thành tế bào mà vi khuẩn có hình dạng cố định, có độ cứng, không bị tan do áp suất thẩm thấu, không bị tác động của nhiều chất độc. Nhiều vi khuẩn gây bệnh có được tính gây bệnh là nhờ những hợp phần nào đó trong thành tế bào. Tuy nhiên thành tế bào cũng là đích tấn công của một số chất kháng sinh, như penexilin chẳng hạn.

Về phần các vi khuẩn cổ, thành của chúng khác hẳn thành của các procaryot còn lai về cấu trúc là thành phần hoá học, chủ yếu là do không chứa peptidoglycan mà thay vào đó là các protein, các glycoprotein, hoặc các polysaccarit.

Trở lại với thành tế bào của hầu hết các vi khuẩn. Do sự khác nhau về thành tế bào, các vi khuẩn được chia thành hai nhóm chính dựa theo kết quả của phép nhuộm Gram, do Chiristian Gram đưa ra từ năm 1884: Các vi khuẩn bắt màu tím được gọi là vi khuẩn gra, dương, còn những vi khuẩn bắt màu hòng hoặc do là gram âm. Sự khác nhau thật sự về cấu trúc giữa hai nhóm vi khuẩn này được sáng tỏ nhờ kính hiển vi điện tử truyền qua:

– Thành tế bào vi khuẩn gram dương là một lớp peptidoglycan (tức murein) duy nhất dầy 20 – 80nm, có tính đồng nhất, nằm phía ngoài màng sinh chất (hình 24).

– Trong khi đó, thành tế bào gram âm là rất phức tạp. Nó là một lớp peptidoglycan dầy 2-7nm mà phía ngoài nó còn một màng ngoài dày 7-8nm. Khoảng không gian giữa màng sinh chất và màng ngoài được gọi là khoang chu chất (periplassmic space).

Đôi khi ở vi khuẩn gram dương cũng thấy có một khoảng trống tương tự nhưng nhỏ hơn, nằm giữa màng sinh chất và thành tế bào và cũng được gọi là khoang chứa chất.

Tất cả các cấu trúc bên ngoài màng sinh chất thường được gọi là vỏ hay vỏ tế bào (cell envelope).

Gần đây có những bằng chứng cho thấy khoang chu chất có thể chứa đầy một mạng lưới lỏng lẻo của peptidoglycan. Có thể khoang đó là một khoang chứa đầy gel hơn là chứa chất lỏng. Vật chất của khoang chu chất được gọi là chu chất (periplasm). Các tế bào gram dương, nếu không có một khoang chu chất rõ ràng và riêng biệt thì vẫn có thể chứa chu chất.

Kích thước khoang chu chất của vi khuẩn gram âm là từ 1 đến 71nm. Theo các nghiên cứu mới đây thì khoang này có thể chiếm tới 20 – 40% tổng khối lượng tế bào (30 – 70nm), nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu để đưa ra con số chính xác.

Nếu phá vỡ hoặc loại bỏ cẩn thận thành tế bào mà không làm hư hại màng sinh chất nằm bên dưới nó thì có thể thu được các enzym và các protein khác của chu chất.

Nếu phá vỡ hoặc loại bỏ cẩn thận thành tế bào mà không làm hư hại màng sinh chất nằm bên dưới nó thì có thể thu được cá enzym và các protein khác của chu chất.

Khoang chu chất của vi khuẩn gram âm chứa:

Về phần các vi khuẩn gram dương, như đã đề cập, chúng không có khoang chu chất rõ ràng và có lẽ không có nhiều loại protein của chu chất. Bù lại, chúng tiết ra những enzym tương ứng với các enzym của chu chất ở vi khuẩn gram âm. Những enzym được tiết ra bên ngoài tế bào này được gọi là các enzym ngoại bào (exoenzymes). Một số enzym khác được giữ lại trong chu chất và gắn vào màng sinh chất.

Cấu trúc của peptigoglycan

Bộ khung của thành tế bào procaryot là peptidogycan. Peptidoglycan (tức murein) là một polyme khổng lồ gồm ba loại đơn vị cấu trúc.

– Hai dẫn xuất từ đường là:

  • N-axetylglucassamin (NAG)
  • Axit N-axetylmuramic (lactyl ete của N-axetylglucassamin) (NAM)

– Hai dẫn xuất từ đường này xen kẽ nhau thành chuỗi (-NAG-NAM-NAG-NAM-…)

    Tetrapeptit của bốn loại axit amin khác nhau, ba trong số đó không có mặt trong các protein: axit D-glutamic, axit meso – diaminopimelic và D- alanin; axit amin còn lại là L-alanin. Sự có mặt của các D- axit amin có tác dụng chống sự tấn công của các peptidse.

Các đơn vị cấu trúc của peptidoglycan ở hầu hết các vi khuẩn gram âm và nhiều vi khuẩn gram dương được trình bày ở trên hình 25. Phần chính của polyme nàylà những chuỗi trong đó các gốc N- axetylglucosamin và axit N-axetylmurramic xen kẽ nhau. Mỗi chuỗi tetrapeptit (của 4 axit amin thuộc 4 loại kể trên) nối vào nhóm cacboxyl của axit N-axetylmurramic. Ở nhiều vi khuẩn thì tại vị trí thứ ba trong chuỗi ấy không phải là axit meso – diaminopimelic mà là một axit diamin khác, thường là L- lisin (hình 26).

Peptidoglycan như thế này là đặc trưng cho Escherichia coli, cho hầu hết vi khuẩn gram âm và nhiều vi khuẩn gram dương. NAG là N-axetylglucossamin, NAM là Axit N-axetylmurramic (NAG có axit lactic được nối vào bằng liên kết ete). Chuỗi bên tetrapeptit gồm các axit D- alanin và L-amin xen kẽ nhau, axit meso- diaminopimelic được liên kết thông qua L-cacbon của nó.

Các phần của peptiglycan gồm ba loại đơn vị cấu trúc nói trên thì được nối với nhau qua các liên kết ngang giữa các peptit. Thường thì nhóm cacboxyl của D-alamin ở tận cùng của một chuỗi peptit của polysaccarit này dược kết nối trực tiếp với nhóm amin của axit diaminopimelic thuộc chuỗi peptit của polysaccarit khác, nhưng liên kết này cũng có thể được thay bằng một cầu nối peptit (hình 27). Hầu hết peptidoglycan của thành tế bào gram âm không có cầu nối peptit.

Nhờ các liên kết ngang giữa các peptit thuộc các polysaccarit khác nhau mà cái túi peptidoglycan trở nên khổng lồ và có dạng mạng lưới dày đặc (hình 28). Những túi này được tách riêng ra từ các vi khuẩn gram dương và chắc chắn đến mức giữ được hình dạng và tính toàn vẹn của chúng (hình 29), mà vẫn mềm dẻo và co dãn, không giống như xenlulozơ. Chúng cũng phải có các lỗ nhỏ để cho các phân tử khí có thể chui qua.

Thành tế bào vi khuẩn gram dương

Thông thường thì thành tế bào vi khuẩn gram dương là dầy, thống nhất, cấu tạo chủ yếu bằng peptidoglycan chứa các cầu peptit (hình 29 và 30). Tuy nhiên thành tế bào gram dương cũng thường chứa một lượng lơn các axit teichoic, đó là những polyme của glyxerol hoặc ribitol trong đó các monome được liên kết với nhau nhờ các gốc photphat (hình 30 và 31). Các axit amin như D-alamin hoặc ác đường như glucozơ được gắn vào các nhóm glyerol và ribitol. Các axit teichoic được nối vào chính peptidoglycan nhờ liên kết cộng hoà trị với nhóm hydroxyl của axit N-axetylmuramic hoặc nối vào các lipit màng sinh chất; trong trường hợp sau, chúng được gọi là các axit lipoteichoic. Các axit teichoic thường nhỏ lên bề mặt của peptidotglycan và vì chúng mang diện tích âm, nên cũng làm cho thành tế bào gram dương mang điện tích âm.

Chức năng của axit teichoic còn chưa được biết rõ, nhưng có lẽ chsung rất cần thiết cho việc duy trì cấu trúc của thành tế bào. Các axit teichoic không có mặt ở vi khuẩn gram âm.

Các vi khuẩn Staphylococus và hầu hết vi khuẩn gram dương có một lớp gồm các protein ở bề mặt của peptidoglycan của thành tế bào. Những protein này tham gia vào tương tác giữa tế bào và môi trường. Một số protein được liên kết không cộng hoá trị bằng cách gắn với peptidoglycan, với các axit teichoic, hoặc với các thụ thể khác. Ví dụ, các protein của lớp S liên kết không cộng hoá trị với các polyme nằm rải rác khắp trong thành tế bào.

Các enzym tham gia tổng hợp mới và thay thế peptidoglycan có lẽ cũng tương tác không cộng hoá trị với thành tế bào.

Các protein khác thì liên kết cộng hoá trị với peptidoglycan. Nhiều protein liên kết cộng hoá trị của các vi khuẩn gram dương gây bệnh có những vai trò như:

Ở các Staphylococcus, những protein ở bề mặt này được liên kết cộng hoá trị với cầu pentaglyxin của peptidoglycan. Một enzym có tên là sortazơ có nhiệm vụ xúc tác sự gắn của các protein bề mặt vào peptidoglycan của vi khuẩn gram dương. Các sortazow được gắn vào màng sinh chất của tế bào vi khuẩn.

Thành tế bào vi khuẩn gram âm

Ở phần trên, qua hình 24 đã thấy ngay rằng các thành tế bào vi khuẩn gram âm là phức tạp hơn nhiều so với của vi khuẩn gram dương. Tầng peptidoglycan mỏng kề ngày phía ngoài màng sinh chất có thể chỉ chiếm không quá 5-10% trọng lượng của thành tế bào. Ở E. coli, tầng peptidoglycan này dày khoảng 2nm và chỉ gồm 1-2 lớp.

Màng ngoài nằm phía tầng peptidoglycan mỏng (hình 32 và 33). Lớp protein có màng có lượng nhiều nhất có tên là Brau’s lipoprotein, đó là một lipoprotein nhỏ liên kết cộng hoá trị với tầng peptidoglycan nằm phía dưới nó và dầu kị nước của nó thì được vùi sâu vào màng ngoài. Màng ngoài và tầng peptidoglycan gắn với nhau nhờ lipoprotein này chặt đến mức chúng có thể cùng được tách khỏi tế bào như một hợp phần vậy.

Một cấu trúc khác có thể góp phần vào độ rắn chắc của thành tế bào vi khuẩn gram âm và giữ cho màng ngoài ở đúng vị trí của nó, là vùng dính nhau (adhesive site). Màng ngoài và màng sinh chất có lẽ trực tiếp dính vào nhau tại nhiều vùng trên thành tế bào gram âm. Ở những tế bào E. coli bị co nguyên sinh (plasmolyzed), có thể nhìn thấy những vùng tiếp xúc giữa hai màng này. Những vùng dính nhau ấy có thể là những vùng tại đó hai màng trực tiếp dính vào nhau hoặc có thể tại đó hai màng thực sự dung hợp với nhau. Người ta cho rằng các chất có thể đi vào tế bào qua những vùng dính nhau này chứ không đi xuyên qua chu chất.

Có lẽ các hợp phần khác thường nhất của màng ngoài là các lipopolysaccarit của nó (LPSs). Những phân tử lớn và phức tạp này chứa cả lipit cũng như cacbohydrat và gồm ba phần:

LPS từ Salmonella typhimurium đã được nghiên cứu kỹ, cấu trúc chung của nó được mô tả trên hình 34.

Cơ chế nhuộm Gram

Như chúng ta biết, hầu hết vi khuẩn đều thuộc một tỏng hai nhóm dựa theo kết quả bắt màu của chúng trong phép nhuộm Gram: các vi khuẩn gram dương bắt màu tím và các vi khuẩn gram âm bắt màu đỏ hoặc hồng, mặc dù chúng được nhuộm trong cùng một phép nhuộm. Mặc dầu đã có những giải thích khác nhau về hiện tượng này nhưng rất có thể chúng bắt màu khác nhau như vậy là do thành tế bào của chúng có bản chất vật lý khác nhau. Nếu tế bào gram dương bị lấy mất thành tế bào thì chúng trở thành gram âm. Bản thân peptidoglycan thì không bắt màu, mà nó chỉ có tác dụng ngăn cản không cho thuóc nhộm tím kết tinh thoát ra khỏi tế bào đã bị nhuộm. Theo quy trình nhuộm Gram thì đầu tiên vi khuẩn được nhuộm bằng tím kết tinh rồi được xử lý bằng iodin để tăng cường sự giữ thuốc nhuộm. Sau đó khi các vi khuẩn gram dương được tẩy màu bằng cồn etanol thì có thể cồn làm co thắt các lỗ của tầng peptidoglycan dầy. Như vậy phức hệ thuốc nhuộm – iodin được giữ lại trong giai đoạn tẩy màu ngắn ngủi và do vậy vi khuẩn gram dương giữ được màu tím. Trong khi đó, tầng peptidoglycan của vi khuẩn gram âm thì rất mỏng, không có nhiều liên kết ngang và có những lỗ to hơn. Ngoài ra, việc xử lý bằng cồn còn tách được lipit ra khỏi thành tế bào gram âm do đó làm cho thành này càng rỗng hơn. Vì những nguyên nhân vừa kể, cồn có tác dụng loại bỏ phức hệ tím kết tinh – iodin ra khỏi vi khuẩn gram âm.

Thông thường, thành tế bào có vai trò bảo vệ vi khuẩn chống lại sự phá huỷ do áp suất thẩm thấu. Các chất hoà tan được tập trung ở sinh chất của vi khuẩn nhiều hơn so với ở hầu hết các nơi sinh sống của vi khuẩn vốn là nhược trương (hypotonic). Trong quá trình thẩm thấu (osmosis), nước đi xuyên qua các màng có tính thấm chọn lọc như màng sinh chất chẳng hạn, từ các dung dịch loãng (nồng độ nước cao hơn) tới các dung dịch đậm đặc hơn (nồng độ nước thấp hơn). Như vậy thông thường thì nước đi vào các tế bào vi khuẩn và ử đó áp suất thẩm thấu có thể đạt tới 20 atmotphe tức 300 pound/inch vuông. Màng sinh chất không thể chống lại những áp suất thẩm thấu lớn như vậy và tế bào sẽ phòng lên rồi bị phá huỷ nếu không có thành tế bào.

Trong những môi trường sống khác, có tính ưu trương (hypertonic) thì các chất tan có nồng độ cao hơn so với ở bên trong tế bào. Khi ấy nước đi ra khỏi tế bào khiến cho tế bào chất co lại và tách ra khỏi tế bào. Hiện tượng này được gọi là sự co nguyên sinh (plasinolysis) và được ứng dụng để bảo quản thực phẩm: nhiều vi sinh vật không thể sinh trưởng trong thực phẩm khô và trong mứt quả vì chúng bị co nguyên sinh.

Để chứng minh vai trò của thành tế bào trong việc bảo vệ vi khuẩn chống lại sự tan do áp suất thẩm thấu, chúng ta hãy xử lý tế bào bằng lysozym hoặc penexilin. Enzym lysozym và cacbon số bốn của N-axetylglycosamin Còn penixilin thì ngăn cản sự tổng hợp chuỗi tetrapeptit của peptidoglycan. Do đó chỉ những vi khuẩn đang sinh trưởng thì mới bị giết chết bởi penixilin. Ở trạng thái nghỉ (bào tử), hoặc ở trạng thái nguyên sinh trưởng do điều kiện môi trường, vi khuẩn sẽ thoát chết dưới tác dụng của chất kháng sinh này. Nếu cho vi khuẩn tiếp xúc với penexilin trong một dung dịch đẳng trương (isotonic) thì vi khuẩn gram dương bị biến đổi thành các thể nguyên sinh (prôtplast). Các protoplast này tiếp tục sinh trưởng bình thường trong môi trường đẳng trương mà vẫn hoàn toàn không có thành tế bào. Còn về phần các vi khuẩn gram âm, chúng vẫn giữ được màng ngoài của mình sau khi trải quả xử lý bằng penexilin; khi ấy chúng được gọi là các thể hình cầu (spheroplast) bởi vì một phần thành tế bào của chúng được giữ lại. Các protoplast và spheroplast có tính mẫn cảm thẩm thấu: nếu chúng được đưa vào một dung dịch loãng, chúng sẽ bị tan do dòng nước đi vào tế bào không được kiểm soát (hình 35).

Thành tế bào là bộ phận thiết yếu đối với hầu hết vi khuẩn, còn một số vi khuẩn khác thì lại không có nó. Chẳng hạn, các Mycoplasma thì khong có thành và do vậy mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, thế mà vẫn thường có thể sinh trưởng trong các môi trường loãng hoặc trong đất, vì màng sinh chất của chúng vững chắc hơn các màng sinh chất khác. Nguyên nhân chính xác của hiện tưởng này còn chưa được biết rõ, tuy rằng người ta cho rằng các sterol có mặt trong các màng của nhiều loài có thể làm cho các màng này vững chắc thêm. Vì không có một thành tế bào cứng, nên các Mycoplasma thường thuộc loại đa hình (pleomorphic) tức là có khả năng thay đổi hình dạng.

Câu hỏi

  1. Định nghĩa thành tế bào của các tế bào popcaryot?
  2. Hãy nói rõ những trường hợp ngoại lệ về thành tế bào của các cơ thể procaryot.
  3. Phân biệt tế bào gram âm và gram dương.
  4. Mô tả peptidoglycan bằng lời và bằng sơ đồ.
  5. Định nghĩa hoặc mô tả: khoang ngoài, khoang chu chất, chu chất, vỏ, axit teichoic, vùng dính nhau, lipopolysaccarit và protein tạo lỗ.
  6. Giải thích vai trò của thành tế bào trong việc bảo vệ tế bào khỏi bị tan và hãy chỉ rõ vai trò ấy bằng thực nghiệm. Các protoplast và spheroplast là gì?

Đại cương

Tuỳ theo hệ thống phân loại, có ít nhất năm hoặc sáu cách tiết protein khác nhau ở các tế bào procaryot. Trong phần này chúng ta sẽ mô tả vắn tắtt bốn cách tiết protein quan trọng nhất: kiểu phụ thuộc Sec, kiểu II, kiểu I hoặc kiểu ABC, và kiểu III.

Sự tiết protein theo kiểu phụ thuộc Sec

Kiểu phụ thuộc Sec, đôi khi còn được gọi là kiểu tiết chung (general secretion pathway, GSP), là kiểu phổ biến nhất và nhờ nó mà các protein được vận chuyển xuyên qua màng sinh chất. Protein sắp sửa được tiết, tức tiền protein (pprotein) có một peptit tín hiệu (signal peptide) ở axit amin tận cùng của nó, tức ở đầu tận cùng N. Peptit tín nhiện loại bỏ sự gấp khúc của phân tử protein sau khi nó được tổng hợp ở ribosom và được bộ máy Sec nhận biét một cách đặc hiệu. Khi các tiền protein này được tổng hợp ở ribosom thì các chaperon đính vào chúng. Các chaperon giữ các tiền protein không bị gấp khúc lại và giúp chúng đi tới bộ máy vận chuyển – tức translocon. Ở chúng tôi các chaperon được dùng nhiều nhất cho sự vận chuyển của SecB và hạt nhận biết tín hiệu (signal recognition particle, SRP). SecB có mặt ở các vi khuẩn gram âm, còn SRP thấy có mặt ở mọi procaryot. SecB gắn với hợp phần SecA của translocon và tiền protein được chuyển sang cho SecA. Trong những trường hợp khác, phức hợp SRP-tiền protein dịch chuyển tới một thể tiếp nhận SRP. Sau đó tiền protein được nhả ra nhờ sự thuỷ phân GTP và tiền protein liên kết với translocon, có lẽ là với SecA như trước. Có bằng chứng cho thấy rằng sự dịch chuyển của các protein có thể bắt đầu trước khi chúng được tổng hợp xong hoàn toàn ở các ribosom. Sau khi tiền protein đã gắn vào translocon thì nó được vận chuyển xuyên qua màng.

Vi khuẩn cổ thì không khỏi màng sinh chất thì peptit tín hiệu được loại bỏ nhờ một enzym có tiền chung là peptidaza tín hiệu. Sau khi protein gấp khúc để có cấu hình cần thiết, rồi các cầu nối disunfua được tạo thành, nếu cần thiết.

Một số protein được tổng hợp để trở thành những protein của màng sinh chất. Những lipoprotein này có lẽ có một peptidazơ tín hiệu riêng, khác với các protein khác, nhưng vẫn được vận chuyển tới cùng một translocon. Thay vì dịch chuyển ra ngoài tế bào, chúng vùi vào trong màng hoặc “thả neo” ở đó.

Sự tiết protein theo kiểu II

Theo kiểu II này, các protein sau khi đã dịch chuyển tới chu chất (thường là nhờ sự tiết theo kiểu phụ thuộc Sec) thì được tiết ra ngoài xuyên qua màng ngoài. Kiểu II thấy có ở nhiều vi khuẩn gây bệnh và là kiểu quan trọng nhất trong số các kiểu tiếp “tiếp xúc” từ chu chất vốn có ở nhiều vi khuẩn gram âm.

Các vi khuẩn gây bệnh tiết protein theo kiểu II là Erwinia carotovora, Pseudomonas aeruginosa và Vibrio cholerae. Các protein được tiết theo kiểu II ở chúng là các xenlulazơ, các pectinazơ, các proteazơ, các lipazơ, độc tốc cholera và các protein của pili.

Hệ thống tiết kiểu II rất phức tạp và chứa tới 12 – 14 protein, bầu hết chúng có lẽ là những protein thiết yếu của màng.

Sự tiết protein theo kiểu I (kiểu ABC)

Nhiều hệ thống tiết phụ thuộc Sec là những thành viên của một họ và hệ thống vận chuyển có tên gọi là họ casset liên kết ATP (ATP-binding cassette family, họ ABC). Hệ thống kiểu I hay hệ thống tiết ABC dùng để tiết các protein như: các độc tố (ví dụ như α-hemoysin), các proteazơ, các lipazơ và các peptit đặc biệt.

Theo kiểu I (hình 36b), sự tiết protein xảy ra chỉ qua một giai đoạn mà xuyên qua cả hai màng. Các protein được tiết thường chứa tín hiệu tiết ở cacbon tận cùng. Các hệ thống này thuỷphân ATP để điều khiển sự dịch chuyển của cá protein được tiết. Chúng có hai vùng kỵ nước vùi vào trong màng, và hai vùng ưa nước gắn với ATP.Protein dịch đẩy proton đều là cần thiết cho sự tiết theo kiểu I.

Ở các vi khuẩn gram âm như chúng tôi chẳng hạn, một protein là nhiệm vụ liên kết màng sinh chất với màng ngoài, trong quá trình vận chuyển. Một protein khác, ví dụ TolC (một trime) thì tạo thành kênh xuyên qua mang ngoài; TolC thực hiện vai trò này ở một số hệ thống tiết kiểu I, ít ra là như vậy.

Sự tiết protein theo kiểu III

Hệ thống tiết kiểu III có ở nhiều vi khuẩn gram âm gây bệnh và được dùng để tiết các yếu tố độc và “tiêm” chúng vào các tế bào thực vật và động vật chủ. Quá trình tiết và tiêm này dược tăng cường nhờ sự tiếp xúc giữa vi khuẩn và tế bào chủ. Ngoài ra, một tín hiệu hoạt hoá, như nồng độ thấp của ion canxi cũng làm cho sự tiếp diễn có hiệu quả.

Hệ thống tiết kiểu III bao gồm khoảng 20 protein khác nhau. Hệ thống kiểu III của Salmonella typhimurium mô tả trên hình 36c là một ví dụ, và gồm các phần như sau:

  • Phần mảnh như một kim tiêm, nhô ra khỏi bề mặt tế bào.
  • Phần gốc hình trụ, nối liền màng ngoài với màng sinh chất và trông hơi giống thế gốc của tiên mao.

Cả hai phần tạo thành một kênh để qua đó các protein được tiết ra ngoài và được tiêm vào tế bào chủ.

Hệ thống kiểu III thấy có ở các vi khuẩn như Salmonella, Yersinia, Shigella, E.Coli, Bordeteella, Pseudomonas aeruginossa và Erwinia. Nó được dùng để tiết bốn loại protein khác nhau:

  • Các protein cần thiết cho quá trình tiết (ví dụ các protein tạo thành bộ phận “kim tiêm”, như đã nhắc tới ở trên.
  • Các chất điều chỉnh quá trình tiết.
  • Các protein làm nhiệm vụ tăng cường sự “tiêm” protein được tiết vào tế bào đích, và
  • Các protein “gây hiệu quả”, chúng làm thay đổi các chức năng của tế bào chủ.

Các protein gây hiệu quả đôi khi là các enzym và chúng có thể có nhiều chức năng, ví dụ:

  • Hoạt động như những độc tố đối với tế bào chủ.
  • Ức chế sự thực bào
  • Kích thích sự tổ chức lại bộ khung của tế bào.
  • Gây ra hiện tượng apoptosis.

Thông thường các protein nào sẽ được tiết ra thì được gắn với cá chaperon nhỏmà chức năng của chúng còn chưa được biết tới. Những chaperon này có thể trao các protein cho hệ thống tiết, giữ các protein ở trạng thái thích hợp để có thể tiết ra ngoài, hoặc ngăn ngừa sự kết hợp với các protein khác trước khi chúng được tiết ra ngoài.

Vai trò của các hệ thống tiết kiểu III trong tính độc của vi khuẩn sẽ được thảo luật kỹ hơn trong một chuyên đề khác.

Đại cương

Vỏ bọc (capsule), lớp nhầy (slime layer), và lớp S

Vỏ bọc và lớp nhày là một lớp vật chất ở bên ngoài thành tế bào của một số vi khuẩn. Lớp vật chất này có các tên gọi khác nhau tuỳ theo cấu trúc của nó.

  • Nêu slớp này có tổ chức tốt và bám chặt bên ngoài thành tế bào thì nó được gọi là vỏ bọc (capsule).
  • Nếu nó là một vùng vật chất khuyếch tán từ tế bào ra, không có tổ chức rõ ràng và dễ bị lấy đi khỏi tế bào, thì đó là một lớp nhầy (slime layer).

Đôi khi vỏ bọc và lớp nhầy đều được gọi là glycocalyx (hình 37), tức là một mạng lưới polysaccarit bên ngoài bề mặt vi khuẩn và bề mặt các tế bào khác.

Các vỏ bọc và lớp nhầy thường có bản chất polýyccrit, nhưng cũng có thể là các chất. Ví dụ, Bacillus anthracis có vỏ bọc cấu tạo bằng axit poly-D-glutamic. Các vỏ bọc có thể nhìn thấy rõ qua kính hiển vi quang học nếu đowcj nhuộm âm bản hoặc nhuộm bằng các thuốc nhuộm đặc hiệu hiệu (hình 37a); chúng cũng có thể được nghiên cứu qua kính hiển vi điện tử (hình 37b).

Các vỏ bọc là không cần thiết cho sự sinh trưởng và sinh sản của vi khuẩn được nuôi trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên chúng mang lại nhiều lợi thế cho vi khuẩn đang tồn tại trong tự nhiên, như:

Đọc chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? Bài VI KHUẨN CHUYỂN ĐỘNG TRƯỢT NHƯ THẾ NÀO?

Nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm có một lớp cấu trúc đều đặn trên bề mặt của chúng, được gọi là lớp S. Ở các vi khuẩn cổ thì lớp S cũng rất phổ biến và có thể là cấu trúc chắc chắn duy nhất bên ngoài màng sinh chất.

Lớp S trông giống lớp gạch lát nền nhà và có bản chất là protein hoặc glycoprotein (hình 39). Nó gắn trực tiếp với màng ngoài của vi khuẩn gram âm và gắn với bề mặt peptidoglycan ở vi khuẩn gram dương.

Lớp S có thể có một hay nhiều vai trò trong số sau đây:

  • Bảo vệ tế bào chống lại những thay đổi về ion và pH.
  • Chống lại những bất lợi về áp suất thẩm thấu.
  • Chống lại các enzym.
  • Chống lại vi khuẩn ăn mồi Bdellovibrio.
  • Giúp vào việc duy trì hình dạng và độ cứng của vỏ.
  • Có thể tăng cường sự bám dính tế bào và các bề mặt.
  • Có lẽ bảo vệ một số vi khuẩn gây bệnh chống lại tác dụng của bổ thể và chống lại sự thực bào, do đó góp phần vào tính độc của những vi khuẩn này.

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? VI KHUẨN CHUYỂN ĐỘNG TRƯỢT NHƯ THẾ NÀO?

Các chuyển động trượt khác nhau nhiều về cách thức và tốc độ (từ khoảng 2 đến trên 600μm/phút). Các vi khuẩn như Myxococcus và Flexibacterr thì trượt theo hướng song song với trục dọc của tế bào. Còn những vi khuẩn khác, ví dụ Saprospira thì di chuyển theo kiểu xoáy đinh vít, còn Simonsiella thì thậm chí chuyển vuông góc với trục dọc của tế bào.

Beggiatoa, vi khuẩn lam và một số vi khuẩn khác thì quay xung quanh trục dọc của chúng trong khi trượt, nhưng không phải bao giờ chúng ta cũng nhìn thấy như vậy. Nhiều vi khuẩn thì uốn lượn hoặc cũng xoáy “điêu luyện” như khi chúng trượt đi. Sự đa dạng về chuyển động trượt như vậycó thể cho thấy rằng có nhiều thức di chuyển. điều khẳng định này được củng cố thêmbằng hiện tượng một số cơ thể chuyển động trượt (gliders), ví dụ Cytophaga, Glexibacter và Flavobacterium làm di chuyển hoặc làm chuyển dịch rất chậm các hạt ấy. (Nghĩa là, không phải mọi vi khuẩn chuyển động trượt có thể làm di chuyển nhanh các hợp phần của bề mặt tế bào). Mặc dù chất nhầy là cần thiết cho chuyển động trượt nhưng hình như nó không trực tiếp đẩy vi khuẩn tiến về phía trước. Có lẽ nó gắn vi khuẩn vào giá thể và bôi trơn bề mặt để làm cho dễ chuyển động hơn.

Người ta giải thích chuyển động trượt bằng nhiều cơ chế khác nhau:

Tua (Fimbriae) và lông (pili)

Tua (fimbria, fimbriae) và những phần phụ ngắn, mảnh, trông giống như lông, mảnh hơn tiên mao (flagellum) và không có vai trò trong sự di động của tế bào, tồn tại ở nhiều vi khuẩn gram âm.

Mặc dù nhiều ngowif không phân biệt hai thuật ngữ tua (fimbria, fimbriae) và lông (pili), nhưng ở đây chúng ta phân biệt tua và lông giới tính (sex pili). Một tế bào có thể có tới 1000 tua, dày đặc khắp bề mặt; tuy nhiên vì những tua này rất nhỏ nên chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi điện tử (hình 40). Có lẽ đó là những ống mảnh, (đường kính 3 – 10nm, dài vài μm), được cấu tạo bằng những đơn vị protein xếp xoắn.

Về chức năng của các tua

– Một vài loại tua làm nhiệm vụ bám dính tế bào vào các bề mặt rắn, như bề mặt đá trong các dòng suối hoặc bề mặt mô cơ thể chủ.

– Các tua typ IV có mặt ở một hoặc cả hai đầu của tế bào. Ngoài tác dụng để vi khuẩn bám vào các bề mặt trên, chúng cũng góp phần vào chuyển động “xoay đinh vít” ở những vi khuẩn như Pseudomonas aeruginosa, N.gonorrhoeae và một số chủng E.coli. Chuyển động này là gián đoạn, nhát gừng, đạt khoảng vài micromet mỗi lần và thường được nhìn thấy trên các bề mặt rất ẩm. Có những bằng chứng cho thấy các tua co lại mạnh để làm di chuyển những vi khuẩn này.

– Các tua typ IV có lẽ cũng tham gia một vài kiểu chuyển động trượt ở vi khuản nhầy (Myxobacteria).

Các lông giới tính (Sex pili)

Mỗi tế bào vi khuẩn nếu có lông giới tính thì có từ 1-10 cái, giống như những phần phụ và khác với các tua ở những điểm sau đây:

  • Thường lớn hơn các tua (đường kính khoảng 9 – 10nm).
  • Được xác định về mặt di truyền bởi các nhân tố giới tính hay còn gọi là các plasmit tiếp hợp.
  • Là cần thiết đối với sựt iếp hợp của vi khuẩn.
  • Một số virut của vi khuẩn bám đặc hiệu vào các phụ thể (receptors) trên các lông giới tính vào lúc bắt đầu chu kỳ sinh sản của chúng/

Các tiên mao và khả năng di động của vi khuẩn

Cấu trúc chi tiết của một tiên mao chỉ có thể được nhìn thấy qua kính hiển vi điển tử (hình 40).

Sự phân bố, sắp xếp các tiên mao trên tế bào là không giống nhau giữa các loài vi khuẩn:

– Các vi khuẩn đơn mao (monotrichous) có một tiên mao và có thể:

  • Ở một đỉnh của tế bào, khi ấy vi khuẩn được gọi là vi khuẩn đơn mao đỉnh (polar flagellum bacterium, hình 41a)
  • Ở hai đỉnh của tế bào, vi khuẩn được gọi là lưỡng mao đỉnh (amphitrichous bacterium).

– Các vi khuẩn chùm mao (lophotrichous) có một chùm tiên mao ở một hoặc ở hai đỉnh tế bào (hình 41b).

– Các vi khuẩn chu mao (peritrichous) có cá tiên mao phân bố khắp bề mặt tế bào (hình 41c).

Cách phân bố, sắp xếp các tiên mao trên tế bào là một đặc điểm quant rọng để nhận dạng vi khuẩn.

Siêu cấu trúc của tiên mao

Dưới kính hiển vi điện tử truyền qua, chúng ta thấy tiên mao của vi khuản gồm ba phần:

Sợi là một ống hình trụ rỗng, cứng, cấu tạo bằng một protein duy nhất có tên là flagelin (flagellin), với hpân tử lượng từ 30.000 đến 60.000.

Một số vi khuẩn có bao xung quanh mỗi tiêm mao. Đó là trường hợp Bdellovibrrio và Virrio cholerae. Bao của Bdellovibrrio có dạng màng, còn của V.cholerae thì có bản chất lipoplyaccrit.

Thế gốc và bộ phận nối thì khác hẳn sợi (hình 42). Thế giới là phần phức tạp nhất của tiên mao (hình 42 và 43) và có sự khác nhau giữa vi khuẩn gram âm và gram dương:

Bộ phận nối thì hơn to hơn sợi và được cấu tạo từ những loại protein khá nhau.

Sự tổng hợp tiên mao

Hai nhóm gen này gồm khoảng 10 gen hoặc nhiều hơn nữa.

Sự phức tạp còn ở chỗ tế bào điều chỉnh hoặc xác định vị trí chính xác của các tiên mao như thế nào và điều này thì chưa được biết đến.

Sự tái sinh tiên mao

Vi khuẩn có thể bị mất tiên mao và có thể tái sinh phần sợi mất ấy. Sự vận chuyển các hợp phần của tiên mao diễn ra nhờ một bộ máy nằm trong thể gốc; bộ máy vận chuyển này có quan hệ chặt chẽ với hệ thống tiết protein kiểu II vẫn được dùng để tiết các yếu tố độc. Có lẽ các đơn vị của flagelin được vận chuyển thông qua phần thân rỗng bên trong của sợi tiên mao. Khi tới đỉnh thì chúng tụ tập tự phát với nhau theo hướng của một mũ sợi đặc biệt khiến cho sợi dài ra ở đỉnh chứ không phải ở gốc (hình 44).

Sự tổng hợp sợi tiêu mao là một ví dụ rất hay về sự tự lắp ghép. Các thông tin cần thiết cho cấu trúc của sợi có mặt ngay trong các đơn vị của flagelin.

Ngoài tiên mao còn có những cấu trúc khác được hình thành một cách tự phát thông qua sự liên kết của các hợp phần của chúng mà không cần tác dụng của các enzym hoặc ủa các yếu tố khác.

Cơ chế chuyển động bằng tiên mao

Nguyên tắc chung của chuyển động bằng tiên mao là: sợi tiên ma cứng và xoắn quay làm cho tế bào chuyển động, giống như chuyển động của chân viẹt tàu thuỷ. Những vi khuẩn đột biến với ác tiên mao thẳng hoặc có các bộ phận nối quá dài hoặc quá ngắn (những thể đột biến có nhiều bộ phận nối – polyhook mutants) đều không thể bơi được. Nếu vi khuẩn được gắn vào một phiến kính bằng các kháng thẻ của protein của phần sợi hoặc của phần nối thì thân tế bào quay xung quanh tiên mao đứng yên. Nếu các hạt polystyren – latex được gắn vào các tiên mao thì các hạt này quay rất nhanh: môtơ của chúng tôi quay 270 vòng một giây, còn của Vibrrio alginolyticus là 1100 vòng một giây.

Chi tiết của sự chuyển động bằng tiên mao được mô tả như sau:

  • Fli G là đặc biệt quan trọng để khôi phục sự quay của tiên mao.
  • Mot A và Mot B là hai protein quan trọng nhất ở phần stato của động cơ: chúng tạo thành một kênh proteon xuyên qua màng sinh chất, đồng thời Mot B cũng móc phức hệ Mot với tầng peptidoglycan của thành tế bào.

Có những bằng chứng cho thấy MotA và Fli G tương tác trực tiếp trong quá trình quay của tiên mao. Ở procaryot, sự quay này được điều khiển trực tiếp bởi ATP như đối với tiên mao của eucaryot.

Tiên mao là một “dụng cụ” bởi rất hiệu quả của tế bào. Đối với vi khuẩn thì bơi hoàn toàn là một “nhiệm vụ”, bởi vì nước ở xung quanh chúng thì “bao la” và “đặc quánh” hư rỉ đường (mật mía) vậy. Nghĩa là tế bào phải “khona” nước bằng “mũi khoan” của nó là những tiên mao hình xoắn hay hình cái khoan nút lie. Nếu hoạt động của tiên mao ngừng lại thì tế bào cũng đứng ngay tại chỗ không di chuyển được nữa. Mặc dù môi trường có sức cản lớn như vậy, các vị khuẩn vẫn có thể bơi từ 20 đến gần 90μm/giây, tương đương với từ 2 đến 100 chiều dài của tế bào/giây. Trong khi đó một người chậy rất nhanh chỉ có thể chạy được đoạn đường gấp 5 lần chiều cao cơ thể trong một giây.

Ngoài sự quay của tiên mao, vi khuẩn còn có những cách vận động khác:

  • Các khuẩn xoắn (xoắn khuẩn, Spirochetes) là những vi khuẩn hình xoắn di chuyển nhờ những chất nhầy nhớt, bằng những chuyển động uốn khúc và xoay của một sợi đặc biệt quấn theo hướng trục tế bào, gồm những tiên mao đặc biệt.
  • Nhiều vi khuẩn khác thì di động theo kiểu trượt (gliding mibility). Đó là trường hợp của vi khuẩn lam (Cyanobacteria), vi khuẩn nhầy (Myxobacteria), các Cytophaga và một số Mycoplasma. Mặc dù không có những cấu trúc bên ngoài tế bào chuyên trách về chuyển động theo kiểu trượt, những vi khuẩn này vẫn có thể di chuyên trên cách bề mặt cứng với tốc độ tới 3 μm/giây.

Câu hỏi

1.a) Nêu những đặc điểm chủ yếu và những chức năng chủ yếu của bốn hệ thống tiết protein.

b) Hệ thống tiết protein phụ thuộc Sec và hệ thống tiết kiểu I hoạt động như thế nào?

2. Mô tả vắn tắt: các vỏ bọc, các lớp nhầy, các glycocalyx và các lớp S. Chức năng của chúng là gì?

3. Phân biệt các tua với pili giới tính và nêu chức năng của chúng.

– Các kiểu phân bổ tiên mao ở vi khuẩn.

– Cấu trúc tiên mao và sự tổng hợp chúng.

– Tiên mao hoạt dộng như thế nào để làm cho vi khuẩn di chuyển được?

Không phải bao giờ vi khuẩn cũng bơi không có mục đích. Trong nhiều trường hợp cúng bơi hướng tới nơi có chất dinh dưỡng như các đường, axit amin v.v… hoặc bơi tách xa các chất có hại và các chất thải của chúng. Ngoài ra, vi khuẩn còn đáp ứng với những yếu tố của môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, trọng trường… (Xem chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?, bài CÁC NAM CHÂM SỐNG). Chuyển động hướng tới các chất có ích và tránh xa các chất có hại được gọi là hoá ứng đọng (chemotaxis). Tập tính này rõ ràng có lợi cho vi khuẩn.

Các vi khuẩn có thể đáp ứng với những nồng độ rất thấp của chất hấp dẫn (từ 10-8 M đối với một số loại đường), mức độ đáp ứng của chúng tăng theo nồng độ chất hấp dẫn. Còn đối với các chất có hại thì thông thường chúng chỉ cảm nhận được ở những nồng độ cao hơn. Nếu một chất hấp dẫn và một chất cần phải tránh xa cùng có mặt thì vi khuẩn sẽ so sánh hai tín hiệu này để có đáp ứng đối với hoá chất nào có nồng độ gây ra đáp ứng.

Các chất hấp dẫn và các chất cần phải tránh xa được vi khuẩn phát hiện nhờ các hoá thụ thể (chemoreceptors). Đó là những protein đặc biệt có nhiệm vụ liên kết với các chất và chuyển những tính hiệu này tới những hợp phần khác của hệ thống cảm nhận hoá chất (chemosensing). Cho tới nay người ta biết được khoảng 20 hoá thụ thể dùng để nhận ra các chấp hấp dẫn và 10 hoá thụ thể dành cho các chất cần phải tránh xa. Những protein của hoá thụ thể này có thẻ nằm ở khoang chu chất hoặc ở màng sinh chất. Một số thụ thể tha gia vào những giai đoạn đầu của sự vận chuyển đường vào tế bào.

Tập tính hoá ứng động của vi khuẩn đã được nghiên cứu bằng kính hiển vi dõi theo sự di động (tracking microscope), là loại kính hiển vi có khả năng tự động giữ một vi khuẩn riêng lẻ trong tầm nhìn dù nó đang di động. Trong một môi trường không có gradien hoá học, chúng tôi và các vi khuẩn khác di chuyển một cách ngẫu nhiên. Một vi khuẩn di chuyển theo đường thẳng hoặc hơi cong, tức một quãng đường nào đó, trong một vài giây, sau đó nó sẽ dừng lại và di chuyển “dò dẫm” theo hướng khác. Sau khi di chuyển dò dẫm như vậy, nó di chuyển theo một hướng khác (hình 49). Khi vi khuẩn đã tiếp xúc với một gradient của chất hấp dẫn, nó ít di ngược lại hơn, tức là có quãng đường dài hơn, trong lúc đi ngược gradien này, trái lại, nó thường xuyên di ngược trở lại với nhịp độ thông thường, nếu nó đang đi xuôi chiều gradien đó. Kết quả là vi khuẩn đi ngược gradien của chất hấp dẫn. Tập tính được định hình nhờ những thay đổi nhất thời về nồng độ hoá chất: vi khuẩn so sánh môi trường hiện thời của nó trước thì sự dfi “dò dẫm” giảm xuống và quãng đường đi được là dài hơn. Trong trường hợp của chất cần phải tránh xa thì nó đáp ứng theo cách ngược lại: tần xuất đi ngược lại giảm xuống (quãng đường đi được dài ra nếu vi khuẩn đang đi xuôi gradien, nghĩa là đang đi xa dần khỏi chất cần tránh xa.

Mặc dù ứng động – tức chuyển động có hướng – của vi khuẩn là có thật, nhưng nên nhớ rằng đó chỉ là trường hợp đặc biệt. Nếu môi trường sống của vi khuẩn là ổn định, thì vi khuẩn có xu thế di chuyển ngẫu nhiên. Nghĩa là, có một trật tự ngẫu nhiên của các quãng đường đi được, sau đó là sự chuyển “dò dẫm”. Nếu vi khuẩn đi được một quãng đường theo hướng của các điều kiện được cải thiện, thì sự “dò dẫm” giảm xuống sao cho tế bào có xu thế di chuyển ưa thích. Có thể nói rằng sự di chuyển ngẫu nhiên theo hướng thiên về hướng của chất hấp dẫn và tránh xa các chất cần tránh. Các tế bào riêng lẻ không chọn một hướng cụ thể nào. Thay vào đó, chúng xác định xem có nên tiếp tục hướng đang di hay không.

Cơ chế hoá ứng động ở E. coli

Chúng ta đã biết rằng các vi khuẩn nói chung bơi về phía trước do sự quay tiên mao ngược chiều kim đồng hồ, còn sự lộn về phía sau là do sự quay tiên mao thuận chiều kim đồng hồ. Vì khuẩn phải có khả năng đáp ứng với những gradient theo cách sao cho chúng quần tụ trong những vùng giàu dinh downgx và có nồng độ oxy thích hợp, đồng thời tránh những chất có hại.

E. coli có bốn hoá thụ thể khác nhau, mỗi loại nhận biết một chất hoặc một nhóm chất sau đây:

  • Serin
  • Aspartat và maltoza
  • Riboza và galactoza
  • Các dipeptit.

Các hoá thụ thể này thường được gọi là các proten hoá ứng động tiếp nhận metyl-accepting chemotaxis. MCPs). Có lẽ chúng nằm trong các mảng thường ở đỉnh của một tế bào hình que như E.coli. Các MCP không gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quay của tiên mao nhưng gây tác động thông qua nhiều protein. Kết quả là toàn bộ quá trình này gây ra một đáp ứng của môtơ trong vòng dưới 200 phần ngàn (1/5) giây.

Nội bào tử có thể được nghiên cứu qua kính hiển vi quang học cũng như kính hiển vi điện tử. Vì các bào tử không cho hầu hết các thuốc nhuộm thấm qua, nên chsung ta thường nhìn thấy chúng là những vùng không bắt màu trong tế bào vi khuẩn được nhuộm bằng xanh metylen và bằng các thuốc nhuộm khác dùng để nhuộm đơn vị khuẩn. Các thuốc nhuộm riêng cho bào tử được dùng để làm cho chúng được nhìn thấy rõ.

Vị trí của bào tử trong tế bào chứa nó, tức là trong thể mang bào tử (sporangium) thường khác nhau từ loài này sang loài khác, do đó thường được xem xét để nhận biết vi khuẩn. Các bào tử có thể nằm ở giữa tế bào, nằm hơi lệch về một đỉnh tế bào, hoặc nằm hẳn ở một đỉnh (hình 50). Đôi khi bào tử lớn đến mức nó làm tế bào chữa s nó phình to ra.

Cấu trúc của nội bào tử, như thấy qua ảnh hiển vi điện tử, là rất phức tạp. (hình 51). Qua đó có thể phân biệt các cấu trúc sau đây:

  • Vỏ ngoài bào tử (exosporium), mỏng và có cấu tạo tính vi,
  • Vỏ (coretx), có thể chiếm tới một nửa khối lượng bào tử, nằm bên trong vỏ bào tử. Nó được cấu tạo từ peptidoglycan có ít liên kết ngang hơn sơ với phần này của tế bào dinh dưỡng.
  • Thành tế bào của bào tử (spore cell uall), hoặc thành của lõi (corewall), nằm phía trong vỏ và bao bọc lấy thể nguyên sinh chất (protoplast).
  • Thể nguyên sinh chất của bào tử, tức lõi của bào tử (protoplast, hoặc core) có chứa những cấu trúc tế bào bình thường như các ribosom và một nucleoit nhưng không có hoạt động trao đổi chất.

Người ta chưa biết chính xác vì sao nội bào tử bền như vậy đối với sức nóng và các tác nhân gây chết khác. Có tới 15% trọng lượng khô của bào tử là axt dipicolinnic (hình 52) tạo phức với các ion canxi, axit này có trong lõi bào tử. Trong một thời gian dài người ta từng nghĩ rằng axit dipicolinic là nguyên nhân trực tiếp của tính bền nhiệt. Tuy nhiên sau đó đã phân lập được các thể đột biến bền nhiệt mà không chứa axit này. Canxi góp phần vào tính đề kháng đối với sức nóng ẩm, với các tác nhân oxy hoá và dôi khi với sức nóng khô. Có lẽ, canxi – dipicolinat thường làm bền các axitnucleic của bào tử. Mới đây đã phát hiện thấy trong nội bào tử có các protein nhỏ, được chuyên hoá, liên kết với AND, hoà tan trong axit. Chúng liên kết dày đặc với AND của bào tử và bảo vệ nó khỏi bị làm hại do sức nóng, bức xạ, sự khô cạn và các hoá chất.

Sự mất nước của protoplast là rất quan trọng đối với tính bền nhiệt. Vỏ (cortex) có thể làm mất nước của protoplast bằng cách thẩm thấu, do vậy bảo về nó tránh tác hại của cả sức nóng và bức xạ.

Áo bào tử (coat ) hình như cũng bảo vệ bào tử chống các enzym và các hoá chất, như hydro peroxit chẳng hạn.

Cuối cùng, nội bào tử chứa một số enzym sửa chữa AND. AND được sửa chữa trong khi bào tử nảy mầm và sinh trưởng mạnh lên sau khi lõi đã hoạt động trao đổi chất trở lại.

Tóm lại, tính bền nhiệt của nội bào tử có lẽ là do một số nhân tố sau đây:

  • Canxi – dipicolinat và sự làm bền AND do protein tan trong axit
  • Sự mất nước của protoplast
  • Áo bào tử
  • Sự sửa chữa AND
  • Tính ổn định hơn của các protein của tế bào ở những vi khuẩn thích ứng để sinh trưởng ở nhiệt độ cao, và
  • Các nhân tố khác.

Sự tạo thành bào tử (sporogenensis hay sporulation0 thường bắt đầu khí sinh trưởng ngừng do thiếu các chất dinh dưỡng. Đó là một quá trình phức tạp và có thể được chia thành bảy giai đoạn (hình 53)

  • Giai đoạn I: Hình thành một sợi dạng trục của chất nhân.
  • Giai đoạn II: Màng tế bào gấp khúc vào trong để bao lấy phần AND và sinh ra vách ngang của tiền vào bào tử (forespore).
  • Giai đoạn III: Màng tiếp tục sinh trưởng và bao bọc lấy bào tử non trong một màng thứ hai.
  • Giai đoạn IV: Vỏ được đặt xuống phía dưới, trong khoảng không giữa hai mang; cả canxi và axit dipicolinic được tích luỹ.
  • Giai đoạn V: Sau đó, các áo protein được hình thành xung quanh vỏ.
  • Giai đoạn VI: Sự chín (thành thục, maturation) của bào tử.
  • Giai đoạn VII: các enzym phân huỷ thể mang bào tử (sporangium) để giải phóng bào tử.

Sự tạo thành bào tử kéo dài khoảng 10 giờ ở Bacillus megaterium.

Sự biến đổi các bào từ (dạng nghỉ) thành các tế bào sinh dưỡng (hoạt động) là một quá trình phức tạp không kém sự hình thành bào từ và gồm ba giai đoạn:

Thông thường, một nội bào tử không nảy mầm hoàn hảo, thậm chí trong một môi trường giàu dinh dưỡng, trừ khi nó được hoạt hoá. Sự hoạt hoá là một quá trình chuẩn bị cho các bào tử nảy mầm và là kết quả của những xử lý như đun nóng chẳng hạn. Sau đó bào tử nảy mầm, thoát khỏi trạng thái nghỉ. Sự nảy mầm được nhận biết qua sự trương (phồng) lên của bào tử, sự vỡ hoặc tiêu biến của áo bào tử, sự mất tính kháng nhiệt và kháng các điều kiện bất lợi khác, mất tính chiết quang, sự giải phóng các hợp phần của bào tử và sự tăng hoạt tính trao đổi chất. Nhiều chất trao đổi bình thường hoặc chất dinh dưỡng (các axit amin và các đường) có thể gây ra sự nảy mầm của bào tử đã được hoạt hoá. Sau giai đoạn nảy mầm bào tử sinh trưởng mạnh. Proteoplast của bào tử tạo thành những hợp phần mới, nhô ra khỏi những phần còn lại của áo bào tử và phát triển trở lại thành một vi khuẩn hoạt động (hình 54).

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?BÀO TỬ VÀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC SỰ SỐNG

Có hai nhóm giả thuyết chính về nguồn sự sống trên trái đất. Một nhóm giả thuyết phổ biến ở thế kỷ 19 cho rằng sự sống trên trái đất bắt nguồn từ các hành tinh khác trong vũ trụ. Nhóm giả thuyết thứ hai được biết đến vào đầu thứ kỷ 20, trong đó có thuyết của Aleksandr Ivanovitch Oparine (người Nga), cho rằng sự sống bắt nguồn từ vật chất vô cơ trên trái đất.

Mới đây, nhà thiên văn học người Anh, Fred Hoyle, đã làm sống lại những giả thuyết của thế kỷ 19, dựa trên nghiên cứu của ông về sự hấp thụ bức xạ do các đám bụi trong khoảng giữa các vì sao. Hoyle cho rằng các hạt bụi nói trên đã từng là những tế bào sống, chúng đã bị phân huỷ, và rằng buổi bình minh của sự sống trên trái đất được bắt đầu từ sự “cập bến” vào trái đến của nội bào tử vi khuẩn đã sống sót trải qua cuộc hành trình của chúng trong vũ trụ.

Gần đây nhất, Peter Weber và J. Mayo Greenberg ở Trường Đại học Leiden (Hà Lan) đã nghiên cứu sự sống sót của nội bào tử của Bacillus subtilis trong điều kiện độ chân không rất cao, nhiệt độ thấp, bức xạ tử ngoại. Các số liệu của họ cho thấy cớ lẽ các nội bào tử trong một đám mây phân tử ở khoảng giữa các vì sao có thể sống sót trong khoảng thời gian từ 4,5 đến 45 triệu năm. Các đám mây phân tử di chuyển trong vũ trụ với vận tốc đủ để vận chuyển vào các bào tử giữa các hệ mặt trời trong khoảng thời gian nói trên. Mặc dù những kết quả này không chứng tỏ rằng sự sống bắt nguồn từ ngoài trái đất, nhưng chúng phù hợp với dự đoán cho rằng các vi khuẩn có thể có khả năng “du hành” giữa các hành tinh nào đủ điều kiện cho sự sống.

Câu hỏi:

  1. Mô tả cấu trúc của nội bào tử của vi khuẩn qua một sơ đồ chú thích
  2. Mô tả vắn tắt sự tạo thành bào tử và sự nảy mầm bào tử.
  3. Bào tử có vai trò gì đối với vi khuẩn sinh ra nó?
  4. Giải thích tính bền nhiệt của bào tử.

Tổng quan về cấu trúc của tế bào procaryot

2. Các màng tế bào procaryot

  • Màng sinh chất và hầu hết các màng khác được câu tạo bằng một lớp lipit kép, trong đó các protein xuyên màng được vùi vào. Các protein ngoai vi thì được gắn lỏng lẻo hơn vào các màng.
  • Màng sinh chất có thể lõm vào bên trong tế bào để tạo nên một số cấu trúc đơn giản, như bộ máy quang học, bộ máy hô hấp và cõ lễ là cả mesosom nữa.

Khối chất nguyên sinh

Khối chất nguyên sinh chứa các thể ẩn nhập và các ribosom.

Nucleoit

Vật liệu di chuyển của tế bào procaryot nằm trong một vùng được gọi là nucleoit và thường không có màng bao quanh.

Thành tế bào procaryot

Sự tiết protein ở các procaryot

Các tế bào procaryot có thể tiết các protein ra ngoài nhờ một số hệ thống tiết khác nhau.

Các hợp phần bên ngoài thành tế bào

  • Đó là các cấu trúc như: vỏ (capsule), tua (fimbriae) và lông giới tính (sex pili).
  • Nhiều vi khuẩn có thể di chuyển, thường là nhờ các cơ quan tử hình sợi có tác dụng như một động cơ, được gọi là các tiên mao.
  • Các loài vi khuẩn khác nhau về số lượng và sự phân bố các tiên mao.
  • Sợi tiên mao là một sợi xoắn cứng, nó quay như một chân vịt của tàu thuỷ hoặc cánh quạt của máy bay để đẩy vi khuẩn đi trong nước.

Hoá ứng động (chemotaxis)

Các vi khuẩn di động có thể đáp ứng với những gradien của chất hấp dẫn hay chất có hại. Hiện tượng này được gọi là hoá ứng động.

Nọi bào tử của vi khuẩn

Một số vi khuẩn sống sót trong những điều kiện bất lợi của môi trường, nhờ sự tạo thành nội bào tử, là một cấu trúc dạng nghỉ, đề kháng với sức nóng, với sự khô hạn và nhiều hoá chất.

Câu hỏi suy luận và ôn tập

  1. Liệt kê các cấu trúc chủ yểu của tế bào procaryot đã được đè cập trong chuyên đềnày và mô tả vắn tắt các chức năng của từng cấu trúc.
  2. Sự tự lắp ghép là gì tầm quan trọng của nó đối với tế bào.
  3. Vi khuẩn có thể tạo nội bào như thế nào.

Câu hỏi suy luận – phê phán

  1. Hãy đưa ra một mô hình về cấu tạo của một tiên mao trong màng của một vi khuẩn gram dương. Mô hình này sẽ cần phải thay đổi như thế nào để diễn tả cấu tạo của một tiên mao ở màng của vi khuẩn gram âm?
  2. Nếu anh (chị) không có kính hiển vi, anh (chị) sẽ làm gì để biết được một tế bào là tế bào procaryot hay tế bào eucaryot? Biết rằng cơ thể đó có thể được nuôi dễ dàng trong phòng thí nghiệm.
  3. Tầng peptidoglycan của vi khuẩn được ví như tấm áo giáp phép bằng các mảnh kim loại mặc bên trong tấm áo giáp liền của hiệp sĩ thời trung cổ. Nó vừa có tác dụng bảo vệ, vừa linh hoạt (không cứng nhắc). Anh (chị) có thể mô tả những cấu trúc khác trong sinh học mà có chức năng tương tự? Những cấu trúc ấy có thể được thay thế hoặc cải niến như thế nào để không cản trở sinh trưởng của cơ thể mang nó?


【#9】Chức Năng Của Phần Mềm Quản Lý Bán Hàng

Hiện nay, công nghệ thông tin ngày cành cho ra các sản phẩm mới, kéo theo đó là sự tich hợp công nghệ thông tin vào các ngành nghề khác. Như trong kinh doanh, bán hàng, các doanh nghiệp, cửa tiệm muốn bán hàng thì phải trang bị một phần mềm quả lý bán hàng. Phần Mềm Quản Lý Bán Hàng cung cấp đẩy đủ các tiện ích nhằm hỗ trợ người dùng quản lý tốt nhất công việc kinh doanh của mình. Những tiện ích nổi bật mà duy nhất chúng tôi cung cấp như là: mở rộng thị trường ra mạng internet, xây dựng website đính kèm, cung cấp các công cụ tìm kiếm khách hàng và xây dựng thương hiệu. Ngoài ra bạn có thể sử dụng sản phẩm của chúng tôi, mọi lúc mọi nơi thông qua mạng internet và các thiết bị di động… Một phần mềm online quản lý bán hàng sẽ giúp người quản lý rất nhiều trong việc kinh doanh buôn bán của mình.

1 tối ưu thời gian, nhân công và chi phí.

Dễ tháy nhất là tiết kiệm thời gian. Việc sử dụng một phần mềm quản lý bán hàng giúp giảm thời gian cho một giải pháp kinh doanh nhất định. Phần mềm này giúp các nhân xử lý các thông tin một cách nhanh chóng nhằm nhằm tiêt skieemj thời gian cho việc quản lý mặt hàng. Khi rút ngắn được khoản thời gian thì người quản lý có thể có nhiều thời gian để phục vụ, chăm sóc kkhacshhangf cũng như làm các việc khác đem lại lợi nhuận cho quán.

Bên cạnh đó phần mềm sẽ giúp người chủ tiết kiệm được một khoảng chi phí. Với cách quản lý thông thường thì người chủ phải thuê thêm nhiều nhân công để kimeer tả – quản lý mặt hàng. Chính vì thuê nhiều nhân công nên chi phí cho quán tăng lên. Nhưng bằng việc sử dụng phần mềm online quản lý bán hàng bạn có thể kiểm tra một cách nhanh chóng bằng các thao tác đơn giản với chiếc máy tính, hạn chế được việc thuê nhiều nhân công sẽ giúp bạn tiết kiệm rât nhiều chi phí.

2 phù họp vơi mọi người.

Niếu bạn là một người đang hay có ý định kinh doanh một mạt hàng gì đó, thì việc sử dụng một phần mềm quản lý bán hàng là rất phù hợp với xá hội hiện tại. Hiện nay thì các phần mềm bán hàng đang được tối ưu hóa nhằm tạo một môi trường, giao diện dễ dàng cho người quản lý dễ tiếp cận nhất có thể. Một lợi thế quan trọng của một phần mềm quản lý hoạt động bán hàng là nó có thể thay đổi để đáp ứng nhu cầu của một doanh nghiệp cụ thể. Việc sử dụng phần mềm này tương đối đơn giản và bạn có thể dễ dàng lên chương trình cho nó để đáp ứng nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.

3 Xử lý dữ liệu nhanh chóng, chính xác.

Là một phần mềm áp dụng sự phát triển của công nghệ thông tin cho nên việc xử lý một loạt số liệu với dữ liệu lớn là điều vô cùng dễ dàng. Việc thống kê số liệu giờ đay không còn là nỗi ám ảnh của người quản lý, bỡi với vài bước cơ bản là bạn có thể quản lý được số liệu mặt hàng của mình .Không những thế, khi bạn sử dụng một phần mềm quản lý bán hàng tốt thì việc mà bạn phải thường xuyên thông kế các loại sản phẩm bán ra hay các mặt hàng tồn đọng trong kho,… giờ đay máy tính sẽ thay thế bạn làm các việc đó một cách nhanh nhất, chính xác nhất.

Qua đó, có thể thấy được sự quan trọng mà một chương trình quản lý bán hàng mang lại, nó tạo nhiều hiệu quả tích cực cho công việc của bạn. Bạn có thể truy cập chúng tôi để được tư vấn về sản phẩm tốt nhất


【#10】Amazon Fire Tv Stick: Các Chức Năng Cơ Bản Bạn Nên Biết

Một thanh HDMI nhỏ mà bạn kết nối trực tiếp với TV để biến nó thành Smart TV và truy cập các dịch vụ như Amazon Prime Video, Youtube, Netflix và nhiều ứng dụng bổ sung. Đó sẽ là cách mà nhiều người định nghĩa thiết bị Amazon này để nhiều người cảm thấy bị thu hút bởi nó, nhưng khi bạn đã có nó, điều cơ bản bạn nên biết là gì.

Sử dụng điện thoại thông minh của bạn làm điều khiển từ xa và bàn phím

Cả hai nếu bạn sử dụng Android và iOS, bạn có thể tải xuống ứng dụng Amazon Fire TV chính thức , điều này cho phép điều khiển từ xa từng chức năng của nó. Chẳng hạn như thay đổi âm lượng, cuộn qua giao diện và thậm chí sử dụng Alexa bằng cách tận dụng micrô tích hợp của điện thoại.

Tất nhiên, điều thú vị nhất có thể là sử dụng bàn phím ảo để nhập văn bản vào các ứng dụng và trường yêu cầu khi sử dụng Fire TV. Nó thoải mái hơn nhiều so với việc cuộn từng chữ cái bằng lệnh mặc định.

Kết nối thiết bị USB qua OTG

Đây là một trong những tùy chọn ít được biết đến của Fire TV Sticks, nhưng cáp USB A đến micro USB OTG sẽ cho phép bạn kết nối các thiết bị khác bằng cáp USB như một bàn phím hoặc thậm chí là một ổ đĩa ngoài để tăng dung lượng do lỗi mà chúng bao gồm.

Hơn nữa, bạn thậm chí sẽ có tùy chọn kết nối mạng ethernet được điều chỉnh qua USB để cải thiện các sự cố truyền có thể do tín hiệu Wi-Fi bị tắc nghẽn hoặc không hiệu quả.

Kết nối thiết bị Bluetooth

Fire TV Stick cung cấp kết nối Bluetooth theo tiêu chuẩn, vì vậy bạn có thể kết nối các phụ kiện khác nhau để cải thiện trải nghiệm. Vì vậy, ví dụ: bạn có thể ghép nối một số loại bàn phím với bàn di chuột tích hợp và cải thiện trải nghiệm như Smart TV hoặc tai nghe Bluetooth để thưởng thức tất cả nội dung của nó mà không làm phiền người khác.

Hỗ trợ HDMI CEC

Giống như nhiều thiết bị khác, nếu bạn kết nối Amazon Fire TV Stick với HDMI CEC cổng của TV, bạn có thể điều khiển các chức năng của nó từ thiết bị Amazon và cả điều này với điều khiển của TV. Một tùy chọn bổ sung trong trường hợp bạn mất hoặc không muốn thay đổi các điều khiển cứ hai ba lần.

Duyệt internet bằng Firefox

Vì vậy, bây giờ bạn đã biết, cài đặt nó và tận dụng các phương pháp kiểm soát và nhập dữ liệu mà chúng tôi đã đề cập trước đây, chẳng hạn như ứng dụng cho điện thoại thông minh hoặc thiết bị USB và Bluetooth, để biến chiếc gậy nhỏ này thành một PC nhỏ mà bạn có thể tham khảo tin tức, thư vv

Video phản chiếu

Nếu bạn có điện thoại thông minh hoặc bất kỳ thiết bị nào khác tương thích với Công nghệ Miracast, bạn có thể gửi video phản chiếu đến Fire TV Stick. Một tùy chọn thú vị để hiển thị ảnh, video hoặc nội dung khác trên màn hình có đường chéo lớn hơn.

Trong trường hợp sử dụng các thiết bị khác theo mặc định không bao gồm hỗ trợ, bạn luôn có thể chọn sử dụng các ứng dụng của bên thứ ba như Air Screen cho Android hoặc Screen Mirroring cho thiết bị iOS.

Đóng ứng dụng

Hệ điều hành Fire TV dựa trên Android và giống như bất kỳ hệ thống nào khác, các ứng dụng của nó cũng có thể là buộc phải đóng cửa. Với điều này, bạn có thể đạt được thêm hiệu suất và tính trôi chảy trong những thời điểm đó khi bạn thấy rằng nó không chạy với sự dễ dàng thông thường.

Nếu bạn nhấn và giữ nút Home trên bộ điều khiển trong vài giây, bạn sẽ truy cập vào thực đơn cho nhanh hoặc trực tiếp truy cập đến các chức năng như đặt thiết bị ở chế độ ngủ, truy cập cài đặt hoặc xem tất cả các ứng dụng đã cài đặt. Đơn giản và hiệu quả.

Điều chỉnh sự kiểm soát của cha mẹ

Trong trường hợp bạn có con ở nhà có thể sử dụng Fire TV Stick, bạn nên biết rằng bạn có thể định cấu hình kiểm soát của phụ huynh để ngăn không cho họ truy cập vào một số ứng dụng hoặc nội dung nhất định, cũng như họ có thể thực hiện một số ứng dụng hoặc cài đặt đã bị xóa trước đó. .

Xong, đây là những chức năng cơ bản mà bạn nên biết về Amazon Fire TV Stick để tận dụng nó ngay từ ngày đầu tiên. Mặc dù có rất nhiều ứng dụng tương tự và các thủ thuật ẩn khác khiến nó trở thành một thiết bị gần như thiết yếu trong gia đình. Đặc biệt nếu bạn không có Smart TV hoặc đang nghĩ đến việc tạo ra một cuộc sống mới cho những gì mà TV của bạn cung cấp trong phần đó khi bạn mua nó.


Bạn đang xem chủ đề Chức Năng Otg trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!