Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phong Cách Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Bản Chất Xã Hội Của Ngôn Ngữ
  • Tiểu Luận Quan Niệm Của Mình Về Tính Chất Giao Tiếp Của Hoạt Động Văn Học Trên Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Giao Tiếp Ngôn Ngữ
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Chức Năng Của Giao Tiếp Văn Hóa Nơi Công Cộng Là Gì?
  • Giao tiếp phi ngôn ngữ là cách gửi và nhận thông điệp từ những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những thao tác của từng bộ phận trên cơ thể như cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng điệu, dáng đứng, khoảng cách…

    Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ

    Trong xã hội hiện đại, nhất là công việc kinh doanh, giao tiếp phi ngôn ngữ lại có tầm quan trọng rất lớn. Nó giúp cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ cơ thể. Đồng thời, giao tiếp phi ngôn ngữ cũng giúp chúng ta hiểu rõ đối tác mà ta đang tiếp cận để đưa ra những định hướng đúng đắn.

    Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ còn được thể hiện trong những tình huống khi chúng ta tiếp xúc lần đầu với một người khác. Ngoài việc để ý các cử chỉ, điệu bộ và nội dung của người đối diện, bạn còn phải học cách đọc và hiểu ý nghĩa của những chúng. Từ đó, bạn sẽ có được kinh nghiệm, giúp bạn nhận biết được người đối diện, nhận ra chính mình và học cách kiểm soát bản thân trong giao tiếp tốt hơn.

    Những điều cần lưu ý về giao tiếp phi ngôn ngữ

    Ở mỗi quốc gia, mỗi cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ mang những ý nghĩa khác nhau. Và nó khiến bạn phải chủ động tìm hiểu về văn hóa giao tiếp của họ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

    Nụ cười được xem là vũ khí lợi hại mang đến sự thoải mái, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp nụ cười lại có nhiều ý nghĩa khác. Nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người châu Á. Và với người Nhật, họ cười để thể hiện lòng kính trọng hoặc che giấu sự buồn phiền.

    Với chúng ta, lắc đầu có nghĩa là không, gật đầu là có, thì với đất nước Hy Lạp hay Bulagria, bạn sẽ không khỏi bất ngờ khi thấy mọi thứ đều ngược lại hoàn toàn. Gật đầu trong văn hóa của họ là “không” còn lắc đầu lại mang ý nghĩa là “Có”. Vì thế, hãy cẩn thận khi sử dụng cử chỉ của cái để tránh gây ra những hiểu nhầm ngớ ngẩn.

    Khoảng cách giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những ý nghĩa khác biệt. Nếu như ở Trung Đông, các nước Mỹ Latinh, người nói chuyện có xu hướng gần nhau để thể hiện sự thân mật, thì ở Mỹ hay một vài nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa hơn để thể hiện sự tôn trọng.

    Đối với quan niệm của người châu Âu, khi trò chuyện và nhìn chăm chăm vào người đối diện sẽ thể hiện sự thành thật, không cố che giấu điều gì đó. Ngược lại, ở các nước châu Á, nhìn vào người đối diện sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khác.

    Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu rõ giao tiếp phi ngôn ngữ là gì cũng như tầm quan trọng của nó. Mong rằng bạn sẽ vận dụng thật tốt vào cuộc sống và công việc hằng ngày!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Huyện 1 Năm Tuyển Được 3 Học Sinh
  • Những Cố Gắng Trong Công Tác Gd
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tiếng Anh Là Gì?
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hiện Nay Có Thật Sự Tốt?
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Là Gì? Tính Chất Của Ngôn Ngữ Báo Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Vai Trò Định Hướng Xã Hội Của Báo Chí
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Báo Chí Theo Quy Định Luật Báo Chí 2022
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Báo Chí Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Báo Chí Phản Biện Và… Phản Biện Báo Chí
  • Việc làm Báo chí – Truyền hình

    Ngôn ngữ báo chí là cách viết của người làm báo, với cách viết ngắn gọn, súc tích thể hiện những thông tin mà người làm báo muốn truyền tải đến người đọc, trong đó ngôn ngữ báo chí chính là công cụ truyền thông điệp chính và cơ bản nhất, như vậy có thể thấy ngôn ngữ báo chí là một phần của sự phát triển ngôn ngữ.

    Trong lĩnh vực báo chí ngôn ngữ báo chí có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng trong việc truyền tải thông tin, là phương tiện để chạm đến trái tim người đọc, nó quyết định đến việc tác phẩm của bạn, dòng thông tin của bạn đưa cho người đọc hay – dở của một bài báo. Hiện nay có rất nhiều hình thức để truyền tải thông tin chúng ta có báo in sử dụng chữ viết, ngôn ngữ để truyền tải thông tin, để đưa thông tin cho động giá và tác động trực tiếp đến tác giả. Báo chí phản ánh hiện thực thông tin. Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cấp các sự kiện, không có sự kiện thì không có tin tức báo chí được đưa ra cho người đọc hàng ngày, do đó nét đặc trưng nhất của báo chí chính là tính sự kiện.

    2. Tính chất của ngôn ngữ báo chí

    2.1. Ngôn ngữ báo chí phải chính xác

    Ngôn ngữ điều đầu tiên phải đảm bảo tính chính xác. Đặc biệt đối với ngôn ngữ báo chí, tính chất này vô cùng quan trọng, vì báo chí là việc đưa thông tin đến cho người đọc, báo chí định hướng dư luận xã hội, chính vì vậy những thông tin đưa lên báo phải chính xác, nguồn thông tin đưa lên báo phải có căn cứ, được kiểm tra trước khi đăng, chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất là ngôn từ cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người đọc, đặc biệt hướng dư luận đi theo chiều hướng không đúng hướng của sự vật sự việc. Chỉ cần bạn sử dụng sai ngôn từ cũng dẫn đến độc giá hiểu sai thông tin, Trong tiếng việt có rất nhiều nghĩa, thanh âm đa dạng chính vì vậy mà việc sử dụng sai sẽ dẫn đến ý nghĩa câu nói sai, đi xa sự thật. Để tránh những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra bạn nên phải thực hiện ít nhất 2 yêu cầu, và đặc biệt với những nhà báo thì hai yêu cầu này phải thực sự giỏi đó chính là phải giỏi tiếng mẹ đẻ, cụ thể là nắm vững ngữ pháp, có hiểu biết về ngữ nghĩa của từ tiếng mẹ đẻ, có vốn từ rộng, thành thạo về ngữ âm và nghĩa của từ, hiểu về phong cách diễn biến của từng từ khi đặt vào câu và bối cảnh của câu để độc giả hiểu đúng ý nhà báo.

    Thứ hai phải bám sát các sự kiện có thực và nguyên dạng để phản ánh khoogn tưởng tượng, không phóng đại sự thật hoặc không thêm bớt sự thật, đó là hai yêu cầu có quan hệ qua lại và mật thiết với nhau. Nếu một nhà báo mà giỏi ngôn ngữ, có cách diễn đạt ý tốt nhưng xa đối với thực tế không bám sát và sự kiện thì bài báo đó cũng rỗng tuếch không ý nghĩa. Cái tác giả cần là thực tế của sự kiện chứ không phải những ngôn từ hoa lá cành mà thông tin đưa vào bài thì không có thì bài báo cũng bị coi là thất bại. Nhưng với những bài báo có thông tin của sự vật sự việc nhưng lại không biết dùng ngôn từ để diễn đạt, không thể truyền tải hết thông tin của tác giả thì bài báo đó cũng không đạt được hiệu quả cao.

    Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí trong tác phẩm một cách chính xác nhà báo không chỉ đạt hiệu quả giao tiếp cáo mà còn giúp cho việc giữ gìn tiếng viết, phát triển tiếng viết một cách trong sáng mang bản sắc dân tộc, để sau này khi lớp trẻ lớn lên chúng tự hào về ngôn ngữ mẹ đẻ, Chính vì vậy mà những người làm báo cần phải sử dụng ngôn ngữ báo chí thật chính xác để mang lại nhiều lợi cho xã hội.

    2.2. Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí

    Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí được thể hiện mạnh ở mảng nhà báo miêu tả, tưởng thuận phải cụ thể, tỉ mỉ, dùng câu văn của mình để thể hiện sự vật sự việc một cách chân thực nhất, phải cặn kẽ trong từng chi tiết nhỏ, có như vậy người đọc mới có thể hình dung hết được sự vật sự việc, đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng đã thể hiện được tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí, từ những miêu tả của nhà báo mà người đọc hình dung tưởng tượng được mọi sự việc đang diễn ra, có thể nói tác giả đã sử dụng rất tốt tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí.

    2.3. Tính đại chúng của ngôn ngữ báo chí

    Báo chí là phương tiện truyền thông tin đại chúng, chính vì vậy mà tất cả các đối tượng trong cuộc sống, tất cả mọi người trong xã hội không phụ thuộc và trình độ học vấn, lứa tuổi, giới tính, địa vị xã hội….tất cả đều là đối tượng để báo trí hướng tới. Chính vì vậy mà ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ quốc dân, dùng những từ ngữ dành cho tất cả mọi người, vì báo chí một khi phát hành sẽ phục vụ tất cả mọi người trên mọi miền của đất nước chính vì vậy mà không được dùng ngôn ngữ địa phương. Với những bài báo dùng những từ ngữ không có tính đại chúng chỉ phục vụ một số đối tượng hạn hẹp thì báo chí ở đây đã mất đi chức năng tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội. Chính đây là lý do vì sao báo chí ít khi sử dụng những từ ngữ địa phương hay sử dụng từ chuyên ngành, tiếng lóng để thể hiện nội dung.

    2.4. Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí

    Ngắn gọn và đủ ý là một trong những yếu tố quan trọng trong ngôn ngữ báo chí, với những bài báo dài dòng diễn đạt ý không chuẩn khiến người đọc nhàm chán, không đủ kiên trì để có thể đọc hết bài bào để hiểu hết thông tin thi đó là một bài báo thất bại trong việc truyền tải ý, vì nó không đáp ứng được tính kịp thời và nhanh chóng. Việc trình bày dài dòng trong báo chí sẽ khiến người trình bày mắc nhiều lỗi hơn, nhất là những lỗi về sử dụng ngôn ngữ. Việc đưa các thông tin lên báo cũng có quy định về số lượng từ ngữ, giới hạn về một khoảng không gian và diện tích, chính vì vậy mà việc ngắn gọn xúc tích rất cần thiết cho ngôn ngữ báo. Bạn nên lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý, đủ ý và không vượt quá số lượng giới hạn đã được quy định trước.

    Hiện nay tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí được thực hiện khá nghiêm túc đã có nhiều tờ báo quy định số lượng từ được đưa lên báo, Với những bài không đặt trước thì biên tập viên tự cân đối điều chỉnh thông tin để phù hợp.

    Với tính định lượng của ngôn ngữ báo chí giúp ích rất nhiều cho nhà báo, nó giúp nhà báo chủ động việc trình bày nội dung tác phẩm, chủ động sáng tạo nội dung, nhờ đó họ có thể dễ dàng viết và đăng trong tất cả các trường hợp khi có khách hàng yêu cầu đặt bài.

    2.5. Tính biểu cảm của ngôn ngữ báo chí

    Tính biểu cảm của ngôn ngữ báo chí được xem là một trong những tính chất quan trọng, trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lỗi nói mới lạ, sử dụng những từ ngữ có tính biểu cảm cao, giàu hình ảnh, đậm dấu ấn cá nhân, và dó đó sinh động và hấp dẫn ít nhất cũng gây được ấn tượng với độc giả.

    Sự biểu cảm của ngôn ngữ báo chí vô cùng đa dạng và phong phú, chúng thể hiện sự vật sự việc qua những câu tư trừu tượng, những câu tục ngữ ca dao, những câu tượng hình… tất cả đều được sử dụng một cách bàn bản và thuận lợi, là sự vay mượn các hình ảnh từ ngữ, với những thú chơi chữ, gieo vần đã làm nên sự đặc biệt của ngôn ngữ báo chí, tính biểu cảm tương đối cao.

    Với những bài báo không sử dụng tính biểu cảm của ngôn ngữ báo chí sẽ dẫn đến hiện tượng khô khan, bài viết không có hồn. Tính biểu cảm được thể hiện bởi tính hay, tình cảm mà người viết muốn truyền tải đến người đọc, làm cho họ đạt tới một trạng thái tâm lý cảm xúc nhất định, để từ đó đưa những thông tin mà người viết vẫn chờ đợi.

    2.6. Tính khuôn mẫu của ngôn ngữ báo chí

    Ngôn ngữ báo chí cũng cần phải có khuôn mẫu và định hướng, không thể viết theo sở thích và viết vô tổ chức chính vì vậy mà cần phải có khuôn mẫu trong báo chí, khuôn mẫu bao giờ cũng đơn nghĩa và mang sắc thái biểu cảm trung tính, chẳng hạn trong văn phong báo chí khi viết các mẫu tin người viết thường sử dụng những khuôn mẫu như.

    Ngôn ngữ sự kiện là linh hồn của ngôn ngữ báo chí, có ngôn ngữ sự kiện thì báo mới có hồn. Bởi nó là nền tảng cho sự tồn tại của ngôn ngữ báo chí và là trung tâm của ngôn ngữ báo chí.

    Ngôn ngữ của độ không xác định là một dạng thức phát triển của ngôn ngữ sự kiện vì nó dựa trên sự vận động của sự kiện mà hình thành.

    Ngôn ngữ định lượng thực chất là sự phát sinh, sự cụ thể hóa của ngôn ngữ sự kiện. Chính vì đòi hỏi phản ánh cụ thể, chân xác về sự kiện có thật và nguyên dạng đã dẫn đến việc đòi hỏi phải coi trọng số lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Báo Chí Truyền Hình
  • Vai Trò Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội
  • Trách Nhiệm Của Báo Chí Với Đất Nước, Xã Hội
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Báo Chí Trong Sự Nghiệp Đổi Mới
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Ngoại Giao
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Cùng tìm hiểu về các chức năng của tiền tệ. Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ là chức năng nào

    6 chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Giải pháp thay thế duy nhất để sử dụng tiền là quay trở lại hệ thống hàng đổi hàng. Tuy nhiên, với tư cách là một hệ thống trao đổi, hệ thống hàng đổi hàng ngày nay sẽ rất khó khả thi.

    Ví dụ, nếu người thợ làm bánh cung cấp bánh mì cho người bán tạp hóa xanh phải trả tiền bằng hành tây và cà rốt, anh ta có thể không thích những thực phẩm này hoặc anh ta có thể có đủ dự trữ.

    Do đó, người thợ làm bánh sẽ phải bán lại sản phẩm, điều này sẽ mất thời gian và rất bất tiện. Bằng cách thay thế những cuộc mua bán phức tạp này bằng cách sử dụng tiền, có thể tiết kiệm được rất nhiều rắc rối. Nếu thợ làm bánh chấp nhận thanh toán bằng tiền, bạn có thể chi tiêu theo bất cứ cách nào mà thợ làm bánh muốn. Việc sử dụng tiền như một phương tiện trao đổi đã khắc phục được những hạn chế của hàng đổi hàng chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Do đó, tiền cung cấp phương tiện hiệu quả nhất để thỏa mãn những mong muốn chức năng quan trọng nhất của tiền tệ Mỗi người tiêu dùng có một nhóm mong muốn khác nhau. Tiền cho phép anh ta (cô ta) quyết định muốn thỏa mãn điều gì, xếp hạng mong muốn theo thứ tự mức độ khẩn cấp và năng lực (thu nhập) và hành động phù hợp.

    Loại hệ thống này cũng cho phép mở rộng chuyên môn hóa. Lấy ví dụ, một người chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất trong một nhà máy sản xuất giày. Anh ấy đã không thực sự tự sản xuất bất cứ thứ gì. Vậy anh ta có thể trao đổi những gì nếu một hệ thống hàng đổi hàng đang hoạt động? Với hệ thống tiền tệ, vấn đề được loại bỏ. Anh ta có thể được trả bằng tiền và có thể dùng số tiền đó để mua những thứ anh ta muốn.

    Chức năng số 2. Một thước đo giá trị:

    Theo hệ thống hàng đổi hàng, rất khó đo lường giá trị của hàng hóa. Ví dụ, một con ngựa có thể có giá trị tương đương với năm con bò hoặc 100 tạ lúa mì, hoặc một chiếc ô tô Maruti có thể tương đương với 10 chiếc xe hai bánh. Do đó, một trong những nhược điểm của hệ thống hàng đổi hàng là bất kỳ hàng hóa hoặc dịch vụ nào cũng có một loạt giá trị trao đổi.

    Tiền là thước đo của mọi thứ. Bằng cách hoạt động như một mẫu số chung, nó cho phép mọi thứ được định giá, nghĩa là được định giá bằng tiền. Do đó, mọi người có thể so sánh các mức giá khác nhau và do đó thấy được giá trị tương đối của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau.

    Điều này phục vụ hai mục đích cơ bản:

    (1) Hộ gia đình (người tiêu dùng) có thể lập kế hoạch chi tiêu của họ và

    (2) Người kinh doanh có thể lưu giữ hồ sơ thu nhập và chi phí để tính toán lãi lỗ của họ.

    Chức năng # 3. Kho lưu trữ giá trị (Sức mua)

    Một bất lợi chính của việc sử dụng hàng hóa – chẳng hạn như lúa mì hoặc muối hoặc thậm chí động vật như ngựa hoặc bò – làm tiền là sau một thời gian, chúng sẽ xấu đi và mất giá trị kinh tế. Do đó, chúng không thỏa mãn chút nào như một phương tiện cất giữ của cải. Để nhận ra những vấn đề chức năng quan trọng nhất của tiền tệ của tiết kiệm trong nền kinh tế hàng đổi hàng, chúng ta hãy xem xét một nông dân. Anh ấy muốn tiết kiệm một ít lúa mì mỗi tuần để tiêu dùng trong tương lai. Nhưng điều này chẳng có ích gì đối với ông ở tuổi già vì số tiền ‘tiết kiệm’ sẽ không còn nữa.

    Một lần nữa, nếu một người thợ khai thác than muốn dành một lượng than nhất định mỗi tuần cho cùng một mục đích, anh ta sẽ gặp vấn đề trong việc tìm đủ chỗ chứa cho toàn bộ số than của mình. Bằng cách sử dụng tiền, những vấn đề như vậy có thể được khắc phục và mọi người có thể tiết kiệm cho tương lai. Hình thức tiền hiện đại (chẳng hạn như tiền xu, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng) cho phép mọi người tiết kiệm thu nhập thặng dư của họ.

    Nói cách khác, rõ ràng là tiền chỉ có thể hoạt động hiệu quả như một kho lưu trữ giá trị nếu giá trị của chính nó ổn định. Ví dụ, nếu hầu hết mọi người cảm thấy rằng khoản tiết kiệm của họ sẽ trở nên vô giá trị rất nhanh, họ sẽ tiêu chúng ngay lập tức và không tiết kiệm được gì. Trong vài năm gần đây, giá trị (hoặc sức mua) của tiền đã giảm ở Ấn Độ chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn – cho các mục đích hàng ngày – tiền có đủ sự ổn định về giá trị để phục vụ khá tốt cho việc lưu trữ giá trị.

    Chức năng số 4. Cơ sở của Tín dụng:

    Tiền tạo điều kiện cho các khoản vay. Người đi vay có thể sử dụng tiền để có được hàng hóa và dịch vụ khi họ cần nhất. Ví dụ, một cặp vợ chồng mới cưới sẽ cần rất nhiều tiền để trang bị một ngôi nhà hoàn chỉnh ngay lập tức. Họ không bắt buộc chức năng quan trọng nhất của tiền tệ phải đợi đến mười năm để có thể tiết kiệm đủ tiền để mua những thứ đắt tiền như ô tô, tủ lạnh, TV, v.v.

    Chức năng số 5. Một Đơn vị Tài khoản:

    Một thuộc tính của tiền là nó được sử dụng như một đơn vị tài khoản. Hàm ý là tiền được sử dụng để đo lường và ghi lại các giao dịch tài chính cũng như giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia theo thời gian. Giá trị tiền của hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong một nền kinh tế trong một niên độ kế toán được gọi là tổng sản phẩm quốc dân. Theo JR Hicks, tổng sản phẩm quốc dân là tập hợp hàng hóa và dịch vụ được giảm xuống mức chung bằng cách tính bằng tiền.

    Chức năng số 6. Một tiêu chuẩn của việc trả sau:

    Đây là một phần mở rộng của chức năng đầu tiên. Ở đây một lần nữa tiền được sử dụng như một phương tiện trao đổi, nhưng lần này việc thanh toán được dàn trải trong một khoảng thời gian. Như vậy, khi hàng hoá được mua theo hình thức thuê mua, chúng được giao cho người mua khi thanh toán một khoản tiền đặt cọc, sau đó người mua sẽ thanh toán số tiền còn lại theo nhiều đợt.

    Theo hệ thống hàng đổi hàng, loại giao dịch này có thể có vấn đề. Hãy tưởng tượng một người nông dân mua một máy quay video và đồng ý trả cho nó với số lượng lúa mì cố định mỗi tuần trong một số tuần nhất định chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Sau một vài tuần, người bán máy quay video có thể có đủ lúa mì.

    Tuy nhiên, anh ta sẽ phải nhận thêm lúa mì trong những tuần tới. Nếu tiền đã được sử dụng, thì người bán có thể dùng nó để mua bất cứ thứ gì anh ta muốn, cho dù đó là lúa mì hay thứ gì khác – hiện tại hoặc trong tương lai. Nói cách khác, việc sử dụng tiền cho phép trì hoãn chi tiêu từ hiện tại sang một số dịp trong tương lai.

    Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các giao dịch (mua và bán) được thực hiện trên cơ sở tín dụng. Ví dụ, bạn có thể mua những đồ dùng bền bỉ như TV hoặc máy giặt khi thuê; có thể mua nhà bằng LIC hoặc HDFC vay; hầu hết các giao dịch kinh doanh cho phép thanh toán trong tương lai cho hàng hóa được giao ngay bây giờ; và người lao động chờ đợi một tháng hoặc một tuần để nhận tiền công và tiền lương của họ. Do đó, việc sử dụng tiền cho phép các thành viên trong xã hội trì hoãn chi tiêu của họ từ hiện tại đến một ngày nào đó trong tương lai.

    Do đó, chúng tôi thấy rằng hệ thống tiền tệ rõ ràng có lợi thế hơn hệ thống hàng đổi hàng. Nhưng tiền là gì? Lưu ý năm từ đầu tiên trong định nghĩa của chúng tôi – “bất kỳ điều gì thường được chấp nhận”. Chúng tôi sử dụng tiền giấy và tiền xu để mua đồ nhưng chỉ có thể làm như vậy miễn là chủ cửa hàng và thương nhân sẵn sàng chấp nhận những tiền giấy và tiền xu đó để thanh toán cho hàng hóa mà họ đang bán.

    Nếu tất cả người bán quyết định rằng họ sẽ không chấp nhận những tờ tiền và tiền xu này nữa, thì chúng sẽ không còn là tiền nữa. Thay vào đó, nếu họ quyết định chấp nhận chân ghế là tiền, thì chúng ta sẽ phải sử dụng chân ghế mà chúng ta sẽ phải sử dụng khi mua một thứ gì đó! Tất nhiên, ví dụ này khá nực cười nhưng nó chỉ ra rằng bất cứ thứ gì cũng có thể là tiền miễn là nó thường được chấp nhận như vậy.

    Vậy đâu là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ

    Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ được các nhà kinh tế học hiện đại quan niệm là: Phương tiện trao đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tầm Quan Trọng Của Ngôn Ngữ Mẹ Đẻ Trong Quá Trình Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Tế Bào Bình Thường
  • Tư Duy Là Gì Và Tầm Quan Trọng Của Tư Duy Đối Với Con Người
  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Vai Trò Của Tư Duy Lý Luận Trong Quá Trình Đổi Mới Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
  • Môi Trường Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Môi Trường Tự Nhiên
  • Năm 1999, theo quyết định của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), ngày 21/2 được chọn là Ngày quốc tế tiếng mẹ đẻ nhằm nhận thức rõ rệt về tầm quan trọng của sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ.

    Lịch sử của ngày này bắt nguồn từ sự kiện: Vào 21/2/1952 ở Dhaka, thủ phủ của Bangladesh (khi đó là Đông Pakistan), cảnh sát đã xả súng vào đoàn sinh viên đang tuần hành yêu cầu nhà cầm quyền công nhận tiếng Bengal là ngôn ngữ chính thức, làm 4 người thiệt mạng. Sự kiện này dẫn đến một phong trào phản đối dữ dội trên cả nước, kết quả đã buộc nhà cầm quyền phải công nhận tiếng Bengal (ngang với tiếng Urdu).

    Ngày 16/5/2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã “yêu cầu các nước thành viên và Ban Thư ký thúc đẩy việc bảo tồn và bảo vệ tất cả các ngôn ngữ được nói bởi các dân tộc trên toàn thế giới”. Cũng với nghị quyết này, Liên hợp quốc đã tuyên bố năm 2008 là Năm ngôn ngữ quốc tế, nhằm thúc đẩy sự thống nhất trong sự đa dạng và sự hiểu biết quốc tế nhờ đa ngôn ngữ và đa văn hóa.

    Ngày quốc tế tiếng mẹ đẻ được kỷ niệm hàng năm kể từ năm 2000 ở khắp nơi trên thế giới, nhằm thúc đẩy sự đa dạng ngôn ngữ và văn hóa cũng như đa ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo tồn và phát triển di sản vật thể và phi vật thể của chúng ta. Tất cả mọi thứ được thực hiện để thúc đẩy việc phổ biến tiếng mẹ đẻ không chỉ nhằm khuyến khích sự đa dạng về ngôn ngữ và giáo dục đa ngôn ngữ, mà còn nâng cao nhận thức về các truyền thống ngôn ngữ và văn hóa trên toàn thế giới, truyền cảm hứng cho tinh thần đoàn kết dựa trên sự hiểu biết, khoan dung và đối thoại.

    Ngôn ngữ và đa dạng văn hóa

    Các loại ngôn ngữ chính là những công cụ mạnh mẽ nhất để bảo tồn và phát triển di sản vật thể và phi vật thể của chúng ta. Tất cả những gì được thực hiện để thúc đẩy sự phổ biến các ngôn ngữ mẹ đẻ không chỉ nhằm khuyến khích sự đa dạng về ngôn ngữ và giáo dục đa ngôn ngữ mà còn để nâng cao nhận thức về các truyền thống ngôn ngữ và văn hóa trên khắp thế giới và truyền đi tinh thần đoàn kết dựa trên sự khoan dung, sự hiểu biết và đối thoại.

    Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bởi nó bảo đảm sự đa dạng về văn hóa và giúp các nền văn hóa có thể giao thoa, trao đổi với nhau. Ngôn ngữ cũng giúp tăng cường hợp tác, xây dựng xã hội tri thức toàn diện, bảo tồn các di sản văn hóa và tạo điều kiện tiếp cận với một nền giáo dục có chất lượng cho mọi người. Mỗi tiếng nói đều là nguồn ngữ nghĩa độc đáo để hiểu, viết và mô tả thực tế thế giới. Tiếng mẹ đẻ cùng với sự đa dạng của ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng để xác định bản sắc của các cá nhân như là nguồn sáng tạo và phương tiện để biểu hiện văn hóa, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của xã hội.

    Một nền văn hóa hòa bình chỉ có thể được xây dựng trong một không gian, nơi tất cả mọi người có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ một cách tự do và đầy đủ trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.

    Tuy nhiên, theo UNESCO, trong số khoảng 7.000 ngôn ngữ được nói trên thế giới, hơn 50% ngôn ngữ có khả năng bị tuyệt chủng trong vòng một vài thế hệ tới, 96% được nói bởi chỉ có 4% dân số thế giới. Chỉ có vài trăm ngôn ngữ đang thực sự có giá trị trong hệ thống giáo dục và trong các lĩnh vực công cộng và chưa đầy 100 ngôn ngữ được sử dụng trong thế giới kỹ thuật số.

    Theo bà Irina Bokova, với Mục tiêu phát triển bền vững thứ 4, Chương trình phát triển bền vững vào năm 2030 tập trung vào một nền giáo dục có chất lượng và việc học tập trong suốt cuộc đời của tất cả mọi người, để mỗi phụ nữ và nam giới đều có thể có được những kỹ năng, hiểu biết và các giá trị cho phép họ được tham gia đầy đủ vào xã hội. Khía cạnh này, đặc biệt có vai trò quan trọng đối với các phụ nữ và trẻ em gái, cũng như đối với những người dân bản địa, dân tộc thiểu số và người dân nông thôn, là một phần trong Khuôn khổ hành động Giáo dục năm 2030 của UNESCO. Được thiết kế như một lộ trình cho việc thực hiện Chương trình phát triển bền vững vào năm 2030, khuôn khổ hành động này khuyến khích sự tôn trọng đầy đủ việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong quá trình giảng dạy và học tập, cũng như thúc đẩy và bảo tồn đa dạng ngôn ngữ.

    Gìn giữ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt

    Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, đa dân tộc và vì vậy cũng là quốc gia có nhiều ngôn ngữ. Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, việc bảo tồn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ dân tộc khác luôn được xem là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam. Tiếng Việt như là một ngôn ngữ luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Việt Nam, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển của Việt Nam.

    Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú và luôn luôn phát triển. Cho tới thời điểm hiện tại, thế giới nói chung và người dân Việt Nam chúng ta nói riêng đều không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tiếng Việt cũng như sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ mẹ đẻ. Trong quá trình phát triển, rất nhiều từ mới, cụm từ mới, thuật ngữ mới thuần Việt đã được ra đời và phục vụ tốt hơn công việc giao tiếp, diễn đạt ý tưởng và phát triển kinh tế, xã hội, khoa học. Tiếng Việt không chỉ thu hút bằng âm sắc trầm bổng và trữ tình mà còn ở chiều sâu của ngữ nghĩa.

    Thời gian trở lại đây, song hành với quá trình toàn cầu hóa nói chung là “toàn cầu hóa văn hóa” và “toàn cầu hóa ngôn ngữ”. Đó là một thực tế không thể tránh khỏi. Quá trình giao thoa về ngôn ngữ diễn ra mạnh mẽ khiến tiếng Việt cùng lúc phải “cạnh tranh” với nhiều ngoại ngữ khác. Bên cạnh đó, dưới tác động của quá trình đô thị hoá, của nền kinh tế thị trường, sự di chuyển liên tục của dòng người giữa ba miền Bắc-Trung-Nam, giữa các vùng trong một miền, giữa nông thôn và thành thị…, thành phần dân cư, dân tộc cũng đã và đang bị xáo trộn, đan xen. Theo đó, tiếng Việt cũng có những thay đổi đáng kể, đó là sự phân bố về vị thế, chức năng giữa tiếng Việt chung với các tiếng Việt phương ngữ, sự phân bố lại về ngôn ngữ tộc người…

    Tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số người Việt Nam, là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn. Tiếng Việt có lịch sử hình thành và phát triển rất đáng tự hào, trong đó đáng kể nhất là khả năng tiếp nhận vốn từ vựng từ bên ngoài, tự điều chỉnh chúng một cách chủ động, biến thành cái riêng, cái đặc biệt của người Việt, thực sự đã, đang và sẽ mãi là tài sản quốc gia quý giá. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải kế thừa những giá trị ngôn ngữ truyền thống và hội nhập như thế nào để đừng đánh mất bản sắc của tiếng mẹ đẻ./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 11 Biến Thể Của Raci (Responsible, Accountable, Consult, Inform) Matrix
  • Ma Trận Raci Phân Định Trách Nhiệm Trong Quản Lý Dự Án
  • Raci Là Gì? Ma Trận Gán Trách Nhiệm (Responsibility Assignment Matrix
  • Ma Trận Raci Là Gì? Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Ma Trận Raci
  • Làm Rõ Trách Nhiệm Với Ma Trận Raci
  • Phi Ngôn Ngữ Có Thực Sự Quan Trọng Trong Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • 06 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 39: Làm Văn: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Sư Phạm Là Điều Kiện Tiên Quyết Để Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Của Thầy Và Trò
  • Đề Tài Giao Tiếp Sư Phạm
  • Hành Vi Phi Ngôn Ngữ Trong Giao Tiếp
  • Một cuộc đối thoại giữa hai người chỉ có những câu chữ trôi chảy, đều đều nhau, người này nói người kia đáp,… Sau cuộc đối thoại, việc hai người nhớ được một vài vấn đề đã nói với nhau có lẽ đã xuất sắc lắm rồi.

    Điều này cho thấy, ngôn ngữ chỉ là một phần nhỏ trong sự thành công của một cuộc đối thoại. Những yếu tố phi ngôn ngữ như giọng nói, ngữ điệu và ngôn ngữ cơ thể mới là điểm sáng trong cuộc đối thoại.

    Chương trình “VÌ 1 TRIỆU NGƯỜI VIỆT TỰ TIN GIAO TIẾP TIẾNG ANH”. Edu2Review tặng bạn Voucher khuyến học trị giá lên tới 500.000đ, Nhận ngay Voucher

    Phi ngôn ngữ hỗ trợ đắc lực cho ngôn ngữ

    Trong khi nói, thay vì nói chuyện suôn, bạn hãy kèm theo một số cử chỉ cơ thể phù hợp thì sẽ tác động rất hiệu quả đến đối tượng giao tiếp. Phi ngôn ngữ sẽ giúp bạn diễn đạt một cách trọn vẹn và rõ ràng nội dung muốn truyền đạt mà chỉ qua ngôn ngữ bằng lời không truyền đạt được.

    Không những thế, giao tiếp phi ngôn ngữ còn tạo được sự chú ý của mọi người, giúp họ tập trung vào người nói hơn là giao tiếp ngôn ngữ. Bạn dễ dàng bắt gặp điều này trong những buổi diễn thuyết, buổi giảng của thầy cô trên lớp,…

    Ngôn ngữ không lời luôn giúp cho những cuộc trao đổi trở nên thú vị và hấp dẫn hơn (Nguồn: KhaiGiang)

    Những buổi giảng bài trên lớp sẽ vô cùng nhàm chán nếu như giáo viên cứ ngồi và giảng bài bằng giọng đọc đều đều. Các học sinh sẽ rất dễ buồn ngủ hay không hứng thú mà làm việc riêng. Hay những buổi diễn thuyết, nếu bạn mở đầu bằng một vài cử chỉ như vẫy tay chào mọi người với nụ cười tươi trên mặt thay vì đi thẳng lên bục và bắt đầu nói thì chắc chắn không khí buổi diễn thuyết sẽ khác hẳn.

    Phi ngôn ngữ giúp diễn đạt cảm xúc, thái độ

    Nhiều lúc bạn có thắc mắc, sao mình chưa nói gì cả mà mọi người đều biết mình có chuyện vui? Đó là vì ánh mắt, vẻ mặt của bạn đã thay lời nói truyền đạt đến mọi người. Và thường những truyền đạt bằng ngôn ngữ không lời luôn đi trước và chính xác hơn ngôn ngữ diễn đạt bằng lời.

    Ngôn ngữ cơ thể luôn biểu hiện rõ nhất trạng thái của một người (Nguồn: vaent)

    Ngôn ngữ không lời chủ yếu là những hành vi vô thức, là những thói quen hay phản xạ bản năng mà con người không hoặc ít tự nhận biết được. Chúng có thể được biểu lộ một cách tự động, máy móc mà người khác cũng chưa chắc đã hiểu ra.

    Phi ngôn ngữ là một sự phản ánh chính xác những cảm xúc thật sự của con người, mang khá nhiều thông tin về trạng thái tâm lí cụ thể. Do đó, giao tiếp không biểu hiện thành lời thường chân thật, ít dối trá và có tính tin cậy hơn so với lời nói.

    Phi ngôn ngữ và ngôn ngữ bằng lời luôn đi đôi với nhau. Bởi sự kết hợp này mà chúng ta thể hiện bản thân mình một cách toàn diện và ấn tượng hơn. Cũng nhờ sự kết hợp này mà chúng ta phân biệt được người với người ai thật tâm hơn.

    Những điều to lớn luôn bắt đầu từ những gì nhỏ bé. Hãy quan sát và học tập từ những cử chỉ nhỏ nhặt trong cuộc sống bạn sẽ đạt được sự to lớn từ những cử chỉ nhỏ nhặt đấy.

    Chương trình “VÌ 1 TRIỆU NGƯỜI VIỆT TỰ TIN GIAO TIẾP TIẾNG ANH”. Edu2Review tặng bạn Voucher khuyến học trị giá lên tới 500.000đ, Nhận ngay Voucher

    Ngọc Lâm Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Kinh Doanh Và Giao Tiếp Truyền Thông
  • Baigiang Ky Nang Giao Tiep
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Phân Loại Giao Tiếp
  • Vai Trò Và Chức Năng Các Bộ Phận Điều Khiển Trên Máy Cnc
  • Giao Tiếp Giữa Bộ Nhớ Eeprom Với Vi Điều Khiển 8051
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp
  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Published on

    General view of language and linguistics

    1. 1. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC Tài liệu tham khảo 1. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,1997, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB GD, Hà Nội. 2. Ng.Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Ng. Minh Thuyết, 1995, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB GD, Hà Nội
    2. 2. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC * Ngôn ngữ và ngôn ngữ học * Nguồn gốc của ngôn ngữ * Chức năng của NN * Bản chất xã hội của NN * Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu
    3. 3. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học I. Ngôn ngữ là gì? 1. Khái niệm * Thuật ngữ “ngôn ngữ” gồm các nghĩa: – Tiếng nói của mỗi dân tộc – Là tiếng nói của loài người nói chung. – Khái quát về lời nói của một cá nhân.
    4. 4. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học * Cơ cấu NN bao gồm: – Hệ thống ngữ âm: mặt âm thanh của lời nói. – Hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa: tập hợp những đơn vị định danh sự vật, sự tình, biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau. – Hệ thống ngữ pháp: tập hợp những quy tắc tạo nên những đơn vị thông báo.  NN là một cơ cấu (toàn bộ các yếu tố hợp thành), một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ, nói năng để định hình, để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng tình cảm với nhau.
    5. 5. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học 2. Phân biệt ngôn ngữ, lời nói và hoạt động ngôn ngữ: * Ngôn ngữ: Là sự tập hợp các đơn vị, các quy tắc đã được xã hội quy ước và quy định. * Lời nói: Là hoạt động cá nhân của người sd hệ thống NN chung để giao tiếp với các thành viên khác trong cộng đồng ngôn ngữ. * Hoạt động NN: là những hiện tượng trong đời sống một NN như, nghĩ thầm, độc thoại, hội thoại, viết, đọc, hiểu …tiếp xúc NN, vay mượn, dịch, khôi phục NN, …
    6. 6. Ngôn ngữ và ngôn ngữ học II. Ngôn ngữ học là gì? 1. Đối tượng của ngôn ngữ học * NNH là khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ của loài người. (A. Martinet) * Đối tượng nc của NNH: nc mặt vật chất của hệ thống NN. Đó là các đơn vị và quy tắc đã được xã hội quy ước và quy định để phục vụ cho mục đích giao tiếp.
    7. 9. Nguồn gốc của ngôn ngữ 1. Các giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ. * Từ thượng cổ: – Trường phái duy vật – Trường phái duy tâm * Thời kỳ Phục hưng: – Thuyết tượng thanh – Thuyết cảm thán – Thuyết kế ước xã hội – Thuyết ngôn ngữ cử chỉ, …
    8. 11. Nguồn gốc của ngôn ngữ * Ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động: – Lao động đã liên kết con người thành những bầy đàn. Bầy người nguyên thuỷ có sự phân công lao động, nảy sinh ra nhu cầu trao đồi, phải nói với nhau một cái gì đó. – Theo Anggen : “Bắt nguồn từ lao động và sau đó cùng với lao động tiếng nói được hình thành và phát triển”. – Chính lao động đã sáng tạo ra con người và ngôn ngữ của con người.
    9. 12. Diễn tiến của ngôn ngữ * NN xuất hiện cùng với quá trình hình thành ý thức, gắn liền với lao động, với sự xh của con người và xã hội loài người. Quá trình phát triển của NN theo từng bước: * NN bộ lạc: – Là những ngôn ngữ đầu tiên của loài người. – Mỗi bộ lạc có một NN. * NN khu vực: – Là phương tiện giao tiếp chung của tất cả mọi người trong một vùng, không phân biệt thị tộc hay bộ lạc. – Đó là tiếng nói trên bộ lạc.
    10. 13. Diễn tiến của ngôn ngữ * NN dân tộc: là phương tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc, bất kể khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ. * NN văn hoá dân tộc: – Khi các dân tộc phát triển, NN VH DT mới hình thành. – Nó là một NN thống nhất, chuẩn mực, được gọt giũa từ NN DT. – Là biểu hiện tập trung nhất tính thống nhất của NNDT.
    11. 14. Chức năng của ngôn ngữ 1. Chức năng giao tiếp * NN là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. * NN giúp cho con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động. * NN là công cụ đấu tranh sản xuất, công cụ đấu tranh giai cấp.
    12. 15. Chức năng của ngôn ngữ 2. Chức năng phản ánh (thể hiện tư duy) * NN là phương tiện của tư duy. * Tư duy của con người là sự phản ánh thế giới khách quan quanh ta vào trong bộ não. * NN loài người ra đời và phát triển là do con người thấy “cần phải nói với nhau một cái gì đó”, tức là các kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan (là TD) của con người, cần được thông báo với những người khác trong cộng đồng.
    13. 16. Chức năng của ngôn ngữ * Chức năng thể hiện tư duy của NN: – NN là sự thể hiện thực tế của tư tưởng. – NN trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. * NN của con người tồn tại dưới dạng: – thành tiếng, dạng biểu tượng âm thanh ở trong óc. – chữ viết, Vì thế, chức năng phản ánh của NN không chỉ thể hiện khi NN phát ra thành lời mà cả khi im lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy.
    14. 17. Chức năng của ngôn ngữ 3. Mối quan hệ NN và tư duy. * NN và TD cùng ra đời một lúc, không tách rời nhau. * NN là hiện thực trực tiếp của TD. * NN và TD thống nhất với nhau. Không có NN thì cũng không có TD và ngược lại, không có TD thì NN cũng chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất cũng không có NN.
    15. 18. Chức năng của ngôn ngữ Mối quan hệ giữa NN với tư duy * NGÔN NGỮ – Là vật chất – Là cái để biểu hiện tư duy. – NNH nc các hiện tượng, quy tắc NN. – Đơn vị của NN là âm vị, hình vị, từ, câu … – NN có tính dân tộc. * TƯ DUY – Là tinh thần – Là các được biểu hiện. – Lôgic học nc các quy luật của TD. – Đơn vị của TD là khái niệm, phán đoán, suy lý, … – TD có tình nhân loại.
    16. 19. Bản chất của ngôn ngữ 1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội. * NN không phải là hiện tượng tự nhiên. * NN không phải là hiện tượng cá nhân. * NN không phải là hiện tượng sinh học. Vì, NN không mang tính di truyền.
    17. 20. Bản chất của ngôn ngữ 2. NN là một hiện tượng xã hội đặc biệt. * NN không thuộc cấu trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. – NN được sinh ra và được bảo toàn qua mọi thời đại. * NN không mang tính giai cấp. – NN được ứng xử bình đẳng đối với tất cả mọi người trong xã hội.
    18. 21. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu I. Các khái niệm cơ bản 1. Hệ thống: * Đó là một tập hợp các yếu tố , * Có quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó. 2. Cấu trúc: * Là tổng thể các mối quan hệ trong hệ thống thể thống nhất. * Là phương thức tổ chức của hệ thống.
    19. 22. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Ngôn ngữ phải là một hệ thống vì: * Các yếu tố trong NN được sắp đặt theo những quy luật nhất định. * Chúng không thể kết hợp với nhau một cách tùy tiện.
    20. 23. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Các đơn vị ngôn ngữ: – Âm vị (phoneme): là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có tác dụng khu biệt nghĩa, cấu tạo vỏ âm thanh của các đơn vị khác. – Hình vị (morpheme): là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất dùng để cấu tạo từ. – Từ (word): là đơn vị có chức năng định danh. – Câu (sentence): là đơn vị có chức năng thông báo.
    21. 24. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Mỗi đơn vị tạo thành một hệ thống nằm trong một hệ thống lớn. * Mỗi hệ thống nhỏ của ngôn ngữ là một cấp độ: – cấp độ âm vị, – cấp độ hình vị, – cấp độ từ – Và cấp độ câu.
    22. 25. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 3. Tín hiệu: là một thể thống nhất, không thể tách rời của hai mặt: – Mặt thứ nhất: cái biểu hiện – là hình thức vật chất. – Mặt thứ hai: cái được biểu hiện – là nội dung mà vật chất đó biểu thị. * Tín hiệu bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định.
    23. 26. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu  Tín hiệu ngôn ngữ * Trong ngôn ngữ, các đơn vị: hình vị, từ là những tín hiệu. Vì, chúng biểu thị hai mặt: – Mặt biểu hiện: âm thanh – Mặt được biểu hiện: ý nghĩa, nội dung.
    24. 27. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Hình vị: là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có giá trị về mặt ngữ pháp. Ví dụ: teach, -er, -ing, …trong các từ “teacher”, “teaching”, … bàn, ghế, ăn, nói, trong các từ “bàn ghế”, “ăn nói”, …. * Từ: cũng là tín hiệu vì chúng thể hiện 2 mặt: âm thanh, ý nghĩa
    25. 28. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu II. Các kiểu quan hệ trong cơ cấu ngôn ngữ 1. Quan hệ cấp bậc (hirerchical relation): * Đơn vị thuộc cấp bập cao hơn bao giờ cũng chứa dựng đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn. * Ngược lại, đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn bao giờ cũng nằm trong đơn vị thuộc cấp độ cao hơn. * Là quan hệ giữa các đơn vị không đồng loại, những đơn vị khác nhau về cấp độ.
    26. 29. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 2. Quan hệ ngữ đoạn (syntagmatical relation) * Các đơn vị ngôn ngữ phải nối tiếp nhau thành chuỗi, lần lượt trong ngữ lưu. * Là quan hệ giữa các yếu tố, các đơn vị, nối tiếp nhau trên một trục nằm ngang theo tuyến tính gọi là trục ngữ đoạn. * Trực tiếp kết hợp với nhau giữa các đơn vị đồng hạng, những đơn vị thuộc cùng cấp độ.
    27. 30. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu 3. Quan hệ liên tưởng (associative relation) * Là quan hệ xâu chuỗi một yếu tố xh với những yếu tố đứng sau lưng nó, về nguyên tắc có thể thay thế cho nó. * Quan hệ liên tưởng cho phép lựa chọn lấy một yếu tố thích hợp nhất trong dãy liên tưởng mà mình tạo ra. Nó phải phụ thuộc vào khả năng kết hợp trong ngữ.
    28. 32. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu III. Đặc điểm của ngôn ngữ * Tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ – Là một sự hợp nhất của cái biểu hiện và cái được biểu hiện, – Gắn bó khăng khít với nhau, * Tính võ đoán – Không giải thích được lí do vì sao vỏ âm thanh này lại mang nghĩa này, mà không mang nghĩa khác. – Sự gọi tên khác nhau này là do thói quen, quy ước của một cộng đồng người.
    29. 33. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu * Tính hình tuyến – Mỗi tín hiệu ngôn ngữ đều tồn tại trong một thời gian, – Mỗi yếu tố có một độ dài nhất định, – Chúng xuất hiện kế tiếp nhau lần lượt, không thể phát ra hai yếu tố trong cùng một lúc. – Trên chữ viết biểu thị rõ tính hình tuyến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Dạng Bài Trong Đề Thi Tiếng Anh Thpt Quốc Gia
  • Giao Tiếp Và Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Quản Trị Kinh Doanh. Ứng Dụng Trong Thực Tê
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh Trung Học, Hay, 9Đ
  • Những Hình Thức Căn Bản Của Truyền Thông Giao Tiếp
  • Các Quan Điểm Về Các Kiểu Chức Năng Của Ngôn Ngữ: Thời Kì Của Chủ Nghĩa Chức Năng Và Ngôn Ngữ Học Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Môi Trường
  • Luận Văn: Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Của Sinh Viên, Hay, 9Đ
  • Tâm Lý Học Đại Cương
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Chủ nghĩa chức năng hiện đại được bắt đầu từ những năm 1970 khi ngôn ngữ học đã chịu rất nhiều ảnh hưởng từ tạo sinh luận. Sau chủ nghĩa cấu trúc, người ta hi vọng rất nhiều ở Noam Chomsky vì trong lí thuyết tạo sinh luận, lần đầu tiên cơ chế sản sinh của ngôn ngữ đã được giải thích khá tường tận và thuyết phục: sự sản sinh của ngôn ngữ là vô tận để đáp ứng sự vô tận về các nhu cầu giao tiếp rất khác nhau của xã hội loài người. Và, về bản chất thì ngôn ngữ loài người có rất nhiều điểm chung nhau .

    Nhưng, giới ngôn ngữ học rồi cũng nhanh chóng bị thất vọng về chủ nghĩa tạo sinh vì bên cạnh những đặc điểm về tâm lí ngôn ngữ học thì ngôn ngữ còn là một thực thể chịu tác động của rất nhiều nhân tố trong môi trường xã hội hay các đặc trưng xã hội và chủng tộc. Chính vì vậy, rất dễ hiểu là vì sao chủ nghĩa chức năng phải ra đời mà không đi tiếp con đường mà chủ nghĩa tạo sinh đã khai phá.

    Từ những năm 1970 trở lại đây, trong giới ngôn ngữ học xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về bản chất của giao tiếp trong xã hội loài người và nhấn mạnh khía cạnh chức năng của ngôn ngữ. Đó là thời kì của sự xuất hiện các khuynh hướng ngữ pháp chức năng của Dik, Halliday, J. Lyons; ngữ dụng học của Austin, Seark, Levinson; ngôn ngữ học xã hội của Hymes, Trudgill, Lakoff

    Đặc điểm nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại là sự nới rộng về không gian và thời gian cũng như các điều kiện giao tiếp của một hành vi nói năng. Do khuynh hướng tự nhiên hoá sự giao tiếp của con người mà đối tượng ngôn ngữ không dừng lại ở phát ngôn riêng lẻ nữa mà là các chuẩn phát ngôn khác nhau trong một diễn ngôn nhằm thực hiện các mục đích và ý định của người nói. Không gian để nhúng (embed) các chuỗi phát ngôn này trong hiện thực không còn là các không gian do nhà ngôn ngữ học giả định nữa (một người nói, một người nghe, một mã giao tiếp) mà là không gian với đầy đủ tính hiện thực của nó, gọi là chu cảnh giao tiếp xã hội: đặc điểm giới tính, tâm lí, nghề nghiệp, hôn nhân của người nói; các điều kiện để tiến hành giao tiếp thuận lợi và không thuận lợi; các điều kiện để giao tiếp bằng lời biến thành các hành động xã hội(social actions) và hành vi xã hội (social behaviours). Vì thế, từ những năm 1970 đã rộ lên phong trào nghiên cứu văn bản và nghiên cứu diễn ngôn.

    Về chủ nghĩa chức năng và các chức năng của chúng, người ta thường nhắc đến các tác giả sau:

    M.A.K. Halliday (1978). An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức năng)

    B. Brown & G. Yule (1983). Discourse Analysis (Phân tích diễn ngôn)

    3.1. Theo Halliday, ngôn ngữ có 3 chức năng lớn:

    + Ideation (ý niệm, tư tưởng)

    + Interpersonal (liên nhân)

    + Intergrative (hội nhập)

    a- Chức năng ý niệm, tư tưởng là chức năng thể hiện các thông tin thuần lí của ngôn ngữ trong thông điệp của giao tiếp ngôn ngữ, và có 90% thông tin gạn lọc được là các thông tin thuần lí. Nghĩa là, các thông tin phản ánh thực tại, các sự kiện xảy ra trong đời sống mà chúng ta muốn giao tiếp. Chức năng này, vì vậy, từ cấu trúc luận cổ điển tới hậu cấu trúc luận và tới chức năng luận vẫn được các tác giả giữ nguyên, nhưng được gọi bằng các thuật ngữ khác nhau. Ví dụ, chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc luận: chức năng biểu diễn (repsentation) hoặc là 4 chức năng còn lại, trừ hai chức năng biểu cảm (emotion) và nhận cảm (conative).

    b- Chức năng liên nhân: nối kết các thành viên trong cộng đồng nói năng lại với nhau thành một khối. Đây là chức năng mà từ 1970 trở lại đây thường được ngôn ngữ học nhắc tới do sự thành công của ngôn ngữ học tộc người và ngôn ngữ học xã hội. Trong một giao tiếp cụ thể, để thực hiện được các ý định giao tiếp của mình, người nói cần thiết phải bộc lộ mình qua ngôn ngữ với một thái độ trung thực. Nghĩa là, người nói phải thể hiện được các đặc điểm về cá nhân, giai tầng xã hội mà mình thuộc về, vùng ngữ vực mà mình và giai cấp mình ưa sử dụng (vốn từ, các thành ngữ, tục ngữ quen dùng, những lối tu từ ưa thích…), các cấu trúc câu, phát ngôn để bộc lộ thông điệp theo các đặc điểm của người nói.

    Chức năng liên nhân là chức năng mang tính xã hội rõ nhất vì bản chất ngôn ngữ, suy cho cùng, là làm mối dây liên hệ giữa người với người trong một cộng đồng đã được xác định. Đôi khi chúng ta nói không phải để truyền thông tin mà nói để tìm hiểu về nhau, thông cảm với nhau…

    c- Chức năng hội nhập: đây là chức năng mang tính ngữ pháp văn bản rất rõ, các từ không thể rời rạc mà phải nối kết với nhau để tạo thành sức mạnh, đó là sức mạnh của hiệu lực lời nói. Để đạt được hiệu lực này, ngoài vài luật ngữ pháp quy định về các quan hệ cú pháp đặc thù cho một ngôn ngữ thì chúng ta còn phải sử dụng rất nhiều các nhân tố khác nhau để kết liên các từ lại thành một khối. Chẳng hạn đó là những hàm ý mà cả hai người nói đều hiểu như nhau, đó là các tiền giả định mà dân tộc đã quen sử dụng trong hàng nghìn năm, đó là những nguyên tắc về phép lịch sự trong lời nói, và cuối cùng là các quy tắc xã hội mà chủng tộc “ấn định” cho ngôn ngữ có những chức năng gì trong cộng đồng.

    Ví dụ:

    Ngôn ngữ tôn giáo không phải là thứ ngôn ngữ hàng ngày. Nếu thứ ngôn ngữ đó càng xa lạ thì càng tạo được sự bí hiểm. Thậm chí người ta – những người truyền giáo – còn sử dụng ngôn ngữ của một dân tộc khác.

    3.2. G. Brown & G. Yule: Discourse Analysis (Phân tích diễn ngôn)

    Hai tác giả đã phát biểu một cách đơn giản hơn về các chức năng ngôn ngữ. Nói một cách khái quát thì ngôn ngữ có hai chức năng chính là:

    – Transactional function (chức năng liên giao)

    – Interactional function (chức năng tương tác)

    Hai chức năng này đã thể hiện được đầy đủ những chức năng chi tiết từ cấu trúc luận tới hậu cấu trúc luận và cả về sau này nữa. Điều đó được thể hiện ở các điểm sau:

    – Các chức năng của ngôn ngữ suy cho cùng là để làm trọn việc truyền giao thông tin và để kết liên lại những thành viên trong một cộng đồng nói năng, nhằm mục đích thông cảm, đoàn kết, hợp tác…

    – Mặc khác, sự đối lập giữa liên giao và tương tác là tương tự như các sự đối lập sau đây trong quan niệm của các tác giả khác :

    + Chức năng biểu diễn & chức năng biểu cảm: K. Bühler (1934);

    + Chức năng tham chiếu & chức năng tình cảm: (1960);

    + Chức năng ý niệm-tư tưởng & chức năng liên nhân: Halliday (1970);

    + Chức năng mô tả & chức năng biểu hiện mang tính xã hội (social-expssion): J. Lyons (1977);

    Tóm lại, các chức năng của ngôn ngữ bao gồm:

    1, Ngôn ngữ là hình thức của tư duy, là phương tiện để biểu tải suy nghĩ của con người về thực tại, về chính bản thân mình và về phương tiện mà con người đang sử dụng.

    2, Ngôn ngữ là phương

    tiện giao tiếp vạn năng của xã hội con người. Trong chức năng thứ hai này, tuỳ theo các quan niệm khác nhau mà nó được hình dung một cách cụ thể hoặc khái quát khác nhau.

    Trong ngôn ngữ học, khái niệm chức năng còn được hiểu là chức năng trong cấu trúc của chính ngôn ngữ. Chẳng hạn như: chức năng khu biệt của âm vị; chức năng định danh của từ và ngữ; chức

    năng thể hiện một đơn vị lời nói trọn vẹn của câu và phát ngôn…

    Xem bản dịch của Hoàng Văn Vân (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2001)

    G. Brown & G. Yule. Phân tích diễn ngôn. (Trần Thuần dịch). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, trang 15-16.

    Trở lại:

    Bản chất xã hội của ngôn ngữ

    1. Thời kì của cấu trúc luận

    2. Thời kì của hậu cấu trúc luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhận Biết, Sử Dụng Trạng Từ Chỉ Mức Độ (Grade) Trong Tiếng Anh
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Giao Tiếp Môn Tiếng Anh
  • 200 Câu Trắc Nghiệm Giao Tiếp Tiếng Anh Có Đáp Án File Word
  • Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo
  • Nhiệm Vụ Của Giáo Viên Tiểu Học
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng
  • Giao tiếp không lời có sức mạnh hơn ngôn từ

    Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

    Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

    Sự kết hợp hài hòa của giao tiếp phi ngôn ngữ

    Công sở là nơi diễn ra giao tiếp khá đa dạng và giao tiếp “phi ngôn ngữ” được đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong giao tiếp của giới văn phòng.

    Ánh mắt

    Trong giao tiếp, ánh mắt là yếu tố bộc lộ rõ nhất cảm xúc của con người. Người ta vẫn thường nói “liếc mắt đưa tình”, nhưng với công sở là “liếc mắt đưa tin”…

    Công sở cũng như một xã hội thu nhỏ, có nhiều kiểu giao tiếp với nhiều mối quan hệ đan xen… Hãy giữ một ánh mắt biết cười, nó sẽ giúp bạn hạn chế bất đồng trong giao tiếp để thành công hơn trong công việc.

    Nụ cười

    Nụ cười được xem là trang sức trong giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin lỗi rất tinh tế và ý nhị.

    Đến công sở mỗi ngày với nụ cười thân thiện sẽ tạo được kết quả giao tiếp tốt hơn bao giờ hết, bởi nụ cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh, giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Cười thường dễ “lây” từ người này sang người khác và khiến phản ứng giữa người với người thuận lợi hơn. Nhân viên luôn cảm thấy thoải mái và lắng nghe nhiều hơn với những người lãnh đạo có nụ cười thân thiện.

    Trang phục

    Quần áo, trang phục cũng là hành vi phi ngôn ngữ, có sức biểu cảm mạnh mẽ trong giao tiếp nơi công sở. Qua trang phục, mọi người có thể đoán biết được tính cách, “gu” thẩm mỹ cũng như xuất thân của bạn. Do vậy, nó đôi khi còn là cầu nối cho những ai “hợp gu” dễ dàng thân thiết và bắt chuyện với nhau khi có cùng sở thích. Công sở dễ dàng làm thân hơn khi cùng “gu” thời trang.

    Trang phục chính là một trong những nhân tố quan trọng để “lấy lòng” người đối diện. Hãy ăn mặc đẹp và phù hợp với công việc của bạn, bởi điều đó sẽ giúp bạn tự tin giao tiếp thành công và hơn thế nữa, đó còn là biểu hiện thái độ tôn trọng người khác.

    Tư thế, điệu bộ

    Hàng tá thông điệp được truyền tải thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể.

    Một tư thế đứng thẳng, bước chân nhanh nhẹn, nhẹ nhàng khiến mọi người xung quanh đều cảm nhận được sự năng động, nhiệt huyết trong con người bạn, từ đó sinh ra sự quý mến hay cảm giác ngưỡng mộ, tin tưởng…

    Ngược lại, sẽ không ai có cảm tình hay ngợi khen những tư thế ngỗ ngược, mất mỹ quan hay dáng đi hiện rõ sự “luồn lách” xu nịnh, sự khép nép, thiếu tự tin… Mọi người phần nào đoán biết tính cách và con người bạn thông qua các tư thế của bạn, do đó hãy cẩn thận nếu không muốn ai đó nắm được yếu điểm của mình.

    Đằng sau những cử chỉ giao tiếp phi ngôn ngữ – chúng tôi (vi)

    Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

    Trước khi một ứng cử viên tài năng bước vào phòng phỏng vấn, bạn nên có những hình dung nhất định về người bạn sẽ lựa chọn. Bạn có thể sử dụng những dấu hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ hỗ trợ mình trong quá trình tuyển dụng. Rất nhiều người có những hồ sợ tốt nhưng thực tế thì lại không có nhiều kĩ năng trong khi làm việc thực tế. Vào thời điểm ứng viên bước vào phòng phỏng vấn, bạn có thể biết nhiều hơn về họ thông qua sự tự tin, cái tôi, và những tính cách chìa khóa khác bằng cách họ thể hiện chính bản thân mình và cách họ giao tiếp với bạn. Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

    Ăn mặc để tạo ấn tượng

    Tạo tương tác trực tiếp với những nhân nhân viên tiềm năng của bạn

    Sau khi bạn đánh giá sự chuyên nghiệp của những ứng viên thông qua cách ăn mặc của họ, bạn nên chú ý tới cách họ chào đón bạn. Họ nắm tạy bạn thật chặt, thật hờ hững hay là vừa phải? Những chi tiết này cũng sẽ cho bạn những hình dung nhất định về cái tôi của ứng cử viên. Một cái bắt tay chắc chắn, nhưng không phải là cái bắt tay thể hiện quyền lực. Những cái nắm tay quá chặt là dấu hiệu của tính cách hống hách và hung hăng. Những cái nắm tay yếu ớt là dấu hiệu của sự thiếu tự tin, hay những điểm khác có thể có tác động tiêu cực tới môi trường làm việc của bạn.

    Để ý tới cách họ giao tiếp

    Bây giờ chính là lúc bạn để ý những yếu tố nào đã tạo nên tính cách của ứng viên, không chỉ qua những gì họ nói, mà cả cách họ thể hiện điều đó nữa. Họ nên nói trong một tông giọng vừa phải và rõ ràng, không lẩm bẩm. Nếu như bạn tuyển dụng một ai đó có thói quen lẩm bẩm hay là thì thầm trong buổi phỏng vấn, bạn có thể tưởng tượng ra một nhân viên thụ động nhu mì trong công việc. Trái lại, những ai đó nói quá to trog buổi phỏng vấn có thể là những người hung hăng, hống hách.

    Giao tiếp thông qua ánh mắt

    Hãy chú ý tới hướng nhìn của ứng viên trong quá trình phỏng vấn. Họ nên tạo những giao tiếp thông qua ánh mắt với bạn và tập trung vào những câu hỏi phỏng vấn xuyên suốt buổi phỏng vấn. Nếu như họ nhìn xung quanh phòng, điều đó có nghĩa là họ không tập trung và dễ dàng bị tác động. Mặt khác, nếu một ai đó nhìn chằm chằm vào bạn, họ có thể là một người có tính cách hung hăng. Nếu như bất kỳ ai không nhìn thẳng vào mắt bạn khi giao tiếp, đó là một người không đáng tin tưởng. Yama Jewayni, một trong những chủ sở hữu của nhà hàng Eighteenth Street Lounge, Dragonfly and Local 16 đã nói rằng: ” Khi chúng tôi tuyển dụng, tôi thường chú ý tới cách ứng viên nhìn tôi trong suốt quãng thời gian phỏng vấn. Tôi muốn cho họ biết rằng họ có thể nhìn tôi khi nói chuyện. Điều nay khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể tin họ và họ có thể làm giao tiếp tốt với khách hàng”.

    Quan sát ngôn ngữ cơ thể

    Có một vài những dấu hiệu đơn giản mà bạn có thể sử dụng để đánh giá ứng viên thông qua ngôn ngữ cơ thể. Những ứng cử viên tài năng nhất sẽ là những người có dáng ngồi ngay thẳng, tư thế tốt, nhưng vấn khá thoải mái. Buông thõng vai xuống chính là dấu hiệu của sự tùy tiện và bạn chắc chắc sẽ nhìn thấy điểm tiêu cực này trong quá trình làm việc. Những tư thế tốt sẽ thể hiện được sự tự tin và cái tôi. Những ai đó có thói quen cho tay sau đầu hay tì toàn bộ tay lên bàn với ghi chú của họ chính là những người có tính cách hống hách. Một ứng cử viên an toàn chính là những người từ tốn trong việc ghi chú và có tư thế ngồi gọn gàng. Hãy sử dụng đôi mắt và đôi tai để đánh giá ứng viên, đó chính là phương thức dễ dàng nhất để tìm kiếm những ứng viên tài năng nhất.

    Nguồn:

    http://www.hcareers.com/us/resourcecenter/tabid/306/articleid/301/default.aspx

    Ảnh: soompi.com/topstarnews.net

    Dịch : B.H.D

    Liệu rằng bạn có nhận ra nó hay không thì vài thứ vẫn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Và khi bạn khám phá nhiều hơn về nó, bạn có thể tạo ra sự tương tác xung quanh bạn tốt hơn.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ thực ra giúp bạn bày tỏ bản thân tốt hơn

    Cả thế giới đã bị sốc khi vụ bê bối tình dục của Bill Clinton với Monica Lewinsky được chứng minh – sau khi ông ta cương quyết phủ nhận vụ bê bối này! Nhưng nhiều dấu hiệu đã cho thấy ông ta đang nói dối, như việc ông ta chạm vào mũi của mình nhiều hơn mức bình thường ba lần. Đấy là bởi vì khi người ta nói dối, căng thẳng sẽ làm tăng huyết áp và lần lượt khiến các dây thần kinh xung quanh mũi bị kích thích hay cảm thấy ngứa ngáy. Hiểu được giao tiếp không dùng lời nói có thể giúp bạn không chỉ tương tác và giao tiếp với người khác tốt hơn mà còn cải thiện được khả năng để bày tỏ cảm xúc bản thân.

    Có nhiều kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ khác nhau và vài loại có thể dễ dàng bị lãng quên

    Các cuộc nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ bắt đầu với sự xuất bản của Những biểu hiện cảm xúc ở người và động vật của Charles Darwin năm 1872. Kể từ đó, các chuyên gia cho rằng một phần quan trọng của cuộc đối thoại và tương tác của chúng ta không dựa vào lời nói:

    1. Động tác của bàn tay truyền tải nhiều thông tin

    Hành động bàn tay đặt trên má hay vuốt cằm cho thấy rằng người đó đang đắm chìm trong suy nghĩ. Cắn móng tay hay hành động nghịch tóc cho thấy sự lo lắng hay sự bất an.

    Loại này chiếm đa số trong giao tiếp phi ngôn ngữ.

    Hãy xem xét có bao nhiêu kiểu cười khác nhau mà bạn đã từng nhìn thấy; sự khác nhau của nụ cười có thể cho thấy sự hạnh phúc, sự nhớ nhung, hồi tưởng, sự khó chịu hay thậm chí sự buồn bã.

    Hạ thấp đầu và gương mặt hướng xuống dưới có thể hiểu là người đó đang trốn tránh thứ gì đó hoặc đơn giản là mắc cỡ, ngại ngùng.

    Cách một người giữ tư thế khi đứng hay ngồi thể hiện nhiều điều.

    Khoanh tay trước ngực có thể ám chỉ sự phòng thủ. Vắt chéo chân khi ngồi hay đứng cho thấy sự lo âu.

    Người ta nói rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Có nhiều thứ mà đôi mắt có thể tiết lộ ra – thậm chí là không có khả năng giao tiếp bằng mắt cũng nói lên nhiều điều.

    Mọi người có xu hướng nhìn lên trên và hướng qua phải khi họ không trung thực và họ ngước mắt lên trên qua bên trái khi họ đang nhớ điều gì đó. (Điều này có thể ngược lại với những người thuận tay trái.)

    Truyền thông xã hội đã khai sinh ra một hình thức mới của giao tiếp không dùng lời nói. Làn sóng mới này bao gồm các biểu tượng cảm xúc (emoticons) mà mọi người sử dụng đến việc cố tình đăng những dòng trạng thái cập nhật hay những bức ảnh để tạo phản ứng.

    Mọi người có thể chắc chắn hiểu được họ cảm thấy như thế nào mà không dùng lời nói chỉ bằng một cú nhấn chuột đơn giản để thể hiện một khuôn mặt đang cười hay đang buồn.

    Đầu tiên, nếu bạn nhận thức nhiều hơn về những dấu hiệu không dùng lời nói xung quanh bạn, điều này ngay lặp tức sẽ cải thiện sự tương tác của bạn.

    Cũng có nhiều thứ nhỏ nhặt bạn có thể làm để giao tiếp tốt hơn mà thậm chí không cần nói một lời.

    Hãy chú ý tới những điệu bộ, cử chỉ nhỏ nhặt của bạn

    Hãy xem xét ngôn ngữ cơ thể của bạn thể hiện như thế nào.

    Ví dụ, khi bạn gặp ai đó lần đầu tiên thì bạn có cười không? Nếu có thì nụ cười của bạn nói lên điều gì? Một cái bắt tay chắc nịch cùng sự giao tiếp bằng mắt và một nụ cười đáng tin cậy sẽ giúp bạn tự tin hơn.

    Hãy nhận biết bất kì sự mâu thuẫn nào trong ngôn ngữ cơ thể

    Liệu rằng với bản thân hay với người khác, lời nói luôn hòa hợp với biểu hiện của cơ thể?

    Hãy xem các các nghĩa khác nhau khi bạn nói “Tôi vẫn ổn” với một nụ cười toe toét và khi bạn nói câu này với một tiếng thở dài lớn. Nói câu này với một nụ cười ấm áp sẽ cho thấy sự chân thành và bạn thực sự cảm thấy “ổn, tốt”. Nếu câu nói đi kèm với sự thở dài hay tâm trạng chán ngán thì nó cho thấy điều ngược lại.

    Đừng hiểu nhầm sự căng thẳng với sự không trung thực

    Bao nhiêu lần bạn biết về người mà đọc rất nhiều tin nhắn và nhận nhiều cuộc điện thoại, đơn giản bởi vì người ở đầu dây bên kia đang có một ngày căng thẳng và vì vậy họ trở nên giận dữ?

    Rất dễ đọc vị sai người khác hay bị hiểu nhầm khi đang căng thẳng, vì vậy hãy nhận thức về điều này khi bạn đang có một ngày đầy khó khăn. Lần tới, lúc bạn nhận tin nhắn hay email khi bạn bị căng thẳng, có lẽ cách tốt nhất là trì hoản sự phản hồi của bạn cho đến khi bạn bình tĩnh hơn.

    Chú ý những phản ứng của người khác

    Chú ý nhiều hơn về giao tiếp phi ngôn ngữ với người khác sẽ có thể giúp bạn tương tác với người khác thành công hơn.

    Ví dụ, nếu bạn đi cùng ai đó đang đan tay vào nhau, hành động của họ cho thấy họ cảm thấy dễ bị tổn thương hay không đang thoải mái. Sau đó hãy xem xét việc bạn có thể làm để họ cảm thấy thư giản, thoải mái hơn.

    Hãy luyện tập những kỹ xảo nhỏ này mỗi ngày và mọi lúc khi bạn đang nói chuyện với người khác và bạn cũng sẽ giỏi hơn trong việc giao tiếp với ngôn ngữ cơ thể của chính bạn.

    Nguồn ảnh bìa: Flaticon từ flaticon.com

    Tài liệu tham khảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp
  • Microsoft Office Nghĩa Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Nó?

    --- Bài mới hơn ---

  • Microsoft Office 365 Miễn Phí Cho Nhà Trường Và Học Sinh, Sinh Viên
  • Microsoft Office Là Gì? Lợi Ích Và Tính Năng Của Microsoft Office.
  • Khám Phá Web Office Của Microsoft
  • Làm Quen Với Pivottable Và Pivotchart Trong Excel 2007
  • Mẹo Sử Dụng Pivot Tables Trong Excel
  • Microsoft Office nghĩa là gì? Một ứng dụng rất gần gũi với người làm văn phòng và phần đông người dùng tới máy tính đều sử dụng đến ứng dụng này. Để tìm hiểu kỹ hơn về định nghĩa này mời bạn tham khảo bài viết sau đâ

    Microsoft Office nghĩa là gì?

    Microsoft office là một ứng dụng có vai trò hỗ trợ cho việc nhập dữ liệu hay xử lý dữ liệu. Là một ứng dụng đc dùng rộng rãi trên thế giới. Chúng ta có thể kể đến những ứng dụng phổ biến trong bộ Microsoft office như là: Microsoft Word, Microsoft Exel, Microsoft PowerPoint, Microsoft Access…

    Và một số ứng dụng khác như: Outlook, InfoPath, Interconnect, OneNote, Project, Visio, Accounting, Communicator, Document Imaging, Document Scanning, Groove, Picture Manager.

    Vai trò và chức năng quan trọng nhất của nó?

    • Vai trò rất cần thiết và quan trọng khi nói đến bộ Office này. Như word: là một ứng dụng đc rất nhiều người sử dụng vì chức năng định dạng chữ của nó là tốt nhất trong mọi phần mềm xử lý văn bản khác. Nó cho phép bạn xử lý các văn bản thô thành một văn bản đấy đủ Color, kích cỡ, Hình ảnh, âm thanh… mà bạn mong muốn.
    • Những ứng dụng của bộ office thường có công dụng tự động ghi dữ liệu, tránh tình trạng mất dữ liệu lúc gặp gỡ sự cố. Và độ bảo mật của những áp dụng này cực tốt.
    • Ngoài Word ra còn có vận dụng rất hữu dụng khác là Microsoft Excel. Đây được xem là một công cụ tính toán xử lý dữ liệu to một cách bình thường và chuẩn xác hơn bao giờ hết.
    • Microsoft Excel đc xuất hiện đểviệc ghi chép bằng sổ sách rất hiệu quả, nhanh chóng & bảo mật nhất.
    • Bên cạnh đó còn một ứng dụng khác mà chúng ta cần nhắc đến chính là Microsoft PowerPoint. Nó giúp các bạn chỉnh sửa những Hình ảnh, video, văn bản thành các slide để trình chiếu một cách dễ nhìn & dễ hiểu nhất.

    ****Bạn đã biết định nghĩa này? CMS là gì?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Lọc Dữ Liệu Trùng Nhau Trong Excel
  • Lọc Dữ Liệu Giữa Các Sheet, Bảng Tính Trong Excel
  • Lọc Hoặc Loại Bỏ Giá Trị Trùng Lặp
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Loại Bỏ Giá Trị Trùng Lặp Trong Danh Sách Excel
  • Php Và Ajax (Ai Rắc)
  • Chức Năng Quan Trọng Của Thị Trường Ngoại Hối Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Gdqp 12 Bài 3. Công An Nhân Dân Việt Nam
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vpn Và Các Giao Thức Dùng Trong Mạng Riêng Ảo
  • Cio Là Gì ? Chức Năng Của Cio So Với Một Công Ty
  • Dòng Máy Plasma Cnc Cao Cấp Nhất Của Mta Hiện Nay
  • Máy Cắt Plasma Cnc Mta Pro
  • Như chúng ta đã biết, cùng với hai bộ phận khác của thị trường tài chính là thị trường vốn và thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Là một trong những thị trường sôi động nhất, có nhịp độ thị trường nhanh, thị trường ngoại hối (hay thị trường Forex) vô cùng ấn tượng với con số hơn 5 nghìn tỷ USD tổng khối lượng giao dịch mỗi ngày.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ mang đến cho bạn cái nhìn tổng quát về thị trường ngoại hối và những chức năng quan trọng của thị trường tài chính lớn nhất thế giới này.

    Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên của một trong các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là: nhằm dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch quốc tế. Ở đây chúng tôi sẽ liệt kê ra các chức năng quan trọng của thị trường tỷ đô này:

    • Chức năng chuyển đổi sức mua – Chuyển đổi tài chính, sức mua từ quốc gia này sang quốc gia khác thông qua các hoá đơn thanh toán quốc tế, chuyển tiền, v.v
    • Chức năng tín dụng – Cung cấp tín dụng cho các giao dịch quốc tế
    • Chức năng giảm thiểu rủi ro tỷ giá – Cung cấp các phương thức giao dịch để làm giảm thiểu rủi ro tỷ giá
    • Là nơi để Ngân hàng trung ương tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế

    Thị trường ngoại hối là gì?

    Thị trường ngoại hối hoặc thị trường tỷ giá hối đoái (thị trường Forex) là một thị trường toàn cầu và phi tập trung để giao dịch các loại tiền tệ, trong đó tiền tệ được giao dịch và được sinh ra với mục tiêu tạo thuận lợi cho sự bao phủ của dòng tiền xuất phát từ thương mại quốc tế.

    Các thị trường ngoại hối quốc tế tập trung chủ yếu ở những trung tâm tài chính lớn của thế giới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, số lượng các thị trường ngoại hối quy mô lớn cũng vì thế mà gia tăng với tốc độ chóng mặt. Thị trường ngoại hối là phương tiện giúp cho các nhà đầu tư chuyển đổi ngoại tệ trong hoạt đồng thương mại và đầu tư quốc tế, ngoài ra còn phục vụ cho khát vọng kiếm lời và làm giàu của họ thông qua các hình thức đầu tư vào tài sản hữu hình hay tài sản tài chính.

    Không giống như các sàn giao dịch chứng khoán, là thị trường có tổ chức với thanh toán bù trừ , thị trường Forex là thị trường tự do không được quy định và hoàn toàn mang tính chất riêng tư, trong đó không có ai thanh toán bù trừ và trung gian giữa các bên và đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận bởi họ. Mỗi hoạt động được thực hiện giữa một hợp đồng cụ thể giữa các bên.

    Về mặt khối lượng giao dịch, cho đến nay, là thị trường tài chính lớn nhất thế giới. Ngoài việc cung cấp địa điểm mua, bán, trao đổi và đầu cơ tiền tệ, thị trường ngoại hối còn cho phép chuyển đổi tiền tệ cho các khu định cư và đầu tư thương mại quốc tế. Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), thuộc sở hữu của các ngân hàng trung ương, giao dịch trên thị trường ngoại hối trung bình 5,1 nghìn tỷ đô la mỗi ngày vào tháng 4 năm 2022.

    Một trong những tính năng độc đáo nhất của thị trường ngoại hối là nó bao gồm một mạng lưới các trung tâm tài chính toàn cầu giao dịch 24 giờ một ngày, chỉ đóng cửa vào cuối tuần. Khi một trung tâm ngoại hối lớn đóng cửa, một trung tâm khác ở một nơi khác trên thế giới vẫn mở cửa. Điều này làm tăng tính thanh khoản có sẵn trên thị trường tiền tệ, làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó như là loại tài sản lớn nhất dành cho các nhà đầu tư. Thị trường ngoại hối là thị trường giao dịch mang tính chất quốc tế phạm vi hoạt động của nó lan rộng khắp toàn cầu và sử dụng những phương tiện hiện đại trong giao dịch, do chênh lệch về múi giờ.

    Có rất nhiều người mua bán trong thị trường ngoại hối, trong đó quan trọng nhất là các ngân hàng. Các ngân hàng giao dịch trong thị trường ngoại hối có các chi nhánh với số dư đáng kể ở các quốc gia khác nhau. Thông qua các chi nhánh đó, các ngân hàng cung cấp dịch vụ “Exchange Banks” có mặt trên toàn thế giới. Những người giao dịch khác trong thị trường ngoại hối là các nhà môi giới – những người giúp người có nhu cầu mua và bán ngoại tệ có thể gặp được nhau. Không giống như những ngân hàng, họ là những người trung gian, không phải là người giao dịch trực tiếp.

    Bạn đã hiểu cơ bản thị trường ngoại hối là gì, bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu các chức năng quan trọng của thị trường ngoại hối.

    Chức năng chuyển đổi sức mua của thị trường ngoại hối

    Ví dụ, khi một nhà nhập khẩu ở Hoa Kỳ nhập khẩu hàng hóa được sản xuất tại Đức, nhà xuất khẩu muốn được thanh toán bằng Euro. Việc chuyển đổi đồng USD sang euro được thực hiện thông qua thị trường ngoại hối. Tương tự như vậy, nếu một doanh nhân người Mỹ lên kế hoạch cho một chuyến đi đến Ấn Độ, anh ta đổi đô la Mỹ lấy rupee Ấn Độ thông qua thị trường ngoại hối. Chức năng chuyển tiền được thực hiện thông qua việc sử dụng các công cụ tín dụng, chẳng hạn như hối phiếu ngân hàng, hóa đơn ngoại hối và chuyển khoản qua điện thoại.

    Trong việc thực hiện chức năng chuyển đổi, thị trường ngoại hối thực hiện những thanh toán quốc tế bằng cách xoá nợ theo cả hai phía cùng một lúc, tương tự như việc thanh toán trong nước.

    Ngoài ra, thị trường ngoại hối cũng là một phương tiện hữu hiệu giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như giao lưu giữa các quốc gia. Chẳng hạn, một nhà đầu tư Nhật Bản nhận thấy rằng lãi suất trên thị trường New York cao hơn thị trường Tokyo rất có thể ông ta sẽ rút vốn từ các hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính ở Nhật để chuyển sang đầu tư ở Mỹ. Làm sao ông ta có thể thỏa mãn nhu cầu đầu tư và khát vọng kiếm tiền của mình được nếu thiếu cơ chế hữu hiệu cho phép ông ta có thể chuyển đổi đồng Yên Nhật thành USD. Đó chính là một chức năng vô cùng quan trọng của thị trường ngoại hối để thỏa mãn khát vọng làm giàu vượt qua khoảng cách về lãnh thổ và sự khác biệt về tiền tệ.

    Chức năng tín dụng của thị trường ngoại hối

    Chức năng tiếp theo của thị trường ngoại hối là cung cấp tín dụng, cả trong nước và quốc tế để thúc đẩy các hoạt động thương mại. Thị trường ngoại hối cung cấp tín dụng ngắn hạn cho các nhà nhập khẩu để tạo điều kiện cho dòng hàng hóa và dịch vụ trôi chảy từ quốc gia này sang quốc gia khác.

    Nhu cầu tín dụng luôn luôn tồn tại do sự không cân bằng cung cầu vốn và các nhân tố khác trong sản xuất kinh doanh, do đó, cung cấp tín dụng và sử dụng tín dụng là tất yếu. Hầu hết các khoản tín dụng đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ nên cần phải thông qua thị trường ngoại hối.

    Bằng cách sử dụng thị trường ngoại hối, các nhà nhập khẩu có thể có được tín dụng để chi trả cho các giao dịch mua từ nước ngoài. Giả sử một công ty Mỹ muốn mua hàng tồn kho các công cụ do Trung Quốc sản xuất. Nhà nhập khẩu Mỹ có thể thanh toán cho việc mua hàng bằng cách sử dụng một hóa đơn trao đổi trong thị trường Forex – về cơ bản là một IOU (giấy nợ) với thời gian đáo hạn ba tháng. Công cụ này khóa tỷ giá hối đoái và cho phép nhà nhập khẩu 90 ngày để bán sản phẩm của mình trước khi tiền được trả.

    Rõ ràng là khi các hoá đơn trao đổi nước ngoài được sử dụng trong thanh toán quốc tế, một khoản tín dụng trong khoảng 3 tháng sẽ được yêu cầu cho tới khi đến kỳ hạn thanh toán.

    Chức năng giảm thiểu rủi ro tỷ giá của thị trường ngoại hối

    Do đó, thị trường ngoại hối cung cấp các dịch vụ để phòng ngừa các khiếu nại/nợ phải trả dự kiến ​​hoặc thực tế để đổi lấy các hợp đồng kỳ hạn. Hợp đồng kỳ hạn thường là hợp đồng ba tháng để mua hoặc bán ngoại hối cho một loại tiền tệ khác vào một ngày cố định trong tương lai với mức giá được thỏa thuận hôm nay. Vì vậy, không có tiền tệ được trao đổi tại thời điểm hợp đồng.

    Có một số đại lý trên thị trường ngoại hối, quan trọng nhất trong số đó là các ngân hàng. Các ngân hàng có chi nhánh của họ ở các quốc gia khác nhau thông qua đó ngoại hối được tạo điều kiện, dịch vụ đó của một ngân hàng được gọi là Ngân hàng trao đổi (Exchange Banks).

    Rủi ro hối đoái nên được giảm tránh một cách tối đa. Đối với điều này, thị trường trao đổi cung cấp các công cụ cho nợ dự kiến hay thực tế thông qua các hợp đồng kỳ hạn để trao đổi. Hợp đồng kỳ hạn thường kéo dài ba tháng là một hợp đồng mua hoặc bán đồng tiền này so với đồng tiền khác tại một thời điểm nào đó trong tương lai với giá đã được thoả thuận tại thời điểm hiện tại. Không có một khoản tiền nào được chuyển qua trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Nhưng hợp đồng có thể bỏ qua bất kì sự thay đổi nào trong tỷ giá. Đó là sự tự bảo vệ để giảm thiểu rủi ro do biến động tỷ giá.

    Ngoài ra, thị trường ngoại hối cung cấp các cơ sở mua và bán tại chỗ hoặc trao đổi kỳ hạn, cho phép các nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phòng ngừa rủi ro tỷ giá phát sinh do thay đổi tỷ giá hối đoái. Thị trường ngoại hối cung cấp những kỹ thuật “Tự bảo hiểm” (Hedging) để giảm thiểu rủi ro do biến động tỷ giá. Thị trường ngoại hối cũng cung cấp các phương thức giao dịch để giảm thiểu rủi ro đối với các khoản ngoại tệ đã nhận được hoặc sẽ nhận được của doanh nghiệp.

    Giúp Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ

    Ngược lại nếu ngoại tệ lên giá quá đáng so với nội tệ đến nỗi có thể tạo một áp lực mạnh gây ra lạm phát, chính phủ có thể yêu cầu Ngân hàng trung ương can thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra để nâng giá nội tệ lên. Có thể nói thị trường ngoại hối là một cửa ngõ và tỷ giá hối đoái là một công cụ để Ngân hàng trung ương có thể can thiệp nhằm thực hiện chính sách tiền tệ của mình.

    Kết luận

    Tóm lại thị trường cung cấp dịch vụ cho các khách hàng có nhu cầu thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế, giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như giao lưu giữa các quốc gia.

    Ngoài ra thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối có thể xác định được sức mua đối ngoại của đồng tiền một cách khách quan theo quy luật cung cầu của thị trường cũng như cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá cho các khoản thu xuất khẩu, thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư bằng ngoại tệ và các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua các hợp đồng kì hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai.

    Đến đây chắc hẳn các bạn đã nắm rõ thị trường ngoại hối là gì và các chức năng cơ bản và quan trọng của nó trong thị trường tài chính nói riêng cũng như trong các hoạt động kinh tế – xã hội của các quốc gia. Hy vọng thông tin trên sẽ hữu ích cho bạn khi bước chân vào đầu tư trong thị trường ngoại hối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thị Trường Là Gì? Vai Trò
  • Vpn Là Gì? Tất Cả Mọi Kiến Thức Cần Biết Về Mạng Riêng Ảo
  • Những Vpn Kém Mà Bạn Không Nên Dùng (Update)
  • Vpn Là Gì? Top 5 Dịch Vụ Vpn Tốt Nhất
  • Softether Vpn Là Gì Và Làm Thế Nào Để Sử Dụng Đúng Cách?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100