Sinh Lý Bệnh Hệ Hô Hấp

--- Bài mới hơn ---

  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Quy Trình Kỹ Thuật Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Các Phương Pháp Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Phân Tích Kết Quả Hô Hấp Ký Và Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Được Thực Hiện Bằng Cách Nào ? Phương Pháp Nào ?
  • SINH LÝ BỆNH ĐẠI CƯƠNG CHỨC NĂNG

    HÔ HẤP

    BS.Trịnh Thị Hồng Của

    MỤC TIÊU BÀI GIẢNG

    Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:

    1. Trình bày được 04 rối loạn của quá trình hô hấp

    2. Giải thích được cơ chế bệnh sinh của 04 rối loạn hô hấp

    3. Biết cách đánh giá chức năng hô hấp trong suy hô hấp

    4. Trình bày được khả năng thích nghi của cơ thể trong suy hô hấp

    ĐẠI CƯƠNG VỀ BỘ MÁY HÔ HẤP

    1. Sơ lược cấu trúc bộ máy hô hấp

    Lồng ngực:hình chóp,cột sống,cơ hô hấp

    Đường dẫn khí:sụn và màng

    Nhu mô phổi:phế nang

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.1.Giai đoạn thông khí: Đảm bảo sự trao đổi khí O2 và CO2 giữa phế nang với môi trường ngoài

    Khí trời

    O2 CO2

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.2.Giai đoạn khuếch tán: sự lưu thông khí thụ động qua lại màng phế nang và mao mạch phổi

    Vách phế nang-O2

    Màng mao mạch-CO2

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.3.Giai đoạn vận chuyển oxy: Là quá trình đưa O2 từ phế nang đến các tế bào và đem CO2 từ tế bào đến phế nang theo chiều ngược lại

    Mao mạch phổi-O2

    Các tế bào-CO2

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.4. Giai đoạn hô hấp tế bào

    Tế bào sử dụng O2

    để chuyển hóa các chất

    tạo ATP và CO2

    Hô hấp ngoài:thông khí và khuếch tán

    Hô hấp trong:vận chuyển và hô hấp tế bào

    3. Điều hòa hoạt động hô hấp

    Trung tâm điều hòa hô hấp nằm ở hành tủy và chia thành 2 trung tâm. mỗi trung tâm gồm 3 phần:hít vào ở phía trước,thở ra ở phía sau,điều hòa chung cả hít vào và thở ra ở phía trên.

    Có tính tự động cao, rất nhạy cảm với sự thay đổi của nồng độ O2, CO2, pH và nhiệt độ của máu qua não

    4. RỐI LOẠN CHỨC NĂNG HÔ HẤP NGOÀI

    RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

    RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN

    4.1.RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

    Rối loạn thông khí hạn chế

    Rối loạn thông khí tắc nghẽn

    4.1.1.Rối loạn thông khí hạn chế

    Do số lượng phế nang bị giảm thật sự về mặt giải phẫu: cắt phổi, teo phổi người già,xẹp phổi(khối u,thiếu chất Surfactan-thay đổi sức căng bề mặt bên trong phế nang→phổi không bị xẹp trong quá trình hô hấp)

    Do giảm chức năng phế nang:chấn thương lồng ngực, viêm phổi, cổ chướng→hạn chế cử động của lồng ngực và các cơ hô hấp→khả năng dãn nở của phổi ↓→ giảm thông khí

    4.1.2.Rối loạn thông khí tắc nghẽn

    Rối loạn xảy ra khi có sự chít hẹp đường dẫn khí.

    Gồm có

    – Tắc nghẽn đường dẫn khí cao (thanh, khí quản):Phù thanh quản

    – Tắc nghẽn đường dẫn khí sụn (phế quản):khối u, dị vật

    – Tắc nghẽn đường hô hấp màng (tiểu phế quản tận):co thắt cơ Ressesel

    4.1.3.Một số bệnh lý gây rối loạn thông khí thường gặp

    Bệnh núi cao thực nghiệm:thành phần không khí không thay đổi nhưng áp suất không khí thay đổi→pO2 ↓

    Các chấn thương lồng ngực:hạn chế cử động của lồng ngực trong khi hô hấp, gây rối loạn thông khí (mãng sườn di động→hô hấp đảo ngược→ suy hô hấp)

    Hen phế quản (Histamin), viêm phế quản mạn tính

    Ngạt

    Ngạt

    Định nghĩa: Ngạt là tình trạng bệnh lý do thiếu O2 và tăng CO2 trong thành phần không khí thở

    Diễn tiến:03 giai đoạn

    Giai đoạn hưng phấn

    Giai đoạn ức chế

    Giai đoạn suy sụp toàn thân

    Giai đoạn hưng phấn

    Biểu hiện

    -Hô hấp:tăng hít vào→ tăng cả hít vào và thở ra

    -Huyết áp tăng

    -Thần kinh:kích thích, hốt hoảng

    Cơ chế:thiếu O2, tăng CO2 nên

    -trung tâm hô hấp (+)

    -trung tâm vận mạch(+)

    Giai đoạn ức chế

    Biểu hiện:Hô hấp giảm dần, huyết áp ↓, nằm yên, tiêu tiểu không tự chủ, da và niêm mạc tím tái

    Cơ chế:(-)trung tâm hô hấp,(-) não  giảm hoạt động các cơ quan  huyết áp ↓, giãn cơ vòng hậu môn, bàng quang ↓ tiêu tiểu không tự chủ.

    Giai đoạn suy sụp

    Biểu hiện:ngừng thở hoàn toàn, thỉnh thoảng thở ngáp cá, HA = 0

    Cơ chế: não bị ức chế hoàn toàn

    KHUYẾN TÁN CỦA MỘT CHẤT KHÍ QUA MÀNG

    Màng khuếch tán là khoảng cách từ vách phế nang đến vách mao mạch.

    Sự khuyến tán khí phụ thuộc vào:

    – Hiệu số áp lực khí ở 2 bên màng, sự chênh lệch càng lớn thì lưu lượng khuếch tán khí càng lớn

    – Diện tích màng khuếch tán càng lớn, lưu lượng khuếch tán càng lớn

    – Độ dày màng khuếch tán, độ dày càng mỏng thì lưu lượng khuếch tán càng lớn

    – Lượng máu đến phế nang phải được cung cấp đầy đủ và cũng phải luôn đổi mới

    4.2.RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN

    Rối loạn khuếch tán do giảm diện tích màng khuếch tán

    Rối loạn khuếch tán do mất cân bằng giữa thông khí và tưới máu

    Rối loạn khuếch tán do rối loạn màng khuếch tán

    Rối loạn khuếch tán do giảm hiệu số khuếch tán

    4.2.1.Rối loạn khuếch tán do giảm diện tích màng KT

    Giảm khối nhu mô phổi:do cắt một phần phổi, viêm phổi thùy

    Giảm thông khí phế nang

    Giảm tưới máu phế nang:giảm lưu lượng tuần hoàn…

    4.2.2.Rối loạn khuếch tán do mất cân bằng giữa thông khí và tưới máu

    thể tích khí lưu thông ở phế nang /thể tích máu tưới cho phế nang=1(tối ưu cho sự khuếch tán máu).

    4.2.3.Rối loạn khuếch tán do rối loạn màng khuếch tán

    Màng khuếch tán là màng phế nang – mao mạch, gồm 8 lớp: Lớp dịch lót phế nang (chất surfactant), biểu bì phế nang, màng căn bản của phế nang, khoảng kẽ, thành mao mạch, lớp tế bào nội mạc, huyết tương, màng hồng cầu

    Bất kỳ lớp nào bị dày lên cũng làm tăng khoảng cách phải di chuyển của phân tử khí

    4.2.4. Rối loạn khuếch tán do giảm hiệu số khuếch tán

    Hiệu số khuếch tán là khuynh áp (độ chênh lệch phân áp) của chất khí giữa phế nang và mao mạch

    Các yếu tố làm ảnh hưởng đến hiệu số khuếch tán:Thay đổi thành phần không khí thở, áp lực không khí thở, tuổi tác…

    4.2.5.Một số bệnh lý gây rối loạn khuếch tán thường gặp

    Khí phế thũng

    Viêm phổi

    Phù phổi cấp

    1. Phế nang bình thường, 2. Phế nang bị khí thủng

    Khí phế thũng

    bệnh xảy ra thứ phát sau một số bệnh lý mạn tính của đường hô hấp

    phế nang căng to, dãn rộng, tế bào vách phế nang bị phá hủy  nhiều phế nang thông với nhau, tiết nhiều chất nhầy, tổ chức xơ phát triển→hẹp tắc lòng phế quản tận và giảm khả năng đàn hồi nhu mô phổi.

    Viêm phổi do Streptococcus pneumoniae

    Phù phổi cấp (OAP)

    Là sự tràn ngập dịch trong đường hô hấp

    Cơ chế: tổn thương và huyết động

    Hậu quả:giảm diện khuếch tán, dầy màng khuếch tán, hiệu số phân áp giảm

    5.RỐI LOẠN QUÁ TRÌNH VẬN CHUYỂN OXY

    Sau khi khuếch tán qua màng, O2 được vận chuyển đến các mô nhờ vào hệ tuần hoàn và máu (Hb trong hồng cầu)

    Do bệnh lý của hệ tuần hoàn:tốc độ tuần hoàn ↓,mạch tắt động-tĩnh mạch

    Do bệnh lý của máu (thiếu máu về số lượng và chất lượng)

    6.RỐI LOẠN QUÁ TRÌNH HÔ HẤP TẾ BÀO

    Là tình trạng rối loạn chuyển hóa bên trong tế bào do không sử dụng được lượng O2 đưa đến

    Nguyên nhân

    – Thiếu cơ chất

    – Thiếu men hô hấp:coenzyme

    – Nhiễm độc men hô hấp:thuốc ngủ…

    7.THIỂU NANG HÔ HẤP (SUY HÔ HẤP)

    Định nghĩa: Suy hô hấp là tình trạng cơ quan hô hấp ngoài mất khả năng đáp ứng nhu cầu O2của cơ thể→ thiếu O2 máu và thiếu O2 tổ chức

    7.1.Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng hô hấp ngoài

    Thăm dò khả năng thông khí

    Thăm dò khả năng khuếch tán

    7.1.1.Thăm dò khả năng thông khí

    Dung tích sống(VC):lượng khí tối đa mà phổi có thể trao đổi với bên ngoài trong 1 nhịp thở→số lượng phế nang đang hoạt động→rối loạn thông khí hạn chế

    Thể tích tối đa/giây(FEV1 hay VEMS):lượng khí tối đa có thể thở ra được trong giây đầu tiên→sự thông thoáng của đường dẫn khí hay rối loạn thông khí do tắc nghẽn đường dẫn khí

    Chỉ số Tiffeneau:tỷ lệ FEV1 (VEMS)/ VC→trong 1 giây có thể thở ra được từ 3/4 đến 4/5 lượng khí đã hít vào.

    7.1.2.Thăm dò khả năngkhuếch tán

    – Gián tiếp: pCO2, pO2 đánh giá khả năng khuếch tán CO2 và O2 qua màng khuếch tán

    – Trực tiếp: đo độ khuếch tán CO nồng độ thấp (DLCO) từ phế nang vào máu→sự khuếch tán O2 (hệ số khuếch tán của CO gấp 1,23 lần so với O2).

    7.2.Phân loại suy hô hấp

    Theo lâm sàng: 3 mức độ

    Độ 1:lao động nhiều mới cảm thấy mệt, khó thở. Thăm dò chức năng hô hấp bình thường

    Độ 2:Hoạt động nhẹ cũng cảm thấy khó thở, các chỉ tiêu hô hấp bắt đầu có thay đổi.

    Độ 3:Cảm giác khó thở thường xuyên, ngay cả khi nằm, ngồi nghĩ.

    Theo phân áp khí trong máu: pCO2, pO2

    -Suy hô hấp có pCO2 tăng (pCO2 tăng, pO2 giảm):Bệnh lồng ngực, thần kinh, cơ, hen PQ…

    -Suy hô hấp có pCO2 bình thường (pCO2 bình thường hoặc giảm nhẹ, pO2 giảm):viêm phổi, phù phổi…

    Theo cơ chế bệnh sinh: do rối loạn hô hấp ngoài và do rối loạn ở hệ tuần hoàn (tim)

    7.3.Biểu hiện của suy hô hấp

    Khó thở: pCO2 và pO2

    Xanh tím:

    ở niêm mạc, môi và đầu chi do lượng Hb khử (Hb không bảo hòa O2) tăng cao trong mao mạch

    Nguyên nhân:

    + kém đào thải CO2: phổi

    + ứ trệ tuần hoàn:suy tim

    + trộn lẫn máu động – tĩnh mạch:tim bẩm sinh

    + do đa hồng cầu, do nhiễm độc Hb

    7.4.Sự thích nghi của cơ thể trong suy hô hấp

    Thích nghi của hô hấp (phổi):(+)TTHH→tăng nhịp thở, thở nhanh và sâu

    Thích nghi của tuần hoàn (tim):(+) hóa cảm thụ quan→ tăng nhịp tim

    Thích nghi của máu:erythropoietine tủy xương tăng sinh hồng cầu để vận chuyển oxy, tái phân bố lại máu  tập trung máu nuôi các cơ quan quan trọng (não, tim).

    Thích nghi của tổ chức (mô):tăng các men,tăng chuyển hóa→ sử dụng oxy ở các mô

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Kỳ Diệu Của Bộ Máy Hô Hấp
  • Dịch Vụ Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Cầm Tay Spridoc
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Minispir New
  • Sinh Lý Bệnh Đại Cương Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Thăm Dò Thông Khí Phổi: Những Điều Cần Biết
  • Phục Hồi Chức Năng Phổi Cho Bệnh Nhân Tràn Dịch Màng Phổi
  • Saffron Giúp Cải Thiện Chức Năng Phổi Tốt Hơn
  • Các Bước Tiền Hành Đo Chức Năng Hô Hấp Và Test Phục Hồi Phế Quản Theo Byt
  • Tìm Hiểu Về Đo Chức Năng Hô Hấp Tại Bệnh Viện Chợ Rẫy
  • SINH LÝ BỆNH ĐẠI

    CƯƠNG CHỨC NĂNG

    HÔ HẤP

    BS.Trịnh Thị Hồng Của

    MỤC TIÊU BÀI GIẢNG

    Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:

    1. Trình bày được 04 rối loạn của quá trình hô hấp

    2. Giải thích được cơ chế bệnh sinh của 04 rối loạn hô hấp

    3. Biết cách đánh giá chức năng hô hấp trong suy hô hấp

    4. Trình bày được khả năng thích nghi của cơ thể trong suy hô hấp ĐẠI CƯƠNG VỀ BỘ MÁY HÔ HẤP

    1. Sơ lược cấu trúc bộ máy hô hấp

    Lồng ngực:hình chóp,cột

    sống,cơ hô hấp

    Đường dẫn khí:sụn và màng

    Nhu mô phổi:phế nang

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.1.Giai đoạn thông khí: Đảm bảo

    sự trao đổi khí O2 và CO2

    giữa phế nang với môi trường

    ngoài

    Khí trời

    O2 CO2ph

    ế

    nang2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.2.Giai đoạn khuếch tán: sự lưu

    thông khí thụ động qua lại

    màng phế nang và mao mạch

    phổi

    Vách phế nang-O2

    Màng mao mạch-CO2

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.3.Giai đoạn vận chuyển oxy: Là

    quá trình đưa O2 từ phế nang

    đến các tế bào và đem CO2 từ

    tế bào đến phế nang theo

    chiều ngược lại

    Mao mạch phổi-O2

    Các tế bào-CO2

    2. Chức năng bộ máy hô hấp

    2.4. Giai đoạn hô hấp tế bào

    Tế bào sử dụng O

    2

    để chuyển hóa các chất

    tạo ATP và CO

    2

    Hô hấp ngoài:thông khí và khuếch tán

    Hô hấp trong:vận chuyển và hô hấp tế bào

    3. Điều hòa hoạt động hô hấp

    Trung tâm điều hòa hô hấp nằm ở hành tủy và chia thành 2 trung

    tâm. mỗi trung tâm gồm 3 phần:hít vào ở phía trước,thở ra ở phía

    sau,điều hòa chung cả hít vào và thở ra ở phía trên.

    Có tính tự động cao, rất nhạy cảm với sự thay đổi của nồng độ O2,

    CO2, pH và nhiệt độ của máu qua não

    4. RỐI LOẠN CHỨC NĂNG HÔ

    HẤP NGOÀI

    RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

    RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN

    4.1.RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

    Rối loạn thông khí hạn chế

    Rối loạn thông khí tắc nghẽn

    4.1.1.Rối loạn thông khí hạn

    chế

    Do số lượng phế nang bị giảm thật sự về mặt giải phẫu: cắt phổi, teo

    phổi người già,xẹp phổi(khối u,thiếu chất Surfactan-thay đổi sức

    căng bề mặt bên trong phế nang→phổi không bị xẹp trong quá trình

    hô hấp)

    Do giảm chức năng phế nang:chấn thương lồng ngực, viêm phổi, cổ

    chướng→hạn chế cử động của lồng ngực và các cơ hô hấp→khả năng

    dãn nở của phổi ↓ giảm thông khí →

    4.1.2.Rối loạn thông khí tắc

    nghẽn

    Rối loạn xảy ra khi có sự chít hẹp đường dẫn khí.

    Gồm có

    – Tắc nghẽn đường dẫn khí cao (thanh, khí quản):Phù thanh quản

    – Tắc nghẽn đường dẫn khí sụn (phế quản):khối u, dị vật

    – Tắc nghẽn đường hô hấp màng (tiểu phế quản tận):co thắt cơ Ressesel

    4.1.3.Một số bệnh lý gây rối

    loạn thông khí thường gặp

    Bệnh núi cao thực nghiệm:thành phần không khí không thay đổi

    nhưng áp suất không khí thay đổi→pO2 ↓

    Các chấn thương lồng ngực:hạn chế cử động của lồng ngực trong khi

    hô hấp, gây rối loạn thông khí (mãng sườn di động→hô hấp đảo

    ngược→ suy hô hấp)

    Hen phế quản (Histamin), viêm phế quản mạn tính

    Ngạt

    Ngạt

    Định nghĩa: Ngạt là tình trạng bệnh lý do thiếu O2 và tăng CO2

    trong thành phần không khí thở

    Diễn tiến:03 giai đoạn

    Giai đoạn hưng phấn

    Giai đoạn ức chế

    Giai đoạn suy sụp toàn thân

    Giai đoạn hưng phấn

    Biểu hiện

    -Hô hấp:tăng hít vào→ tăng cả hít vào và thở ra

    -Huyết áp tăng

    -Thần kinh:kích thích, hốt hoảng

    Cơ chế:thiếu O2, tăng CO2 nên

    -trung tâm hô hấp (+)

    -trung tâm vận mạch(+)

    Giai đoạn ức chế

    Biểu hiện:Hô hấp giảm dần, huyết áp ↓, nằm yên, tiêu tiểu không tự

    chủ, da và niêm mạc tím tái

    Cơ chế:(-)trung tâm hô hấp,(-) não → giảm hoạt động các cơ quan

    → huyết áp ↓, giãn cơ vòng hậu môn, bàng quang ↓ tiêu tiểu không

    tự chủ.

    Giai đoạn suy sụp

    Biểu hiện:ngừng thở hoàn toàn, thỉnh thoảng thở ngáp cá, HA = 0

    Cơ chế: não bị ức chế hoàn toàn

    KHUYẾN TÁN CỦA MỘT CHẤT

    KHÍ QUA MÀNG

    Màng khuếch tán là khoảng cách từ vách phế nang đến vách mao mạch.

    Sự khuyến tán khí phụ thuộc vào:

    – Hiệu số áp lực khí ở 2 bên màng, sự chênh lệch càng lớn thì lưu lượng

    khuếch tán khí càng lớn

    – Diện tích màng khuếch tán càng lớn, lưu lượng khuếch tán càng lớn

    – Độ dày màng khuếch tán, độ dày càng mỏng thì lưu lượng khuếch tán càng

    lớn

    – Lượng máu đến phế nang phải được cung cấp đầy đủ và cũng phải luôn đổi

    mới

    4.2.RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN

    Rối loạn khuếch tán do giảm diện tích màng khuếch tán

    Rối loạn khuếch tán do mất cân bằng giữa thông khí và tưới máu

    Rối loạn khuếch tán do rối loạn màng khuếch tán

    Rối loạn khuếch tán do giảm hiệu số khuếch tán

    4.2.1.Rối loạn khuếch tán do

    giảm diện tích màng KT

    Giảm khối nhu mô phổi:do cắt một phần phổi, viêm phổi thùy

    Giảm thông khí phế nang

    Giảm tưới máu phế nang:giảm lưu lượng tuần hoàn…

    4.2.2.Rối loạn khuếch tán do

    mất cân bằng giữa thông khí và

    tưới máu

    thể tích khí lưu thông ở phế nang /thể tích máu tưới cho phế

    nang=1(tối ưu cho sự khuếch tán máu).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp: Cơ Hội Mới Cho Bệnh Nhân Copd
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh U Tân Sinh Chưa Rõ Tính Chất Của Khí Quản, Phế Quản Và Phổi Tại Bệnh Viện Y Dược Cổ Truyền
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh U Tân Sinh Chưa Rõ Tính Chất Của Khí Quản, Phế Quản Và Phổi Tại Bệnh Viện Quận Thủ Đức
  • Khí Quản Và Phế Quản: Các Chức Năng Và Các Bệnh
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Giãn Phế Nang
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Nhiệm Vụ Cơ Quan Hô Hấp
  • Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp
  • Nêu Các Cơ Quan Trong Hệ Hô Hấp Và Chức Năng Của Chúng
  • Câu 1: Việc Tải File Dữ Liệu Từ Internet Bị Chậm Là Do Nguyên Nhân, Bạn Sử Dụng Lựa Chọn Nào?
  • Chọn Color Scheme (Bảng Màu) Của Riêng Bạn
  • Mũi:

    Là phần đầu của hệ hô hấp. Về giải phẫu mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi. Chức năng: Chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác.

    Những bệnh thường gặp : Viêm xoang , viêm mũi dị ứng, ngạt mũi, lệch vách ngăn mũi,…

    Hầu – họng:

    Là nơi giao nhau giữa đường ăn và đường thở chính vì vậy nơi này rất nhạy cảm và dễ mắc bệnh, họng chứa vòm họng và vòng bạch huyết các amidan…

    Chức năng: Là cửa ngõ quan trọng bảo vệ các tác nhân từ bên ngoài vào cơ thể, khi các bộ phận này bị viêm sẽ lây lan xuống thanh quản, phế quản…

    Các bệnh thường gặp:Họng là bộ phận nhạy cảm nhất, là nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, bảo vệ họng sẽ tránh được các bệnh về đường hô hấp Viêm họng hiện có nhiều dạng khác nhau, nguyên nhân, triệu chứng bệnh cũng khác nhau, Thông thường bệnh viêm họng sẽ được chia thành 2 dạng là viêm họng cấp và mãn tính. Trong viêm họng cấp thì lại bao gồm viêm họng đỏ, viêm họng trắng và viêm họng loét. Trong bệnh viêm họng mãn thì bao gồm viêm họng thể teo, viêm họng quá phát và viêm họng hạt.

    Thanh quản:

    Được cấu tạo bởi tổ chức sụn và sợi cơ ngoài ra có hệ thống mạch máu và thần kinh.

    Chức năng: Thanh quản có tác dụng chính là phát âm, lời nói phát ra do luồng không khí thở ra tác động lên các khối nếp thanh quản, sự căng và vị trí của các nếp thanh âm có ảnh hưởng đến tần số âm thanh.

    Nguyên nhân của ho và nấc: Ho là phản xạ hô hấp trong đó dây thanh môn đóng bất thì lình, mở ra dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi. Nấc là phản xạ hít vào trong đó 1 lượng gắn âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.

    Những bệnh thường gặp: Viêm thanh quản, sơ dây thanh, bệnh dị tật, câm bẩm sinh

    Khí quản:Là một ống dẫn khí hình lăng trụ nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6 với hệ phế quản của phổi. Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính khí quản phải và trái. Ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5 nó thuộc hệ hô hấp dưới.

    Chức năng: Dẫn không khí vào ra, điều hòa lượng không khí đi vào phổi, làm tăng khả năng trao đổi khí ở phổi.

    Những bệnh thường gặp như: Chít hẹp khí quản, chèn ép khí quản do khối u khí quản,…

    Phế quản: Được chia làm 2 bên:

    Phế quản chính phải gồm: 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Tương ứng với phổi phải có 3 thùy là: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới. Phế quản chính trái cũng gồm: 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới, ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.

    Chức năng: Phế quản nằm trong đường ống dẫn khí có nhiệm vụ đưa không khí lưu thông từ ngoài vào phế nang và ngược lại. Phế quản có hình như cành cây, có chi nhánh đến các thuỳ phổi.

    Những bệnh thường gặp như: viêm phế quản, giãn phế quản, hen phế quản u phế quản,…

    Hình ảnh: Giải phẫu phế quản và phổi.

    Phổi: Phổi của người bao gồm có 2 lá phổi, được cấu tạo bởi các thùy. Thông thường, phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Theo nghiên cứu khoa học và kiểm chứng thực tế, mỗi lá phổi có dung tích khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.

    Chức năng: Trao đổi khí oxy và CO2: Quá trình trao đổi khí này diễn ra trên toàn bộ mặt trong các phế quản và phế nang có niêm mạc bao phủ với lớp nhung mao rất mịn luôn rung chuyển để đưa các vật lạ ra ngoài. Song song với đó tế bào phổi còn có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nuôi mô. Chúng tạo nên một hàng rào ngăn nước và các phân tử protein đi quá nhiều vào mô kẽ ( tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản ), tham gia vào quá trình chuyển hóa và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Bài Hô Hấp Và Các Cơ Quan Hô Hấp
  • Bài 20. Hô Hấp Và Các Cơ Quan Hô Hấp
  • Thông Tư Hướng Dẫn Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Sở Nội Vụ Và Phòng Nội Vụ.
  • Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Làm Việc Với Sở Ngoại Vụ
  • Bộ Nội Vụ Dự Thảo Thông Tư Hướng Dẫn Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Nội Vụ, Phòng Nội Vụ
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì?
  • Test Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Các Chỉ Số Trong Kết Quả Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Tính Năng Hay Trên Iphone 7 Và 7 Plus:có Thể Bạn Chưa Biết
  • Iphone 7 Plus Cũ Cam Kết Nguyên Zin Rẻ Nhất
  • Hệ hô hấp là một hệ cơ quan có chức năng trao đổi không khí diễn ra trên toàn bộ các bộ phận của cơ thể. Vậy nên bất kỳ một cơ quan nào có vấn đề sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hô hấp, cũng như sức khỏe của mỗi người.

    Việc hiểu về chức năng và cấu tạo của hệ hô hấp sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về đặc điểm của từng bộ phận, cùng cách nhận biết các bệnh thường gặp thuộc đường hô hấp. Từ đó có cách phòng, chữa bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khỏe cho chính chúng ta.

    Cấu tạo của hệ hô hấp

    Hệ hô hấp trên được chia thành 2 phần lấy lắp thanh quản làm ranh giới bao gồm:

    • Hô hấp trên ( trên nắp Thanh quản ) gồm: Mũi, hầu, họng, xoang, thanh quản. Nhiệm vụ: Lấy không khí bên ngoài cơ thể, làm ẩm, sưởi ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi. (Theo Wikipedia)
    • Hô hấp dưới (dưới nắp Thanh quản) gồm: Khí quản, cây phế quản, phế nang, màng phổi, phổi,…Nhiệm vụ Thực hiện lọc không khí và trao đổi khí.

    Hình ảnh: Giải phẫu hệ hô hấp.

    Cấu tạo và chức năng các bộ phận trong hệ hô hấp

    1. Mũi

    Là phần đầu của hệ hô hấp. Về giải phẫu mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi. Chức năng: Chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác.

    ➢ Những bệnh thường gặp: Viêm xoang , viêm mũi dị ứng, ngạt mũi, lệch vách ngăn mũi,…

    2. Hầu – họng

    Là nơi giao nhau giữa đường ăn và đường thở chính vì vậy nơi này rất nhạy cảm và dễ mắc bệnh, họng chứa vòm họng và vòng bạch huyết các amidan…

    Chức năng: Là cửa ngõ quan trọng bảo vệ các tác nhân từ bên ngoài vào cơ thể, khi các bộ phận này bị viêm sẽ lây lan xuống thanh quản, phế quản…

    Các bệnh thường gặp: Họng là bộ phận nhạy cảm nhất, nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, bảo vệ họng sẽ tránh được các bệnh về đường hô hấp.

    ➢ Viêm họng hiện có nhiều dạng khác nhau, nguyên nhân, triệu chứng bệnh cũng khác nhau. Thông thường bệnh viêm họng sẽ được chia thành 2 dạng là viêm họng cấp và mãn tính.

    Trong đó, viêm họng cấp còn được chia làm viêm họng đỏ, viêm họng trắng và viêm họng loét. Còn với viêm họng mãn thì bao gồm viêm họng thể teo, viêm họng quá phát và viêm họng hạt.

    3. Thanh quản

    Được cấu tạo bởi tổ chức sụn và sợi cơ ngoài ra có hệ thống mạch máu và thần kinh.

    ➢ Chức năng: Thanh quản có tác dụng chính là phát âm, lời nói phát ra do luồng không khí thở ra tác động lên các khối nếp thanh quản, sự căng và vị trí của các nếp thanh âm có ảnh hưởng đến tần số âm thanh.

    Nguyên nhân của ho và nấc: Ho là phản xạ hô hấp trong đó dây thanh môn đóng bất thì lình, mở ra dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi.

    Nấc là phản xạ hít vào trong đó 1 lượng gắn âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.

    ➢ Những bệnh thường gặp: Viêm thanh quản, sơ dây thanh, bệnh dị tật, câm bẩm sinh,…

    4. Khí quản

    Là một ống dẫn khí hình lăng trụ nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6 với hệ phế quản của phổi. Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính khí quản phải và trái. Ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5 nó thuộc hệ hô hấp dưới.

    Chức năng của khi quản: Dẫn không khí vào ra, điều hòa lượng không khí đi vào phổi, làm tăng khả năng trao đổi khí ở phổi.

    Những bệnh thường gặp ở khí quản: bao gồm Chít hẹp khí quản, chèn ép khí quản do khối u khí quản,…

    Hình ảnh: Giải phẫu khí quản.

    5. Phế quản

    Được chia làm 2 bên:

    ➢ Phế quản chính phải gồm: 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Tương ứng với phổi phải có 3 thùy là: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới.

    Phế quản chính trái cũng gồm: 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới, ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.

    Chức năng của phế quản: Phế quản nằm trong đường ống dẫn khí có nhiệm vụ đưa không khí lưu thông từ ngoài vào phế nang và ngược lại. Phế quản có hình như cành cây, có chi nhánh đến các thuỳ phổi.

    Những bệnh thường gặp: viêm phế quản, giãn phế quản, hen phế quản u phế quản,…

    6. Phổi

    Phổi của người bao gồm có 2 lá phổi, được cấu tạo bởi các thùy. Thông thường, phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Theo nghiên cứu khoa học và kiểm chứng thực tế, mỗi lá phổi có dung tích khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.

    Hình ảnh giải phẫu phổi. 1. Khí quản 2. Phế quản chính 3. Đáy phổi 4. Khe chếch 5. Khe ngang đáy phổi.

    Chức năng của phổi: Trao đổi khí oxy và CO2. Quá trình trao đổi khí này diễn ra trên toàn bộ mặt trong các phế quản và phế nang có niêm mạc bao phủ với lớp nhung mao rất mịn luôn rung chuyển để đưa các vật lạ ra ngoài.

    Song song với đó tế bào phổi còn có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nuôi mô. Chúng tạo nên một hàng rào ngăn nước và các phân tử protein đi quá nhiều vào mô kẽ ( tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản ). Tham gia vào quá trình chuyển hóa và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

    Những bệnh thường gặp ở phổi: Viêm phổi. u phổi, lao phổi,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người
  • Đặc Điểm Hình Thái, Chức Năng Hệ Hô Hấp
  • Ý Nghĩa Của Xét Nghiệm Ggt Trong Máu
  • Xét Nghiệm Ggt Đánh Giá Chỉ Số Men Gan
  • Phân Tích Chỉ Số Ggt Bao Nhiêu Là Cao
  • § 3. Kiểm Tra Chức Năng Hệ Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Chức Năng Hô Hấp Của Mũi
  • Tìm Hiểu Về Đo Chức Năng Hô Hấp Và Test Phục Hồi Phế Quản
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Phổi Sibelmed
  • Cách Kiểm Tra Pin Iphone, Check Chai Pin Iphone, Số Lần Sạc Pin Của Ip
  • Cách Check Chai Pin Iphone, Kiểm Tra Tình Trạng Pin Điện Thoại Iphone
  • § 3. KIỂM TRA CHỨC NĂNG HỆ HÔ HẤP

    1. Đặc điểm trạng thái chức năng hệ hô hấp của vậ động viên :

    Hệ hô hấp thực hiện chức năng trao đổi khí thông qua 2 quá trình : Hô hấp trong và

    hô hấp ngoài. Quá trình hô hấp ngoài diễn ra tại các phế nang, thực hiện quá trình hấp thụ ô xy vào máu và đào thải khí C0 2 ra môi trường bên ngoài. 0xy và Cacbonic được vận chuyển trong máu nhờ sự kết hợp với Hemoglobin tạo thành oxyhemoglobin hay cacbohemoglobin của hồng cầu. Cơ chế của sự trao đổi khí là do có sự chênh lệch về phân áp 0xy và phân áp Cacbonic giữa máu và không khí phế nang. Hô hấp trong diễn ra giữa máu và các tế bào của tổ chức, thực hiện quá trình tiếp nhận C0 2vào máu và cung cấp cho tế bào 0xy. Cùng với hệ tuần hoàn và máu hệ hô hấp tạo nên hệthốngcungứng0xy cho cơ thể.

    Cấu tạo của hệ hô hấp ngoài bao gồm khung xương lồng ngực với màng phổi, 2 lá phổi, đường dẫn khí và các cơ hô hấp.

    Chức năng của hệ hô hấp mang đặc thù cá thể và phụ thuộc vào các yếu tố : Tuổi, giới tính và quá trình rèn luyện thể chất. Trao đổi khí ở phổi phụ thuộc vào

    tần số hô hấp, độ sâu hô hấp, thông khí phổi, đàn tính của phế nang và khả năng

    trao đổi chất của phế nang.

    Hoạt động thể chất một cách hệ thống có ảnh hưởng dương tính rất lớn đến chức năng của bộ máy hô hấp. Trong thể thao, hoạt động sức bền sẽ tạo nên những

    biến đổi chức năng rõ nét hơn hẳn so với những hoạt động sức mạnh – tốc độ.

    Những biến đổi chức năng được biểu hiện như sau :

    – Độ linh hoạt của khung lồng ngực tăng làm tăng áp xuất âm trong lồng ngực và tăng thể tích lồng ngực là do trong hoạt động, các cơ hô hấp (cơ hoành, cơ liên sườn, cơ gian sườn trong, cơ gian sườn ngoài, cơ ngực lớn, cơ ngực bé, cơ răng, cơ thang) phát triển, đồng thời độ linh hoạt của khớp xương sườn với xương ức và đời sống cũng tăng. Sự biến đổi lớn nhất xảy ra với cơ hoành – biên độ hoạt động của cơ hoành tăng làm tăng “độ sâu” hô hấp và tăng cường thở hỗn hợp giữa thở ngực và thở bụng.

    – Tần số hô hấp trong yên tĩnh giảm tới 12 – 13 lần/phút. Sự biến đổi này diễn ra do nhiều nguyên nhân : Do tính hưng phấn trội của hệ phó giao cảm, do quá trình trao đổi 0 2 ở tổ chức và tế bào của vận động viên xảy ra lớn hơn vì thế nhu cầu 0 2 giảm trong yên tĩnh ; do độ sâu hô hấp tăng làm tăng thể tích khí lưu thông dẫn đến giảm tần số hô hấp vẫn đảm bảo ổn định lượng thông khí phổi.

    – Số lượng phế nang tham gia hoạt động trao đổi khí tăng. Bình thường ở người khoẻ mạnh số lượng phế nang tham gia hô hấp chỉ chiếm 60%, còn đối với vận động viên chỉ số này đạt tới 70 – 80%.

    – Khả năng hấp thụ 0 2 tăng. Khả năng hấp thụ 0 2 là năng lực tiếp nhận 0 2 được đo bằng tỷ lệ chênh lệch giữa 0 2ở khí hít vào và khí thở ra, khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố (phổi, tim mạch, máu) và thay đổi phụ thuộc vào nhu cầu 0 2 của cơ thể. Vo 2 max tăng từ 2 – 2,5 lít/phút đến 4 lít/phút ở vận động viên.

    2. Các phương pháp kim tra chức ng h hấp :

    Để đánh giá chức năng hệ hô hấp người ta sử dụng các nhóm phương pháp sau : phương pháp kiểm tra y học lâm sàng, phương pháp sử dụng Test chức năng và phương pháp cận lâm sàng.

    2.1.Phươngphápkimtrayhọclâm sàng:

    Đây là những phương pháp kinh điển, bắt buộc khi tiến hành kiểm tra chức năng của hệ hô hấp cũng như các cơ quan khác trong cơ thể, đặc biệt với kiểm tra

    bước đầu. Kiểm tra y học lâm sàng là nội dung kiểm tra được tiến hành đầu tiên

    trong trạng thái yên tĩnh. Các phương pháp được tiến hành theo trình tự : thẩm vấn, quan sát, sờ nắn, phương pháp gõ và phương pháp nghe.

    2.1.1.Phươngphápthmvấn:

    Việc thẩm vấn được tiến hành theo 3 nội dung cơ bản : Thẩm vấn lý lịch với các nội dung họ, tên, tuổi, giới tính, dân tộc, trình dodọ văn hoá, nơi cư trú, nghề

    nghiệp.

    Thẩm vấn y học cần làm rõ các bệnh, các chấn thương và đường hô hấp đã mắc phải phương pháp điều trị, thời gian và mức độ tiến triển của bệnh, các bệnh di truyền, lây trong gia đình dòng họ.

    Thẩm vấn lý lịch thể thao. Nội dung thẩm vấn bao gồm : Năm bắt đầu tập luyện, môn thể thao chuyên sâu, thành tích, đẳng cấp đã đạt, cảm giác chủ quan về tình trạng sức khoẻ khi tập luyện như cảm giác đau vùng ngực, cảm giác ngạt thở, khó thở, tức ngực, rối loạn nhịp hô hấp. điều này cho phép sơ bộ, tổng quát đánh giá chức năng hệ hô hấp và định hướng cho việc đưa ra các chỉ định chẩn đoán tiếp theo.

    2.1.2.Phươngphápquansát:

    Để bổ sung cho kết quả đánh giá chức năng hệ hô hấp, phương pháp quan sát cần thực hiện các nội dung sau : Quan sát dáng ngực, quan sát màu da và niêm mạc, quan sát nhịp thở và độ sâu hô hấp.Quan sát tổng thể quan sát đối xứng .

    Ngoài việc xác định tần số hô hấp, phương pháp sờ nắn được sử dụng như

    một phương pháp bổ sung khi thẩm vấn hay quan sát có những điểm nghi vấn cần xác định rõ như : trong lý lịch có tổn thương vùng ngực, hay nghi vấn có khối u chìm , các vết gãy xương cũ.

    Xác định tần số và nhịp hô hấp có thể được tiến hành theo các phương pháp quan sát, nghe và sờ nắn. Phương pháp sờ nắn xác định tần số và nhịp hô hấp được

    tiến hành trong tư thế nằm ngửa của người được kiểm tra. Người kiểm tra đặt nhẹ

    lòng bàn tay lên khu vực phía dưới xương ức để xác định.

    2.1.4.Phươngpháp:

    Cơ sở của phương pháp là nghe âm phản hồi khi tác động lên thành lồng

    Trong quá trình hô hấp có sự trao đổi, lưu thông khí từ ngoài vào phế nang

    và ngược lại. Đâylà phương pháp chủ yếu được sử dụng trong việc đánh giá độ thông đường hô hấp hay viêm nhiễm, tràn dịch của màng phổi. Phương pháp nghe cho phép phát hiện những biến đổi trong phổi như : Viêm phổi và trong đường hô hấp như các bệnh viêm phế quản, thanh quản …. Dựa trên cơ sở âm nghe được đó là các tiếng ran phổi, ran khô và ran ướt.

    Dụng cụ được sử dụng ngày nay thông thường là ống nghe mềm.

    2.2.Cácthửnghiệmchứcnănghệhấp:

    Đặc điểm chuyên biệt trong kiểm tra chức năng của hệ hô hấp cũng như các cơ quan và hệ cơ quan khác đối với những người tham gia tập luyện thể dục thể thao là việc ứng dụng các Test chức năng. Các thử nghiệm thường được sử dụng là

    : thử nghiệm Rozeltal, Test dung tích sống và dung tích sống đột ngột, Test đo

    V0 2 max, Test đo áp lực phổi, thử nghiệm nín thở Gentri, Test đo hệ số hấp thụ 0xy.

    Tuy các thử nghiệm nêu trên không có nhiệm vụ vận động, nhưng vẫn có thể

    coi đó là những Test vận động vì Test được sử dụng để đánh giá hiệu quả của quá

    Dung tích sống là thể tích không khí tối đa mà người lập Test thổi ra được

    một cách gắng sức sau khi đã hít vào tối đa. Thành phần của dung tích sống bao gồm : thể tích khí lưu thông, thể tích khí dự trữ hít vào, và thể tích khí dự trữ thở ra.

    Dụng cụ đo dung tích sống là phế dung kế nước, phế dung kế khô hay phép

    ghi kế dung đồ. Ngày nay các máy đo phế dung điện tử đã ra đời được thay thế dần dần cho các loại phế dung kế trên.

    Phương pháp đo dung tích sống – người lập Test trong tư thế đứng, sau khi đã hít vào gắng sức, miệng ngậm đầu ống đo của máy ,thổi từ từ, gắng sức tối đa

    vào máy, chỉ số thu được là lượng dung tích sống tuyệt đối. Đây là chỉ số quan

    trọng để đánh giá chức năng hô hấp, song chỉ số tuyệt đối còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố hình thể. Vì vậy muốn đánh giá cần phải so sánh với “dung tích sống cần” có của chính người được kiểm tra.

    Trong y học thể thao để xác định dung tích sống cần, sử dụng công thức của

    Balduin, Karman và Ritrard. Công thức có dạng như sau : DTS (cần) = (27,63 – 0,112 x T) x h (đối với Nam) DTS (cần) = (21,78 – 0,101 x T) x h (đối với Nữ) Trong đó T :tuổi (năm), h : chiều cao (cm)

    Trong điều kiện người bình thường tỷ lệ

    DTS

    DTS (cần)

    không vượt quá 90%, còn ở các VĐV thì tỷ lệ này thường đạt trên 100%.

    Trong thực tiễn thể thao người ta thường sử dụng lượng dung tích sống tương đối để đánh giá chức năng hệ hô hấp. Dung tích sống tương đối được tính bằng cách chia dung tích sống cho trọng lượng cơ thể.

    Dung tích sống đột ngột là lượng không khí thổi ra đột ngột, gắng sức trong

    thời gian 1 giây sau khi đã hít vào tối đa. Dụng cụ sử dụng cũng là máy đo phế dung kế và phương pháp đo không có sự khác biệt đáng kể so với đo dung tích sống.

    Kết quả dung tích sống đột ngột cho phép đánh giá độ thông của đường hô hấp, lực tham gia của các cơ hô hấp và trương lực của phế nang.

    Kết quả được đánh giá theo tỷ lệ phần trăm so với dung tích sống tuyệt đối. Nếu đạt 80% là trung bình, trên 80% là tốt và dưới mức 80% là kém.

    2.2.3.ThửnghiệmRozental

    Là Test đo 5 lần dung tích sống liên tiếp mỗi lần cách nhau 15 giây.

    Trong thử nghiệm này, do 5 lần đo liên tiếp mà phân áp 0xy trong máu tăng, đồng thời phân áp khí C0 2 lại giảm. Như vậy sự kích thích tới trung khu hô hấp theo cơ chế nội tại sẽ giảm. Tuy nhiên, dưới tác động điều khiển của thần kinh trung ương sẽ ảnh hưởng đến kết quả thu được. Do vậy, theo cơ chế thực chất Test

    2.2.4.Testđoáplực phổi:

    Dụng cụ dùng để đo là máy đo áp lực phổi. Test đo áp lực phổi có ý nghĩa

    đánh giá lực của các cơ hô hấp cũng như trương lực của phế nang.

    Có 2 phương pháp đo khác nhau được sử dụng là đo áp lực phổi hít vào gắng sức và đo áp lực phổi thổi ra gắng sức. Kết quả thu được trên đồng hồ đo theo đơn vị mm Hg

    Tuỳ theo cách tiến hành ta đánh giá kết quả theo 2 cách khác nhau : áp lực lúc thổi ra vượt xa áp lực lúc hít vào và dao động trong khoảng rộng. Áp lực khi hít vào trung bình với nam là 60mmHg với nữ là 50 mmHg . Áp lực lúc thở ra trung bình đối với nam là80 mmHg với nữ là 60 mmHg. Với vận động viên kết quả thu được còn cao hơn.

    Nếu lực thở ra và hít vào giảm chứng tỏ chức năng hô hấp kém hoặc bị bệnh hô hấp . Trong các trường hợp bệnh lý về đường hô hấp thông thường lực thở ra gắng sức bị giảm nhiều còn lực hít vào gắng sức giảm ít hơn .

    2.2.5.Testnínthở(Gentri).

    Test này nhằm đánh giá chức năng của hệ hô hấp cũng như hệ tuần hoàn trong vận động và trong yên tĩnh . Nhưng kết quả của biện pháp này phụ thuộc nhiều vào ý thức của người thực nghiệm .

    Test Gentri là nghiệm pháp nín thở trong trạng thái thở ra ở tư thế ngồi kết quả được đánh giá bằng giây . Test này cho phép đánh giá khách quan năng lực hoạt động yếm khí của người lập Test.

    Dụng cụ yêu cầu cần có là kẹp mũi và đồng hồ bấm giây. Test được tiến hành trong tư thế ngồi. Trước khi tiến hành yêu cầu người lập Test thở sâu 1 – 2 lần

    sau đó hít vào gắng sức ( bằng 90% sức) và nín thở đến khi khả năng chịu đựng tới

    ngưỡng.

    Kết quả được đánh giá theo thời gian nín thở tối đa có thể .

    Người khoẻ mạnh trung bình 20 -30″ Vận động viên 30 – 90″

    Trình độ chuyên môn càng cao, năng lực hoạt động yếm khí càng tốt thì thời gian

    nín thở càng dài.

    3. Phương pháp kiểm tra cận lâm sàng.

    Phương pháp chủ yếu và được áp dụng rộng rãi để đánh giá cấu trúc và chức

    năng hệ hô hấp là phương pháp chụp – chiếu X quang. Tuy vậy trong thực tiễn thể

    thao rất ít được sử dụng.

    3.1 Chiếu chp X quang : Đánh giá những biến đổi về cấu trúc giải phẫu của phổi và lồng ngực .

    3.2, Phép ghi phế đng đồ là phương pháp theo dõi sự chuyển động của lồng ngực .

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Đặc điểm trạng thái chức năng hệ hô hấp trong hoạt động TDTT?

    2. Ý nghĩa và phương pháp tiến hành , cách đánh giá số đo dung tích sống?

    Dung tích sống đột ngột?

    3. Phương pháp tiến hành và cách đánh giá test Rozental và test Gentri?

    §4 KIỂM TRA CHỨC NĂNG HỆ THẦN KINH VÀ THẦN KINH CƠ

    1. Vai trò chức năng bảo đm hệ thống thần kinh, thần kinh trong hoạt động thể chất:

    Cơ thể và môi trường sống có sự tác động tương hỗ qua lại lẫn nhau. Các kích thích của môi trường bên trong và bên ngoài rất đa dạng, phong phú trong đó

    có các kích thích của lượng vận động của bài tập thể chất và thể thao. Để tồn tại và

    phát triển cơ thể cần đáp ứng các kích thích đó, thông qua các phản ứng, phản xạ một cách tương ứng để giữ cơ thể trong trạng thái cân bằng động. Mối liên hệ này được đảm bảo nhờ các hoạt động của hệ thần kinh, thần kinh thể dịch và thần kinh cơ. Có thể nói hệ thần kinh chỉ đạo mọi hoạt động sống của cơ thể.Giúp cho cơ thể thống nhất các hệ cơ quan trong cơ thể và thống nhất cơ thể với môi trường bên ngoài .

    Theo cơ sở giải phẫu và sinh lý thì hệ thần kinh được chia ra thành các phần chi tiết :Hệ thần kinh trung ương bao gồm não và tủy sống và hệ thần kinh ngoại

    biên bao gồm hệ thống các dây dẫn truyền xung động thần kinh .

    Trên cơ sở sinh lý: Hệ thần kinh được phân thành :Hệ thần kinh động vật bao gồm thần kinh cảm giác và thần kinh vận động .Hệ thần kinh thựcvật còn gọi là thần kinh dinh dưỡng bao gồm hệ thần kinh giao cảmvà hệ thần kinh phó giao cảm .

    Việc tập luyện thể thao một cách có hệ thống và sự tham gia các cuộc thi đấu đề ra những đòi hỏi rất lớn về hệ thần kinh và ngay chính trong hệ thần kinh cũng diễn ra những biến đổi theo hướng nhằm hoàn thiện chức năng của chính mình. Các bài tập thể chất – đó là những hành động thần kinh cơ phức tạp. Trong quá trình hình thành định hình động lực mới luôn diễn ra quá trình thiết lập những đường liên hệ tạm thời trên vỏ não. Việc tập luyện liên tục có hệ thống sẽ dẫn đến tự động hoá động tác và các định hình trở nên bền vững. Những biến đổi bất lợi

    trong trạng thái chức năng hệ thần kinh – đó là những dấu hiệu đầu tiên của mệt mỏi quá độ và tập luyện quá sức.

    Đối với hệ thần kinh dinh dưỡng, ảnh hưởng của tập luyện làm tăng trương lực của thần kinh phó giao cảm ( nervus Vagus ). điều này có ý nghĩa rất lớn với hiệu suất hoạt động của hệ vận chuyển 0xy, giảm huyết áp trong yên tĩnh.

    2. Các phương pháp kiểm tra chức năng hệ thần kinh và thần kinh cơ:

    Tương ứng với từng hệ thần kinh chức năng chỉ đạo cũng khác nhau. Từ đó

    cho thấy, để đánh giá ta cần áp dụng các phương pháp đánh giá chức năng của từng hệ thần kinh riêng biệt. Thực tế các phương pháp đánh giá rất phong phú, song trong kiểm tra y học thể thao ta cần lựa chọn các phương pháp phù hợp với thực

    tiễn thể thao. Thông thường các phương pháp được sử dụng là : phương pháp đánh

    giá chung (phân loại thần kinh, Test soát bảng), kiểm tra chức năng thần kinh dinh dưỡng (Test Asnhera, Test Kesty, Test thay đổi tư thế), kiểm tra chức năng thăng bằng (Test quay ghế Baran, Test Rombegơ, Test quay đầu Ia rotx ki), kiểm tra chức năng thần kinh cơ (Test phản xạ gân, Tepping Test ,test đo thời gian phản xạ, đo cảm giác lực cơ), kiểm tra các cơ quan cảm thụ (đo thị lực, thị trường, đo thính lực, cảm giác đau).

    Để đánh giá chung chức năng của hệ thần kinh trước hết cần tiến hành từ

    việc phỏng vấn, trên cơ sở đó kết hợp với kết quả của Test ta tiến hành xác định loại hình thần kinh và thực hiện các Test tiếp theo.

    2.1.1. Phỏng vấn

    Việc phỏng vấn cần làm rõ tiền sử bệnh về thần kinh và các cảm giác chủ

    Loại hình thần kinh là tổ hợp các thuộc tính thần kinh, phản ánh năng lực hoạt động của thần kinh và có hệ số di truyền rất cao.

    Đặc trưng cho sứcmnhcủathầnkinh là tính tự tin, lòng quả cảm, tính tích

    cực và tính kiên định. Trong hoạt động thể thao, sức mạnh của thần kinh có một vị trí hết sức to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách và chinh phục những đỉnh cao thành tích. Có thể nói sức mạnh của thần kinh là khả năng tự điều chỉnh phản ứng của cơ thể trước những tác động với các cường độ khác nhau.

    Các tiêu chuẩn đặc trưng cho tính cân bằngcủa thầnkinh đó là sự bình tĩnh, biết kiềm chế, biết giữ mối quan hệ với gia đình, bạn bè, đồng chí trong công tác,

    học tập và đặc biệt là hành vi của bản thân trong một tập thể khi tập luyện và thi

    đấu. Các dấu hiệu đặc biệt quan trọng là giấc ngủ trước ngày thi đấu, hành vi của vận động viên trên vạch xuất phát, phản ứng với tín hiệu xuất phát v.v…

    Độlinhhoạtcủacác phản ứngthầnkinh được đặc trưng bởi tốc độ tiếp thu động tác, tốc độ tiếp thu kỹ chiến thuật, khả năng tự sửa chữa những sai lầm, tốc độ

    loại bỏ sự hồi hộp….. trước xuất phát và hưng phấn sau thi đấu, sự thích nghi nhanh

    chóng với các điều kiện khác nhau. Dấu hiệu đặc trưng là giấc ngủ sau thi đấu (ngủ nhanh và ngủ sâu).

    Dựa vào 3 thuộc tính của hoạt động thần kinh là sức mạnh, độ linh hoạt và tính cân bằng mà I.P Pavlốp đã phân ra 4 loại hình thần kinh. đó là : Loại 1 – mạnh,

    cân bằng, linh hoạt ; loại 2 : mạnh, cân bằng, không linh hoạt ; loại 3 : mạnh, không

    cân bằng (hưng phấn mạnh hơn ức chế) ; loại 4 : thần kinh yếu.

    Như vậy, để phân loại loại thần kinh phải sử dụng các Test tâm lý để xác định thuộc tính thần kinh và trên cơ sở đó có thể phân loại hình thần kinh.

    Tuy loại hình thần kinh có tính di truyền và tính bảo thủ rất cao, song theo nhà sinh lý học I.P Pavlốp thì được dưới ảnh hưởng của giáo dục có thể làm thay đổi được loại hình thần kinh bẩm sinh theo ý muốn.

    2.1.3.Testđánhgiámứcđộtậptrungchúýcủahệthầnkinh:

    Để đánh giá mức độ tập trung của hệ thần kinh có thể sử dụng phương pháp

    soát bảng. Trong thực tiễn kiểm tra y học thể thao các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều loại bảng khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên cơ sở chung nhất là cho người

    lập Test gạch lấy một tín hiệu đã được chọn trước vào đó trong một khoảng thời

    gian nhất định, kết quả được đánh giá dựa vào tỷ lệ tín hiệu gạch đúng với tín hiệu gạch sai hay bỏ sót. Sự khác biệt của các phương pháp là sử dụng tín hiệu đơn hoặc tín hiệu kép (có kèm theo một tín hiệu ức chế).

    Để phù hợp với các đối tượng khác nhau, Test soát vòng hở Landont

    thường hay được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung của hệ thần kinh.

    Phương pháp lập Test được tiến hành theo nguyên tắc trên, kết quả đánh giá theo công thức sau :

    0,5436N – 2807n s =

    t

    Trong đó S : lượng đơn vị thông tin (bit/giây)

    N : Số tín hiệu theo bảng (tổng lượng tín hiệu qui định khi lập Test)

    n : Số tín hiệu gạch sai hay bỏ sót t : Thời gian lâp Test (giây)

    Kết quả thu được đánh giá như sau :

    1,26 – 1,57 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh khá

    0,96 – 1,26 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh trung bình

    < 0,96 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh kém.

    2.2.Kiểmtrachứcnăngthầnkinhthựcvật:

    Các Test kiểm tra chức năng thần kinh thực vật chủ yếu được dựa trên cơ sở sự biến đổi của mạch dưới một kích thích nào đó để xác định độ cân bằng trương lực trung tâm giữa giao cảm và phó giao cảm. Các kích thích được sử dụng có thể là cơ học, hoá học (thuốc y tế) hay nhiệt độ. Ngoài thông số mạch có thể sử dụng phương thức đo nhiệt độ da hay lượng mồ hôi để đánh giá.

    2.2.1.ThửnghiệmAsnhera:

    Thử nghiệm này còn được gọi là thử nghiệm ấn mt, dựa trên cơ sở của phản xạ mắt – tim đặc trưng cho tính hưng phấn của thần kinh phó giao cảm.

    Người lập Test trong tư thế nằm được đo mạch yên tĩnh, sau đó dùng 2 ngón

    tay cái và trỏ ấn nhẹ lên con ngươi khi nhắm mắt trong khoảng thời gian 10 giây, sau đó tiến hành đo mạch lần 2. Kết quả thử nghiệm được đánh giá bằng cách so

    sánh giá trị mạch trước và sau thử nghiệm. Nếu mạch giảm từ 5 đến 12 lần/phút

    chứng tỏ hưng phấn của phó giao cảm trong yên tĩnh ở mức trung bình. Nếu mạch giảm trên 12 lần/phút – hưng phấn phó giao cảm trội, mạch giảm dưới 4 lần hay không đổi – ta nói hưng phấn phó giao cảm hay hưng phấn giao cảm trội trong yên tĩnh. Nếu mạch giảm trên 24 lần/phút thì phản xạ mắt – tim được coi là biến dạng.

    2.2.2.Thửnghiệmthayđổithế:

    Thử nghiệm này có thể áp dụng theo 2 phương pháp – thay đổi từ tư thế nằm sang tư thế đứng hay từ đứng sang nằm. Thông thường Test được tiến hành theo phương thức thay đổi tư thế nằm sang đứng.

    Yêu cầu người lập Test trong tư thế nằm yên tĩnh, loại trừ các kích thích của môi trường trong khoảng 3-5 phút, sau đó đứng dậy. Mạch được đo ở 2 thời điểm trước và sau khi đứng lên.

    Test được đánh giá bằng cách so sách sự biến đổi của tần số mạch trước và sau thử nghiệm. Nếu mạch sau thử nghiệm tăng trong khoảng 4-8 lần/phút, ta kết

    luận chức năng thần kinh thực vật tốt, cân bằng. Nếu mạch tăng trên 8 lần/phút –

    hưng phấn của giao cảm trội trong yên tĩnh, ngược lại tăng dưới 4 lần hoặc không đổi thì hưng phấn phó giao cảm trội trong yên tĩnh.

    Nghiệm pháp đứng nằm : Khi thay đổi tư thế từ đứng sang nằm trương lực của hệ phó giao cảm tăng . Mạch giảm trong thử nghiệm này là 4 – 6 lần /phút

    đánh giá hưng phấn hệ phó giao cảm trung bình . Mạch giảm dưới 4 lần  Đánh giá trương lực của hệ giao cảm trội . Mạch giảm trên 6 lần  Đánh giá trương lực

    của hệ phó giao cảm trội .

    2.3 Kiểm tra chức năng thần kinh và thần kinh cơ

    2.3.1 Kiểm tra chức năng thăng bằng :

    Việc áp dụng những thí nghiệm chức năng thăng bằng ngoài ý nghĩa phát hiện

    những rối loạn chức năng này, còn có giá trị trong đánh giá mức độ mệt mỏi của vận động viên sau tập luyện. Chức năng thăng bằng được đánh giá ở cả 2 trạng thái chức năng thăng bằng tĩnh và chức năng thăng bằng động.

    2.3.1.1Kiểmtrathăngbằngnh(Test Romberg):

    Thông thường thăng bằng tĩnh được đánh giá nhờ Test Romberg với 2 tư thế

    : tư thế 1 là tư thế đơn giản được áp dụng cho người có tuổi và trẻ em. Người lập Test trong tư thế đứng nghiêm, 2 tay dang ngang, 2 chân khép sát nhau mũi chân nọ chạm gót chân kia, mắt nhắm và tính thời gian đững vững vàng. Tư thế 2 thường áp dụng cho người trưởng thành và vận động viên với độ khó tăng. Người lập Test đứng trụ trên một chân, chân kia co lên gối chạm gối chân trụ, tay dang ngang, mắt nhắm. Tư thế 2 có thể thay đổi bằng việc thực hiện thăng bằng sấp.

    Kết quả của cả 2 tư thế đều được đánh giá bằng thời gian đứng thăng bằng vững vàng kể từ khi nhắm mắt. Nếu người lập Test đứng vững vàng, ngón tay và

    mi mắt không run trên 15 giây, chức năng thăng bằng tĩnh được đánh giá là tốt.

    Trong trường hợp mức độ vững vàng giữ được dưới 15 giây, xuất hiện hiện tượng run ngón tay và mi mắt – chức năng thăng bằng tĩnh kém. Đối với vận động viên tiêu chuẩn trung bình là 28 giây.

    2.3.1.2. Kiểm tra thăng bằng đng :

    Phụ thuộc vào điều kiện lập Test có thể sử dụng một trong 3 phương pháp sau : quay ghế Baran, quay Iarôtxki và thử nghiệm tay – mũi.

    Thử nghiệm tay – mũiđược tiến hành trong tư thế người lập Test đứng, mắt

    nhắm, yêu cầu dùng ngón trỏ khi gấp cẳng tay của cánh tay duỗi thẳng trước mặt, chỉ chính xác vào chỏm mũi của mình. Nếu chỉ lệch hay tay run rẩy chứng tỏ chức năng thăng bằng động kém.

    Thử nghiệm quay ghế Baranđược thực hiện trên ghế quay Baran. Người lập Test trong tư thế ngồi, tay chân để đúng vị trí qui định, đầu cúi thấp (cằm sát ngực) mắt nhắm. Người kiểm tra quay ghế 10 vòng, tốc độ 1 vòng / 2 giây. Khi ngừng quay lập tức yêu cầu người lập Test bước xuống và đi theo một đường thẳng đã vạch sẵn. Kết quả của Test được đánh giá như sau :

    – Đi vững vàng, theo đúng đường thẳng đã vạch đúng qui định – chức năng thần kinh tốt

    – Đi thiếu tự tin nhưng theo đúng đúng đường thẳng đã vạch – chức năng thần kinh

    trung bình .

    – Đi chệch hướng, ngã, lảo đảo không đúng đường thẳng – chức năng thần kinh

    kém.

    Thử nghiệm quay đầu Iarotxki – là thử nghiệm đơn giản, không đòi hỏi dụng cụ đặc biệt nên được sử dụng rộng rãi : người lập Test thực hiện động tác xoay đầu quanh trục thẳng đứng theo một hướng nhất định, mắt nhắm, tốc độ 2 vòng / 1 giây. Kết quả được đánh giá theo thời gian giữ thăng bằng. Ở người khoẻ mạnh, không tập luyện kết quả trung bình là 27 giây, ở vận động viên cao hơn rất nhiều ,có thể đạt 90 giây.

    2.3.2. Kiểm tra chức năng thần kinh cơ :

    2.3.2.1.ĐiệnđồĐể đánh giá chức năng thần kinh cơ ở vận động viên

    người ta sử dụng phép ghi điện cơ đồ để xác định thời gian tiềm tàng co và duỗi cơ, thời gian co cơ cực đại, tần số co cơ và trương lực cơ.

    Điện cơ đồ là phương pháp ghi dòng điện sinh học xuất hiện trong cơ vân

    với dụng cụ là máy ghi điện cơ. Thời gian tiềm tàng co và duỗi cơ cho phép đánh giá một cách khách quan trạng thái chức năng thần kinh cơ và hệ thần kinh trong hoạt động thể chất. Trình độ tập luyện càng cao, các chỉ số càng nhỏ.

    Thời gian co cơ ngắn tối đa nhằm đánh giá năng lực của cơ được kiểm tra trong khoảng thời gian ngắn nhất thực hiện được một co rút. điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các vận động viên sức mạnh – tốc độ, trung bình vào khoảng 80 – 100 ųs (micơro giây).

    Tần số co cơ tối đa là số lượng lần co cơ trên một đơn vị thời gian. Thử

    nghiệm được tiến hành trong 20 giây, sau đó nhân với 3 để xác định tần số/phút.

    2.3.2.2.Test tepping test ( Test dấu chấm):

    Thử nghiệm này đôi khi còn được gọi là Test dấu chấm, cho phép đánh giá

    độ linh hoạt cơ năng. Dụng cụ : bút, giấy trắng khổ 20 x 20 cm được chia làm 4 phần (4 ô), đồng hồ bấm giây. người lập Test cầm bút tay thuận chấm liên tiếp theo trình tự nhất định với tốc độ tối đa có thể. Thời gian tổng cộng 40 giây, mỗi ô thực hiện 10 giây . Kết quả được đánh giá dựa vào giá trị trung bình số dấu chấm trên một giây thực hiện được . Kết quả trung bình – 7 điểm/giây.

    Lưu ý : Để tránh nhầm lẫn, khi đếm cần dùng bút nối các dấu đã đếm theo từng vòng.

    2.3.2.3. Đo cảm giác lực cơ :

    Đây là Test có giá trị thực tiễn cao, cho phép đánh giá tốc độ nhạy cảm cơ

    bắp trong việc phân phối lực cho từng hoạt động. Đây là một thông số dự báo trình độ kỹ thuật, đặc biệt ở các môn đòi hỏi cảm giác lực cơ cao như bóng bàn, bóng rổ,

    cầu lông, các môn võ.

    Dụng cụ được sử dụng là máy đo lực cơ hoặc lực kế bóp tay loại 30kg,

    50 kg.

    Việc tiến hành được thực hiện theo nguyên tắc chung : cho người lập Test

    thực hiện lực co cơ tối đa, sau đó đề xuất thực hiện % lực tối đa. Thường tiến hành từ 5 – 10 lần có quãng nghỉ.

    Đánh giá kết quả : Nếu giá trị tuyệt đối của sai số càng nhỏ thì cảm giác lực cơ càng tốt. Tuy nhiên, trị số trung bình ở các môn thể thao khác nhau và trình độ

    tập luyện khác nhau có sự cách biệt khá lớn.

    2.3.2.4. Đo phản xạ gân – cơ :

    Được thực hiện trên nguyên tắc chung là dùng búa phản xạ gõ lên đầu bám

    tận của cơ, gây nên sự co cơ. Dựa vào mức độ phản ứng (mạnh, trung bình, yếu) để đánh giá kết quả.

    Thường các phản xạ quá mạnh đặc trưng cho sự hưng phấn cao ở trung khu điều tiết của thần kinh trung ương do căng thẳng quá độ, viêm khẩn, tổn thương màng não, màng tuỷ sống. Các phản ứng yếu hay mất hoàn toàn là dấu hiệu cung phản xạ bị phá vỡ do tổn thương, tràn máu, tràn dịch lớn ở trung khu vận động.

    Trong kiểm tra y học thể thao, giá trị thực hiện của phương pháp này rất hạn chế, thường chỉ được tiến hành trong những trường hợp chấn thương sọ não, cột sống.

    Những phản xạ thông thường được áp dụng trong kiểm tra y học TDTT đó là : phản xạ petala , phan xạ gân a.chin, phản xạ cơ nhị đầu cánh tay , kiểm tra độ linh hoạt của cơ bao gồm có kiểm tra độ linh hoạt của cổ tay kiểm tra với thời gian

    phản ứng .

    a,Phảnxạpatela – là phản xạ của cơ tứ đầu đùi , dưới tác dụng kích thích cơ học . Tiến hành kiểm tra : tư thế người được kiểm tra , ngồi trên ghế , chân nọ gát lên chân kia , bàn chân không chạm đất , chân thả lỏng hoàn toàn gấp ở khớp gối vuông góc , mắt nhìn đi nơi khác . Người kiểm tra dùng búa phản xạ đánh vào gân cơ tứ đầu đùi với một lực khoảng 0,5kg tại điểm giữa xương bánh chè với đầu bám tận của cơ tứ đầu đùi . Phản xạ thu được – cẳng chân đá về phía trước 1 góc khoảng

    30 độ . Các phản xạ sai lệch thu được là phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu .

    b.Phảnxạgânachin , là phản xạ của cơ tam đầu cẳng chân . Yêu cẩu tư thế của người được kiểm tra , quì trên hai đầu gối , cẳng chân , bàn chân thả lỏng , mũi chân buông tự do không chạm đất . Người kiểm tra dùng búa phản xạ gõ lên gân achin tại điểm ngang với mắt cá chân một lực khoảng 0,5 kg . Ta thấy phản xạ thu được là bàn chân duỗi ra .

    Phản xạ trung bình nếu góc duỗi của bàn chân khoảng 15 0, các phản xạ biến đổi thường gặp là phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu .

    c.Phảnxạnhịđầucánhtay – nhằm đánh giá cung phản xạ của cơ nhị đầu cánh tay . Trước khi tiến hành yêu cầu người được kiểm tra tay thả lỏng gấp nhẹ

    nhàng ở trước khuỷu , người kiểm tra một tay đỡ tay người được kiểm tra ở phần cẳng tay và khuỷu tay, sau đó dùng búa gõ nhẹ một lực khoảng 0,5kg vào gân cơ

    nhị đầu cánh tay tại hõm trước của khớp khuỷu . Phản xạ thu được cẳng tay gấp lại trung bình khoảng 10 0. Phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu là những phản xạ sai lệch thường gặp .

    Nhìn chung trong tất cả các trường hợp trên phản xạ quá mạnh là do hưng phấn của thần kinh trung ương cao thường gặp ở các bệnh như viêm màng não, viêm tủy sống, bệnh lao xương . Còn các phản xạ quá yếu do viêm dây thần kinh , do chấn thương sọ não, tủy sống tương ứng với từng cung phản xạ , dẫn đến khả năng hưng phấn của trung khu thần kinh bị giảm sút .

    Trong kiểm tra chức năng thị giác thường tiến hành đánh giá khả năng nhìn

    trung tâm (thị lực) và khả năng nhìn bao quát (thị trường).

    3.1.1 Kimtrathịlực :

    Dụng cụ thông dụng là bằng kiểm tra thị lực bằng các chữ C (vòng tròn

    không khép kín). Phương pháp tiến hành người được kiểm tra đứng cách bảng một khoảng cách phụ thuộc vào từng loại bảng (thường là 6m). Cần đảm bảo đủ ánh

    sáng tự nhiên. Dùng bìa che một mắt và tiến hành đọc các chữ cái được chỉ định lần

    lượt từ chữ to đến chữ nhỏ tới khi không còn khả năng xác định chính xác.

    Kết quả của phương pháp kiểm tra này được đánh giá theo tỷ lệ giữa khoảng cách thấy được của đối tượng đó với khoảng cách thấy được của người thường (tỷ lệ phần mười) kết quả được tính là bằng trả lời đúng cuối cùng tương ứng với các tỷ lệ 1/10, 2/10….10/10.

    3.1.2 Kimtrathịtrưng:

    Là khả năng nhìn bao quát, nó đặc biệt quan trọng với các môn thi đấu đồng

    đội. Dụng cụ sử dụng là máy đo thị trường. Đối tượng kiểm tra ngồi vào vị trí qui định, mắt được kiểm tra đặt vào vị trí và nhìn cố định vào tâm của máy đo. Khi nhận biết điểm chuẩn di động theo tay người kiểm tra thì phát tín hiệu đac nhận biết. Thị trường được đánh giá theo 4 hướng : trong, ngoài, trên, dưới với từng mắt. Kết quả được đánh giá theo góc độ mà mắt có khả năng nhận biết. Với người trưởng thành, khoẻ mạnh thị trường trung bình có kết quả theo các hướng như sau :

    ngoài – 85 0– 90 0; trong 75 0; trên 65 0– 70 0; dưới 75 0

    Khi kiểm tra thính giác cần đánh giá cả các tổ chức bên ngoài của cơ quan

    thính giác, bởi vì chúng cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng hoạt động thể thao. Việc kiểm tra được tiến hành theo phương pháp sử dụng lời nói (nói thường và nói thầm) hoặc camerton với các âm lượng khác nhau .

    Nếu sử dụng camerton thì kết quả được đánh giá theo âm lượng mà người được kiểm tra nghe thấy. Việc kiểm tra bằng lời nói phụ thuộc nhiều vào âm lượng của người phát tín hiệu. Thông thường khoảng cách 5m là giới hạn trung bình để

    có thể nghe được lời nói thầm. Nếu thính giác kém cần ra chống chỉ định tập luyện

    trong một số môn thể thao. Trong quá trình tập luyện chức năng thính giác được hoàn thiện hơn.

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1.Vai trò , chức năng và đặc điểm hệ thống thần kinh- thần kinh cơ trong hoạt động

    TDTT?

    2. Phương pháp phân loại và ý nghĩa của loại hình thần kinh trong hoạt động

    TDTT?

    3. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh thực vật?

    4. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh thăng

    bằng?

    5. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh cơ?

    6. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng các cơ quan cảm thụ thị giác và thính giác?

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Đặc Điểm, Chức Năng Của Câu Cầu Khiến
  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Chức Năng Kiểm Tra Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Bày Tỏ Ý Kiến Của Kiểm Toán Là Gì? Cách Thể Hiện
  • Chức Năng Điều Chỉnh Và Kiểm Soát (Stabilization Function) Của Tài Chính Công Là Gì?
  • Hô Hấp Ký Đo Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đo Phế Dung Phổi Là Gì Khi Sử Dụng Máy Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Tìm Hiểu Về Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp Tại Bệnh Viện A
  • Tìm Hiểu Về Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp Tại Bệnh Viện Đà Nẵng
  • Kỹ Thuật Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Đánh Giá Thông Số Thông Khí Và Test Phục Hồi Phế Quản Trên Bệnh Nhi Hen Tại Phòng Tư Vấn Hen Khoa Nhi Bệnh Viện Bạch Mai
  • Đo hô hấp ký là xét nghiệm giúp chẩn đoán các tình trạng bệnh lý của phổi, phổ biến nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ngoài ra đo hô hấp ký được dùng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của một số bệnh lý về phổi, cũng như theo dõi đáp ứng hiệu quả điểu trị.

    Hô hấp ký là gì?

    Xét nghiệm này được thực hiện như thế nào?

    Trước khi làm, bạn được đo chiều cao và cân nặng. Khi đo bạn cần phải thổi vào máy hô hấp ký. Trước tiên bạn ngậm môi xung quanh ống thổi, hít sâu vào sau đó thổi ra mạnh nhất có thể tới khi không thổi thêm khí được nữa. Quá trình này mất vài giây. Để đánh giá thêm về chức năng phổi, kỹ thuật viên đo có thể yêu cầu bạn hít sâu vào sau đó thở ra chậm hết sức có thể tùy thuộc vào mục đích chuẩn đoán. Trong quá trình đo, kỹ thuật viên kẹp mũi của bạn bằng một cái kẹp mũi mềm để đảm bảo rằng bạn không thở ra đường mũi. Kỹ thuật viên có thể thực hiện lặp lại hơn ba lần để kiểm tra xem kết quả đọc được có giống nhau ở mỗi lần thổi.

    Các thông số giá trị khi đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký?

    Máy hô hấp ký đo được thể tích và tốc độ dòng khí bạn hít vào và thở ra. Các thông số máy ghi nhận được bao gồm:

      Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced expiratory volume in one second – FEV1). Đây là thể tích không khí mà bạn có thể thổi ra trong vòng một giây đầu tiên của thì thở ra. Bình thường bạn thường có thể thổi ra hầu hết không khí ra khỏi phổi trong vòng một giây.

    Những kết quả đo được thể hiện điều gì?

    Một kết quả đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký thường được thể hiện như sau:

    Kết quả hô hấp ký bình thường

    Một kết quả hô hấp ký bình thường sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, thể trạng, chủng tộc và giới tính. Giới hạn bình thường được thể hiện trên biểu đồ, và bác sĩ tham khảo biểu đồ này khi họ đánh giá kết quả đo của bạn.

    Hội chứng tắc nghẽn

    Gặp trong tình trạng hẹp hay tắc nghẽn đường hô hấp. Nguyên nhân chính gây nên hội chứng tắc nghẽn khi đo phế dung là hen phế quản và COPD. Vì thế, đo hô hấp ký có thể giúp chẩn đoán tình trạng bệnh. Nếu đường hô hấp bị hẹp hay tắc nghẽn, nó sẽ làm cho lượng không khí bạn thở ra nhanh giảm xuống. Vì vậy, chỉ số FEV1 sẽ giảm và tỷ lệ FEV1/FVC là thấp hơn so với bình thường. Theo quy ước, hội chứng tắc nghẽn xảy ra khi: Chỉ số FEV1/FVC thấp hơn 0,7, Chỉ số FEV1 có thể ít hơn 80% của giá trị dự đoán. Trong khi chỉ số FVC thường là bình thường hoặc gần bình thường. Đánh giá sau thử thuốc giãn phế quản – test dãn phế quản. Kết quả đo hô hấp ký cải thiện nếu đường hô hấp bị hẹp trở nên rộng hơn sau khi xịt thuốc. Ở bệnh nhân COPD, bác sĩ thường dung chỉ số FEV1 sau thử thuốc để đánh giá mức độ tắc nghẽn.Đối với bệnh lý hen phế quản, thường kết quả sau thử thuốc giãn phế quản cải thiện đáng kế, tuy nhiên ở bệnh COPD thường đáp ứng cải thiện kém. Theo một số hướng dẫn, các giá trị sau đây giúp chẩn đoán mức độ tắc nghẽn khi đo hô hấp ký:

    Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

    Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký, phản ánh gián tiếp qua chỉ số FVC thấp hơn so với giá trị dự đoán. Hội chứng này thường thấy ở nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ảnh hưởng đến mô phổi, hoặc khả năng của phổi khi giãn ra và giữ một lượng khí. Những tình trạng này là do xơ hóa hay sẹo phổi làm cản trở quá trình hít thở. Một số dị tật trong quá trình phát triển của phổi cũng có thể gây ra khiếm khuyết hạn chế này. Chỉ số FEV1 cũng sẽ bị giảm xuống, nhưng đây là do tương ứng với FVC giảm. Vì vậy, khi bị hội chứng hạn chế tỷ lệ FEV1/FVC là bình thường.

    Sự kết hợp hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

    Trong trường hợp này bạn có thể có hai tình trạng – ví dụ, bệnh hen phế quản cộng với một rối loạn phổi khác. Ngoài ra, một số tình trạng phổi có dấu hiệu của cả hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế. Ví dụ: ở bệnh xơ nang (cystic fibrosis) , có rất nhiều chất nhầy trong đường hô hấp, gây hẹp đường hô hấp (thể hiện phần tắc nghẽn), và gây tổn thương mô phổi (thể hiện phần gây hạn chế).

    Đo hô hấp ký có giống với máy đo lưu lượng đỉnh không (peak flow)?

    Không. Một máy đo lưu lượng đỉnh là một thiết bị nhỏ để đo tốc độ không khí mà bạn có thể thổi ra nhanh khỏi phổi. Giống như đo hô hấp ký, nó có thể phát hiện hẹp đường hô hấp. Nó thuận tiện hơn đo hô hấp ký và thường được sử dụng để giúp chẩn đoán hen phế quản. Nhiều người bị bệnh hen phế quản cũng sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh để theo dõi bệnh. Đối với những người bị COPD, đọc lưu lượng đỉnh có thể đưa ra chẩn đoán sơ bộ về chứng hẹp đường hô hấp, nhưng nó có thể đánh giá không đúng về độ nghiêm trọng của bệnh COPD. Do đó, đo hô hấp ký vẫn là xét nghiệm chính xác hơn để chẩn đoán và theo dõi những người bị COPD.

    Trước khi đo hô hấp ký cần chuẩn bị những gì?

    Làm theo các hướng dẫn trước khi đo hô hấp ký ở cơ sở xét nghiệm mà bạn được đo xét nghiệm này. Các hướng dẫn có thể bao gồm những điều như: không sử dụng thuốc hít hoặc uống có tác dụng làm giãn phế quản trong một thời gian định sẵn trước khi tiến hành xét nghiệm (một vài giờ hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào loại thuốc hít). Ngoài ra, không được dùng rượu, ăn quá no, hoặc tập thể dục mạnh trong một vài giờ trước khi xét nghiệm. Tốt nhất, bạn không nên hút thuốc trong vòng 24 giờ trước khi xét nghiệm.

    Đo hô hấp ký có thể gặp những nguy cơ gì?

    Đo hô hấp ký là một xét nghiệm có nguy cơ rất thấp (ít gây hại). Tuy nhiên, việc thổi ra mạnh có thể làm tăng áp lực trong lồng ngực, bụng và mắt. Vì vậy, không nên tiến hành đo hô hấp ký nếu bệnh nhân có các tình trạng sau đây:

      Đau thắt ngực không ổn định.

    Thử nghiệm đảo ngược – Test đáp ứng thuốc giãn phế quản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp, Gia Lộc Cnc
  • Bế Mạc Lớp Tập Huấn Đào Tạo Giảng Viên Và Hướng Dẫn Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Lớp Tập Huấn Đào Tạo Giảng Viên Và Hướng Dẫn Đo Chức Năng Hô Hấp Dự Án 2012
  • Đào Tạo “thực Hành Đo Chức Năng Hô Hấp Cho Các Kỹ Thuật Viên”
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Màn Hình Màu Spriolab Iii Mir
  • Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Các Cơ Quan Trong Hệ Hô Hấp Và Chức Năng Của Chúng
  • Câu 1: Việc Tải File Dữ Liệu Từ Internet Bị Chậm Là Do Nguyên Nhân, Bạn Sử Dụng Lựa Chọn Nào?
  • Chọn Color Scheme (Bảng Màu) Của Riêng Bạn
  • Powerpoint (Phần 1): Kĩ Năng Cơ Bản
  • Medlatec : Gói Xét Nghiệm Chức Năng Tuyến Giáp: T3, Ft4, Tsh
  • 1. Đối với nhóm động vật ở nước

    Động vật sống ở nước hô hấp chủ yếu bằng mang. Mang là những màng mỏng có nhiều mao mạch phân bố đến và đính vào cung mang bằng sụn hay xương, thường nằm ở vùng phía trước ống tiêu hoá. Mang có bề mặt rộng và khoảng cách rất ngắn nên O 2 và CO 2 có thể khuếch tán giữa nước và máu. O 2 khuếch tán từ nước vào biểu bì mang, rồi qua thành mao mạch vào máu. CO2 (thường vận chuyển dưới dạng HCO 3, bicarbonat) khuếch tán theo hướng ngược lại.

    Mang cá có hình răng lược, có khe hở để nước chảy qua và có nắp đậy kín. Mang cá có đặc điểm là nước và dòng máu chảy theo các hướng ngược nhau. Nhờ vậy mà máu có thể thu nhận O 2 tới 80% O 2 hoà tan trong nước.

    Cá thở bằng mang theo cách há miệng đồng thời mở nắp mang để hút nước (nhờ cử động bơm của hàm và nắp mang), sau đó cá ngậm miệng và khép mang lại từ từ để thu hẹp khoảng trống làm tăng áp lực của dòng nước, nước trào qua khe nắp mang ra ngoài. Chính khi nước được ép qua các lá mang, quá trình trao đổi khí được thực hiện (hình 4.1).

    Ở động vật có bề mặt da mỏng, sống ở môi trường ẩm ướt, như giun đất, hoặc ở bọn lưỡng cư (ếch nhái), O2 khuếch tán qua da rồi vào trong các mao mạch máu nằm ngay dưới bề mặt da và CO2 theo hướng ngược lại.

    2. Đối với nhóm động vật trên cạn và người

    Động vật trên cạn (cả trên không) và người cơ quan hô hấp là khí quản và phổi.

    * Ở côn trùng, hệ thống trao đổi khí là hệ khí quản. Khí quản phân nhánh rất nhỏ đến từng tế bào để cung cấp O2 và lấy CO2, mà không cần có máu làm trung gian, nhờ thế mà các mô của cơ thể trao đổi khí trực tiếp với môi trường bên ngoài.

    * Từ bò sát đến người sự trao đổi khí xảy ra qua bề mặt hô hấp của phổi. Bộ máy hô hấp gồm đường dẫn khí và phổi. Đường dẫn khí gồm: khoang mũi, thanh quản, phế quản và tận cùng của đường hô hấp là phế nang.

    Ở động vật có xương sống và người cơ quan hô hấp hình thành từ ống tiêu hoá sơ cấp. Chổ tiếp giáp giữa đường tiêu hoá và đường hô hấp ở đoạn hầu thành ngã tư, nên nhiều khi gây tai biến (thức ăn đi nhầm đường vào khí quản, gây sặc; giun từ thực quản đột nhập vào phổi gây ho ra máu).

    Trong bào thai cơ quan hô hấp xuất hiện từ tuần thứ 4 và hình thành ở tháng thứ 6.

    Khoang mũi gồm hai lỗ mũi trước thông với bên ngoài, hai lỗ mũi sau phía trong thông với nhau và thông với hầu ở phía dưới, đồng thời thông với hai tai giữa bởi hai vòi Eustache. Khoang mũi được tách ra từ khoang miệng, phía trên khoang mũi có nhiều tế bào thụ cảm khứu giác làm chức năng khứu giác. Khoang phía dưới còn gọi là khoang hô hấp, có nhiều tế bào tiết dịch nhầy, sâu vào phía trong dịch nhầy loảng hơn để làm ẩm không khí. Trên màng nhầy vùng phía sau có các lông rung (lông thịt), hướng từ trong ra ngoài, khi có chất bẩn, bụi… vào sẽ được chất nhầy quyện lại để tống ra ngoài nhờ vận động phản xạ của lông rung. Dưới màng nhầy là mạng mạch máu dày có chức năng sưởi ấm không khí.

    Trong khoang mũi còn có ba đôi sụn xoăn chia khoang mũi ra ba ngách: ngách thông trên, ngách thông giữa và ngách thông dưới, các ngách này thông với xoang trán, xoang hàm trên và xoang sàng, xoang bướm. Cấu tạo này càng làm rộng thêm cho xoang hô hấp và còn có tác dụng như cơ quan cộng hưởng khi phát âm.

    Thanh quản là một phần của cơ quan hô hấp có chức năng phát âm. Cấu trúc này có thể nhìn thấy ở bên ngoài như là “quả táo Ađam”.Thanh quản cấu tạo bởi các sụn như sụn giáp, sụn nhẫn, sụn phễu, sụn thanh thiệt. Sụn thanh thiết hoạt động như cái van, đóng lại khi nuốt không cho thức ăn vào khí quản. Niêm mạc lót mặt trong thanh quản có nhiều tuyến chùm tiết nhầy. Trên lớp tế bào thượng bì cũng có các lông thịt rung để đẩy vật lạ ra khỏi đường hô hấp. Trong lòng thanh quản có khe thanh môn và dây thanh âm, dây thanh âm cấu tạo gồm hai bó mô liên kết. Khi phát âm, không khí đi ra làm rung dây thanh âm. Mức độ căng của dây làm tần số rung của dây thay đổi tạo thành âm cao hay âm thấp. Dây càng căng âm càng cao. Tần số rung của dây thanh âm còn được điều khiển bởi hệ cơ trong thanh quản. Ở người các âm thanh được tạo ở thanh quản kết hợp với mũi, miệng, hầu và các xoang tạo thành một hệ cộng hưởng phức tạp, dưới sự điều khiển của hệ thần kinh chúng đã tạo ra tiếng nói, ở nam các dây thanh âm rộng và dày hơn nữ, do đó âm thanh phát ra trầm hơn. Khi phát âm còn có sự tham gia của cử động má, môi, lưỡi.

    Khí quản là một ống gồm 16 – 20 vòng sụn hình chữ C, dài khoảng 10 cm. Ở thú và người đó là những vòng sụn hở ở phía sau nơi tiếp giáp với thực quản, tạo điều kiện cho sự nuốt của thực quản và làm cho khí quản cực kỳ đàn hồi, có thể phồng lên xẹp xuống theo hoạt động của phổi. Hơn nữa vì hai đầu các sụn khí quản không liền nhau nên đường kính của khí quản tăng lên khi ho, giúp cho khí quản có thể dễ dàng tống các vật cản ra ngoài. Thành trong của khí quản cũng có nhiều màng nhầy và lông thịt rung.

    Ngang tầm đốt sống ngực IV và V khí quản được chia đôi thành hai phế quản trái và phải. Đến rốn phổi phế quản phải chia thành ba nhánh đi về ba thuỳ, còn phế quản trái chia thành hai nhánh đi vào hai thuỳ. Vì tim nằm lệch về phía trái nên lá phổi trái nhỏ hơn lá phổi phải (khoảng 10/11). Các phế quản chia nhỏ dần để đi vào từng phế nang, mỗi lần phân chia ống phế quản nhỏ dần và thành phế quản cũng mỏng dần cho đến khi chỉ là lớp cơ không có sụn bao quanh, đường kính dưới 1mm. Đó là các phế quản nhỏ, chúng lại tiếp tục phân chia và cuối cùng kết thúc ở phế nang. Các phế nang sắp xếp thành từng chùm trông giống như chùm nho và được cung cấp rất nhiều mao mạch. Mỗi phế nang có đường kính chỉ 100 – 300μm nhưng hai lá phổi có tới hơn 700 triệu phế nang nên tạo ra một diện tích bề mặt khoảng 140m2. Ở đây diễn ra quá trình trao đổi khí qua một lớp màng kép mỏng (một màng là của phế nang, một màng là của mao mạch). Đường kính mao mạch ở đây chỉ có 5μm, nên hồng cầu đi qua đây rất chậm, càng tạo điều kiện cho việc trao đổi khí.

    Phổi gồm hai lá, là tập hợp của phế nang và phế quản. Phổi khi sờ vào thì khá chắc nhưng thực tế lại rất đàn hồi. Nó có thể nở ra rất nhiều khi không khí tràn vào. Mỗi lá phổi được bọc kín bởi màng phổi, đó là màng gồm hai lớp. Lớp phủ sát trên bề mặt phổi gọi là lá tạng, còn lớp lót mặt trong của thành ngực gọi là lá thành, giữa hai lá có chứa dịch làm trơn giảm ma sát khi hai màng trượt lên nhau trong cử động hô hấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Nhiệm Vụ Cơ Quan Hô Hấp
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp?
  • Lý Thuyết Bài Hô Hấp Và Các Cơ Quan Hô Hấp
  • Bài 20. Hô Hấp Và Các Cơ Quan Hô Hấp
  • Thông Tư Hướng Dẫn Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Sở Nội Vụ Và Phòng Nội Vụ.
  • Đặc Điểm Hình Thái, Chức Năng Hệ Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì?
  • Test Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Các Chỉ Số Trong Kết Quả Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Lồng ngực là một hộp cứng, kín chứa phổi và tim là 2 cơ quan chính ở bên trong, xung quanh là khung xương bao bọc. Lồng ngực có khả năng thay đổi thể tích được là nhờ Khung xương và các cơ hô hấp

    1. Lồng ngực – khung xương

    Lồng ngực là một hộp cứng, kín chứa phổi và tim là 2 cơ quan chính ở bên trong, xung quanh là khung xương bao bọc.

    Lồng ngực có khả năng thay đổi thể tích được là nhờ:

    – Khung xương: khung xương được tạo thành từ các xương: 10 đốt sống ngực ở phía sau, xương ức ở phía trước, 10 đôi xương sườn nối giữa 10 đốt sống ngực và xương ức, xương sườn là các cung xương xếp theo hướng từ sau ra trước và từ trên xuống dưới.

    – Các cơ hô hấp:

    + Các cơ tham gia vào động tác hít vào bình thường: cơ hoành (cơ này có diện tích khoảng 250 cm 2) khi cơ này co lại làm tăng kích thước lồng ngực theo chiều trên – dưới). Các cơ liên sườn ngoài và liên sườn trong, cơ gai sống, cơ răng to, cơ thang, khi các cơ này co làm cho xương sườn nâng lên, làm tăng kích thứoc lồng ngực theo chiều trước – sau và trái – phải.

    + Các cơ tham gia vào động tác hít vào cố gắng: cơ ức đòn chũm, cơ ngực to, các cơ chũm (khi các cơ này co có tác dụng tăng thêm thể tích lồng ngực hơn nữa).

    2. Hệ thống đường dẫn khí

    a. Đặc điểm hình thái của đường dẫn khí

    Đường dẫn khí gồm: mũi, hoặc miệng, họng, thanh quản, khí quản, phế quản (phế quản gốc trái và phải phân chía từ 17- 20 lần), các tiểu phế quản, các tiểu phế quản tận, phế nang, các ống – túi phế nang và các phế nang.

    + Đường hô hấp trên: gồm mũi miệng, hầu và thanh quản.

    + Đường hô hấp dưới bắt đầu từ khí quản đến phế quản và các tiểu phế quản (gọi chung là khí – phế quản).

    Cấu tạo thành khí – phế quản lớn có những vòng sụn hình chữ C, nối hai đầu vòng sụn là các sợi cơ trơn, ở hệ thống phế quản nhỏ hơn có cấu tạo bằng các mảnh sụn xếp theo hình tròn nối giữa các mảnh sụn là các sợi cơ trơn (cơ Reissessen) ở các tiểu phế quản tận không có sụn chỉ có các cơ trơn.

    Đường dẫn khí dưới được phủ một lớp biểu mô lát mặt trong, có xen kẽ các tuyến tiết nhày và tiết nước, phía trên lớp biểu mô có hệ thống lông mao luôn luôn chuyển động theo hướng về phía hầu. Các tuyến ở lớp biểu mô luôn tiết dịch nhày và có tác dụng làm bám dính các hạt bụi, vi khuẩn…

    b. Chức năng của đường dẫn khí

    – Chức năng dẫn khí: là chức năng quan trọng nhất, chỉ được thực hiện tốt khi đường dẫn khí được thông thoáng. Bình thường không khí ra vào phổi rất dễ dàng, chỉ cần có sự chênh lệch áp suất < 1cm H 2 O là đủ để không khí di chuyển từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp trong động tác hô hấp. Để đánh giá mức độ thông thoáng của đường dẫn khí chúng ta có thể đo sức cản đường dẫn khí. Sức cản của đường dẫn khí phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:

    + Thể tích phổi, khi hít vào sức cản của đường dẫn khí giảm xuống, khi thở ra sức cản của đường dẫn khí tăng lên.

    + Sự co của cơ trơn ở các tiểu phế quản.

    + Mức độ phì đại của niêm mạc đường dẫn khí.

    + Lượng dịch tiết ra trong lòng đường dẫn khí.

    Chức năng bảo vệ được thực hiện ngay từ khi không khí qua mũi. Hệ thống lông mũi có tác dụng cản các hạt bụi to và chỉ có những hạt bui có kích thước < 5 micromet (còn gọi là bụi hô hấp) mới vào được phế nang.

    Từ thanh quản đến các tiểu phế quản tận có phủ lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển. Các lông rung chuyển động một chiều từ trong ra ngoài, có tác dụng đẩy các chất nhày ra khỏi đường dẫn khí, do đó có tác dụng làm sạch đường dẫn khí.

    Lớp dịch nhày và sự chuyển động của hệ thống lông mao trên bề mặt của các biểu mô lát mặt trong của đường dẫn khí có tác dụng bám dính các hạt bụi, vi khuẩn… và đẩy chúng ra ngoài. Cơ chế này còn được gọi là cơ chế làm sạch không khí hữu hiệu. Hàng rào bảo vệ cơ thể của đường dẫn khí theo cơ chế nêu trên tuy mang tính cơ học nhưng đóng vai trò quan trọng để đảm bảo cho đường thở luôn luôn vô khuẩn. Nếu vì do một nguyên nhân nào đó (các chất hóa học độc hại, khói thuốc lá…) làm liệt chuyển động của hệ thống lông mao thì cũng có thể dẫn đến tình trạng dễ mắc các bệnh nhiễm trùng phổi.

    – Chức năng làm ấm và bão hòa các hơi nước của không khí khi hít vào:

    Đặc điểm cấu trúc của đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới có tác dụng làm cho không khí hít vào được sưởi ấm lên đến nhiệt độ của cơ thể là 37 0 C và được bão hòa hơi nước nhờ hệ thống mao mạch phong phú của đường dẫn khi và nhờ có các tuyến tiết nước, tiết nhày trong lớp biểu mô lát trong đường dẫn khí.

    Như vậy, không khí khi hít vào đến phế nang được làm sạch nhờ chức năng bảo vệ, được làm ấm bằng nhiệt độ cơ thể và đựoc bão hòa hơi nước. Đây là những điều kiện tối ưu để cho không khí ở phế nang đi vào quá trình trao đổi khí.

    – Các chức năng khác của đường dẫn khí:

    Ngoài các chức năng kể trên, đường dẫn khí còn có một số chức năng khác như: chức năng phát âm, chức năng góp phần biểu lộ tình cảm thông qua các biểu hiện lời nói, cười, khóc…

    3. Phổi

    Phổi nằm trong lồng ngực. Phổi phải có 3 thùy, phổi trái có 2 thùy. Các thùy lại chia làm nhiều tiểu thùy. Đơn vị cấu tạo là các phế nang.

    Phế nang là các túi chứa khí, miệng phế nang mở thông với các tiểu phế quản tận cùng. Ở ngoài có khoảng 300 triệu phế nang với tổng diện tích khoảng 70 m 2.

    Thành phế nang tiếp xúc với một lưới mao mạch dày đặc, thành phế nang và thành mao mạch phổi tạo ra màng trao đổi khí giữa máu và phế nang, cồn gọi là màng hô hấp.

    4. Phế nang và màng hô hấp

    a. Phế nang

    Phế nang là đơn vị cuối cùng của phổi, thực hiện quá trình trao đổi khí. Phế nang được các mao mạch phổi bao bọc như một mạng lưới. Mỗi phế nang như một cái túi nhỏ, nhận không khí từ nhánh tận cùng của cây phế quản là các ống phế nang. Từ các ống phế nang có các túi phế nang và đến các phế nang. Ở người có khoảng 300 triệu phế nang và có diện tích tiếp xúc giữa phế nang và mao mạch là khoảng 70-120 m 2.

    Phế nang được cấu tạo gồm một lớp biểu mô phế nang, trên bề mặt của lớp biểu mô phế nang có phủ một lớp dịch – là chất hoạt diện còn được gọi là lớp Surfatant có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của các phế nang, tham gia ổn định kích thước phế nang. Lớp biểu mô phế nang có 2 loại tế bào:

    + Tế bào phế nang nhỏ (typ I) trải dài theo thành phế nang. Là tế bào lót nguyên thủy của phế nang, nó mẫn cảm với mọi đột nhập có hại vào phế nang.

    + Tế bào phế nang lớn (typ II) thường đứng thành cụm từ 2 đến 3 tế bào. Trong bào tương của tế bào, dưới kính hiển vi điện tử người ta thấy chúng có hai loại khác nhau: loại tế bào phế nang lớn có nhiều ty thể và loại tế bào phế nang lớn có nhiều lysosom. Người ta cho rằng đây là hai giai đoạn hoạt động và phát triển của tế bào phế nang lớn.

    Tế bào phế nang lớn có khả năng bài tiết chất hoạt diện.

    Các phế nang có thành phế nang hay còn gọi là lớp màng đáy phế nang. Lớp này tiếp xúc với mô liên kết nằm ở khoảng kẽ giữa các phế nang hoặc tiếp xúc trực tiếp với thành mao mạch phế nang. Nơi tiếp giáp giữa phế nang và mao mạch là nơi xảy ra quá trình trao đổi khí còn được gọi là màng hô hấp.

    b. Màng hô hấp

    Màng hô hấp là đơn vị hô hấp của phế nang, là nơi tiếp xúc giữa phế nang và mao mạch, nơi trực tiếp xảy ra quá trình trao đổi khí. Nghiên cứu dưới kính hiển vi điện tử, màng hô hấp có cấu tạo gồm 6 lớp.

    • 1. Lớp chất hoạt diện (Surfactant): là lớp phủ trên lớp biểu mô phế nang có khả năng thay đổi sức căng bề mặt trong lòng phế nang.
    • 2. Lớp biểu mô phế nang có lớp tế bào phế nang nhỏ và tế bào phế nang lớn.
    • 3. Lớp màng đáy phế nang là thành phế nang lót ở lớp biểu mô phế nang tiếp giáp với lớp liên kết hoặc lớp màng đáy mao mạch, nó được cấu tạo bởi lớp chất tạo keo.
    • 4. Lớp liên kết hay còn gọi là lớp khoảng kẽ có các sợi liên kết, sợi chun, đôi khi người ta bắt gặp xác của đại thực bào ăn mỡ hoặc ăn bụi trong lớp liên kết này.
    • 5. Lớp màng đáy mao mạch, nó là thành mao mạch, là lớp lót dưới nội mao mạch và cũng được cấu tạo bởi lớp chất tạo keo.
    • 6. Lớp nội mao mạch được cấu tạo bởi các tế bào nội mạc và có cấu tạo giống như các tế bào phế nang nhỏ.

    Màng hô hấp tuy được cấu tạo bởi 6 lớp nhưng nó rất mỏng, bề dày trung bình của màng hô hấp chỉ khoảng 6 micromet, có chỗ chỉ khoảng 0,2 micromet. Ở người trưởng thành diện tích của màng hô hâp khoảng 50-100 m 2 và lượng máu chứa trong hệ mao mạch phổi khoảng 60-140 ml. Đường kính mao mạch chỉ khoảng 5 micromet trong khi đó đường kính hồng cầu khoảng 7 micromet, do đó khi đi qua mao mạch hồng cầu phải “tự kéo dài ra” mới đi lọt, tạo điều kiện cho quá trình khuếch tán khí được dễ dàng.

    (Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !

    Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Xét Nghiệm Ggt Trong Máu
  • Xét Nghiệm Ggt Đánh Giá Chỉ Số Men Gan
  • Phân Tích Chỉ Số Ggt Bao Nhiêu Là Cao
  • Kết Quả Xét Nghiệm Ggt Cao Cảnh Báo Điều Gì Về Sức Khỏe Gan?
  • Chỉ Số Xét Nghiệm Ggt Khi Nào Đáng Lo Ngại?
  • Bài 15: Hệ Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chăm Sóc Sức Khỏe Đường Hô Hấp Cho Bé Nhờ Thực Phẩm Chức Năng
  • Thực Phẩm Chức Năng Các Bệnh Về Hô Hấp
  • Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp Phù Hợp Với Chức Năng Của Chúng?
  • Bệnh Nhân Cần Chuẩn Bị Gì Trước Khi Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Nghiên Cứu Vai Trò Của Ghi Hình Tưới Máu Phổi Phối Hợp Với Đo Thông Khí Ngoài Trong Tiên Lượng Chức Năng Hô Hấp Sau Mổ Cắt Bỏ Một Phần Phổi
  • ■Giải thích sự khuếch tán khí trong hô hấp ngoài và hô hấp trong.

    ■ Mô tả sự vận chuyển oxy và carbon dioxide vào trong máu.

    ■ Giải thích cơ chế thần kinh và hóa học điều hòa hô hấp.

    ■ Giải thích sự ảnh hưởng của hô hấp đến pH dịch cơ thể.

    II.THUẬT NGỮ MỚI:

    • Alveoli (al-VEE-oh-lye) – phế quản. Alveolus. Bronchial tree (BRONG-kee-uhl TREE) -cây phế quả
    • Epiglottis (ep-i-GLAH-tis) nắp thanh môn.
    • Glottis (GLAH-tis) thanh môn
    • Intrapleural pssure (IN-trah-PLOOR-uhl PRES-shur) áp suất trong KMP
    • Intrapulmonic pssure (IN-trah-pull- MAHN-ik PRES-shur) áp suất trong phổi Larynx (LA-rinks) thanh quản
    • Partial pssure (PAR-shul – PRES-shur)áp suất riêng phần.
    • Phrenic nerves (FREN-ik NURVZ)thần kinh hoành.
    • Pulmonary surfactant (PULL-muh-ner-ee sir-FAK-tent) lớp chất hoạt diện
    • Residual air (ree-ZID-yoo-al AIR) khí cặn.
    • Respiratory acidosis (RES-pi-rah-TOR-eeass-i-DOH-sis) toan hô hấp.
    • Respiratory alkalosis (RES-pi-rah-TOR-eeal-kah-LOH-sis) kiềm hô hấp
    • Soft palate (SAWFT PAL-uht) khẩu cái mềm.
    • Tidal volume (TIGH-duhl -VAHL-yoom)thể tích khí lưu thông
    • Ventilation (VEN-ti-LAY-shun) thông khí
    • Vital capacity (VY-tuhl kuh-PASS-i-tee) dung tích sống.

    III. THUẬT NGỮ LÂM SÀNG:

    • Cyanosis (SIGH-uh-NOH-sis) – chứng xanh tím.
    • Dyspnea (DISP-nee-ah or disp-NEE-ah) chứng khó thở
    • Emphysema (EM-fi-SEE-mah) khí phế thũng
    • Heimlich maneuver (HIGHM-lik-ma-NEW-ver) nghiệm pháp Heimlich
    • Hyaline membrane disease(HIGH-e-lin MEM-brain di-ZEEZ) Bệnh màng trong (HMD)
    • Pneumonia (new-MOH-nee-ah)viêm phổi
    • Pulmonary edema (PULL-muh- ner-ee uh-DEE-muh) phù phổi
    • Pneumothorax (NEW-moh-THAW-raks) tràn khí màng phổi

    IV. NỘI DUNG:

    Đôi khi ta miêu tả một thói quen “tự nhiên như việc thở vậy”. Đúng vậy, điều gì có thể tự nhiên hơn thế.Chúng ta hiếm khi để ý đến hít thở và cũng không mong đợi nó đến, giống như việc ta trông ngóng một bữa tối vậy. Chúng ta hít thở, thường với tần số 12 đến 20 phịp/phút, và nhanh hơn nếu cần (như khi tập thể dục). Bạn có thể nghe về việc các ca sỹ học cách thở, nhưng thực chất họ học cách làm sao để việc thở trở nên hiệu quả hơn.

    Hầu hết hệ hô hấp là những gì chúng ta luôn nghĩ về hít thở: không khí đi vào và ra khỏi hai phổi. Phổi là nơi trao đổi oxy và carbon dioxide giữa không khí và máu, Cả hai sự trao đổi này đều quan trọng. Tất cả các tế bào cần oxy để thực hiện quá trình hô hấp tế bào sản xuất ra ATP. Quan trọng không kém là quá trình đào thải lượng CO2 được tạo ra. CO2 được coi là chất cặn bã của hô hấp tế bào. Và như chúng ta đã biết, hệ tuần hoàn là một phần không thể thiếu trong quá trình vận chuyển các khí này trong máu.

    PHÂN CHIA HỆ HÔ HẤP:

    Hệ hô hấp được chia thành đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Đường hô hấp trên bao gồm các bộ phận nằm ngoài khoang ngực: mũi, các khoang mũi, hầu, thanh quản, và phần trên của khí quản. Đường hô hấp dưới gồm các bộ phận nằm trong khoang ngực: phần dưới của khí quản, và hai phổi, mà trong đó chứa nhiều phế quản và phế nang. Ngoài ra, hệ hô hấp còn bao gồm màng phổi và các cơ hô hấp hình thành nên khoang ngực: cơ hoành và cơ liên sườn.

    2. HẦU:

    Hầu (pharynx) là một ống cơ nằm phía sau mũi và khoang miệng và phía trước cột sống cổ. Về hình thể, hầu được chia làm 3 phần: hầu mũi (tỵ hầu), hầu miệng (khẩu hầu) và hầu thanh quản (hạ hầu, thanh hầu) (Hình 15 – 1)

    Phần trên nhất là tỵ hầu (nasopharynx), nằm sau ổ mũi. Khẩu cái mềm (soft palate) được nâng lên trong khi nuốt để cản tỵ hầu, ngăn thức ăn hay nước bọt trào ngược lên trên. Lưỡi gà (uvula) là một phần của khẩu cái mềm có thể nhìn thấy ở phía sau họng. Ở thành sau của tỵ hầu có hạnh nhân hầu, một mô lympho chứa các đại thực bào. Mở vào phần tỵ hầu là 2 vòi tai (ống Eustache), kéo dài tới khoang tai giữa. Vai trò của vòi tai là cho phép khí đi vào hay ra khỏi vùng tai giữa, giúp màng nhĩ rung động đúng cách.

    Tỵ hầu là đường chỉ cho khí đi qua, nhưng các phần còn lại của hầu đều cho phép cả khí và thức ăn đi qua, mặc dù không cùng lúc. Khẩu hầu (oropharynx) nằm phía sau miệng; niêm mạc là lớp biểu mô trụ giả tầng, liên tiếp với ổ miệng. Cùng với hạnh nhân hầu và các hạnh nhân lưỡi nằm ở nền lưỡi, chúng tạo nên vòm bạch huyết quanh hầu, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh thâm nhập vào niêm mạc.

    Thanh hầu (laryngopharynx) là phần dưới nhất của hầu. Nó mở ra phía trước là thanh quản và sau là thực quản. Sự co cơ ở khẩu hầu và thanh hầu là một phần của phản xạ nuốt.

    3. THANH QUẢN:

    Thanh quản (larynx) l à bộ phận quan trọng giúp ta phát ra được âm thanh. Chức năng khác của nó là đường dẫn khí giữa hầu và khí quản. Đường dẫn khí luôn phải đảm bảo mở trong mọi lúc, vì vậy thanh quản được cấu tạo bởi 9 vòng sụn nối với nhau bởi các dây chằng. Sụn là một mô cứng chắc nhưng linh hoạt, ngăn cản sự xẹp thanh quản. Trong khi đó, thực quản (nằm phía sau thanh quản) là một ống cơ dễ xẹp xuống, trừ khi nó đang chưa thức ăn ở bên trong.

    Sụn lớn nhất của thanh quản là sụn giáp (thyroid cartilage) (Hình 15 – 2), ta có thể sờ thấy nó ở ngay phía trước cổ. Sụn nắp thanh môn (epiglottis cartilage, sụn thượng thiệt) nằm ở trên cùng. Trong khi nuốt, thanh quản được nâng lên và nắp thanh môn đóng lại, giống như một cách cửa hay nắp có bản lề, ngăn chặn sự xâm nhập của nước bọt hay thức ăn vào thanh quản.

    Niêm mạc của thanh quản là biểu mô có lông chuyển, trừ các dây âm thanh (biểu mô lát tầng không sừng hóa). Các lông chuyển trên bề mặt biểu mô “quét” liên tục để loại bỏ chất nhầy, bụi bẩn và các vi sinh vật.

    Các dây âm thanh (vocal cords) (hay vocal folds) nằm ở hai bên thanh môn (glottis), phần mở ra ở giữa hai dây này. Trong khi thở, các dây thanh âm được giữ nguyên bên cạnh thanh môn, nên khí di chuyển tự do vào và ra khỏi khí quản (HÌnh 15 – 3). Trong khi nói, các cơ trong thanh quản kéo chúng ngang qua thanh môn, và khi thở ra, khí làm rung dây thanh âm sản sinh ra âm thanh có thể chuyển thành lời nói. Ta cũng có thể nói

    4. KHÍ QUẢN VÀ CÂY PHẾ QUẢN:

    Khí quản (trachea) dài khoảng 4 đến 5 inch (10-13 cm), kéo dài từ thanh quản đến phế quản chính; nằm phía trước thực quản. Nếu bạn đặt tay vào nền cổ, ngay trên xương ức, sẽ sờ thấy cấu trúc hình ống cứng của khí quản. Thành khí quản chứa 16-20 vòng sụn hình chữ C, giúp khí quản luôn mở. (Hình 15 – 2 và15 – 4). Có khuyết ở phía sau các vòng sụn, cho phép thực quản mở rộng hơn khi nuốt thức ăn. Niêm mạc của khí quản là biểu mô trụ có lông chuyển, có tế bào goblet (xem Hình 4 – 3 phần C chương 4). Gióng như ở thanh quản, các lông chuyển quét lên phía trên về hầu.Phế quản chính (primary bronchi) trái hay phải (Hình 15-4) là các nhánh của khí quản đi vào trong phổi, Cấu trúc của chúng giống với khí quản, với các vòng sụn hình chữ C và lót bởi biểu mô trụ có lông chuyển. Bên trong phổi, mỗi phế quản chính chia nhỏ thành phế quản thùy kéo dài đến các thùy tương ứng trong phổi (3 thùy phổi phải, 2 thùy phổi trái). Ống phế quản tiếp tục phân nhánh rồi tạo nên cây phế quản (bronchial tree). Tưởng tượng khí quản là thân của một cây bị lộn ngược với rất nhiều nhánh, càng ngày càng nhỏ; những nhánh nhỏ đó được gọi là các tiểu phế quản (bronchioles). Thành của các tiểu phế quản không có sụn; điều này rất quan trọng trong lâm sàng của bệnh hen suyễn (xem mục 15-1: Bệnh hen suyễn). Các tiểu phế quản tận nằm trong các cụm phế nang – các túi khí của phổi.

    Phổi (lungs) nằm hai bên tim trong khoang ngực và được bao bọc và bảo vệ bởi khung xương sườn. Đáy phổi nằm áp sát trên vòm hoành; đỉnh phổi nằm phía trên xương đòn. Ở giữa mỗi phổi có một diện lõm vào được gọi là rốn phổi (hilus), nơi phế quản chính và động tĩnh mạch phổi đi vào.

    Màng phổi gồm 2 lá thành và lá tạng. Lá thành (parietal pleura) bao mặt trong thành ngực, và lá tạng (visceral pleura) bao mặt ngoài phổi. Giữa hai lá màng phổi là thanh dịch, giảm ma sát và giúp hai màng trượt dễ dàng lên nhau khi thở.

    Sự thông khí (ventilation) là thuật ngữ chỉ quá trình không khí đi vào và ra khỏi phế nang. Quá trình này gồm hai phần: hít vào và thở ra, được điều phối bởi hệ thần kinh và các cơ hô hấp. Các trung tâm hô hấp nằm trên hành não và cầu não. Chức năng cụ thể của chúng sẽ được đề cập ở phần sau, nhưng hành não chính là nơi tạo xung đến các cơ hô hấp.

    Các cơ hô hấp là cơ hoành và các cơ liên sườn trong và ngoài (Hình 15 – 6). Cơ hoành (diaphragm) là một cơ hình vòm phía dưới phổi; khi co lại, cơ hoành đi xuống dưới. Các cơ liên sườn nằm giữa các xương sườn. Các cơ liên sườn ngoài (external intercostal muscles) kéo xương sườn lên trên và ra ngoài. Các cơ liên sườn trong (internal intercostal muscles) kéo xương sườn xuống dưới và vào trong. Sự thông khí là kết quả của sự vận động các cơ hô hấp tạo nên áp suất khác biệt giữa phế nang và cây phế quản.

    Đối với quá trình hô hấp, có 3 loại áp suất rất quan trọng:

    1. Áp suất khí quyển (Atmospheric pssure) – áp suất của không khí quanh chúng ta. Áp suất khí quyển ở ngang mực nước biển là 760mmHg. Ở nơi cao hơn, áp suất sẽ thấp hơn.

    2. Áp suất khoang màng phổi (Intrapleural pssure) –

    áp suất trong khoang ảo giữa lá thành và lá tạng màng phổi. Nó có chức năng rất quan trọng. Một lớp mỏng thanh dịch giúp hai lá màng phổi dính vào nhau. Áp suất khoang màng phổi thường nhỏ hơn áp suất khí quyển (khoảng 756 mmHg) nên được gọi là áp suất “âm”. Phổi đàn hồi làm cho lá thành và lá tạng tách rời nhau. Tuy nhiên, lượng dịch huyết thanh ngăn cản sự tách rời của 2 lá này (xem mục 15-3: Bệnh tràn khí màng phổi)

    3. Áp suất bên trong phổi (Intrapulmonic pssure) là áp suất bên trong cây phế quản và phế nang. Áp suất dao động, cao hơn hoặc nhỏ hơn áp suất khí quyển trong mỗi chu kỳ thở.

    Khi hai phổi mở rộng, áp lực bên trong phổi giảm xuống nhỏ hơn áp suất khí quyển, khí sẽ qua mũi đi vào các đường dẫn khí tới các phế nang. Quá trình này diễn ra cho đến khi áp suất trong phổi bằng áp suất khí quyển; đó là quá trình thở vào bình thường. Tất nhiên, quá trình này còn kéo dài thêm nữa, đó là khi ta hít sâu. Khi đó đòi hỏi các cơ hô hấp co mạnh hơn để mở rộng phổi, cho phép nhiều khí đi vào hơn.

    2. THÌ THỞ RA:

    Thì thở ra (exhalation) hay còn gọi là expiration, bắt đầu khi xung vận động từ hành não giảm kích thích và cơ hoành cùng cơ liên sườn ngoài giãn. Vì vậy, khoang ngực giảm thể tích, phổi xẹp xuống, và các mô liên kết có tính đàn hồi – các mô bị căng ra trong quá trình hít vào, giãn ra làm thu nhỏ các phế nang. Khi áp lực trong phổi tăng lên cao hơn áp suất khí quyển, khí bị buộc ra khỏi phổi cho đến khi hai áp suất được cân bằng lại.

    Lưu ý rằng thì thở vào là một quá trình chủ động đòi hỏi sự co cơ, nhưng thì thở ra bình thường là một quá trình thụ động, do giãn các cơ và phụ thuộc vào mực độ đàn hồi của mô phổi. Nói cách khác, bình thường chúng ta cần dùng năng lượng để thở vào nhưng không cần khi thở ra (xem mục 15-4: Khí phế thũng).

    Tuy nhiên, chúng ta có thể vượt xa nhịp thở ra bình thường và đẩy được nhiều khí ra ngoài hơn, ví dụ như khi nói chuyện, hát, hay thổi bóng bay. ó là khi ta thở ra gắng sức – một quá trình chủ động đòi hỏi sự co cơ. Các cơ liên sườn trong co lại kéo các xương sườn đi xuống và vào trong, đẩy khí ra khỏi phổi. Các cơ bụng co lại, ví dụ như cơ thẳng bụng, ép các tạng trong ổ bụng và đẩy cơ hoành lên trên, khiến khí buộc phải đi ra khỏi phổi (xem mục 15-5: Nghiệm pháp Heimlich).

    Thể tích khí lưu thông (Tidal volume – TV) – thể tích

    1. khí lưu chuyển trong một lần hít vào và thở ra thông thường. Giá trị trung bình thể tích khí lưu thông ở người bình thường là 500ml, nhưng nhiều người có giá trị nhỏ hơn do nhịp thở nông.

    2. Thể tích thông khí phút (Minute respiratory volume – MRV) – lượng khí hít vào thử ra trong 1 phút. MRV bằng thể tích khí lưu thông nhân với tần số thở trong 1 phút (trung bình 12-20 nhịp/phút). Nếu TV trung bình là 500ml và tần số thở là 12 nhịp/ phút thì MRV = 6000ml/phút = 6l/phút. Với những bệnh nhân thở nông thì thể tích khí lưu thông thường nhỏ hơn giá trị trung bình nên

    3. Thể tích khí dự trũ hít vào (Inspiratory reserve) – lượng khí thu được khi cố gắng hít vào hết sức. Bình thường, thể tích dự trữ hít vào có giá trị từ 2000 đến 3000 ml.

    4. Thể tích khí dự trữ thở ra (Expiratory reserve) – lượng khí thu được khi cố gắng thở ra hết sức. Bình thường, thể tích dự trữ thở ra có giá trị từ 1000 đến 1500ml.

    5. Dung tích sống (Vital capacity) – tổng của thể tích khí lưu thông, thể tích dự trữ hít vào và thể tích dự trữ thở ra. Nói cách khác

    6. Thể tích khí cặn (Residual air volume) – lượng khí

    còn lại trong phổi sau khi đã thở ra hết sức; trung bình 1000 đến 1500ml. Thể tích khí cặn rất quan trọng để đảm bảo mọi thời điểm đều có khí trong phổi, để quá trình trao đổi khí liên tục, ngay cả giữa các lần thở.Một số thể tích được miêu tả phía trên được đo bởi phế khí (spirometers), dụng cụ ghi lại sự chuyển động của khí. Các ca sỹ hay nhạc sỹ chơi nhạc cụ hơi thường có dung tích sống lớn hơn so với chiều cao và độ tuổi vì các cơ hô hấp đã thay đổi theo chế độ luyện tập của họ. Điều này cũng giống với các vận động viên luyện tập thường xuyên. Tuy nhiên người mắc bệnh khí phế thũng cần năng lượng để thở ra, dung tích sống và thể tích dự trữ thở ra thường thấp hơn giá trị trung bình.

    SỰ TRAO ĐỔI KHÍ:

    Có hai vùng trao đổi khí oxy và carbondioxide: hai phổi và mô trong cơ thể. Sự trao đổi khí giauwx không khí trong phế nang và máu trong mạng mao mạch phổi đưuọc gói là hô hấp ngoài (external respiration). Thuật ngữ này có thể gây hiểu lầm vì ta thường cho rằng “bên ngoài” là nằm ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong trường hợp này, “bên ngoài” mang nghĩa là sự trao đổi trong đó bao gồm khí từ môi trường bên ngoài, mặc dù xảy ra bên trong phổi, trong cơ thể. Hô hấp trong (internal respiration) là sự trao đổi khí giữa máu trong mao mạch hệ thống và các mô của cơ thể.

    Khí ta hít vào (khí quyển) chứa khoảng 21% oxy và 0.04% carbon dioxide. Mặc dù hầu hết (78%) không khí là nito, khí này không có chức năng sinh lý trong cơ thể, nên ta đơn giản thở ra nguyên vẹn lượng nito hít vào. Khí thở ra chứa khoảng about 16% oxy và 4.5% carbon dioxide, vì vậy rõ ràng oxy còn được lưu lại một phần trong cơ thể và carbon dioxide từ tế bào sản xuất ra được đẩy ra ngoài.

    Quá trình vận chuyển của carbon dioxid phức tạp hơn một chút. Một số carbon dioxid hòa tan trong huyết tương, và một số được vận chuyển bởi hemoglobin (carbaminohemoglobin), nhưng chúng chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng CO2 vận chuyển. Hầu hết carbon dioxid vận chuyển trong máu dưới dạng ion

    bicarbonate (HCO3 ). Trước hết ta cùng nhìn lại các phản ứng chuyển CO2 thành ion bicarbonate.

    Khi carbon dioxid vào trong máu, hầu hết khuếch tán vào các tế bào hồng cầu, nơi chứa enzyme carbonic anhydrase. Enzyme này (chứa kẽm) xúc tác

    CO2 + H2O → H2CO3

    Sau đó acid carbonic phân ly:

    H2CO3 → H+ + HCO3-

    Các ion bicarbonate khuếch tán ra khỏi hồng cầu vào trong huyết tương, để lại các ion hydrogen (H+) vẫn còn trong hồng cầu. Quá nhiều ion H+ sẽ khiến tế bào hồng cầu dần bị acid hóa, nhưng hemoglobin hoạt động như một hệ đệm để ngăn cản tình trạng này. Để duy trì trạng thái cân bằng ion, ion chloride (Cl-) từ huyết tương đi vào tế bào hồng cầu; điều này đươc gọi là sự trao đổi clorua. Vậy CO2 ở đâu? Nó ở trong huyết tương như một phần của ion HCO3 . Khi máu tới phổi, vùng có PCO2 thấp, các phản ứng trên xảy ra theo thứ tự ngược lại, và CO2 được hình thành lại rồi khuếch tán vào phế nang để thải ra ngoài.

      CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA THẦN KINH:

    Các trung tâm hô hấp nằm ở hành não (medulla) và cầu não (pons), là những phần nằm trong thân não (Hình 15-9). Tronh hành não là trung tâm hít vào và thở ra.

    Trung tâm hít vào tự tạo xung theo nhịp. Các xung này di chuyển theo các dây thần kinh đến các cơ hô hấp để kích thích sự co cơ. Kết quả ta có sự hít vào. Và khi phổi phồng lên, các receptor nhận cảm áp suất của các tế bào trong phổi phát hiện sức căng này và tạo xung cảm giác đến hành não; các xung này sẽ ức chế trung tâm hít vào. Hiện tượng này được gọi là phản xạ Hering- Breuer , đồng thời cũng giúp ngăn cản phổi phồng lên quá to.

    Khi trung tâm hít vào bị ức chế, dẫn đến giảm xung tới các cơ hô hấp, khiến chúng giãn ra và bắt đầu thì thở ra. Rồi khi trung tâm hít vào hoạt động trở lại thì chu kỳ hít thở mới được bắt đầu. Khi cần thở ra mạnh hơn trong mọt số trường hợp, ví dụ như

    Nhưng có rất nhiều biến thể của nhịp thở bình thường, hơn thế chúng còn rất hay gặp. Xúc cảm thường ảnh hưởng đến hô hấp; một nối sợ hãi đột ngột có thể khiến hơi thở gấp gáp hơn, hoặc sự sợ hãi thường làm tăng tần số thở. Trong các tình huống này, các xung dẫn truyền từ vùng dưới đồi (hypothalamus) điều chỉnh tín hiệu đi của hành não. Vỏ não (cerebral cortex) cho phép cơ thể tự động thay đổi tần số hay nhịp điệu thở để có thể nói, hát, thở nhanh hơn hay chậm hơn hoặc ngay cả ngừng thở trong vòng 1-2 phút. Tuy nhiên, các thay đổi này không thể tiếp diễn mãi mãi, hành não sẽ dần lấy lại sự kiểm soát.

    Ho (coughing) và hắt hơi (sneezing) là các phản xạ để loại bỏ các chất kích thích khỏi đường hô hấp; hành não chứa trung tâm điều chỉnh của cả 2 phản xạ này. Hắt hơi gây ra bởi các chất gây kích ứng niêm mạc mũi và ho gây ra bởi chất kích ứng niêm mạc hầu họng, thanh quản và khí quản. Bản chất của 2 phản xạ này giống nhau: Vào thì hít vào, thanh môn đóng lại để tạo áp lực. Sau đó thanh môn mở đột ngột, tạo nên nhịp thở ra. Ho khiến ta thở ra qua miệng, trong khi hắt hơi khiến ta thở ra qua mũi. Một số người hắt hơi ngay cả khi tiếp xúc với ánh sáng như ánh sáng mặt trời. Hiện tượng này được gọi là hắt hơi quang học (photic sneezing) và có tính di truyền. Quy luật di truyền là gen trội trên NST thường, với đặc điểm chỉ mang một gen bệnh, từ mẹ hoặc bố, đều biểu hiện bệnh. (người ta tin tằng nó được tạo ra bởi các dây thần kinh chi phối phản xạ hắt hơi và khả năng phát hiện ánh sáng bị lạc chỗ mà không vì mục đích hữu ích nào cả.

    Nấc cục cũng là một phản xạ, do co thắt cơ hoành. Hậu quả là nhịp hít vào nhanh, dừng lại khi thanh môn đóng đột ngột, tạo tiếng “hic”. Chất kích thích có thể đã gây kích thích thần kinh cơ hoành hoặc các dây thần kinh bụng. Uống quá nhiều rượu là một kích thích gây ra nấc cục. Một số nguyên nhân đến nay còn chưa rõ.

    Phản xạ hô hấp khác là ngáp. Hầu hết chúng ta ngáp

    khi mệt mỏi, nhưng cơ chế kích thích và mục đích phản xạ ngáp vẫn chưa được biết đầy đủ. Có thể nguyên nhân kích thích là sự tích lũy nhiều carbon dioxide, như khi chúng ta chán hoặc buồn ngủ và nhịp thở trở nên nông hơn. Nhưng có bằng chứng hiện nay cho thấy ngáp giúp não bộ “mát mẻ” hơn bằng việc tạo lối tắt cho dòng máu nóng thay vì đi lên não sẽ đi đến mặt, nơi mà hơi nóng ngay sát bề mặt da, từ đó dễ dàng thoát ra ngoài. Điều này có thể có lợi bởi bộ não mát mẻ hơn là bộ não thông minh hơn. Phản xạ này vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù vào hiện tại chưa biết rõ tại sao ngáp lại lây truyền, nhưng khi nhìn ai đó ngáp thì hầu như chắc chắn ta sẽ muốn ngáp. Bạn có thể đang ngáp khi đọc đoạn về phản xạ ngáp này.

    2. ĐIỀU HÒA THEO CƠ CHẾ HÓA HỌC:

    Vì vậy, carbon dioxide là khí điều hóa hô hấp chủ yếu, do nó có ảnh hưởng tới pH máu. Như đã đề cập từ trước, quá nhiều lượng CO2 gây hạ pH máu, một tình trạng không được tiếp tục diễn ra trong cơ thể. Do đó, bất kì nguyên nhân gây tăng nồng độ CO2 trong máu một cách nhanh chóng đều được bù lại bởi tăng tần số thở để thải nhiều CO2. Ví dụ khi ta giữ một nhịp thở, điều gì sẽ khiến ta thở lại? Do ta cạn hết oxy? Có thể không phải, do các lý do đã đề cập ở trên. Điều đã xảy ra là sự tích lũy CO2 đã làm hạ pH máu xuống thấp đủ để kích thích hành não gửi tín hiệu bắt đầu lại chu kỳ thở.

    Trong một số trường hợp, oxy trở thành khí điều hòa hô hấp chủ yếu. BN mắc các bệnh phổi trầm trọng, mạn tính như khí phế thũng, phổi bị giảm khả năng trao đổi khí của cả oxy và carbon dioxide. pH máu giảm do tích lũy CO2 được điều chỉnh bởi hai thận, nhưng nồng độ oxy trong máu vẫn giảm. Cuối cùng, nồng độ oxy máu hạ thấp tới mức tạo nên kích thích mạnh làm tăng tần số và biên độ hô hấp.

    HÔ HẤP VÀ THĂNG BẰNG ACID-BASE:

    Như ta vừa được biết, hô hấp ảnh hưởng đến pH của các dịch cơ thể bởi vì nó điều hòa lượng carbon dioxide trong các chất dịch. Ghi nhớ rằng CO2 phản ứng với nước tại nên acid carbonic (H2CO3), chất mà ion hóa thành ion H+ và HCO3 . Càng nhiều ion hydrogen xuất hiện trong dịch của cơ thể, pH càng thấp. Và càng ít ion

    hydrogen xuất hiện, pH càng cao.

    Hệ hô hấp có thể là nguyên nhân gây mất cân bằng pH, hoặc nó có thể giúp chỉnh lại sự mất thăng bằng pH gây ra bởi một số nguyên nhân khác.

    1. NHIỄM TOAN HÔ HẤP VÀ KIỀM HÔ HẤP:

    Nhiễm toan hô hấp (respiratory acidosis) xảy ra khi tần số hoặc hiệu quả hô hấp giảm xuống, dẫn đến tích lũy carbon dioxide trong dịch cơ thể. Quá nhiều CO2 khiến càng nhiều ion H+ được tạo thành, làm giảm pH. Nín thở có thể gây nên tình trạng nhiễm toan hô hấp nhẹ, nhanh chóng kích thích hành não gây thở trở lại. Các nguyên nhân trầm trọng hơn của nhiễm toan hô hấp là các bệnh về phổi như viêm phổi và khí phế thũng, hoặc hen nặng. Mỗi bệnh đều gây giảm trao đổi khí và cho phép lượng CO2 lớn còn lại trong dịch cơ thể.

    Nhiễm kiềm hô hấp (respiratory alkalosis) xảy ra khi tăng tần số hô hấp, và CO2 bị thải ra quá nhanh. CO2 giảm làm giảm tạo ion H+, làm tăng pH. Thở nhanh trong vài phút có thể bị nhiễm kiềm hô hấp nhẹ. Trẻ nhỏ khóc trong thời gian dài (khóc là một tiếng thở ra bất thường (noisy exhalation)) cũng có thể nhiễm tình trạng này. Tuy nhiên, nhìn chung, nhiễm kiềm chuyển hóa không thường xuyên xảy ra. Chấn thương vật lý nặng và sốc, hoặc trong trạng thái lo lắng về tinh thần hoặc cảm xúc, có thể kèm theo tăng thông khí và hâu quả dẫn đến nhiễm kiềm chuyển hóa. Hơn nữa, khi đi lên quá cao (ít oxy trong không khí) có thể gây tăng tần số thở tạm thời trước khi cơ chế bù trừ xảy ra (tăng tần suất sản sinh RBC – xem Chương 11).

    2. SỰ BÙ TRỪ HÔ HẤP:

    Nếu sự mất cân bằng pH gây ra bởi nguyên nhân khác ngoài sự thay đổi hô hấp, nó được gọi là nhiễm toan chuyển hóa hoặc nhiễm kiềm chuyển hóa. Trong cả hai trường hợp, sự thay đổi pH kích thích thay đổi tần số hô hấp có thể giúp đưa giá trị pH về bình thường.

    Nhiễm toan chuyển hóa (metabolic acidosis) có thể gây ra bởi bệnh đái tháo đường không điều trị (ketoacidosis), bệnh thận, hoặc tiêu chảy nặng. Trong các trường hợp này, nồng độ ion H+ trong dịch cơ thể tăng. Bù trừ hô hấp bao gồm sự tăng tần số và biên độ hô hấp để thải nhiều CO2 làm giảm sự tạo thành ion H+ , đưa pH về giá trị bình thường.

    Nhiễm kiền chuyển hóa (metabolic alkalosis) không thường xuyên xảy ra nhưng có thể gây ra bởi uống quá nhiều thuốc có tính kiềm như thuốc giúp làm giảm rối loạn dạ dày. Một nguyên nhân khác là nôn chất nôn ở dạ dày. Trong các trường hợp này, nồng độ ion H+ trong dịch cơ thể giảm. Bù trừ hô hấp là giảm tần số thở để giữ CO2 trong cơ thể để tăng tạo ion H+ , đưa giá trị pH trở

    về bình thường.

    SỰ GIÀ HÓA VÀ HỆ THỐNG HÔ HẤP:

    Có thể cách quan trọng nhất giúp hệ hô hấp khỏe mạnh là không hút thuốc. Trong trường hợp không có sự tấn công hóa học, chức năng hô hấp sẽ giảm nhưng thường vẫn đủ để hoạt động. Các cơ hô hấp, như tất cả các cơ vân, sẽ yếu dần theo độ tuổi (tập thể lực, ngay cả chỉ với việc đi bộ nhanh, giúp duy trì được sức mạnh của các cơ hô hấp). Nhu mô phổi giảm tính đàn hồi và mất dần các phế nang do tổn thương thành. Tất cả các gậy quả này dẫn đến giảm thông khí phổi và dung tích phổi, nhưng lượng khí cặn còn lại thường vẫn đủ để suy trì các hoạt động cơ bản nhất. Tế bào lông chuyển trên niêm mạc đường hô hấp cũng thoái triển theo tuổi và các đại thực bào phế nang hoạt động kém hiệu quả, khiến cho người già dễ mắc viêm phổi hơn, hay các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trầm trọng khác.

    Giảm oxy phế nang mạn tính do các bệnh như khí phế thũng hoặc viêm phế quản mạn tính có thể dẫn đến tăng áp lực phổi, làm tăng gánh nặng thất phải. Tăng áp lực hệ thống thường làm suy yếu thất trái, dẫn đến suy tim sung huyết và phù phổi, hậu quả phế nang chứa nhiều dịch, giảm diện tích trao đổi khí. Mặc dù đúng với mọi lứa tuổi, sự phụ thuộc vào nhau giữa hệ hô hấp và hệ tuần hoàn lại dặc biệt rõ ràng ở những người cao tuổi.

    V. TỔNG KẾT:

    Nguồn: Essentials of Anatomy and Physiology – Vietnamese Version.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Cơ Quan Quan Trọng Nhất Trong Hệ Hô Hấp
  • Đường Hô Hấp Trên Là Gì? Gồm Những Bộ Phận Nào?
  • Tầm Quan Trọng Của Hệ Thống Hô Hấp Là Gì? Đặc Điểm Và Chức Năng Của Họ
  • A) Trình Bày Đặc Điểm Các Cơ Quan Của Hệ Hô Hấp. B) Chức Năng Của Các Cơ Quan Hệ Hô Hấp Là Gì? C) Dung Tích Phổi Là Gì? Nêu Cấu Tạo Của Dung Tích Phổi.
  • Bài 36. Thực Hành: Quan Sát Cấu Tạo Trong Của Ếch Đồng Trên Mẫu Mổ
  • Sinh Lý Và Dược Lý Hô Hấp Trong Gây Mê

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chỉ Số Xét Nghiệm Máu Đánh Giá Chức Năng Tuyến Giáp
  • Tuyến Giáp Và Các Xét Nghiệm Cần Thực Hiện (Xét Nghiệm Tuyến Giáp)
  • Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Cách Bật/tắt Tính Năng Tìm Quanh Đây Zalo
  • Các Quân Bài Mở Rộng Trong Trò Chơi Uno
  • Sinh lý và dược lý hô hấp trong gây mê

    SINH LÝ HÔ HẤP

    Nhiệm vụ chính của phổi là hô hấp. Hô hấp là trao đổi các khí giữa cơ thể và môi trường với sử dụng oxy và tạo ra cacbonic. Ở sinh vật đa bào như con người thì những con đường khuyếch tán là quá dài để phân phối nhanh oxy và loại bỏ cacbonic. Máu lưu hành cung cấp một hệ thống vận chuyển để mang các khí hô hấp giữa phổi và các tế bào ngoại vi. Oxy trong khí hít vào đi vào phế nang nơi oxy khuyếch tán vào máu trong lúc cacbonic khuếch tán với hướng ngược lại.

    Các cơ chế hô hấp

    Chênh lệch áp lực giữa miệng và phế nang khiến một ượng lớn dòng khí đi vào và ra phổi. Chênh lệch áp lực đạt được bởi hoạt động hướng ra bên ngoài và hướng vào bên trong của lồng ngực đã tạo ra những thay đổi ở áp lực màng phổi và do đó thay đổi áp lực phế nang. Dòng khí không di chuyển khi áp lực phế nang và áp lực miệng bằng nhau và bằng áp lực khí quyển. Dòng khí có di chuyển hay không thì áp lực khoang màng phổi bị ảnh hưởng bởi phản lực đàn hồi hướng vào bên trong của phổi. Hít vào là một quá trình chủ động: co cơ tăng thể tích lồng ngực, phổi giãn nở và áp lực trong phổi ở phế nang giảm do đó không khí đi vào phổi. Trong khi thở ra phổi và lồng ngực trở về vị trí như khi bắt đầu hít vào. Thở ra chủ yếu là bị động. Trong hô hấp bình thường, cơ hoành chiếm khoảng 75% thay đổi thể tích phổi bằng co cơ trong khi hít vào và giãn trong khi thở ra. Bản thân cơ hoành hoặc các cơ bậc thang và cơ gian sườn ngoài một mình có thể duy trì thông khí đầy đủ khi nghỉ. Thở ra đạt được bởi phản lực bị động nhưng có thể được hỗ trợ bởi co cơ bụng và cơ liên sườn trong.

    Các thể tích hô hấp

    Dung tích phổi toàn phần (TLC) khoảng 6 lít là thể tích phổi khi hít vào tối đa bao gồm các thành phần là thể tích dự trữ hít vào (IRV), thể tích khí lưu thông (VT), thể tích dự trữ thở ra (ERV) và thể tích cặn (RV). Ba thành phần đầu tiên tạo nên dung tích sống (VC) và hai thành phần sau tạo nên dung tích cặn chức năng (FRC). Các thể tích và dung tích này tăng theo kích thước cơ thể và nhỏ hơn ở phụ nữ. Giảm phản lực đàn hồi của phổi và cứng của thành ngực khi tuổi cao. Điều này dẫn đến gia tăng dần dần RV và FRC và giảm VC với thay đổi đôi chút TLC.

    Độ giãn nở (compliance) phổi

    Độ giãn nở phổi đo lường sự khó khăn bơm căng phổi. Nó có thể được xác định từ chênh lệch của sơ đồ thể tích phổi với áp lực căng. Mối quan hệ này cho thấy hiện tượng trễ nhưng độ giãn nở phổi trung bình có thể được xác định bằng việc sử dụng phép nội suy tuyến tính. Đo lường sinh lý quan trọng nhất là độ giãn nở của hệ thống hô hấp nguyên vẹn (ví dụ độ giãn nở của phổi cùng với thành ngực). Giá trị này bình thường khoảng 11kPa-1 (100 ml/cmH2O). Giá trị này có thể giảm bởi bệnh lý phổi như xơ phổi hoặc bất thường của thành ngực.

    Khoảng chết

    Trao đổi khí ở hệ thống hô hấp chỉ xảy ra ở phế nang. Một phần của đường khí đạo không tham gia vào trao đổi khí được gọi là khoảng chết. Khoảng chết toàn bộ bao gồm khoảng chết “giải phẫu” và khoảng chết “sinh lý”. Khoảng chết “giải phẫu” bao gồm miệng, mũi, hầu, khí quản, phế quản gốc và xấp xỉ 150mL. Khoảng chết giải phẫu có chức năng như ống dẫn trong đó không khí được lọc các tiểu thể bụi đồng thời được làm ẩm và ấm. Khoảng chết chức năng bình thường tương đương với khoảng chết giải phẫu. Nếu phế nang được thông khí nhưng không xảy ra trao đổi khí thì các phế nang này góp phần tạo ra khoảng chết chức năng. Thể tích của khoảng chết toàn thể có thể được tính toán từ hàm lượng CO2 của khí phế nang và thể tích khí lưu thông bằng việc sử dụng phương trình Bohr.

    Phương trình Bohr

    VD = VT (FACO2 – FECO2)/FACO2

    Trong đó:

    VD là khoảng chết chức năng

    VT là thể tích khí lưu thông

    FACO2 là nồng độ riêng phần CO2 trong khí phế nang (có thể được xác định từ phần tận cùng của khí thở ra)

    FECO2 là nồng độ riêng phần CO2 trong khí thở ra.

    Trao đổi khí ở phổi

    Chuyển động của oxy và cacbonic vào và ra mao mạch của phổi và mô ngoại vi lệ thuộc vào khuếch tán khí. Khuếch tán khí bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính sau:

    Chênh lệch áp lực riêng phần của mỗi khí

    Hệ số khuyếch tán của mỗi khí

    Đặc tính vật lý của các mô ở vị trí trao đổi (diện tích bề mặt, khoảng cách khuyếch tán).

    Phổi phù hợp cho khuyếch tán khí với diện tích bề mặt phế nang lớn, một lớp rất mỏng của dịch và mô ngăn cách khí phế nang khỏi dòng máu phổi

    Tỷ lệ thông khí – tưới máu

    Trao đổi khí bình thường yêu cầu phế nang được thông khí và tưới máu đầy đủ. Mối quan hệ này được định lượng bởi tỷ lệ thông khí tưới máu (V/Q)

    V/Q = tỷ lệ thông khí phế nang/dòng máu phổi

    Khi tỷ lệ này bất thường, xảy ra mất tương xứng thông khí tưới máu. Nếu khu vực phổi không được thông khí đầy đủ nhưng được tưới máu đầy đủ, V/Q sẽ giảm. Máu đi qua khu vực này sẽ không được oxy hóa đầy đủ gây giảm áp lực riêng phần oxy trong hệ động mạch toàn thân: shunt sinh lý. Đây là một yếu tố chính góp phần bất thường khí máu được nhận thấy trong nhiều bệnh lý hô hấp.

    Dòng máu phổi

    Thực tế toàn bộ cung lượng tim qua phổi với áp lực động mạch khoảng 1/6 áp lực hệ thống. Thể tích dòng máu phổi khoảng 500 mL nhưng chỉ 80 mL là ở mao mạch. Áp lực mạch máu phổi chịu ảnh hưởng chính bởi trọng lực. Khi ở tư thế đứng thẳng dòng máu xấp xỉ 0 ở đỉnh và lớn nhất ở nền phổi. Sự biến đổi này nhiều hơn biến đổi thông khí, dẫn đến tỷ lệ thông khí tưới máu cao nhất ở đỉnh phổi.

    Co mạch phổi do thiếu oxy mô

    Co mạch phổi do thiếu oxy mô (HPV) tiếp tục thu hút sự quan tâm bởi vì vẫn còn những bí ẩn về cơ chế sinh hóa và chức năng sinh lý chính xác. Một công trình gần đây gợi ý vai trò quan trọng của kênh kali lệ thuộc điện thế nhạy cảm oxy của tế bào cơ trơn động mạch phổi. Việc ức chế kênh này bởi giảm PO2 ức chế dòng kali đi ra gây khử cực màng và canxi đi vào qua kênh canxi lệ thuộc điện thế. Các thực thể trung gian (mediator) co mạch và giãn mạch có nguồn gốc từ nội mô điều hòa tính phản ứng của tế bào cơ trơn bên trong với việc thiếu oxy mô. Co mạch phổi do thiếu oxy mô dường như giảm theo tuổi và cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các loài và giữa các cá thể. Mức độ HPV in vivo tỷ lệ nghịch với kích cỡ khoanh đoạn phổi. Yếu tố quyết định chính của HPV là áp lực riêng phần oxy phế nang nhưng oxy tĩnh mạch hòa trộn góp phần khoảng 1/5 của đáp ứng này.

    Co mạch phổi do thiếu oxy mô

    HPV bị ức chế bởi:

    Các mediator như chất P, calcitonin, natriuretic peptide nhĩ

    Chất giãn mạch có nguồn gốc từ nội mô như prostacyclin, nitric oxide

    Chất phong bế α-adrenergic

    Chất kích thích ß-adrenergic

    Tăng áp lực nhĩ trái

    Tăng áp lực phế nang

    Kiềm hóa

    Kích thích thụ thể hóa học ngoại vi

    Các thuốc giãn mạch như chất ức chế kênh canxi, thuốc mê halogen

    HPV tăng lên bởi:

    Toan hóa

    Chất phong bế ß-adrenergic

    Gây tê ngoài màng cứng

    Serotonin liều thấp

    Ức chế cyclo-oxygenase (aspirin, NSAID)

    Ức chế NO synthase (L-arginine analog)

    Kiểm soát hô hấp

    Hô hấp được kiểm soát ở hệ thần kinh trung ương với hô hấp chủ động (voluntary breathing) được kiểm soát bởi vỏ não và hô hấp tự động (autonomic respiration) bởi các cấu trúc ở khu vực hành cầu não. Đầu ra ly tâm từ hai nguồn này được tích hợp bởi tủy sống. Kiểm soát hô hấp tự động (autonomic respiration) được điều khiển bởi các trung tâm ở cầu và hành não. Các trung tâm này điều hòa độ sâu và tần số thở vào. Mức oxy, cacbonic, pH thích hợp trong máu được duy trì thông qua điều chỉnh hô hấp qua trung tâm hành tủy khi nó đáp ứng với đầu vào hướng tâm từ các thụ thể. Trung tâm hành tủy cũng quan trọng trong việc duy trì nhịp hô hấp và phản xạ Hering-Breuer, phản xạ này ức chế hô hấp khi phổi bị căng giãn. Các đầu vào khác tới trung tâm hành tủy bao gồm:

    Thần kinh cảm thụ bản thân (proprioceptor)– phối hợp hô hấp với hoạt động cơ

    Nhiệt độ cơ thể

    Các trung tâm của hệ thần kinh trung ương mức cao (vỏ não, hệ limbic, dưới đồi) ảnh hưởng đến hô hấp

    Các thụ thể áp lực cũng cung cấp trong khu vực ức chế tim mạch

    Ngừng hô hấp chủ động, ức chế hô hấp tự động cho đến khi đạt được điểm đổi hướng khi tăng PaCO2 và giảm PaO2 gạt bỏ ức chế chủ động. Điểm đổi hướng này có thể bị chậm trễ bởi tăng thông khí trước đó.

    Ở các bệnh nhân bị ứ cacbonic mãn tính, trung tâm hành tủy trở nên không nhạy cảm với những thay đổi PaCO2 do đó PaO2 là vận hành hô hấp chính. Đây là nhóm bệnh nhân mà thở 100% oxy có thể hủy vận hành hô hấp, thậm chí gây hôn mê và tử vong. Điều này không phổ biến và không nên lấy đó là lý do để không cho bệnh nhân thở oxy.

    Các chức năng không hô hấp

    Giường mao mạch phổi đóng vai trò như là một bầu lọc máu bằng việc loại bỏ các cục đông nhỏ, các tế bào tách rời và bóng khí trước khi chúng đi vào tuần hoàn chung.

    Mạch máu phổi đóng vai trò như là một bình máu dự trữ.

    Đường khí đạo loại bỏ các tiểu thể trong không khí bằng việc phối hợp thực bào và hoạt động của nhung mao cùng với ho.

    Thông khí của đường khí đạo góp phần mất nhiệt và mất nước

    Phổi có một số chức năng chuyển hóa bao gồm:

    Chuyển angiotensin I thành angiotensin II

    Tổng hợp và loại bỏ bradykinin và prostaglandin

    Lưu trữ và phóng thích serotonin và histamin

    Bất hoạt norepinephrin và epinephrin

    Tiết heparin bởi dưỡng bào và Ig ở niêm mạc phế quản

    Tổng hợp peptid bao gồm chất P và opiat

    Những ảnh hưởng của gây mê trên sinh lý hô hấp

    Khi gây mê toàn thể và nằm ngửa, FVC giảm xuống tới 1/5 ở người lớn. Người béo và nhiều nguyên nhân khác cũng có thể giảm tiếp FVC. Giảm nhiều FVC có thể gây thể tích cuối thì thở ra dưới thể tích đóng. Thể tích đóng là thể tích mà tại đó các đường khí đạo nhỏ bắt đầu đóng lại. Khi các đường khí đạo nhỏ bắt đầu đóng, phát triển khu vực mất tương xứng V/Q thấp.

    Oxy hoá máu động mạch bị suy giảm ở phần lớn bệnh nhân trong khi gây mê với cả thông khí kiểm soát hay tự thở. Nói chung ở các bệnh nhân bình thường, tình trạng này chấp nhận được nhưng suy giảm oxy hoá máu động mạch trong khi gây mê trở nên nguy kịch hơn ở các bệnh nhân cao tuổi, béo phì, hút thuốc. Trong các nghiên cứu từ các bệnh nhân trẻ tuổi khoẻ mạnh đến trung niên  dưới gây mê toàn thể thì người ta nhận thấy tỷ lệ máu tĩnh mạch hoà trộn (shunt) trung bình là 10% và sự phân tán của tỷ lệ thông khí-tưới máu là từ ít đến trung bình, trong khi ở các bệnh nhân với suy giảm đáng kể chức năng hô hấp trước mổ, gây mê toàn thể gây mở rộng đáng kể phân bố tỷ lệ thông khí-tưới máu và gia tăng lớn ở cả các vùng có tỷ lệ thông khí-tưới máu thấp và shunt. Trong quá trình gây mê, khi gây mê quá nông (dưới 1 MAC), sẽ xảy ra tình trạng tăng thông khí quá mức xen kẽ với nín thở. Khi độ sâu gây mê tương đương 1 MAC, nhịp thở trở nên đều hơn kết hợp với thể tích khí lưu thông cũng lớn hơn. Khi độ sâu gây mê ở mức vừa đủ, nhịp thở trở nên nhanh hơn nhưng nông hơn. Khi gây mê càng sâu, cơ liên sườn bị liệt, thở vào chỉ do cơ hoành đảm nhiệm nên bệnh nhân thở giật cục không đều.

    Sinh lý của thông khí tự thở ở tư thế nằm nghiêng

    Gây mê toàn thể sẽ giảm compliance của cả hai phổi. Điều này có thể được trở lại bình thường bởi việc sử dụng PEEP. Trọng lượng của trung thất và áp lực của các tạng trong ổ bụng tác động lên cơ hoành có thể giảm giãn nở phổi phía dưới và gây giảm FVC. Tuy nhiên độ cong lớn hơn của cơ hoành cũng sẽ dẫn đến co rút hiệu quả hơn, với giãn nở lớn hơn tương xứng với dòng máu gia tăng tới phổi lệ thuộc (dependent lung). Kết quả là vẫn duy trì được tương xứng V/Q .

    Trong thông khí tự thở cơ hoành lệ thuộc (dependent diaphragm) sẽ hướng về đầu cuối thì thở ra, đẩy trung thất lên trên. Điều này khiến thông khí không bảo đảm. Hậu quả dịch chuyển trung thất cũng gây giảm tưới máu bởi vì giảm máu tĩnh mạch trở về thứ phát do hoạt hóa hệ giao cảm. Nếu thành ngực trên mở trong thông khí tự thở, sẽ xảy ra hô hấp nghịch thường. Trong thì hít vào, khí sẽ bị kéo ra khỏi phổi ở phía trên gây xẹp phổi. Trong thì thở ra, khí đi qua từ phổi bên dưới lên phổi phía trên khiến nó căng ra. Hô hấp nghịch thường này gây dịch chuyển trung thất.

    Sinh lý của thông khí hai phổi ở tư thế nằm nghiêng

    Thông khí áp lực dương dẫn đến phần lớn thông khí hướng về phổi phía trên hơn là phổi phía dưới. Vì tưới máu ở phổi phía dưới vẫn lớn hơn nên gia tăng sự mất tương xứng thông khí tưới máu. Hậu quả này ở bệnh nhân gây mê lồng ngực kín ở tư thế nằm nghiêng là phổi không lệ thuộc (non-dependent lung) bị tưới máu kém nhưng thông khí tốt và phổi lệ thuộc (dependent lung) được tưới máu tốt nhưng thông khí kém. Việc mở lồng ngực và khoang màng phổi không làm thay đổi phân bố tưới máu nhưng có lẽ có ảnh hưởng đáng kể đến thông khí. Với bệnh nhân gây mê giãn cơ thông khí, phổi không lệ thuộc không bị hạn chế khiến nó thông khí dễ hơn và hậu quả là thông khí quá mức và tưới máu kém khiến mất tương xứng V/Q xấu thêm.

    Sinh lý thông khí một phổi ở tư thế nằm nghiêng

    Chênh lệch dòng máu do bởi trọng lực ưa thích ở phổi lệ thuộc trong thông khí một phổi (OLV). Nếu phổi không lệ thuộc không được thông khí thì bất kỳ dòng máu nào qua đó đều trở thành shunt. Điều này sẽ dẫn đến khác biệt lớn hơn áp lực oxy phế nang – động mạch với PaO2 nhỏ hơn cho nồng độ oxy được sử dụng khi so sánh thông khí hai phổi nằm nghiêng. Trái lại OLV ít ảnh hưởng tới PaCO2 hơn PaO2. Dòng máu đi qua phế nang được thông khí không đầy đủ sẽ giữ cacbonic nhiều hơn và không tiếp nhận oxy. Vì đường cong phân ly cacbonic khá tuyến tính trong giới hạn sinh lý, điều này ưa thích loại bỏ CO2 và duy trì đẳng thán mặc dù OLV. Đường cong phân ly oxy khá bằng phẳng ở đầu tận trên của đường cong hình sigma và ít gia tăng khả năng tiếp nhận oxy. Do đó trong lúc phổi được thông khí có thể loại bỏ đầy đủ cacbonic để bồi hoàn cho phổi không được thông khí, nó không thể tiếp nhận đủ oxy để bồi hoàn theo cùng cách thức.

    DƯỢC LÝ HÔ HẤP

    Các yêu cầu song hành của hô hấp (thông khí và tưới máu) khiến phổi vừa bị phơi nhiễm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong thông qua dòng máu. Phổi được sử dụng trong việc tiếp nhận, tích lũy và chuyển hóa của các vật thể lạ từ môi trường và từ dòng máu bao gồm các thuốc và các chất ô nhiễm môi trường. Tầm quan trọng của phổi đối với dược động học của nhiều thuốc thường bị lãng quên. Có một số con đường chuyển hóa đã được biết hiện diện ở nội mô: các men cytochrom P-450 monooxygenase dường như là đặc biệt quan trọng. Nhiều thuốc mà chúng ta sử dụng như là các thuốc mê được chuyển hóa ở phổi bao gồm các thuốc giống giao cảm, kháng histamin, opiat và thuốc tê.

    Bảng các hợp chất được thanh lọc hoặc được chuyển hóa bởi phổi

    Adenosin

    Amphetamin

    Angiotensin I (được chuyển đổi thành angiotensin II)

    Peptid natriuretic nhĩ

    Bradykinin

    Bupivacain

    Chlorpromazin

    Fentanyl

    5-Hydroxytryptamin (serotonin)

    Imipramin

    Isopnalin

    Lidocain

    Metaramin

    Methadon

    Morphin

    Norephidrin

    Prostaglandin E1, E2 và F2a

    Steroid

    Bảng các hợp chất được phóng thích từ phổi

    Adenosin

    Heparin

    Histamin

    5-Hydroxytryptamin

    Leukotrien A4, B4, C4, D4 và E4

    NO

    Chất hoạt hóa plasminogen

    Prostaglandin I2, E và F

    Nhà gây mê lồng ngực cần phải quen với các thuốc mà bệnh nhân mắc bệnh hô hấp đang sử dụng cũng như khả năng sử dụng chúng để hỗ trợ gây mê và xử trí sau mổ. Việc nhận biết các tác dụng tiềm tàng của các thuốc mà chúng ta sử dụng trong gây mê trên hệ thống hô hấp cũng hữu ích.

    Các thuốc có ảnh hưởng trên đường hô hấp

    Các thuốc được sử dụng trong điều trị hen và co thắt phế quản

    Hen biểu hiện lâm sàng bởi các đợt tái diễn ho, thở khò khè và khó thở. Hen được đặc trưng bởi tăng đáp ứng của khí quản và phế quản với các kích thích khác nhau và hẹp lan tỏa đường khí đạo. Bệnh học bao gồm co thắt cơ trơn đường khí đạo và dày niêm mạc bởi phù nề và thâm nhiễm tế bào. Co thắt phế quản do bởi phối hợp việc giải phóng các mediator và đáp ứng gia tăng quá mức với các ảnh hưởng này. Điều trị hướng vào giãn cơ trơn đường khí đạo, giảm đáp ứng phế quản và ngăn việc mất hạt của dưỡng bào.

    Thuốc giãn phế quản

    Giãn trực tiếp cơ trơn đường hô hấp – methylxanthin như theophyllin tác động bởi giảm phân chia cAMP qua việc ức chế phosphodiesterase. Methylxanthin được dùng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch và có thể có một số tác dụng phụ do bởi tăng nồng độ cAMP ở hệ thống khác gây bồn chồn, run, lợi niệu, tiết axit dạ dày và tăng co bóp tim và tăng nhịp tim. Các thuốc này có ranh giới điều trị khá hep. Chúng đã không còn được sử dụng như là liệu pháp điều trị đầu tiên.

    Thuốc chủ vận chọn lọc beta 2 adrenergic như salbutamol, terbutalin. Thuốc chủ vận beta 2 tác động chủ yếu trên cơ trơn đường khí đạo và là hình thái hiệu quả nhất trong điều trị giãn phế quản.

    Thuốc kháng cholinergic- các chất kháng chủ vận muscarinic ức chế ảnh hưởng acetylcholin được phóng thích bởi dây thần kinh X tại các thụ thể muscarinic ở đường khí đạo. Atropin là thuốc kháng chủ vận muscarinic cổ điển nhưng ảnh hưởng toàn thân không có tính chọn lọc gây hạn chế sự hữu ích của chúng. Ipratropium được phóng thích bởi ống xịt (inhaler) được hấp thu kém  và có một số tác dụng phụ toàn thân. Mặc dù thời gian khởi phát tác dụng có lẽ chậm trễ (tới 45 phút) nhưng tác dụng kéo dài.

    Thuốc ổn định dưỡng bào – chromon (sodium chromoglycat và sodium nedocromil) tác động chủ yếu bởi ổn định dưỡng bào.

    Thuốc kháng chủ vận leukotrien

    Cysteinyl leukotrien gây co thắt cơ trơn và tăng sinh và là các mediator quan trọng trong quá trình viêm. Montelukast và zafirlukast phong bế các ảnh hưởng của cysteinyl leukotrien ở đường khí đạo thông qua tác động kháng chủ vận ở các thụ thể leukotrien. Các thuốc này hiệu quả khi được sử dụng riêng hoặc phối hợp với với corticosteroid xịt sẽ có tác động cộng hưởng trong bệnh hen.

    Magnesium sulphat

    Sử dụng magnesium tĩnh mạch có tác dụng hỗ trợ ảnh hưởng giãn phế quản của các thuốc chủ vận beta2 xịt.

    Liệu pháp điều trị glucocorticoid

    Corticosteroid xịt nằm trong số các thuốc điều trị quan trọng nhất trong co thắt phế quản vì chúng tăng cả số lượng các thụ thể beta2-adrenergic và đáp ứng của chúng với kích thích. Chúng cũng giảm sản xuất chất nhầy, giảm tăng tiết và ức chế đáp ứng viêm. Điều trị glucocorticoid toàn thân có lẽ cũng cần thiết cả trong các cơn cấp nguy kịch co thắt phế quản và các đợt co thắt phế quản không đáp ứng với thuốc giãn phế quản xịt.

    Thuốc điều trị ho

    Điều trị ho chủ yếu bao gồm điều trị bệnh chính. Nói chung không nên ngăn ho có đờm vì có thể dẫn đến ứ đờm. Thuốc điều trị ho được chia thành thuốc chống ho và thuốc long đờm. Thuốc chống ho có thể có tác động trung ương hoặc ngoại vi. Thuốc có tác động trung ương bao gồm dextromethorphan và codein, hoạt động bằng việc ức chế trung tâm ho hành não hoặc các trung tâm cao hơn. Các thuốc tác động ngoại vi có lẽ tác động trên đường hướng tâm hoặc ly tâm của đường phản xạ và bao gồm thuốc chống viêm, thuốc tê, aerosol ẩm và nước bốc hơi. Nước bốc hơi bao gồm các chất bốc hơi như dầu khuynh diệp có lẽ qua hít vào chủ động của không khí ẩm ấm sẽ giảm bớt triệu chứng viêm phế quản.

    Thuốc tiêu đờm

    Thuốc tiêu đờm được kê đơn để làm thuận tiện long đờm bởi giảm độ quánh của đờm. Các thuốc này cho thấy lợi ích ở một số bệnh nhân với bệnh lý phổi tắc nghẽn mãn tính và ho mãn tính với giảm mức độ trầm trọng của bệnh. Việc điều trị có thể là uống như carbocistein và methyl cystein hydrochlorid hoặc khí dung ví dụ dornase alpha. Thuốc dornase alpha chủ yếu được khuyến cáo để sử dụng ở các bệnh nhân xo nang (cystic fibrosis)

    Ảnh hưởng của các thuốc sử dụng trong gây mê đối với hệ thống hô hấp

    Thuốc mê bốc hơi

    Thuốc mê bốc hơi chủ yếu được sử dụng để duy trì mê trong phẫu thuật lồng ngực. Thuốc này gây giảm FRC thông qua giảm phản lực (recoil) thành ngực, giãn phế quản, ức chế HPV và giảm đáp ứng thông khí với thiếu oxy mô. Những ảnh hưởng này có ý nghĩa sau phẫu thuật đó là bất kỳ thuốc mê bốc hơi tồn dư có thể gây suy giảm đáng kể chức năng phổi.

    Opiat

    Các thuốc opiat thường cần thiết để điều trị đau kết hợp với phẫu thuật ngực. Toàn bộ các thuốc này sẽ gây ức chế hô hấp mặc dù mức độ ảnh hưởng là khác nhau tùy thuộc vào từng thuốc, thời gian sử dụng, đường sử dụng và các yếu tố của bệnh nhân như bệnh kết hợp

    Propofol

    Propofol thường được dùng để khởi mê và duy trì mê trong phẫu thuật ngực. Thuốc khởi phát tác dụng và hết tác dụng nhanh và cho phép hồi phục nhanh. Thuốc ít có ảnh hưởng trên HPV và không gây ra sự khác biệt PaO2 trong phẫu thuật khi so sánh với thuốc mê bốc hơi trong duy trì mê. Các so sánh khác với thuốc mê bốc hơi đã cho thấy rằng propofol ít kết hợp với suy giảm chức năng phổi sau phẫu thuật.

    Các thuốc khởi  mê khác

    Thuốc giãn cơ

    Phần lớn các thuốc giãn cơ không ảnh hưởng trực tiếp trên phổi ngoài ảnh hưởng liệt cơ. Một số điều lưu ý là atracurium và mivacurium gây phóng thích histamin chủ yếu với hậu quả huyết động nhưng cũng ảnh hưởng trên trương lực vận động phế quản. Rocuronium, vecuronium và cisatracurium ít tác dụng phụ trên hô hấp và tim mạch. Lo ngại chủ yếu khi sử dụng thuốc giãn cơ là phải bảo đảm hóa giải đầy đủ thuốc giãn cơ, không có ảnh hưởng tồn dư. Bệnh nhân mắc bệnh lý hô hấp dường như đặc biệt nhạy cảm với giảm ít chức năng cơ hô hấp thứ phát do yếu cơ tồn dư. Hóa giải thuốc giãn cơ thường được hỗ trợ bởi sử dụng neostigmin phối hợp với thuốc cholinergic như atropin hoặc glycopyrrolat. Thậm chí với việc bổ sung thuốc kháng cholinergic vẫn có gia tăng đáng kể sức cản đường khí đạo thứ phát bởi ức chế acetylcholin nội sinh bởi neostigmin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Sinh Lý Hệ Tiết Niệu
  • Router Là Gì Và Chức Năng Của Router Wifi?
  • Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Chức Năng, Dinh Dưỡng Và Bệnh Thường Gặp
  • Chức Năng Của Ruột Thừa
  • Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100