Tính Giai Cấp Và Tính Nhân Dân Của Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bản Chất Nhà Nước? Bản Chất Nhà Nước Việt Nam Ta Hiện Nay?
  • Cơ Chế Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mac_Lê Nin Về Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng,đặc Trưng Của Nhà Nước?
  • Ôn Tập Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Như chúng ta đã biết, C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên khẳng định rằng, các nhà nước trong lịch sử đều có tính tính giai cấp. Trong Hệ tư tưởng Đức, các ông viết: “Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến”. Nhà nước tư sản “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”, “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung”(1).

    Cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã khẳng định nhà nước là tổ chức bạo lực của giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác. Ông viết: “Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó”(4); “các giai cấp bóc lột cần đến quyền thống trị chính trị để duy trì sự bóc lột, nghĩa là để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của một thiểu số rất nhỏ bé, chống lại tuyệt đại đa số nhân dân. Các giai cấp bị bóc lột cần đến quyền thống trị chính trị để thủ tiêu hoàn toàn mọi sự bóc lột, nghĩa là để bảo vệ lợi ích của đa số nhân dân chống lại thiểu số rất nhỏ những chủ nô hiện đại, tức bọn địa chủ và bọn tư bản”(5); “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp”(6); ” bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”(7); “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay. Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự””(8).

    Rõ ràng là, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn khẳng định các nhà nước trong lịch sử (cụ thể là trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa) đều là công cụ của giai cấp này dùng để thống trị giai cấp khác và do đó, đều có tính giai cấp. Đây là một quan điểm khoa học và có vị trí quan trọng trong hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

    Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng, xã hội nào cũng tồn tại các mâu thuẫn giữa người và người. Riêng trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa luôn có mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất với một bên là giai cấp không có tư liệu sản xuất(**). Hai giai cấp này không thể tồn tại tách rời nhau. Bởi lẽ, bên có tư liệu sản xuất nhưng lại có sức lao động, còn bên có sức lao động thì không có tư liệu sản xuất. Sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất đã tạo ra của cải cho xã hội, của cải này được phân phối cho cả hai bên một cách không công bằng (có lợi cho giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất, bất lợi cho giai cấp không có tư liệu sản xuất).

    Do bị bất lợi trong sự phân chia lợi ích, nên giai cấp không có tư liệu sản xuất luôn có xu hướng đấu tranh chống lại giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất đã sử dụng công cụ bạo lực để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp giai cấp không có tư liệu sản xuất. Trước tình trạng bị trấn áp hoặc bị đe doạ trấn áp đó, giai cấp không có tư liệu sản xuất buộc phải tuân theo pháp luật có lợi cho giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất.

    Trên danh nghĩa thì pháp luật là cái đứng trên cả hai giai cấp và cả hai giai cấp đều đồng ý tuân theo pháp luật. Nhưng về thực chất thì pháp luật là cái do giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Do vậy, thái độ thực sự của hai giai cấp đối với pháp luật là khác nhau. Giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất thì tự nguyện tuân theo pháp luật, vì điều đó có lợi cho mình; còn giai cấp không có tư liệu sản xuất thì buộc phải tuân theo pháp luật (chứ không tự nguyện tuân theo pháp luật). Chính công cụ bạo lực nằm trong tay giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất đã buộc giai cấp không có tư liệu sản xuất, dù muốn hay không muốn, cũng buộc phải tuân theo pháp luật.

    Pháp luật bao giờ cũng có lợi cho giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và bất lợi cho giai cấp không có tư liệu sản xuất. Mức độ lợi và bất lợi này phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa hai bên. Song, vì tương quan lực lượng này không cố định, nên pháp luật cũng không cố định. Khi giai cấp nào mạnh thêm thì luật pháp sẽ được thay thế theo hướng có lợi thêm cho nó.

    Nói đến pháp luật là nói đến nhà nước, vì nhà nước là tổ chức đặt ra pháp luật và sử dụng công cụ bạo lực để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện. Về danh nghĩa, nhà nước là một lực lượng đứng trên xã hội (trên cả giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất), có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột ấy nằm trong vòng pháp luật. Song, vì pháp luật có lợi cho giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và bất lợi cho giai cấp không có tư liệu sản xuất, nên trong các xã hội có sự bất công trong việc phân phối lợi ích giữa hai giai cấp này thì công cụ bạo lực của nhà nước chủ yếu dùng để trấn áp hoặc đe dọa trấn áp sự phản kháng của giai cấp không có tư liệu sản xuất. Điều đó chứng tỏ rằng, nhà nước trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa có tính giai cấp. Việc chỉ ra tính giai cấp của nhà nước trong các xã hội đó là một trong những đóng góp quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong lĩnh vực triết học xã hội.

    Nhà nước nào cũng có bộ máy công cụ bạo lực. Bộ máy công cụ bạo lực của nhà nước lớn hay nhỏ, điều đó phụ thuộc vào mức độ phản kháng của đối tượng bị nhà nước trấn áp. Trong thực tế, có thể có tình trạng là mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất không phải là mâu thuẫn đối kháng, sự bất công bằng trong việc phân chia lợi ích giữa hai giai cấp này tuy vẫn còn nhưng không lớn và do đó, sự phản kháng của giai cấp không có tư liệu sản xuất cũng không gay gắt. Trong tình trạng như vậy thì công cụ bạo lực của nhà nước chỉ cần duy trì ở mức độ nhỏ.

    Ở các nước cộng hoà dân chủ hiện nay, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước (quốc hội) do toàn dân bầu ra, pháp luật do quốc hội đặt ra. Do vậy, xét về danh nghĩa, các nhà nước cộng hoà dân chủ hiện nay đều là “nhà nước của dân” (của toàn dân). Khái niệm “nhà nước của dân” được sử dụng rất rộng rãi trong sách báo triết học và chính trị, nhưng nhiều người sử dụng khái niệm đó lại không xác định một cách chặt chẽ nội hàm của nó. Những người lãnh đạo các nhà nước hiện nay đều tự coi nhà nước của mình là “nhà nước của dân”, “nhà nước dân chủ” (nhà nước do nhân dân làm chủ). Tuy nhiên, chúng ta cần chú ý rằng, lời nói và việc làm, hiện tượng và bản chất, danh nghĩa và thực tế không phải bao giờ cũng phù hợp với nhau; cái ẩn giấu đằng sau những lời tuyên bố tốt đẹp về chính trị và đạo đức là lợi ích của các giai cấp và tầng lớp nào đó. Về điều này, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(9). Vì vậy, để xác định tính chất của một nhà nước, chúng ta cần phải phân tích lợi ích của các giai cấp và tầng lớp, chứ không chỉ căn cứ vào những lời người ta tự tuyên bố về nhà nước của mình. Để biết nhà nước ở một nước nào đó có hoàn toàn là “nhà nước của dân” hay hoàn toàn là nhà nước của một giai cấp, chúng ta phải xem lợi ích của các giai cấp và tầng lớp ở nước đó có được bảo đảm hay không, tình trạng bất công trong phân phối lợi ích có còn hay không, các giai cấp và tầng lớp có thực sự hài lòng với pháp luật hay không. Nếu trưng cầu dân ý một cách khoa học và công minh thì nhiều nhà nước hiện nay sẽ bị đa số dân chúng không thừa nhận là nhà nước của họ.

    Một xã hội mà còn tình trạng bất công trong sự phân chia lợi ích giữa giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất thì cuộc đấu tranh đòi sự công bằng vẫn còn, công cụ bạo lực của nhà nước ở xã hội đó vẫn được dùng để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp giai cấp không có tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, trong hệ thống pháp luật của các nhà nước từ trước đến nay, không chỉ có những luật có lợi cho giai cấp này và có hại cho giai cấp kia, mà còn có những luật có lợi cho cả hai giai cấp, như luật về bảo vệ môi trường, luật phòng chống thiên tai, luật phòng chống dịch bệnh, luật phòng chống tham nhũng… Những luật có lợi cho cả hai giai cấp sẽ được cả hai giai cấp ấy tự nguyện thực hiện. Công cụ bạo lực của nhà nước không cần phải áp dụng để bắt buộc giai cấp không có tư liệu sản xuất thực hiện những luật có lợi cho họ. Song, để thực hiện những luật có lợi cho cả hai giai cấp (có nhiều tư liệu sản xuất và không có tư liệu sản xuất) thì vẫn cần có công cụ bạo lực của nhà nước, bởi vẫn còn một số cá nhân thuộc cả hai giai cấp đó không muốn thực hiện những luật ấy. Ở nhà nước nào thì công cụ bạo lực cũng được áp dụng để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp một số cá nhân (thuộc cả giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất lẫn giai cấp không có tư liệu sản xuất) có hành vi chà đạp lên lợi ích của toàn dân. Vì thế, nhà nước nào cũng ít nhiều có tính nhân dân.

    Nhà nước là tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật với sự trợ giúp của công cụ bạo lực. Phương thức quản lý xã hội đó của nhà nước khác với phương thức quản lý xã hội của các đoàn thể, các hiệp hội và tổ chức tự quản trong các xã hội cộng sản (xã hội cộng sản nguyên thuỷ và xã hội cộng sản văn minh tương lai). Bằng phương thức đề ra pháp luật và sử dụng công cụ bạo lực để thực thi pháp luật, nhà nước đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong quản lý xã hội; đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước đã và đang can thiệp sâu vào nhiều lĩnh vực kinh tế. Sự can thiệp đó, có lúc và có việc, vì lợi ích của một giai cấp nào đó; nhưng cũng có lúc và có việc vì lợi ích của toàn dân.

    Trong hệ thống pháp luật của các nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản đều có những luật có lợi cho toàn dân và công cụ bạo lực của nhà nước cũng được dùng để bảo vệ lợi ích của toàn dân. Nhưng công cụ bạo lực của các nhà nước đó chủ yếu được dùng để bảo vệ lợi ích của giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất. Theo chúng tôi, đây là một lý do để các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh “nhà nước của một giai cấp” và không nói đến “nhà nước của toàn dân”.

    Các nhà nước từ trước đến nay đều có cả tính giai cấp và tính nhân dân ở mức độ nhiều ít khác nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ giữa hai tính chất này không giống nhau và không cố định. Nếu ở một xã hội nào đó mà pháp luật đem lại lợi ích cho cả giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất, làm cho hai giai cấp này đều thực sự hài lòng với pháp luật hiện có, thì nhà nước ở xã hội đó sẽ không còn tính giai cấp nữa mà chỉ còn tính nhân dân, vì công cụ bạo lực của nhà nước ở xã hội đó sẽ không cần được sử dụng để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp đối với giai cấp không có tư liệu sản xuất, mà chỉ cần được áp dụng để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp đối với một số cá nhân không chấp hành pháp luật mà thôi. Vì đối tượng trấn áp là lực lượng nhỏ (đó là một số cá nhân chứ không phải là một giai cấp) nên nhà nước cũng chỉ cần một lượng nhỏ công cụ bạo lực.

    Điều kiện để tính giai cấp của nhà nước mất đi là có sự công bằng trong phân phối lợi ích giữa giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất. Khi mà trong xã hội vẫn còn mâu thuẫn về lợi ích và còn có sự bất công bằng trong phân phối lợi ích giữa hai giai cấp này, thì công cụ bạo lực của nhà nước vẫn còn được dùng để trấn áp hoặc đe doạ trấn áp giai cấp không có tư liệu sản xuất, nghĩa là tính giai cấp của nhà nước vẫn còn ở những mức độ nhất định. Nếu lợi ích đối lập giữa hai giai cấp này là cơ bản và mức độ bất công là lớn thì công cụ bạo lực của nhà nước là đáng kể. Còn nếu lợi ích đối lập giữa hai giai cấp này là không cơ bản và mức độ bất công là nhỏ thì công cụ bạo lực của nhà nước là không đáng kể.

    Từ trước đến nay, trong các xã hội có sự phân biệt giữa giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất, nhà nước nào cũng ít nhiều có cả tính giai cấp lẫn tính nhân dân. Chỉ khi sự phân chia lợi ích giữa giai cấp có nhiều tư liệu sản xuất và giai cấp không có tư liệu sản xuất là công bằng thì nhà nước mới hoàn toàn không còn tính giai cấp nữa và mới hoàn toàn là nhà nước của toàn dân. Khi đó, pháp luật mới hoàn toàn là của toàn dân và toàn dân hoàn toàn tự nguyện tuân theo pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Giai Cấp Của Pháp Luật? Vì Sao Pháp Luật Mang Tính Giai Cấp?
  • Bản Chất Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Một Số Vấn Đề Về Quyền Tư Pháp, Hoạt Động Tư Pháp, Cơ Quan Tư Pháp, Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp
  • Tìm Hiểu Thuật Ngữ Cơ Quan Tư Pháp Và Cơ Quan Nội Chính
  • Tư Pháp Là Gì? Cơ Quan Tư Pháp Làm Gì?
  • Phân Tích Tính Giai Cấp Và Tính Xã Hội Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Điểm Và Hình Thức Của Nhà Nước
  • Phân Tích Thiết Kế Hệ Thống Thông Tin
  • Cấu Tạo Chi Tiết Của Pc, Laptop
  • Arithmetic Logic Unit (Alu) Là Gì?
  • Quạt Tản Nhiệt Khí Dành Cho Cpu Và Quy Tắc Hoạt Động – Chuyên Laptop – Pc – Camera Hà Đông
  • Phân tích tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước

    1 – Nhà nước là gì?

    Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.

    2 – Phân tích tính giai cấp của nhà nước

    2.1 – Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính giai cấp

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì tính giai cấp là thuộc tính cơ bản và không thể thiếu của tất cả các nhà nước.

    2.2 – Lý do nhà nước có tính giai cấp

    – Nhà nước xuất hiện do nhu cầu bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị của giai cấp thống trị hoặc lực lượng cầm quyền.

    – Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, tức là xã hội có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp.

    – Nhà nước là hình thức tổ chức của xã hội có giai cấp, bởi vì: sau khi trong xã hội đã xuất hiện giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp thì không thể tổ chức theo hình thức thị tộc, bộ lạc được nữa mà phải tổ chức thành nhà nước, với sức mạnh và bộ máy cưỡng chế của nó thì mới đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp trong xã hội hoặc giữ cho xung đột đó ở trong vòng một “trật tự” nhất định, có như vậy, xã hội mới tồn tại và phát triển được.

    2.3 – Biểu hiện tính giai cấp của nhà nước

    Tính giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ: nhà nước là bộ máy chuyên chính giai cấp, tức là công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thong trị của lực lượng hoặc giai câp câm quyền trong xã hội trên cả ba lĩnh vực: Kinh tế, chính trị và tư tưởng.

    Sự thống trị xã hội thể hiện chủ yếu ở ba lĩnh vực: Kinh tế, chính trị và tư tưởng, trong đó lĩnh vực tiền đề và giữ vai trò quyết định là kinh tế. Thông thường, giai cấp hoặc lực lượng nắm quyền sở hữu phần lớn tư liệu sản xuất hoặc tài sản của xã hội sẽ trở thành lực lượng thống trị về kinh tế hay chủ thể của quyền lực kinh tế, có thể bắt lực lượng khác phải phụ thuộc nó về mặt kinh tế hoặc bóc lột các lực lượng khác. Do vậy, sự thống trị về kinh tế tạo ra tiền đề, cơ sở cho sự thống trị giai cấp.

    Tuy nhiên, quyền lực kinh tế không đủ khả năng duy trì sự thống trị, vì lực lượng hay giai cấp bị thống trị luôn tìm cách chống lại để thoát ra khỏi sự phụ thuộc. Vì thế, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, lực lượng thống trị phải dùng bộ máy nhà nước để trấn áp sự phản kháng, sự chống đối của các giai cấp, lực lượng khác và nhà nước trở thành bộ máy cưỡng chế đặc biệt, thành công cụ để bảo vệ lợi ích kinh tế của lực lượng cầm qưyền.

    Nhà nước bảo vệ lợi ích kinh tế của lực lượng cầm quyền bằng cách dùng bộ máy bạo lực như quân đội, cảnh sát, toà án… để trấn áp sự phản kháng, chống đối của các lực lượng khác. Đồng thời, nhà nước thể hiện ý chí của mình mà trước tiên là ý chí của lực lượng cầm quyền thông qua pháp luật, thông qua các quy định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện trong xã hội, bắt cả xã hội phải phục tùng ý chí của nó. Vì thế, nhà nước chính là công cụ nằm trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế và thực hiện sự thống trị về chính trị trong xã hội.

    Sự thống trị của lực lượng cầm quyền, sự tồn tại của nhà nước chỉ lâu dài, chắc chắn khi có sự phục tùng tự giác của các lực lượng khác. Vì thế, nhà nước tổ chức, quản lý và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ sở văn hóa, giáo dục; dùng các phương tiện và cơ sở đó tác động đến đời sống tinh thần của toàn xã hội, nhằm làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị giữ địa vị thống trị trong xã hội và nhằm tạo ra sự phục tùng tự giác của các giai cấp, lực lượng khác đối với quyền thống trị của lực lượng cầm quyền, sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhà nước trở thành công cụ xác lập và bảo vệ hệ tư tưởng thống trị trong xã hội.

    Tóm lại, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội.

    2.4 – Sự thay đổi tính giai cấp của nhà nước qua các kiểu nhà nước

    Biếu hiện chung là như vậy, song nếu xem xét những biểu hiện cụ thể thì tính giai cấp của nhà nước có sự thay đổi rất lớn qua các kiểu nhà nước. Cụ thể:

    – Ở các nhà nước chủ nô, phong kiến, do điều kiện kinh tế, xã hội

    và trình độ phát triển của xã hội lúc đó nên các nhà nước này chủ yếu bảo vệ lợi ích của giai cấp chủ nô, địa chủ, quý tộc phong kiến, tăng lữ, đàn áp nô lệ, nông dân và những người lao động khác nên tính giai cấp của các nhà nước này thể hiện cực kỳ công khai và rõ rệt.

    – Ở nhà nước tư sản, biểu hiện tính giai cấp của nhà nước có sự thay đổi qua các giai đoạn phát triển của nhà nước tư sản. Trong thời kỳ của chủ nghĩa để quốc, khi các nhà nước tư sản chủ yếu bảo vệ lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền lũng đoạn nhà nước thì tính giai cấp của nhà nước này cũng thể hiện rõ rệt. Ở giai đoạn của chủ nghĩa tư bản hiện đại, do sự thay đổi trong điều kiện kinh tế, sự phát triển của xã hội, của khoa học kỹ thuật và của nền dân chủ, tính giai cấp của nhà nước có xu hướng thể hiện ít sâu sắc, rõ rệt hơn giai đoạn trước. Trong các chính sách của nhà nước, bên cạnh việc tính đến lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền, của giai cấp tư sản, nhà nước tư sản còn tính đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác, của cả cộng đồng.

    – Ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này và nhà nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, tính giai cấp của nhà nước thể hiện mờ nhạt, hạn chế hơn nhiều so với tính xã hội. Nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và những người lao động khác dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhà nước là công cụ để thực hiện và bảo vệ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, là công cụ chủ yếu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

    3- Phân tích tính xã hội của nhà nước

    3.1. Quan điểm của Mác Lênin về tính xã hội của nhà nước

    Cùng với tính giai cấp thì tính xã hội cũng là thuộc tính cơ bản, khách quan và không thế thiếu của tất cả các nhà nước.

    3.2 – Lý do nhà nước có tính xã hội

    – Nhà nước xuất hiện do nhu cầu điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.

    – Nhà nước là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, là một tổ chức trong xã hội, nó chỉ ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội loài người ở những giai đoạn lịch sử nhất định và có sứ mệnh điều hành, quản lý xã hội.

    – Nhà nước là một hình thức tổ chức của xã hội nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội.

    3.3 – Biểu hiện tính xã hội của nhà nước

    Tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ: Nhà nước là bộ máy để tổ chức và quản lý xã hội, nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự và sự on định của xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển của xã hội.

    – Bất cứ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển được cũng phải có trật tự và sự ổn định tương đối, tức là phải được tổ chức và quản lý chặt chẽ. Xã hội nào cũng có hàng loạt các vấn đề mang tính chất chung như: Sản xuất, thiên tai, địch họa, trật tự, an toàn xã hội… Để giải quyết các vấn đề chung đó cần có một tổ chức thay mặt xã hội, nhân danh xã hội để tổ chức, tập hợp, quản lý toàn xã hội, tổ chức đó phải thiết lập quyền lực chung (quyền lực công) của toàn xã hội. Tổ chức đó chính là nhà nước.

    – Trước khi có nhà nước, các công việc chung của xã hội do thị tộc, bộ lạc giải quyết. Khi nhà nước xuất hiện thì trách nhiệm đó thuộc về nhà nước. Nhà nước phải thay mặt xã hội, đứng ra tổ chức dân cư, giải quyết các vấn đề chung vì sự ổn định, sống còn của cả xã hội chứ không phải của riêng giai cấp, lực lượng xã hội hay cá nhân nào.

    – Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội nên ở mức độ này hay mức độ khác phải có trách nhiệm xác lập, thực hiện và bảo vệ các lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc và công dân của mình; phải tập hợp và huy động mọi tầng lớp trong xã hội vào việc thực hiện các nhiệm vụ chung để bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; duy trì trật tự xã hội và giải quyết các vấn đề phát sinh trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho các lĩnh vực hoạt động của xã hội được tiến hành bình thường, có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhà nước nhân danh và đại diện cho cả xã hội để quản lý xã hội, giải quyết các công việc chung của cả cộng đồng xã hội.

    – Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích của các giai cấp, lực lượng khác nhau trong xã hội, của cả cộng đồng như: Xây dựng và phát triển giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội (đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện…); tổ chức, điều hành và quản lý các dịch vụ công…

    – Nhà nước là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lý, công bằng xã hội, bảo vệ trật tự chung trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Bảo vệ trật tự an ninh, an toàn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông và thông tin liên lạc, bảo vệ môi trường sống…

    – Nhà nước thay mặt xã hội thực thi chủ quyền quốc gia, phòng, chống ngoại xâm, bảo vệ Tố quốc… Không những thế, nhà nước còn là công cụ để giữ gìn và phát triển những tài sản văn hoá tinh thần chung của xã hội, những giá trị đạo đức, truyền thống và phong tục, tập quán phù hợp với ý chí của nhà nước.

    – Mặc dù tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả các nhà nước, song các nhà nước khác nhau sẽ khác nhau ở mức độ biểu hiện cụ thể của thuộc tính đó, tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

    + Ở các nhà nước chủ nô và phong kiến, do cơ sở kinh tế – xã hội và trình độ phát triển của xã hội lúc đó nên tính xã hội của các nhà nước đó thể hiện khá mờ nhạt và hạn chế. Nhà nước chủ nô đã thực hiện một số hoạt động vì lợi ích chung của xã hội như xây dựng và bảo vệ các công trình thuỷ nông, xây dựng đường sá, cầu cống, thúc đẩy một số ngành nghề sản xuất phát triển.

    + Hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề chung của xã hội của nhà nước phong kiến cũng chưa nhiều nên tính xã hội của nó thể hiện còn mờ nhạt và hạn chế. Mọi quyền lực đều thuộc về các vua, chúa phong kiến, do đó nền chính trị tốt hay xấu trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào nhân cách, phấm hạnh của vua, chúa và tầng lớp quan lại trong nước. Việc đưa đất nước đến hưng thịnh hay suy vong, nhân dân ấm no hay đói khổ, lầm than trong nhiều trường hợp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò, sự sáng suốt, nhân từ hay sự ngu muội, bạo ngược của vua, chúa trong đất nước.

    + Khi nhà nước tư sản ra đời, do yêu cầu và sự phát triển của xã hội, của nền dân chủ nên tính xã hội của nhà nước tư sản thể hiện rõ rệt và rộng rãi hơn nhiều so với các nhà nước chủ nô và phong kiến, đặc biệt là ở giai đoạn hiện tại. Nhà nước tư sản đã thực hiện khá nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội, của nền văn minh nhân loại, nhưng tất nhiên là không phương hại nhiều đến lợi ích của giai cấp tư sản, của lực lượng cầm quyền.

    + Ở các nhà nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, tính xã hội đã thể hiện khá rộng rãi và rõ rệt, phần lớn các hoạt động của nhà nước là vì lợi ích chung của xã hội, của cả cộng đồng.

    + Nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này sẽ là kiểu nhà nước thể hiện tính xã hội rộng rãi, rõ rệt và sâu sắc nhất. Bởi lẽ, cơ sở kinh tế của kiểu nhà nước này là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội và quan hệ hữu nghị, bình đẳng và hợp tác giữa những người lao động. Cơ sở xã hội của nhà nước này là những người lao động mà chủ yếu là công nhân, nông dân và trí thức, những người có lợi ích và địa vị xã hội tương đối thống nhất. Vì thế, nhà nước sẽ dần dần trở thành nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là công cụ để phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội và là công cụ chủ yếu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội – xã hội đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người dân.

    Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, dân chủ và văn minh mà tính xã hội của nhà nước có xu hướng thể hiện ngày càng rõ rệt, rộng rãi và sâu sắc hơn; sự giới hạn quyền lực nhà nước được xác định ngày càng chặt chẽ hơn; tính minh bạch, công khai và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càng được thực hiện có hiệu quả hơn; quá trình xã hội hoá một số hoạt động của nhà nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn.

    Like fanpage Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Chức Năng Phóng To
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Tính Năng Chat Trên Zoom
  • Cách Chỉnh Tỷ Lệ Màn Hình Iphone X Phóng To, Thu Nhỏ Tùy Ý Thích
  • Điốt Bán Dẫn – Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Như Thế Nào?
  • M1Nd Chính Hãng {2.290.000Đ} Hỗ Trợ Não Bộ Phát Triển Năm 2021
  • Tính Giai Cấp Của Pháp Luật? Vì Sao Pháp Luật Mang Tính Giai Cấp?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Giai Cấp Và Tính Nhân Dân Của Nhà Nước
  • Phân Tích Bản Chất Nhà Nước? Bản Chất Nhà Nước Việt Nam Ta Hiện Nay?
  • Cơ Chế Thực Hiện Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mac_Lê Nin Về Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng,đặc Trưng Của Nhà Nước?
  • Tính giai cấp của pháp luật? Vì sao nói pháp luật mang tính giai cấp?. Bài tập cá nhân Lý luận Nhà nước và pháp luật đạt điểm cao 9 điểm.

    Ta định nghĩa: “Pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” 1 Pháp luật ra đời cùng sự ra đời của nhà nước, gắn liền với nhà nước. Theo học thuyết Mác Lênin, pháp luật chỉ ra đời, tồn tại trong xã hội có giai cấp, là sản phẩm của xã hội đó. Nói đến bản chất của pháp luật trước hết phải nói đến tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp.

    Sở dĩ nói pháp luật có tính giai cấp bởi: Khi xã hội có sự phân chia con người thành các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau thì bao giờ cũng có một giai cấp hay một lực lượng cầm quyền, lãnh đạo xã hội. Ngay từ trong nguồn gốc ra đời, nhà nước và pháp luật là những hiện tượng không thể tách rời. Cùng với nhà nước, pháp luật cũng là một công cụ nằm trong tay giai cấp hay lực lượng đó để thực hiện và bảo vệ quyền quyền và địa vị thống trị cũng như lợi ích của lực lượng này. Nhà nước và pháp luật chỉ là sản phẩm của xã hội có giai cấp.

    Tính giai cấp của pháp luật được thể hiện trên hai phương diện chủ yếu sau:

    – Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội. Theo nghĩa thông thường, ý chí được hiểu là “Khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình khắc phục khó khăn nhằm đạt mục đích đó”

    2 .Ý chí là khả năng đặc thù của loài người vì các loài động vật khác chỉ hành động theo bản năng mà không có ý chí còn con người khi đã có khả năng nhận thức đầy đủ thì hành vi của họ luôn nhằm đạt tới một mục đích nhất định.

    Các giai cấp thống trị lực lượng cầm quyền trong lịch sử đều theo đuổi mục đích củng cố và bảo vệ quyền thống trị của mình, chúng tìm mọi cách để đạt mục đích đó. Một trong những cách hiệu quả nhất là biến ý chí của chúng thành ý chí của nhà nước và từ ý chí của nhà nước sẽ thể hiện thành các qui định cụ thể của pháp luật, tức là thành các quy tắc xử sự có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoăc thực hiện trong toàn xã hội.

    C. Mác và Ănghen khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: Pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định.

    3 Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hoá thành ý chí của nhà nước. Ý chí đó được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do nhà nước cơ quan có thêm quyền ban hành. Nhà nước ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.

    Pháp luật là sự thể chế hoá nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu, chính sách, đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền, giúp cho lực lượng này thực hiện được quyền lãnh đạo của nó đối với toàn xã hội. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.

    Trong pháp luật có nhiều qui định thể hiện tính giai cấp của nó như: các qui định thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữ tài sản, quyền thống trị về chính trị và tư tưởng, quyền lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của lực lượng cầm quyền; xác lập hệ tư tưởng thống trị trong xã hội…

    Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kì kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có những nét riêng và cách biểu hiện riêng. Ví dụ: Pháp luật chủ nô công khai qui định quyền lực vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ. Pháp luật phong kiến công khai qui định đặc quyền, đặc lợi của địa chủ phong kiến cũng như quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn áp nhân dân lao động.

    Trong pháp luật tư sản, bản chất giai cấp được thể hiện một cách then trọng, tinh vi dưới nhiều hình thức như quý định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ… nhưng thực chất pháp luật tư sản luôn thế hiện ý chí của giai cấp tư sản và mục đích trước hết nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản. Pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhânvà nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng một xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, công bằng xã hội được đảm bảo.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    (1) Giáo trình “Lý luận nhà nước và pháp luât” – ĐH Luật HN, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội 2009, trang 66

    (2) Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng 2002, trang 1167

    (3) Mác-Ănghen, Tuyển tập, Tập 1 Nxb Sự thật, Hà Nội 1980, trang 262, 263

    Giáo trinh lý luận nhà nước và pháp luật – Đại học Luật Hà Nội. Nxb Công An nhân dân. Hà Nội 2009

    Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật – Khoa Luật ĐH Quốc gia

    Những nội dung cơ bản của môn học Lý luận về nhà nước và pháp luật – Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Thị Hồi và Lê Vương Long (chủ biên) – nxb GTVT, Hà Nội 2008

    Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật – Nguyễn Văn Động – Nxb Giáo dục, Hà Nội 2008

    Hỏi đáp những tri thức cơ bản môn Lý luận chung về nhà nước và pháp luật – TS. Trần TháI Dương – Nxb Tư Pháp, Hà Nội 2004

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Một Số Vấn Đề Về Quyền Tư Pháp, Hoạt Động Tư Pháp, Cơ Quan Tư Pháp, Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp
  • Tìm Hiểu Thuật Ngữ Cơ Quan Tư Pháp Và Cơ Quan Nội Chính
  • Tư Pháp Là Gì? Cơ Quan Tư Pháp Làm Gì?
  • Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Smartphone Android Cực Đơn Giản
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Không Bào Và Dịch Tế Bào
  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc
  • Nhân Và Không Bào Của Tế Bào Thực Vật
  • Nêu *gắn Gọn* Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Không Bào, Lizõôm, Màng Sinh Chất, Thành Tế Bào, Chất Nền Ngoại Bào Câu Hỏi 1288074
  • Tại Sao Chúng Ta Cần Một Máy Bào Điện, Chức Năng, Thiết Kế Và Nguyên Tắc Hoạt Động Của Nó
  • Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một yêu cầu tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan niệm về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

    Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật trong nền kinh tế thị trường và pháp quyền, các chức năng của Nhà nước thường được xem xét dưới góc độ chủ quyền và do đó được phân thành hai chức năng: đối nội và đối ngoại. Chức năng đối nội gồm: chức năng kinh tế; chức năng xã hội; chức năng giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân; trong đó, chức năng kinh tế là một chức năng cơ bản, là phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm hai mặt: mặt “tổ chức kinh tế” với vai trò là chủ sở hữu, chủ đầu tư tham gia hoạt động trong nền kinh tế như một chủ thể kinh tế lớn và mặt “quản lý kinh tế” với vai trò là bộ máy quản lý nhà nước cho kiến tạo phát triển, bộ máy quản lý hành chính nhà nước về kinh tế 1. Chức năng đối ngoại gồm: chức năng bảo vệ đất nước; chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

    Nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình với vai trò là một chủ thể kinh tế lớn. Bên cạnh hoạt động quản lý nền kinh tế quốc dân, Nhà nước còn thông qua doanh nghiệp Nhà nước để tiến hành các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, cũng như thực hiện các hoạt động quản trị, khai thác, sử dụng tài sản công. Các hoạt động này thể hiện ở mặt “tổ chức kinh tế” trong chức năng kinh tế của Nhà nước. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy, việc quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh sao cho có hiệu quả là vấn đề rất khó khăn và phức tạp 3.

    Nhà nước quản lý về kinh tế thông qua chức năng kinh tế và chức năng quản lý kinh tế. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước biểu thị sự tác động có chủ đích của Nhà nước đối với các mối quan hệ kinh tế, hoạt động kinh tế của các cá nhân, pháp nhân, các cộng đồng, tổ chức kinh tế, các ngành, khu vực kinh tế trong một quốc gia nhất định.

    Nhà nước quản lý kinh tế là xu hướng tất yếu ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới bởi phát triển kinh tế là điều kiện, mục tiêu hàng đầu để phát triển đất nước. Mọi nhà nước ra đời đều phải nắm giữ quyền lực chính trị và sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để định hướng và điều chỉnh mối quan hệ kinh tế – xã hội sao cho có hiệu quả, vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia cần có một nhà nước thực sự mạnh, một nhà nước thông minh để tận dụng tối đa nền kinh tế tri thức, kiến tạo, phục vụ, hành động, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho xã hội, doanh nghiệp và người dân. Để giải quyết vấn đề đó, Nhà nước cần triển khai thực hiện quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực của xã hội, nhất là quản lý nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa rộng, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động của ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước là hoạt động điều hành nền kinh tế và được thực hiện bởi cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất là Chính phủ.

    Nghiên cứu chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước có thể tiếp cận trên cơ sở các quan điểm, trường phái nghiên cứu kinh tế khác nhau như trường phái kinh tế thị trường tự do, trường phái kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trường phái kinh tế hỗn hợp và trường phái nhà nước kiến tạo phát triển.

    Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập trực tiếp đến chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước nói chung và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, đó là:

    Tại Hội thảo lý luận lần thứ tám giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả Trần Du Lịch cho rằng: “Nhà nước phải thực sự đảm nhận chức năng bổ khuyết và xử lý những thất bại của thị trường”, “chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước là tạo ra các yếu tố dẫn dắt thị trường phát triển” 6. Đặc biệt, trong cuốn sách Thể chế phát triển nhanh – bền vững, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới xuất bản năm 2021, các tác giả nhấn mạnh: “Làm rõ chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong điều kiện vận hành của cơ chế thị trường ở cấp Trung ương và địa phương” và “Để tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng trước hết cần nhận thức lại chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với thuộc tính của cơ chế thị trường” 7.

    Khi bàn về “sức mạnh của tư duy đổi mới”, tác giả Nguyễn Mại đưa ra quan điểm: “Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước không những cần làm tốt chức năng quản lý kinh tế, sửa chữa thất bại của thị trường, ví dụ đối với gia tăng sự bất bình đẳng xã hội, mà còn đóng vai trò hỗ trợ các thể chế phi thị trường để bảo đảm thực hiện tốt nhất cả các mục tiêu kinh tế và xã hội” 8.

    Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Phân định rõ hơn chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và chức năng của các tổ chức kinh doanh vốn và tài sản nhà nước” 12.

    Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân bằng Hiến pháp, các đạo luật và các quy định dưới luật. Để đưa ra khái niệm về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, cần xuất phát từ các quy định của Hiến pháp năm 2013 về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, cũng như trong mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong bộ máy nhà nước, mà trực tiếp ở đây là Quốc hội, Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao.

    Nền kinh tế nước ta được xác định “là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (khoản 1, Điều 51 Hiến pháp năm 2013). Trong đó, “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (khoản 2, Điều 51 Hiến pháp năm 2013). Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước có trách nhiệm trong việc “khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước” (khoản 3, Điều 51 Hiến pháp năm 2013). Việc “xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế” của Nhà nước phải được dựa trên cơ sở “tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân”.

    Cùng với đó, Hiến pháp cũng quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59, Khoản 2). Vấn đề về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng được đề cập trong các trách nhiệm của Nhà nước được quy định tại Điều 63 13. Trách nhiệm của Nhà nước trong các vấn đề nêu trên chính là trách nhiệm khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường khi sản xuất, kinh doanh, nhà đầu tư có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi nhuận.

    (1) Chức năng kinh tế của Nhà nước. Ở đây, chức năng kinh tế của Nhà nước bao gồm hai mặt hoạt động là tổ chức kinh tế và quản lý kinh tế, có nội hàm rộng hơn chức năng quản lý kinh tế. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước chỉ là mặt hoạt động tập trung vào quản lý nhà nước, không phải là hoạt động quản trị đầu tư hay kinh doanh, chức năng này được coi là một “tập con” của chức năng kinh tế của Nhà nước.

    (2) Chức năng tự điều tiết của thị trường. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế theo nguyên tắc chỉ làm những công việc xã hội, thị trường không làm; tập trung làm tốt công việc quản lý nhà nước về kinh tế, giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước. Nhà nước tăng cường chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, tiến tới xóa bỏ chức năng quản lý vi mô. Thay vì trực tiếp tổ chức, điều hành nền kinh tế và tham gia vào đời sống kinh tế, Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo phát triển, thiết lập môi trường ổn định, thuận lợi, phục vụ, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phát triển đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

    (3) Chức năng đại diện sở hữu toàn dân và chức năng quản trị phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản công và đóng vai trò là chủ sở hữu, chủ đầu tư tham gia hoạt động kinh tế. Chức năng quản lý kinh tế được Nhà nước thực hiện với tư cách là bộ máy kiến tạo phát triển, bộ máy hành chính nhà nước quản lý các hoạt động kinh tế đặt trong mối quan hệ toàn diện với các chức năng khác của Nhà nước như chức năng chính trị, chức năng xã hội (thể hiện qua các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, bảo vệ môi trường và sinh thái theo định hướng phát triển bền vững).

    Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cần chủ động tập trung cho kiến tạo phát triển, thông qua việc triển khai chức năng quản lý vĩ mô của mình về kinh tế, chủ yếu là: (i) tạo lập khung khổ pháp luật về kinh tế, bảo đảm môi trường và điều kiện thuận lợi để phục vụ người dân, doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; (ii) quản lý, điều hành nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, linh hoạt, chủ động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội – môi trường, dẫn dắt và hỗ trợ phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình kinh tế – xã hội, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; (iii) tăng cường thanh tra, giám sát, kiểm soát, bảo đảm các hoạt động kinh tế diễn ra theo quy định pháp luật.

    Tóm lại, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là những phương diện hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong vai trò kiến tạo phát triển, chủ động tác động tới các ngành, lĩnh vực, khu vực khác nhau của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đề ra trong từng giai đoạn phát triển đất nước. Theo đó, nội hàm của chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước ta chủ yếu bao gồm các nội dung cơ bản sau: xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về kinh tế; triển khai thực thi pháp luật về kinh tế; xử lý các vi phạm pháp luật về kinh tế và giải quyết các xung đột, tranh chấp kinh tế; giải quyết các khuyết tật của kinh tế thị trường; bảo đảm hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy kinh tế đối ngoại.

    Hội đồng Lý luận Trung ương

    1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nhà nước và Pháp luật Việt Nam (Giáo trình cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 17-19.

    2. Nguyễn Đức Minh: “Quyền tự do kinh doanh của công dân trong Nhà nước thuế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9/2009, tr. 54-59.

    3. Trần Thái Dương: Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2002, tr. 103.

    4. Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 98.

    5. Trần Nhâm (Chủ biên): Có một Việt Nam như thế – Đổi mới và phát triển kinh tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 59-60.

    6. Hội đồng Lý luận Trung ương: Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 179-181.

    7. Trần Quốc Toản (Chủ biên): Thể chế phát triển nhanh – bền vững, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 587-597.

    8. Nguyễn Mại: Đọc và suy ngẫm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 18.

    9. Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008, tr. 20.

    10. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Những điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 35.

    11. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Kinh tế chính trị Mác – Lênin (Giáo trình cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 210.

    12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 214-215.

    13. Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 24-30.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Chúng ta đều biết, chức năng của nhà nước vừa bị quy định, vừa là sự thể hiện bản chất của nhà nước. Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà chức năng của nhà nước được đề cập, xem xét dưới nhiều góc độ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn ở phạm vi xem xét nhà nước từ góc độ tính chất của quyền lực chính trị mà theo đó, bất kỳ nhà nước nào cũng đều có chức năng thống trị chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp) và chức năng xã hội.

    Theo quan niệm chung, chức năng giai cấp là cái chỉ ra rằng, mọi nhà nước bao giờ cũng là công cụ chuyên chính của một giai cấp nhất định. Mọi nhà nước đều sẵn sàng sử dụng bất cứ công cụ, biện pháp nào có thể có để bảo vệ sự thống trị của giai cấp mình. Còn chức năng xã hội của nhà nước là cái chỉ ra rằng, mọi nhà nước đều phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, đồng thời phải chăm lo một số công việc chung của toàn xã hội. Trong một giới hạn xác định, nhà nước phải hoạt động để thoả mãn những nhu cầu chung của cộng đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nó. Trong các xã hội có giai cấp đối kháng trước đây, để giữ nhà nước trong tay mình, giai cấp thống trị nào cũng buộc phải nhân danh xã hội mà quản lý những công việc chung. Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề chung của xã hội sẽ tạo điều kiện để duy trì xã hội trong vòng trật tự theo quan điểm và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Như vậy, việc thực hiện chức năng xã hội theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm quyền là phương thức, là điều kiện để nhà nước đó thực hiện vai trò thống trị giai cấp của nó. Nói về mối quan hệ biện chứng giữa hai chức năng này, Ph.Ăngghen viết: “Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”(1).

    Đề cập đến chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong khi chú trọng đến chức năng giai cấp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn coi chức năng xã hội là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của nó. Nói về vấn đề này, V.I.Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực, mà mặt cơ bản của nó là không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân cùng với việc tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ông viết: “Lần đầu tiên chuyên chính vô sản, tức là thời kỳ quá độ tiến tới chủ nghĩa cộng sản, sẽ đem lại một chế độ dân chủ cho nhân dân, cho số đông, đi đôi với sự trấn áp tất yếu đối với số ít, đối với bọn bóc lột”(2). Như vậy, có thể nói, bản thân chuyên chính vô sản, theo quan điểm mácxít, tự nó đã thể hiện sự thống nhất giữa chức năng giai cấp và chức năng xã hội.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa, về thực chất, là chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và vì thế, trong nhà nước này, nền dân chủ phải là nền dân chủ đầy đủ nhất, rộng rãi nhất và thực chất nhất – đó là nền dân chủ bao quát toàn diện mọi lĩnh vực đời sống xã hội và lấy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế làm nền tảng. Chủ nghĩa xã hội sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và không ngừng mở rộng dân chủ. “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn…”(3) đã được V.I.Lênin coi là một trong những nhiệm vụ cấu thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, là một vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Trong xã hội xã hội chủ nghĩa – xã hội không còn các giai cấp đối kháng, nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn thực hiện hai chức năng cơ bản, nhưng cơ chế và mục đích thực hiện hai chức năng đó đã có sự thay đổi căn bản. Cũng như mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa muốn thực hiện được chức năng giai cấp của mình, trước hết phải làm tốt chức năng xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều kiện tiên quyết để nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo và giữ vững địa vị thống trị xã hội về mặt chính trị, nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và các thế lực thù địch. Điều này có nghĩa là, chức năng giai cấp và chức năng xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, cái nọ làm tiền đề và là cơ sở cho cái kia. Tuy nhiên, trong điều kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và thiết lập được nhà nước của mình, thì chức năng giai cấp là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; còn chức năng xã hội (mà trong đó, việc tổ chức xây dựng xã hội mới là chủ yếu) là nhiệm vụ cơ bản, quyết định trực tiếp sự thắng lợi hay thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự khác nhau căn bản giữa việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước tư bản chủ nghĩa là ở chỗ, nhà nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chức năng xã hội không phải với tư cách là mục đích, mà là phương tiện để củng cố, đảm bảo sự thống trị chính trị và kinh tế của thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản đối với đa số là giai cấp công nhân và những người lao động khác. Theo đó, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa luôn bị giới hạn trong một phạm vi chật hẹp và bị chi phối bởi quan điểm của giai cấp tư sản, xuất phát từ những lợi ích kinh tế và chính trị ích kỷ của một thiểu số dân cư trong xã hội. Ngược lại, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa được xác định là mục đích chứ không phải là phương tiện để nhà nước ấy đảm bảo sự thống trị chính trị của nó. Chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhằm đảm bảo quyền dân chủ cho đại đa số những người lao động, xây dựng những thiết chế, cơ sở để quyền làm chủ đó được thực hiện một cách thực sự trong thực tế.

    2. Một số nhiệm vụ cơ bản thể hiện chức năng xã hội của nhà nước ta

    2.1. Không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân

    Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân làm chủ và do vậy, nhà nước của chế độ này có nhiệm vụ tạo điều kiện để cho nhân dân tham gia một cách tích cực và rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong mọi hoạt động, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đồng thời đấu tranh không khoan nhượng, trừng trị kịp thời mọi hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã chỉ rõ: “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân”(4).

    Nhiệm vụ này cũng đã được chúng ta thể chế hoá cụ thể trong Hiến pháp: “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng”(6). Chính điều đó đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho người dân vừa thực hiện quyền làm chủ gián tiếp thông qua nhà nước, vừa làm chủ trực tiếp ở cơ sở.

    Ở nước ta hiện nay, các cơ quan quyền lực nhà nước đều do dân bầu ra, chính quyền nhà nước đã trở thành công cụ sắc bén và có hiệu quả nhất để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng nhà nước, đó là dân chủ đại diện (dân chủ gián tiếp). Quyền làm chủ của nhân dân còn được thực hiện một cách trực tiếp thông qua việc tham gia vào công việc tổ chức nhà nước, tham gia bộ máy nhà nước, quyết định các chủ trương, chính sách của Nhà nước ở các cấp… Tuy nhiên, mức độ thực hiện dân chủ trực tiếp còn phụ thuộc vào phẩm chất, trình độ, năng lực của chính quyền nhà nước; vào trình độ dân trí, trước hết là trình độ văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật; vào đặc điểm lịch sử và truyền thống chính trị của dân tộc… Như vậy, thực hiện dân chủ phải là một quá trình lâu dài, từ thấp đến cao. Không thể và không bao giờ có “dân chủ tuyệt đối” hay “dân chủ nói chung”, đặc biệt là không thể có ngay và trên mọi mặt dân chủ trực tiếp trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, nhất là về kinh tế. Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, đồng thời thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng, có hiệu quả. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua đại biểu của mình (dân chủ gián tiếp), đồng thời phát huy cao độ quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua các tổ chức quần chúng, xã hội, nhất là dân chủ ở cơ sở. Cụ thể là:

    – Xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.

    – Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dân chủ trực tiếp, trước hết ở cấp cơ sở.

    2.2. Tổ chức và quản lý kinh tế

    Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ một nền kinh tế chậm phát triển, còn phổ biến là sản xuất nhỏ, nên nhiệm vụ tổ chức, quản lý kinh tế của nhà nước là hết sức khó khăn, phức tạp, chính vì thế mà nhiệm vụ phát triển kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt và là một nhiệm vụ khá mới mẻ. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp, song song với đó lại phải vừa thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội, vừa phải bảo đảm ổn định và cải thiện không ngừng đời sống nhân dân về mọi mặt, nhiệm vụ tổ chức, xây dựng của Nhà nước ta càng trở nên nặng nề. Trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, thứ VIII, thứ IX và mới đây, lần thứ X, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá những tư tưởng, quan điểm lớn về phát triển kinh tế đất nước: phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với “những hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”(7); thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; phát huy mạnh mẽ vai trò của khoa học và công nghệ; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư, kinh tế đối ngoại; v.v..

    Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đường lối kinh tế thể hiện rõ nhiệm vụ tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta xác định là: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững;…

    2.3. Tổ chức và quản lý văn hoá, khoa học, giáo dục

    Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”(8). Để có thể xây dựng thành công một xã hội như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục, văn hoá, phát triển khoa học và công nghệ – đó được coi là “quốc sách hàng đầu” để phát huy nhân tố con người. Thực hiện nhiệm vụ này, cần phải xây dựng và phát triển nền văn hoá mới, con người mới, nền khoa học và công nghệ hiện đại – đó cũng chính là những động lực quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ này được biểu hiện cụ thể ở một số nội dung sau:

    Thứ nhất, xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; thực hiện lối sống cần kiệm, văn minh, bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác, chống lại mọi biểu hiện của các loại văn hoá ngoại lai không lành mạnh.

    Thứ hai, phát triển khoa học và công nghệ với bước đi và hình thức thích hợp, bảo đảm cơ sở khoa học cho các quyết định quan trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, coi đó là công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế – xã hội .

    Thứ ba, đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức và những người lao động có tri thức, có tay nghề, có đạo đức cách mạng và tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Đồng thời với đó là việc giáo dục thế giới quan Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho toàn thể nhân dân; đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng, quan điểm xét lại, cơ hội, những luận điệu xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

    Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã xác định phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những lĩnh vực chủ yếu. Theo đó, việc tổ chức, quản lý văn hoá, khoa học và giáo dục của Nhà nước ta vừa là để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế – xã hội trước mắt, vừa là để chuẩn bị cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, hoà nhập (trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng và tinh hoa văn hoá của dân tộc) với tiến trình phát triển chung của nền văn hoá, khoa học và giáo dục thế giới. Quan điểm cơ bản của Đảng ta coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội; giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu đã thể hiện rõ ràng nhiệm vụ này của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ này, Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng hệ thống các cơ quan tổ chức, quản lý văn hoá, văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đào tạo một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật tương xứng với yêu cầu và đáp ứng tốt yêu cầu thực tế của các lĩnh vực cụ thể.

    Như vậy, xét một cách tổng thể, nhiệm vụ sáng tạo và xây dựng xã hội mới là nhiệm vụ quan trọng nhất trong chức năng xã hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở lý luận và phương pháp luận duy vật biện chứng, xét đến cùng, có thể nói, nhiệm vụ cơ bản và quyết định của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức và quản lý kinh tế, bởi một xã hội chỉ có thể ổn định, vận động và phát triển được khi có một cơ sở kinh tế – xã hội phù hợp. Yếu tố kinh tế, nhất là lực lượng sản xuất, xét đến cùng, là yếu tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, xem xét vấn đề này ở góc độ kiến trúc thượng tầng của xã hội – xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì nhiệm vụ bảo vệ các quyền tự do và không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng nhất, bởi việc thực hiện nhiệm vụ này là sự thể hiện trực tiếp nhất bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Cần Biết Về Microsoft Word
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (9)
  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Những năm qua, UBND thị trấn Lai Vung (huyện Lai Vung) tập trung triển khai nhiều giải pháp phát triển kinh tế – xã hội địa phương; thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước ở cấp cơ sở, qua đó thu được nhiều kết quả tích cực.

    Nghề đan bội tre giúp người dân thị trấn Lai Vung có thêm thu nhập

    Những tháng cuối năm, có dịp đi ngang tuyến dân cư thuộc khóm 2, thị trấn Lai Vung mới cảm nhận hết không khí nhộn nhịp nơi đây. Dọc tuyến dân cư, nhiều ngôi nhà mới đang được khẩn trương xây dựng để kịp “ăn Tết”. Với sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, đời sống người dân mới về tuyến dân cư sinh sống từng bước ổn định. Xác định thương mại – dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp là thế mạnh nên thị trấn duy trì và phát triển nhiều nghề truyền thống như: đan bội tre, nghề mộc, làm nem… góp phần phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động. Cô Lê Thị Mít (SN 1966) ở khóm 2, thị trấn Lai Vung cho biết: “Gia đình tôi không có ruộng đất, nên tôi làm nghề đan bội tre hơn 10 năm nay, trung bình mỗi ngày đan khoảng 100 cái, lời từ 20.000 – 50.000 đồng; chồng tôi thì đi làm hồ. Cuộc sống gia đình cũng tạm ổn”.

    Cùng với công tác giải quyết việc làm, Đảng ủy, UBND thị trấn cũng quan tâm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trạm y tế được đầu tư xây dựng khang trang, có đủ y, bác sĩ và trang thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Công tác đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ xã hội luôn được quan tâm thực hiện, thường xuyên tổ chức họp mặt thăm hỏi, tặng quà và hỗ trợ đời sống cho các đối tượng chính sách và hộ nghèo nhân dịp lễ, Tết hay khi gặp khó khăn.

    Hoạt động văn hóa thông tin – thể dục thể thao, giải trí có nhiều bước tiến bộ và đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt. Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã đi vào chiều sâu và nâng cao chất lượng, góp phần hạn chế tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh. Thị trấn Lai Vung có hơn 94% hộ dân đạt chuẩn gia đình văn hóa; 4/5 khóm đạt khóm văn hóa 5 năm và 10 năm liền. Đặc biệt, công tác vận động hiến máu tình nguyện thường đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn được giữ vững.

    Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hàng năm thị trấn Lai Vung đã xây dựng được nhiều công trình cầu, đường… Mỗi công trình đều có sự gương mẫu, đi đầu của đảng viên và sự đồng thuận của người dân địa phương trong việc đóng góp vốn, giải phóng mặt bằng và hiến đất. Công trình nâng cấp, mở rộng đường Lê Hồng Phong (khóm 3) và đường 30/4 (khóm 5) với tổng chiều dài trên 3.500m được nhân dân hiến hơn 10.500m2 đất để xây dựng, trị giá hàng tỷ đồng.

    Hàng năm, địa phương đều triển khai và thực hiện đúng quy định về cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông của Chính phủ. Công tác tiếp nhận và giải quyết hồ sơ các loại được đảm bảo về mặt thời gian, đáp ứng nhu cầu và giảm phiền hà cho người dân; kịp thời giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân đảm bảo đúng quy định. Đặc biệt là tổ hòa giải ở các khóm thường xuyên được củng cố và hoạt động có hiệu quả.

    Theo Chủ tịch UBND thị trấn Lai Vung Nguyễn Phước Hùng, có được những kết quả trên là do Đảng ủy, UBND thị trấn thường xuyên quán triệt và phát huy truyền thống yêu nước, ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hiện hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng-an ninh mà địa phương đã đề ra. Mọi hoạt động của đơn vị tuân thủ theo khuôn khổ của pháp luật, trên cơ sở nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ”, gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã khẳng định được lòng tin của các tầng lớp nhân dân trong tham gia đóng góp xây dựng, phát triển địa phương trên nhiều lĩnh vực.

    NHỰT AN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Hiện Nay
  • Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vai Trò Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất Cho Newbie
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    LÊ THỊ THỦY

    CHỨC NĂNG XÃ HỘI

    CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2011

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    LÊ THỊ THỦY CHỨC NĂNG XÃ HỘI

    CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

    Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

    Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Quốc Hùng

    HÀ NỘI – 2011

    MỤC LỤC

    Trang

    Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA

    NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    3

    1.1.

    Khái niệm và đặc điểm chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam

    3

    1.2.

    Quá trình phát triển của chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam

    12

    1.3.

    Vai trò và mối liên hệ giữa chức năng xã hội với các chức

    năng khác của nhà nước

    18

    Chương 2: NỘI DUNG CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC

    VIỆT NAM HIỆN NAY

    24

    2.1.

    Tình hình kinh tế, chính trị – xã hội của Việt Nam trong giai

    đoạn hiện nay

    24

    2.2.

    Nhiệm vụ, chiến lược của nhà nước Việt Nam hiện nay

    25

    2.2.1.

    Nhiệm vụ chiến lược chung

    25

    2.2.2.

    Nhiệm vụ, chiến lược cụ thể

    26

    2.3.

    Nội dung cơ bản của chức năng xã hội của Nhà nước Việt

    Nam hiện nay

    33

    2.3.1.

    Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của

    đời sống xã hội

    33

    2.3.2

    Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội

    34

    2.3.3.

    Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội

    37

    2.3.4.

    Giải quyết các vấn đề xã hội

    43

    2.3.5.

    Bảo trợ và phúc lợi xã hội

    63

    2.4.

    Những yếu tố tác động đến chức năng xã hội của Nhà nước

    Việt Nam hiện nay

    69

    2.4.1.

    Yếu tố chính trị

    69

    2.4.2.

    Yếu tố kinh tế

    70

    2.4.3.

    Yếu tố hội nhập quốc tế

    72

    Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN CHỨC

    NĂNG XÃ HỘI HIỆU QUẢ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    73

    3.1.

    Phương hướng thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt

    Nam hiện nay

    73

    3.1.1.

    Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước

    73

    3.1.2

    Đổi mới nội dung và cách thức thực hiện chức năng xã hội

    74

    3.1.3.

    Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước là sự kết

    hợp hài hòa giữa “nhà nước hóa” và “xã hội hóa”

    75

    3.1.4.

    Đổi mới chức năng xã hội phải được đặt trong mới quan hệ tổng

    thể đối mới các chức năng khác của nhà nước

    76

    3.1.5.

    Những hạn chế nhất định trong việc thực hiện chức năng xã

    hội của nhà nước

    77

    3.2.

    Những cách thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước

    trong giai đoạn hiện nay 79

    3.2.1.

    Tổ chức và kiện toàn bộ máy nhà nước

    79

    3.2.2.

    Hoàn thiện hệ thống pháp luật

    82

    Danh môc tµi liÖu tham kh¶o

    94 1

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Chức năng xã hội là một trong những chức năng quan trong, thể hiện

    rõ nét bản chất “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của nhà

    nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với chức năng chính trị,

    chức năng kinh tế, chức năng xã hội của nhà nước là một chuỗi các phương

    diện hoạt động chính của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ

    của nhà nước, là các hoạt động có quá trình hình thành và phát triển và được

    thể hiện rõ rệt theo từng giai đoạn phát triển của nhà nước Việt Nam.

    Mặc dù chức năng xã hội là một trong những chức năng nguyên thủy

    của Nhà nước, xuất hiện ngay từ khi xuất hiện nhà nước. Song đây lại là một

    vấn đề lý luận tương đối mới mẻ so với các nội dung khác trong lý luận về

    Nhà nước và pháp luật. Ở nước ta, chức năng này mới được đề cập rộng rãi

    trong những năm gần đây của thời kỳ đổi mới. Và trên phương diện lý luận và

    thực tiễn, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vai trò, phạm vi, nội

    dung, phương thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. Điều này làm

    ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo thực hiện đúng chức năng xã hội của

    nhà nước trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn tiến tới xây dựng và hoàn thiện

    nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà nước cộng hòa xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

    so nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà

    nền tảng là liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ trí

    thức” .

    4

    Từ khi ra đời, nhà nước giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong xã

    hội có giai cấp thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, giữa nhà

    nước và các tổ chức chính trị xã hội. Xã hội là cơ sở cho sự phát sinh, phát

    triển và diệt vong của nhà nước. Ngược lại, Nhà nước là một bộ phận quan

    trọng không thể thiếu được của xã hội có giai cấp. Nhờ có nhà nước tác động

    toàn diện, mạnh mẽ đến đời sống xã hội và giữ vai trò quan trọng trong việc

    thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị và duy trì những điều

    kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các chức năng của nhà nước được

    hình thành xuất phát từ nhiệm vụ duy trì sự thống trị giai cấp và duy trì sự tồn

    tại, phát triển của toàn xã hội. Mỗi chức năng của nhà nước thể hiện sự thống

    nhất về tổ chức, hình thức và biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong

    lĩnh vực hoạt động của nhà nước, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của

    nhà nước. Chức năng của nhà nước phản ánh bản chất, vai trò và vị trí của

    nhà nước đối với xã hội. “Chức năng của nhà nước là những phương hướng

    (hay phương diện, mặt hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các

    mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước trong các giai đoạn phát triển cụ thể”.

    Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước.

    Đây không phải là một khái niệm mới xuất hiện. Ph. Ăngghen không những

    thừa nhận chức năng xã hội của nhà nước tồn tại từ ngay khi nhà nước mới ra

    đời mà còn khẳng định chức năng xã hội trong nhiều trường hợp còn nổi bật

    hơn chức năng chuyên chính giai cấp:

    Nhà nước mà những nhóm tự nhiên gồm các công xã trong

    cùng một bộ lạc đã đi đến chỗ thiết lập ra trong quá trình tiến triển

    của họ (như việc tưới nước ở phương Đông)… Trên cơ sở phân hóa

    xã hội, yêu cầu tổ chức công trình tưới nước và yêu cầu đấu tranh tự

    vệ làm cho nhiều nhà nước phương Đông ban đầu vốn là chức năng

    chung của xã hội, tiêu biểu cho lợi ích chung của cộng đồng rồi dần

    dần chuyển sang địa vị đối lập với xã hội, trở thành chức năng của

    nhà nước đối với xã hội , thể hiện

    rõ bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân: Nhân dân là chủ thể tối cao

    của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức

    khác nhau như thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của

    mình, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước… Nhà nước

    Việt Nam là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu

    hiện tập trung của khối đại đoàn kết dân tộc anh em, được tổ chức và hoạt

    động trên cơ sở bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

    10

    Nhà nước thể hiện tính dân chủ rộng rãi, một mặt tạo điều kiện thuận lợi về

    chính trị, pháp lý, kinh tế để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế

    quốc dân, mặt khác quan tâm mạnh mẽ đến việc giải quyết các vấn đề xã hội,

    quan tâm phát triển văn hóa giáo dục, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tôn

    trọng các giá trị con người. Bên cạnh đó, bản chất của nhà nước còn được thể

    hiện ở chính sách đối ngoại thể hiện khát vọng hòa bình, mong muốn hợp tác

    trên tinh thần hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế giới.

    Chức năng xã hội của nhà nước thể hiện tính quyền lực và tính dân

    chủ của nhà nước. Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản

    của nhà nước, là phương diện hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xã hội, là một

    trong những hình thức thể hiện quyền lực nhà nước, luôn gắn liền với cơ cấu

    quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong bất kì

    xã hội có giai cấp nào, quyền lực nhà nước cũng vẫn là quyền lực của giai cấp

    thống trị, là công cụ chuyên chính của một giai cấp, thể hiện trên ba phương

    diện: thống trị về chính trị, về kinh tế và về tư tưởng đồng thời duy trì những

    điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội. Việc thực hiện chức năng xã hội

    của nhà nước cũng là một trong những hình thức thể hiện tính quyền lực của

    nhà nước. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước dân chủ, tức

    là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các

    cơ quan đại diện, thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động

    quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách

    đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như vào các hoạt động quản lý điều

    hành. Bên cạnh đó nhân dân tham gia công việc của nhà nước và xã hội ở cơ

    sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi

    ích của công dân và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.

    Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên nhà nước

    của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi

    quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động

    quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách

    11

    đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như các hoạt động lập pháp, hoạt động

    quản lý điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật. Điều 53

    của Hiến pháp đã ghi nhận: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước

    và xã hội…”. Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách

    tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực của nhà nước. Hiến pháp và pháp

    luật của nhà nước ta đã có nhiều quy định cụ thể để hiện thực hóa khả năng

    đó. Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình,

    điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác,

    khuyến khích phát triển các hình thức hoạt động văn học, nghệ thuật. Đó là

    kênh cực kỳ quan trọng để qua đó nhân dân góp tiếng nói của mình vào quá

    trình hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng chính sách và pháp luật của

    nhà nước. Đảng và Nhà nước đã tạo ra mọi điều kiện để công dân có thể sử

    dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền khiếu

    nại, quyền tố cáo vơi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm

    trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ

    trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại. tố cáo được cơ quan

    nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, Chính phủ

    thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin

    đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Hiến

    pháp cũng quy định trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các

    cấp thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương…

    Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước dân chủ, quyền

    lực thuộc về nhân dân nhưng để thực hiện được dân chủ thực sự, phải thu hút

    được các tầng lớp lao động tham gia một cách rộng rãi và thật sự bình đẳng

    vào quản lý công việc nhà nước và xã hội. Trên phương diện pháp lý, trình độ

    dân chủ thể hiện ở chỗ pháp luật ghi nhận và bảo đảm các quyền dân chủ cho

    công dân được thực hiện như thế nào, là sự thể hiện của việc giải quyết mối

    quan hệ giữa nhà nước và công dân. Trong xã hội dân chủ, hoạt động của nhà

    nước chỉ thể hiện trong những “khoảng hợp pháp” chứ không phải bao trùm

    12

    lên toàn bộ đời sống xã hội. Chủ trương xã hội hóa trong việc thực hiện các

    chức năng cua nhà nước trong đó có chức năng xã hội hiện nay là một biểu

    hiện rõ nét của chế độ dân chủ.

    Chức năng xã hội của nhà nước tồn tại một cách tất yếu khách quan,

    bắt nguồn từ bản chất và thể hiện bản chất chung của nhà nước, trong đó chức

    năng giai cấp giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội và chức năng

    xã hội là điều kiện, cơ sở xã hội để thực hiện chức năng giai cấp. Chức năng

    xã hội của nhà nước có nội dung khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của xã

    hội. Ngay từ khi xuất hiện, nhà nước thể hiện vai trò trên hai phương diện cơ

    bản là công cụ bảo vệ giai cấp và quản lý những công việc chung của xã hội,

    tức là thực hiện hai chức năng: chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội.

    Cuộc sống xã hội bao gồm rất nhiều lĩnh vực vận động. Các lĩnh vực

    đều cần có sự tác động của nhà nước – sự tác động được thực hiện dưới những

    hình thức và mức độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực ấy có những quy luật vận động

    đặc thù, do vậy đòi hỏi ở nhà nước một sự tác động cũng đặc thù, phù hợp với

    từng đặc điểm của từng lĩnh vực.

    1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ

    NƢỚC VIỆT NAM

    Chức năng xã hội của nước ta là một trong những chức năng cơ bản

    và nhất quán trong toàn bộ lịch sử phát triển của nhà nước Việt Nam.

    Ở Việt Nam, con đường hình thành nhà nước diễn ra có sự khác biệt.

    Theo tư liệu lịch sử, đặc biệt là về mức độ chênh lệch tài sản trong mộ táng,

    thì sự phân hóa giai cấp trong xã hội chưa sâu sắc, chưa dẫn đến mâu thuẫn

    giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng sở dĩ nhà nước vẫn được hình thành

    vì có hai yếu tố đặc biệt và quan trọng thúc đẩy, đó là: công cuộc chống ngoại

    xâm và công cuộc trị thủy – thủy lợi. Trải qua thời kỳ phát triển lâu dài, sự

    phát triển của sức sản xuất tạo ra sản phẩm dư thừa. Mặt khác, do nhu cầu bức

    thiết và sống còn của công cuộc trị thủy thủy lợi và chống giặc ngoại xâm,

    13

    Hùng Vương vốn là tù trưởng một bộ lạc đã đứng ra thống nhất các bộ lạc

    khác và trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, trở thành người chỉ huy quân

    sự tối cao và người điều hành cao nhất trong công cuộc trị thủy – thủy lợi. Lợi

    dụng uy tín và địa vị đó, Hùng Vương và các con cháu của mình, dần dần

    theo cách nói của Ph Angghen, từ việc đảm nhận “chức năng xã hội” tiêu biểu

    cho lợi ích chung đã chuyển sang “địa vị độc lập với xã hội” và vươn lên

    thống trị xã hội, biến thành ông vua cùng bộ máy cai trị giúp việc của mình.

    Trải qua các giai đoạn chính quyền đô hộ nghìn năm của phong kiến

    Trung Quốc, thế kỷ thứ X đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dựng

    nước và giữ nước của dân tộc, kết thúc thời kì thống trị hà khắc và nguy hiểm

    của phong kiến nước ngoài, giành độc lập dân tộc. Nhà nước đầu tiên, và nhà

    nước hầu hết qua các triều đại, chính quyền nhà nước đều phải đứng ra đảm

    nhận vai trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm và vai trò trị thủy

    và thủy lợi. Chức năng xã hội của nhà nước được hình thành từ khi xuất hiện

    nhà nước và duy trì trong suốt quá trình phát triển của mình.

    Trong suốt thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, dân tộc ta đã liên tục

    đấu tranh quật khởi giành độc lập dân tộc. Và ngay từ những ngày đầu mới

    thành lập, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã tập trung giải

    quyết ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Mặc

    dù, đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh với bao khó khăn chồng chất, nhưng

    ở các địa phương, chính quyền cách mạng đã từng bước mang lại quyền lợi

    cho nhân dân như giảm tô, giảm tức, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Đặc biệt là

    việc kịp thời tiến hành cải cách ruộng đất để “người cày có ruộng”, thủ tiêu

    quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân pháp, đế quốc xâm lược khác và của

    địa chủ Việt Nam. Nhà nước chú trọng việc xây dựng các văn bản pháp luật

    quy định và đảm bảo các quyền tư do dân chủ của công dân Việt Nam như:

    Sắc lệnh ngày 8/9/1945 về quyền bầu cử; Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 về

    tổng tuyển cử; Sắc lệnh ngày 29/03/46 về quyền tự do báo chí; Sắc lệnh ngày

    22/4/1946 về quyền tự do hội họp. Và đặc biệt là Hiến pháp 1946 được Quốc

    14

    hội thông qua ngày 9/11/1946 với 1 chương ghi nhận và đảm bảo những

    quyền cơ bản của công dân.

    Trong giai đoạn này bên cạnh việc ghi nhận các quyền tự do cơ bản

    của công dân, Đảng và Nhà nước ta còn ý thức tầm quan trọng của giáo dục

    đào tạo, xác định con người luôn vừa là động lực vừa là mục đích của sự

    nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Một dân tộc

    dốt là một dân tộc yếu và khẳng định ba nhiệm vụ lớn của chính quyền: là diệt

    giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Và người đã ký 3 sắc lệnh: Sắc

    lệnh số 17 thành lập bình dân học vụ, Sắc lệnh số 19 cho phép lập lớp bình

    dân học vụ vào buổi tối cho người nông dân và thợ thuyền, Sắc lệnh số 20

    quy định việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền. Nhiều lớp học,

    trường học ở các cấp học đã được mở ra, hệ thống giáo dục mới của nước ta

    được bắt đầu hình thành. Để tránh giặc đói, nhà nước đã thủ tiêu những luật lệ

    hạn chế việc chuyên chở thóc gạo cho Pháp, Nhật đặt ra trước đây và thay

    bằng một loạt quyết định mới, tìm mọi biện khôi phục và phát triển sản xuất

    bằng việc bãi bỏ những thể lệ kìm hãm sản xuất công thương và lưu thông

    hàng hóa, cải cách chế độ thuế thóc, bãi bỏ các thứ thuế nô dịch, bất công

    giảm gánh nặng cho dân chúng.

    Trong giai đoạn 1954 – 1975, mặc dù đất nước tồn tại song song hai

    chính quyền cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Nam

    đấu tranh giành và xây dựng chính quyền cách mạng, bên cạnh đó Mặt trận

    dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam còn đề ra và thực hiện những nhiệm

    vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc và

    tiến bộ, xóa nạn mù chữ, mở rộng trường học, cải cách chế độ học tập và thi

    cử, thực hiện nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc,

    thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ… còn miền Bắc xây dựng Nhà

    nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khôi phục kinh tế, cải cách xã hội chủ nghĩa,

    đấu tranh thi hành Hiệp định Gienevơ, thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm,

    vừa xây dựng kinh tế vừa đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

    15

    bằng không quân của đế quốc Mỹ, đấu tranh ngoại giao và ký kết Hiệp định

    Pari về Việt Nam, chi viện kịp thời và to lớn cho cách mạng miền Nam.

    Nhìn chung trong giai đoạn 1954 – 1975, chức năng xã hội của nhà

    nước đều được thực hiện trên cơ sở nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào sự viện

    trợ từ bên ngoài. Đất nước trong giai đoạn chiến tranh bị chia cắt thành hai

    miền với hai chế độ chính trị khác nhau, song Nhà nước ta vẫn xây dựng một

    hậu phương vững chắc, động viên cao độ sức người, sức của cho tiền tuyến,

    quyết tâm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chức năng xã hội của

    nhà nước trong giai đoạn này chưa được bộc lộ rõ so với chức năng chuyên

    chính giai cấp và chức năng kinh tế, và việc thực hiện chức năng xã hội trong

    giai đoạn này phần lớn nhờ vào việc thực hiện chức năng khác của nhà nước

    và chủ yếu là chức năng kinh tế.

    Trong giai đoạn 1976 – 1986, đất nước hòa bình, thống nhất và bước

    vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nhưng do mắc

    phải những sai lầm chủ quan duy ý chí, ấu trĩ tả khuynh, duy trì quá lâu cơ

    chế quản lý cũ dẫn đến nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội

    trầm trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là mốc quan trọng dẫn

    đến sự chuyển đổi trong nhận thức và tư duy của Đảng: Xác định đổi mới

    kinh tế là trọng tâm, là cơ sở cho việc đổi mới từng bước hệ thống chính trị.

    Chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường và

    theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị phải được đổi mới từng

    bước vững chắc, giữ vững ổn định chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc

    đổi mới kinh tế. Cơ sở lý luận của công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ

    nghĩa là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chức năng xã hội của

    nhà nước được thực hiện phiến diện. Các đối tượng được hưởng các chế độ

    bảo đảm và dịch vụ công chủ yếu là người lao động trong khu vực hành chính

    sự nghiệp, trong các cơ quan và đơn vị kinh tế nhà nước. Với nguyên tắc thực

    16

    hiện phân phối công bằng, trực tiếp, trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể

    thậm chí nhà nước xác định cụ thể tới những nhu cầu tối thiểu của từng cá

    nhân về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe… Tất cả được thực hiện với nguồn

    kinh phí của nhà nước, tất cả đều dựa vào nhà nước.

    Với nên kinh tế thị trường, ngoài việc thực hiện các chế độ đối với

    những đối tượng trên, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến tầng lớp nhân dân

    khác, đặc biệt là nông dân, nông thôn và những vùng đặc biệt khó khăn. Đảm

    bảo đời sống tối thiểu cho mọi thành phần dân cư trong xã hội bằng cách tạo

    mọi điều kiện, cơ hội để mọi thành viên trong xã hội cùng phát triển theo khả

    năng của mình, bảo đảm cho mọi người sống trong môi trường xã hội an toàn,

    lành mạnh, mọi người đều được quan tâm chăm sóc, thụ hưởng các phúc lợi

    về giáo dục, y tế, văn hóa…

    Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc xây dựng một nhà

    nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân (theo

    Hiến pháp năm 1992) là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Điều này lại

    một lần nữa khẳng định bản chất giai cấp và chức năng giai cấp của nhà nước

    mang bản chất giai cấp công nhân vẫn được giữ vững, đồng thời chức năng xã

    hội, bản chất xã hội của nhà nước được xác định một cách rõ ràng hơn. Chức

    năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn này có sự thay đổi về nội dung và

    phương thức thực hiện, xuất hiện từ yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội

    nhằm đáp ứng đòi hỏi của chính sự vận động và phát triển của xã hội. Từ sự

    thay đổi cơ chế kinh tế, hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình

    kinh tế như: việc làm, thu nhập, văn hóa, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội… đòi

    hỏi phải có sự kiểm soát từ phía nhà nước. Dân chủ trong kinh tế đòi hỏi dân

    chủ trong lĩnh vực xã hội phải được phát huy, nhân dân ngày càng tham gia

    tích cực vào việc giải quyết các công việc nhà nước, công việc xã hội. Vị trí

    và vai trò của nhà nước chuyển dần từ vai trò “một người bảo trợ” chung cho

    toàn xã hội chuyển sang thành “người cầm lái”, khởi xướng và tổ chức các

    hoạt động xã hội, là chủ thể hoạch định và thực thi các chính sách xã hội. Một

    18

    có công, người được hưởng chính sách xã hội, phân phối thu nhập xã hội

    công bằng, hợp lý, tạo động lực phát triển mạnh, góp phần phòng, chống tiêu

    cực, tệ nạn xã hội. Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo

    đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo

    dục và đào tạo, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thông tin,

    thể thao…

    Những tiền đề cơ bản của công cuộc đổi mới và những chuyển biến

    tích cực của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng công quyền và chức

    năng xã hội theo cơ chế mới, ngày càng thích ứng với điều kiện phát triển nền

    kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập kinh tế

    quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không thể tách rời vai trò lãnh

    đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã làm cho công việc thực hiện chức

    năng xã hội của Nhà nước tiến những bước quan trọng.

    1.3. VAI TRÒ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG XÃ HỘI VỚI CÁC

    CHỨC NĂNG KHÁC CỦA NHÀ NƢỚC

    Chức năng xã hội là chức năng cơ bản của nhà nước, mọi nhà nước

    đều phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung đồng thời phải chăm

    lo một số việc chung của toàn xã hội. Ph. Ăngghen đã viết: “Ở khắp nơi, chức

    năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng

    chí kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”. Cũng như

    mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa

    muốn thực hiện chức năng giai cấp của mình trước hết phải làm tốt chức năng

    xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng

    sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự

    do dân chủ của nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện

    tiên quyết để nhà nước đảm bảo và giữ vững địa vị xã hội về mặt chính trị,

    nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột

    và các thế lực thù địch.

    19

    Chức năng xã hội thể hiện bản chất của nhà nước, là cơ sở để xác định

    và đánh giá bản chất nhà nước: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

    Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực

    nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai

    cấp nông dân và tầng lớp trí thức” .

    21

    Về sở hữu, tồn tại sở hữu toàn dân, tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà

    nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động

    trực tiếp hay thông qua khâu trung gian nhất định tham gia vào quá trình

    hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển của

    đất nước. Và trên lĩnh vực phân phối nhà nước ưu tiên phân phối theo lao

    động và phúc lợi xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh té với việc thực hiện công

    bằng xã hội, hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…

    Chức năng xã hội của nhà nước mang lại sự ổn định về mặt xã hội.

    Việc đảm bảo phúc lợi xã hội ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của

    chính sách kinh tế tiến bộ, nhà nước đảm bảo sự công bằng trong xã hội (địa

    vị pháp lý ngang nhau thụ hưởng ngang nhau, lao động ngang nhau thì hưởng

    thụ ngang nhau, đóng góp, cống hiến cả về vật chất và tinh thần cả trong quá

    khứ và hiện tại ngang nhau cho sự phát triển của đất nước thì được hưởng

    ngang nhau… Với việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, đảm bảo cho

    mọi người dân được sống trong một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái sẽ

    tạo ra sự đồng thuận lớn trong mọi tầng lớp nhân dân. Và thông qua việc thực

    hiện các chức năng xã hội của nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và

    đào tạo, nhà nước lại cung cấp cho thị trường một nguồn lao động chất lượng,

    là nguồn lao động chính tạo ra năng suất lao động cao và lực lượng các cán bộ

    quản lý doanh nghiệp cho mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình kinh tế.

    Chức năng xã hội mang lại sự ổn định về mặt xã hội, là tiền đề cho

    việc thực hiện các chức năng nhà nước khác như chức năng chính trị và chức

    năng kinh tế, và ngược lại các chức năng này là điều kiện đảm bảo để thực

    hiện chức năng xã hội của nhà nước.

    Trong giai đoạn hiện nay, nội dung cơ bản đồng thời cũng là mục tiêu

    của chức năng chính trị của nhà nước ta là bảo vệ vững chắc chế độ chính trị,

    chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng

    sản Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trên đất nước

    Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài, trấn áp sự chống phá của các thế lực thù

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy In Phun Màu Epson L3150 Kèm 4 Bình Mực Chính Hãng Wifi Direct Giá Rẻ 4.100.000₫
  • Máy In Phun Màu Đa Năng Epson L4150
  • Những Điều Cần Biết Về Công Cụ Data Analysis
  • Hướng Dẫn Cách Hẹn Giờ Điều Hòa Gree Thực Hiện Đúng Cách
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Gree Đúng Cách Từ Chuyên Gia
  • Chức Năng Nhà Nước Là Gì? Phân Tích Chức Năng Của Nhà Nước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao Thức Onvif, Những Lợi Ích Và Hạn Chế
  • Chuẩn Onvif Là Gì? Tìm Hiểu Về Camera Chuẩn Onvif
  • Chuần Onvif Là Gì? Tại Sao Phải Sử Dụng Chuẩn Onvif Trong Camera Ip?
  • Chuẩn Onvif Là Gì? Tìm Hiểu Về Chuẩn Onvif
  • Chuẩn Onvif Là Gì? Camera Ip Onvif Nghĩa Là Sao?
  • Chức năng Nhà nước là gì? Phân tích Chức năng của nhà nước?

    Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nước phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.

    2. Phân tích chức năng của nhà nước

    – Định nghĩa trên cho thấy, nói đến chức năng nhà nước là nói đến những hoạt động của nhà nước để thực hiện những công việc mà nhà nước phải làm, đó là tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội.

    Những công việc đó gắn liền với nhà nước mà không một thực thể nào trong xã hội có thể làm thay nhà nước, đồng thời, nhà nước có đủ khả năng để làm. Nói cách khác, chức năng nhà nước là khái niệm dùng để chỉ những hoạt động, phần việc quan trọng của riêng nhà nước mà chỉ nhà nước mới có đủ khả năng, điều kiện để thực hiện những hoạt động đó. Do vậy, có thể hiếu, chức năng nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Đó là những mặt hoạt động, hướng hoạt động chủ yếu của nhà nước, phát sinh từ bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò và điều kiện tồn tại của nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.

    – Chức năng của nhà nước luôn phản ánh bản chất của nhà nước hay do bản chất của nhà nước quyết định. Ví dụ, với bản chất là bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến và bộ máy quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự của xã hội phong kiến nên chức năng đàn áp và nô dịch nông dân bằng quân sự và về tư tưởng, tiến hành chiến tranh xâm lược nước khác khi có điều kiện… là các chức năng phổ biến của các nhà nước phong kiến. Còn với bản chất là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và là bộ máy chuyên chính vô sản, các chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật… là chức năng phổ biến của các nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    – Chức năng của nhà nước còn phụ thuộc vào nhiệm vụ cơ bản của nhà nước. Giữa chức năng và nhiệm vụ của nhà nước vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nhiệm vụ của nhà nước là những công việc đặt ra đòi hỏi nhà nước phải giải quyết theo những mục tiêu đã định sẵn. Nhà nước có hai loại nhiệm vụ là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài và nhiệm vụ trước mắt, cấp bách. Nhiệm vụ chiến lược, lâu dài là những vấn đề nhà nước phải giải quyết trong suốt chặng đường phát triển của đất nước. Nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài được thực hiện thông qua các chức năng nhà nước nên chức năng nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với nhiệm vụ chiến lược của nhà nước và nhiệm vụ chiến lược của nhà nước có vai trò quyết định đối với việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước. Ví dụ, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tất cả các chức năng của Nhà nước ta đều được xác định và thực hiện nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược này. Nhiệm vụ trước mắt, cấp bách là những công việc mà nhà nước phải giải quyết trong ngắn hạn, ngay lập tức để thực hiện một chức năng nào đó của nhà nước, do vậy, nhiệm vụ trước mắt, cấp bách có phạm vi hẹp hơn so với chức năng nhà nước, được xác định nhằm thực hiện chức năng, do chức năng quyết định. Ví dụ, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường của các doanh nghiệp hiện nay được xác định và thực hiện nhằm thực hiện chức năng quản lý môi trường của nhà nước.

    – Giữa chức năng và vai trò của nhà nước vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt. Chức năng của nhà nước thường nói tới việc nhà nước được sinh ra để làm gì, còn vai trò của nhà nước thường đề cập công dụng, tác dụng của nhà nước. Trong trường hợp này, chức năng và vai trò của nhà nước có ý nghĩa gần như tương tự nhau. Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa trên, vai trò của nhà nước còn được sử dụng để nói về tầm quan trọng của nhà nước (chẳng hạn vai trò của nhà nước đối với xã hội).

    3. Các yếu tố ảnh hưởng chức năng nhà nước

    Chức năng của nhà nước chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

    – Điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ phát triển của nó. Thực tế cho thấy, nhà nước phải làm gì, làm như thế nào, điều đó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước, do đó, các nhà nước khác nhau có thể có chức năng khác nhau. Ví dụ, chức năng của nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây khác với chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Trong một nhà nước cụ thể, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, số lượng chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng, nội dung, cách thức thực hiện từng chức năng cũng có thể khác nhau. Ví dụ, trước năm 1986, quản lý, bảo vệ môi trường chưa phải là chức năng của Nhà nước ta nhưng hiện nay nó trở thành chức năng có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu. Hoặc, thiết lập và phát triển các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế là chức năng không thể thiếu của các nhà nước đương đại…

    – Chức năng của nhà nước còn phụ thuộc vào bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước và hoàn cảnh quốc tế. Điều này đã được phân tích ở trên.

    4. Mối quan hệ giữa các chức năng của nhà nước

    Một nhà nước thường có nhiều chức năng và các chức năng đó có liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện chức năng này thường có ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng khác. Chẳng hạn, nhà nước chỉ có thể thực hiện tốt việc tổ chức và quản lý kinh tế khi thực hiện tốt hoạt động bảo vệ tổ quốc, tương tự các hoạt động về mặt xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo trợ xã hội… chỉ có thể thực hiện tốt khi thực hiện có hiệu quả hoạt động tổ chức và quản lý kinh tế.

    5. Các phương thức (hình thức và phương pháp) thực hiện chức năng của nhà nước

    – Để thực hiện chức năng của mình, đòi hỏi nhà nước phải sử dụng các hình thức khác nhau, trong đó có các hình thức cơ bản (hình thức mang tính pháp lý) là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật.

    Muốn tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội, thiết lập trật tự xã hội, nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người, xác định rõ những việc được làm, không được làm, phải làm cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhất định để làm cho các quan hệ đó phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Ví dụ, muốn thiết lập trật tự an

    toàn giao thông đường bộ, nhà nước phải ban hành luật giao thông đường bộ để hướng dẫn cách tham gia giao thồng đường bộ cho tất cả mọi người; để bảo đảm sự ổn định của gia đình, nhà nước phải ban hành luật hôn nhân và gia đình để hướng dẫn cách xử sự của các thành viên trong gia đình với nhau… Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật được từng bước hình thành và hoàn thiện.

    Pháp luật sau khi được ban hành thường không thể tự đi vào đời sống, có nhiều quy định mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội không tự thực hiện được, do đó, nhà nước phải tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm tổ chức cho các chủ thể trong xã hội thực hiện các quy định của pháp luật, chẳng hạn, nhà nước tiến hành phổ biến pháp luật cho người dân, giải thích, tuyên truyền, động viên, khuyến khích tính tích cực của họ, cung cấp nhân lực, vật lực, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật… Có như vậy, những mong muốn, yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước thế hiện trong pháp luật mới có thể được thực hiện một cách có hiệu quả.

    Trong quá trình thực hiện pháp luật, vì những lý do khác nhau, việc vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi. Khi đó, nhà nước phải bảo vệ pháp luật bằng cách thực hiện các hoạt động để xử lý người vi phạm, giáo dục, cải tạo họ cũng như răn đe, phòng ngừa chung nhằm bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật, bảo đảm các yêu cầu của nhà nước được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác.

    Ngoài ra, còn có các hình thức khác như tổ chức các cuộc hội thảo, các phong trào thi đua, các biện pháp tác nghiệp vật chất, kỹ thuật…

    – Phương pháp thực hiện chức năng của nhà nước gồm có hai phương pháp chủ yếu là thuyết phục và cưỡng chế. Thuyết phục là dùng lời nói để thuyết trình, giảng giải, chứng minh, phân tích… nhằm tạo ra sự phục tùng tự giác của đối tượng thuyết phục (hoặc đối tượng quản lý) đối với chủ thể thuyết phục (hoặc chủ thể quản lý). Cưỡng chế là bắt buộc bằng bạo lực một tổ chức hoặc một cá nhân phải làm hay không được làm một việc gì đó, hoặc phải gánh chịu sự thiệt hại về nhân thân, về tự do hoặc về tài sản… đã được quy định trong pháp luật. Ngoài hai phương pháp ừên còn có các phương pháp khác như phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính…

    Trong số các chức năng của Nhà nước Việt Nam hiện nay thì ba chức năng quan trọng nhất là chức năng kinh tế, chức năng xã hội và chức năng bảo vệ Tố quốc.

    Like fanpage Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Chức Năng Nhà Nước Và Các Loại Chức Năng Nhà Nước?
  • Nguyên Nhân Hình Thành U Nang Buồng Trứng
  • Nang Cơ Năng Buồng Trứng Và Những Kiến Thức Cơ Bản Có Thể Bạn Chưa Biết
  • U Nang Buồng Trứng Là Gì
  • Nang Buồng Trứng Biến Mất, Vì Sao?
  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chức Năng Của Nhà Nước Và Bộ Máy Nhà Nước
  • Bài 2: Chức Năng Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Usb Otg Là Gì Và 5 Chức Năng Tuyệt Vời Của Nó Trên Android
  • Chức năng của nhà nước là phương hướng hoạt động chủ yếu của Nhà nước thể hiện bản chất, vai trò, sứ mệnh xã hội và mục tiêu của Nhà nước.

    Chức năng của Nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhiệm vụ của Nhà nước. Nhiệm vụ, công việc phải làm, vì một mục đích và trong một thời gian nhất định, là sự cụ thể hoá chức năng – phương hướng hoạt động của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước trên từng lĩnh vực quan hệ, sinh hoạt xã hội nhất định. Do chức năng của Nhà nước xuất phát từ bản chất giai cấp, vai trò, sứ mệnh xã hội của Nhà nước nên chức năng là một phạm trù tồn tại thường trực, và có tính lâu dài. Một kiểu nhà nước đang tồn tại thì các chức năng của nó vẫn hoạt động, vận hành. Nhiệm vụ cụ thể hoá chức năng của Nhà nước trên từng giai đoạn phát triển của Nhà nước thì có thể thay đổi, khi nhiệm vụ lịch sử được đặt ra trước nhà nước đã hoàn thành. Đối với nhà rước xã hội chủ nghĩa chẳng hạn, có chức năng tổ chức, phát triển, quản lí nền kinh tế xã hội được cụ thể hoá thành nhiệm vụ có tính chiến lược, lịch sử là tiến hành công nghiệp hoá đối với một giai đoạn phát triển nhất định, có thể kéo dài nhiều thập kỉ, nhưng vẫn là chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định.

    Chức năng của Nhà nước có thể được phân chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Chức năng đối nội là những hoạt động chủ yếu của Nhà nước về mặt đối nội như chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng quản lí văn hoá, giáo dục, chức năng quản lí khoa học, kĩ thuật và công nghệ, chức năng bảo vệ các quyền công dân và quyền con người; chức năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Chức năng đối ngoại là những hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong quan hệ với các quốc gia, các dân tộc và các tổ chức quốc tế như phòng thủ đất nước, thiết lập các quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế, đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ và dân chủ trên phạm vi toàn thế giới.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Công Tác Mặt Trận
  • Phát Huy Vai Trò Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh
  • Phát Huy Vai Trò Của Các Trưởng Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư
  • Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh Sắp Xếp, Cơ Cấu Lại Tổ Chức Bộ Máy
  • Kho Bạc Nhà Nước (State Treasury) Là Gì? Nhiệm Vụ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Kho Bac Nhà Nước Tp Uông Bí
  • Kho Bạc Nhà Nước Tiếng Anh Là Gì?
  • Kho Bạc Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Kho Bạc Nhà Nước
  • Hoạt động nghiệp vụ tại Kho bạc Nhà nước Hưng Yên. Ảnh Thuỳ Linh.

    Quyết định 1618/QĐ-BTC nêu rõ, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt và hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước; Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra các Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp huyện) thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quy định.

    Đối với nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ tài chính nhà nước theo quy định của pháp luật, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh cần tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định của pháp luật; Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyết định của cấp có thẩm quyền, quản lý tiền, tài sản, ấn chỉ đặc biệt, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.

    Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện chương trình hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà nước; cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.

    Cơ cấu tổ chức

    Theo Quyết định này của Bộ Tài chính, các phòng chức năng tham mưu, giúp việc Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, gồm có: Phòng Kế toán nhà nước; Phòng Kiểm soát chi; Phòng Thanh tra – Kiểm tra; Phòng Tài vụ – Quàn trị; Văn phòng.

    Riêng Kho bạc Nhà nước Hà Nội được tổ chức 3 Phòng Kiểm soát chi, Kho bạc Nhà nước TP. Hồ Chí Minh được tổ chức 2 Phòng Kiểm soát chi.

    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/ 2021.

    Thùy Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Kiểm Toán Nhà Nước Tại Việt Nam
  • Luận Văn Vai Trò Và Chức Năng Của Kiểm Toán Tài Chính Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Luận Văn Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế
  • Bộ Quốc Phòng Công Bố Quyết Định Và Giao Nhiệm Vụ Cho Cơ Quan Kiểm Toán Bộ Quốc Phòng
  • Nhiệm Vụ Của Kiểm Toán Viên
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100