【#1】Phát Triển Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Thông Qua Việc Đổi Mới Hoạt Động Tổ Chức Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Dạy cách đọc sách là một cách thức dạy học sinh tự học, tự phát huy tiềm năng, tự phát triển toàn diện theo sở thích, nhu cầu của mỗi cá nhân theo định hướng phát triển năng lực người học là giúp học sinh phát triển năng lực tự học, biết thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau và ngày càng đa dạng, phong phú để có năng lực học tập suốt đời. Để phát triển năng lực tự học cho học sinh theo định hướng đổi mới đúng theo chỉ đạo của ngành, chúng tôi thiết nghĩ, giải pháp cho văn hóa đọc, xây dựng và phát triển văn hóa đọc phải bắt đầu từ các nhà trường, đặc biệt là các trường Tiểu học. Từ kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động chuyên môn ở đơn vị công tác, tôi xin mạnh dạn trao đổi “Một vài biện pháp góp phần phát triển văn hóa đọc cho học sinh thông qua việc đổi mới hoạt động tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học ở trườngTiểu học”

1. Rèn luyện thói quen đọc Sách giáo khoa nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh.

Sách giáo khoa (SGK) là công cụ quan trọng không thể thiếu được trong trường học vì đó là tài liệu chính thống do Bộ GD&ĐT biên soạn vừa là cơ sở tạo nên thống nhất trong cách phối hợp giữa giáo viên và học sinh. Hơn nữa SGK được xem là người thầy thứ hai, sau người thầy trên lớp giúp học sinh tiếp cận, chiếm lĩnh tri thức. Một trong những tác động lớn nhất tạo dần thói quen đọc sách đó là sử dụng SGK để giúp học sinh tự học, đây chính là phương pháp giảng dạy theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng SGK trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh, đơn vị chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các việc sau:

1.1. Hướng dẫn học sinh cách đọc SGK chuẩn bị bài trước khi lên lớp

Giáo viên phải giúp học sinh thấy được sự khác biệt giữa việc có chuẩn bị đọc bài trước trong SGK theo yêu cầu của GV khi học tập trên lớp. Một trong những lý do quan trọng khiến học sinh không chuẩn bị bài trước SGK ở nhà theo yêu cầu của GV là các em không thấy sự khác biệt giữa việc có chuẩn bị và không chuẩn bị trước ở nhà theo dặn dò của GV. Cứ như thế, từ bài này qua bài khác, từ môn này qua môn khác, lâu dần thành thói quan xấu: từ chỗ đọc chiếu lệ lúc đầu, dần dần các em không buồn đọc nữa. Sở dĩ như thế là do giáo viên khi lên lớp không có biện pháp kiểm tra thường xuyên, đúng mức, hợp lý đối với yêu cầu đọc bài trước ở nhà. Để khắc phục thực trạng này, tùy tình hình thực tế và trình độ học sinh từng lớp học, người giáo viên phải thường xuyên có ý thức kiểm tra việc đọc SGK, chuẩn bị bài học trước ở nhà của học sinh bằng các biện pháp sau:

– Không để học sinh mở SGK ngay từ đầu tiết học mà chỉ mở ra theo yêu cầu của giáo viên

– Đặt những câu hỏi để học sinh nêu cảm nghĩ hay suy nghĩ của các em về nội dung hay vấn đề mà giáo viên yêu cầu đọc trước trong SGK.

– Trước khi giảng bài mới, giáo viên yêu cầu học sinh nêu những vấn đề mà các em cho là hay nhất, mới nhất mà các em thu thập được sau khi đọc SGK ở nhà theo yêu cầu của GV trước đó. Phần này GV nên có nhận xét đánh giá động viên vì đây cách đọc tích cực cần khuyến khích.

– Trước khi giảng bài mới, giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu hỏi (có thể là điều mà các em muốn biết hoặc muốn được giải thích sau khi đọc) và GV dùng câu hỏi này để yêu cầu học sinh trên lớp tham gia trả lời. Sự tham gia trả lời của các em vừa là tích cực hóa hoạt động của học sinh vừa giúp cho giáo viên theo dõi một cách giáp tiếp sự chuẩn bị đọc bài trước ở nhà của học sinh.

– Giáo viên yêu cầu một vài học sinh trình bày trước lớp một cách tóm tắt về nội dung đã thu hoach được sau khi đọc trong SGK theo yêu cầu của GV.

1.2. Hướng dẫn học sinh cách đọc SGK trên lớp học, biết cách đọc sao cho vừa tiết kiệm được thời gian vừa đạt hiệu quả.

Trên thực tế, phần lớn học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa của từ “đọc” SGK. Đối với các em đọc chỉ đơn thuần đưa mắt xem qua các câu chữ đôi khi kèm theo phát âm và khi xem đến dòng chữ cuối cùng trong phần có nhiệm vụ đọc thì xem như đã hoàn thành nhiệm vụ. Còn đối với kênh hình thì các em có thể không xem hoặc có xem thì chỉ nhìn lướt qua chứ không có sự nghiền ngẫm đối chiếu song hành với bài học (nhất là bản đồ Lịch sử; Địa lý lớp 4,5, hình ảnh trong sách Tự nhiên xã hội lớp 1,2,3; Khoa học lớp 4,5; sách Tiếng Việt, Toán…được đưa vào SGK nhằm minh họa hay cụ thể hóa bài học). Kết quả là học sinh chỉ biết được cái vỏ của kiến thức mà chưa thấy được mối liên hệ bên trong của các kiến thức cần học.

Hướng dẫn học sinh sử dụng SGK là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên. Học sinh biết cách đọc (đọc có mục đích, có định hướng), sử dụng SGK hợp lý là góp phần phát huy tính chủ động học tập, tính tích cực của tư duy từ đó tạo được thói quan tự học cho học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục.

2. Rèn luyện cho học sinh thói quen đọc sách, tận dụng các nguồn thông tin ngoài sách giáo khoa, nhất là thông tin từ thư viện nhà trường để hỗ trợ cho việc học tập có hiệu quả.

Đọc sách là nhu cầu của tất cả mọi người là nhu cầu cần thiết đối với mỗi học sinh, sách không chỉ giúp các em nâng cao nhận thức, hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại mà còn hình thành ở các em những kỹ năng cần thiết cho tương lai. Đối với các em học sinh tiểu học, ở giai đoạn đang hình thành thói quen, nhân cách thì việc đọc sách lại càng có một ý nghĩa quan trọng. Rèn luyện thói quen đọc sách có thể giúp cho việc học của học sinh có ý nghĩa và dễ dàng hơn. Bởi vậy, mỗi giáo viên phải luôn có ý thức phát triển văn hóa đọc của học sinh bằng cách trong mỗi bài giảng của mình thì phải chú ý đến việc yêu cầu các em phải đọc sách, đến các buổi học sau thì phải kiểm tra xem các em đã đọc sách như thế nào; thậm chí tạo ra các buổi tranh luận về sách đối với các em, tạo ra không khi sôi nổi. Quan trọng nhất là giáo dục cho các em kỹ năng đọc, bởi vì thà đọc ít mà tốt, còn hơn là đọc nhiều mà không hiểu.

Để nâng cao chất lượng văn hóa đọc các thầy cô giáo và cán bộ thư viện cần hướng dẫn học sinh cách đọc sách sao cho khoa học và hiệu quả, các kỹ năng đọc sách cơ bản cũng như định hướng cho học sinh cách chọn lựa các đầu sách hay. Để hình thành phương pháp đọc sách, bước đầu hướng dẫn học sinh áp dụng quy trình sau đây:

Bước 1: Xác định mục đích đọc sách.

Mục đích đọc sách sẽ chi phối toàn bộ quá trình đọc sách. Xác định được mục đích đọc sách sẽ giúp học sinh tránh được đọc tràn lan, tốn công sức và thời gian. Mục đích đọc còn giúp các em có cách đọc hợp lí, phù hợp với nhiệm vụ và thời gian có thể dành cho đọc sách. Xác định mục đích đọc sách là trả lời câu hỏi: “Đọc để làm gì?”. Từ đó mới trả lời được câu hỏi: “Đọc sách gì, chỗ nào, và đọc như thế nào?”.

Bước 2: Tìm hiểu địa chỉ cuốn sách.

Hướng dẫn học sinh đọc hai trang đầu và trang cuối của cuốn sách để biết: Tên cuốn sách; Tên tác giả; Tên nhà xuất bản; Năm xuất bản; Lần xuất bản.

Những thông tin này còn rất tiện lợi khi học sinh tìm sách trong thư viện hoặc trên mạng Internet. Học sinh sẽ cung cấp những thông tin về quyển sách cần tìm cho người thủ thư, và họ sẽ giúp các em tìm quyển sách đó một cách dễ dàng.

Bước 4: Xem lời giới thiệu, lời tựa, lời nói đầu.

Hướng dẫn các em đọc lời giới thiệu hay lời tựa để biết cuốn sách đề cập đến vấn đề gì, đối tượng nào sử dụng cuốn sách có ích hơn cả và phương pháp đọc có hiệu quả.

Lời nói đầu do tác giả cuốn sách viết. Qua lời nói đầu, người đọc dễ dàng hiểu được ý đồ của tác giả, hình dung được một cách khái quát vấn đề cơ bản được đề cập và tác dụng; mục đích của cuốn sách mà tác giả mong muốn; biết vấn đề quan trọng nhất cuốn sách sẽ trình bày. Đôi khi, qua lời mở đầu, chúng ta còn thu lượm được cả lời khuyên của tác giả nên tìm hiểu và nghiên cứu cuốn sách như thế nào.

Bước 5: Xem lời kết luận và tóm tắt ở cuối sách.

Mục đích của việc xem lời kết luận và tóm tắt của cuốn sách là để thấy rõ nội dung cô đọng nhất, những kết luận chính và sự khẳng định của tác giả đối với những vấn đề đã trình bày.

Bước 6: Đọc sách (đọc một vài đoạn hoặc đọc đi sâu) tùy vào nhu cầu tìm hiểu của mỗi cá nhân.

Sau khi đã có được thông tin về nội dung và mục đích cuốn sách, người đọc sẽ trực tiếp tìm hiểu vào nội dung bằng cách đọc qua một số đoạn, phát hiện những đoạn lí thú, có giá trị. Nhờ đọc qua một vài đoạn như vậy, những nhận định về nội dung cuốn sách sẽ dần được chính xác hoá, tạo điều kiện cho bước đọc sau. Để lĩnh hội được những tri thức cần thiết, đạt được mục đích đọc sách, bạn cần phải đi sâu nghiên cứu cuốn sách.

Đồng hành với việc hướng dẫn học sinh có phương pháp đọc sách, với mỗi bài học giáo viên cần giới thiệu cho học sinh những tài liệu cần đọc hiện có trên thư viện, trên mạng Interet, những tài liệu bổ trợ, nâng cao mà các em cần đọc. Giúp học sinh nhận thức được khi đứng trước một cuốn sách hay cần phải đọc như thế nào cho hiệu quả, cách sắp xếp sách khoa học sau khi đọc, cách tóm tắt nội dung cuốn sách và ghi lại những tri thức cần thiết trong sách.

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh bất kể sử dụng sách tham khảo với mục đích gì, đều cần phải tìm ra nội dung trọng điểm ở bên trong, nếu không chỉ thấy đó là những kiến thức lẫn lộn, phức tạp, không có tác dụng gì. Sau khi tìm ra trọng điểm, hướng dẫn học sinh có thể gạch chân hoặc làm kí hiệu, chỗ không hiểu lại dùng một loại bút màu khác để chú ý, đồng thời hỏi thêm giáo viên.

Sử dụng bút màu để đánh dấu những chỗ khó hiểu, chỗ trọng điểm, lần sau, khi ôn tập nhìn một cái là các em sẽ thấy rõ ràng ngay, tiết kiệm rất nhiều thời gian. Sách tham khảo, nếu ta chỉ đọc lướt một lần, nội dung trong sách sẽ không thể đọng lại trong đầu, do đó khi đọc sách tham khảo nhất định phải chuẩn bị một quyển sổ tay bổ trợ ghi nhớ ghi lại những điều cần chú ý, để giúp cho việc ghi nhớ sau này.

Thực hiện theo tinh thần “chuyển giao nhiệm vụ học tập cho mỗi học sinh”, trên cơ sở rà soát và đối chiếu với nội dung chương trình các bộ môn và hoạt động giáo dục, các giáo viên đã hướng dẫn học sinh cách khai thác nguồn tài nguyên của thư viện; từ đó hướng dẫn học sinh kết nối và bổ sung giữa nguồn tài nguyên trong thư viện với nội dung chương trình môn học, thúc đẩy ý thức tự giác đọc sách, hình thành thói quen đọc sách để giải quyết nhiệm vụ học tập.

Thực tiễn cho thấy, khi được hướng dẫn phương pháp đọc sách và kĩ năng lựa chọn tài liệu phục vụ học tập, lúc đầu các em còn bỡ ngỡ nhưng dần dần dưới sự hướng dẫn của giáo viên và tổ công tác viên thư viện đa số học sinh đã rèn được thói quen đọc sách có mục đích, có định hướng. Qua đó, giúp học sinh phát triển năng lực tự học, biết thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau và ngày càng đa dạng, phong phú; hình thành thói quen đọc,góp phần hình thành và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường và cộng đồng; đồng thời khuyến khích học sinh tìm hiểu, thực hành vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn.

Phaghe đã từng nói “Nghệ thuật đọc sách là nghệ thuật tư duy với ít nhiều sự giúp đỡ của người khác… “. Đúng vậy, xây dựng văn hóa đọc sách cho học sinh trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Để giúp học sinh phát triển được văn hóa đọc lên tầm nghệ thuật của đọc sách đòi hỏi sự vào cuộc một cách đồng bộ của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó vai trò chủ đạo và quan trọng nhất chính là các thầy giáo, cô giáo – người kĩ sư tâm hồn, người thắp lên những ngọn nến ước mơ của học sinh bắt đầu từ những trang sách. Với ý nghĩa như vậy, hi vọng rằng nội dung trong bài viết nhỏ này có thể giúp được các CBQL, các thầy cô giáo, các nhân viên thủ thư ở các nhà trường bổ sung thêm một ít kinh nghiệm nhỏ vào hành trang xây dựng và phát triển văn hóa đọc cho học sinh ở các trường Tiểu học. .

Trần Thị Kiều Liên Trường Tiểu học Sơn Tây- Huyện Hương Sơn – Tỉnh Hà Tĩnh

Trần Thị Kiều Liên @ 15:41 25/10/2019

Số lượt xem: 1299

【#2】Tài Liệu Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật

BÀI TẬP LỚN 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦẦU…………………………………………………………………………………………………2 NỘI DUNG……………………………………………………………………………………………………3 I. KHÁI QUÁT CHUNG……………………………………………………………………………….3 1. Xã hội học gia đình…………………………………………………………………………….3 2. Gia đình……………………………………………………………………………………………3 II. CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH……………………………………………………….5 1. Chức năng kinh tếế………………………………………………………………………………6 2. Chức năng tái sinh – duy trì nòi giốếng…………………………………………………..8 3. Chức năng giáo dục……………………………………………………………………………8 4. Sự hình thành và biếến đổi chức năng của gia đình……………………………….11 III. Ý NGHĨA THỰC TIỄỄN CỦA VIỆC NGHIỄN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐỐI VỚI PHÁP LUẬT………………………………………………………………………………………..12 1. Đối với việc xây dựng pháp luật………………………………………………………..12 2. Đối với ý thức pháp luật……………………………………………………………………12 3. Thực hiện pháp luật………………………………………………………………………….13 KỄỐT LUẬN…………………………………………………………………………………………………..13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………..14 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………………….15 NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 2 LỜI MỞ ĐẦU Có một câu nói nổi tiếng của nhà viết kịch Euripide mà đến ngày nay vẫn được nhiều người chia sẻ đó là: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận” Sống trên đời ai cũng muốn có một Mái Ấm Gia Đình. Nơi đó mọi người yêu thương nhau, chia sẽ cho nhau niềm vui, nỗi buồn. Cho dù cuộc sống có đổi thay mỗi thành viên rời xa gia đình thì nơi họ nhớ nhất muốn về nhất vẫn là Mái Ấm Gia Đình. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, là nền tảng và là nơi vun đắp cho tương lai của cá nhân và xã hội. Mỗi thành viên trong gia đình cần đồng lòng gắn kết, chăm sóc yêu thương nhau cùng xây đắp một Mái Ấm Gia Đình hạnh phúc, ấm no”Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó, người nam và người nữ được mời gọi tận hiến cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống. Quyền bính, sự ổn định và đời sống tương giao nơi gia đình là nền tảng cho tự do, an ninh và tình huynh đệ của xã hội. Gia đình là cộng đoàn, nơi đó từ thời thơ ấu, con người được học biết tôn trọng những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và biết sử dụng tự do. Đời sống gia đình chuẩn bị cho đời sống xã hội.”(1) (1) (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo số 2207. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 3 NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT CHUNG 1. Xã hội học gia đình Xã hội học gia đình là nghành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu hệ thống các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của sự hoạt động, sự phát triển và sự thay đổi của gia đình với tư cách là hình thức hoạt động của con người, cơ cấu và chức năng của gia đình trong những điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa cụ thể của xã hội. Xã hội học gia đình bản thân nó là khoa học xã hội học chuyên biệt nghiên cứu về gia đình. Nó có những quy luật đặc thù riêng song cũng là bộ phận của xã hội học cho nên nó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu gia đình một cách tổng thể trong mối quan hệ, sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành cơ cấu gia đình, chức năng của gia đình đối với bản thân mối quan hệ nội tại của gia đình và mối quan hệ gia đình với mọi quan hệ của xã hội tổng thể. Xã hội học nghiên cứu gia đình như hiện tượng xã hội trên hai phương diện:  Một là các mối quan hệ bên trong gia đình (quan hệ giữa các thành viên và quan hệ giới tính)  Hai là các mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội (quan hệ gia đình và họ hàng, làng xã, các tổ chức sản xuất, các tổ chức chính trị và các tổ chức văn hóa…)(1) 2. Gia đình Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Gia đình có những ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến xã hội. (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 333. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 4 Từ thời nguyên thủy cho tới nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi đáp ứng cơ bản nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người. Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,… khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình. Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Có nhiều định nghĩa gia đình khác nhau như:  Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội.  Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung.(1) (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 336. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 5 Chuẩn mực của gia đình Việt Nam hiện nay gồm 4 yếu tố sau (1): – No ấm: Biểu hiện sự phát triển kinh tế của gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên. – Bình đẳng: Biểu hiện các thành viên trong gia đình tôn trọng lẫn nhau và được hưởng mọi quyền lợi về học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em gái, người cao tuổi. – Tiến bộ: Biểu hiện các thành viên trong gia đình luôn có ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt để có kiến thức, trình độ, năng lực; có đạo đức, lối sống lành mạnh phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. – Hạnh phúc: Biểu hiện các thành viên trong gia đình gắn bó, thương yêu, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, tạo ra môi trường trong sạch, ngăn chặn tệ nạn xã hội. Chức năng của gia đình: gia đình có rất nhiều chức năng song có 3 chức năng chính chi phối toàn bộ các chức năng còn lại: Chức năng kinh tế; Chức năng tái sinh – duy trì nòi giống; Chức năng giáo dục II. CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH Từ lâu gia đình đã được coi là tế bào của xã hội. Tế bào gia đình khỏe mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc. Nếu tế bào gia đình lỏng nẻo, không đảm đương tốt các vai trò chức năng của mình thì xã hội có nguy cơ bị xáo động làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và vật chất của mọi thành viên trong xã hội. Vì thế để củng cố nền tảng gia đình thì cần phải thực hiện tốt các chức năng cơ bản và đó luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Để thực hiện tốt thì chúng ta cần hiểu rõ trong xã hội, gia đình có chức năng cơ bản như thế nào? (1) Theo trang web Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa http://www.congdoanthanhhoa.org.vn/index.php/tin-hoat-dong-cong-doan/cong-tac-nu-cong/19tin-hoat-dong-cong-doan/24-cong-tac-nu-cong/558-van-hoa-gia-dinh-trong-thi-ki-cnh-hdh-vahi-nhp-kinh-t-quc-t NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 6 1. Chức năng kinh tế Đây là chức năng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, góp phần vào sự phát triển của toàn xã hội. Lao động của mỗi thành viên trong gia đình hoặc hoạt động kinh tế của gia đình nhằm tạo ra nguồn lợi đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất (ăn, ở, đi lại) lẫn nhu cầu tinh thần (học hành tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí). Gia đình còn là đơn vị tiêu dùng, việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đã tác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế phát triển. Sự ổn định về kinh tế cũng là một điều kiện đảm bảo hôn nhân gia đình bền vững và hạnh phúc. Trong khi nhiều bạn trẻ chỉ đặt mục tiêu là hai người yêu thương nhau thật sự và rồi tiến tới hôn nhân thì một số bạn nữa khác lại thực tế đưa ra điều kiện đòi hỏi chồng tương lai phải có thu nhập cao, nhà sang, xe xịn…Tuy nhiên tiền bạc dù có nhiều như nước hay nhà cao cửa rộng rồi cũng sẽ tiêu tan nếu bản thân các bạn chưa nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế trong đời sống gia đình và thiếu kỹ năng tổ chức quản lý kinh tế. Để cuộc hôn nhân thật sự bền vững và hạnh phúc, không nên đặt tiền bạc lên các giá trị khác. Vợ chồng cũng cần rành mạch nhưng thống nhất và tin tưởng trong chi tiêu gia đình đồng thời ghi chép các khoản thu chi. Bên cạnh đó cha mẹ cũng cần dạy con cái cách quản lý về tiền bạc và thói quen chi tiêu sao cho tiết kiệm. Chức năng kinh tế biểu hiện trên cả hai phương diện: sản xuất và tiêu dùng. Tức là mỗi gia đình vừa là một đơn vị sản xuất của xã hội, vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm nền kinh tế của xã hội. Trong điều kiện hiện nay, nhiều gia đình có thành viên làm ở các công ty, nhà nước… chính vì vậy, chức năng kinh tế của gia đình được giảm nhẹ ở khâu tổ chức, sản xuất, nhưng với tư cách là đơn vị tiêu dùng thì tính toán thu chi hàng tháng, hàng năm vẫn là nỗi lo của các chủ gia đình. Như đã nói ở trên, mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất của xã hội. Chính vì vậy, sự phát triển của xã hội phụ thuộc trực tiếp vào sự phát triển kinh tế mỗi hộ gia đình. Vì vậy sự phân hóa giàu nghèo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê thì trong tháng Hai năm 2012, cả NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 7 nước có 53,9 nghìn hộ thiếu đói, giảm 62,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 214,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 63,4%. Theo một số liệu thống kê khác thì trong 2 năm (2006 – 2007), hộ nghèo tiếp tục giảm bình quân trên 300.000 hộ/năm, năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo còn 15,5%, năm 2007 còn 14,8% (giảm được 7,2% so với cuối năm 2005). Một số địa phương cơ bản xóa hết số hộ nghèo theo chuẩn quốc gia và áp dụng chuẩn mới của địa phương cao hơn từ 1,5 – 2 lần so với chuẩn nghèo quốc gia như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và tỉnh Bình Dương. Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2,09 lần năm 2004 và 2 lần năm 2008, đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 10%. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, của xã hội. Cùng với sự giảm hộ nghèo là sự tăng trưởng GDP hằng năm của nước ta. Năm 2011 GDP nước ta đạt 5.89%. Trung bình tăng trưởng GDP những năm gần đây của Việt Nam đạt 7%. Điều đó có được kể từ sau chính sách “Đổi mới” năm 1986 của nước ta. Trước năm 1986, xã hội Việt Nam chìm đắm trong chế độ quan lieu bao cấp, người dân luôn trong tâm lý ỷ nại, trông chờ tập thể, chức năng kinh tế của gia đình bị xã hội tước đoạt. Mỗi gia đình thụ động làm việc trong hợp tác xã một cách lười nhác, thụ động. Chính vì vậy thu nhập không cao, đất nước chìm trong đói nghèo. Sau khi mở cửa hội nhập với quốc tế, các gia đình hào hứng làm việc hơn, chăm chỉ hơn, sáng tạo hơn. Việt Nam bắt đầu hồi phục và đang trên đà phát triển. Nền kinh tế thị trường phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng kinh tế của gia đình: giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp, điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập tốt hơn(1)… Cho đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng nghèo và đang phấn đấu trở thành một nước công nghiệp. (1) Theo trang web : Tiếng nói dân chủ https://tiengnoidanchu.wordpss.com/2011/09/13/phan-hoa-giau-ngheo-%E1%BB%9F-n %C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-hi%E1%BB%87n-nay/ NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 8 2. Chức năng tái sinh – duy trì nòi giống Gia đình là nơi tái sản sinh còn người, cung cấp thành viên, nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội. theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình có những hệ quả nhận thức khác nhau về giới tính, số lượng con người. Mặt khác sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cho nòi giống phát triển. Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên trong gia đình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống người, là cơ sở, nền tảng cho mỗi người tham gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển. Nhà giáo dục nổi tiếng V.A. Xukhômlinxki có viết: “Có hàng chục, hàng trăm nghành nghề, công việc khác nhau…, nhưng công việc phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất giống nhau đối với mọi gia đình, đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại, đó là sự sáng tạo ra con người. Sáng tạo ra con người là sự nỗ lực cao nhất của tất cả sức mạnh tinh thần của bạn. Đó là sự khôn ngoan, là tài nghệ, là nghệ thuật trong cuộc sống của bạn”. Tác phẩm vĩ đại nhất của tạo hóa đó là con người, song đây cũng là sản phẩm khó kiến tạo nhất trong một gia đình. Vậy mà một số bạn trẻ do chưa hiểu biết được và không nhận thấy được sự thiêng liêng của việc tạo ra một sinh linh, một con người. Hiện tượng nạo hút thai hiện nay đã rất phổ biến và đặc biệt là trong các bạn trẻ có lối sống không lành mạnh hiện nay dẫn đến suy giảm khả năng sinh con. Hãy nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc sinh con. Đứa trẻ sinh ra phải là đứa trẻ được đợi chờ, chào đón ra đời. Đừng tạo ra những đứa trẻ khi mà chưa chuẩn bị toàn tâm, toàn ý. 3. Chức năng giáo dục Có thể nói đây là chức năng rất quan trọng, quyết định nhân cách con người. Gia đình là cái nôi của mỗi con người, là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Từ cái nôi này, mỗi cá nhân được trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào cộng NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 9 đồng. Như khoa học đã xác định rõ ràng, cơ sở trí tuệ và tình cảm cá nhân thường hình thành ngay từ thời ấu thơ. Gia đình trang bị cho đứa trẻ những ý niệm đầu tiên để lý giải thế giới sự vật, những ý niệm về cái thiện và cái ác, dạy cho con trẻ hiểu rõ đời sống và con người, đưa trẻ con vào thế giới của những giá trị mà gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống của nó. Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong mỗi gia đình (cha mẹ yêu thương chân thành,tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông vào vừa yêu thương nhưng cũng vừa yêu thương, bao dung với con cháu). Nêu gương cũng là cách tốt để dạy con người cách ứng xử với họ hàng, láng giềng và cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói giant ham, điều giả dối) qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Mỗi gia đình đều hình thành tính cách của từng thành viên trong xã hội. Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.(1) Chức năng giáo dục của gia đình cũng chịu sự tác động trực tiếp từ các yếu tố chủ quan và khách quan. (1) Theo trang web báo Đồng Nai http://www.baodongnai.com.vn/vanhoa/201108/Gia-dinh-Viet-Nam-voi-chuc-nang-giao-ductrong-boi-canh-toan-cau-hoa-2092346/ NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 10 Yếu tố khách quan: + chính sách của nhà nước + văn hóa, xã hội + điều kiện vật chất + các hiện tượng xã hội + sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình … Yếu tố chủ quan: + phương pháp giáo dục của mỗi gia đình + tầm hiểu biết của cha mẹ + kinh nghiệm nuôi dậy con + lối sống của bố mẹ … Đứa con là hình thưởng hay hình phạt cho cha mẹ là tùy thuộc vào sự giáo dục của họ. Thông qua việc thực hiện chức năng giáo dục, gia đình thực sự trở thành cầu nối không thể thay thế được giữa gia đình và cá nhân. Song hiện nay có nhiều bậc cha mẹ chỉ quan tâm đến việc cho con ăn no, ăn ngon, mặc đẹp hợp thời trang hơn là việc giáo dục tính cách cho con cái mình. Họ phó mặc sự giáo dục đó cho nhà trường, cho ông bà hay người giúp việc. Có những ông bố bà mẹ cấm không cho con tham gia hoạt động gì, không được chơi với ai, không được làm việc gì khác ngoài việc học và học, bắt con cái họ học đến phát bệnh. Đến khi thấy con cái vô lễ, hư hỏng, không hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống ích kỷ thì lại than thân trách phận mình vô phước và mắng chửi con cái. Thật ra tất cả đều có nguyên nhân của nó, gia đình muốn hạnh phúc thì cha mẹ cần bỏ thời gian, công sức, tiền bạc để giáo dục con em mình, đừng phó mặc trách nhiệm giáo dục cho kẻ khác. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 11 4. Sự hình thành và biến đổi chức năng của gia đình Gia đình lúc đầu chức năng của nó chỉ đơn giản là kiếm sống và duy trì nòi giống. Về sau, khi dân số tăng lên, sinh ra những yêu cầu mới và khi nhu cầu của con người phát triển, nảy sinh những quan hệ xã hội mới làm cho gia đình từ chỗ “là quan hệ xã hội duy nhất” đã trở thành “quan hệ phụ thuộc”. Việc chuyển gia đình từ chỗ “là quan hệ duy nhất” trở thành bộ phận của xã hội rộng lớn hơn có lẽ đã trải qua những thời kỳ lịch sử lâu dài, không phải lúc nào, ở đâu cũng rõ nét. Trong các xã hội thị tộc, bộ lạc, sự đối lập giữa gia đình và xã hội hết sức mờ nhạt. Sự đối lập đó chỉ có thể trở thành “quan hệ phổ biến” với sự phát triển hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà việc tách ra gia đình ra khỏi sản xuất như là quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa. Gia đình đang biến đổi chức năng của nó cùng với quá trình xã hội hóa sức lao động. Sự biến đổi chức năng của gia đình biểu hiện ở hai khuynh hướng chủ yếu: một là thay đổi tính chất và nội dung của cùng một chức năng, hai là sự thay thế chức năng. Gia đình dần trở thành nơi nghỉ ngơi, vui thú, tổ chức các tiêu dùng vật chất sau giờ lao động xã hội. Trong những điều kiện như vậy chức năng của gia đình có biến đổi căn bản – chuyển trọng tâm từ sản xuất sang các chức năng tình cảm, tâm lý. Sự biến đổi chức năng của gia đình thể hiện ở sự giải thể của một số chức năng truyền thống, sự biến đổi về chất của chức năng truyền thống khác và sự tăng cường chức năng hiện đại. Có thể thấy, chức năng sinh đẻ là chức năng cố hữu của gia đình, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Trước đây, giáo dục gia đình thường đồng nhất với giáo dục xã hội. Còn hiện nay thì nội dung của giáo dục gia đình trước được chuyển một phần sang cho tổ chức xã hội thực hiện. Giáo dục xã hội không phủ nhân hay thủ tiêu giáo dục gia đình mà kết hợp giữa hai nền giáo dục đó. Chức năng kinh tế của gia đình cũng đã thay đổi không còn là đơn vị sản xuất. Đó là nhu cầu về ăn, ở, tiện nghi là sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong gia đình nhằm thỏa mãn nhu càu của đời sống.(1) (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 354 – 356. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 12 III. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT 1. Đối với việc xây dựng pháp luật Hiện thực xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển kéo theo sự biến đổi của các mỗi quan hệ xã hội. Pháp luật cũng phải vận động và phát triển tương ứng với từng giai đoạn lịch sử của xã hội. Nghiên cứu xã hội học gia đình nhằm có những căn cứ đúng đắn để đánh giá cơ cấu, thực trạng mức sống, nhu cầu, sự biến đổi trong cuộc sống của gia đình trong xã hội từ đó đưa ra các chính sách, điều luật phù hợp với xã hội thực tại. Ví dụ như về thời gian phụ nữ được nghỉ sau khi sinh là 4 tháng hay 6 tháng thì hợp lý? Các quy định ưu đãi cho hộ nghèo… Khía cạnh nghiên cứu này mang lại cho chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật sự hiểu biết đầy đủ, chân thực, khách quan về cơ cấu, tình hình thực tế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại… Thông qua việc nghiên cứu, các nhà làm luật sẽ tập hợp lại những nguyện vọng của nhân dân và thể hiện dưới những điều luật mang tính bắt buộc. Đây cũng là hình thức thu thập thông tin, tài liệu lý luận và thực nghiệm phục vụ cho các dự án luật như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao động…và sau này có thể có thêm nhiều luật mới ra đời. 2. Đối với ý thức pháp luật Thứ nhất là về hệ tư tưởng pháp luật: Nghiên cứu xã hội học gia đình để tìm hiểu về sự giáo dục con cái về pháp luật từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiểu biết của nhgười dân về hệ thống luật pháp không chỉ trong nước mà con trên thế giới. Ví dụ như ban hành các chính sách, qui định về giáo dục phải phù hợp với từng địa phương (miền núi ít người khác với đồng bằng, thôn quê khác với thành thị…) để các học sinh được tích lũy và tiếp thu dần những hiểu biết về luật pháp. Thứ hai là về tâm lý pháp luật: Nhờ vào việc nghiên cứu xã hội học gia đình, chúng ta biết được thái độ, tình cảm của người dân đối với hệ thống pháp luật hiện hành đối với cuộc sống gia đình. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 13 Ý thức pháp luật thể hiện thế giới quan pháp lý, thái độ pháp lý của cá nhân. Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật cá nhân là quá tình con người nhận thức, tích lũy những kiến thức về pháp luật và những hiện tượng pháp lý khác.Ý thức pháp luật bị tri phối bởi lập trường giai cấp, hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện, hoàn cảnh sống. Như vậy, những thói quen, tư tưởng trong gia đình tác động ít nhiều tới ý thức pháp luật mỗi cá nhân. Gia đình truyền thống nặng về tư tưởng nho giáo sẽ khó chấp nhận những điều luật hội nhập với thế giới. Đôi khi những suy nghĩ ấy lại có phần cổ hủ không theo kịp thời đại. Gia đình có lối sống theo kiểu phương đông phóng khoáng lại cảm thấy những điều luật thể hiện mặt truyền thống là rất bất cập và lạc hậu. Gia đình cũng dậy cho chúng ta biết ý thức đúng – sai và phải biết chịu trách nhiệm trước việc làm sai trái. 3. Thực hiện pháp luật Gia đình là trường học đầu tiên của con người. Gia đình cũng cung cấp cho con mỗi thành viên dù ít dù nhiều những kiến thức cơ bản về pháp luật. Hiểu biết pháp luật thì sẽ thực hiện pháp luật và thiêu hiểu biết pháp luật thì sẽ không thực hiện pháp luật. Nghiên cứu xã hội học gia đình để thấy được thực trạng bạo lực gia đình như thế nào, trẻ em có được đến trường không, có bị bóc lột sức lao động không… Gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức pháp luật của những đứa con. Bố mẹ gương mẫu nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ thì những đứa con cũng noi theo. Bố mẹ coi thường pháp luật thì những đứa con rất dễ bị ảnh hưởng. KẾT LUẬN Gia đình là một thực thể xã hội. Sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận. Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội. Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá trị đích thực. Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị. Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng xã hội học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010. 2. TS. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 15 PHỤ LỤC NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 16 Một số hình ảnh về gia đình NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 17 NGUYỄN THU THÚY – 380315

【#3】Vai Trò, Chức Năng Quản Lý Của Nhà Nước Đối Với Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

2-1 Câu 2 Vai trò, chức năng quản lý của nhà nước đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của nhà nước Bài làm Kinh tế thị trường là một chế độ kinh tế hay phương thức sản xuất có tính lịch sử, nó là thành quả của văn minh nhân loại và được sử dụng nhằm phục vụ cho sự phát triển và thịnh vượng chung của mọi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, kinh tế thị trường nếu để tự do phát triển nó cũng sẽ sinh ra rất nhiều những hạn chế như : nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, tình trạng độc quyền do cạnh tranh thị trường tạo ra sẽ dần hạn chế các nguồn lực, hàng hóa công cộng không được thị trường quan tâm, thông tin trên thị trường bất cân xứng, mội trường sinh thái bị phá hủy, sự phân hóa giữa các tầng lớp xã hội ngày càng rõ đe doạ đến tính ổn định của đất nước. Khắc phục những khiếm khuyết của thị trường nhất thiết phải có sự can thiệp của nhà nước. Ngày nay, không một quốc gia nào sử dụng cơ chế kinh tế thị trường mà không có sự quản lý, điều tiết của nhà nước bất luận đó là nhà nước tư bản chủ nghĩa hay nhà nước XHCN. Vai trò, chức năng quản lý của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường là một yêu cầu tất yếu và nâng cao năng lực quản lý nhà nước là điều kiện vô cùng quan trọng để đạt được những mục tiêu mong muốn trên cơ sở phát huy tối đa những mặt tích cực của thị trường và hạn chế tối thiểu những tiêu cực sinh ra từ cơ chế thị trường

Mặt khác, sự cần thiết phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế còn xuất phát từ bản thân nhà nước. Mọi Nhà nước sinh ra đều nhằm nắm giữ quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế để điều tiết mọi quan hệ kinh tế – xã hội để phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền. Để thực thi quyền lực, Nhà nước phải tiến hành quản lý mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân để tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng theo định hướng mục tiêu của giai cấp cầm quyền, đối với nhà nước ta mục tiêu đó chính là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Ngày nay, lực lượng sản xuất phát triển, trình độ xã hội hóa sản xuất cao do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra, cho nên sự quản lý của Nhà nước về kinh tế càng cần thiết hơn. 2-2 Về vai trò quản lý kinh tế của nhà nước, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên với vai trò chủ thể quản lý của nền kinh tế, Nhà nước phải thực thi quyền lực của nhân dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, lợi ích của nhân dân đồng thời cũng là cơ quan đại diện cho nhân dân làm chủ sở hữu mọi tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước xây dựng mô hình kinh tế thị trường và vận hành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nền kinh tế thị trường của ta còn sơ khai nên vai trò quản lý nhà nước rất quan trọng thể hiện qua các mặt như : Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời, đồng thời điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định, phát triển; Nhà nước phải hạn chế khuyết tật của cơ chế thị trường và khuyết điểm yếu kém của chính bộ máy Nhà nước khi bộ máy mới chuyển sang quản lý nền kinh tế thị trường; Nhà nước phải vận hành nền kinh tế bằng cơ chế quản lý mới, định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với bản chất Nhà nước ta. Về chức năng quản lý kinh tế, nhà nước thực hiện các chức năng quản lý kinh tế vĩ mô tập trung với 4 nội dung cơ bản. Một là nhà nước thực hiện chức năng tạo môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, thuận lợi và bình đẳng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội cho sự phát triển của nền kinh tế, duy trì pháp luật, trật tự an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị trường và xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh tế trong kinh tế thị trường. Hai là nhà nước thực hiện chức năng định hướng, dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển thông qua chiến lược, kế hoạch, các chính sách kinh tế sử dụng có trọng điểm các nguồn lực, khai thông quan hệ kinh tế… Ba là nhà nước thực hiện chức năng hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Bốn là kiểm tra và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường, trật tự kỷ cương của nền kinh tế. Bốn chức năng này đều có vai trò quan trọng như nhau và gắn chặt nhau không thể tách rời. Nội dung chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước được thực hiện bằng việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô : công cụ luật pháp, công cụ chiến lược chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu và công cụ tài chính, tiền tệ giá cả. Do đó, quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế gắn với quá trình đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Về công cụ luật pháp, nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường trên cơ sở luật pháp, các văn bản dưới luật. Hệ thống pháp luật là chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, duy trì trật tự kỷ cương kinh tế, điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong kinh doanh theo các hướng xác định. Chính vì vậy, pháp luật kinh tế phải rõ ràng, đồng bộ, thực tế, ổn định và phù hợp với luật pháp kinh tế quốc tế. Về công cụ chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế – xã hội : Nhà nước thông qua việc hoạch định chiến lược kinh tế xã hội và kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô để định hướng cho các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng đã lựa chọn. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội được xem như là sự lựa chọn có căn cứ khoa học các mục tiêu dài hạn và cơ bản của quá trình phát triển kinh tế- xã hội, gắn với chọn lọc các phương tiện, biện pháp chủ yếu để đạt mục tiêu đó. Chiến lược được cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ nhằm đảm bảo những cân đối chủ yếu cho nền kinh tế và định hướng cho sự vận động của nền kinh tế. Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế đồng thời cũng phải thể hiện quan điểm phát triển nhanh nhưng bền vững, với mục tiêu tăng trưởng GDP dựa trên các giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, khắc phục những điểm yếu, phát huy mọi thế mạnh, nắm bắt tốt những cơ hội và dự đoán mọi thách thức, rủi ro để có những giải pháp ứng phó phù hợp. 2-3 Về công cụ các chính sách tài chính – tiền tệ – giá cả : đây là những công cụ chủ yếu của quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường bởi lẽ kinh tế thị trường thực chất là kinh tế tiền tệ. Vì vậy, Nhà nước cần phải nắm các công cụ này, sử dụng linh hoạt các hình thức biện pháp tài chính, tiền tệ, giá cả để điều tiết thị trường, tác động vào các giai đoạn và thời kỳ phát triển của nền kinh tế, nhằm đảm bảo kích thích tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Một số chính sách quan trọng mà nhà nước sử dụng để quản lý điều tiết nền kinh tế thị trường bao gồm : Một là ngân sách Nhà nước : ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế, nó giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô trên các lĩnh vực như : điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát, định hướng phát triển sản xuất, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính, điều chỉnh lĩnh vực thu nhập. Hai là chính sách thuế : chính sách thuế là một bộ phận trọng yếu của nền tài chính quốc gia, thuế không chỉ giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của Nhà nước mà còn giữ vai trò là công cụ quản lý vĩ mô. Thuế là công cụ điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng trên cơ sở Nhà nước sử dụng chính sách thuế có phân biệt giữa các ngành, nghề, các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau, chính sách này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ hoặc tạo sự tác động ngược lại. Thuế là công cụ để điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư khác nhau, điều tiết quan hệ lợi ích kinh tế giữa các vùng, các miền để đảm bảo thực hiện chính sách xã hội, sự phát triển kinh tế – xã hội tương đối đồng đều giữa các vùng, các miền đất nước. Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, thuế là công cụ điều tiết áp lực cạnh tranh, bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết quan hệ xuất nhập khẩu và thực hiện chính sách kinh tế mở cửa. 2-4 Ba là chính sách giá cả : quản lý giá cả của thị trường bằng chính sách “giá” là một trong những nội dung chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Sự can thiệp này nhằm các mục tiêu : điều tiết quan hệ cung – cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh. Những mục tiêu trên được thực hiện trên cơ sở Nhà nước xác định chính sách giá cả hợp lý trong từng thời kỳ, chính sách này bao gồm 3 nội dung cơ bản : định giá trực tiếp, quản lý gián tiếp, khống chế tổng mức vật giá. Phạm vi hàng hóa do Nhà nước định giá trực tiếp chỉ giới hạn trong một số ít sản phẩm cơ bản có tính chiến lược hoặc có tính phục vụ xã hội như: than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên việc Nhà nước định giá trực tiếp cũng không thể đi ngược quy luật cung cầu của thị trường trong thời gian dài. Hình thức thứ hai là Nhà nước chỉ đạo mức giá (quản lý gián tiếp) thông qua việc xác định mức giá cao nhất, giá bảo hộ thấp nhất, nhịp độ thả nổi, chênh lệch kinh doanh…trong giá cả hàng hóa. Hình thức quản lý này đòi hỏi phải điều chỉnh thường xuyên giá cả chỉ đạo để làm cho nó tiếp cận với giá cả thị trường. Hình thức nhà nước khống chế từng mức giá cả có mục đích, đảm bảo sự ổn định cơ bản tổng mức giá cả và biện pháp khống chế từng mức giá cả là hệ thống các biện pháp như: biện pháp hành chính, biện pháp tài chính, biện pháp tiền tệ, biện pháp khống chế lương và hối suất… Bốn là hệ thống ngân hàng : ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị trường” và được Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông, xác lập môi trường tài chính lành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư, phát triển kinh tế và là công cụ để thực hiện các chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia. Vai trò đó được thực hiện thông qua việc tổ chức hoạt động ngân hàng hai cấp trong nền kinh tế thị trường bao gồm : Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền. Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Công cụ sử dụng trong hoạt động ngân hàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiết khấu, hệ thống thị trường tài chính- tiền tệ… Hoạt động của hệ thống ngân hàng hai cấp, trong từng điều kiện cụ thể về quy mô, hiệu quả .. sẽ giữ được vai trò trung tâm tín dụng, trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Thực tế nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường mới chỉ ở mức manh nha, tức là còn ở giai đoạn thấp, sơ khai và còn thiếu nhiều điều kiện để phát triển; tính cạnh tranh còn kém, sản phẩm còn nghèo nàn; công tác quản lý nhà nước về kinh tế cũng còn nhiều hạn chế như : công tác dự báo kém, quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi thời kỳ mới, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhất quán, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hóa, thương mại, phân phối, đất đai, vốn và tài sản nhà nước chưa thật tốt, chậm được đổi mới và lúng túng trong chuyển sang cơ chế thị trường, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước còn cồng kềnh, kém hiệu quả, năng lực và phẩm chất cán bộ chưa tương xứng, một bộ phận cán bộ quản lý tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thủ tục hành chính phức tạp… Chính những hạn chế này là rào cản lớn cho sự phát triển kinh tế 2-5 Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu như sau đây: – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đổi mới việc xây dựng, thay dần quy trình xây dựng pháp luật theo kiểu từ trên xuống bằng quy trình từ dưới lên, các sáng kiến pháp luật, ban hành, thực thi pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, phải tạo điều kiện cho mọi loại hình kinh tế bình đẳng trước pháp luật và phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế trên cơ sở vừa đảm bảo yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa cân nhắc những đặc điểm riêng biệt của nước ta, nhất là những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, bảo hộ sản xuất trong nước . Bên cạnh đó, phải tăng cường pháp chế để nâng cao hiệu quả của công cụ pháp luật. – Đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội; tăng cường thông tin kinh tế xã hội trong nước và quốc tế … nhằm đảm bảo phù hợp và định hướng được nền kinh tế thị trường đang trong bước sơ khai và nhiều biến động. – Tiếp tục cải cách hành chính để nhà nước thực hiện đúng chức năng quản lý vĩ mô và chức năng chủ sở hữu tài sản công cộng của quốc gia, không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp. Kiện toàn và làm trong sạch bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, giảm bớt các đầu mối, các khâu trung gian, tập trung vào chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, giảm dần đi tới xóa bỏ chế độ chủ quản đối với doanh nghiệp, đảm bảo bộ máy tinh gọn, phân định rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn, đủ khả năng quản lý và xử lý tốt các vấn đề nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy Nhà nước về kinh tế phải gắn liền với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước có phẩm chất, trình độ và năng lực trong quản lý nền kinh tế thị trường : phải thực hiện tốt quy chế tuyển chọn đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực của cán bộ đặc biệt là cán bộ quản lý kinh tế. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, tuyễn dụng, bố trí, đề bạc, đãi ngộ và khen thưởng tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo, toàn tâm toàn ý với sự phát triển của đất nước. Song song đó phải thực hiện cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế và phong cách quan liêu, phiền hà đối với nhân dân và các doanh nghiệp và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế. 2-6 – Xây dựng và hoàn chỉnh các chính sách kinh tế và xã hội một cách đồng bộ và nhất quán. Về chính sách thuế, phải tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp với tình hình đất nước và các cam kết quốc tế; đơn giản hóa các sắc thuế và từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất, không phân biệt đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Về chính sách tài chính – tiền tệ, phải bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong chi ngân sách Nhà nước, thực hiện phân cấp mạnh đi đôi với tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thu và chi ngân sách địa phương. Về hoạt động ngân hàng, phải xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu tín dụng, cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuận lợi cho xã hội, kiện toàn các ngân hàng thương mại Nhà nước thành những doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có uy tín, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, xóa bỏ sự can thiệp hành chính của các cơ quan Nhà nước đối với các hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Nhà nước, thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt theo cung cầu ngoại tệ, từng bước thực hiện tự do hóa tỷ giá hối đoái có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, . Về chính sách đầu tư : phải nâng cao hiệu quả các chương trình quốc gia, bảo đảm tính hợp lý trong cơ cấu đầu tư tránh dàn trãi vốn mà tập trung vốn cho các chương trình trọng điểm, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực thiết yếu, nhất là cơ cấu hạ tầng để tạo ra môi trường ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, chuyển cơ chế phân bổ nguồn vốn vay Nhà nước mang tính hành chính sang cho vay theo cơ chế thị trường, thường xuyên quan tâm xử lý tốt vốn đầu tư, tránh thất thoát vốn, tăng cường quản lý nợ chính phủ; hoàn thiện cơ chế quản lý nợ nước ngoài cho phù hợp với tình hình mới. Về chính sách thương mại, phải tiếp tục hoàn thiện và thực thi thể chế thương mại và từng bước thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, các thành phần kinh tế được tự do kinh doanh, được nhà nước bảo vệ nhưng phải hoạt động thương mại đúng pháp luật; mở rộng giao lưu hàng hóa, tạo điều kiện mở rộng sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản; mở rộng ngành nghề. – Tích cực đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi và coi đây là nhiệm vụ quan trọng sống còn, nó phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp cả tố chức hành chính, kinh tế và tâm lý giáo dục, nhưng trước hết phải từ việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế phải kiên quyết loại trừ các phần tử thoái hoá biến chất khỏi bộ máy quản lý nhà nước Tóm lại, nước ta trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô, nâng cao năng lực hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, đặc biệt là phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vừa có tâm, vừa có tầm để thực hiện tốt các chức năng quản lý của nhà nước, đảm bảo sự phát triển nền kinh tế ở nước ta không đi chệch hướng XHCN.

【#4】Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình, Thực Tiễn Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật

Gia đình là nơi “chôn rau cắt rốn”, là chốn dừng chân của mỗi cá nhân sau một ngày làm việc mệt mỏi. Nơi ấy chứa đựng biết bao tình cảm thiêng liêng và sâu sắc mà chắc hẳn sẽ không ai quên. ” Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh” tuy khác nhau nhưng gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có vững mạnh thì xã hội mới văn minh. Không ai có thể phủ nhận được vai trò của gia đình đối với cá nhân và xã hội. chính vì những lí do đó nên em xin chon đề tài: “phân tích chức năng cơ bản của gia đình? Thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học gia đình đối với lĩnh vực pháp luật?” cho bài học kỳ lần này.

Do thời gian và điều kiện không cho phép, kiến thức của em còn hạn chế nên bài làm chắc hẳn sẽ còn thiếu sót. Vì vậy rất mong có sự đóng góp ý kiến từ quý thầy (cô) để bài làm được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

I. CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH

Từ lâu người ta đã coi gia đình là tế bào của xã hội. Tế bào gia đình khỏe mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc. Tế bào gia đình lỏng nẻo, không đảm đương tốt các vai trò và chức năng của mình, xã hội có nguy cơ xáo động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Củng cố nền tảng gia đình luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới.

Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,… khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người. (8.wikipedia)

Theo TS Ngọ Văn Nhân trong cuốn “tập bài giảng Xã hội học” cho biết:

Dưới góc độ là một thiết chế xã hội: ” Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội”

Dưới góc độ là một nhóm xã hội nhỏ (đơn vị xã hội): “gia đình là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung”

Gia đình là yếu tố cấu thành cơ bản của cơ cấu xã hội tổng thể, gia đình phản ánh chân thực mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Gia đình lúc đầu như Mac và Ăng ghen nói, ” là quan hệ xã hội duy nhất” gia đình là cộng đồng lao động và cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại và là thế giới của con người. Nếu xem xét gia đình như một thiết chế xã hội thì cần hướng tới các chức năng, việc định hướng giá trị và nghĩa vụ mà gia đình phải giải quyết với tư cách là một đơn vị xã hội đặc biệt. gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển chính là do nó sứ mệnh được đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã trao cho, không thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Gia đình có những chức năng cơ bản sau:

Chức năng kinh tế: Gia đình là một đơn vị sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Hơn thế nữa nó cũng là đơn vị tiêu dùng chủ yếu các sản phẩm do nền kinh tế sản xuất ra, do vậy nó là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.

Đặc điểm: Chức năng kinh tế của gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc điểm sau:

+ Gia đình Việt Nam truyền thống là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu

+ Người chồng, người cha trong gia đình đóng vai trò là trụ cột kinh tế, họ đồng thời nắm toàn bộ quyền kiểm soát về kinh tế gia đình

+ Sự trì trệ, máy móc và bảo thủ trong hoạt động kinh tế gia đình luôn biểu hiện cùng cơ chế tổ chức và quản lý mang tính gia trưởng

Chức năng sinh sản: Chức năng này vốn dĩ nó tồn tại một cách tự nhiên, vì xã hội chỉ tồn tại được khi hành vi sinh sản vẫn còn được duy trì. Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải thừa nhận. Bản thân F. Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là… sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn.

Đặc điểm: Chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm là

+ Đông con là một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội truyền thống, Từ xa xưa, con người Việt Nam đã đề cao việc duy trì nòi giống gia đình. “đông con hơn nhiều của”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “con gái là con người ta”. Con cái là thứ đáng giá hơn hết trong gia đình..

Chức năng thỏa mãn tình cảm giữa các thành viên trong gia đình (chức năng tình cảm):

Thoả mãn tình cảm tinh thần và thể xác giữa hai vợ chồng; thỏa mãn tình cảm giữa cha mẹ và con cái (sống vì nhau), tình cảm giữa anh chị em trong gia đình (thương yêu, đùm bọc lẫn nhau). Phần đông mọi người trong xã hội đều coi gia đình là “tổ ấm”, nơi người ta đi về, nơi người ta chia sẻ với nhau về niềm vui, nỗi buồn, tức là nơi tình cảm của con người được thỏa mãn.

Đặc điểm: Chức năng tình cảm, tâm lí của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm:

+ Đề cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết các mối quan hệ của gia đình.

+ Sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối với con cái, sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau giữa anh chị em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng

+ Những tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm quê hương và xa hơn là tình yêu đất nước: “cáo chết ba năm quay đầu về núi”. Gia đình là nơi sẻ chia, cảm nhận, của mỗi thành viên trong gia đình. Là nơi dừng chân sau một ngày làm việc mệt mỏi. Là sự gắn kết yêu thương của con người.

Chức năng xã hội hóa – giáo dục:

+ Chức năng giáo dục: Theo lý thuyết gia đình là “tế bào của xã hội, là yếu tố đầu tiên và cơ bản của quá trình giáo dục”. Gia đình là nơi đại bộ phận trẻ em được người lớn thường xuyên giáo dục: “Dạy con từ thưở còn thơ”. Trong môi trường gia đình, trẻ bắt đầu hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh quan. Các bậc phụ huynh, nhất là các bà, các mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của đứa trẻ: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

+ Chức năng xã hội hoá: Có thể coi gia đình là một xã hội thu nhỏ. Mỗi thành viên là một tính cách. Việc va chạm các tính cách khác nhau trong một gia đình là môi trường đầu tiên để trẻ em học cách hoà hợp với cộng đồng.

Đặc điểm: Chức năng xã hội hóa – giáo dục của gia đình truyền thống Việt Nam có đặc điểm sau:

+ Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và cách sống làm người

+ Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí nhìn vào con cái

+ Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến chốn

+ Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục bằng sự nhân từ, “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”

“con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”

Có thể tóm lại rằng, gia đình có 2 chức năng cơ bản nhất, là 2 sứ mệnh lịch sử vĩnh hằng được xã hội trao cho, đó là: sứ mệnh tái tạo ra một thế hệ mới (bao gồm chức năng sinh sản và chức năng và giáo dục đào tạo của gia đình); sứ mệnh nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình (bao gồm 2 chức năng: chức năng kinh tế,và chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm – sinh lý tình cảm). Hai sứ mệnh cũng là 2 chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như: chức năng giao tiếp tinh thần; Chức năng tổ chức thời gian rỗi; Chức năng thu nhận các phương tiện; Chức năng giáo dục bảo trợ; Chức năng đại diện; Chức năng nghỉ ngơi, giải trí…

Gia đình là một thực thể xã hội. Sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận. Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội. Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá trị đích thực. Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị. Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội

Nhiều người cho rằng, các chức năng gia đình đang chuyển từ môi trường nhỏ sang môi trường lớn hơn. Cũng nhiều nhà nghiên cứu về gia đình đã phải thừa nhận rằng: khi xã hội có những thay đổi thì gia đình luôn có sự thích nghi, có thể là chậm hơn, thể hiện sự thủ cựu và tân tiến của nó

II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI LĨNH VỰC PHÁP LUẬT

Xã hội học gia đình là một nhánh của xã hội học chuyên biệt; xã hội học gia đình là bộ môn khoa học nghiên cứu sự sinh ra, phát triển và sự hoạt động của gia đình như là một trong những hạt nhân đầu tiên của xã hội trong các điều kiện văn hóa, kinh tế – xã hội cụ thể, cũng như nghiên cứu về cơ cấu của chức năng gia đình trong xã hội; là một bộ môn xã hội học nghiên cứu về gia đình với tư cách là một thiết chế xã hội và một nhóm nhỏ. ( http://vi.wikipedia.org)

Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lí học, dân tộc học, dân só học, luật học…. Tuy nhiên khi nghiên cứu về gia đình thì các ngành khoa học có tác động tới đối tượng chung này ở những khía cạnh khác nhau, có sự tác động bổ sung và làm phong phú cho nhau. Trong đó, xã hội học cũng là một trong những ngành khoa học nghiên cứu về gia đình. Xã hội học gia đình chú ý đến tất cả các sự kiện hiện tượng, các vấn đề xảy ra xung quanh đời sống gia đình hiện đại, nghiên cứu những sự kiện hiện đại được lặp đi lặp lại mang tính quy luật có khuynh hướng. Đó là những sự kiện hiện tượng, những vấn đề mang tính xã hội. Như vậy, đối tượng nghiên cứu của xã hội học gia đình chính là những vấn đề xã hội của gia đình hiện đại.

Xã hội học nghiên cứu gia đình những hiện tượng xã hội trên hai phương diện:

Một là, các mối quan hệ bên trong gia đình. Bao gồm quan hệ giữa các thành viên và quan hệ giới tính.

Hai là, các mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội. Bao gồm có quan hệ gia đình với họ hàng, làng xã, các tổ chức sản xuất, các tổ chức chính trị và các tổ chức văn hóa….

Nghiên cứu xã hội học gia đình không những có ý nghĩa đối với việc xây dụng pháp luật mà còn có vai trò lớn trong việc thực hiện pháp luật trong thực tế.

Xã hội học gia đình là môn koa học nghiên cứu về những sự kiện mang tính chất xã hội của gia đình như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ giữa gia đình với xã hôi…. đó cũng là những đối tượng nghiên cứu của ngành luật học. Dựa trên những mối quan hệ đó, pháp luật đưa ra những quy phạm điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ nêu trên, đưa ra quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, giữa anh, chị em trong gia đình, giữa vợ và chồng…

Kinh tế của gia đình là một trong những nguồn quan trọng để pháp luật điều chỉnh. Ngay trong thời kì đất nước còn chiến tranh, việc nghiên cứu xã hội học gia đình có vai quan trọng trong những chính sách pháp luật của nhà nước ta: Chiến tranh làm cho cơ cấu và quy mô gia đình thay đổi, hầu hết nam nữ thanh niên ra chiến trường đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Trước thực trạng đó, chính sách kinh tế của Đảng chủ trương nền kinh tế bao cấp, làm ăn tập thể, các gia đình hình thành nên các hợp tác xã….ngoài mục đích tạo ra hậu phương vững chắc cho tiền tuyến thì còn nhằm làm cho các chiến sỹ ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu. Không phải lo lắng về cuộc sống gia đình ở quê..

Sau khi chiến tranh kết thúc, vai trò hậu phương của gia đình không còn quan trọng như xưa, nhiêm vụ quan trọng của đất nước không phải là chống ngoại xâm mà là phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, cơ chế bao cấp không còn phù hợp với nền kinh tế hiện nay. Kinh tế gia đình ngày càng có vai trò quan trọng. Vì vậy, Nhà nước ta chủ động đưa ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế cá thể, chính sách khoán 10, khoán 100… được áp dụng triệt để. Như vậy, dựa vào chức năng của gia đình trong những điều kiên cụ thể mà pháp luật đưa ra những chính sách phù hợp nhất.

Gia đình là hạt nhân của xã hội, để xã hội phát triển thì gia đình phải giàu mạnh và văn minh. Kinh tế có tác động quan trọng tới lợi ích và do đó tác động đến tư tưởng, thái độ, niềm tin của nhân dân đén pháp luật. Kinh tế là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật. Cụ thể: khi kinh tế phát triển thì con người có điều kiện mua sắm các điều kiện nghe, nhìn có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật. các chương trình phổ biến giáo dục sẽ dễ dàng đến với người dân, đến với mỗi gia đình. Từ đó nhu cầu tìm hiểu pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của con người.

Vai trò giáo dục gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen thực hiện pháp luật trong mỗi con người. “Dạy con từ thuở lên ba” Trẻ em là những mần non tương lai của đất nước. Việc dạy dỗ con trẻ phụ thuộc nhiều vào gia đình. Đây cũng là yếu tố thúc đẩy việc tự giác thực hiên pháp luật trong thực tế nếu gia đình có phương pháp dạy tốt.

Ngoài ra, văn hóa – lối sống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. những hành vi, cách sử sự của cá nhân đối với cá nhân trong gia đình, cá nhân với xã hội, giữa gia dình với xã hội… là những thành phần hình thành nên các phong tục tập quán, lối sống, đạo đức của con người, xã hội. Đó là nguồn để xây dựng pháp luật mà cũng là những hành vi trực tiếp thực hiện pháp luật hoặc là vi phạm pháp luật.

Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.

【#5】Phân Tích Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lính Vực Pháp Luật

Xã Hội Học Đại Cương

MỤC LỤC

A. Mở bài…………………………………………………………………………………………..2

B. Nội dung………………………………………………………………………………………..2

I. Khái niệm…………………………………………………………………………………..2

1. Xã hội học là gì?……………………………………………………………………….2

2. Xã hội học gia đình là gì?…………………………………………………………..3

3. Gia đình là gì?…………………………………………………………………………..3

II.

Chức năng của gia đình……………………………………………………………5

1) Tái tạo ra một thế hệ mới bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào

tạo:………………………………………………………………………………………………..5

2, nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình…………………….7

III.

Ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học gia đình đối với lĩnh vực

pháp luật:

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

2.

Xã hội học gia đình là gì?

o Định nghĩa:

Xã hội học gia đình là một nhánh của xã hội học chuyên biệt; xã hội

học gia đình là bộ môn khoa học nghiên cứu sự sinh ra, phát triển và sự hoạt

động của gia đình như là một trong những hạt nhân đầu tiên của xã hội trong

các điều kiện văn hóa, kinh tế – xã hội cụ thể, cũng như nghiên cứu về cơ cấu

của chức năng gia đình trong xã hội; là một bộ môn xã hội học nghiên cứu

về gia đình với tư cách là một thiết chế xã hội và một nhóm nhỏ.

Các lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học gia đình:

 Nghiên cứu sự sinh ra, quá trình phát triển liên tục của gia đình trong các chế

độ xã hội đã qua.

 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội

 Nghiên cứu các mối quan hệ trong gia đình

 Nghiên cứu về các chức năng của gia đình .

theo “tập bài giảng Xã hội học” của ts Ngọ Văn Nhân cho biết: Dưới góc độ

là một thiết chế xã hội: ” Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

Đặc điểm: Chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình Việt Nam truyền

thống có đặc điểm là: Đông con là một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội

truyền thống, Từ xa xưa, con người Việt Nam đã đề cao việc duy trì nòi

giống gia đình. “đông con hơn nhiều của”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết

vô”, “con gái là con người ta”. Con cái là thứ đáng giá hơn hết trong gia

đình..

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

2, Nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống vật chất là một chức năng cơ

bản của gia đình. Hoạt động kinh tế, hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm có hoạt

động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thoả mãn các yêu cầu ăn

mặc, ở, đi lại của mỗi thành viên và của gia đình.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều gia đình có điều kiện

(có sở hữu hoặc tham gia sở hữu tư liệu sản xuất) đều có thể trở thành một

đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Để có thể phát huy mọi tiềm

năng sáng tạo trong kinh tế, đảng và nhà nước đề ra và thực hiện các chính

sách sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt

động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sản xuất kinh doanh, các gia đình và hộ gia đình công nhân

viên chức, cán bộ hành chính sự nghiệp, giáo viên, nhà khoa học, trí thức văn

nghệ sỹ… cũng được khuyến khích trong lao động sáng tạo, tăng thu nhập

chính đáng từ lao động sáng tạo của mình. Các loại gia đình này tuy không

trực tiếp thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh, nhưng cũng thực hiện

một nội dung quan trọng của hoạt động kinh tế: bảo đảm hoạt động tiêu dùng

đáp ứng các nhu cầu vật chất cơ bản của con người, qua đó kích thích sự

phát triển hoạt động kinh tế của xã hội.

Thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững

chắc cho tổ chức đời sống của gia đình. Đương nhiên, ngoài cơ sở kinh tế,

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

thì còn nhiều yếu tố khác mới đảm bảo cho một gia đình trở nên văn minh,

hạnh phúc.

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

Đặc điểm: Chức năng tình cảm, tâm lí của gia đình Việt Nam truyền

thống có đặc điểm:

Đề cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết

các mối quan hệ của gia đình.

Sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối với con cái, sự

hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau giữa anh chị

em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng

Những tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm

quê hương và xa hơn là tình yêu đất nước: “cáo chết ba năm quay đầu về

núi”. Gia đình là nơi sẻ chia, cảm nhận, của mỗi thành viên trong gia đình.

Là nơi dừng chân sau một ngày làm việc mệt mỏi. Là sự gắn kết yêu thương

của con người.

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

a, Đối với việc xây dựng pháp luật:

Xã hội học gia đình là môn koa học nghiên cứu về những sự kiện mang

tính chất xã hội của gia đình như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia

đình, quan hệ giữa gia đình với xã hôi…. đó cũng là những đối tượng nghiên

cứu của ngành luật học. Dựa trên những mối quan hệ đó, pháp luật đưa ra

những quy phạm điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ

nêu trên, đưa ra quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, giữa anh, chị em

trong gia đình, giữa vợ và chồng…

Kinh tế của gia đình là một trong những nguồn quan trọng để pháp luật

điều chỉnh. Ngay trong thời kì đất nước còn chiến tranh, việc nghiên cứu xã

hội học gia đình có vai quan trọng trong những chính sách pháp luật của nhà

nước ta: Chiến tranh làm cho cơ cấu và quy mô gia đình thay đổi, hầu hết

nam nữ thanh niên ra chiến trường đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Trước thực

trạng đó, chính sách kinh tế của Đảng chủ trương nền kinh tế bao cấp, làm ăn

tập thể, các gia đình hình thành nên các hợp tác xã….ngoài mục đích tạo ra

hậu phương vững chắc cho tiền tuyến thì còn nhằm làm cho các chiến sỹ

ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu. Không phải lo lắng về cuộc sống gia đình

ở quê..

Sau khi chiến tranh kết thúc, vai trò hậu phương của gia đình không

còn quan trọng như xưa, nhiêm vụ quan trọng của đất nước không phải là

chống ngoại xâm mà là phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, cơ chế bao cấp

không còn phù hợp với nền kinh tế hiện nay. Kinh tế gia đình ngày càng có

vai trò quan trọng. Vì vậy, Nhà nước ta chủ động đưa ra những chính sách

nhằm phát triển kinh tế cá thể, chính sách khoán 10, khoán 100… được áp

dụng triệt để. Như vậy, dựa vào chức năng của gia đình trong những điều

kiên cụ thể mà pháp luật đưa ra những chính sách phù hợp nhất.

Lo Văn Dương

Xã Hội Học Đại Cương

Xã Hội Học Đại Cương

Xã Hội Học Đại Cương

Lo Văn Dương

【#6】Nên Hay Không Đăng Ký Thương Hiệu Nội Thất

Lĩnh vực nội thất có tiềm năng trở thành lĩnh vực có sức cạnh tranh tại thị trường Việt Nam đặc biệt ở các thành phố lớn. Người tiêu dùng thường lựa chọn các dòng sản phẩm đến từ các thương hiệu nổi tiếng để sử dụng.

Một câu hỏi đặt ra dành cho doanh nghiệp, nên hay không đăng ký thương hiệu nội thất? Chúng tôi sẽ chứng minh cho quý khách, đăng ký thương hiệu là lựa chọn đúng đắn.Lĩnh vực nội thất có tiềm năng trở thành lĩnh vực có sức cạnh tranh cao tại thị trường Việt Nam

Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh

Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh được thể hiện như sau:

  • Thứ nhất, xây dựng thương hiệu vững mạnh mang đến lợi thế to lớn cho doanh nghiệp. Nó tạo ra hình ảnh cho sản phẩm và doanh nghiệp.
  • Thứ hai, thương hiệu vững chắc góp phần tạo nên niềm tin cho người tiêu dùng, lôi kéo người tiêu dùng của đối thủ.
  • Thứ ba, thương hiệu mạnh làm gia tăng tỉ lệ cạnh tranh trên thị trường về giá, phân phối sản phẩm và thu hút nguồn vốn đầu tư.
  • Thứ tư, nhu cầu sống của người dân ngày càng cao dẫn đến sự cân nhắc khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng. Một thương hiệu lớn có đầy đủ thông tin xuất xứ và khẳng định được chất lượng sản phẩm tạo sự an tâm cho người tiêu dùng.
  • Thứ năm, thương hiệu có thể xem là công cụ bán hàng tạo ra giá trị trong kinh doanh thúc đẩy tăng lợi nhuận và lãi cổ phần.
  • Thứ sáu, một thương hiệu tạo được dấu ấn trong đông đảo người tiêu dùng không chỉ đơn thuần là tài sản của một doanh nghiệp mà là tài sản quốc gia. Khẳng định vị thế của quốc gia đó trên thị trường quốc tế nhằm thu hút đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ.

Nên hay không đăng ký thương hiệu nội thất độc quyền

Nhãn hiệu nếu được phát triển cùng với tên thương mại có thể được gọi là “Thương hiệu” của doanh nghiệp. Do đó để đăng ký thương hiệu kinh doanh cần phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại. Một số lợi ích của việc đăng ký như sau:

  • Đăng ký nhãn hiệu độc quyền là cơ sở pháp lí cho việc xác định đối với nhãn hiệu, logo, thương hiệu mà doanh nghiệp đang khi doanh khi có bất kì sự cạnh tranh nào với đối thủ khác.
  • Ngăn chặn đối thủ sao chép, nhái lại nhãn hiệu, nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • Tăng khả năng phân biệt của người tiêu dùng về chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp này với các đơn vị kinh doanh mặt hàng khác.
  • Ngăn chặn các đơn vị khác sử dụng nhãn hiệu của doanh nghiệp đi đăng ký thương hiệu độc quyền làm giảm sức cạnh tranh và doanh nghiệp không được sử dụng rộng rãi thương hiệu đó.

Như vậy việc đăng ký thương hiệu nội thất độc quyền giữ vai trò quan trọng tạo tiền đề cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời nó đem lại lợi ích to lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho nền kinh tế quốc gia.

Cá nhân, tổ chức có nhu cầu đăng ký nhãn hiệu có thể tự mình nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc có thể ủy quyền thông qua đại diện của Phan Law Viet Nam để được hướng dẫn đăng ký thương hiệu. Đồng thời khi nộp đơn đăng ký, quý khách hàng tiến hành nộp lệ phí đăng ký nhãn hiệu và lấy chứng từ nộp lệ phí đăng ký nhãn hiệu để nộp kèm với hồ sơ.

Kèm theo đơn đăng ký nhãn hiệu, quý khách hàng cần cung cấp đầy đủ các tài liệu theo quy định pháp luật.

Sau khi đăng ký bảo hộ thương hiệu, thương hiệu nội thất của doanh nghiệp sẽ được bảo hộ trong vòng 10 năm và có thể gia hạn thêm. Còn chần chờ gì nữa mà không đăng ký thương hiệu nội thất độc quyền! Vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu có bất kì thắc mắc về vấn đề đăng ký thương hiệu, Phan Law Viet Nam sẽ hướng dẫn đăng ký thương hiệu trong lĩnh vực nội thất một cách chi tiết cho quý khách hàng.

【#7】Mua Bản Quyền Thương Hiệu Thời Trang Theo Luật Đăng Ký Bản Quyền Thương Hiệu

Đăng ký bảo hộ logo nhãn hiệu vẫn còn khá xa lạ với nhiều doanh nghiệp. Thực tế không phải mọi đơn đăng ký bảo hộ đều được thông qua và cấp giấy chứng nhận, do đó nhiều doanh nghiệp nghĩ đến phương pháp khác đơn giản hơn là mua bản quyền logo đã được đăng ký bảo hộ.

Thương hiệu thời trang cũng vậy, doanh nghiệp thời trang muốn mua lại bản quyền logo thương hiệu cần đáp ứng các điều kiện, quy trình được quy định trong luật đăng ký bản quyền thương hiệu.

Thế nào là chuyển nhượng logo nhãn hiệu?

Chuyển nhượng logo nhãn hiệu là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng văn bản.

Một hợp đồng chuyển nhượng hay mua bản quyền nhãn hiệu có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng logo nhãn hiệu theo luật đăng ký bản quyền thương hiệu:

  • Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng
  • Căn cứ chuyển nhượng
  • Giá chuyển nhượng
  • Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng
  • Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng logo nhãn hiệu bao gồm:
  • Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định
  • Bản gốc hoặc bản sao hợp lệ hợp đồng
  • Bản gốc văn bằng bảo hộ
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, văn bản giải trình lí do không đồng ý của bất kì đồng sở hữu nào về việc chuyển giao quyền nếu quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc sở hữu chung
  • Chứng từ nộp phí, lệ phí
  • Giấy ủy quyền nếu nộp hồ sơ thông qua đại diện

Lợi ích của việc mua lại bản quyền logo:

Xây dựng một thương hiệu tên tuổi chưa bao giờ là công việc đơn giản. Bên cạnh khâu thiết kế logo để lại ấn tượng trong lòng người tiêu dùng, doanh nghiệp còn phải phổ biến logo nhãn hiệu ấy. Khi đã đạt được độ trung thành nhất định của người tiêu dùng, hiện tượng xâm phạm bản quyền, thu lợi từ thương hiệu của doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.

Lúc đó doanh nghiệp ý thức được phải đăng ký logo nhãn hiệu. Song thực tế tỉ lệ đăng ký nhãn hiệu bị từ chối hiện nay còn khá cao. Do đó doanh nghiệp tìm đến một giải pháp hữu hiệu hơn đó chính là mua lại bản quyền logo của doanh nghiệp khác. Việc mua bán này tiết kiệm thời gian công sức xây dựng đồng thời tận dụng một cách tối đa giá trị mà logo mang lại.

Lưu ý khi chuyển nhượng logo nhãn hiệu

Không phải lúc nào việc mua bản quyền logo nhãn hiệu đều dễ dàng. Việc chuyển nhượng, mua bán ngoài đáp ứng các quy định trên về thủ tục hồ sơ, còn phải đáp ứng một số điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra doanh nghiệp muốn mua lại logo nhãn hiệu cần phải xác định rõ, tìm kiếm đối tác phù hợp.

Mua lại bản quyền logo nhãn hiệu là cách tiết kiệm và nhanh nhất để nâng cao khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên quý khách cũng cần chú ý tìm hiểu và phân tích tiềm năng của logo nhãn hiệu mà mình chuẩn bị mua lại, nhận chuyển nhượng đồng thời có kiến thức nhất định về các quy định của luật đăng ký bản quyền thương hiệu. Vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn thêm về vấn đề mua bản quyền logo và các vấn đề liên quan.

【#8】Mua Lại Bản Quyền Logo Đã Được Đăng Ký Bảo Hộ Như Thế Nào?

Đăng ký bản quyền logo vẫn còn khá xa lạ với nhiều doanh nghiệp. Thực tế không phải mọi đơn đăng ký bảo hộ đều được thông qua và cấp giấy chứng nhận, do đó nhiều doanh nghiệp nghĩ đến phương pháp khác đơn giản hơn là mua bản quyền logo đã được đăng ký bảo hộ.

Thế nào là mua lại logo nhãn hiệu?

Mua lại bản quyền logo hay còn gọi là nhận chuyển nhượng logo nhãn hiệu là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình đối với logo cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng văn bản.

Một hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng logo nhãn hiệu:

–         Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

–         Căn cứ chuyển nhượng

–         Giá chuyển nhượng

–         Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng logo

Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng logo nhãn hiệu bao gồm:

–         Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định

–         Bản gốc hoặc bản sao hợp lệ hợp đồng

–         Bản gốc văn bằng bảo hộ

–         Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, văn bản giải trình lí do không đồng ý của bất kì đồng sở hữu nào về việc chuyển giao quyền nếu quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc sở hữu chung

–         Chứng từ nộp phí, lệ phí

–         Giấy ủy quyền nếu nộp hồ sơ thông qua đại diện

Lợi ích của việc mua lại bản quyền logo

Xây dựng một thương hiệu tên tuổi chưa bao giờ là công việc đơn giản. Bên cạnh khâu thiết kế logo để lại ấn tượng trong lòng người tiêu dùng, doanh nghiệp còn phải phổ biến logo nhãn hiệu ấy. Khi đã đạt được độ trung thành nhất định của người tiêu dùng, hiện tượng xâm phạm bản quyền, thu lợi từ thương hiệu của doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.

Lúc đó doanh nghiệp ý thức được phải đăng ký logo nhãn hiệu. Song thực tế tỉ lệ đăng ký nhãn hiệu bị từ chối hiện nay còn khá cao. Do đó doanh nghiệp tìm đến một giải pháp hữu hiệu hơn đó chính là mua lại bản quyền logo của doanh nghiệp khác. Việc mua bán này tiết kiệm thời gian công sức xây dựng đồng thời tận dụng một cách tối đa giá trị mà logo mang lại.

Mua lại logo đã được đăng ký bản quyền là cách hiệu quả nhất

Lưu ý khi chuyển nhượng logo nhãn hiệu

Không phải lúc nào việc mua lại logo nhãn hiệu đều dễ dàng. Việc chuyển nhượng, mua bán ngoài đáp ứng các quy định trên về thủ tục hồ sơ, còn phải đáp ứng một số điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra doanh nghiệp muốn mua lại logo nhãn hiệu cần phải xác định rõ, tìm kiếm đối tác phù hợp.

Mua bản quyền logo nhãn hiệu là cách tiết kiệm và nhanh nhất để nâng cao khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên quý khách cũng cần chú ý tìm hiểu và phân tích tiềm năng của logo nhãn hiệu mà mình chuẩn bị mua lại, nhận chuyển nhượng. Vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua Theindochinaproject.com để được tư vấn cụ thể hơn.