【#1】Cấp Giấy Xác Nhận Đăng Ký Sử Dụng Máy Photocopy Màu, Máy In Có Chức Năng Photocopy Màu

Thông tin thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Cách thực hiện thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Trình tự thực hiện

Bước 1.:

Cơ quan, tổ chức, cơ sở in nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Hà Tĩnh (số 66, đường Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh).

– Cán bộ chuyên môn kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ:

+ Nếu hồ sơ không đầy đủ, hợp lệ thì hướng dẫn bổ sung

+ Nếu hồ sơ đầy đủ hợp lệ thì viết biên nhận và phiếu hẹn

Bước 2.:

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển hồ sơ cho Phòng quản lý Báo chí và Xuất bản để thẩm tra

Bước 3.:

Sau khi thẩm tra, Sở Thông tin và Truyền thông cấp Giấy xác nhận và chuyển cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trả cho Cơ quan, tổ chức, cơ sở in

Điều kiện thực hiện

Nội dung Văn bản quy định

– Máy photocopy màu chỉ được sử dụng phục vụ công việc nội bộ của cơ quan, tổ chức, không được sử dụng để kinh doanh dưới mọi hình thức;

– Máy in có chức năng photocopy màu có tốc độ trên 50 tờ/phút trở lên chỉ được sử dụng để sản xuất trong cơ sở in có đủ điều kiện hoạt động in;

– Máy in có chức năng photocopy màu có tốc độ từ 50 tờ/phút trở xuống được sử dụng để sản xuất trong các cơ sở in có đủ điều kiện hoạt động in và được sử dụng như máy photocopy màu

Chưa có văn bản!

Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Đơn đăng ký sử dụng máy theo mẫu quy định

Bản sao có bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực nếu gửi bằng đường bưu chính, chuyển phát giấy phép nhập khẩu máy do Cục Xuất bản, In và Phát hành cấp; giấy tờ đảm bảo tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức đăng ký sử dụng máy; hợp đồng và hóa đơn mua máy hoặc chứng từ thuê mua máy

Đơn đề nghị chuyển nhượng (đối với máy đã đăng ký sử dụng) có xác nhận của Sở Thông tin và Truyền thông nơi đã đăng ký máy đó

Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

Lược đồ Cấp giấy xác nhận đăng ký sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu – Hà Tĩnh

【#2】Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021

Ngày 25/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc Hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS năm 2021). Để phục vụ cho việc thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, tác giả xin giới thiệu một số điểm mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, theo quy định của BLTTDS năm 2021. 1. Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

Thể chế hóa khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013,tại Điều 13 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nhiêm chỉnh và thống nhất”. Như vậy, so với quy định tại Điều 13 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã quy định cụ thể nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành Kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Đồng thời nâng cao vị trí pháp lý của VKSND trong tố tụng dân sự nói riêng và kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng.

2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Kiểm sát viên, kiểm tra viên Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

BLTTDS năm 2021 tiếp tục khẳng định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng; Viện trưởng và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự. Đồng thời bổ sung quy định Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng và bổ sung 01 điều luật (Điều 59) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên để đảm bảo phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát: Nhằm nâng cao trách nhiệm của cấp trưởng trong công tác quản lý, chỉ đạo, đặc biệt là trong công tác kháng nghị, Điều 57 BLTTDS năm 2021 quy định Viện trưởng VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này” vàViện trưởng không được ủy nhiệm cho Phó viện trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (khoản 2 Điều 57).

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên: BLTTDS năm 2021 (Điều 58) đã quy định cụ thể, chi tiết và giao cho Kiểm sát viên nhiều quyền năng hơn giúp Kiểm sát viên chủ động, tích cực hơn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là các quyền: Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Bộ luật này; kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên: Lần đầu tiên BLTTDS có 01 quy định riêng về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự (Điều 46, Điều 59). Theo đó, Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ, việc; báo cáo kết quả với Kiểm sát viên; lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự; giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

3. Về tham gia phiên tòa dân sự

Về phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát: Tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2021 đã quy định theo hướng cụ thể hóa trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm nhằm tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi. Ngoài ra, còn bổ sung thêm trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 266, khoản 2 Điều 313 BLTTDS hiện hành thì sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp là 01 thủ tục bắt buộc, nếu vắng mặt Kiểm sát viên thì phải hoãn phiên tòa, phiên họp. Nhằm bảo đảm cho việc xét xử, giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, kịp thời và đề cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, tại khoản 1 Điều 232, khoản 2 Điều 275, khoản 1 Điều 296, khoản 2 Điều 314, khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2021 quy địnhKiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa, phiên họp (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) mà vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa, phiên họp trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phên tòa sơ thẩm: Tại Điều 262 BLTTDS năm 2021 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”. Như vậy, so với quy định tại Điều 234 BLTTDS hiện hành, BLTTDS năm 2021 đã cho phép Viện Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa ngoài việc phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, còn được phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Việc phát biểu ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo, đánh giá, xem xét trước khi ra 01 bản án, đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật.

4. Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm là quy định mới trong BLTTDS năm 2021 (chương XVIII; XIX). Theo đó, thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường, nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo đúng pháp luật. Đối với Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thì thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án chỉ có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Về thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Tòa án sẽ không hoãn phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm.

5. Về việc thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân

Khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2021 quy định: “Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”. Theo quy định trên thì quyền thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát đã được mở rộng hơn so với quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS hiện hành. Viện kiểm sát không phải thực hiện quyền này thông qua quyền yêu cầu như trước đây, mà có quyền trực tiếp thực hiện các biện pháp để thu thập chứng cứ đảm bảo cho việc kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm như: Lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định….Ngoài ra, BLTTDS năm 2105 còn quy định rõ: Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND cấp cao) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết (khoản 2 Điều 330 BLTTDS năm 2021).

6. Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 331 BLTTDS năm 2021, Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Nguyễn Đức Sơn – Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

【#3】Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự

Bàn về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

Theo Hiến pháp năm 1959 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân Tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân”.

Hiến pháp năm 1992 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân Tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” và Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Qua đó cho thấy, Hiến pháp năm 1959 quy định Viện kiểm sát nhân dân chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đến Hiến pháp năm 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật còn có chức năng thực hành quyền công tố và đến Hiến pháp năm 2013 chức năng thực hành quyền công và kiểm sát hoạt động tư pháp được quy định gắn kết chặt chẽ với nhau. Theo đó, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.

Như vậy, vấn đề chúng ta cần bàn luận để làm rõ đó là:

Thứ nhất: Khi nào thì Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và khi nào Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.

Để phân định rõ quá trình thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự chúng ta cần phân tích làm sáng tỏ một số nội dung sau:

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự:

Theo khoản 1 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án”. Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng vụ án hình sự Viện kiểm sát căn cứ theo quy định của pháp luật để ban hành các quyết định thể hiện tính quyền lực của nhà nước như: Quyết định phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; Quyết định trả tự do; Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; Quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam (bắt bị can tạm giam); Quyết định truy tố (Cáo trạng); Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn; Quyết định kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Kiến nghị….nhằm mục đích truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự:

Theo khoản 2 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này”. Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng Viện kiểm sát còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát hoạt động tư pháp) đối với Cơ quan tiến hành tố tụng; Người tiến hành tố tụng; Người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành thống nhất, không để cơ quan, cá nhân nào làm trái quy định của pháp luật, gây oan sai cho người vô tội.

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự:

Theo khoản 3 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”. Theo đó, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố phải gắn với kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm từ việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Như vậy, theo khoản 3 Điều 23 BLTTHS Viện kiểm sát ngoài kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng còn có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực thi hành án (Điều 257 BLTTHS).

Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, Viện kiểm sát không thể tách rời hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách độc lập mà hai chức năng đó phải thực hiện song trùng và có sự tác động tương hỗ lẫn nhau. Chẳng hạn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; phê chuẩn lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn A; phạm tội Giết người đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là kết quả Kiểm sát viên C thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, bắt tạm giam, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra một cách chặt chẽ, tuân thủ đúng pháp luật. Nhờ đó, mọi hành vi phạm tội của A đã được phát hiện, xử lý kịp thời, Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh bắt tạm giam… đối với A bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Song, nếu xét tổng thể các khoản trong Điều 23 BLTTHS chúng ta thấy có nhiều mâu thuẫn giữa các khoản. Chẳng hạn:

Theo khoản 1 Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án”. Theo đó, Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố, quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, còn từ giai đoạn Tòa án xét xử trở về sau Viện kiểm sát không thực hành quyền công tố.

Thế nhưng, khoản 3 Điều 23 BLTTHS lại quy định “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”. Theo đó Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều này còn có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với cơ quan thi hành án (Hình sự, Dân sự) (Điều 257 BLTTHS) như: Trại giam, cơ quan thi hành án các cấp, UBND cấp xã (thi hành án treo, cải tạo không giam giữ…) và người làm nhiệm vụ thi hành án (giám thị trại giam, cán bộ, Chủ tịch UBND cấp xã, người được phân công giám sát, giáo dục bị án hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, Chấp hành viên…).

Từ sự phân tích nêu trên cho thấy, khoản 3 Điều 23 BLTTHS: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” quy định như vậy là đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng vụ án hình sự, không nên quy định khoản 1, khoản 2 tạo sự mâu thuẫn với khoản 3 khó thực hiện.

Thứ hai: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ thời điểm nào đến thời điểm nào trong quá trình tiến hành tố tụng vụ án hình sự.

Muốn làm sáng tỏ quan điểm trên, chúng ta cần trở lại phân tích khoản 3 Điều 23 BLTTHS: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”.

Để “bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời”, nên tại khoản 2 Điều 103 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”. Đồng thời, khoản 4 điều này cũng quy định: “Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”, nếu cơ quan điều tra không xử lý kịp thời, đúng hạn luật định thì Viện kiểm sát căn cứ điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS để yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hay không khởi tố đối với tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát bắt đầu từ thời điểm khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 103 BLTTHS) đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án (Hình sự và Dân sự) (Điều 257 BLTTHS). Tùy từng giai đoạn tố tụng mà Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng vụ án hình sự Viện kiểm sát không nên tách rời chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật để thực hiện độc lập mà phải gắn kết hoạt động thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp một cách chặt chẽ. Có như thế, Viện kiểm sát mới “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đem lại kết quả tốt, bảo đảm mọi hành vi phạm tội sẽ được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Thanh Nghị

【#4】Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Nhân Sự Của Ban Tổ Chức

1. Chức năng:

Tham mưu cho BCH, Ban Thường vụ Đoàn TNĐS Việt Nam các lĩnh vực sau:

– Công tác tổ chức, cán bộ của Đoàn.

– Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn.

– Công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng.

– Chế độ chính sách – tiền lương – bảo hiểm xã hội.

2. Nhiệm vụ:

– Tham mưu cho Ban Thường vụ Đoàn TNĐS Việt Nam về thực hiện các nội dung sau:

+ Xây dựng mô hình và tổ chức quản lý hoạt động của Đoàn TNĐS Việt Nam bao gồm: thành lập mới, sáp nhập, chia tách, giải thể.

+ Bố trí, sắp xếp định biên cán bộ chuyên trách; tham mưu, đề nghị Ban Thường vụ bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ trong hệ thống tổ chức Đoàn TNĐS Việt Nam.

+ Lập quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ kế cận trước mắt và lâu dài. Tuyển chọn và hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động trong nội bộ cơ quan Đoàn TNĐS Việt Nam.

+ Tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra – giám sát trong tổ chức Đoàn TNĐS Việt Nam; giải quyết các khiếu nại (nếu có).

+ Công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng.

– Giúp Ban Thường vụ Đoàn thanh niên Đường sắt Việt Nam phối hợp với cấp uỷ Đảng trực thuộc Đảng bộ Đường sắt xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy của Đoàn ở các cấp; quản lý cán bộ là: Uỷ viên Ban Chấp hành Đoàn thanh niên Đường sắt Việt Nam; Bí thư, Phó Bí thư Đoàn thanh niên các đơn vị trực thuộc Đoàn thanh niên Đường sắt Việt Nam.

– Quản lý hồ sơ nhân sự cán bộ chuyên trách của Đoàn TNĐS Việt Nam, quản lý sổ bảo hiểm xã hội của CBCNV cơ quan Đoàn TNĐS Việt Nam.

– Thường trực hội đồng nâng ngạch, xét nâng lương cán bộ chuyên trách của Đoàn TNĐS Việt Nam.

– Thường trực các cuộc họp đề nghị xử lý kỷ luật lao động – trách nhiệm vật chất.

Điện thoại CQ: 043.9422886

Email: [email protected]

【#5】Một Số Vấn Đề Về Tổ Chức Bộ Máy Và Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Được Quy Định Trong Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992

Một số vấn đề về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Quá trình nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chế định Viện kiểm sát nhân dân luôn có nhiều ý kiến trái chiều với nhiều câu hỏi đặt ra. Có hay không việc chuyển mô hình Viện kiểm sát sang Viện công tố? Viện kiểm sát có mấy chức năng? Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (gọi tắt là dự thảo sửa đổi Hiến pháp) với quy định gồm 03 điều (Điều 112, 113, 114) ngắn gọn hơn so với Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định mô hình Viện kiểm sát nhân dân với hai chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là lựa chọn thích hợp nhất của đất nước ta hiện nay.

Đây là một khẳng định rất quan trọng phù hợp với quan điểm của Đảng ta và xu hướng hiện nay trên thế giới về phạm vi hoạt động của Viện công tố, cụ thể là Viện công tố không chỉ hạn chế trong chức năng về lĩnh vực hình sự mà trong nhiều lĩnh vực khác như hành chính, thương mại, dân sự…(Theo kết luận của Hội thảo Viện công tố ở châu Âu trong thế kỷ 21).

Về vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được nêu trong Cương lĩnh chính trị của Đảng cho thấy: Đó là sự kế thừa, phát triển những ưu điểm của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam từ năm 1946 đến nay và phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển của đất nước, dân tộc trong giai đoạn mới, được xây dựng trên cơ sở của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, do Đảng cộng sản là tổ chức lãnh đạo duy nhất. Chính vì vậy trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta có rất nhiều đặc trưng khác biệt với các mô hình tổ chức Nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Trong đó, mô hình Viện kiểm sát nhân dân là một đặc trưng cơ bản. Với tư cách là một cơ quan hiến định trong tổ chức bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã quy định rất rõ “Quốc hội…thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” (Điều 74 dự thảo sửa đổi Hiến pháp), “Chính phủ… thực hiện quyền hành pháp” (Điều 99 dự thảo sửa đổi Hiến pháp), “Tòa án nhân dân…thực hiện quyền tư pháp” (Điều 107 dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Với những quy định như trên thì dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta là “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Chế định Viện kiểm sát nhân dân tuy đã được khẳng định là cơ quan Hiến định, có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi đặt cùng chương với Tòa án nhân dân (Chương VIII của dự thảo sửa đổi Hiến pháp) và không được khái quát là cơ quan gì? thực hiện quyền năng gì? Nên đã không nêu rõ được vai trò, vị trí cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân và hơn nữa đã không thể hiện được quan điểm của Đảng ta là phải có sự “kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Do vậy, dự thảo sửa đổi Hiến pháp cần khái quát Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước và nếu có thể thì quy định thành một Chương độc lập trong Hiến pháp mới.

Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.

So với Hiến pháp năm 1992, dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân dự thảo sửa đổi không có gì thay đổi so với hiến pháp năm 1992 và chỉ được viết gọn hơn, tại khoản 1 Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 1992 được ghi chung với nhiệm vụ của Tòa án nhân dân (Điều 126 Hiến pháp năm 1992) những nay đã được tách ra thành một quy định riêng (Khoản 3 Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Đánh giá chung, dự thảo sửa đổi Hiến pháp dùng từ chính xác hơn và khoa học hơn thể hiện cụm từ “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” đã được thay bằng cụm từ “thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” quan trọng hơn là đã tách bạch được nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thành các điều luật riêng. Các cụm từ được dùng trong nhiệm vụ của Viện kiểm sát thể hiện trách nhiệm to lớn được giao phó cho ngành Kiểm sát, thể hiện chỉ có Viện kiểm sát nhân dân mới có nhiệm vụ “góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, nhiệm vụ “bảo vệ quyền con người” lần đầu tiên được giao cho Viện kiểm sát nhân dân. Với sửa đổi như vậy về cơ bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đánh giá đúng vai trò không thể thiếu của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên việc bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang và công dân (gọi tắt là kiểm sát chung), khi mà Đảng và Quốc hội cũng đều đánh giá là việc bỏ chức năng này không phải do Viện kiểm sát làm không tốt mà vì muốn tránh sự chồng chéo trong thực hiện chức năng của một số ngành và để chuyển chức năng này của Viện kiểm sát sang cho một số cơ quan khác, đồng thời để Viện kiểm sát tập trung làm tốt hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nhưng hiện nay trong dự thảo Hiến pháp thì chức năng này vẫn chưa giao cho một cơ quan nào khác. Trong một xã hội dân chủ (có quan điểm về xã hội dân sự) cần có nhiều kênh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật. Mặt khác, kể cả pháp luật trao cho người dân có quyền tự bảo vệ mình trước pháp luật thì chắc gì họ đã sử dụng triệt để quyền năng này. Vấn đề là cần một lá chắn từ phía bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền tự do và lợi ích chính đáng của nhân dân là đòi hỏi cấp thiết. Giao cho Viện kiểm sát nhân dân thêm chức năng này chính là tạo một kênh quan trọng, một lá chắn hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức. và lúc đó cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước sẽ có thêm đảm bảo đảm bảo. Vì vậy, cần khôi phục chức năng này cho Viện kiểm sát nhân dân.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và khoản 3 Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho Viện kiểm sát một nhiệm vụ đặc biệt là điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Theo xu hướng cải cách tư pháp hiện nay, công tác điều tra tội phạm này cần được quan tâm một cách đúng mức vì lực lượng cán bộ tư pháp có trong sạch thì mới là gốc để hoàn thành công cuộc cải cách tư pháp của nước ta. Thực tiễn vừa qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 522e/NQ- UBTVQH13 ngày 16/8/2012 quyết định tăng biên chế cho ngành Kiểm sát đã ghi rõ tăng thêm 21 Điều tra viên cao cấp cho ngành Kiểm sát nhân dân. Những cả 03 điều luật trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp về Viện kiểm sát nhân dân không có bất kỳ một từ nào để xác định nhiệm vụ này và chức danh pháp lý Điều tra viên của ngành Kiểm sát nhân dân và nếu không hiến định thì nhiệm vụ và chức danh pháp lý thực hiện nhiệm vụ trên, sẽ có thể không được các luật quy định. Vậy cần thiết bổ sung thành một khoản trong quy định của Điều 112 dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước là một trong những biện pháp quan trọng góp phần vào việc đẩy mạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta./.

Lưu Xuân Sang – Phó trưởng phòng 9 VKSNDTP

【#6】Chưa Thống Nhất Bổ Sung Chức Năng Giám Định Tư Pháp Cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao

Một trong những nội dung được nhiều đại biểu cho ý kiến là về bổ sung chức năng giám định tư pháp cho “Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao”.

Báo cáo về một số vấn đề lớn của dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp của Ủy ban Tư pháp, Chủ nhiệm Lê Thị Nga cho biết, dự luật do Chính phủ trình có bổ sung chức năng giám định tư pháp và quy định Phòng Giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là một trong các tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự.

Toàn cảnh phiên họp (Ảnh: Quang Khánh/ĐBND)

Cho ý kiến về vấn đề này, đại biểu Quốc hội có hai loại ý kiến, tán thành và đề nghị không bổ sung quy định này.

Loại ý kiến tán thành cho rằng việc bổ sung quy định này là cần thiết, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng tăng trong việc giám định về âm thanh, hình ảnh từ các dữ liệu điện tử thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt từ ngày 01/01/2020 các cơ quan tố tụng sẽ thực hiện ghi âm, ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can trên toàn quốc.

Loại ý kiến đề nghị không bổ sung quy định này vì Viện kiểm sát vừa thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa trực tiếp thực hiện giám định sẽ không đảm bảo tính khách quan và sẽ làm phát sinh bộ máy, biên chế. Do đó, cần bổ sung nhân lực, trang bị cho lực lượng hiện có để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà không nên lập mới tổ chức GĐTP công lập về kỹ thuật hình sự.

Theo báo cáo, nhiều ý kiến của Thường trực Ủy ban Tư pháp và các cơ quan hữu quan, trong đó có Bộ Công an, cho rằng đây là vấn đề mới, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên sâu, phải đầu tư khoản kinh phí lớn và đồng bộ về trang-thiết bị. Trong đó, giám định âm thanh chỉ là một trong 10 chuyên ngành kỹ thuật hình sự nên Chính phủ cần bổ sung đánh giá tác động, cung cấp số liệu… Vì vậy, nội dung này cần tiếp tục nghiên cứu và chưa đưa vào sửa đổi lần này.

Một số ý kiến của Thường trực Ủy ban Tư pháp và các cơ quan như Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tán thành với quy định như dự luật.

Phát biểu về vấn đề này, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Bùi Mạnh Cường khẳng định việc bổ sung quy định này là cần thiết. Ông phân tích, về lý luận, hiện nay, Luật Tổ chức các cơ quan điều tra hình sự quy định có 3 cơ quan điều tra chuyên trách của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan điều tra có nhiệm vụ giám định và trưng cầu giám định, nhưng Luật Giám định tư pháp chỉ quy định về tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chưa có tổ chức giám định công lập.

Ngoài ra, theo ông, việc quy định thêm chức năng giám định tư pháp cho Cơ quan điều tra thuộc Viện Kiểm sát sẽ không làm tăng biên chế.

Trong khi đó, phát biểu tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương khẳng định lại quan điểm của Bộ Công an không đồng tình với đề xuất nêu trên vì chưa thấy cần thiết. Thực tế, từ năm 2002 đến nay, Viện Khoa học hình sự mới tiếp nhận 42 vụ trưng cầu giám định âm thanh, 18 vụ trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử. Số vụ như vậy là không nhiều và Viện Khoa học hình sự cơ bản vẫn đáp ứng được yêu cầu.

Hiện nay, nhiệm vụ giám định tư pháp về kỹ thuật hình sự vẫn do các cơ quan thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đảm nhiệm, nên nếu cần thiết và để bảo đảm khách quan thì có thể đề nghị Bộ Quốc phòng triển khai giám định về âm thanh, giám định kỹ thuật số điện tử. Năng lực của giám định kỹ thuật hình sự bên Bộ Quốc phòng có thể đáp ứng được yêu cầu này.

Trước ý kiến khác nhau, kết luận vấn đề này, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, do đây là nội dung mới được đề xuất bổ sung, nên Chính phủ và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần có đánh giá tác động, có báo cáo giải trình giải thích rõ lý do cần thiết hay không cần thiết bổ sung.

【#7】Đánh Giá Chức Năng Thận Tồn Lưu Ở Bệnh Nhân Suy Thận Mạn Giai Đoạn Cuối Tại Bệnh Viện Chợ Rẫy

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, tiền cứu, tiến hành tại khoa Nội Thận, bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013, trên 102 bn STMGĐC. Các bn được đo RRF và đánh giá các biến chứng mạn tính của STMGĐC (tiêu hóa, tim mạch, thiếu máu, rối loại điện giải, thăng bằng kiềm toan).

1. Chung SH, et al(2003) , “Association between residual renal function, inflammation and patient survival in new peritoneal dialysis patients”, Nephrol Dial Transplant, 18(3), p. 590-597.

2. Cooper BA, et al (2010), “A randomized, controlled trial of early versus late initiation of dialysis”, N Engl J Med, 363(7), p.609-619.

3. Jager DJD, et al (2011), “Association beweent time of referral and survival in the first year of dialysis in diabetics and the elderly”, Nephrol Dial Transplant, 26(2), p.652-658.

4. Konings CJ, Kooman JP, et al (2003), “Fluid status in CAPD patients in related to peritoneal transport and residual renal function: evidence from a longitudinal study”, Nephrol Dial Transplant, 18 (4), p.396 – 403.

5. Lang SM, et al (2001), “Preservation of residual renal function in dialysis patients: effects of dialysis-technique-related factors”, Peritoneal Dialysis International, 21(1), p. 52-57.

6. Menon MK, Nalmark DM, Bargman JM, et al (2001), “Longterm blood pssure control in a cohort of peritoneal dialysis patients and its association with residual renal function”, Nephrol Dial Transplant, 16 (11),p. 2207-2213.

7. Milutinovic J, Cutler R, Hoover P, Meijsen B, Scribner B (1975), “Measurement of residual glomerular filtration rate in the patient receiving repetitive hemodialysis”, Kidney Int, 8, p.185-190.

8. Moist LM (2000). “Predictors of Loss of Residual Renal Function among New Dialysis Patients”, J Am Soc Nephrol, 11(3), p.556 -564.

9. Penne EL, Weerd NC, et al (2011), “Role of Residual renal function in phosphate control and anemia management in chronic hemodialysis patients”, Clinical Journal of the American Society of Nephrology, 6(2), p. 281-289. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Thận Niệu 165

10. Rocco M, Soucie JM, Pastan S, McClellan WM (2000), “Peritoneal dialysis adequacy and risk of death”, Kidney Int, 58(1),p. 446-457.

11. Termorshuizen F, Korevaar JC, Dekker FW, et al (2003), “Relative contribution of residual renal function compared with peritoneal clearance for patient survival and quality of life: an analysis of the NetherlandsCooperative Study on the Adequacy of Dialysis (NECOSAD)-2”, Am J Kidney Dis,

12. Nguyễn Thị Thanh Thùy, Tạ Phương Dung, Trần Thị Bích Hương (2012)”Vai trò của chức năng thận tồn lưu trên bn thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.”, Tạp chí Y Học TPHCM, 16 (phụ bản 3), 2012, tr 175-182. 13. Timothy WM, Thomas HH (2007), “Uremia”, N Engl J Med,

14. Van Olden RW, van Acker BAC, Koomen GCM, Krediet RT, Ariz L(1995), “Time course of inulin and creatinine clearance in the interval between two hemodialysis treatments”, Nephrol Dial. Transplant,10(12),p. 2274 -2280

【#8】Dấu Hiệu Nhận Biết Chức Năng Gan Suy Giảm ” Dược Thảo Toàn Chân

Gan được ví như “nhà máy thải độc” của cơ thể, giúp thanh lọc độc tố; chuyển hóa thức ăn và dự trữ nhiên liệu dưới nhiều dạng khác nhau; tổng hợp một số chất đạm, bài xuất mật, chất acid mỡ… Khi gan suy giảm chức năng, có thể dẫn tới xơ gan, ung thư gan và ảnh hưởng lớn đến các cơ quan khác. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng nổi mụn, da sần sùi, nám… ở chị em phụ nữ.

Ngoại trừ lý do mắc bệnh gan mãn tính, nhiễm virus gây viêm gan, thì chế độ ăn uống chứa quá nhiều chất độc hại là nguyên nhân chính khiến gan phải làm việc quá sức. Đặc biệt, thói quen thường xuyên “đọ tửu” của nam giới ngày lễ Tết có thể làm tổn thương gan nghiêm trọng.

Các bệnh về gan thường không biểu hiện ra bên ngoài bằng những triệu chứng cụ thể. Khi gan không khỏe, bạn nên sớm đi thăm khám bác sĩ nếu thấy xuất hiện những dấu hiệu sau.

Thay đổi màu da, mắt và móng tay: Nhận biết gan tổn thương bằng các tế bào da là đáng tin cậy hơn cả. Khi gan hoạt động kém, da sẽ biến sắc thành màu vàng nám, các đốm trắng bắt đầu xuất hiện; mắt và móng tay chuyển sang màu vàng thay vì màu trắng như bình thường.

Hơi thở có mùi: Khi gan không làm tốt chức năng giải độc cho cơ thể, sẽ dẫn đến rối loạn hệ tiêu hóa và khiến hơi thở có mùi.

Quầng thâm quanh mắt và mỏi mắt: Nếu mắt thâm quầng và mỏi khi bạn không thức quá khuya hoặc làm việc quá nhiều trên máy tính, thì đây là dấu hiệu của lá gan không khỏe.

Trướng bụng: Nếu tiếp nhận cùng lúc nhiều chất độc và không thể xử lý hết, gan sẽ bị tổn thương và nhiễm độc. Biểu hiện ra bên ngoài là gan to lên, dạ dày sẽ trương phình nếu không được xử lý kịp thời.

Khi có các dấu hiệu trên, chị em nên quan tâm đến việc giải độc gan cho cả gia đình, đặc biệt là ông xã. Trước hết, cần thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, đảm bảo sự cân bằng vitamin, protein và các khoáng chất thiết yếu. Hạn chế ăn các loại thức ăn chế biến sẵn, bia, rượu, cà phê, đồ ăn cay, chua, thuốc lá. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư gan và làm tăng thêm độc tính có hại cho gan.

Ngoài ra, bạn cũng nên tập ngủ sớm và đúng giờ, giúp máu trong cơ thể có đủ thời gian trở về gan và giải độc cho gan. Uống nhiều nước cũng làm tăng tác dụng giải độc cho gan. Bên cạnh đó, có thể sử dụng các thảo dược thiên nhiên có công năng bảo vệ gan như quả đu đủ, củ cải, mướp đắng, gấc, lekima, tỏi và nhộng tằm.

【#9】Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Sơ Đồ Tổ Chức Phòng Hành Chính Nhân Sự

1. Sơ đồ tổ chức phòng hành chính nhân sự và mô tả công việc

Hành chính nhân sự là bộ quan trọng của doanh nghiệp, quyết định trực tiếp đến số lượng và chất lượng nhân sự trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hành chính nhân sự còn là bộ phận giải quyết rất nhiều tâm tư nguyện vọng, khó khăn của nhân viên trong công ty. Vậy đứng đầu bộ phận này là ai? Công việc cụ thể của từng vị trí phòng hành chính nhân sự như thế nào?

Sơ đồ tổ chức phòng hành chính nhân sự

Phòng hành chính nhân sự nhìn chung gồm hai cấp là cấp quản lý và nhân viên. Chính vì vậy, về cơ bản sơ đồ tổ chức phòng hành chính nhân sự sẽ như sau:

Mỗi vị trí này lại chịu trách nhiệm thực hiện công việc, nhiệm vụ khác nhau, nhưng nhìn chung bộ phận hành hành chính nhân sự có các chức năng chính trong công tác tuyển dụng và đảm bảo quyền lợi của nhân viên trong công ty.

tìm việc hành chính nhân sự tại Hà Nội hay bất cứ đâu thì đây cũng là những vị trí mà bạn có thể tham khảo để lựa chọn công việc thích hợp nhất với khả năng, nhu cầu và ứng tuyển ngay.

Việc làm Hành chính – Văn phòng

2. Chức năng của bộ máy hành chính nhân sự

Mỗi doanh nghiệp khác nhau, tổ chức phòng hành chính nhân sự chi tiết sẽ khác nhau. Nhìn chung, phòng hành chính nhân sự sẽ thực hiện 6 chức năng chính, quan trọng sau:

2.1. Tuyển dụng đúng người đúng vị trí, đúng công việc

Quá trình tuyển dụng là quá trình tuyển chọn khắt khe với những kế hoạch chi tiết trong việc tuyển chọn lao động, nhân sự cho doanh nghiệp đó. Đồng thời, họ cũng là những người quản lý và giám sát trực tuyến để có thể chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc tạo và đảm bảo các kế hoạch nhân sự. Hiểu một cách đơn giản nhất, phòng hành chính nhân sự chịu trách nhiệm tuyển chọn nhân tài cho doanh nghiệp.

Tuyển dụng bao gồm đăng tin tuyển dụng, sàng lọc ứng viên thông qua các buổi phỏng vấn sơ bộ đến phỏng vấn chi tiết, trực tiếp để cuối cùng hỗ trợ nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định tuyển dụng. Cuối cùng là thực hiện các bài kiểm tra nhân viên mới. Nhiều khi, bộ phận nhân sự cũng xử lý các đơn xin việc, đơn xin chuyển công tác, tiến hành kiểm tra lý lịch, gọi điện phỏng vấn từ xa, …

2.2. Đảm bảo môi trường làm việc cho nhân viên

An toàn nơi làm việc làm yếu tố quan trọng, theo luật lao động quy định người sử dụng lao động có nghĩa vụ cung cấp môi trường làm việc an toàn cho người lao động. Một trong những nhiệm vụ chính của bộ phận hành chính nhân sự đó là đảm bảo an toàn nơi làm việc và duy trì các quyền lợi cơ bản của người lao động.

2.3. Đảm bảo lợi ích cho nhân viên trong công ty

Một chức năng thiết yếu của phòng nhân sự là điều hành chiến lược bồi thường và lợi ích của công ty. Chiến lược lương thưởng định vị công ty như một đối thủ cạnh tranh trong thị trường lao động, cho phép một tổ chức thu hút một số ứng viên có trình độ tốt nhất để mở công việc.

Giống như quan hệ nhân viên và lao động, các chức năng bồi thường và lợi ích của HR thường có thể được xử lý bởi một chuyên gia nhân sự có chuyên môn kép. Về mặt bồi thường, các chức năng nhân sự bao gồm thiết lập các cấu trúc bồi thường và đánh giá các hoạt động trả lương cạnh tranh. Một chuyên gia comp và lợi ích cũng có thể thương lượng tỷ lệ bảo hiểm y tế nhóm với các công ty bảo hiểm và phối hợp các hoạt động với quản trị viên quỹ tiết kiệm hưu trí. Biên chế có thể là một thành phần của phần bồi thường và lợi ích của HR; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người sử dụng lao động thuê ngoài các chức năng hành chính như bảng lương.

2.4. Đảm bảo các nguyên tắc và quyền lợi giữa nhân viên và “ông chủ”

Đảm bảo các nguyên tắc và quyền lợi giữ nhân viên và ông chủ của họ bao gồm các hoạt động như khen thưởng, xác định các vấn đề bất cập nơi làm việc, điều tra các khiếu nại của nhân viên, đảm bảo tuân thủ luật pháp và những quy định chung.

2.5. Tuân thủ luật lao động

Tuân thủ luật lao động và việc làm là một chức năng nhân sự quan trọng. Sự không tuân thủ có thể dẫn đến khiếu nại tại nơi làm việc dựa trên thực tiễn việc làm không công bằng, điều kiện làm việc không an toàn và sự không hài lòng chung với điều kiện làm việc có thể ảnh hưởng đến năng suất và cuối cùng là lợi nhuận.

2.6. Đào tạo và phát triển nhân lực

Bộ phận hành chính nhân sự sẽ hỗ trợ tích cực trong việc cung cấp các công cụ hỗ trợ quá trình làm việc để đem lại hiệu quả công việc và sự thành công cho họ. Trong nhiều trường hợp nhân viên mới được đào tạo và định hướng sâu rộng công việc cụ thể để phù hợp với văn hóa, yêu cầu công việc mới.

Đào tạo nhân sự và trách nhiệm định hướng nhân viên mới là một công việc quan trọng của bộ phận hành chính nhân sự. Chuẩn bị các hoạt động cho người lao động mới được tuyển dụng là một bước thiết yếu để HR thiết lập mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và nhân viên, cũng như giúp hình thành mối quan hệ đồng nghiệp giữa các đồng nghiệp. Trong nhiệm kỳ của nhân viên, bộ phận đào tạo và phát triển của HR phối hợp đào tạo kỹ năng và cơ hội phát triển nghề nghiệp để chuẩn bị cho nhân viên trách nhiệm bổ sung với công ty cũng như các chương trình khuyến mãi trong tương lai.

【#10】Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức

Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Nghị Định Về Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, – Chất Lượng Đội Ngũ Viên Chức, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Phiếu Đánh Giá Xếp Loại Chất Lượng Viên Chức Năm 2021, Phiếu Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Viên Chức Năm 2021, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Chức Vụ Lãnh Đạo Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng Viên, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Đánh Giá Chất Lượng Tổ Chức Đảng, Đảng Viên, Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên, Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên , Bản Nhận Xét Viên Chức (dùng Cho Thi Thăng Hạng Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Quyết Số 765-nq/qutw Về Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Huấn Luyện Viên, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Thống Nhất Về Chức Năng Giữa Màng Sinh Chất Chất , Tham Luận Về Chế Độ, Chính Sách Tại Hội Nghị Cán Bộ Công Chức, Viên Chức, Thông Tư Hướng Dẫn Chuyển Từ Viên Chức Sang Công Chức, Mẫu Phiếu Thu Thập Thông Tin Cơ Sở Dữ Liệu Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Mẫu Đơn Đề Nghị Xét Chuyển Viên Chức Thành Công Chức Cấp Huyện, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Công Chức Viên Chức, Nghị Định Về Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức, Đơn Xin Chuyển Từ Viên Chức Thành Công Chức Cấp Xã Thành Công Chức Cấp Huyện, Trình Tự Đánh Giá Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Phần Mềm Quản Lý Cán Bộ Công Chức, Viên Chức, Phần Mềm Quản Lý Hồ Sơ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Bản Đánh Giá Xếp Loại Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tu Nhan Xet Danh Gia Can Bo Cong Chuc Vien Chuc, Văn Bản Hướng Dẫn Đánh Giá Công Chức Viên Chức, Cách Xếp Loại Chất Lương To Chúc Dang, Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ, Hồ Sơ Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức, Đơn Xin Xét Tuyển Công Chức Viên Chức, Văn Bản Đánh Giá Công Chức Viên Chức, Mẫu Sơ Yếu Lý Lịch Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hồ Sơ Lý Lịch Công Chức, Viên Chức, Mẫu Đơn Xin Xét Tuyển Công Chức Viên Chức, Sổ Đăng Ký Hồ Sơ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tăng Cường Tính Chủ Động Và Chất Lượng Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Mẫu Hồ Sơ Công Chức Viên Chức, Nghị Quyết Hội Nghị Cán Bộ Công Chức Viên Chức Cơ Quan Ubnd Huyện, Báo Cáo Tổng Kết, Đánh Giá Thi Hành Luật Cán Bộ, Công Chức Và Luật Viên Chức, Tổng Kết, Đánh Giá Thi Hành Luật Cán Bộ, Công Chức; Luật Viên Chức, Báo Cáo Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức N, Báo Cáo Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức N, Nâng Cao Năng Lực Giáo Viên Trong Việc Tổ Chức Các Hpatj Động Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non Ph, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Báo Cáo Tổng Kết, Đánh Giá Luật Cán Bộ, Công Chức Và Luật Viên Chức, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Đơn Xin Nghỉ Không Lương Của Viên Chức, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luan Vai Tro Cua Dang Vien Trong Viec Nang Cao Chat Luong Cao, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Dự Thảo Bảng Lương Viên Chức 2021, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Tham Luạn Vai Trò Của Đảng Viên Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Nhân Lực Công Nghệ Thông Tin, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đoàn, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Quy Định Số Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Thủ Tục Thăng Hạng Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Mâuc Báo Cáo Công Tác Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Năm 2021, Bài Tham Luận Về Công Tác Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Đạo Đức Công Vụ Của Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tỉnh Quảng Ngãi Chuyển Công Chức Xã Thành Công Chức 2021, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Cao Công Tác, Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ Công Chức Và Luật Viên Chức,

Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Nghị Định Về Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, – Chất Lượng Đội Ngũ Viên Chức, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Phiếu Đánh Giá Xếp Loại Chất Lượng Viên Chức Năm 2021, Phiếu Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Viên Chức Năm 2021, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Chức Vụ Lãnh Đạo Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng Viên, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Đánh Giá Chất Lượng Tổ Chức Đảng, Đảng Viên, Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên, Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên , Bản Nhận Xét Viên Chức (dùng Cho Thi Thăng Hạng Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Quyết Số 765-nq/qutw Về Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Huấn Luyện Viên, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Sự Gắn Kết Công Việc Của Công Chức, Viên Chức Huyện, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Thống Nhất Về Chức Năng Giữa Màng Sinh Chất Chất , Tham Luận Về Chế Độ, Chính Sách Tại Hội Nghị Cán Bộ Công Chức, Viên Chức, Thông Tư Hướng Dẫn Chuyển Từ Viên Chức Sang Công Chức, Mẫu Phiếu Thu Thập Thông Tin Cơ Sở Dữ Liệu Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Mẫu Đơn Đề Nghị Xét Chuyển Viên Chức Thành Công Chức Cấp Huyện, Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Luật Công Chức Viên Chức, Nghị Định Về Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức, Đơn Xin Chuyển Từ Viên Chức Thành Công Chức Cấp Xã Thành Công Chức Cấp Huyện, Trình Tự Đánh Giá Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Phần Mềm Quản Lý Cán Bộ Công Chức, Viên Chức, Phần Mềm Quản Lý Hồ Sơ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Bản Đánh Giá Xếp Loại Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tu Nhan Xet Danh Gia Can Bo Cong Chuc Vien Chuc, Văn Bản Hướng Dẫn Đánh Giá Công Chức Viên Chức,