Tiểu Luận Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Lớn Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Who Là Tổ Chức Gì? Lịch Sử Hình Thành Và Vai Trò Của Tổ Chức Y Tế Thế Giới
  • Hệ Thống Quản Lý Quốc Gia Về Vắc Xin (Nra) Của Việt Nam Đã Đạt Tiêu Chuẩn Của Tổ Chức Y Tế Thế Giới
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Ngoại Giao
  • Vai Trò Của Mttq, Các Đoàn Thể Nhân Dân Và Tổ Chức Xã Hội Trong Quản Trị Địa Phương Hiện Nay
  • Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam I. Đặt vấn đề Cuộc sống bao gồm rất nhiều lĩnh vực vận động. Các lĩnh vực ấy đều cần có sự tác động của Nhà nước, sự tác động được thực hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực ấy có những quy luật vận động đặc thù, do vậy đòi hỏi Nhà nước một sự tác động đặc thù, phù hợp với từng đặc điểm của từng lĩnh vực. Sự hình thành các lĩnh vực khác nhau với những đặc trưng khác nhau của xã hội XHCN đã quy định những phương hướng hoạt động khác nhau của Nhà nước, mà mỗi phương hướng hoạt động nhằm vào thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đang được đặt ra bởi sự phát triển khách quan của đời sống trong từng lĩnh vực cụ thể. Đó có thể là lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, có thể là lĩnh vực thuộc đời sống trong nước hoặc thuộc quan hệ với quốc gia bên ngoài. Các phương hướng hoạt động cơ bản của Nhà nước được gọi là các chức năng Nhà nước. Nhà nước XHCN Việt Nam với bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các cơ sở văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu của toàn dân. Vì vậy Nhà nước CHXHCN Việt Nam không những đề ra mà cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục và khoa học, mà cần có đầy đủ điều kiện để thực hiện chức năng đó. Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp. II. Giải quyết vấn đề 1. Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần được đú kết, lưu truyền và tồn tại theo suốt chiều dài của lịch sử. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trên thế giới đều có bản sắc văn hoá riêng. Đất nước Việt Nam với hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua bao nhiêu khó khăn, ác liệt của các cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, chế độ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống, các công trình văn hoá có giá trị cao về kiến trúc, là minh chứng của lịch sử hàng nghìn năm tồn tại của dân tộc. Ngày nay, khi đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa, hội nhập cùng sự phát triển của thế giới, thì việc giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các nước bạn trên thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng được đặt ra. Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hoá mới, lối sống mới, con người mới thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội, đấu tranh chống những tư tưởng, văn hoá lạc hậu và thù địch. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này Nhà nước ta phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hoá. Cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hoá được xác định là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học kỹ thuật và cách mạng về văn hoá. Để thực hiện tốt công cuộc cách mạng văn hoá cần phải giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau: + Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hoá khoa học của nhân loại để xây dựng nền văn hoá hiện đại mang bản sắc Việt Nam. + Dùng nhiều hình thức và phương tiện, trong đó chú trọng vai trò của pháp luật để giáo dục, nâng cao trình độ văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng của nhân dân, trao dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật của nhân dân, ngăn chặn các văn hoá phẩm và hoạt động văn hoá nghệ thuật độc hại. Hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng đạo đức, bảo vệ nhân phẩm của người, chống những tư tưởng lạc hậu, lối sống thấp hèn, suy đồi đạo đức. + Khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hoá, vun đắp tài năng. Giữ gìn và nâng cao giá trị truyền thống, tôn tạo và bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá. Nhà nước cần có cơ chế thoả đáng và có cơ chế quản lý bằng pháp luật, các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng hành chính các đơn vị hoạt động văn hoá nghệ thuật, cũng như thương mại hoá đơn thuần trong lĩnh vực này. + Tăng cường hiện đại hoá và nâng cao chất lượng thông tin đại chúng để thoả mãn nhu cầu về thông tin và nâng cao sự hiểu biết của nhân dân. Để thực hiện tốt chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã xây dựng cho mình một bộ máy hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, xây dựng cơ sở vật chất: Nhà hát, rạp chiếu bóng, để phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân, tổ chức và quản lý các đoàn nghệ thuật để biểu diễn các hoạt động văn hoá, văn nghệ. Trong những năm gần đây, nhà nước ta cũng đã tiến hành làm nhiều công việc cụ thể để bảo vệ, cải tạo các di tích văn hoá lịch sử, tổ chức các hoạt động Festivanl nhằm giới thiệu những nét văn hoá đặc trưng của mỗi vùng nhằm giới thiệu bản sắc văn hoá tới các du khách. Tổ chức các tuần lễ văn hoá Việt Nam tại nước ngoài và các tuần lễ văn hoá nước ngoài tại Việt Nam nhằm giới thiệu nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam tới bạn bè các nước trên thế giới và thu nhận, tiếp thu có chọn lọc những nét văn hoá mới của nước bạn phù hợp với nền văn hoá Việt Nam để phát triển nhằm làm phong phú, đa dạng nền văn hoá trong thời kỳ hội nhập nhưng không làm mất đi bản sắc văn hoá dân tộc. Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, nhã nhạc cung đình Huế đã được tổ chức Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, Vịnh Hạ Long, Thánh địa Mỹ Sơn… là những di sản của thế giới…. 2. Về giáo dục và đào tạo Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhà nước phải có chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, nâng cao dân trí, phải xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, những nhà kinh doanh người quản lí giỏi, đội ngũ chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề cho trước mắt và lâu dài. Đại hội Đảng lần thứ VIII trên cơ sở đánh giá về công tác giáo dục và đào tạo những năm qua căn cứ vào tình hình hiện nay, dự kiến phát triển tiếp theo đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đồng thời Đại hội cũng đã xác định những nội dung cơ bản mà Nhà nước cần tiến hành trong những năm tới là coi trọng cả ba mặt: Mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu cực yếu kém trong giáo dục và đào tạo. Trong những năm qua cùng với việc chú trọng và phát triển nền kinh tế, Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm và chú trọng phát triển nền giáo dục trong nước. Xây dựng lại trường lớp khang trang, đầu tư vật chất, các thiết bị giảng dạy tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo từ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học, phổ thông cơ sở đến đại học. Khuyến khích mở các trường tư, các trường đại học ngoài công lập để tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người đều được đi học, thu hút tối đa nguồn lực của Xã hội để phát triển nền giáo dục. Phát triển hệ thống các trường đào tạo nghề để tạo ra nguồn lao động có tay nghề cao nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá của đất nước… Phát động các phong trào thi đua nhằm làm trong sạch nền giáo dục nước nhà…. 3. Về khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ còn là động lực đa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới trình độ tiên tiến của thế giới. Vì vậy, Nhà nước cần đặc biệt quan tâm, có chính sách đúng đắn và quản lý có hiệu quả bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định rõ vai trò của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, đề ra những phương hướng và biện pháp lớn để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong những năm tới, cụ thể là: Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường quan điểm, ý thức và phân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm, phải nhanh chóng khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học,… Đặc biệt là khoa học quản lý Nhà nước và quản lý kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xã hội trong những năm tới là nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học thế giới để triển khai thực hiện thắng lợi những phương hướng mới do đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra. Đối với khoa học tự nhiên và công nghệ cần đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy,… để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học, trong đó phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu đàn, kiện toàn tổ chức các tổ chức khoa học công nghệ, sắp xếp bố trí cán bộ một cách hợp lí theo hướng gắn khoa học công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn. Để phát triển khoa học và công nghệ, Nhà nước cần phải tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật, xây dựng tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó cần chú trọng tới chính sách ưu đãi nhân tài bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo lập thị trường cho các hoạt động và công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ. Xây dựng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút nhân tài, tránh tình trạng chảy máu chất xám. Có chính sách đối đãi đặc biệt với các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam. III. Kết luận Tổ chức và quản lí văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Thực hiện tốt chức năng sẽ là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước trong thời kì hội nhập hiện nay. Phát triển đất nước phải gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đào tạo được một lớp người mới có đủ đức đủ tài để có thể nắm bắt được những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới. Đó cũng chính là mục tiêu mà Nhà nước ta đang hướng tới. Tài liệu tham khảo 1. Nội dung cơ bản của môn LLNN và PL (Nhà Xuất bản GTVT) 2. Những vấn đề cơ bản của môn LL chung về NN và PL (NXB CAND) Tiến sĩ Mai Văn Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Nội Chính Tỉnh Ủy
  • Bổ Nhiệm Phó Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy Bạc Liêu
  • Gia Lai: Lập Đoàn Kiểm Tra Dấu Hiệu Vi Phạm Đối Với Trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Tổ Chức Tiếng Anh Là Gì
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tccs Đảng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Quân Đội Nhân Dân
  • Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam I. Đặt vấn đề Cuộc sống bao gồm rất nhiều lĩnh vực vận động. Các lĩnh vực ấy đều cần có sự tác động của Nhà nước, sự tác động được thực hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực ấy có những quy luật vận động đặc thù, do vậy đòi hỏi Nhà nước một sự tác động đặc thù, phù hợp với từng đặc điểm của từng lĩnh vực. Sự hình thành các lĩnh vực khác nhau với những đặc trưng khác nhau của xã hội XHCN đã quy định những phương hướng hoạt động khác nhau của Nhà nước, mà mỗi phương hướng hoạt động nhằm vào thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đang được đặt ra bởi sự phát triển khách quan của đời sống trong từng lĩnh vực cụ thể. Đó có thể là lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, có thể là lĩnh vực thuộc đời sống trong nước hoặc thuộc quan hệ với quốc gia bên ngoài. Các phương hướng hoạt động cơ bản của Nhà nước được gọi là các chức năng Nhà nước. Nhà nước XHCN Việt Nam với bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các cơ sở văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu của toàn dân. Vì vậy Nhà nước CHXHCN Việt Nam không những đề ra mà cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục và khoa học, mà cần có đầy đủ điều kiện để thực hiện chức năng đó. Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp. II. Giải quyết vấn đề 1. Chức năng tổ chức và quản lý văn hoá Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần được đú kết, lưu truyền và tồn tại theo suốt chiều dài của lịch sử. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trên thế giới đều có bản sắc văn hoá riêng. Đất nước Việt Nam với hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua bao nhiêu khó khăn, ác liệt của các cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, chế độ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống, các công trình văn hoá có giá trị cao về kiến trúc, là minh chứng của lịch sử hàng nghìn năm tồn tại của dân tộc. Ngày nay, khi đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa, hội nhập cùng sự phát triển của thế giới, thì việc giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các nước bạn trên thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng được đặt ra. Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hoá mới, lối sống mới, con người mới thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội, đấu tranh chống những tư tưởng, văn hoá lạc hậu và thù địch. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này Nhà nước ta phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hoá. Cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hoá được xác định là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học kỹ thuật và cách mạng về văn hoá. Để thực hiện tốt công cuộc cách mạng văn hoá cần phải giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau: + Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hoá khoa học của nhân loại để xây dựng nền văn hoá hiện đại mang bản sắc Việt Nam. + Dùng nhiều hình thức và phương tiện, trong đó chú trọng vai trò của pháp luật để giáo dục, nâng cao trình độ văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng của nhân dân, trao dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật của nhân dân, ngăn chặn các văn hoá phẩm và hoạt động văn hoá nghệ thuật độc hại. Hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng đạo đức, bảo vệ nhân phẩm của người, chống những tư tưởng lạc hậu, lối sống thấp hèn, suy đồi đạo đức. + Khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hoá, vun đắp tài năng. Giữ gìn và nâng cao giá trị truyền thống, tôn tạo và bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá. Nhà nước cần có cơ chế thoả đáng và có cơ chế quản lý bằng pháp luật, các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng hành chính các đơn vị hoạt động văn hoá nghệ thuật, cũng như thương mại hoá đơn thuần trong lĩnh vực này. + Tăng cường hiện đại hoá và nâng cao chất lượng thông tin đại chúng để thoả mãn nhu cầu về thông tin và nâng cao sự hiểu biết của nhân dân. Để thực hiện tốt chức năng tổ chức và quản lý văn hoá, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã xây dựng cho mình một bộ máy hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, xây dựng cơ sở vật chất: Nhà hát, rạp chiếu bóng, để phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân, tổ chức và quản lý các đoàn nghệ thuật để biểu diễn các hoạt động văn hoá, văn nghệ. Trong những năm gần đây, nhà nước ta cũng đã tiến hành làm nhiều công việc cụ thể để bảo vệ, cải tạo các di tích văn hoá lịch sử, tổ chức các hoạt động Festivanl nhằm giới thiệu những nét văn hoá đặc trưng của mỗi vùng nhằm giới thiệu bản sắc văn hoá tới các du khách. Tổ chức các tuần lễ văn hoá Việt Nam tại nước ngoài và các tuần lễ văn hoá nước ngoài tại Việt Nam nhằm giới thiệu nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam tới bạn bè các nước trên thế giới và thu nhận, tiếp thu có chọn lọc những nét văn hoá mới của nước bạn phù hợp với nền văn hoá Việt Nam để phát triển nhằm làm phong phú, đa dạng nền văn hoá trong thời kỳ hội nhập nhưng không làm mất đi bản sắc văn hoá dân tộc. Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, nhã nhạc cung đình Huế đã được tổ chức Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, Vịnh Hạ Long, Thánh địa Mỹ Sơn… là những di sản của thế giới…. 2. Về giáo dục và đào tạo Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhà nước phải có chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, nâng cao dân trí, phải xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, những nhà kinh doanh người quản lí giỏi, đội ngũ chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề cho trước mắt và lâu dài. Đại hội Đảng lần thứ VIII trên cơ sở đánh giá về công tác giáo dục và đào tạo những năm qua căn cứ vào tình hình hiện nay, dự kiến phát triển tiếp theo đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đồng thời Đại hội cũng đã xác định những nội dung cơ bản mà Nhà nước cần tiến hành trong những năm tới là coi trọng cả ba mặt: Mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu cực yếu kém trong giáo dục và đào tạo. Trong những năm qua cùng với việc chú trọng và phát triển nền kinh tế, Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm và chú trọng phát triển nền giáo dục trong nước. Xây dựng lại trường lớp khang trang, đầu tư vật chất, các thiết bị giảng dạy tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo từ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học, phổ thông cơ sở đến đại học. Khuyến khích mở các trường tư, các trường đại học ngoài công lập để tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người đều được đi học, thu hút tối đa nguồn lực của Xã hội để phát triển nền giáo dục. Phát triển hệ thống các trường đào tạo nghề để tạo ra nguồn lao động có tay nghề cao nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá của đất nước… Phát động các phong trào thi đua nhằm làm trong sạch nền giáo dục nước nhà…. 3. Về khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ còn là động lực đa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới trình độ tiên tiến của thế giới. Vì vậy, Nhà nước cần đặc biệt quan tâm, có chính sách đúng đắn và quản lý có hiệu quả bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định rõ vai trò của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, đề ra những phương hướng và biện pháp lớn để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong những năm tới, cụ thể là: Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường quan điểm, ý thức và phân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm, phải nhanh chóng khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học,… Đặc biệt là khoa học quản lý Nhà nước và quản lý kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xã hội trong những năm tới là nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học thế giới để triển khai thực hiện thắng lợi những phương hướng mới do đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra. Đối với khoa học tự nhiên và công nghệ cần đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy,… để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học, trong đó phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu đàn, kiện toàn tổ chức các tổ chức khoa học công nghệ, sắp xếp bố trí cán bộ một cách hợp lí theo hướng gắn khoa học công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn. Để phát triển khoa học và công nghệ, Nhà nước cần phải tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật, xây dựng tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó cần chú trọng tới chính sách ưu đãi nhân tài bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo lập thị trường cho các hoạt động và công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ. Xây dựng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút nhân tài, tránh tình trạng chảy máu chất xám. Có chính sách đối đãi đặc biệt với các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam. III. Kết luận Tổ chức và quản lí văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Thực hiện tốt chức năng sẽ là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước trong thời kì hội nhập hiện nay. Phát triển đất nước phải gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đào tạo được một lớp người mới có đủ đức đủ tài để có thể nắm bắt được những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới. Đó cũng chính là mục tiêu mà Nhà nước ta đang hướng tới. Tài liệu tham khảo 1. Nội dung cơ bản của môn LLNN và PL (Nhà Xuất bản GTVT) 2. Những vấn đề cơ bản của môn LL chung về NN và PL (NXB CAND) Tiến sĩ Mai Văn Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty
  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Văn Hóa, Giáo Dục Của Nhà Nước Việt Nam Giai Đoạn Hội Nhập Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 3: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Dân, Do Dân, Vì Dân
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tổ Chức Bộ Máy Hệ Thống Chính Trị
  • Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

    Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

    Tóm tắt: Chức năng quản lý văn hóa, giáo dục là chức năng rất quan trọng, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hầu hết các hoạt động của Nhà nước Việt Nam và nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa, xã hội. Mặt khác, văn hóa, giáo dục luôn là lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp, vì vậy, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế luôn cần phải có sự xem xét để điều chỉnh kịp thời.

    Abstract: Cultural, educational management function is a very important function which directly affects and impacts on most of the activities of the Vietnamese State and different fields of the life, culture and society. On the other hand, the culture, education have been always sensitive and complicated fields. Therefore, the form and method of implementation of management function of culture, education in the phase of international integration, should always be reviewed for timely adjustment.

    Trong giai đoạn bùng nổ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, dưới tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của các nền văn hóa, giáo dục đến từ các quốc gia khác nhau, chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Việt Nam đang gặp những khó khăn, thách thức. Để quản lý nền văn hóa, giáo dục của Việt Nam phù hợp và thích ứng với các biến động của xu thế hội nhập, đòi hỏi chức năng quản lý văn hóa, giáo dục phải đổi mới về hình thức và cả phương pháp thực hiện. Tuy nhiên, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay như thế nào, hiệu quả mang lại trên thực tế ra sao là những vấn đề rất cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu. Trên cơ sở này, tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

    1. Các hình thức chủ yếu thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

    Hình thức thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế bao gồm hai nội dung chính đó là: Hình thức mang tính pháp lý và hình thức không mang tính pháp lý.

    Thứ nhất, Nhà nước xây dựng chính sách pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

    Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục là hoạt động tổ chức mang tính bắt buộc của Nhà nước. Bên cạnh Nhà nước là người trực tiếp thực hiện, còn có sự trợ giúp của cả xã hội nhằm đưa các quy phạm pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục vào thực tiễn đời sống xã hội. Các công việc chủ yếu của nội dung hoạt động tổ chức này gồm: Tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục; tạo mọi điều kiện cần thiết để thi hành chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục. – Công tác xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục cũng đang được tiến hành khẩn trương, liên tục. Trên thực tế, đã phát hiện nhiều vi phạm như hành vi ăn cắp bản quyền tác giả trong nhiều lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh, nghệ thuật… Về cơ bản, chúng ta đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và áp dụng những chế tài xử lý thích đáng nhằm xử lý những hành vi này. Mặc dù vậy, trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật vẫn có xu hướng gia tăng.

    Bên cạnh việc áp dụng chính thức các hình thức pháp lý thì Nhà nước cũng luôn tiến hành song song các hình thức không mang tính pháp lý khác. Các hình thức không mang tính pháp lý này bao gồm tổ chức hội thảo khoa học về văn hóa, giáo dục; hội nghị thi đua ngành văn hóa, giáo dục; hội nghị triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục; hay hội nghị tổng kết hoạt động các phong trào văn hóa, giáo dục… Nhìn chung, các hình thức này rất cần thiết để có thể nhanh chóng đưa các chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục vào đời sống và cũng có thể thông qua những buổi hội thảo hay phong trào này, từ đó, rút ra những sáng kiến kinh nghiệm quý giá, để có thể hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục.

    2. Các phương pháp chung thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

    Các chức năng của Nhà nước được thực hiện thông qua các phương pháp hoạt động nhất định của bộ máy nhà nước…

    Một trong những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài về phát triển văn hóa, giáo dục chính là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”. Nguyễn Vinh Hưng (2011), Chức năng văn hóa – giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 28.

    . Nguyễn Văn Động (2010), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 44.

    . Nguyễn Vinh Hưng (2011), Chức năng văn hóa – giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, sđd, tr. 32 – 33.

    [6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Hà Nội, tr. 21 – 22.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì? Hệ Thống Cơ Quan Hành Pháp Của Việt Nam
  • Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện
  • Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013
  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Hành Pháp
  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty
  • Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

    Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

    giai đoạn cách mạng mới, trong đó xây phát triển nền kinh tế thị trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính
  • #1 Chức Năng Bảo Vệ Tổ Quốc Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình: Đại Cương Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Câu Hỏi Ôn Tập Pháp Luật Đại Cương
  • Giao An Phap Luat Dai Cuong
  • Vấn Đề Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam Xhcn
  • Dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay, trải qua các thời kỳ phát triển, qua các kiểu nhà nước khác nhau, chức năng nhà nước đã có sự phát triển ngày càng hoàn thiện hơn, tối ưu hơn. Trong đó, chức năng bảo vệ Tổ quốc là một trong những chức năng quan trọng nhất. Trải qua chiều dài của lịch sử, chức năng này được nhà nước Việt Nam thực hiện hiệu quả một cách rất sâu sắc, từ đó trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Và trong phạm vi bài tiểu luận này, Tổng đài NQH chúng tôi sẽ trình bày một số quan điểm về vấn đề trên thông qua việc nghiên cứu đề tài: “Chức năng bảo vệ Tổ quốc của nhà nước Việt Nam hiện nay”.

      Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, 2022.

    Cơ sở lý luận của vấn đề chức năng bảo vệ Tổ quốc của nhà nước

    Định nghĩa nhà nước và định nghĩa chức năng nhà nước

    Định nghĩa nhà nước:

    Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.

    Định nghĩa chức năng nhà nước:

    Chức năng nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nước, phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó.

    Về chức năng bảo vệ Tổ quốc:

    Chức năng bảo vệ Tổ quốc là một trong những chức năng cơ bản quan trọng nhất của nhà nước và là chức năng của mọi nhà nước. Đó là những phương diện hoạt động của nhà nước nhằm mục đích chống lại các thế lực thù địch bên ngoài, nhữn âm mưu chống phá từ bên trong, nhằm giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Trước đây, nhiều nhà nước thường phát động chiến tranh xâm lược nước khác. Ngày nay, nhiều nhà nước vẫn tìm cách áp đặt ý chí của mình đối với nước khác. Trong điều kiện đó, các nhà nước phải thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ đất nước, chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược cũng như các ảnh hưởng tiêu cực khác từ bên ngoài.

    Chức năng bảo vệ Tổ quốc của Nhà nước Việt Nam hiện nay

    Nguyên nhân bảo vệ Tổ quốc là một trong những chức năng cơ bản nhất của nhà nước Việt Nam hiện nay và được chú trọng:

    Trong bất kỳ nhà nước, bất kỳ quốc gia nào, bảo vệ Tổ quốc là chức năng rất quan trọng. Đặc biệt với nhà nước Việt Nam nói riêng thì bảo vệ Tổ quốc lại càng có vai trò cấp thiết và luôn được đặt lên hàng đầu. Theo em nguyên nhân của vấn đề này như sau:

    • Tổ quốc là nhân tố then chốt quyết định sự tồn tại của bất kỳ một nhà nước hay quốc gia nào. Đó là một điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là “nguyên khí” của một quốc gia. Bảo vệ Tổ quốc là căn cứ tiên quyết để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập tự do của một dân tộc, từ đó tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của đất nước.
    • Chỉ khi bảo vệ được Tổ quốc mới có điều kiện để phát triển toàn diện đất nước. Nhìn vào minh chứng của lịch sử chúng ta có thể nhận thấy rõ, trong thời kỳ đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp(1945-1954) và chống Mỹ (1954-1975) đầy cam go và ác liệt, nền kinh tế của đất nước chững lại, trì trệ, xã hội chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn gian khổ. Tuy nhiên, đến năm 1975, khi chúng ta quét sạch quân thù, nước nhà hoàn toàn độc lập, bảo vệ vững chắc tự do của Tổ quốc, nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách phát triển làm cho Việt Nam dần dần khôi phục sau chiến tranh và đạt được những bước nhảy vọt cả về kinh tế và xã hội.
    • Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ cần thiết phải thực hiện mà nó còn là một truyền thống quý báu của đất nước Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam ta luôn sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc. Bất kể khi nào có quân xâm lược, dù là nhà nước Âu Lạc phải chống lại nhà Tần hùng mạnh, hay nhà Trần ba lần chống lại quân Mông Nguyên – đội quân mạnh nhất vào thời bấy giờ, hay một đất nước Việt Nam nhỏ bé phải chiến đâu chống lại Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ – hai tên đầu xỏ của thế giới thế kỷ XX. Dù ở triều đại nào, dù trong hoàn cảnh nào, tinh thần bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta mỗi khi có quân xâm lược đều mạnh mẽ như làn sóng lớn, đẩy lùi mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù. Vì lẽ đó, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là việc làm bắt buộc, mà còn là sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
      Việt Nam tuy là một nước nhỏ bé những lại có rất nhiều tài nguyên và lợi thế để phát triển: đường bờ biển dài 3260km cong hình chữ S, vùng biển rộng với nhiều nguồn lợi biển quý giá, có nhiều loại khoáng sản mà đặc biệt là than đá,…. Mặt khác, Việt Nam lại nằm gần những cường quốc lớn, đặc biệt là Trung Quốc nên luôn phải chịu sự xăm xoi nhòm ngó của nước ngoài. Trong điều kiện hoàn cảnh ngày nay, tình hình chính trị quân sự của khu vực ngày càng trở nên căng thẳng và nóng bỏng, đặc biệt là việc Trung Quốc đặt trái phép dàn khoan Hải Dương HD981 vào vùng biển Việt Nam 1/5/2014. Từ đó càng đặt ra yêu cầu nhà nước ta phải chú trọng bảo vệ Tổ quốc và coi đó là nhiệm vụ hàng đầu.

    Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện tốt chức năng bảo vệ Tổ quốc

    Trong điều kiện hoàn cảnh ngày nay, bảo vệ Tổ quốc là một công việc không hề dễ dàng. Vì vậy,để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, Đảng và nhà nước ta phải nhạy bén nắm bắt chính xác tình hình để từ đó đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp.

    Thứ nhất, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu,thường xuyên” của Đảng, nhà nước và nhân dân ta. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, tạo cơ sở quan trọng cho Đảng, nhà nước, cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân ta xác định và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện tốt điều đó, về nguồn nhân lực, lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành hơn về kiến thức cũng như kĩ năng. Nhiều trung tâm đào tạo, các trường đại học, cao đẳng và trung cấp hệ quân đội và công an như: Học viện Kĩ thuật quân sự, Học viện quân y, Trường Sĩ quan chính trị, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân,… được thành lập và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để cho ra trường những con người có trình độ, có năng lực bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra còn cử những người ưu tú ra nước ngoài để học tập quân sự sau đó trở về phụng sự Tổ quốc. Về nguồn vật lực, không ngừng đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị, áp dụng khoa học – kĩ thuật và kinh nghiệm của nước ngoài trong việc nâng cao chất lượng trang thiết bị quân sự. Ngoài những trang thiết bị hiện có, chúng ta đã mạnh tay đầu tư mua về nhiều trang thiết bị hiện đại như tàu chiến P28 của Ấn Độ, radar trinh sát EL/M-2288ER, UAV trinh sát Orbiter 2, tên lửa phòng không thế hệ mới SPYDER của Israel, … Từ đó ngày càng hoàn thiện và nâng cao sức mạnh hệ thống quân sự, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Thứ hai, phát triển nền kinh tế tạo sức mạnh và tiềm lực để từ đó bảo vệ Tổ quốc: Thực tế sức mạnh của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào tiềm lực kinh tế của quốc gia đó. Sức mạnh kinh tế tạo nên vị thế của một đất nước. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển vì thế mà có thể gây sức ép về mọi mặt lên những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn mình. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng ta đã có những định hướng đúng đắn nhằm mục đích phát triển kinh tế đất nước. Từ đó,Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 của Việt Nam đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, năm 2022 đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD. Kim ngạch xuất khẩu thường xuyên tăng với tốc độ hai con số, giai đoạn 2011-2015 tăng đến 18%/năm. Cho đến nay đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Việt Nam đã ký kết 10 Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương (gồm sáu FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN; bốn FTA đàm phán với tư cách là một bên độc lập); vừa hoàn tất đàm phán hai FTA (Liên minh châu Âu và TPP); đang tích cực đàm phán ba FTA khác (ASEAN-Hong Kong; EFTA; RCEP). Những thành tựu quan trọng bước đầu này không chỉ góp phần đưa nền kinh tế phát triển vững mạnh, tạo vị thế của đất nước trên trường quốc tế mà còn tạo cơ sở quan trọng để chúng ta có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Thứ tư, củng cố Đảng, kiện toàn bộ máy nhà nước cũng là một trong những phương hướng quan trọng. Muốn ổn định đất nước, bảo vệ Tổ quốc vững chắc thì cần có sự lãnh đạo sáng suốt, đoàn kết, nhất quán của một tập thể đứng đầu, biểu hiện cho ý chí của nhân dân. Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo tối cao của Đảng. Mặt khác, trong hoàn cảnh hiện tại, nhiều thế lực thù địch luôn có âm mưu thâm nhập, chia rẽ Đảng ta từ bên trong thì củng cố Đảng là hết sức quan trọng.

    Thứ năm, hoàn thiện hệ thống pháp lý để ngày càng chặt chẽ, khoa học hơn nữa. Hiện nay, xu thế chung của thế giới là hòa bình, giải quyết các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp đàm phán. Vì vậy, vai trò của luật pháp trở nên vô cùng quan trọng. Hệ thống luật pháp của Việt Nam hiện nay so với nhiều quốc gia trên thế giới nhìn chung còn nhiều hạn chế. Do đó, trong bối cảnh nhạy cảm của tình hình thế giới rất cần thiết chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp lý, từ đó tạo căn cứ vững chắc để bảo vệ Tổ quốc. Điều 1 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập,có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.” Trong Hiến pháp 2013 đã dành hẳn một chương – chương IV: Bảo vệ Tổ quốc. Nhiều bộ luật như luật Nghĩa vụ quân sự, luật Hình sự , luật An ninh quốc gia cũng góp phần tạo tiền đề pháp lý để thực hiện chức năng bảo vệ Tổ quốc.

    Thứ sáu , củng cố ý chí của công dân, tăng cường tình đoàn kết dân tộc: Đảng ta đã thực hiện nhiều hành động tuyên truyền nhằm giáo dục, định hướng nhận thức, hành vi cho công dân của đất nước, củng cố tinh thần yêu nước, ý chí bảo vệ Tổ quốc đồng thời đề cao tinh thần đoàn kết dân tộc. Điều 44 Hiến pháp 2013 quy định; “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.” Điều 64 Hiến pháp 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp toàn dân.” Bời vì nhân dân là nguyên khí của một quốc gia, nên chỉ khi nhân dân đồng lòng yêu nước thì mới có thể đưa sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đi đến thắng lợi.

    Thứ bảy, có kế sách phòng,chống các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm,từ xa; chủ động phòng ngừa, khắc phục các yếu tố tác động tiêu cực đến sự nghiệp củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh,bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là kinh nghiệm quý, một phương thức giữ nước đặc sắc của dân tộc, được Đảng ta kế thừa và phát huy, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo đó, quốc phòng an ninh phải có đủ sức mạnh để ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến, để đất nước không bị động, bị bất ngờ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho bạn bè quốc tế trong việc hợp tác với Việt Nam.

    Kết quả đạt được trong việc thực hiện chức năng bảo vệ Tổ quốc của nhà nước Việt Nam

    Trải qua quá trình lâu dài và kiên trì thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, kết quả đạt được của nhà nước Việt Nam cũng có những mặt tích cực cần được biểu dương, phát huy và những mặt tiêu cực cần rút kinh nghiệm. Dựa vào quan điểm của mình, em xin được trình bày như sau:

    Thứ nhất về những kết quả mang ý nghĩa tích cực:

    • Ngăn chặn âm mưu chia rẽ, xâm lược các thế lực thù địch từ bên ngoài: Ví dụ như trước sự kiện Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương HD981 vào vùng biển Việt Nam, các lãnh đạo nước ta đã tỏ rõ lập trường không khoan nhượng nhằm ngăn chặn âm mưu của Trung Quốc. Ngày 22/5/2014,trả lời báo chí quốc tế tại Philippines về tình hình Biển Đông, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ,chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. Ngày 18/6/2014, trong cuộc gặp Ủy viên thường vụ Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quan điểm về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi”. Tóm lại, đối với những âm mưu và hành động chống phá, nhà nước Việt Nam luôn giữ lập trường cứng rắn để bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng khỏi mọi sự xâm phạm.

    Ngoài ra, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, nhà nước ta không thể tránh khỏi những hạn chế và thách thức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện diễn biến tình hình chính trị của khu vực và thế giới ngày càng trở nên nhạy cảm và căng thẳng, cùng với sự xuất hiện của nhiều tổ chức phản động cũng như việc chúng tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc thực hiện những âm mưu ngày càng phức tạp, tinh vi nhằm chống phá nhà nước. Ngoài ra còn một số hành động xâm phạm chủ quyền Tổ quốc mà nhà nước ta đến nay vẫn chưa đấu tranh được như việc Trung Quốc chiếm giữ một số đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hay việc Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan vào vùng biển Việt Nam.

    Một số đề xuất trong việc thực hiện chức năng bảo vệ Tổ quốc của nhà nước Việt Nam

    • Luôn luôn giữ vững lập trường kiên định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
    • Đẩy mạnh phát triển kinh tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc bảo vệ Tổ quốc.
    • Thực hiện các biện pháp bảo vệ Tổ quốc trên nhiều mặt tự nhiên – lịch sử, chính trị – xã hội.
    • Hoàn thiện hệ thống pháp lý tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động bảo vệ Tổ quốc cho công dân,tăng cường củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc.
    • Đảm bảo sự nhất quán, đoàn kết trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Phân Quyền Trong Tổ Chức Và Hoạt Động Của Bộ Máy Nhà Nước Tư Sản
  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Tư Sản
  • Cải Cách Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Cấp Trung Ương Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
  • Bộ Máy Nhà Nước Chxhcn Việt Nam Gồm Mấy Cấp?
  • Lý Luận Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Thương Mại Dịch Vụ
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Không Bào Và Dịch Tế Bào
  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc
  • Nhân Và Không Bào Của Tế Bào Thực Vật
  • Nêu *gắn Gọn* Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Không Bào, Lizõôm, Màng Sinh Chất, Thành Tế Bào, Chất Nền Ngoại Bào Câu Hỏi 1288074
  • a nhà nước co thể xác định được: – Nhà nước làm gì (nội dung hoạt động) – Nhà nước làm như thế nào (phương thức hoạt động) 1. Nhà nước điều chỉnh hoạt động kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô khác Chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vạch rõ phạm vi hoạt động của Nhà nước là ở tầm tổng thể các hành vi của các chủ thể kinh tế. Điều này quy định việc nhà nước phải sử dụng pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô khác là những loại công cụ có khả năng định hướng, kiểm soát, điều chỉnh, phối hợp các hành vi ấy sao cho chúng diễn ra trong vòng trật tự, đảm bảo vững chắc cho tự do kinh doanh nhằm hướng tới các mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững. a/ Nhà nước ban hành và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô Trước hết ta phải nắm được chính sách kinh tế vĩ mô là gì? Chính sách kinh tế vĩ mô la chính sách của Nhà nước tác động lên tổng thể nền kinh tế quốc dân nhằm đạt tới các mục tiêu tăng trưởng bền vững của đất nước. Nhìn chung, nội dung chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể được xem xét cụ thể ở một số chính sách cơ bản sau: – Chính sách đối với các thành phần kinh tế. Nếu trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, thành phần kinh tế XHCN chiếm vị trí độc tôn, các thành phần kinh tế khac bị hạn chế và phải cải tạo XHCN thì trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Điều 16 Hiến pháp năm 1992 – sửa đổi năm 2001). Tất cả các thành phần kinh tế ấy dù là khác nhau về lợi ích trực tiếp nhưng đều được coi là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Như vậy, chính sách kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước nhằm đạt được 2 mục tiêu là phát huy tiềm năng to lớn của xã hội, xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và định hướng XHCN cho quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Chính sách đối với các thành phần kinh tế được coi là chính sách cốt lõi trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, nó có ý nghĩa chi phối toàn bộ hoạt động xã hội khác ở Việt Nam và là điểm nút của mọi khởi động. – Chính sách tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua chính sách này, Nhà nước xác định mục đích phát triển kinh tế – xã hội của đất nước là “làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân” (Điều 16 Hiến pháp năm 1992). – Chính sách thu hút vốn đầu tư. Vốn là yếu tố vật chất quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì vậy Nhà nước phải chú trọng thực hiện hang loạt các biện pháp pháp lí và tổ chức thực tiễn để thu hút vốn đầu tư từ cả trong và ngoài nước. Nhà nước chủ trương phát triển nhanh và bền vững thị trường chứng khoán để tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội. Chính sách này đã tập trung động viên các nguồn tài chính với quy mô và tốc độ ngày càng cao cho phát triển kinh tế – xã hội. Khối lượng đầu tư trong các năm gần đây tăng nhanh, tỉ lệ đầu tư xã hội so với GDP đã tăng từ 15,5% năm 1991 lên 30,9% năm 1997, năm 1999 có giảm xuống nhưng vẫn đạt 28,4%. Nhà nước đa dạng hoá các hình thức huy động vốn gắn với chính sách phát triển các thành phần kinh tế, trong đó vốn trong nước là chủ yếu. Cùng với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, việc Nhà nước tổ chức và tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển các hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ tạo thuận lợi cho việc luân chuyển tự do và an toàn của các nguồn vốn trên thị trường, qua đó thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển. – Chính sách quản lí và sử dụng đất đai. Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân và sự quản lí thống nhất của Nhà nước với toàn bộ vốn đất đai, chính sách đặc thù của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là Nhà nước tôn trọng và thừa nhận các quyền của người sử dụng đất nhằm phát huy mọi tiềm năng đất đai, lao động, vốn để phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, giải quyết thoả đáng các vấn đề kinh tế – xã hội ở nông thôn. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai. Đến nay, chính sách đất đai của Nhà nước cũng đang tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện theo hướng giảm nhẹ các thủ tục hành chính có lien quan, đảm bảo sự an toàn và thuận lợi cho người sử dụng đất, đảm bảo sự quản lí của Nhà nước về mục đích sử dụng đất cũng nhue quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai với các chính sách khác của Nhà nước. – Chính sách hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực. Đây là một trong những chính sách lớn và có giá trị vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước phù hợp với xu thế tất yếu có tính thời đại của nền kinh tế quốc dân. Tại Đại hội IX, Đảng tiếp tục khẳng định chính sách của Việt Nam là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.Trên cở sở đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế của Đảng, chính sách hội nhập thể hiện các quan điểm phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái… Nội dung chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường còn được thể hiện ở hang loạt các chính sách như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng thuế, chính sách quản lí vĩ mô về giá cả… Phương thức ban hành và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước cần phải tuân theo những yêu cầu như sau: – Nhà nước vạch rõ và kiên định những chủ trương lớn căn cứ trên các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. – Nhà nước xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển, các định hướng phát triển cho các ngành, vùng, các lĩnh vực kinh tế của đất nước. – Chính sách kinh tê vĩ mô phải được dựa trên nền tảng luật pháp vững chắc, nghĩa là hệ thống pháp luật thể hiện được “linh hồn” của chính sách nhưng cũng đảm bảo tính khả thi và hiệu qủa cho các chính sách. b/Nhà nước kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân Bản chất của quan hệ kinh tế quyết định nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước trong kế hoạch hoá của Nhà nước có tính đặc thù thích ứng với yêu cầu của các mô hình kinh tế đó. Nội dung hoạt động kế hoạch háo nền kinh tế quốc dân của Nhà nước là sự cụ thể hoá những quyết định chiến lược, đảm bảo thực hiện hoá mục tiêu đề ra trong chính sách của Nhà nước.Trên cơ sở phân tích và dự báo về thị trường một cách khoa học, Nhà nước cụ thể hoá nôij dung của các mục tiêu chiến lược theo các bước đi, với những biện pháp thích hợp. Kế hoạch kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm phối hợp các hành vi của các chủ thể kinh tế, tác động đến quyết định cụ thể trong hoạt động kinh doanh của họ. Kế hoạch của Nhà nước nhằm phối hợp các hành vi của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo sức cạnh tranh chung của nền kinh tế quốc dân trên thương trường quốc tế…Vì vậy, kế hoạch vĩ mô của Nhà nước được coi là công cụ cơ bản để định hướng phát triển nền kinh tế quốc dân, bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước. Những năm qua, theo quá trình phát chuyển đổi chức năng kinh tế của Nhà nước, công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam cũng đổi mới theo những nội dung thích hợp. Cụ thể là Nhà nước thực hiện việc giảm mạnh mẽ hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, tạo điều kiện chủ động sản xuất kinh doanh cho các thành phần kinh tế. Đặc biệt, việc tổ chức điều hành kế hoạch được thay đổi sang phương thức mới như thong tin hướng dẫn thay vì giao sổ kiểm tra như trước đây, điều hành kế hoạch trong tổng thể hệ thống công cụ gồm chính sách, pháp luật, kế hoạch, sử dụng hệ thống tính toán kế hoạch theo thong lệ quốc tế. Nhà nước cũng đã chuyển trọng tâm của công tác kế hoạch sang xây dựng và thựuc thi kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân đồng thời tổ chức laij cơ quan kế hoạch các cấp. Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam còn đề ra các kế hoạch hang năm, kế hoạch 5 năm, hoặc những kế hoạch được thể hiện dưới nhiều hình thức như chương trình mục tiêu, quy hoạch, dự án…để tập trung giải quyết nhiều vấn đè bức xúc kinh tế, xã hội đất nước trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhất là vấn đề việc làm cho người lao động. Phương thức hoạt động kế hoạch háo của Nhà nước là tổng hợp các hình thức phương pháp hoat động kế hoạch hoá cũng như phạm vi, mức độ sử dụng kế hoạch. Nếu như với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kế hoạch của Nhà nước là kế hoạch với hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết và chặt chẽ và là công cụ tuyệt đối vừa điều chỉnh kinh tế vi mô vừa điều chỉnh vĩ mô, thì với nền kinh tế thị trường, kế hoạch có tính chất khác hẳn. Nền kinh tế thị trường không loại bỏ kế hoạch, mà chỉ chuyển đổi từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch định hướng, lúc này kế hoạch không còn tác động trực tiếp đến các chủ thể kinh tế và chính các chủ thể kinh tế cũng có kế hoạch, chương trình hành động riêng của họ. Hoạt động kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân của Nhà nước có những mặt mạnh là tập trung được các nguồn lực cho các mục tiêu phát triển, bảo đảm giữ được mục tiêu tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội một cách chủ động. Tuy nhiên, cần phải thấy công cụ kế hoạch có hạn chế là khó có thể bao quát được hết các nhu cầu đa dạng của thị trường mà các nhu cầu này lại luôn luôn biến động. c/Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Tài chính tiền tệ tín dụng là các phạm trù đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, để quản lý nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể không nắm trong tay và sử dụng có hiệu quả các công cụ đó. Tài chính là công cụ có chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và phân phối lại thu nhập quốc dân. Qua đó, Nhà nước tác động vào tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Nội dung chính sách tài chính quốc gia thể hiện ở các chính sách cơ bản như: Chính sách về vốn, chính sách tài chính với doanh nghiệp, chính sách ngân sách nhà nước, chính sách tài chính đối ngoại… Thuế là loại công cụ đặc biệt duy nhất chỉ có trong tay Nhà nước. Nhà nước không thể thưc hiện tốt chức năng kinh tế mà lại không chú trọng công cụ thuế vì thong qua thuế, Nhà nước tác động vào các lợi ích của các chủ thể kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ theo mục tiêu đã định. Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với cơ cấu kinh tế đa thành phần thì thuế không chỉ là nguồn thu quan trọng nhất cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ đảm bảo cho dự công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, ngày nay, thuế trở thành công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trong hàng đầu của Nhà nước. Tiền tệ, tín dụng cũng là những công cụ nhạy cảm trong nền kinh tế thị trường. Chính sách tiền tệ, tín dụng còn là bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính quốc gia. Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay hạn chế sự phát triển của các quan hệ kinh tế theo hướng nhất định. Thông qua loại công cụ này Nhà nước có thể kìm chế lạm phát khắc phục tính chu kỳ, tạo ra tính ổn định và sự phát triển bình thường cho nền kinh tế thị trường. Phương thức tác động này của Nhà nước trong cơ chế thị trường chỉ mang tính gián tiếp lên tất cả các chủ thể ở các thành phần kinh tế trên cơ sở vận dụng các quy luật của thị trường. d/Nhà nước quản lí kinh tế vĩ mô bằng pháp luật Vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường cho phép hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước được triển khai theo nội dung mới, đó là sự quản lí kinh tế vĩ mô bằng pháp luật. – Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới nhằm tạo cơ sở để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN – Pháp luật xác định cơ cấu chủ thể kinh tế thị trường và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới. – Pháp luật quy định cơ sở páhp lí cho sự tồn tại và phát triển của các loại thị trường. – Pháp luật quy đinhk chế độ quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường – Pháp luật quy định các điều kiện cạnh tranh nhằm trậ tự hoá thị trường. – Pháp luật bảo đảm sự an toàn nhằm khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường. – Pháp luật quy định cơ chế xử lí các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế Có thể nhận định rằng pháp luật vừa là công cụ quản lí quan trọng nhất của Nhà nước vừa là hành lang an toàn cho sự vận động của nền kinh tế thị trường 2. Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đối với kinh tế Nhà nước * Phạm vi, vai trò của kinh tế nhà nước Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, ở các nước XHCN , các xí nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng và số lượng lớn với phạm vi bao trùm lên hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dâ. Việt Nam trong thời kỳ “cực thịnh” của kinh tế nhà nước cũng đã có hàng chục nghìn xí nghiệp quốc doanh. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước cho phù hợp với các quy luật của nền kinh tế nhiều thành phần. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường tồn tại một cách khách quan sự phân công, phối hợp vai trò giữa các thành phần kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Nội dung quản lý nhà nước với kinh tế nhà nước có thể được xác định khái quát trên mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước được thể trên hai phương diện cơ bản sau: Thứ nhất, với tu cách là người quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm tất cả các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà nước thực hiện sự quản lý với chủ thể kinh tế nhà nước theo chuẩn mực pháp luật chung về hoạt động kinh tế còn chủ thể kinh tế nhà nước hoạt động độc lập với Nhà nước, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như mọi chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự chủ về tài chính, quyền chủ động trong các hoạt động của chủ thể kinh tế nhà nước còn chủ thể kinh tế nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, ở khía cạnh này, quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước cũng giống như quan hệ giữa Nhà nước với các loại chủ thể khác thuộc mọi thành phần kinh tế. Thứ hai, với tư cách là người đại diện cho sở hữu toàn dân thông qua hoạt động của chủ thể đầu tư vốn nhà nước thì vốn đó được chuyển giao cho các chủ thể kinh tế nhà nước nhưng tài sản của chủ thể kinh tế nhà nước lại được tách bạch khỏi khối tài sản của Nhà nước và thuộc quyền kinh doanh của các chủ thể đó. Nhà nước thành lập chủ thể kinh tế nhà nước nhưng chúng lại có tư cách chủ thế, độc lập về tài sản, hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn và làm tăng giá trị tài sản của Nhà nước. Tài sản của chủ thể kinh tế nhà nước thuộc đối tượng sở hữu nhà nước nhưng người sử dụng (kinh doanh, khai thác dịch vụ) tài sản ấy lại là chủ thể kinh tế hoạt động độc lập với Nhà nước. Khi xem xét mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước thì cần căn cứ vào tư cách pháp nhân của loại chủ thể này với tính cách là tổng hợp các dấu hiệu pháp lí thể hiện tập trung mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước đầu tư vốn cho các chủ thể kinh tế nhà nước (thông qua các chủ thể đầu tư) không phải là kiểu “ban cho” như cấp trên giao cho cấp dưới trong quan hệ hành chính mà là quan hệ kinh tế bình đẳng thông qua hợp đồng, trong đó xác định đầy đủ lợi ích, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên; Nhà nước không chịu trách nhiệm tài sản thay cho các chủ thể ấy dưới bất cứ hình thức nào. Trong nền kinh tế thị trường, thông qua quan hệ tài chính (đầu tư vốn), Nhà nước nắm được khâu then chốt, trọng yếu của nền kinh tế quốc dân qua đó đảm bảo tiềm lực kinh tế cho các chính sách và sự định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước; bảo đảm an ninh, quốc phòng và giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Khi xem xét mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước thì cũng có vấn đề đặt ra là phân biệt giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh cung ứng dịch vụ. Hoạt động quản lý của chủ thể kinh tế nhà nước là hoạt động quản lý trực tiếp (quản trị) gắn chặt với hoạt động tác nghiệp của các chủ thể ấy. Trong khi đó, hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước bao giờ cũng là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu tài sản thông qua hoạt động đầu tư vốn nhưng như thế cũng không có nghĩa cơ quan nhà nước là người đầu tư trực tiếp, kinh doanh trực tiếp kể cả trong lĩnh vực tài chính. Kinh nghiệm chuyển đổi chức năng kinh tế của nhà nước ở các nước cho thấy sự rõ ràng, rành mạch về quyền tài sản giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước cần được bảo đảm bằng thể chế quản lý tài sản nhà nước. Nội dung quản lý Nhà nước cũng cần có sự phân biệt với mỗi loại chủ thể kinh tế nhà nước như doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích; doanh nghiệp với các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá, khoa học, y tế, giáo dục, thông tin… Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành, hơn lúc nào hết kinh tế nhà nước phải là lực lượng có đủ sức mạnh để dẫn dắt kinh tế nhà nước phải là lực lượng có đủ sức mạnh để dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển. Vì thế không thể coi nhẹ mặt noà trong mục tiêu tổng hợp về kinh tế – xã hội trong hoạt động của kinh tế tế nhà nước. Nhà nước không thể chỉ theo đuổi các mục tiêu xã hội bằng hoạt động của doanh nghiệp công ích và các tổ chức sự nghiệp mà không chú trọng kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là tăng cường năng lực tài chính của Nhà nước để tập trung đầu tư cho loại hình doanh nghiệp, tổ chức kinh tế này vì đây là sứ mệnh đặc thù của Nhà nước mà không thành phần kinh tế nào có thể gánh vác thay được. Tuy vậy, Nhà nước cũng không thể lấy toàn bộ việc đầu tư vào các dịch vụ công cộng dẫn đến sự quá tải của Nhà nước mà hậu quả là không đảm bảo được các nhu cầu và lợi ích của xã hội. Ngày nay, Nhà nước phải thực hiện xã hội hoá từng bước việc việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ công cộng, san sẻ gánh nặng của mình một cách linh hoạt bằng cách giao bớt cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công cộng, san sẻ gánh nặng của mình một cách linh hoạt bằng cách giao bớt cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công cộng thông qua hình thức pháp lí thích hợp. Nhìn chung có thể nhận thấy quan hệ tài sản giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay còn đang trong quá trình chuyển đổi. tuy nhiên, vấn đề quản lí Nhà nước đối với chủ thể kinh tế nhà nước nói chung và đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh sao cho có hiệu quả bao giờ cũng là vấn đề khó khăn, phức tạp cả về lí luận và thực tiễn bởi vì đồng thời phải đạt cả ba yếu cầu là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và đảm bảo định hướng XHCN. * Phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước Phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước là tổng hợp các hình thức, phương thức quản lí của nhà nướ đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Phương thức quản lí nhà nước đối với chủ thể kinh tế này không tách biệt với phương pháp quản lí nhà nước về kinh tế nói chung. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phương thức tác động của Nhà nước vào các chủ thể kinh tế nhà nước đã được chuyển đổi căn bản so với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Hướng cải cách quan trọng về chế dộ quản lí tài sản nhà nước trong nền kinh tế thị trường là chuyển từ chế độ quản lí hiện vật là chủ yếu sang chế độ quản lý giá trị là chủ yếu. Do đó, phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước lúc này cũng được chuyển từ phương thức quản lí mang tính chất trực tiếp sang phương thức quản lí có tính chất gián tiếp (quản lí vĩ mô) bằng các hình thức, biện pháp như pháp luật, kế hoạch, chính sách, các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng; thông qua hoạt động đầu tư vốn nhà nước của các công ty tài chính… * Tính chất chung của bộ máy Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nếu quan niệm bộ máy Nhà nước là “vận tải” chức năng của Nhà nước thì chức năng của Nhà nước được “chuyển tải” thông qua hoạt động của toàn thể các bộ phận cấu thành nên nhà nước . Nhưng việc thực hiện chức năng kinh tế của bộ máy nhà nước lại được thể hiện khác nhau trong các mô hình kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của các chủ thể kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú nhưng tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không phải tỉ lệ thuận về phạm vi và số lượng với chủ thể kinh tế mà theo nguyên tắc đa chức năng, đa lĩnh vực. Bộ máy nhà nước là hệ thống quản lí, điều hành trực tiếp nên cứ hễ nền kinh tế có bao nhiêu lớp đối tượng thì có bấy nhiêu hệ cơ quan quản lí chuyên ngành của Nhà nước được lập ra. Đây là đặc điểm đặc trưng và đương nhiên, trong mô hình kinh tế ấy, bộ máy nhà nước trở nên cồng kềnh, phức tạp với nhiều tầng nấc trung gian. Điều này cũng nói lên tính phức tạp của cơ chế tác động, quan hệ qua lại giữa Nhà nước và các quá trình kinh tế, trong đó cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, phạm vi thẩm quyền của cơ quan, nhân viên nhà nước là sự biểu hiện đặc thù cho chức năng kinh tế của nhà nước. Sự thay đổi của nền kinh tế tất yếu kéo theo những thay đổi về vai trò, tính chất cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. So với bộ máy Nhà nước trong nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung thì tính chất chung của bộ máy nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã chuyển đổi từ tính chất trực tiếp sang tính chất gián tiếp. Những quan hệ kinh tế trực tiếp dưới hình thái thể hiện vật trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây đã và đang nhường chỗ cho các quan hệ kinh tế gián tiếp dưới hình thái giá trị. * Nội dung thẩm định của các cơ quan nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vấn đề thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể được xem xét từ những khía cạnh sau: a. Từ sự phân công và phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã tiến hành cải cách tổ chức hoạt động bộ máy nhà nước, xác định cơ cấu thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước theo yêu cầu của nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện mới. Bộ máy Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Tổ chức và hoạt động của bộ máy đó đảm bảo tính nhân dân, tính dân chủ rộng rãi, kết hợp với việc đề cao trách nhiệm của mối cơ quan, cá nhân người lãnh đạo; đảm bảo tính chủ động, nhánh nhạy trong quản lí nhà nước, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc trước mắt và lâu dài trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. b. Từ tổ chức bộ máy và thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước. Chuyển sang cơ chế thị trường, bộ máy hành chính quan liêu ấy không những không còn tác dụng mà lại ngăn trở sự phát triển của nền kinh tế vì nó tạo ra những rào cản vô lí cũng như các đặc quyền, đặc lợi và nguy cơ tham nhũng. Do vậy, cải cách mạnh mẽ hệ thống hành chính là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Cải cách hành chính là vấn đề có nội dung sâu sắc và rộng lớn mà việc xác định nguyên tắc tổ chức và vi phạm thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới là nội dung cốt lõi. Trong đó, trước hết cần chú trọng nguyên tắc chuyên môn hoá nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Nguyên tắc này thể hiện tập trung mối liên hệ hữu cơ giữa tổ chức bộ máy, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước với các yêu cầu của nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung, trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thì mỗi cơ quan với thẩm quyền và nội dung hoạt động cụ thể đều đóng vai trò nhất định trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước đồng thời sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan ấy trên cơ sở thống nhất vai trò của Nhà nước tạo nên sức mạnh của hệ thống hành chính nhà nước, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả kinh tế – xã hội của hệ thống đó và của bộ máy Nhà nước nói chung. Từ những trong chuyển đổi trong nội dung quản lý nhà nước về kinh tế tất yếu dẫn đến những đổi mới về tổ chức bộ máy nhà nước phá bỏ các tầng nấc trung gian và bao nhiêu cản trở vô lí khác cho sự phát triển của nền kinh tế. Những năm qua, Việt Nam đã có sự phát triển của nền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam
  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Luận Văn Ths: Thực Hiện Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Kinh Tế Xây Dựng: Triển Khai Phương Hướng Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Viện Kinh Tế Xây Dựng Có Quyền Hạn Gì?
  • Chương Trình Phối Hợp Tuyên Truyền Các Nhiệm Vụ Phát Triển Kinh Tế
  • Bài 10. Cấu Tạo Miền Hút Của Rễ
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa
  • Đề tài “Thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam” là hết sức quan trọng và cần thiết. Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để phục vụ cho việc tiếp tục hoàn thiện và đổi mới chủ trương, đường lối, chính sách và hệ thống pháp luật về QLKT của Nhà nước phù hợp với bối cảnh đất nước đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế theo chiều sâu. Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài phần nào chỉ rõ những tồn tại, hạn chế của cơ chế QLKT hiện hành để từ đó xây dựng các giải pháp có nhiều giá trị thực tế để hoàn thiện cơ chế QLKT của Nhà nước. Đó cũng là lý do chính để tác giả lựa chọn đề tài nói trên, làm luận văn thạc sĩ kinh tế.

    Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu việc thực hiện chức năng QLKT của Nhà nước Việt Nam hiện nay.

    Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2000 – 2010.

    Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Việt Nam.

    Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và phân tích thực trạng thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện chức năng QLKT của Nhà nƣớc Việt Nam trong thời gian tới. Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

    Một là, hệ thống hóa, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về chức năng QLKT của Nhà nước.

    Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.

    Ba là, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam trong thời gian tới

    Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung những tri thức mới vào hệ thống các tri thức khoa học về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam hiện nay.

    Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài trong chừng mực nhất định còn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng, Nhà nước tiếp tục ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách mới nhằm bảo đảm thực hiện chức năng QLKT ngày càng có hiệu quả và chất lượng tốt hơn.

    Tổng quan tình hình nghiên cứu

    Một số vấn đề lý luận về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước

    Kinh nghiệm quốc tế trong việc đổi mới, hoàn thiện chức năng quản lý kinh tế của nhà nước và một số bài học tham khảo

    Phương pháp luận

    Phương pháp tổng hợp

    Phương pháp phân tích

    Phương pháp so sánh

    Khái lược về quá trình hình thành và phát triển của chức năng quản lý kinh tế qua các thời kỳ

    Những thành tựu trong thực hiện chức năng quản lý kinh tế ở thời kỳ đổi mới vừa qua và nguyên nhân

    Những nhược điểm trong thực hiện chức năng quản lý kinh tế ở thời kỳ đổi mới vừa qua và nguyên nhân

    Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy quản lý và năng lực cán bộ quản lý kinh tế

    Nhóm giải pháp về cách thức tổ chức thực hiện

    Nhóm giải pháp về mặt pháp lý

    Nhóm giải pháp về nhận thức tƣ tƣởng đối với lĩnh vực quản lý kinh tế

    Nhóm giải pháp về thanh tra, kiểm tra và giám sát

    Bộ Chính trị, 2005. Nghị quyết số 48 – NQ/TW, ngày 24 – 5 – 2005, Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2022. Hà Nội:

    Bộ Chính trị, 2005. Nghị quyết số 49 – NQ/TW, ngày 02 – 06 – 2005, Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022. Hà Nội.

    Bộ Chính trị, 2013. Nghị quyết số 22 – NQ/TW, ngày 10 – 4 – 2013, Về hội nhập quốc tế, Hà Nội.

    Bộ Giáo dục và đào tạo, 2010. Giáo trình Triết học (dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Hành chính.

    Phan Kim Chiến, 2013. Bài giảng môn Quản lý Nhà nước về kinh tế nâng cao. Hà Nội: Các lớp cao học K21 ngành Quản lý kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Chxncn Việt Nam
  • Luận Án: Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Việt Nam, Hay
  • Phòng Cảnh Sát Kinh Tế
  • Góp Sức Xây Dựng Khu Kinh Tế
  • Đẩy Mạnh Xây Dựng Và Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Khu Kinh Tế
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vai Trò Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất Cho Newbie
  • Cách Nhận Đệ Tử Trong Ngọc Rồng Online Chuẩn Nhất Quả Đất
  • Tải Hack Ngọc Rồng 191 Supermod Android Ios Antiban
  • Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    LÊ THỊ THỦY

    CHỨC NĂNG XÃ HỘI

    CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2011

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    LÊ THỊ THỦY CHỨC NĂNG XÃ HỘI

    CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

    Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

    Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Quốc Hùng

    HÀ NỘI – 2011

    MỤC LỤC

    Trang

    Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA

    NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    3

    1.1.

    Khái niệm và đặc điểm chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam

    3

    1.2.

    Quá trình phát triển của chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam

    12

    1.3.

    Vai trò và mối liên hệ giữa chức năng xã hội với các chức

    năng khác của nhà nước

    18

    Chương 2: NỘI DUNG CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC

    VIỆT NAM HIỆN NAY

    24

    2.1.

    Tình hình kinh tế, chính trị – xã hội của Việt Nam trong giai

    đoạn hiện nay

    24

    2.2.

    Nhiệm vụ, chiến lược của nhà nước Việt Nam hiện nay

    25

    2.2.1.

    Nhiệm vụ chiến lược chung

    25

    2.2.2.

    Nhiệm vụ, chiến lược cụ thể

    26

    2.3.

    Nội dung cơ bản của chức năng xã hội của Nhà nước Việt

    Nam hiện nay

    33

    2.3.1.

    Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của

    đời sống xã hội

    33

    2.3.2

    Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội

    34

    2.3.3.

    Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội

    37

    2.3.4.

    Giải quyết các vấn đề xã hội

    43

    2.3.5.

    Bảo trợ và phúc lợi xã hội

    63

    2.4.

    Những yếu tố tác động đến chức năng xã hội của Nhà nước

    Việt Nam hiện nay

    69

    2.4.1.

    Yếu tố chính trị

    69

    2.4.2.

    Yếu tố kinh tế

    70

    2.4.3.

    Yếu tố hội nhập quốc tế

    72

    Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN CHỨC

    NĂNG XÃ HỘI HIỆU QUẢ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    73

    3.1.

    Phương hướng thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt

    Nam hiện nay

    73

    3.1.1.

    Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước

    73

    3.1.2

    Đổi mới nội dung và cách thức thực hiện chức năng xã hội

    74

    3.1.3.

    Đổi mới nhận thức về chức năng xã hội của nhà nước là sự kết

    hợp hài hòa giữa “nhà nước hóa” và “xã hội hóa”

    75

    3.1.4.

    Đổi mới chức năng xã hội phải được đặt trong mới quan hệ tổng

    thể đối mới các chức năng khác của nhà nước

    76

    3.1.5.

    Những hạn chế nhất định trong việc thực hiện chức năng xã

    hội của nhà nước

    77

    3.2.

    Những cách thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước

    trong giai đoạn hiện nay 79

    3.2.1.

    Tổ chức và kiện toàn bộ máy nhà nước

    79

    3.2.2.

    Hoàn thiện hệ thống pháp luật

    82

    Danh môc tµi liÖu tham kh¶o

    94 1

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Chức năng xã hội là một trong những chức năng quan trong, thể hiện

    rõ nét bản chất “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của nhà

    nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với chức năng chính trị,

    chức năng kinh tế, chức năng xã hội của nhà nước là một chuỗi các phương

    diện hoạt động chính của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ

    của nhà nước, là các hoạt động có quá trình hình thành và phát triển và được

    thể hiện rõ rệt theo từng giai đoạn phát triển của nhà nước Việt Nam.

    Mặc dù chức năng xã hội là một trong những chức năng nguyên thủy

    của Nhà nước, xuất hiện ngay từ khi xuất hiện nhà nước. Song đây lại là một

    vấn đề lý luận tương đối mới mẻ so với các nội dung khác trong lý luận về

    Nhà nước và pháp luật. Ở nước ta, chức năng này mới được đề cập rộng rãi

    trong những năm gần đây của thời kỳ đổi mới. Và trên phương diện lý luận và

    thực tiễn, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vai trò, phạm vi, nội

    dung, phương thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. Điều này làm

    ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo thực hiện đúng chức năng xã hội của

    nhà nước trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn tiến tới xây dựng và hoàn thiện

    nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà nước cộng hòa xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

    so nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà

    nền tảng là liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ trí

    thức” .

    4

    Từ khi ra đời, nhà nước giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong xã

    hội có giai cấp thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, giữa nhà

    nước và các tổ chức chính trị xã hội. Xã hội là cơ sở cho sự phát sinh, phát

    triển và diệt vong của nhà nước. Ngược lại, Nhà nước là một bộ phận quan

    trọng không thể thiếu được của xã hội có giai cấp. Nhờ có nhà nước tác động

    toàn diện, mạnh mẽ đến đời sống xã hội và giữ vai trò quan trọng trong việc

    thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị và duy trì những điều

    kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các chức năng của nhà nước được

    hình thành xuất phát từ nhiệm vụ duy trì sự thống trị giai cấp và duy trì sự tồn

    tại, phát triển của toàn xã hội. Mỗi chức năng của nhà nước thể hiện sự thống

    nhất về tổ chức, hình thức và biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong

    lĩnh vực hoạt động của nhà nước, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của

    nhà nước. Chức năng của nhà nước phản ánh bản chất, vai trò và vị trí của

    nhà nước đối với xã hội. “Chức năng của nhà nước là những phương hướng

    (hay phương diện, mặt hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các

    mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước trong các giai đoạn phát triển cụ thể”.

    Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước.

    Đây không phải là một khái niệm mới xuất hiện. Ph. Ăngghen không những

    thừa nhận chức năng xã hội của nhà nước tồn tại từ ngay khi nhà nước mới ra

    đời mà còn khẳng định chức năng xã hội trong nhiều trường hợp còn nổi bật

    hơn chức năng chuyên chính giai cấp:

    Nhà nước mà những nhóm tự nhiên gồm các công xã trong

    cùng một bộ lạc đã đi đến chỗ thiết lập ra trong quá trình tiến triển

    của họ (như việc tưới nước ở phương Đông)… Trên cơ sở phân hóa

    xã hội, yêu cầu tổ chức công trình tưới nước và yêu cầu đấu tranh tự

    vệ làm cho nhiều nhà nước phương Đông ban đầu vốn là chức năng

    chung của xã hội, tiêu biểu cho lợi ích chung của cộng đồng rồi dần

    dần chuyển sang địa vị đối lập với xã hội, trở thành chức năng của

    nhà nước đối với xã hội , thể hiện

    rõ bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân: Nhân dân là chủ thể tối cao

    của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức

    khác nhau như thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của

    mình, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước… Nhà nước

    Việt Nam là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu

    hiện tập trung của khối đại đoàn kết dân tộc anh em, được tổ chức và hoạt

    động trên cơ sở bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

    10

    Nhà nước thể hiện tính dân chủ rộng rãi, một mặt tạo điều kiện thuận lợi về

    chính trị, pháp lý, kinh tế để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế

    quốc dân, mặt khác quan tâm mạnh mẽ đến việc giải quyết các vấn đề xã hội,

    quan tâm phát triển văn hóa giáo dục, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tôn

    trọng các giá trị con người. Bên cạnh đó, bản chất của nhà nước còn được thể

    hiện ở chính sách đối ngoại thể hiện khát vọng hòa bình, mong muốn hợp tác

    trên tinh thần hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế giới.

    Chức năng xã hội của nhà nước thể hiện tính quyền lực và tính dân

    chủ của nhà nước. Chức năng xã hội là một trong những chức năng cơ bản

    của nhà nước, là phương diện hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xã hội, là một

    trong những hình thức thể hiện quyền lực nhà nước, luôn gắn liền với cơ cấu

    quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong bất kì

    xã hội có giai cấp nào, quyền lực nhà nước cũng vẫn là quyền lực của giai cấp

    thống trị, là công cụ chuyên chính của một giai cấp, thể hiện trên ba phương

    diện: thống trị về chính trị, về kinh tế và về tư tưởng đồng thời duy trì những

    điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội. Việc thực hiện chức năng xã hội

    của nhà nước cũng là một trong những hình thức thể hiện tính quyền lực của

    nhà nước. Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước dân chủ, tức

    là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các

    cơ quan đại diện, thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động

    quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách

    đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như vào các hoạt động quản lý điều

    hành. Bên cạnh đó nhân dân tham gia công việc của nhà nước và xã hội ở cơ

    sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi

    ích của công dân và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.

    Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên nhà nước

    của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi

    quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động

    quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách

    11

    đường lối của Đảng và nhà nước, cũng như các hoạt động lập pháp, hoạt động

    quản lý điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật. Điều 53

    của Hiến pháp đã ghi nhận: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước

    và xã hội…”. Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách

    tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực của nhà nước. Hiến pháp và pháp

    luật của nhà nước ta đã có nhiều quy định cụ thể để hiện thực hóa khả năng

    đó. Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình,

    điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác,

    khuyến khích phát triển các hình thức hoạt động văn học, nghệ thuật. Đó là

    kênh cực kỳ quan trọng để qua đó nhân dân góp tiếng nói của mình vào quá

    trình hoạch định đường lối của Đảng, xây dựng chính sách và pháp luật của

    nhà nước. Đảng và Nhà nước đã tạo ra mọi điều kiện để công dân có thể sử

    dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền khiếu

    nại, quyền tố cáo vơi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm

    trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ

    trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại. tố cáo được cơ quan

    nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, Chính phủ

    thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin

    đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Hiến

    pháp cũng quy định trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các

    cấp thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương…

    Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước dân chủ, quyền

    lực thuộc về nhân dân nhưng để thực hiện được dân chủ thực sự, phải thu hút

    được các tầng lớp lao động tham gia một cách rộng rãi và thật sự bình đẳng

    vào quản lý công việc nhà nước và xã hội. Trên phương diện pháp lý, trình độ

    dân chủ thể hiện ở chỗ pháp luật ghi nhận và bảo đảm các quyền dân chủ cho

    công dân được thực hiện như thế nào, là sự thể hiện của việc giải quyết mối

    quan hệ giữa nhà nước và công dân. Trong xã hội dân chủ, hoạt động của nhà

    nước chỉ thể hiện trong những “khoảng hợp pháp” chứ không phải bao trùm

    12

    lên toàn bộ đời sống xã hội. Chủ trương xã hội hóa trong việc thực hiện các

    chức năng cua nhà nước trong đó có chức năng xã hội hiện nay là một biểu

    hiện rõ nét của chế độ dân chủ.

    Chức năng xã hội của nhà nước tồn tại một cách tất yếu khách quan,

    bắt nguồn từ bản chất và thể hiện bản chất chung của nhà nước, trong đó chức

    năng giai cấp giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội và chức năng

    xã hội là điều kiện, cơ sở xã hội để thực hiện chức năng giai cấp. Chức năng

    xã hội của nhà nước có nội dung khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của xã

    hội. Ngay từ khi xuất hiện, nhà nước thể hiện vai trò trên hai phương diện cơ

    bản là công cụ bảo vệ giai cấp và quản lý những công việc chung của xã hội,

    tức là thực hiện hai chức năng: chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội.

    Cuộc sống xã hội bao gồm rất nhiều lĩnh vực vận động. Các lĩnh vực

    đều cần có sự tác động của nhà nước – sự tác động được thực hiện dưới những

    hình thức và mức độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực ấy có những quy luật vận động

    đặc thù, do vậy đòi hỏi ở nhà nước một sự tác động cũng đặc thù, phù hợp với

    từng đặc điểm của từng lĩnh vực.

    1.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ

    NƢỚC VIỆT NAM

    Chức năng xã hội của nước ta là một trong những chức năng cơ bản

    và nhất quán trong toàn bộ lịch sử phát triển của nhà nước Việt Nam.

    Ở Việt Nam, con đường hình thành nhà nước diễn ra có sự khác biệt.

    Theo tư liệu lịch sử, đặc biệt là về mức độ chênh lệch tài sản trong mộ táng,

    thì sự phân hóa giai cấp trong xã hội chưa sâu sắc, chưa dẫn đến mâu thuẫn

    giai cấp không thể điều hòa được. Nhưng sở dĩ nhà nước vẫn được hình thành

    vì có hai yếu tố đặc biệt và quan trọng thúc đẩy, đó là: công cuộc chống ngoại

    xâm và công cuộc trị thủy – thủy lợi. Trải qua thời kỳ phát triển lâu dài, sự

    phát triển của sức sản xuất tạo ra sản phẩm dư thừa. Mặt khác, do nhu cầu bức

    thiết và sống còn của công cuộc trị thủy thủy lợi và chống giặc ngoại xâm,

    13

    Hùng Vương vốn là tù trưởng một bộ lạc đã đứng ra thống nhất các bộ lạc

    khác và trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, trở thành người chỉ huy quân

    sự tối cao và người điều hành cao nhất trong công cuộc trị thủy – thủy lợi. Lợi

    dụng uy tín và địa vị đó, Hùng Vương và các con cháu của mình, dần dần

    theo cách nói của Ph Angghen, từ việc đảm nhận “chức năng xã hội” tiêu biểu

    cho lợi ích chung đã chuyển sang “địa vị độc lập với xã hội” và vươn lên

    thống trị xã hội, biến thành ông vua cùng bộ máy cai trị giúp việc của mình.

    Trải qua các giai đoạn chính quyền đô hộ nghìn năm của phong kiến

    Trung Quốc, thế kỷ thứ X đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dựng

    nước và giữ nước của dân tộc, kết thúc thời kì thống trị hà khắc và nguy hiểm

    của phong kiến nước ngoài, giành độc lập dân tộc. Nhà nước đầu tiên, và nhà

    nước hầu hết qua các triều đại, chính quyền nhà nước đều phải đứng ra đảm

    nhận vai trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm và vai trò trị thủy

    và thủy lợi. Chức năng xã hội của nhà nước được hình thành từ khi xuất hiện

    nhà nước và duy trì trong suốt quá trình phát triển của mình.

    Trong suốt thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, dân tộc ta đã liên tục

    đấu tranh quật khởi giành độc lập dân tộc. Và ngay từ những ngày đầu mới

    thành lập, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã tập trung giải

    quyết ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Mặc

    dù, đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh với bao khó khăn chồng chất, nhưng

    ở các địa phương, chính quyền cách mạng đã từng bước mang lại quyền lợi

    cho nhân dân như giảm tô, giảm tức, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Đặc biệt là

    việc kịp thời tiến hành cải cách ruộng đất để “người cày có ruộng”, thủ tiêu

    quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân pháp, đế quốc xâm lược khác và của

    địa chủ Việt Nam. Nhà nước chú trọng việc xây dựng các văn bản pháp luật

    quy định và đảm bảo các quyền tư do dân chủ của công dân Việt Nam như:

    Sắc lệnh ngày 8/9/1945 về quyền bầu cử; Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 về

    tổng tuyển cử; Sắc lệnh ngày 29/03/46 về quyền tự do báo chí; Sắc lệnh ngày

    22/4/1946 về quyền tự do hội họp. Và đặc biệt là Hiến pháp 1946 được Quốc

    14

    hội thông qua ngày 9/11/1946 với 1 chương ghi nhận và đảm bảo những

    quyền cơ bản của công dân.

    Trong giai đoạn này bên cạnh việc ghi nhận các quyền tự do cơ bản

    của công dân, Đảng và Nhà nước ta còn ý thức tầm quan trọng của giáo dục

    đào tạo, xác định con người luôn vừa là động lực vừa là mục đích của sự

    nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Một dân tộc

    dốt là một dân tộc yếu và khẳng định ba nhiệm vụ lớn của chính quyền: là diệt

    giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Và người đã ký 3 sắc lệnh: Sắc

    lệnh số 17 thành lập bình dân học vụ, Sắc lệnh số 19 cho phép lập lớp bình

    dân học vụ vào buổi tối cho người nông dân và thợ thuyền, Sắc lệnh số 20

    quy định việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền. Nhiều lớp học,

    trường học ở các cấp học đã được mở ra, hệ thống giáo dục mới của nước ta

    được bắt đầu hình thành. Để tránh giặc đói, nhà nước đã thủ tiêu những luật lệ

    hạn chế việc chuyên chở thóc gạo cho Pháp, Nhật đặt ra trước đây và thay

    bằng một loạt quyết định mới, tìm mọi biện khôi phục và phát triển sản xuất

    bằng việc bãi bỏ những thể lệ kìm hãm sản xuất công thương và lưu thông

    hàng hóa, cải cách chế độ thuế thóc, bãi bỏ các thứ thuế nô dịch, bất công

    giảm gánh nặng cho dân chúng.

    Trong giai đoạn 1954 – 1975, mặc dù đất nước tồn tại song song hai

    chính quyền cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Nam

    đấu tranh giành và xây dựng chính quyền cách mạng, bên cạnh đó Mặt trận

    dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam còn đề ra và thực hiện những nhiệm

    vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: xây dựng nền văn hóa giáo dục dân tộc và

    tiến bộ, xóa nạn mù chữ, mở rộng trường học, cải cách chế độ học tập và thi

    cử, thực hiện nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc,

    thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ… còn miền Bắc xây dựng Nhà

    nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khôi phục kinh tế, cải cách xã hội chủ nghĩa,

    đấu tranh thi hành Hiệp định Gienevơ, thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm,

    vừa xây dựng kinh tế vừa đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

    15

    bằng không quân của đế quốc Mỹ, đấu tranh ngoại giao và ký kết Hiệp định

    Pari về Việt Nam, chi viện kịp thời và to lớn cho cách mạng miền Nam.

    Nhìn chung trong giai đoạn 1954 – 1975, chức năng xã hội của nhà

    nước đều được thực hiện trên cơ sở nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào sự viện

    trợ từ bên ngoài. Đất nước trong giai đoạn chiến tranh bị chia cắt thành hai

    miền với hai chế độ chính trị khác nhau, song Nhà nước ta vẫn xây dựng một

    hậu phương vững chắc, động viên cao độ sức người, sức của cho tiền tuyến,

    quyết tâm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chức năng xã hội của

    nhà nước trong giai đoạn này chưa được bộc lộ rõ so với chức năng chuyên

    chính giai cấp và chức năng kinh tế, và việc thực hiện chức năng xã hội trong

    giai đoạn này phần lớn nhờ vào việc thực hiện chức năng khác của nhà nước

    và chủ yếu là chức năng kinh tế.

    Trong giai đoạn 1976 – 1986, đất nước hòa bình, thống nhất và bước

    vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, nhưng do mắc

    phải những sai lầm chủ quan duy ý chí, ấu trĩ tả khuynh, duy trì quá lâu cơ

    chế quản lý cũ dẫn đến nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội

    trầm trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là mốc quan trọng dẫn

    đến sự chuyển đổi trong nhận thức và tư duy của Đảng: Xác định đổi mới

    kinh tế là trọng tâm, là cơ sở cho việc đổi mới từng bước hệ thống chính trị.

    Chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường và

    theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị phải được đổi mới từng

    bước vững chắc, giữ vững ổn định chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc

    đổi mới kinh tế. Cơ sở lý luận của công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ

    nghĩa là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chức năng xã hội của

    nhà nước được thực hiện phiến diện. Các đối tượng được hưởng các chế độ

    bảo đảm và dịch vụ công chủ yếu là người lao động trong khu vực hành chính

    sự nghiệp, trong các cơ quan và đơn vị kinh tế nhà nước. Với nguyên tắc thực

    16

    hiện phân phối công bằng, trực tiếp, trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể

    thậm chí nhà nước xác định cụ thể tới những nhu cầu tối thiểu của từng cá

    nhân về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe… Tất cả được thực hiện với nguồn

    kinh phí của nhà nước, tất cả đều dựa vào nhà nước.

    Với nên kinh tế thị trường, ngoài việc thực hiện các chế độ đối với

    những đối tượng trên, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến tầng lớp nhân dân

    khác, đặc biệt là nông dân, nông thôn và những vùng đặc biệt khó khăn. Đảm

    bảo đời sống tối thiểu cho mọi thành phần dân cư trong xã hội bằng cách tạo

    mọi điều kiện, cơ hội để mọi thành viên trong xã hội cùng phát triển theo khả

    năng của mình, bảo đảm cho mọi người sống trong môi trường xã hội an toàn,

    lành mạnh, mọi người đều được quan tâm chăm sóc, thụ hưởng các phúc lợi

    về giáo dục, y tế, văn hóa…

    Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc xây dựng một nhà

    nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân (theo

    Hiến pháp năm 1992) là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Điều này lại

    một lần nữa khẳng định bản chất giai cấp và chức năng giai cấp của nhà nước

    mang bản chất giai cấp công nhân vẫn được giữ vững, đồng thời chức năng xã

    hội, bản chất xã hội của nhà nước được xác định một cách rõ ràng hơn. Chức

    năng xã hội của nhà nước trong giai đoạn này có sự thay đổi về nội dung và

    phương thức thực hiện, xuất hiện từ yêu cầu đòi hỏi khách quan của xã hội

    nhằm đáp ứng đòi hỏi của chính sự vận động và phát triển của xã hội. Từ sự

    thay đổi cơ chế kinh tế, hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình

    kinh tế như: việc làm, thu nhập, văn hóa, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội… đòi

    hỏi phải có sự kiểm soát từ phía nhà nước. Dân chủ trong kinh tế đòi hỏi dân

    chủ trong lĩnh vực xã hội phải được phát huy, nhân dân ngày càng tham gia

    tích cực vào việc giải quyết các công việc nhà nước, công việc xã hội. Vị trí

    và vai trò của nhà nước chuyển dần từ vai trò “một người bảo trợ” chung cho

    toàn xã hội chuyển sang thành “người cầm lái”, khởi xướng và tổ chức các

    hoạt động xã hội, là chủ thể hoạch định và thực thi các chính sách xã hội. Một

    18

    có công, người được hưởng chính sách xã hội, phân phối thu nhập xã hội

    công bằng, hợp lý, tạo động lực phát triển mạnh, góp phần phòng, chống tiêu

    cực, tệ nạn xã hội. Nhà nước xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo

    đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo

    dục và đào tạo, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thông tin,

    thể thao…

    Những tiền đề cơ bản của công cuộc đổi mới và những chuyển biến

    tích cực của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng công quyền và chức

    năng xã hội theo cơ chế mới, ngày càng thích ứng với điều kiện phát triển nền

    kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập kinh tế

    quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không thể tách rời vai trò lãnh

    đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã làm cho công việc thực hiện chức

    năng xã hội của Nhà nước tiến những bước quan trọng.

    1.3. VAI TRÒ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG XÃ HỘI VỚI CÁC

    CHỨC NĂNG KHÁC CỦA NHÀ NƢỚC

    Chức năng xã hội là chức năng cơ bản của nhà nước, mọi nhà nước

    đều phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung đồng thời phải chăm

    lo một số việc chung của toàn xã hội. Ph. Ăngghen đã viết: “Ở khắp nơi, chức

    năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng

    chí kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó”. Cũng như

    mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa

    muốn thực hiện chức năng giai cấp của mình trước hết phải làm tốt chức năng

    xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng

    sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự

    do dân chủ của nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện

    tiên quyết để nhà nước đảm bảo và giữ vững địa vị xã hội về mặt chính trị,

    nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột

    và các thế lực thù địch.

    19

    Chức năng xã hội thể hiện bản chất của nhà nước, là cơ sở để xác định

    và đánh giá bản chất nhà nước: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

    Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực

    nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai

    cấp nông dân và tầng lớp trí thức” .

    21

    Về sở hữu, tồn tại sở hữu toàn dân, tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà

    nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động

    trực tiếp hay thông qua khâu trung gian nhất định tham gia vào quá trình

    hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển của

    đất nước. Và trên lĩnh vực phân phối nhà nước ưu tiên phân phối theo lao

    động và phúc lợi xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh té với việc thực hiện công

    bằng xã hội, hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…

    Chức năng xã hội của nhà nước mang lại sự ổn định về mặt xã hội.

    Việc đảm bảo phúc lợi xã hội ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của

    chính sách kinh tế tiến bộ, nhà nước đảm bảo sự công bằng trong xã hội (địa

    vị pháp lý ngang nhau thụ hưởng ngang nhau, lao động ngang nhau thì hưởng

    thụ ngang nhau, đóng góp, cống hiến cả về vật chất và tinh thần cả trong quá

    khứ và hiện tại ngang nhau cho sự phát triển của đất nước thì được hưởng

    ngang nhau… Với việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, đảm bảo cho

    mọi người dân được sống trong một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái sẽ

    tạo ra sự đồng thuận lớn trong mọi tầng lớp nhân dân. Và thông qua việc thực

    hiện các chức năng xã hội của nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và

    đào tạo, nhà nước lại cung cấp cho thị trường một nguồn lao động chất lượng,

    là nguồn lao động chính tạo ra năng suất lao động cao và lực lượng các cán bộ

    quản lý doanh nghiệp cho mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình kinh tế.

    Chức năng xã hội mang lại sự ổn định về mặt xã hội, là tiền đề cho

    việc thực hiện các chức năng nhà nước khác như chức năng chính trị và chức

    năng kinh tế, và ngược lại các chức năng này là điều kiện đảm bảo để thực

    hiện chức năng xã hội của nhà nước.

    Trong giai đoạn hiện nay, nội dung cơ bản đồng thời cũng là mục tiêu

    của chức năng chính trị của nhà nước ta là bảo vệ vững chắc chế độ chính trị,

    chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng

    sản Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trên đất nước

    Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài, trấn áp sự chống phá của các thế lực thù

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy In Phun Màu Epson L3150 Kèm 4 Bình Mực Chính Hãng Wifi Direct Giá Rẻ 4.100.000₫
  • Máy In Phun Màu Đa Năng Epson L4150
  • Những Điều Cần Biết Về Công Cụ Data Analysis
  • Hướng Dẫn Cách Hẹn Giờ Điều Hòa Gree Thực Hiện Đúng Cách
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Gree Đúng Cách Từ Chuyên Gia
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Vừa qua, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ra Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa đóng vai trò quan trọng, cấp thiết.

    Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại.

    Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã chứng minh: nhờ có nền tảng văn hóa, hòa nhập và phát triển, nên nhân dân ta đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn để thắng “thiên tai, địch họa”, giữ vững nền độc lập và bản sắc văn hóa. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì vai trò của văn hóa càng được khẳng định, nhất là trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển nhanh, nóng, dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v.

    Hoạt động quản lý văn hóa thời gian qua đã góp phần đảm bảo định hướng lớn của Đảng trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” 2. Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được bảo tồn và phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc không bị mai một, hòa tan trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Nhiều giá trị văn hóa mới, tiến bộ đã được xác lập, củng cố trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa nhân loại. Hoạt động quản lý văn hóa cũng làm cho văn hóa trở thành một tác nhân kích thích sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều địa phương. Có thể nói, công tác quản lý nhà nước về văn hóa đã góp phần hiện thực hóa quan điểm của Đảng “Văn hóa… vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩ sự phát triển kinh tế – xã hội” 3. Từ một lĩnh vực bị xem là chủ yếu mang chức năng giáo dục, tuyên truyền, văn hóa đã dần trở thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế, mang lại lợi nhuận, góp phần nâng cao đời sống người dân, ổn định an ninh xã hội. Chủ trương sáp nhập lĩnh vực văn hóa với thể thao và đặc biệt là với du lịch là đúng đắn, thể hiện tầm nhìn vĩ mô về văn hóa trong tiến trình phát triển bền vững đất nước.

    Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hiện nay, tuy chúng ta đang tiến hành quản lý văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường, nhưng dấu ấn của cơ chế bao cấp vẫn còn khá sâu đậm, khiến cho nhiều cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức văn hóa vẫn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chưa phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa chưa phát huy hiệu quả cao. Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ. Một số văn bản pháp luật về văn hóa chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, việc tổ chức thực hiện còn chậm, một số văn bản chưa thực sự đi vào cuộc sống. Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy nhân sự ngành Văn hóa, nhất là khi mới sáp nhập thành bộ đa ngành còn nhiều lúng túng. Trong khi quản lý văn hóa là một công việc rất phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi cả về kiến thức, kỹ năng lẫn tâm huyết, tinh thần trách nhiệm, thì một số cán bộ trong lĩnh vực này (nhất là cấp cơ sở) luôn biến động, còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Thực tế cho thấy, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ở một số địa phương và lĩnh vực cụ thể chưa cao. Sự tách bạch giữa quản lý nhà nước với hoạt động tác nghiệp chưa rõ, vẫn còn sự trùng chéo, nhầm lẫn giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng triển khai các hoạt động mang tính sự nghiệp. Có lúc, có nơi còn có biểu hiện buông lỏng quản lý, nhất là trong các lĩnh vực như: di sản văn hóa, tổ chức lễ hội, bản quyền tác giả,… Việc xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung quản lý ở một số đơn vị còn yếu, ngân sách sử dụng chưa hiệu quả. Đặc biệt, còn lúng túng trong xử lý các hiện tượng văn hóa mới, như: văn hóa trên in-tơ-nét, văn hóa mạng, văn hóa giới trẻ, văn hóa các nhóm thiểu số trong xã hội, các loại hình nghệ thuật đương đại,… Việc tổ chức một số phong trào văn hóa còn mang tính hình thức, bề nổi; nội dung phong trào còn nghèo nàn, hiệu quả xã hội chưa cao. Công tác quản lý tổ chức các lễ kỷ niệm, sự kiện, festival,… còn chưa sát sao, để xảy ra tình trạng lãng phí, phô trương, hình thức. Hệ thống các thiết chế văn hóa vùng nông thôn (nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) còn thiếu; khoảng cách chênh lệch trong hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, các bộ phận dân cư còn cao. Việc kiểm soát xu thế thương mại hóa văn hóa thái quá trong kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa và sự phục hồi, bùng phát hiện tượng mê tín dị đoan, các hủ tục còn chưa hiệu quả, v.v.

    Để tiếp tục đưa văn hóa vào mọi mặt đời sống của xã hội, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, thời gian tới, công tác quản lý văn hóa phải có những giải pháp quyết liệt, mang tính đổi mới căn bản và toàn diện. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết 33-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, công tác quản lý văn hoá cần chú trọng một số giải pháp sau:

    Thứ hai, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông. Đây là vấn đề rất quan trọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa. Vì thế, các cấp cần thay đổi cách tư duy và phương thức tổ chức, điều hành văn hóa, khắc phục cung cách quan liêu, mệnh lệnh – hành chính, chủ quan, áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, phải đổi mới cách thức quản lý và cung ứng dịch vụ công, nhằm đề cao trách nhiệm, hiệu lực quản lý của Nhà nước; kiên quyết loại trừ cơ chế “xin – cho” trong đầu tư cho văn hóa. Mọi kế hoạch phát triển văn hóa phải được xây dựng dựa trên nhu cầu, điều kiện thực tiễn và chiến lược phát triển tổng thể của Ngành và đất nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác cải cách hành chính, chấn chỉnh lề lối làm việc; chú trọng hiện đại hóa công sở, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý văn hóa.

    Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương. Với phương châm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phi tập trung hóa trong quản lý văn hóa, Nhà nước cần tăng cường phân cấp cho địa phương để gia tăng trách nhiệm quản lý ở cấp cơ sở. Đồng thời, xác định rõ những lĩnh vực cần can thiệp hoặc không can thiệp. Theo đó, Nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ mô, không lấn sân, làm thay công việc của người dân; đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực văn hóa; tiến hành rà soát, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

    Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để xảy ra sai phạm. Các cấp cần phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và công dân đối với việc tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa; làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức, cá nhân có đóng góp hiệu quả trong công tác quản lý văn hóa.

    Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa. Các cấp cần thực hiện tốt công tác “chuẩn hóa” cán bộ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ trong hàng ngũ lãnh đạo, quản lý, tham mưu cũng như công chức, viên chức ngành Văn hóa. Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, có chế độ đãi ngộ cán bộ phù hợp; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa.

    Thứ sáu, tăng cường cơ chế phối hợp trong quản lý văn hóa với các bộ, ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là với các cơ quan giáo dục, thông tin truyền thông, pháp luật, an ninh,… Chủ động xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng, v.v.

    Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, đa dạng và phức tạp. Do vậy, quản lý văn hóa luôn phải đương đầu với nhiều thách thức, khó khăn. Để đạt được những bước đột phá trong công tác này theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về văn hóa, những năm tới, đòi hỏi ngành Văn hóa, từ cấp lãnh đạo đến địa phương, cơ sở cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của Ngành phải có những cố gắng, nỗ lực cao, đưa văn hóa dân tộc hoạt động đúng hướng, bắt kịp thực tiễn phát triển của đất nước và xu thế hội nhập toàn cầu mạnh mẽ trên thế giới hiện nay.

    1 – Nghị quyết 33-NQ/TW Hội nghị lần thứ chín BCHTƯ Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, ban hành ngày 09-6-2014 (Báo Nhân dân, ngày 12-6-2014).

    2, 3 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thư năm BCHTƯ khóa VIII, Nxb CTQG, H. 1998, tr. 40, 55.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Hoạt Động Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Các Đơn Vị Sự Nghiệp Phục Vụ Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Luận Văn Chức Năng, Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Sẽ Ban Hành Nghị Quyết Về Chức Năng Của Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Trong Quý 2
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100