Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng

--- Bài mới hơn ---

  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Xương Dài
  • Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể. Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội học được gọi là những chức năng xã hội của giáo dục. Có 3 loại chức năng xã hội của giáo dục : Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng – chính trị xã hội và chức năng tư tưởng – văn hoá.

    Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội về tất cả các mặt.

    Chức năng tư tưởng-văn hóa Giáo dục không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vưc sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần của dân tộc – Giáo dục có tác dụng to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội . giáo dục Việt Nam có tác dụng vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo đức, xây dựng cho xã hội Việt Nam tư tưởng của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tửởng Hồ Chí Minh – Giáo dục cũng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa, văn học, nghệ thuật, góp phần xây dựng một lối sống phổ biến cho toàn xã hội bằng con đường giáo dục nhà trường, giáo dục truyền thông – G iáo dục xây dựng một trình độ văn hoá cho toàn dân. Giáo dục Việt Nam xây dựng trình độ văn hóa cho toàn dân bằng một hệ thống giáo dục trên cơ sở khả năng và nhu cầu hiện tại cũng như xu hướng phát triển của tương lai của nền kinh tế và xã hội nước ta, đồng thời phù hợp với đặc điểm của truyền thống văn hóa của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại – Giáo dục góp phần phát triển tư tưởng văn hoá bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho toàn xã hội. Với một nền giáo dục phổ thông tốt được phổ cập rộng rãi, sẽ nâng cao dân trí, làm xuất hiện và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. -Giáo dục bồi dưỡng nhân tài cho đất nước bằng việc thành lập các trường chuyên, lớp chọn. Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, góp phần làm phong phú thêm các giá trị văn hóa-xã hội thúc đẩy các quá trình xã hội phát triển – Trong sự phát triển hội nhập giáo dục là cầu nối giữa thế hệ trẻ với các nền văn hóa. Nhờ có giáo dục mà thế hệ trẻ biết được, lĩnh hội và phát huy có chọn lọc nền văn hóa của đất nước và các nền văn hóa khác. Giáo dục thúc đẩy xã hội phát triển. Trong xã hội ta hiện nay giáo dục được sử dụng như là một công cụ của chuyên chính vô sản để tuyên truyền phổ biến các đường lối chủ trương đổi mới của đất nước để giác ngộ quần chúng nhân dân giúp họ nhận thức đúng các chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước từ đó họ có ý thức tự giác chấp hành và vân động mọi người thực hiện. Tóm lại: Sự nghiệp giáo dục-đào tạo có nhiệm vụ đào tạo các thế hệ công dân mới, đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển của thế giới. không thể thiết kế chiến lược con người nếu không đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó trong đời sống xã hội hiện đại. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa 8 đã xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,…”

    Chu Văn Quý @ 23:35 10/03/2010

    Số lượt xem: 9375

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • An Ninh Tư Tưởng Văn Hóa Là Gì ? Cần Làm Gì Để Bảo Vệ An Ninh Tư Tưởng Văn Hóa ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Về Chính Sách Tỷ Giá Hối Đoái Hỗ Trợ Phát Triển Kinh Tế Và Doanh Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Thi Hành Kỷ Luật Đảng Trong Đảng Bộ Tỉnh Khánh Hòa
  • Đột Phá Khâu Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng
  • Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng
  • 1. Khái niệm về an ninh tư tưởng văn hóa ?

    An ninh tư tưởng văn hóa là sự ổn định và phát triển của tư tưởng văn hoá đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Tư tưởng là quan điểm, ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan. Tư tưởng thuộc phạm trù úy thức, là sản phẩm chủ quan của con người. Vì vậy, ý thức như thế nào phụ thuộc vào đối tượng, phản ánh, môi trường xã hội và trình độ nhận thức, tâm sinh lý của mỗi người. Khi quan điểm được khái quát, xây dựng thành hệ thống lý luận, phản ánh lợi ích một giai cấp thì được gọi là hệ tư tưởng của giai cấp đó. Giai cấp nào thống trị xã hội thì hệ tư tưởng của nó cũng thống trị XH – hệ tư tưởng thống trị.

    – Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người và loài người sáng tạo nhờ lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở đây, chúng ta nghiên cứu theo nghĩa hẹp, đó là văn hóa tinh thần.

    An ninh tư tưởng – văn hoá là một bộ phận của an ninh quốc gia. Bảo vệ an ninh tư tưởng – văn hoá bao gồm các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá; đấu tranh chống các hoạt động chiến tranh tâm lí, phá hoại tư tưởng và chống các hoạt động truyền bá văn hoá phẩm độc hại, phản động; bảo vệ vật chất – kĩ thuật và đội ngũ cán bộ chủ chốt hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá. Bảo vệ an ninh tư tưởng – văn hoá là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

    2. Giáo dục hệ tư tưởng của giai cấp công nhân

    – Công tác tư tưởng có vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển hệ tư tưởng XHCN, biến hệ tư tưởng XHCN thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội, cổ vũ mọi người lao động, sáng tạo vì mục tiêu lý tưởng của CNXH. Vì lẽ đó tiến trình CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và ch cần quan tâm đến việc truyền bá hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong các tầng lớp nhân dân.

    – Đảng ta khẳng định: “Tiến trình CMVH trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan M-L và tư tưởng đạo đức HCM giữ trị chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội”

    – CT HCM cũng chỉ rõ: “Đảng không có CN cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”, CN M-L-hệ tư tưởng GC công nhân là kim chỉ nam hoạt động của Đảng ta.

    3. Nâng cao trình độ dân trí và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát triển KHKT, công nghệ

    – Là điều kiện không thể thiếu để xây dựng nền dân chủ XHCN, để quần chúng nhận thức được và tham gia trực tiếp vào quản lý Nhà nước, xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN.

    – Mặt bằng dân trí nâng cao sẽ góp phần thúc đẩy chất lượng nguồn lực lao động, tạo tiềm lực trí tuệ để phát triển nhân tài.

    – Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục để tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho xã hội. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển.

    – Cùng với GD, KHKT có vai trò to lớn trong việc tăng cường tiền lực trí tuệ, csvc, kỹ thuật cho CNXH.

    4. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

    Lênin đã nêu rõ nhiệm vụ của nền văn hóa mới là phải xây dựng những con người thời đại mới có giác ngộ cách mạng và có trình độ văn hóa cao.

    Xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến có tính chất xhcn, thấm nhuần nội dung và hình thức dân tộc, gắn với những yêu cầu của thời đại mới – thời đại quá độ lên cnxh là một nhiệm vụ, đồng thời cũng là một mục tiêu quan trọng của cm tư tưởng và văn hóa. Nền văn hóa vô sản, văn hóa xhcn, như Lê-nin gọi, kết hợp được truyền thống với hiện đại, gữa giữ gìn và phát huy được bản sắc của dân tộc vừa kế thừa được những thành quả tốt đẹp nhất của văn hóa nhân loại qua các thời kỳ lịch sử.

    Hcm: văn hóa là một vũ khí tinh thần phục vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng cnxh. Văn hóa phải thực hiện được 3 chức năng: Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; nâng cao dân trí, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, phong cách lành mạnh; hướng con người vươn tới chân thiện mỹ.

    Nghị quyết hội nghị lần 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “…Xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sau vào đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, vào từng gia đình, vào từng tập thể và cộng đồng dân cư …”

    Xây dựng con người phát triển toàn diện

    – Con người xhcn là sản phẩm của xh mới được hình thành phổ biến trong phong trào quần chúng lao động. Đó là thế hệ những người được rèn luyện, thử thách trong đấu tranh cách mạng, là những người lao động đã trưởng thành, là các thế hệ kế tiếp.

    – Cnxh phải xây dựng con người phát triển toàn diện. Đó là con người sống có lý tưởng, có trách nhiệm với công việc, với xã hội, với chính mình. Họ phải là những người có học thức, có niềm tin khoa học, có năng lực hoạt động sáng tạo, luôn luôn đấu tranh cho lẽ phải, cho sự công bằng, bình đẳng và dân chủ. Đó là con người phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ đạo đức, sự phong phú về đời sống tin thần.

    – Những con người có lối sống xhcn là sự thể hiện trình độ phát triển văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phải chú trọng tới đầy đủ những nội dung của nó. Trước hết con người phải có thể lực tốt, vừa đảm bảo hạnh phúc riêng của họ, vừa đảm bảo chất lượng sinh thể của thế hệ người vn trong quá trình tái sản xuất nòi giống. Thể lực tốt là tiêu chí đầu tiên của chất lượng nguồn lực lao động, là tiền đề sinh học để phát triển trí tuệ, nhân cách, năng lực hoạt động cá thể của mỗi cá thể.

    *)Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng CS trong cách mạng tư tưởng và văn hóa

    Sự lãnh đạo của Đảng CS là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định trước tiên đối với sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đồng thời cũng là sự đảm bảo về chính trị, tư tưởng và tổ chức cách mạng tư tưởng và văn hóa đi đúng định hướng xhcn.

    Nội dung và phương pháp lãnh đạo của ĐCS đối với cách mạng tư tưởng và văn hóa là:

    – Đảng lãnh đạo bằng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, bằng cương lĩnh, đường lối cách mạng và chủ trương, chính sách cùng sự chỉ đạo thực tiễn trên linh vực tư tưởng và văn hóa.

    – Đảng lãnh đạo bằng những phương pháp văn hóa, bằng sự am hiểu những đặc điểm của văn hóa và hoạt động sáng tạo văn hóa, bằng sức mạnh của giáo dục thuyết phục khoa học gắn với công tác tổ chức thực tiễn có hiệu quả.

    Các chính sách văn hóa của Đảng phải tạo được môi trường và điều kiện để phát huy tối đa khả năng sáng tạo của quần chúng, làm cho quần chúng tích cực sáng tạp văn hóa và hưởng thụ văn hóa, làm cho văn hóa trở thành động lực phát triển và mục tiêu của cnxh.

    Đảng CS và Nhà nước phải tăng cường đầu tư vật chất tinh thần một cách có hiệu quả vào việc đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là vùng nông thôn. Đồng thời, Đảng và Nhà nước không ngừng chăm lo xây dựng nền văn hóa có tính truyền thống và hiện đại, giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó tiếp thu văn hóa nhân loại.

    5. Giải pháp chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

    Trong 6 giải pháp chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Trung ương 8 đã xác định một giải pháp riêng về tư tưởng – văn hóa, với những nội dung cụ thể là:

    – Thực hiện tốt chủ trương tổng kết hoạt động lý luận – thực tiễn của Đảng trong thời kỳ đổi mới; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    – Đổi mới công tác chính trị – tư tưởng sát hợp với từng tầng lớp nhân dân, hướng mạnh về cơ sở, đặc biệt quan tâm đến thanh niên, sinh viên, học sinh; chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tinh thần tự cường dân tộc, truyền thống dựng nước, giữ nước.

    – Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chống sự xâm nhập của văn hóa phẩm độc hại từ bên ngoài vào.

    – Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc.

    – Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và quan hệ đối ngoại… Những giải pháp về tư tưởng, văn hóa nêu trên chính là cơ sở để đánh giá việc thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc của công tác tư tưởng.

    5.1. Nhóm giải pháp về đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

    – Đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chiến lược bảo vệ Tổ quốc cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

    – Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần sáng tạo, ý thức tự lực, tự cường, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

    – Thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ, mất cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch cũng như tư tưởng coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong cán bộ, đảng viên.

    – Tiếp tục tuyên truyền, kiểm tra việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); tổ chức thực hiện rộng khắp, nền nếp, thường xuyên, có hiệu quả Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, gắn với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

    5.2. Nhóm giải pháp về xây dựng và phát triển nền văn hóa

    – Xác định rõ vai trò, vị trí của văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh “mềm” của mỗi quốc gia trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; không ngừng xây dựng, phát triển văn hóa, tạo nguồn lực tinh thần thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

    – Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng cơ chế quản lý và chế tài ngăn chặn các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các sản phẩm văn hóa độc hại. Định hướng, động viên văn nghệ sĩ nêu cao trách nhiệm công dân, chống các biểu hiện ảo tưởng, mơ hồ, hữu khuynh, mất cảnh giác, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá chế độ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

    – Coi trọng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tốt đẹp của văn hóa các dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại.

    – Ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm thực văn hóa của các thế lực thù địch; đấu tranh kiên quyết đẩy lùi các loại văn hóa phẩm đồi trụy, độc hại, các loại hủ tục, mê tín dị đoan,…

    – Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác văn hóa, chủ động quảng bá lịch sử, văn hóa, con người, đất nước Việt Nam ra nước ngoài, góp phần xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước.

    5.3. Nhóm giải pháp về đấu tranh với các luận điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

    – Tiếp tục kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 94 và Nhóm chuyên gia các cấp; tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khảo sát để nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, có các giải pháp đấu tranh kịp thời, hiệu quả.

    – Tăng cường huy động, tổ chức lực lượng trong toàn Đảng và xã hội tham gia đấu tranh, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái; kết hợp tốt giữa đấu tranh trên mạng với tuyên truyền công khai; kết hợp giữa tuyên truyền thông qua bài viết với tuyên truyền miệng qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên.

    – Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là kỷ luật phát ngôn, không để nảy sinh những khuynh hướng, quan điểm sai trái để các thế lực thù địch có thể lợi dụng.

    – Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại theo tinh thần Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020.

    5.4. Nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí – xuất bản

    – Tăng cường chỉ đạo, định hướng kịp thời để báo chí tuyên truyền có hiệu quả các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm; nâng cao hiệu quả quản lý Internet, các thiết bị kỹ thuật số, điện thoại di động, hạn chế các thông tin có nội dụng phản động, thù địch tác động vào xã hội; xử lý nghiêm minh, kịp thời, có lý, có tình các sai phạm trên lĩnh vực báo chí, xuất bản.

    – Chăm lo công tác xây dựng Đảng, nâng cao vai trò, vị trí, tác dụng của tổ chức đảng trong cơ quan báo chí, xuất bản. Chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo, quản lý báo chí, xuất bản; cán bộ, biên tập viên, phóng viên.

    – Tiếp tục mở rộng sóng phát thanh, truyền hình ra các nước, các khu vực; đưa được sách, báo có nội dung tốt trong nước phục vụ công chúng, nhất là đồng bào ta ở nước ngoài.

    Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

    Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự – Công ty luật Minh KHuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đẩy Mạnh Công Tác Chính Trị, Tư Tưởng, Tự Phê Bình Và Phê Bình
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Trong Tình Hình Mới
  • Trao Đổi Xung Quanh “nhóm Giải Pháp Về Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng”
  • Giải Pháp Video Conference Đem Lại Lợi Ích Gì Cho Doanh Nghiệp?
  • Giải Pháp Hội Nghị Truyền Hình (Video Conference)
  • Giáo Dục Tư Tưởng, Quan Điểm, Lối Sống Văn Hóa Cho Thanh Niên Trong Cách Mạng Công Nghiệp 4.0

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Công Sở Với Sự Phát Triển Nền Hành Chính Công Vụ Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Du Lịch Các Dân Tộc Việt Nam
  • Để Làng Văn Hóa – Du Lịch Các Dân Tộc Việt Nam Mãi Lan Tỏa Giá Trị Văn Hóa, Gắn Kết Cộng Đồng Các Dân Tộc
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam
  • Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Từ Sau Đổi Mới Đến Nay
  • Bùi ThịThùy Mai – Khoa Nhà nước và Pháp luật

    Trường chính trị tỉnh Kon Tum

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

            Hoạt động giáo dục, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước đã tạo môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách. Phần lớn thanh niên tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khoẻ tốt, tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

           Tuy nhiên, nhân loại đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với tốc độ phát triển nhanh chóng và chứng minh khả năng kỳ diệu của con người trong chinh phục tự nhiên, chứng minh tri thức khoa học (đặc biệt là tri thức nhân tạo) có sức mạnh mang tính vật chất to lớn cho phép cải tạo thế giới ở trình độ cao, đúng như C. Mác đã nói: công cụ nối dài các giác quan con người. Công nghệ sinh học, công nghệ na-nô gắn với nó là sức bền vật liệu ra đời. Sự xuất hiện người máy, tự động hóa, dây chuyền sản xuất, điều khiển học ngày càng nhanh chóng, mở rộng và trình độ cao. Nhờ công nghệ thông tin, kết nối, mở rộng tầm giao lưu, giao tiếp giữa con người với con người qua mạng in-tơ-nét …. Cùng với nó là các nước lớn muốn thể hiện vai trò, thực hiện tham vọng về lợi ích, mục đích chính trị làm cho một số thanh niên Việt Nam giảm sút về đạo đức, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc….. Điều đó cho thấy, cuộc cách mạng 4.0 tác động đến hầu hết các quốc gia, dân tộc, ở tất cả các lĩnh vực và mỗi con người trên toàn thế giới một cách trực tiếp, sâu sắc. Sự kết nối nhờ thành tựu công nghệ thông tin, kỹ thuật số cũng tạo ra những cơ hội cho tiếp xúc, học hỏi được nhiều ở các nước không chỉ về thành tựu văn minh, mà còn về giá trị văn hóa một cách nhanh chóng. Thanh niên Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó.

           Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra đồng thời cả cơ hội lẫn thách thức lớn cho sự phát triển mọi mặt của thanh niên. Đặc biệt vấn đề “Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa” cho thanh niên Việt Nam hiện nay phải đối mặt với những xu hướng ấy một cách toàn diện, trực tiếp và gây cấn nhất từ trước đến nay. Cách mạng 4.0 khiến thanh niên Việt Nam không thể thờ ơ, đứng ngoài “vòng xoáy” của nó.

           Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến “Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa” cho thanh niên Việt Nam thể hiện:

           Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa cho thanh niên Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 phải luôn củng cố, kiên định mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản, cốt lõi mà từ rất sớm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta lựa chọn. Con đường đó đã được Đảng và nhân dân ta kiên trì, kiên định phấn đấu thực hiện suốt từ năm 1930 đến nay. Tầm quan trọng sống còn của mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đối với dân tộc ta đã được kiểm nghiệm; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã được khẳng định trong thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định và hiện thực hóa con đường ấy, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta đang hướng tới.

           Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa cho thanh niên Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với tốc độ phát triển nhanh chóng và sự tác động mạnh mẽ, trái chiều nhau giữa tích cực và tiêu cực từ cách mạng 4.0 một cách nghiệt ngã nhất. Vấn đề đặt ra là phải biết tận dụng cơ hội; vượt qua nguy cơ, thách thức ngay từ lựa chọn cách thức, con đường giáo dục. Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa cho thanh niên Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 phải có tính chủ động cao, định hướng sớm và khoa học thì mới có những bước đi vững chắc trong thực tiễn. Quán triệt quan điểm của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2022-2030 là phải: … tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng,…”. Những nội dung ấy là giá trị gốc thẩm thấu sâu vào cốt cách, tâm hồn, phương thức ứng xử của mỗi thanh niênViệt Nam thời kỳ 4.0.

           Giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa cho thanh niên Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 phải thấm nhuần tinh thần dân tộc, phải được tiếp nhận, chuyển hóa thành thái độ, động cơ, niềm tin, ý chí và hành vi ứng xử của mỗi con người Việt Nam một cách bền vững nhất. Cách mạng 4.0 luôn tạo ra những cái mới, sản phẩm mới, hấp dẫn, lôi cuốn và rất dễ dẫn đến tình trạng “sùng ngoại” không chỉ ở phương diện văn minh, mà còn ở lĩnh vực văn hóa, lối sống, cách giao tiếp, ứng xử… Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận và xây dựng con người”; “Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ” cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

           Một là, nhận thức đúng, đầy đủ tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ, từ đó xác định trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và toàn xã hội đối với công tác này.

           Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng. Đầu tư cho giáo dục, trong đó có giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là đầu tư cho tương lai của đất nước. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội; tạo điều kiện tối đa cho thế hệ trẻ học tập, lao động, cống hiến, là lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

           Tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục và vận động toàn xã hội thấy được ý nghĩa, vai trò, sự cần thiết của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ; nhìn nhận đúng thế mạnh, cũng như những hạn chế vốn có của giới trẻ Việt Nam, đổi mới nội dung, phương thức giáo dục thanh thiếu nhi. Lãnh đạo cấp uỷ, tổ chức đảng và chính quyền định kỳ gặp gỡ, đối thoại, nắm bắt tâm tư, tình cảm, định hướng tư tưởng, giải quyết kịp thời nhu cầu, nguyện vọng chính đáng và chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thế hệ trẻ.

           Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống về tình hình trong nước và thế giới cho thanh niên. Chú trọng tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các luận điệu, thông tin sai trái; tăng sức đề kháng cho thế hệ trẻ trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

           Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, nhất là các cơ quan báo chí, xuất bản của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Khắc phục tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, làm ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng của thế hệ trẻ. Chú trọng khai thác, sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông hiện đại, thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là Internet trong công tác giáo dục thanh thiếu nhi.

           Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục thanh thiếu nhi các cấp. Xây dựng đội ngũ làm công tác thông tin, định hướng tuyên truyền trên mạng Internet; nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, giảng viên chính trị… làm công tác giáo dục thế hệ trẻ để thiết thực đưa Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trở thành nhu cầu tự thân của mỗi thanh niên Việt Nam, với nhiều hình thức và phương pháp đa dạng, phong phú

           Hai là, xây dựng môi trường lành mạnh, tạo điều kiện để thế hệ trẻ học tập, rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành

           Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá XI về công tác xây dựng Đảng; Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên.

           Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức tự trọng, tự chủ, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống của người Việt Nam.

           Tăng cường quản lý văn hoá, thông tin, kịp thời ngăn chặn các sản phẩm văn hoá độc hại, thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của thế hệ trẻ, nhất là qua các trang mạng xã hội, trang web phản động, đồi truỵ. Có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện để các cơ quan văn hoá, văn học nghệ thuật, xuất bản, báo chí sáng tác và phổ biến tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Khai thác, phát huy hiệu quả các thiết chế và sản phẩm văn hoá hiện có; đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá mới; phát triển các loại hình giải trí lành mạnh cho thanh thiếu nhi. Xây dựng môi trường văn hoá công sở; khu dân cư tiên tiến; làng, xã, gia đình văn hoá.

           Từng bước tăng ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Ưu tiên bố trí quỹ đất và kinh phí để xây dựng trường học, công trình phúc lợi, vui chơi, giải trí cho thanh thiếu nhi.

           Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, tạo chuyển biến trong phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội (nhất là ma tuý, mại dâm, mê tín dị đoan), an toàn giao thông, bảo vệ môi trường sống, bảo đảm cho thế hệ trẻ được an toàn trong cuộc sống, học tập, vui chơi.

           Ba là, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ thời 4.0

           Đề cao vai trò, trách nhiệm của gia đình trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ thanh thiếu nhi; cùng với nhà trường giáo dục hình thành nhân cách và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho thế hệ trẻ phát triển toàn diện. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá, ông bà, cha mẹ, anh chị mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, gia đình đoàn kết, thương yêu nhau, bảo vệ cái tốt, cái đúng, chống lại cái xấu, cái ác.

           Xây dựng trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá, giáo dục, rèn luyện thanh thiếu nhi; kết hợp hài hoà giữa học chính khoá và ngoại khoá, qua đó góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Tạo điều kiện để các tổ chức Đoàn, Hội, Đội trong trường học phát huy vai trò, ảnh hưởng và tích cực tham gia quá trình giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên.

           Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị, đạo đức, bảo đảm thực chất, giúp thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc, toàn diện về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sống có văn hoá, nghĩa tình, phấn đấu thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước.

           Nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, các phong trào thi đua yêu nước; tạo điều kiện thuận lợi để thanh thiếu nhi tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó rèn luyện, cống hiến, trưởng thành.

           Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức của thanh niên

           Tăng cường giáo dục chính trị cho thế hệ trẻ bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, với sự tham gia, phối hợp có trách nhiệm của nhà trường, gia đình, đoàn thể và toàn xã hội. Thường xuyên trao đổi, đối thoại với thế hệ trẻ, kịp thời nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội trong thanh niên, nhất là ở các thành phố lớn và địa bàn nhạy cảm. Kịp thời đấu tranh, phê phán, uốn nắn nhận thức lệch lạc, biểu hiện sai trái trong cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi.

           Đề cao vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn, Hội nhân rộng điển hình tiên tiến gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy tinh thần tự học tập, rèn luyện, phấn đấu trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

           Tổ chức Đoàn, Hội chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ. Xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của hệ thống các nhà văn hoá thanh niên, trường đào tạo, báo chí, xuất bản của Đoàn trong công tác này.

           Chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thanh niên qua các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ, qua đó, vừa làm công tác giáo dục, vừa phát huy vai trò của lớp trẻ tham gia phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; đồng thời, tăng cường khả năng đoàn kết, tập hợp thanh thiếu nhi vào tổ chức.

            Năm là, sử dụng, phát huy vai trò của các công cụ hỗ trợ với công nghệ, phương tiện hiện đại trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thanh niên

           Phát huy ưu thế của cách mạng 4.0, intrernet, mạng LAN, báo chí, mạng xã hội, website chính thức của tổ chức Đoàn thanh niên… để tuyên truyền sâu rộng hơn nữa tính chất cách mạng, khoa học, tiến bộ và sự cần thiết phải rèn luyện đạo đức cách mạng trong thanh niên; giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương pháp xây dựng đạo đức cách mạng và tránh được sự giáo điều, máy móc, cảm tính, quy giản chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào một số nguyên lý, quy luật, phạm trù, nguyên tắc phương pháp luận khô khan; học không đi đôi với làm, thậm chí nói mà không làm… Qua đó, phòng và chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự làm mất đi bản chất cách mạng, khoa học, sức sống của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong thực tiễn.

           Tranh thủ cơ hội, ưu thế của cách mạng 4.0 để tăng cường giáo dục ý thức tự giác của thanh niên trong quá trình tự rèn luyện đạo đức cách mạng một cách thường xuyên, liên tục. Đồng thời, nâng cao ý thức về bản lĩnh, lòng tự trọng của tuổi trẻ khi tham gia các hoạt động trên không gian mạng; kết hợp giữa kỹ năng tự bảo vệ và ý thức trách nhiệm trước tập thể, cộng đồng khi tham gia không gian mạng để không chỉ cập nhật, sử dụng thông tin đúng, chính xác mà còn đảm bảo phản ánh đúng sự thật khách quan, có chọn lọc, kiểm định, kiểm soát chặt chẽ thông tin của mình khi “phát mạng”.

           Với những thay đổi của đất nước và thế giới hiện nay, trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là điều kiện thuận lợi để đoàn viên thanh niên Việt nam thể hiện tài năng, sức trẻ, nhiệt huyết, củng cố niềm tin, có bản lĩnh chính trị vững vàng; có hoài bão, lý tưởng, khát vọng và trách nhiệm để đưa đất nước vươn lên; có tri thức, sức khỏe, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại cống hiến hết mình vì Tổ quốc. Vì vậy, giáo dục tư tưởng, quan điểm, lối sống văn hóa thanh niên Việt Nam trong cuộc cách mạng 4.0 là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là nòng cốt, mỗi thanh niên là hạt nhân nỗ lực học tập, rèn luyện và phấn đấu không ngừng theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh như tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị (khóa XI) đã xác định. Coi đây là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ 4.0 “Tâm trong – Trí sáng – Hoài bão lớn” góp phần xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”./.

     

     

    Chỉ thị số 43-CT/TW, Ngày 24/3/2015, Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức,lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2022-2030

     

    Chỉ thị số 43-CT/TW, Ngày 24/3/2015, Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức,lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2022-2030

    Chỉ thị số 43-CT/TW, Ngày 24/3/2015, Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức,lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2022-2030

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Góc Nhìn Lý Luận
  • Văn Hóa Du Lịch
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vai Trò, Trách Nhiệm Của Người Thầy Trong Sự Nghiệp Trồng Người
  • Trọng Trách Của Công Tác Tư Tưởng Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Báo Điện Tử Của Đảng Ủy Khối Doanh Nghiệp Trung Ương
  • Chương Vii Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Các Vấn Đề Chung Của Văn Hóa
  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn, Hoạt Động Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Sở Văn Hoá, Thể Thể Và Du Lịch Tỉnh Lai Châu
  • Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • , Student at Ho Chi Minh Open University

    Published on

    Tư tưởng Hồ Chí Minh

    chương VII tư tưởng hồ chí minh về văn hóa

    1. 1. CHƯƠNG VII: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI GVHD: Cô Phạm Kim Dung Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Hòa STT 27 Lê Thị Ân Huệ STT 29 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
    2. 2. NỘI DUNG Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới
    3. 3. I. NHỮNG QUAN ĐiỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA A. Định nghĩa về văn hóa ” vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn , ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” 1. Định nghĩa về văn hóa và quan điểm xây dựng nền văn hóa mới
    4. 4. Giá trị vật chất Giá trị tinh thần VĂN HÓA Nhằm đáp ứng sự sinh tồn cũng là mục đích sống của loài người
    5. 5. b. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa Xây dựng nền văn hóa 1. Xây dựng tâm lý 2. Xây dựng luân lý 3. Xây dựng xã hội 4. Xây dựng chính trị 5. Xây dựng kinh tế
    6. 6. a. Quan điểm về Vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội Một là văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng Văn hóa Chính trị Kinh tế Xã hội 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa
    7. 7. chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển Trong quan hệ với chính trị
    8. 8. Trong quan hệ với kinh tế Phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa
    9. 9. Hai là, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy phát triển văn hóa Chính trị Văn hóa Văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia vào cách mạng, kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa Kinh tế Văn hóa Văn hóa phải phục vụ thúc đẩy việc phát triền kinh tế
    10. 10. b. Quan điểm về Tính chất của nền văn hóa Tính khoa học Chiều sâu đặc trưng của văn hóa dân tộc, Tính dân tộc Tính đại chúng Hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu thời đại , kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Phải phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng nên
    11. 11. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Tư tưởng Tình cảm Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp Chức năng cao quý nhất của văn hóa là phải bồi dưỡng, nêu cao tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, loại bỏ những sai lầm và thấp hèn Thấp hèn Cao đẹp Sai lầm Đúng đắn
    12. 12. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí Nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng đảng ” biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc.  
    13. 13. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh, hướng dẫn con người đến chân, thiện , mỹ để hoàn thiện bản thân Văn hóa giúp con người hình thành nên những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh Phải làm thế nào cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi Phẩm chất Đạo đức Đạo đức Lối sống Thói quen Phomg tục tập quán Đạo đức Lối sống Thói quen Phong tục tập quán
    14. 14. 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực của văn hóa a. Văn hóa giáo dục Nền giáo dục phong kiến Nền giáo dục thực dân Tầm chương  kinh viện  bất bình đẳng  trọng nam khinh nữ Ngu dân  đồi bại  xảo trá  nguy hiểm hơn cả sự dốt nát
    15. 15. Nền giáo dục hiện đại Mục tiêu *Thực hiện ba chức năng của văn hóa thông qua việc dạy và học Nội dung *Văn hóa *Chính trị *Khoa học- kỹ thuật *Chuyên môn nghề nghiệp *Lao động Phương châm, phương pháp *Phương châm: học đi đôi với hành *Phương pháp: phù hợp với trình độ người học, lứa tuổi Đội ngũ giáo viên *Có đạo đức cách mạng *Yêu nghề nghiệp *Đoàn kết *Giỏi về chuyên môn *Thuần thục về phương pháp
    16. 16. b. Văn hóa văn nghệ Một là, văn hóa – văn nghệ là một mặt trận. Nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cach mạng Hai là, văn nghệ phải gắn với đời sống thực tiễn của nhân dân Ba là, phải có những tác phẩm mới xứng đáng với thời đại của đát nước và dân tộc
    17. 17. c. Văn hóa đời sống Đạo đức mới Nếp sống mớiLối sống mới Sống có lý tưởng, đạo đức Cần. Kiệm, liêm, chính Xây dựng nếp sống văn minh
    18. 18. Xây dựng văn hóa đời sống mới nhằm biến Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia văn minh và phú cường là một công việc lâu dài và phải có phương pháp tốt
    19. 19. * Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức * Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
    20. 21. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
    21. 22. Đạo đức Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội Phẩm chất đạo đức cao quý Chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam và thế giới + nguồn cổ vũ động viên tinh thần mạnh mẽ.
    22. 23. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng Trung với nước, hiếu với dân Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Thương yêu con người, sống có tình nghĩa Có tinh thần quốc tế trong sáng
    23. 24. Trung với nước, hiếu với dân Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Siêng năng, chăm chỉ Tiết kiệm Trong sạch, không tham lam Ngay thẳng Công bằng, công tâm, không thiên vị Thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng Trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đối với một quốc gia, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, thể hiện sự văn minh, tiến bộ.
    24. 25. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa Có tinh thần quốc tế trong sáng Nếu không có tình yêu thương thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản trên toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, chống lại mọi sự chia rẽ, thù hằn, phân biệt chủng tộc…
    25. 27. Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Việc tu dưỡng đạo đức hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Thanh niên phải có đức, có tài. Thực hành tốt đạo đức cách mạng giúp ta vượt qua khó khăn, thử thách. Trong xã hội, mỗi người có công việc, vị trí, tài năng khác nhau, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.
    26. 28. Kiên trì tu dưỡng theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh yêu Tổ quốc Nhân dân Chủ nghĩa xã hội Lao động Khoa học và kỷ luật
    27. 29. Làm thế nào để có được những phẩm chất ấy?  Rèn luyện đức tính: trung thành, tận tụy, thật thà và chính trực.  Xác định rõ nhiệm vụ của mình.  Kết hợp học tập và rèn luyện.  Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay.  Chống lười biếng.  Chống kêu ngạo, giả dối, khoe khoang.  Phải trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Phải xác định rõ thế nào là tốt, xấu? Ai là bạn, ai là thù?
    28. 30. Thực trạng đạo đức lối sống trong sinh viên, thanh niên hiện nay Phần lớn sinh viên, thanh niên tri thức vẫn giữ được đạo đức tốt, lối sống lành mạnh. Đây là những biểu hiện không thể coi thường.
    29. 31. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 1. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. 3. Đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người. 4. Tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống. HỌC
    30. 32. III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người a. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể Chỉnh thể thống nhất về: tâm lực, thề lực và các hoạt động Con người trong tính đa dạng: Trong quan hệ xã hội  trong tính cách  trong phẩm chất  trong khát vọng  trong khả năng Sự thống nhất của 2 mặt đối lập Hay Dở Tốt Xấu Thiện ác Hiền Dữ Tính người Tính bản năng
    31. 33. b. Con người cụ thể, lịch sử Nghĩa rộng Nghĩa hẹp  ” phẩm giá con người”  “giải phóng con người”  ” người ta”  ” con người”  ” ai”  Con người trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp  Theo giới tính  Theo lứa tuổi  Theo nghề nghiệp  Trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc  Trong quan hệ quốc tế Con người hiện thực, cụ thể, khách quan
    32. 34. c. Bản chất của con người mang tính xã hội Sinh tồn Nhận thức Hiện tượng  quy luật tự nhiên, xã hội Hiểu mình, hiểu người Xác lập mối quan hệ
    33. 35. c. Bản chất của con người mang tính xã hội Sản phẩm Tổng hợp các mối quan hệ xã hội từ rộng đến hẹp, bao gồm: quan hệ anh em, họ hàng, bầu bạn, đồng bào, loài người
    34. 36. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người Con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; phải coi trọng, chăm sóc, phát huy nhân tố con người.
    35. 37. “Trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Chiến lược “trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Văn Hóa
  • Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn
  • Xây Lắp Công Trình Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Nâng Cấp Nhà Văn Hóa Và Xây Dựng 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Đại Điền (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ)
  • Nhà Văn Hóa Xã Cần “mềm” Hơn Trong Thực Hiện Tiêu Chí
  • Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Xây Mới Nhà Văn Hóa Xã Và Sửa Chữa 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Quới Điền, Huyện Thạnh Phú (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ) (Số Báo 42 Ngày 08/03/2016)
  • Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Mấy Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Ở Đơn Vị Cơ Sở Hiện Nay
  • Thực Tiễn Và Kinh Nghiệm Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Một Số Biện Pháp Để Giảng Dạy Tích Hợp Giáo Dục Dân Số Trong Bộ Môn Địa Lý Skkn Dia Tich Hop Dan So Doc
  • Các Biện Pháp Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ
  • Phương Pháp Giáo Dục Giá Trị Sống Cho Học Sinh (Kì 2)
  • Cùng với việc ban hành Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều văn bản quan trọng về giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên đã được Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành, như Quy định về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Nghị quyết về Công tác tư tưởng và lý luận trong tình hình mới; Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; về bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các nghị quyết về xây dựng Đảng; Quy định về chế độ cập nhật kiến thức đối với cán bộ, đảng viên; Hướng dẫn trao đổi, đối thoại với các cá nhân có quan điểm khác với chủ trương, đường lối của Đảng; Kết luận về đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân…

    Công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân được quan tâm thường xuyên, nhất là trong các cơ quan truyền thông đại chúng, trong hệ thống các trường đào tạo, các cơ quan lý luận của Đảng, Nhà nước, hệ thống giáo dục quốc dân, các đoàn thể chính trị, xã hội…

    Chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng không ngừng được nâng lên, ý thức rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt coi trọng. Việc học tập các môn lý luận chính trị về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội. Các chương trình được biên soạn phù hợp với từng đối tượng, như chương trình bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở thực hiện tại hơn 600 trung tâm bồi dưỡng cấp quận, huyện trong cả nước, chương trình bồi dưỡng dành cho 6 đoàn thể chính trị, xã hội. Chương trình cập nhật kiến thức cho cán bộ trung, cao cấp… Trong hệ thống giáo dục quốc dân, đây là môn thi bắt buộc trước khi kết thúc cấp học, bậc học. Đối với cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, đây là yêu cầu cơ bản để đánh giá nhận thức khi tuyển dụng, thi nâng ngạch bậc cán bộ, công chức. Cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý đều phải thực hiện chương trình cập nhật kiến thức, cán bộ thuộc diện quy hoạch sẽ học các lớp dự nguồn ở Trung ương hoặc do địa phương tổ chức. Tất cả cán bộ, đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị đều phải học tập, quán triệt là yêu cầu và là một tiêu chí quan trọng để đánh giá phẩm chất, năng lực cán bộ.

    Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Phuông trao giải tại Hội thi Giảng viên Lý luận chính trị giỏi toàn quốc năm 2022.

    Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng cũng phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn đất nước; không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, kiên quyết đấu tranh, phê phán giáo điều, cơ hội, xét lại; phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

    Hai là, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, coi trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm đúng mức công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; nắm vững tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên, kịp thời định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin.

    Ba là, đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng, lý luận; trực tiếp là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp đối tượng. Đa dạng hóa các hình thức học tập đi đôi với tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại, đầu tư cơ sở vật chất thích hợp.

    Bốn là, coi trọng ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng đi đôi với hoàn thiện văn bản pháp luật, quy định về quản lý cán bộ, đảng viên.

    Năm là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên phải làm thường xuyên, liên tục; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan đơn vị và ý thức tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên.

    Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng là một biện pháp quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên. Từ học tập chuyển sang làm theo, từ cuộc vận động chuyển sang làm thường xuyên, đi vào chiều sâu, đề cao sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu. Qua đó, kết hợp công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với việc đề cao tự rèn luyện, nói đi đôi với làm, “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, lấy việc giáo dục truyền thống, học tập và làm theo Bác để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện mới…

    2. Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, sức mạnh tổng hợp, thế và lực của nước ta tăng lên rõ rệt, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; uy tín của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, tình hình trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, những yếu kém trong quản lý kinh tế, sự phân hóa giầu nghèo, tồn tại một số điểm nóng, bức xúc xã hội, khiếu kiện về đất đai, môi trường chậm được giải quyết, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn diễn biến phức tạp; sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là sử dụng mạng xã hội, facebook, tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, những diễn biến phức tạp về tình hình biển Đông… đòi hỏi công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên trong điều kiện mới phải được quan tâm hơn nữa, đổi mới cả về nội dung, phương thức thực hiện. Trong thời gian tới cần tập trung một số nhiệm vụ cơ bản như sau:

    Thứ nhất, các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, nhất là người đứng đầu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, thực hiện thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị, coi đó là một tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải nêu gương về ý thức, thái độ học tập lý luận, coi đây là công việc thường xuyên, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong từng nhiệm kỳ đại hội Đảng, cấp ủy đảng, chính quyền phải xây dựng kế hoạch hàng năm, căn cứ theo từng đối tượng cán bộ, đảng viên để xây dựng nội dung, chương trình, loại hình tổ chức học tập phù hợp. Đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân, phát huy vai trò của tổ chức, chi bộ đảng trong giám sát, tổ chức thực hiện.

    Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng là một biện pháp quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên

    Thứ hai, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, phù hợp với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm công tác cán bộ của Đảng ta. Bên cạnh các định hướng nghiên cứu lớn, quan trọng đã được nêu trong Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, khóa XII về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, xác định những vấn đề trọng điểm cần nghiên cứu, làm rõ những nội dung căn bản, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, chỉ rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển, nhất là dưới tác động của các yếu tố thời đại như toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp 4.0, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Tổng kết thực tiễn những mô hình hay, kinh nghiệm tốt trong và ngoài nước.

    Thứ tư, quy hoạch lại hệ thống các trường đào tạo, cơ sở nghiên cứu vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, tránh phân tán, trùng lắp vừa tạo ra những trung tâm mạnh về từng lĩnh vực lý luận chính trị, đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng các chuyên gia đầu đàn, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế.

    Thứ năm, phát huy vai trò của hệ thống các cơ quan báo chí, truyền thông trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Coi trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho lãnh đạo, phóng viên các cơ quan báo chí. Thí điểm một số hình thức đấu thầu, giao nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xuất bản về một số nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị chuyên sâu, đặc thù, hiệu quả và phù hợp, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa.

    Coi trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho lãnh đạo, phóng viên các cơ quan báo chí. Thí điểm một số hình thức đấu thầu, giao nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xuất bản về một số nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị chuyên sâu, đặc thù, hiệu quả và phù hợp, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa.

    Thứ sáu, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao tính chủ động, phát hiện, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên mạng xã hội… chủ động cung cấp thông tin, kiện toàn lực lượng, đặc biệt là các bộ phận chuyên trách không gian mạng, đảm bảo nhanh nhạy, hiệu quả. Quán triệt quan điểm xây và chống trong phê phán quan điểm sai trái, thù địch với ngăn chặn đẩy lùi “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng, chính trị và đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tập trung xử lý những điểm nóng, những bức xúc, nổi cộm./.

    Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo in số 4/2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Sai Lầm Phổ Biến Trong Cách Dạy Con Của Cha Mẹ Hiện Nay
  • Những Nguyên Tắc Vàng Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Suy Nghĩ Của Anh Chị Về Cách Giáo Dục Con Cái
  • Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Trình Bày Suy Nghĩ Những Biện Pháp Trong Giáo Dục Con Cái Của Bố Mẹ Để Có Gia Đình Hạnh Phúc
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Giáo Dục Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu, Biên Soạn, Tuyên Truyền, Giáo Dục Lịch Sử Đảng
  • Chương 3: Bài 2: Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Đạo Đức
  • Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về chức năng giáo dục của văn học.

    Văn học có bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí. Trước hết, phải kể đến chức năng nhận thức. Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh của văn học. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống. Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có người nói: Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Tuy nhiên, văn học không đơn thuần phản ánh hiện thực mà chủ yếu là giúp con người nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về bản thân minh và mối quan hệ tổng hòa trong cuộc sống, góp phần giáo dục con người thông qua tác phẩm. Người ta gọi đó là chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.

    Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời thường. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng. Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn.

    Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta.

    Từ ngàn xưa, văn học dân gian đã làm tốt chức năng giáo dục. Những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười… đều nhằm phản ánh hiện thực đời sống dưới những góc độ, màu sắc khác nhau. Nhưng bao trùm lên hết thảy vẫn là khát vọng hiểu biết yà chinh phục, là ước mơ công lí, chính nghĩa, là mục đích vươn lên, đạt tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của con người. Một nhà văn xưa đã nói: Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ. Bởi thế nên các tác phẩm xứng đáng gọi là văn chương có tác động mạnh mẽ tới tâm tư, tình cảm người đọc, giúp người đọc có được một thê giới quan và nhân sinh quan đúng đắn.

    Đặc điểm của văn học là thông qua các sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ của mình về nội dung nghệ thuật của tác phẩm và những vấn đề có tính chất xã hội, tính chất triết lí mà tác giả đặt ra. Trong những năm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà văn hiện thực phê phán đã lên tiếng tố cáo xã hội thực dân phong kiến đẩy con người vào cuộc sống cùng khổ, bế tắc, vào thân phận nô lệ. Ngô Tất Tố đã vẽ nên bức tranh ảm đạm, thê lương của nông thôn Việt Nam trong mùa sưu thuế; phản ánh số phận đen tối, thảm thương của người nghèo. Nam Cao đau xót, phẫn uất trước thực trạng xã hội đầy rẫy bất công, vô nhân đạo đã giết chết phần tốt đẹp trong con người, tước đoạt quyền làm người của kẻ bị áp bức. Tiểu thuyết Tắt đèn, truyện ngắn Chí Phèo, tiểu thuyết Bước đường cùng… như những tiếng chuông cảnh tỉnh kêu gọi mọi người hãy cứu lấy nhân tính đang bị giai cấp thống trị tước đoạt và chà đạp trắng trợn. Tinh thần nhân đạo của các tác giả còn thể hiện ở việc miêu tả con người với những khát vọng đổi đời, với tinh thần dũng cảm đấu tranh để khẳng định bản lĩnh, phẩm giá và lí tưởng sống của mình.

    Đọc những tác phẩm văn chương đích thực, người đọc dần dần nhận thức và xác định được hướng đi đúng đắn cho mình. Văn học định hướng cho cá nhân những điều kiện cần thiết để tiến tới hoàn thiện nhân cách. Lẽ ghét thương của ông Ngư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bản chất của tầng lớp sĩ phu: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quan niệm đạo đức của nhà thơ mù yêu nước tiêu biểu cho quan niệm đạo đức của phần lớn nhân dân Nam Bộ thế kỉ XIX:

    Trai thời trung hiếu làm đầu,

    Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

    (Lục Vân Tiên)

    Khí phách hiên ngang cùa người anh hùng Từ Hải; đức hi sinh đáng ca ngợi của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du; nhân cách cao thượng của nhân vật Huấn Cao trong kiệt tác Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân; những bài học phấn đấu, tu dưỡng quý giá của người tù – thi sĩ cộng sản Hồ Chí Minh; nhiệt thành yêu nước, khát khao chân lí cách mạng của người thanh niên xứ Huế Tố Hữu… đểu tác động sâu xa tới trái tim người đọc và lưu lại những bài học đạo lí muôn đời. Lòng yêu nước, quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục khẳng định truyền thống bất khuất chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam đã được đưa vào văn chương chống Pháp, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm công dân trong mỗi con người.

    Các nhà văn chân chính là những người có tâm hồn đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, an ủi người nghèo khổ, vạch trần và lên án cái xấu, biểu dương, ca ngợi cái tốt… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và vươn lên của con người. Hình tượng điển hình trong thơ văn truyền cho người đọc một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả của cuộc sống; đồng thời cũng chỉ ra đâu là cái xấu, cái ác cần lên án và xóa bỏ để cuộc đời và con người ngày càng tốt đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Anh Chị Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Mình Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • 5 Biểu Hiện Cảnh Báo Bệnh Gan Yếu Thường Gặp?
  • Gan Yếu Nổi Mề Đay: Biểu Hiện Nhận Biết Và Hướng Điều Trị
  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan Tốt Nhất Hiện Nay
  • Những Món Cực Độc Người Gan Yếu Cần Tránh Để Khỏi Mất Mạng
  • Công Tác Giáo Dục Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ
  • Các Giải Pháp Quản Lý Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ Trong Lĩnh Vực Công Nghệ Tại Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Tuyên Truyền Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật Trên Địa Bàn Thành Phố Trà Vinh
  • Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

    cho đội ngũ cán bộ, giáo viên ngành giáo dục và đào tạo tỉnh từ nay đến năm 2022

    1. Tình hình tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục trong thời gian qua
    2. Về ưu điểm

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức, nhất là đạo đức của người cách mạng. Bác viết: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ”. Theo Người, “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, không có gốc thì cây héo. Người làm cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Quán triệt tư tưởng về đạo đức của Người, trong các năm qua cán bộ, giáo viên ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai luôn tận tâm phục vụ lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc; luôn có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tốt; có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác quản lý và giảng dạy.

    Bên cạnh đó, cán bộ quản lý và giáo viên của ngành giáo dục tỉnh luôn chấp hành nghiêm túc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tận tụy, sáng tạo, có ý thức tổ chức kỷ luật, có đạo đức, lối sống lành mạnh, tích cực học tập, rèn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kiên định trước khó khăn, thách thức, không ngừng tham gia học tập và tự học nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nhận thức chính trị, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của xã hội. Giữ gìn tư cách đạo đức, nhân cách và hình mẫu mô phạm của người thầy; nghiêm túc chấp hành quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Có ý thức thực hiện cuộc vận động “hai không” trong giáo dục với bốn nội dung: “Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, vi phạm đạo đức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm lớp”.

    Đến nay, toàn ngành hiện có trên 8.960 đảng viên/32.631 CB, GV, CNV. Đây là lực lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu trong các hoạt động đặc biệt là trong triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

      Về hạn chế, khuyết điểm: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

    Bên cạnh những ưu điểm mà cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai đạt được vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục như: Một bộ phận nhỏ cán bộ, giáo viên, công nhân viên còn hạn chế về năng lực; không tự giác học tập để nâng cao năng lực sư phạm, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ giáo dục. Một số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của ngành giáo dục của tỉnh chưa đạt chuẩn về trình độ, chưa quan tâm đến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.

    Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên là do nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

    Những nguyên nhân khách quan: Do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, đời sống giáo viên dù đã có nhiều cải thiện song phần nào vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cuộc sống; do còn khoảng trống trong cơ chế, chính sách, pháp luật, do công tác quản lý cán bộ, giáo viên đôi lúc còn chưa chặt chẽ…

    Nguyên nhân chủ quan là từ cá nhân mỗi cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục tỉnh chưa cố gắng học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc; chưa cố gắng vượt khó trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ; chưa rèn luyện tư tưởng đạo đức, nâng cao bản lĩnh để vượt qua các cám dỗ về vật chất, chạy theo lợi ích cá nhân.

    1. Mục đích – yêu cầu
    2. Mục đích: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

    – Nhằm nâng cao nhận thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, giáo viên.

    – Nâng cao tính chính trị, tính gương mẫu, nêu gương trong đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; động viên khắc phục khó khăn nêu cao tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

      Tăng cường nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên về vai trò của giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho sinh học sinh, sinh viên trong phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH

    Tăng cường nhận thức của đội ngũ cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục về vai trò của giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh sinh viên là một việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với sự nghiệp giáo dục của tỉnh hiện nay, đây là một yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển con người trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục đó là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

    Có thể khẳng định, một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục nước ta là giáo dục nhân cách, giáo dục làm người. Tư tưởng, lối sống là biểu hiện của nhân cách được hình thành và phát triển trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Muốn giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên đạt hiệu quả thì cán bộ, giáo viên cần phải là những người có tư cách đạo đức tốt, không được phép phạm sai lầm về đạo đức và là tấm gương mẫu mực, xử lý các vấn đề kỹ năng trong cuộc sống linh hoạt, hiệu quả để học sinh, sinh viên noi theo.

    Việc dạy học phải bắt đầu từ những kỹ năng sống gắn với thực tế, tình huống cụ thể và những quy tắc, quy định văn hóa đạo đức phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, sinh viên trong nhà trường.

    2.1. Cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục Giải pháp: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngcần xác định đúng vị trí của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường

      Những vấn đề trọng tâm của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

    Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đào tạo đã chỉ rõ: Giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống; giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên là một việc làm rất quan trọng, cần được toàn xã hội, ngành giáo dục và đào tạo quan tâm hàng đầu, do đó công tác này phải được cấp ủy, các nhà quản lý giáo dục quan tâm chỉ đạo và đầu tư nhân lực và vật lực.

    Việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bồi dưỡng lý tưởng, nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh và kỹ năng sống cho sinh viên học sinh nhằm hình thành những lớp công dân sống có lý tưởng, có bản lĩnh, nhân cách sống và kỹ năng sống chủ động, tích cực trong xã hội.

    2.2. Đổi mới nội dung và nhân rộng các hình thức tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường

    Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh là điểm cuối cùng, là khâu then chốt trong giáo dục mà nhà trường phổ thông cần đạt đến. Việc các thầy cô truyền đạt tri thức của nhân loại thông qua các môn học trong nhà trường cũng nhằm để cung cấp cho các em hiểu, nhận thức ra lẽ sống, lý tưởng sống kiến thức và kỹ năng để trở thành một con người sống tích cực và hướng thiện.

    Để xác định đúng vị trí của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên trong các trường học trên địa bàn tỉnh cần tập trung một số giải pháp sau:

    Một là, 100% cán bộ, giáo viên trong trường học được quán triệt về quan điểm chỉ đạo về tăng cường nội dung công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh vào trong kế hoạch giảng dạy của nhà trường, coi đây là một trong những nhiệm vụ then chốt của công tác giáo dục.

    Hai là, đối với các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy bộ môn đều phải lên chương trình lồng ghép, tích hợp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh trong bộ môn mình đảm nhiệm tùy theo từng cấp học.

    * Giải pháp:

    Ba là, đối với giáo viên là Bí thư Đoàn trường và tổng phụ trách Đội phải xây dựng chương trình hoạt động trong đó tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh, xây dựng môi trường văn hóa học đường.

    Bốn là, tập trung giáo dục, tạo môi trường cổ vũ, hỗ trợ, định hướng học sinh trong việc hình thành lý tưởng sống tốt đẹp, xây dựng lối sống đẹp, văn hóa học đường, đồng thời ngăn chặn, xóa bỏ các hiện tượng: sống không có hoài bào, ước mơ, không có lý tưởng; không có ý thức giữ gìn trật tự và vệ sinh nơi công cộng; ăn mặc không phù hợp với lứa tuổi và hoàn cảnh; gian lận trong thi cử; vi phạm qui chế trường học, nội qui lớp học; đồng thời tăng cường hình thành và rèn luyện các kỹ năng sống có giá trị…

    Một trong các nhiệm vụ mà ngành giáo dục và đào tạo hướng đến trong thời gian tới là đổi mới nội dung và nhân rộng các hình thức tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường thông qua các việc làm cụ thể như:

    2.3. Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị và kỹ năng sư phạm cho cán bộ quản lý và giáo viên

    – Các môn học đều phải có nội dung tích hợp giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh. Qua đó, giúp cho sinh viên học sinh xác định đúng đắn mục đích, động cơ, thái độ học tập và rèn luyện.

    * Giải pháp:

    – Đổi mới phương pháp giáo dục và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đa dạng và phong phú, cụ thể dưới nhiều hình thức.

    – Khích lệ và tạo điều kiện để học sinh tham gia các hoạt động của địa phương, nhà trường, của các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội…

    Một là, tổ chức các hội thi, cuộc thi viết, thi thuyết trình, các diễn đàn… với những nội dung về tăng cường giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh qua đó góp phần định hướng giá trị sống, lý tưởng sống cho học sinh.

    Hai là, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các đơn vị nhằm học hỏi những mô hình hay, nhưng cách làm sáng tạo và hiệu quả nhằm nhân rộng và triển khai tốt các nội dung giáo dục đạo đức lối sống và kỹ năng sống.

    Ba là, mời các chuyên gia tham vấn tâm lý hoặc những thầy cô có kinh nghiệm cũng như uy tín trong học sinh để nói chuyện theo các chuyên đề, qua đó nhằm gợi mở, nắm bắt tư tưởng và định hướng cách nghĩ cho học sinh

    Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ngành giáo dục và đào tạo tỉnh nhà đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đã có bước trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, phát huy được những kết quả đạt được, trong thời gian tới đội ngũ cán bộ và giáo viên cần được nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao nhận và phẩm chất chính trị, đạo đức, tính gương mẫu… Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy, mềm hóa các hình thức chuyển tải kiến thức và linh hoạt hoạt trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh.

    Một là, Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành tập huấn cho giáo viên ở từng cấp học về phương pháp tích hợp, lồng ghép các nội dung giáo dục chính trị tưởng, đạo đức lối sống và kỹ năng sống, trong đó sẽ tập huấn cho giáo viên ở những bộ môn cụ thể.

    Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường học bằng các việc làm cụ thể như:

    – Coi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL) là hoạt động cơ bản được thực hiện có mục đích, tổ chức có kế hoạch.

    Hoạt động GDNGLL không phải là một hoạt động “phụ khóa” mà nó thực sự là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong các hoạt động giáo dục.

    – Hoạt động GDNGLL là “cầu nối” tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường với xã hội.

    * Về đạo đức nghề nghiệp

    Thông qua hoạt động GDNGLL nhà trường và học sinh có điều kiện phát huy vai trò tích cực của mình đối với cuộc sống xã hội. Hoạt động GDNGLL vừa có mục đích giáo dục học sinh vừa có mục đích phục vụ xã hội; mặt khác, GDNGLL là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh của cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục học sinh và phát triển nhà trường.

    Ba là, đối với đội ngũ cán bộ Đoàn và tổng phụ trách Đội trong trường học, một năm sẽ tham gia tập huấn ít nhất 02 đợt, trong đó sẽ tập trung tập huấn về các nội dung như: kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ Đoàn – Đội trường học, nội dung sinh hoạt chi Đoàn – chi Đội, phương pháp đổi mới nội dung hình thức công tác giáo dục của Đoàn trong trường học, kỹ năng tổ chức các chương trình dã ngoại, tổ chức các hội thi… qua đó nhằm tăng cường đổi mới và sáng tạo trong tổ chức hoạt động của tổ chức Đoàn – Đội, để hoạt động Đoàn – Đội trong trường học thực sự thu hút học sinh, sinh viên

    2.4. Nêu cao tính chuẩn mực, gương mẫu của cán bộ, giáo viên đối với sinh viên học sinh thông qua việc nâng cao nhận thức chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức, lối sống (Căn cứ theo chuẩn về đạo đức nhà giáo (Ban hành kèm theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

    – Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trư­ơng, đ­ường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nư­ớc; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

    * Về lối sống, tác phong

    – Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.

    – Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội.

    – Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, l­ương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, th­ương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lư­ợng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng.

    – Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành.

    – Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.

    – Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.

    * Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo

    – Sống có lý tư­ởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    – Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo.

    – Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học.

    – Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người học; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật.

    – Xây dựng gia đình văn hoá, thư­ơng yêu, quý trọng lẫn nhau; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng.

    – Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.

    – Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.

    – Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp.

    – Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp, ngư­ời khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác.

    – Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.

    – Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.

    – Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng.

    – Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    – Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.

      Chủ động nắm bắt và định hướng dư luận trong học sinh, sinh viên

    – Những vấn đề có tính phức tạp cần kịp thời báo cáo với ban lãnh đạo nhà trường, tổ công tác xử lý thông tin dư luận của nhà trường (theo tinh thần chỉ đạo tại Kế hoạch số 177 ngày 28/11/2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai) để giải quyết và báo cáo ban ngành chức năng.

      Đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) gắn với việc thực hiện chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương”

    Có thể khẳng định, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, của dân tộc ta, mãi mãi là nguồn sáng bất tận soi rọi vào mỗi tâm hồn con người Việt Nam, hướng cho mọi người đến với chân, thiện, mỹ của cuộc sống. Học tập và làm theo phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giáo dục ở nước ta hiện nay, giúp cán bộ, giáo viên phải luôn tự tu dưỡng, rèn luyện để trở thành những người có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống giản dị, trong sáng, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích hoạt động của mình.

    Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh nhằm mục đích làm cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, công chức, viên chức không ngừng rèn luyện để hoàn thiện về phẩm chất và nhân cách của mình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục của thời đại mới. Việc học tập và rèn luyện sẽ giúp cho mỗi cán bộ, giáo viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để không ngừng tiến bộ và phát triển.

    Hiện nay, khi mà toàn Đảng, toàn dân đang thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thì việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương có ý nghĩa rất to lớn, góp phần làm cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ có hiệu quả thiết thực hơn.

    Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Phong cách quần chúng trong tư tưởng của Người thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Theo Người, phong cách quần chúng của người cán bộ cách mạng là hết sức cần thiết, nhờ đó mà sâu sát, liên hệ mật thiết với nhân dân, không mắc bệnh chủ quan, không quan liêu, đại khái, ham chuộng hình thức. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: Sâu sát quần chúng là biểu hiện quan trọng nhất của phương pháp làm việc Xã hội Chủ nghĩa, nó đối lập với lề lối làm việc quan liêu, hống hách, cửa quyền của bọn quan lại cai trị dưới chế độ cũ. Người cũng cho rằng: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu”. Do vậy, rèn luyện phong cách quần chúng trong công tác luôn là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách quần chúng của người cán bộ, giáo viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

    Người cán bộ, giáo viên phải luôn có lòng tin tuyệt đối vào đồng nghiệp và học sinh sinh viên; biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của học sinh, sinh viên; coi kết quả giáo dục nhân cách và tri thức cũng như lợi ích của học sinh, sinh viên là mục đích trung tâm; phải biết dựa vào học sinh để xây dựng kế hoạch và có phương pháp giáo dục, giảng dạy cho sát, cho đúng, đồng thời biết dựa vào học sinh, biết tổ chức, động viên, huy động được tiềm năng, sức mạnh của các em để thực hiện thắng lợi kế hoạch đã đề ra để đạt kết quả cao trong giảng dạy và học tập. Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, giáo viên phải thành tâm, kiên trì trong việc giác ngộ, giáo dục học sinh. Muốn cho học sinh thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ, giáo viên phải thành tâm, phải chịu khó lắng nghe, phải khéo khơi cho các em bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình. Người thường dạy rằng “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Một khi đã có sự đồng thuận từ phía các đồng nghiệp và từ phía phụ huynh và các em học sinh thì sự nghiệp giáo dục dù có khó khăn đến mấy cũng giải quyết được.

    Để có được phong cách quần chúng, Người nhấn mạnh cán bộ đảng viên cần có sự rèn luyện, trau dồi đạo đức tác phong, phải thực sự hòa mình với quần chúng, phải “từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, hiểu quần chúng mới có thể gần gũi quần chúng và được quần chúng yêu mến. Một khi đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh yêu mến, kính trọng và tin yêu thì việc gì dù có khó mấy cũng thành công.

    Bên cạnh đó, phong cách dân chủ cũng được thể hiện rất rõ trong phong cách của Hồ Chí Minh. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người nói: “Dân chủ là của cải quý báu nhất của nhân dân, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”. Người quan niệm cái gì có lợi cho nhân dân, cho dân tộc là chân lý và Người xem phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý, làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng.

    Đối với người cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên luôn cần hiểu học sinh, sinh viên mình, sẵn sàng học ở đồng nghiệp, dùng kinh nghiệm của đồng nghiệp để bồi đắp thêm cho kinh nghiệm của mình. Dân chủ là phải có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và thống nhất của cấp trên theo nguyên tắc dân chủ tập trung, tập thể lãnh đạo – cá nhân phụ trách; dân chủ phải gắn với vai trò chịu trách nhiệm của cá nhân. Dân chủ càng rộng rãi, thì trách nhiệm của cá nhân càng lớn, càng tập trung; trách nhiệm cá nhân phải thể hiện được bản lĩnh dám làm, dám chịu trách nhiệm, không đùn đẩy cho tập thể; người đề ra quyết định phải chịu trách nhiệm với những quyết định của mình. Cương vị lãnh đạo càng cao thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thực sự, chứ không phải hình thức. Đồng thời, phải nhất quán trong tư tưởng, chỉ đạo và triển khai thực hiện công tác giảng dạy tri thức và đạo đức cho học sinh, trung thành với mục tiêu của Đảng, luôn luôn đề cao cảnh giác với các thủ đoạn của kẻ xấu nhằm vào học sinh sinh viên, gắn bó và tôn trọng tập thể; đặt lợi ích của học sinh lên trên hết. Quyền của học sinh, sinh viên bao giờ cũng phải gắn với nghĩa vụ của học sinh, không thể tách rời. Phải tạo điều kiện và khuyến khích học sinh bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của các em, muốn vậy phải thật gần gũi các em, tạo không khí cởi mở, chia sẻ và tôn trọng học sinh để phát huy tính chủ động, tư tin của học sinh trong quá trình học tập.

    Có thể nói, người giáo viên nhất là cán bộ quản lý giáo dục phải biết cách tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người, của tập thể để phấn đấu cho mục tiêu chung. Mà muốn làm được vậy, phải tạo ra được một không khí dân chủ thực sự trong nội bộ, tuyệt đối không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định hoặc gây khó khăn, phiền hà cho giáo viên và học sinh sinh viên. Biết gắn bó và tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, thông qua việc tạo ra không khí phấn khởi, hăng hái, sáng tạo trong công việc. Người cán bộ, giáo viên phải nghiêm túc thực hành kỷ luật, thực hiện nghiêm túc kỷ luật của cơ quan, đơn vị mình đây cũng chính là đạo đức của người giáo viên. Thực hiện tốt phong cách dân chủ là góp phần thắng lợi trong sự nghiệp giáo dục của thời kỳ mới.

    Phong cách nêu gương, theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, ở mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo. Nói đi đôi với làm, đối lập với nói mà không làm của những người hứa suông hoặc “nói một đằng, làm một nẻo” của những kẻ cơ hội. Tự mình phải gương mẫu thực hiện nêu gương trước mới giúp người khác làm theo, bản thân mình không gương mẫu thì không thể nói ai được.

    Có thể khẳng định, nêu gương có vai trò hết sức to lớn đối với việc hoàn thiện đạo đức con người. Trong gia đình thì người con chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cha mẹ. Người anh, người chị phải là tấm gương đối với em. Trong tổ chức, tập thể, những người lãnh đạo phải là tấm gương cho cấp dưới. Trong nhà trường, thầy cô phải là tấm gương sáng đối với học trò…

    Vì thế là người cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, có thể nói trước hết cần phải nêu gương trên ba mối quan hệ đó là: đối với mình, đối với đồng nghiệp, đối với học sinh và việc học tập nghiên cứu, giảng dạy. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với đồng nghiệp và học sinh luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc học tập và giảng dạy dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư) hết lòng vì đồng nghiệp và học trò; thường xuyên học và tự học nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực quản lý lãnh đạo… để phục vụ công tác ngày một tốt hơn.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên, trước dân chúng, không phải chúng ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là được người ta tôn trọng, mà muốn lãnh đạo nhân dân “mình phải làm mực thước cho nhân dân bắt chước”. Trong phong trào xây dựng đời sống mới, xây dựng xã hội mới, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực hiện phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, nghiêm túc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa xỉ. Có như thế người cán bộ cách mạng mới được dân mến, dân tin, dân phục, mới có thể công tâm, sâu sát, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

    nghe nhạc: Nhạc thiếu nhi vui nhộn hay nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Một Số Giải Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Cho Sinh Viên Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Khắc Phục Bệnh Thành Tích Là Nhiệm Vụ Quan Trọng, Thường Xuyên Của Ngành Giáo Dục
  • Ngành Giáo Dục Chuyển Biến Tích Cực Trong Khắc Phục “bệnh Thành Tích”
  • Khắc Phục Bệnh Thành Tích Trong Giáo Dục…
  • Bệnh Thành Tích Trong Công Tác Giáo Dục Cần Được Khắc Phục Ngay
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền, Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Đảng Viên Trong Đảng Bộ Khối Cơ Sở Bộ Giao Thông Vận Tải
  • Gò Vấp: Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Trong Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị Ở Đơn Vị Cơ Sở Hiện Nay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Ở Đơn Vị
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một buổi tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết tại Đảng bộ Công ty Cầu đường 3 .

    Tìm hiểu chúng tôi được biết, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh có 644 đảng viên, sinh hoạt tại 24 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, gồm 4 đảng bộ, 20 chi bộ cơ sở, 28 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; 1 tổ chức cơ sở đảng thuộc loại hình cơ quan hành chính, 23 tổ chức cơ sở đảng thuộc loại hình doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại ở các ngành, lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, tạo thu nhập, việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh như: Điện, nước, ngân hàng, xăng dầu, cầu đường, bưu điện, viễn thông, xổ số, bảo việt, chè, giống vật tư, thủy nông, tư vấn tổng hợp, dược vật tư y tế, sách thiết bị trường học,…

    Đảng bộ luôn xác định công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên,người lao động là một trong những nội dung cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, nhằm góp phần nâng cao nhận thức về Đảng cũng như xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao. Ban Thường vụ Đảng ủy chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường nắm tình hình tư tưởng và tâm trạng xã hội trong toàn Đảng bộ. Theo đó, 100% chi, đảng bộ cơ sở chú trọng tăng cường lãnh đạo,chỉ đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phổ biến, quán triệt kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh tuyên truyền, đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch… đến cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động trong các doanh nghiệp, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch của cấp mình phù hợp với đặc điểm, điều kiện ở từng cơ sở.

    Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị được chú trọng thực hiện. Nhiều cấp ủy cơ sở quan tâm chủ động nắm chắc tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động để đề ra các giải pháp chính trị, tư tưởng phù hợp, hiệu quả. Tạo điều kiện chọn cử cán bộ có trong quy hoạch, kế hoạch để đào tạo, bồi dưỡng. Phối hợp với Trường Chính trị tỉnh mở lớp Trung cấp LLCT; Đảng ủy mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới, bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho đối tượng kết nạp đảng, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng đảng.

    Nhờ đó, cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động trong toàn Đảng bộ luôn có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tin tưởng vào đường lối đổi mới, vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, các hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật; đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật của Nhà nước, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống âm mưu ” diễn biến hòa bình ” của các thế lực thù địch. Qua đánh giá năm 2022, có 94,25% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

    Đặc biệt là từ công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã tạo được sự đồng thuận, đồng tâm trong cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động, trở thành nền tảng để các đơn vị trong khối khai thác tiềm năng và nguồn lực thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Trong đó, các doanh nghiệp trong khối ngân hàng triển khai nghiêm túc các chính sách về tiền tệ, tín dụng, thu nợ kịp thời, hạn chế tình trạng nợ xấu trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong khối dịch vụ nông nghiệp bám sát diễn biến thời tiết và nhu cầu sản xuất, cung ứng vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho bà con nông dân. Các doanh nghiệp trong khối kinh doanh – tổng hợp bảo toàn và phát triển về vốn sản xuất, đảm bảo chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc sử dụng điện, xăng dầu và các dịch vụ bưu chính viễn thông, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.

    Đảng bộ Viễn thông Lai Châu có 38 đảng viên, là một trong những đơn vị có nhiều giải pháp hiệu quả trong giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo nền tảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đề ra. Chia sẻ với chúng tôi, đồng chí Pờ Thị Hiền – Bí thư Đảng bộ cho biết, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là trách nhiệm trước hết và trực tiếp của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu Đảng bộ. Đảng bộ tăng cường nâng cao chất lượng công tác nắm bắt tình hình, diễn biến tư tưởng và dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên, công nhân viên để định hướng đúng, kịp thời. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, chú trọng sinh hoạt chuyên đề theo từng quý; đề ra các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể; kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng bộ. Đổi mới việc học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng theo hướng lựa chọn những nội dung cơ bản và thiết thực sát hợp; coi trọng việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình hành động, kế hoạch thực hiện các nghị quyết. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên luôn đoàn kết, nỗ lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tích cực thực hiện các hoạt động nhân đạo, từ thiện, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

    Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ công nhân viên, người lao động, trong thời gian tới, Đảng bộ khối tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.Quản lý chặt chẽ và nắm chắc tình hình cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật, chấp hành nghiêm Quy định 19 điều đảng viên không được làm. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện lời Bác dặn trong thư gửi đồng bào và cán bộ Lai Châu, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện hiện đại. Đặc biệt cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền. Chú trọng bồi dưỡng nghiệp vụ, trau dồi kỹ năng, kinh nghiệm công tác, những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong nước, quốc tế cho đội ngũ báo cáo viên các cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Quản Lý Giáo Dục
  • Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Lê Quý Đôn
  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu, Đào Tạo Trong Giáo Dục Bậc Đại Học Thông Qua Công Tác Xếp Hạng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
  • Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Dịch Vụ Khám Chữa Bệnh, Hot
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Từ Sau Đổi Mới Đến Nay
  • Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Việt Nam Với Việc Xây Dựng Sức Mạnh Mềm Việt Nam Trong Bối Cảnh Mới
  • 10 Tính Năng Cần Phải Có Của Website Thương Mại Điện Tử
  • 72 Tính Năng Cần Có Của Một Website Thương Mại Điện Tử
  • 13 Tính Năng Của Website Thương Mại Điện Tử Nhất Định Phải Có!
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà Người còn là một nhà văn hoá lỗi lạc, một danh nhân văn hoá thế giới. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá mới Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. 

    Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vẫn luôn là một điểm tựa tinh thần vững chắc. Đồng thời, với sức sống mãnh liệt, tự nó, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá đã và đang trở thành một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam. 

    Nền văn hoá Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh có những đặc trưng cơ bản sau đây: 

    1. Thấm đẫm tính dân tộc, hiện đại và nhân văn Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Quan điểm này tiếp tục tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”. Theo Hồ Chí Minh, nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá có gốc rễ, cội nguồn từ  truyền thống văn hoá dân tộc, thể hiện tâm hồn, cốt cách, bản sắc của con người Việt Nam. Nền văn hoá ấy kế thừa truyền thống văn hoá của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là truyền thống yêu nước thương nòi, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng; tinh thần nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất; tinh thần dũng cảm, kiên cường bất khuất, mưu trí, gan dạ trong chống giặc ngoại xâm… Những truyền thống ấy không những phải được giữ gìn mà còn phải được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá hiện nay. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc. Người căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”; “Con đường đúng đắn duy nhất là xây dựng một nền văn hoá nghệ thuật xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sỹ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng… Về sáng tác, thì cần thấu hiểu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”. “Văn hoá cũng như chính trị, kinh tế và tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do. Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh chị em văn hoá và trí thức phải làm cũng như là những chiến sỹ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nền văn hoá mới bắt nguồn từ trong nhân dânsẽ “luôn luôn tìm tòi những con đường để làm sao có thể kể một cách chân thật hơn, chân thành hơn cho nhân dân nghe về những mối lo âu và suy nghĩ của nhân dân” Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, Tập 3, tr 221 Hồ Chí Minh, Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội 1981, tr 516. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, Tập 6, tr 368 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, Tập 5, tr 131. Hồ Chí Minh, Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội 1981, tr 515.

    (Nguồn: Tạp chí Xây Dựng Đảng)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Làng Văn Hóa – Du Lịch Các Dân Tộc Việt Nam Mãi Lan Tỏa Giá Trị Văn Hóa, Gắn Kết Cộng Đồng Các Dân Tộc
  • Du Lịch Các Dân Tộc Việt Nam
  • Vai Trò Của Văn Hóa Công Sở Với Sự Phát Triển Nền Hành Chính Công Vụ Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giáo Dục Tư Tưởng, Quan Điểm, Lối Sống Văn Hóa Cho Thanh Niên Trong Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Một Góc Nhìn Lý Luận
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…

    --- Bài mới hơn ---

  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    2. THỰC TRẠNG

    Để xác định các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình, chúng tôi đã tiến hành điều tra 88 phụ huynh (44 nam và 44 nữ) trên địa bàn thành phố Thanh Hoá.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về giáo dục HVVH trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình.

      Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

    26

    Qua bảng số liệu cho thấy: Số lƣợng ý kiến của các bậc cha mẹ cho rằng việc giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình là “rất cần thiết” chiếm tỉ lệ cao nhất (53,4% tổng số ý kiến trả lời), số ý kiến trả lời “cần thiết” chiếm 42,1% và số ý kiến cho rằng công việc này bình thƣờng chiếm tỉ lệ rất ít 4,5% và không có ý kiến nào cho rằng, công việc này là không cần thiết. Nhƣ vậy, hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử văn hoá cho con trong độ tuổi này. Một số ít cha mẹ trả lời bình thƣờng là do họ chƣa thực sự quan tâm đến việc giáo dục, uốn nắn con cái trong độ tuổi này và họ quá đề cao đời sống vật chất, ít chú ý tới đời sống tinh thần của trẻ.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Để hiểu rõ hơn sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng, thời gian cha mẹ dành cho con cái…

    Bảng 2: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục trong gia đình của các bậc cha mẹ.

    27

    Qua kết quả ở Bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau: Các biện pháp: 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6; 2.7; 2.8; 2.9 có ĐTB từ 2,21 đến 2,86 chứng tỏ cha mẹ đã chú ý sử dụng ở mức độ thƣờng xuyên.

    Biện pháp mà các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất là biện pháp “Khen thƣởng, động viên, khích lệ” và biện pháp “Cha mẹ làm gƣơng cho con” có ĐTB đạt 2,85. Trong độ tuổi này trẻ chƣa có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá các hành động, hành vi của bản thân và ngƣời lớn, trẻ thiên về bắt chƣớc và làm theo. Do đó, cha mẹ luôn uốn nắn mình, làm gƣơng cho con cái là rất cần thiết. Việc cha mẹ sử dụng các biện pháp này thƣờng xuyên chứng tỏ họ đã ý thức đƣợc tính chất giáo dục bằng sự làm gƣơng trong gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến trẻ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khen thƣởng, động viên khuyến khích là biện pháp uốn nắn hành vi của trẻ, giúp trẻ phân biệt cái tốt, cái xấu, cái đƣợc phép và không đƣợc phép rất hiệu quả. Còn biện pháp “mắng chửi thậm tệ” các bậc cha mẹ không hoặc rất ít sử dụng. ĐTB chỉ 1.20 thấp nhất chứng tỏ các bậc cha mẹ không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng. Các bậc cha mẹ nhận thức rất rõ nếu thƣờng xuyên chửi mắng con sẽ làm trẻ bị tổn thƣơng về mặt tinh thần và làm cho trẻ trở nên bƣớng bỉnh hơn, chống đối, cãi lại cha mẹ và ảnh hƣởng đến cách cƣ xử của trẻ với mọi ngƣời…

    Từ kết quả điều tra thực trạng cùng với quan sát cuộc sống của một số gia đình, phỏng vấn cha mẹ có con trong độ tuổi, nghiên cứu, trao đổi với các chuyên gia về giáo dục gia đình, các giảng viên ở trƣờng ĐH… Chúng tôi rút ra một số nhận xét về về hành vi văn hoá của trẻ 6-11 tuổi trong gia đình nhƣ sau:

    Phần lớn trẻ đã bắt đầu nhận thức đƣợc những yêu cầu cần phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, nhƣng đó chỉ là những hành vi đơn giản và mang tính bắt buộc cao. Các bậc cha mẹ đã nhận thức đƣợc sự cần thiết phải hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong gia đình. Họ đã tích cực tổ chức cuộc sống nề nếp ngăn nắp và tạo cho các em những mối quan hệ trong gia đình theo yêu cầu chuẩn mực văn hoá, đạo đức xã hội. Nhiều bậc bậc cha mẹ ý thức rất rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Họ đã áp dụng tốt những mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em độ tuổi tiểu học… Nhƣng nhìn chung, các bậc cha mẹ tập chung đầu tƣ nhiều cho con học tốt các môn văn hoá, mong muốn con đỗ đạt cao còn vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, quan hệ ứng xử hàng ngày cho trẻ còn coi nhẹ và còn lúng túng trong việc xử dụng các biện pháp giáo dục con trong gia đình.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Một trong những vấn đề mà các bậc cha mẹ còn hạn chế trong giáo dục trẻ hiện nay là:

      Họ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho cuộc sống, sinh hoạt của con nhƣng chƣa có sự theo dõi, kiểm soát chặt chẽ. Hình thức này thƣờng gặp ở các gia đình kinh doanh, buôn bán hoặc ở những gia đình bố mẹ làm ở các công ty lớn yêu cầu công việc cao.

    28

      Nhiều cha mẹ giáo dục con theo kiểu hình thức, tự nhiên, khi con bắt đầu có những biểu hiện hành vi sai lệch mới vội vàng tìm cách ngăn ngừa.
      Một bộ phận cha mẹ quá đề cao giáo dục nhà trƣờng, gần nhƣ khoán trắng con cho nhà trƣờng còn sự theo dõi của gia đình chỉ là thứ yếu…

    3.1. Xây dựng ý thức hành vi văn hoá cho trẻ thông qua việc bồi dưỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình nói chung và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Mục tiêu, ý nghĩa

    Sở dĩ các bậc cha mẹ còn tồn tại những vấn đề trên là do ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, chính sách mở cửa giao lƣu kinh tế, văn hoá trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ, cũng nhƣ của cha mẹ học sinh. Thời gian dành cho trẻ quá ít nên việc rèn luyện, hƣớng dẫn cho con không thƣờng xuyên trong khi đó hàng ngày, hàng giờ có nhiều hành vi, lối sống từ bên ngoài tác động vào trẻ làm cho các em bắt chƣớc và thay đổi hành vi của mình. Phần lớn các cha mẹ kiến thức hiểu biết về tâm sinh lí của con chƣa đầy đủ nên cách giáo dục con còn áp đặt, phiến diện một chiều, nhiều cha mẹ đặt lợi ích của bản thân nhiều hơn là mong muốn phát triển con cái theo đúng nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Trong khi đó, sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và các tổ chức xã hội chƣa thực sự có sự thống nhất chặt chẽ.

    3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, chúng tôi dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, xuất phát từ cơ sở lí luận tâm lí, ý thức, nhân cách đƣợc hình thành và phát triển thông qua hoạt động, từ kết quả thực tiễn nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp nhƣ sau:

    Bồi dƣỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình cho các bậc cha mẹ để họ nắm đƣợc một số kiến thức cơ bản nhất trong giáo dục con cái. Biết cách xây dựng chƣơng trình, kế hoạch và nội dung giáo dục con cái phù hợp với từng độ tuổi.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014 Cách thức tổ chức

    Các kiến thức đƣa ra, cha mẹ có thể hiểu và áp dụng trong giáo dục con cái mọi nơi, mọi tình huống ở gia đình. Các bậc cha mẹ nhận thức đúng đắn trách nhiệm của mình trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Nhận thức đƣợc sự cần thiết, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc dạy dỗ, giáo dục con cái…

    Mục tiêu nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của lứa tuổi, mục tiêu của giáo dục tiểu học.

    29

    Các kiến thức về giáo dục trẻ em trong gia đình có thể chuyển tải đến cha mẹ dƣới các hình thức: Tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện, trao đổi và phổ biến các kinh nghiệm giáo dục gia đình cho các bậc cha mẹ. Các đối tƣợng tham gia tuyên truyền và tổ chức có: Nhà trƣờng, Hội phụ nữ xã, phƣờng, thành phố, các tổ chức xã hội khác…

    Các buổi hội thảo, tuyên truyền, tập huấn, tập trung vào các nội dung:

      Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục gia đình, các điều kiện cần thiết cho giáo dục gia đình, những nội dung cơ bản của giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, một số phƣơng pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình.
      Giáo dục cho trẻ biết cách quan tâm đến mọi ngƣời, phát triển tính độc lập, tự chủ và kỹ năng khắc phục khó khăn để vƣơn lên hoàn thiện nhân cách.
      Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ vì cái đẹp tồn tại trong hành vi văn hoá của con ngƣời…
      Cung cấp một số kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí trẻ em ở từng độ tuổi để cha mẹ thực sự hiểu trẻ.
      Các kiến thức về khoa học giáo dục con cái có thể cung cấp đến cha mẹ thông qua các kênh thông tin: Truyền hình, internet, sách, báo… Xây dựng giáo trình, tài liệu về giáo dục gia đình có thể cung cấp cho các bậc cha mẹ tham khảo và vận dụng.
      Cung cấp cho các gia đình nội dung giáo dục hành vi văn hoá, những chuẩn mực hành vi chung.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Công tác tuyên truyền giáo dục này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, định kỳ theo quy định của xã, phƣờng nhân ngày 8/3; ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm.

    3.2. Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu.

    Hoạt động, giao lƣu là con đƣờng cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời. Qua hoạt động, giao lƣu trẻ biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân và phát triển năng lực tinh thần và biểu hiện các hành vi ra bên ngoài.

    Qua tổ chức các hoạt động cho trẻ, giúp các em biết xác định mục tiêu, kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập và rèn luyện mà gia đình đã vạch ra.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Cha mẹ cần bám sát cuộc sống của trẻ để phát hiện ra những hành động, thói quen sinh hoạt của trẻ, trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức lại các hoạt động của trẻ cho phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hoá.

    Trẻ tích cực tham gia, thực hiện tốt các loại hình hoạt động giúp trẻ có đƣợc những tri thức về kỹ năng, thao tác thực hành. Đồng thời giúp trẻ hiểu thêm các chuẩn mực hành vi văn hoá, hình thành năng lực định hƣớng giá trị trong cuộc sống, biết phân biệt cái đúng –

    30

    cái sai, cái thiện – cái ác… bồi dƣỡng cho trẻ những cảm xúc, tình cảm tích cực. Xây dựng những nề nếp, thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi trong sinh hoạt hàng ngày.

    Các hoạt động phải tạo đƣợc hứng thú, hấp dẫn và cha mẹ cần phải tổ chức phối

    Cách thức tổ chức

    kết hợp nhiều loại hình hoạt động nhƣ giải trí, lao động, học tập…

    Các hoạt động phải mang tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí lứa

    tuổi các em…

    Khi tổ chức thực hiện các hoạt động cho con cái trong gia đình đạt kết quả cao, cha mẹ cần nắm rõ quy trình giáo dục HVVH cho trẻ:

      Cha mẹ cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng về HVVH bằng cách sử dụng hình thức kể chuyện, hƣớng dẫn, quan sát và tổ chức đàm thoại trong gia đình

    Biểu diễn HVVH mẫu và tổ chức cho trẻ làm theo mẫu hành vi.

    Ví dụ: Chuẩn mực HVVH thể hiện sự chăm sóc ông bà, cha mẹ bao gồm những việc cụ thể:

    3.3. Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho con

      Hàng ngày làm vui lòng ông bà, cha mẹ bằng việc đi xin phép, về chào hỏi, lễ phép, vâng lời, lấy tăm, rót nƣớc mời ông bà…
      Sẵn sàng giúp đỡ ông bà, cha mẹ làm những việc phù hợp
      Tổ chức cho trẻ thực hiện hành vi văn hoá trong đời sống hàng ngày
      Lặp lại những hành vi đã trải nghiệm có ý nghĩa để trở thành nề nếp, thói quen trong cuộc sống và quan hệ hàng ngày.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Tổ chức các hoạt động sao cho cân bằng, trong giáo dục trí tuệ, đức, thể, mỹ…

    trong cuộc sống gia đình.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Thói quen hành vi văn hoá bao gồm sự lễ phép với mọi ngƣời, thái độ ân cần tôn trọng ngƣời lớn tuổi, ngôn ngữ đúng đắn, dáng điệu nghiêm chỉnh… mỗi nét tính cách bền vững đều đƣợc biểu hiện trong những thói quen tƣơng ứng. Song thói quen sẽ yếu đi và mất đi khi điều kiện thay đổi. Do đó, cần phải giáo dục thói quen, HVVH một cách liên tục, thƣờng xuyên.

    Tất cả những thói quen, HVVH, từ cử chỉ, hành động ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời, nếu nhu cầu đƣợc thoả mãn, con ngƣời cảm thấy vui vẻ, dần dần sẽ mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Để đạt đƣợc sự ổn định, bền vững cần tập luyện thƣờng xuyên, liên tục, trong đó cha mẹ cần:

    31

      Tổ chức cho con lặp đi, lặp lại thƣờng xuyên những hành động, cử chỉ, hành vi phù hợp với chuẩn mực.
      Cha mẹ giúp con hình dung đƣợc những thao tác cụ thể và tiến hành thao tác đó một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
      Tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện và thƣờng xuyên giúp đỡ trẻ trong quá trình luyện tập.

    Luyện tập thói quen hành vi văn hoá càng phong phú, đa dạng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khác nhau thì giá trị giáo dục càng cao. Không nên gò ép, trẻ, mà nên tạo ra nhiều tình huống phong phú, cho trẻ cơ hội tiếp xúc, bộc lộ càng tốt. Cha mẹ cần theo dõi, kiểm tra nhắc nhở trẻ kịp thời sửa lỗi.

    Luyện tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự vận động, phát triển tâm sinh lí lứa tuổi. Cha mẹ cần kiên trì, không nóng vội, phải làm đi làm lại nhiều lần để củng cố hoàn thiện trở thành thói quen hành vi.

    Cách thức tổ chứ c

    Giáo dục thói quen hành vi cho trẻ, cha mẹ cần đi từ các bƣớc sau:

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

      Bƣớc thứ nhất: Tập làm, nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng cụ thể để thực hiện các thói quen đạo đức, thói quen văn hoá.
      Bƣớc thứ hai: Khích lệ, động viên thƣờng xuyên để tạo hứng thú, xây dựng tính tự giác, tích cực cho trẻ thực hiện HVVH . Ở bƣớc này cha mẹ có thể:
      Bƣớc ba: Rèn luyện, ôn tập: Để hình thành thói quen, HVVH một cách bền vững, chắc chắn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ là một quá trình lân dài, bền bỉ không thể nóng vội vì hành vi của trẻ chƣa mang tính ổn định cao mà phải tạo điều kiện cho trẻ tham gia rèn luyện củng cố thƣờng xuyên trong một thời gian nhất định thì mới có hiệu quả.

    MEASURES IN EDUCATINY CULTURAL BECHAVIOURS IN COMMUNICATION FOR 6 – 11 YEAR OLD CHILDREN Nguyen Thi Phuong Lan ABSTRACT The cultural behavior education for 6-11 year old children is necessary and crucial as this is the first foundation for the for mativi, and comphensive and sustainable development of each inpiduals. The parents need to determine their responsibilities and roles to cooperate with schools and society to educate the cultural behaviors for their children during this developement stage. To orgauize activities and pratise habits and cultural behaviours in communication more regularly for children in cach family that cluldren can perceive standardized habits and cultural behaviours.

    32

    Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế việc sử dụng biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình cho thấy: Các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nhƣng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục, việc dành thời gian cho trẻ, phƣơng pháp giáo dục của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ những kinh nghiệm rời rạc. Vì vậy hiệu quả chƣa cao, để giúp các bậc cha mẹ có đƣợc các biện pháp giáo dục thích hợp, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng đắn vai trò trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái trƣởng thành và việc làm đầu tiên đối với mỗi ngƣời làm cha, mẹ là nâng cao hiểu biết về giáo dục gia đình nói chung và những kiến thức về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Giáo dục con cái cần xuất phát từ lợi ích và quy luật phát triển tự nhiên về tâm sinh lí của trẻ, cũng nhƣ xuất phát từ thực tế cuộc sống, hoàn cảnh hiện tại của gia đình để rèn luyện những thói quen, hành vi văn hoá cho con theo chuẩn mực.

      Phạm Khắc Chƣơng, Nguyễn Thị Bích Hồng. Giáo dục gia đình, NXBGD 1999.
      Trần Tuyết Oanh. Giáo dục học, tập 2, NBĐHSP, 2008).
      Nguyễn Thanh Bình. Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con cái ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay. NXBĐHQG, 2001.
      Một số biện pháp giúp cha mẹ giáo dục hành vi đạo đức cho con cái trong gia đình theo chương trình lớp 1, 2 bậc tiểu học. Luận án thạc sĩ GDH, 2003.

    Keywords: measures, chilren, edcation, cultural behaviours, culturally habitual behaviours.

    Ngƣời phản biện: chúng tôi Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 02/11/2013; Ngày

    thông qua phản biện: 29/11/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

    33

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Cho Trẻ 5
  • Biện Pháp Giáo Dục Văn Hóa Học Tập Cho Học Sinh Trường Thpt Việt Lâm
  • Biện Pháp Giáo Dục Văn Hóa Học Tập Cho Học Sinh Trường Thpt Việt Lâm Tỉnh Hà Giang
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Vệ Sinh Cho Trẻ
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Vệ Sinh Cá Nhân Cho Trẻ 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100