Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Công Ty

--- Bài mới hơn ---

  • Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Thông Báo Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Khu Dtls Địa Đạo Củ Chi
  • Giới Thiệu Về Khu Di Tích Lịch Sử Địa Đạo Củ Chi
  • Nhà Hàng Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nhà Hàng?
  • 6 Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Lực Lượng Công An Nhân Dân Trong Thời Kỳ Mới
  • 1 Chức năng:

    Tuyến dịch vụ vận tải xà lan Việt Nam – Campuchia được khai thác bởi Công ty Cổ phần Tân Cảng Cypss, là Công ty liên doanh giữa Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn với Sun Cypss Shipping Company Limited (Hồng Kông). Công ty đã đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 2010 và hiện đang thực hiện các dịch vụ vận chuyển container bằng đường biển và đường sông giữa Cambodia về Cảng Cái Mép và các cảng khu vực TP Hồ Chí Minh, đồng thời công ty còn khai thác tuyến vận tải container giữa các cảng vùng đồng bằng sông Cửu Long với các cơ sở của Tổng Công ty TCSG.

    2 Nhiệm vụ:

    Giai đoạn đầu công ty triển khai các dịch vụ vận chuyển container bằng đường sông giữa Cambodia và Đồng Bằng sông Cửu Long về Cảng Cái Mép và các cảng khu vực TP Hồ Chí Minh, xây dựng các cơ sở và hệ thống kết nối đường thủy này nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng giữa hai nước Việt Nam và Campuchia.

    Giai đoạn tiếp theo công ty sẽ xem xét mở rộng lĩnh vực hoạt động vận tải từ các cảng Miền Bắc và Miền trung về Cảng nước sâu Tân Cảng – Cái mép và các Cảng trong khu kinh tế trọng điểm phía Nam. Bên cạnh đó, Công ty CP Tân Cảng – Cypss còn mở rộng khai thác tuyến vận tải kết nối các cơ sở của Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn với các cảng Đà Nẵng và Hải Phòng.

    Việc triển khai tuyến vận tải giữa Cambodia, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và cảng Cát Lái, các ICD, cảng nước sâu Tân Cảng – Cái Mép sau khi Công ty cổ phần Tân Cảng – Cypss được thành lập giúp cắt giảm chi phí vận chuyển và tạo thuận lợi cho các nhà xuất nhập khẩu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong các hoạt động giao nhận hàng hóa.

    3 Khái quát phương thức hoạt động kinh doanh của Công Ty:

    Công ty kinh doanh theo phương thức “Tàu chợ”: Tàu chợ là tàu chạy thường xuyên trên một tuyến đường nhất định, ghé qua những cảng nhất định theo một lịch trình định trước.

    Tàu chợ hoạt động trên tuyến đường nhất định nên người ta còn gọi là tàu định tuyến.Lịch chạy tàu thường được công ty công bố trên tạp chí Vietnam Shipping Gazette hàng tháng để khách hàng có thể nắm bắt thông tin.

    Những đặc điểm cơ bản của tàu chợ như sau:

    • Thường chở hàng bách hóa có khối lượng nhỏ.
    • Cấu tạo của tàu chợ phức tạp hơn các loại tàu khác.
    • Ðiều kiện chuyên chở do hãng tàu quy định và in sẵn trên vận đơn để phát hành cho người gửi hàng.

    – Công ty nhận chỉ chở hàng theo 1 cách:

      Gửi hàng nguyên container (FCL – Full container load).

    Quy trình thuê tàu chợ có thể khái quát thành các bước cụ thể như sau:

    + Bước 1: Chủ hàng có thể trực tiếp hoặc thông qua người môi giới, nhờ người môi giới tìm tàu hỏi tàu để vận chuyển hàng hóa cho mình.

    + Bước 2: Người môi giới chào tàu hỏi tàu bằng việc gửi giấy lưu cước tàu chợ (Liner booking note). Giấy lưu cước thường được in sẵn thành mẫu, trên đó có các thông tin cần thiết để người ta điền vào khi sử dụng. Chủ hàng có thể lưu cước cho cả quý, cả năm bằng một hợp đồng lưu cuớc đã thỏa thuận với hãng tàu.

    + Bước 3: Người môi giới với chủ tàu thoả thuận một số điều khoản chủ yếu trong xếp dỡ và vận chuyển.

    + Bước 4: Người môi giới thông báo cho chủ hàng kết quả lưu cước với chủ tàu.

    + Bước 5: Chủ hàng đón lịch tàu để vận chuyển hàng hoá ra cảng giao cho tàu, lịch tàu được công ty công bố hàng tháng trên tạp chí hàng hải Vietnam Shipping Gazette.

    + Bước 6: Sau khi hàng hoá đã được xếp lên tàu, chủ tàu hay đại diện của chủ tàu sẽ cấp cho chủ hàng một bộ vận đơn theo yêu cầu của chủ hàng.Qua các bước tiến hành thuê tàu chợ chúng ta thấy người ta không ký hợp đồng thuê tàu.Khi chủ hàng có nhu cầu gửi hàng bằng tàu chợ chỉ cần thể hiện trên giấy lưu cước với hãng tàu và khi hãng tàu đồng ý nhận hàng để chở thì khi nhận hàng, hãng tàu sẽ phát hành vận đơn cho ngươì gửi hàng.Vận đơn khi đã phát hành nghĩa là chủ tàu có trách nhiệm thực hiện việc vận chuyển lô hàng.

    Hiện tại,Công ty cổ phần Tân Cảng- Cypss vận chuyển trung bình từ 4-6 chuyến tàu/ tuần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Kiến Thức Chuyên Ngành Nhà Hàng Khách Sạn
  • Chức Năng Bộ Phận Buồng Phòng Trong Khách Sạn Quan Trọng Không?
  • Học Nghiệp Vụ Về Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Buồng Phòng Trong Khách Sạn
  • Phục Hồi Chức Năng Dây Chằng Chéo Sau
  • Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Báo Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Khu Dtls Địa Đạo Củ Chi
  • Giới Thiệu Về Khu Di Tích Lịch Sử Địa Đạo Củ Chi
  • Nhà Hàng Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nhà Hàng?
  • 6 Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Lực Lượng Công An Nhân Dân Trong Thời Kỳ Mới
  • Cổng Điện Tử Công An Tỉnh An Giang
  • Luận văn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40 phần i Lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu bộ máy quản lý, sản xuất của công ty I. quá trình hình thành và phát triển của công ty may 40. 1. Quá trình hình thành: Vào năm 1955 do yêu cầu cấp bách của tiền phương, Tổng cục Hậu Cần – Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn sản xuất quân dụng với nhiệm vụ may trang phục cho bộ đội phục vụ tiền tuyến. Với 30 đồng chí hầu hết từ quân đội chuyển sang là lực lượng đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng xưởng quân dụng 40. Năm 1961, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đoàn sản xuất quân dụng chuyển thành Xí nghiệp May X40 được thành lập dựa trên nền tảng là phân xưởng quân dụng 40 là một đơn vị sản xuất công nghiệp quốc doanh và được Tổng cục Hậu Cần bàn giao sang Sở Công nghiệp Hà Nội quản lý, đơn vị đã không ngừng cố gắng nỗ lực vươn lên. Chính vì vậy đến ngày 4/ 5/ 1994 căn cứ vào quyết định số 741/ QĐUB của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đổi tên Xí nghiệp may X40 thành công ty may 40 với nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ cho nhu cầu trong nước và nước ngoài. 2. Quá trình phát triển: Từ năm 1955 – 1960: Xí nghiệp X40 là đơn vị hạch toán kinh tế do Sở công nghiệp Hà Nội quản lý. Lúc này tổng số cán bộ công nhân viên là 280 người với 80 máy may và 488 m2 nhà xưởng. Năm 1961 – 1965: Xí nghiệp may X40 thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất. Trong thời gian này, Xí nghiệp đóng trên địa bàn Cầu Mới – Thượng Đình – Hà Nội (nay là công ty giầy HN). Xí nghiệp là một đơn vị hạch toán với 7 phòng ban nghiệp vụ và 3 ngành sản xuất (ngành quân dụng, quân hàm và mũ). Trong thời gian này, xí nghiệp đã vinh dự được đón chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngày 20 /4 /1963. Vì vậy từ đó đến nay trở thành ngày truyền thống của đơn vị. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1966 – 1975): để có thể phục vụ tốt nhất cho kháng chiến nên Xí nghiệp đã chia ra làm 5 cơ sở nhỏ để đi sơ tán nơi gần nhất cánh Hà Nội 12 km và nơi xa nhất là 40 km. Tuy nhiên, vào thời kỳ này quy mô của doanh nghiệp lớn mạnh hơn so với kỳ trước, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong xây dựng nhà xưởng, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên, trau dồi tư tưởng cho anh chị em công nhân làm cho họ tin tưởng vào cuộc đấu tranh tất thắng của dân tộc. ở nơi sơ tán không có điện phải chuyển toàn bộ máy móc sang đạp chân và làm ca trong ánh đèn dầu, sản phẩm cũng thay đổi theo yêu cầu cấp bách của chiến trường. Tuy đứng trước những khó khăn to lớn như vậy nhưng xí nghiệp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không ngừng mở rộng sản xuất nâng số máy may lên 250 cái với 700 cán bộ công nhân viên và sản xuất 500 loại mặt hàng. Sản phẩm chủ yếu thời kỳ này là áo pháo, bạt xe tăng, bạt công binh, áo tên lửa… phục vụ cho chiến trường. Từ năm 1975, để thích ứng với nhiệm vụ của những năm khôi phục đất nước, xí nghiệp đã chuyển từ nơi sơ tán về địa điểm 80 Hạ Đình – Thanh Xuân ngày nay. Tại đây xí nghiệp đã xây dựng 12000 m2 nhà xưởng, tuyển chọn thêm nhiều công nhân để sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước từ những bộ comple, áo măngtô phục vụ cho cán bộ Việt Nam ra công tác học tập ở nước ngoài, nhưng bên cạnh đó đã có hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu của xí nghiệp là quần áo bảo hộ lao động với tỷ trọng là 30% tổng sản lượng và thị trường xuất khẩu của xí nghiệp là Liên Xô chủ yếu thông qua các hiệp định kinh tế. Thời kỳ này xí nghiệp có một lượng công nhân khá đông 1300 cán bộ công nhân viên, với lực lượng này xí nghiệp đã không ngừng vươn lên và hoàn thiện mình đáp ứng được nhiệm vụ cấp trên giao cho. Từ năm 1983, Xí nghiệp May X40 đổi tên thành Xí nghiệp May 40. Hoạt động sản xuất của xí nghiệp vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và phục vụ quốc phòng. Đồng thời, hoạt động xuất khẩu vẫn thông qua các hiệp định kinh tế với tỉ trọng như những năm trước và thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là Tiệp Khắc và Liên Xô. Từ đó đến năm 1990, trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển. Xí nghiệp May 40 đã không ngừng đi lên và luôn hoàn thành xuẩt sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Năm 1991, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xí nghiệp May 40 được thành lập lại DNNN ngày 10/ 11/ 92 theo công văn số 2765/ QĐUB của UBND Thành phố Hà Nội, xí nghiệp đã chuyển sang thời kỳ tự hạch toán. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của công ty do may móc thiết bị lạc hậu, trình độ công nhân thấp không đáp ứng được nhu cầu thời kỳ mới. Thêm vào đó thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty là các nước Đông Âu đang có nhiều biến động. trước khó khăn tô lớn như vậy, lãnh đạo xí nghiệp và toàn thể cán bộ công nhân viên vẫn quyết tâm ổn định sản xuất, phát triển sang thị trường mới. Nhờ lòng quyết tâm đó và những chính sách đổi mới của Đảng, Nhà Nước xí nghiệp đã dần khắc phục được khó khăn và đầu tư cho sự phát triển tương lai của mình. Năm 1994, Xí nghiệp May 40 được chuyển đổi tên thành Công ty May 40 theo quyết định số 741/ QĐUB ngày 04/ 05/ 1994 với tên giao dịch quốc tế là HaNoi Garmentex No40. Trong những năm từ 1994 – 1999, Công ty May 40 đã mạnh dạn đầu tư hơn 20 tỷ đồng để nâng cấp và mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc chuyên dụng nhằm mở rộng sản xuất, đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thị trường trong và ngoài nước. Năm 1997, nhờ bố chí hợp lý có cấu tổ chức và bộ máy quản lý, công ty đã đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đã góp phần tạo công ăn việc làm và đảm bảo đời sống cho công nhân lao động của Công ty được ổn định. Năm 1998, sản phẩm may mặc của công ty đã được thị trường EU, Mỹ, Canada và Nhật Bản chấp nhận. Năm 2000 Có thể nói sau những năm thực hiện đổi mới. Công ty May 40 đã có những yếu tố của một đơn vị công nghiệp tương đối hiện đại, thích ứng với thị trường thế giới, bước đầu đã có thị trường làm hàng gia công ổn định, đời sống người lao động ngày càng được cải thiện. ii. cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. 1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận: 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: giám đốc Phó giám đốc kế Phó giám đốc XNK, Phó giám đốc hoạch sản xuất tiêu thụ nội địa kỹ thuật phân xưởng cắt phòng kế toán – tài vụ phân xưởng thêu phòng kỹ thuật công nghệ – kcs phòng tclđ – phân xưởng may 1 bảo vệ phòng khvt – phân xưởng May 2 xnk phân xưởng may 3 phòng hcqt – y tế phân xưởng may 5 phân xưởng may 6 1.2 Trách nhiệm của ban giám đốc công ty: Giám đốc công ty có trách nhiệm tổ chức, chỉ huy các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm biệm pháp khai thác và sử dụng hợp lý khả năng khai thác của công ty nhằm hoàn thành các chỉ tiêu được giao và các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng. Sử dụng hợp lý các tài sản được giao một cách có hiệu quả. Tạo điều kiện cho CBCNV thực hiện tốt quyền làm chủ tập thể, phát huy tính sáng tạo của CNVC trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất cũng như tham ra quản lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy của công ty cũng như các hoạt động kinh tế. Các phó giám đốc quản lý, theo dõi, điều hoà, phối hợp nhằm đảm bảo nhịp nhàng, ăn khớp. Thiết lập sự thống nhất trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh từ phó giám đốc đến các phòng ban, phân xưởng, tổ sản xuất. 1.3 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban: a. Chức năng: Phòng ban là các đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ, làm tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, tổ chúc đời sống, giữ gìn trật tự an ninh. Các phòng ban không có quyền chỉ huy sản xuất nhưng có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc kế hoạch, tiến độ sản xuất, quy trình công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và các mặt quản lý chuyên môn. b. Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban: Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản xuất, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và giúp việc cho giám đốc. Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm cụ thể luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành nhịp nhàng. Công ty có 5 phòng ban chức năng bao gồm: phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu, phòng tổ chức – bảo vệ, phòng kỹ thuật công nghệ – KCS, phòng hành chính quản trị – Ytế.  Phòng kế toán tài vụ: Thực hiện theo đúng pháp lệnh về kế toán và thống kê của Nhà nước ban hành. Có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức hợp lý công tác thống kê, kế toán tài chính, công tác ghi chép số liệu ban đầu và thông tin kinh tế, xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch tài chính tổ chức phân tích hoạt động kinh tế theo định kỳ, tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và nội bộ từng phân xưởng trong Công ty. Phản ánh tình hình thực hiện chỉ tiêu SXKD, hiệu quả sản xuất kinh doanh và xây dựng các dự án đầu tư để phát triển Công ty.  Phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu: Là phòng chịu trách nhiệm từ phần đầu đến phần cuối của quá trình sản xuất. Tham mưu cho giám đốc trong việc ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế, làm mọi thủ tục xxuất nhập khẩu vật tư, hàng hoá. Tổ chức giao nhận và bảo quản, mua bán lượng vật tư hàng hoá cần thiết trong quá trình sản xuất, cấp phát vật tư phục vụ kịp thời sản xuất. Tổ chức chỉ đạo theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, tổ chức quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm công ty.  Phòng tổ chức – bảo vệ: Tham mưu cho giám đốc công ty về tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh. Tổ chức hợp lý lao động, xây dựng kế hoạch lao động và tiền lương, tổ chứccông tác cán bộ, tổ chức theo dõi và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương, nghiên cứu áp dụng các hình thức trả lương, thưởng phạt phù hợp nhằm kích thích và nâng cao hiệu quả lao động, quản lý lao động tiền lương, xác định mức lao động tiên tiến nhằm phù hợp với tình hình sản xuất, thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động. Bảo vệ tốt tài sản của công ty, đảm bảo an toàn lao động cũng như an ninh trật tự trong toàn công ty.  Phòng kỹ thuật công nghệ – KCS: Nghiên cứu, thiết kế, chế thử các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và thị hiếu người tiêu dùng. Xây dựng và kiêmt tra việc thực hiện các quy trình công nghệ đối với tất cả các sản phẩm được sản xuất. Xây dựng định mức tiêu hao vật tư phù hợp với yêu cầu sản phẩm theo định mức, yêu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích cho công ty. Thiết kế, chế thử các dụng cụ gá lắp phục vụ sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, lập kế hoạc sửa chữa thiết bị của công ty. Tổ chức hợp lý đội ngũ kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra việc thực hiện quy trình công nghệ.  Phòng hành chính quản trị – Ytế: Tổ chức hợp lý công tác hành chính, văn thư, sửa chữa nhỏ nhà cửa và phương tiện quản lý. Tổ chức khám chữa bệnh cho CBCNV, kết hợp với các đơn vị quản lý ngày công, BHXH của CBCNV. 2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ 2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất, chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của phân xưởng  Đặc điểm tổ chức sản xuất: Công ty May 40 sản xuất theo quy mô vừa, nên công ty đã bố trí sản xuấ theo phân xưởng sản xuất cho phù hợp với loại hình và tổ chức sản xuát. Công ty gồm 5 phân xưởng may, một phân xưởng cắt và một phân xưởng thêu. Trong mỗi phân xưởng sản xuất được tổ chức thành các tổ sản xuất, xắp xếp theo một trình tự hợp lý, mỗi công nhân thực hiện một hoặc một số bước công nghệ nhất định. Các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch đặt ra hàng tháng của công ty. Sản phẩm chủ yếu của công ty là sản xuất gia công hàng may mặc xuất khẩu với kiểu mã đa dạng, phong phú như quần áo trượt tuyết, quần áo thể thao, áo jacket… với tỷ trọng may mặc hàng xuất khẩu chiếm từ 95% – 98%. Ngoài ra Công ty còn nhận sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác trong và ngoài nước.  Chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của các phân xưởng: a. Chế độ quản lý: Thực hiện phân bổ hướng dẫn và kiểm tra các tổ dây chuyền sản xuất nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty giao. Nghiên cứu phân tích, phát hiện và đề xuất các biệm pháp chưa hợp lý trong sản xuất và quản lý của đơn vị mình. b. Chức năng và nhiệm vụ: Phân xưởng là nơi trực tiếp làm ra sản phẩm của công ty; là nơi thực hiện chế độ, pháp luật của Nhà nước; nội quy, quy định của công ty; là nơi giao dục, rèn luyện lao động và thực hiện quyền làm chủ tập thể của CNVC trong phân xưởng sản xuất; là nơi tổ chức sản xuất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch mà công ty giao cho. Phân xưởng chịu sự chỉ đạo của ban giám đốc mà trực tiếp là phó giám đốc kỹ thuật. Phân xưởng hoạt động theo nội quy quản lý của công ty, có trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh chỉ đạo của giám đốc và chính sách của Đảng và Nhà Nước. Phân xưởng là nơi trực tiếp sử dụng, giữ gìn bảo quản mọi thiết bị, tài sản của công ty, tổ chức sử dụng hợp lý lượng vật tư có hiệu quả nhất, là nơi trực tiếp quản lý lao động. 2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ: Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty May 40 là quy trình công nghệ kiểu phức tạp chế biến liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Đặc điểm sản xuất sản phẩm của Công ty là sản xuất hàng loạt, sản phẩm hoàn thành nhập kho là kết quả của một quá trinhg chế biến liên tục từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất đến khi hoàn thành sản phẩm là quy trình khép kín không thể gián đoạn về mặt kỹ thuật. Đầu tiên là xuất nguyên vật liệu cho phân xưởng cắt, cắt bán thành phẩm. Sau đó tổ chức dây chuyền sản xuất từ bán thành phẩm và vật liệu phụ theo từng công đoạn chi tiết sản phẩm. Sản phẩm sản xuất xong phải được bộ phận KCS kiểm tra sau đó mới được nhập kho thành phẩm. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất ra những sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu. Vì vậy để tạo điệu kiện thuận lợi cho việc điều hành sản xuất và chủ động sản xuất các mã hàng của Công ty, các bộ phận thuộc phân xưởng may có nhiệm vụ thực hiện quy trình công nghệ như sau: – Nhận mẫu mã, tài liệu kỹ thuật, quy cách, kích thước sản phẩm từ phòng kỹ thuật cùng với định mức nguyên liệu, phụ liệu, khảo sát mẫu may chuẩn. Thết kế dây chuền sản xuất cho từng loại sản phẩm, nghiên cứu bảng tính thời gian chi tiết sản phẩm, may thử bấm giờ để so sánh chính xác nhằm chia công đoạn, bộ phận để sản xuất và tính lượng sản phẩm. Nghiên cứu nhiệt độ là ép, độ co nguyên liệu, màu sắc giặt tẩy nguyên phù liệu. Lập bảng phối mầu nguyên phù liệu của sản phẩm. Nghiên cứu các thông số, kích thước các thùng catton, bao bì đai nẹp, chữ số, trọng lượng cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng của sản phẩm. – Tổ chức giác mẫu và cắt bán thành phẩm. Làm mẫu mỏng, mẫu catton bán thành phẩm, mẫu sang dấu, mẫu may sản phẩm, mẫu cắt chi tiết sản phẩm. Trên cơ sở đó phân xưởng cắt nhận nguyên liệu từ kho theo phiếu xuất kho của Công ty và theo đúng yêu cầu kỹ thuật như mầu sắc, số lượng, khổ vải, loại vải để cắt bán thành phẩm và ép là sản phẩm đầy đủ, đồng bộ theo quy trình sản xuất, giao bán thành phẩm cho phân xưởng may theo phiếu của phòng KH – XNK. Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty May 40 gồm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật, giai đoạn cắt may, giai đoạn hoàn thiện và đóng gói sản phẩm. + Giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật: Giai đoạn này gồm thiết kế mỹ thuật, vé mẫu thiết kế bản giác cho các loại sản phẩm với các cơ, vóc khổ vải khác nhau đảm bảo sự chính xác cao bằng máy móc thiết kế giác mẫu kỹ thuật vi tính của pháp. Tiết kiệm được lao động, tiết kiệm được vật tư sử dụng, hạ định mức vật tư từ 1,5% – 2% góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và hàng năm tiết kiệm được hàng nghìn mét vải các loại. + Giai đoạn cắt may: Công ty sử dụng các máy chuyên dùng cắt và may. Công ty đã đầu tư vào 1 kim có trương trình cắt chỉ, đầu tư máy 2 kim tự động, đính cúc, thừa khuyết cao cấp, đảm bảo chất lượng cao và tăng năng suất lao động. + Giai đoạn hoàn thiện: Đầu tư bộ bàn là hơi, bàn hút ẩm chân không phục vụ cho việc hoàn thiện sản phẩm trước khi đóng gói, làm đẹp và tăng chất lượng sản phẩm. Ta có sơ đồ quy trình sản xuất trang sau: sơ đồ quy trình công nghệ Thiết kế mẫu Thiết kế bản Chuẩn bị vật Giai đoạn chuẩn bị Chế thử sản giác cho px tư theo biểu phẩm cắt XĐ định giao vải trên mức vật tư bàn cắt Là chi tiết Cắt bán Giai đoạn cắt thêu may sản thành phẩm thêu may phẩm theo bản giác kỹ thuật Giai đoạn hoàn thiện Là hơi toàn Kiểm tra Kho bộ sản phẩm đóng gói Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ Công ty thường xuyên tổ chức hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới cho ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. KCS thường xuyên kiểm tra việc cắt bán thành phẩm để đảm bảo không hụt, lẹm. Tổ chức mạng lưới kiểm tra sản phẩm, sản phẩm 100%. Hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất được liên tục. 3. chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. a. chức năng: + Chuyên sản xuất hàng may mặc, dệt len, dệt theu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. + Nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc ngành may phục vụ cho nhu cầu sản xuất. + Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu của các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước. + Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất, mở đại lý, văn phòng đại diện, bán và giới thiệu sản phẩm của công ty và của các đơn vị trong và ngoài nước. b. Nhiệm vụ: + Sản xuất kinh doanh hàng may mặc và trên cơ sở đó phải luôn luôn nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. + Độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động. + Phải có trách nhiệm khai thác, bảo đảm và phát triển nguồn vốn của Nhà nước giao phó. 4. thị trường hiện tại của công ty. Trong giai đoạn hiện nay Công ty có thị trường chủ yếu ở Đức, Nhật, Canada với khách hàng như GEMINI,MAIER, NORTHLAND, BIGPACK, ALPINUS, …ở mỗi thị trường tiêu thụ mỗi loại sản phẩm riêng như ở Đức tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao. ở Nhật quần áo bảo hộ lao động, sơ mi, áo khoác nữ. Canada tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao… Mỗi loại thị trường có mỗi khó khăn, thuận lợi khác nhau như ở thị trường nhật thuận lợi là không cần hạng ngạch, gần vân chuyển dễ, nhưng ít sản phẩm còn ở thị trường Đức, Canada thì thiếu hạng ngạch xuât khẩu nhưng tiêu thụ với khối lượng lớn. Khó khăn chung vì Công ty gia công nguyên vật liệu nhập do bạn hàng cung cấp nên khó khăn trong việc thục hiện tiến độ sản xuất. Hiện nay Công ty ngoài gia công hiện nay còn góp vốn mua nguyên phụ liệu ngoài gia công đơn thuânf, góp vải chỉ với khác hàng để gia công. Một khó khăn nữa khi làm gia công Công ty còn nhận nhiều mẫu mã nên khó khăn trong việc sản xuất. Năm 2001 ngoài gia công đơn thuần Công ty còn góp vốn làm hợp đồng bán sản phẩm. Còn ở thị trường trong nước công ty chỉ chiếm một phần rất nhỏ năm 1999 doanh thu chỉ 100 triệuđ năm 2000 doanh thu là 250 triệuđ có tham ra hội trợ triển lãm năm 2001 Công ty có kế hoạch đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa. iii. đặc điểm về lao động của công ty trong những năm gần đây. 1. Đặc điểm về cơ cấu lao động: Do yêu cầu ngày càng phát triển dẫn tới việc phải mở rộng quy mô sản xuất vì vậy đòi hỏi số lượng lao động ngày càng nhiều và chất lượng của lao động phải ngày một nâng cao, để đáp ứng yêu cầu này hàng năm Công ty đều tuyển thêm lao động mới và mở nhiều khoá học để đào tạo nâng cao trình độ tay nghề Qua bảng số liệu sau ta có thể thấy rõ: Tên chỉ tiêu Đơn vị năm 1999 năm 2000 a. Cán bộ quản lý, phục vụ – Đại học, cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp b. Công nhân trực tiếp sản xuất Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 c. Tổng lao động bình quân năm – Nam – Nữ người nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt 186 48 19 119 1057 346 242 121 191 157 1243 236 1007 202 57 20 125 1075 188 286 166 217 218 1277 243 1034 c. Thu nhập bình quân người/ tháng nghìn đồng 700 770 Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy số lao động trung bình năm 2000 tăng hơn so với năm 1999 là 34 người chứng tỏ rằng Công ty ngày càng lớn mạnh, làm ăn có hiệu quả và ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải tổ chức có cấu lao động sao cho phù hợp cân đối với sự phát triển của Công ty. Mỗi năm khi tiến hành xấy dựng kế hoạch sản xuất Công ty tiến hành lập kế hoạch tuyển dụng lao động và chủ động có cấu lao động theo kế hoạch. – Năm 1999: Số lao động trực tiếp sản xuất 1057 người chiếm 85,1%. Số lao động gián tiếp là 186 người chiếm 14.9%. – Năm 2000: Số lao động trực tiếp sản xuất là 1075 người chiếm 84,2%. Số lao động gián tiếp là 202 người chiếm 15,8%. Qua số liệu ở trên cho thấy rằng đa số cán bộ công nhân viên trong Công ty là nữ đây cũng là đặc thù của ngành may nói chung thu hút lao động nữ với số lượng lớn do đó cũng ít nhiều ảnh hưởng tới sản xuất, khó khan trong việc quản lý ngày công. Mặt khác số công nhân trực tiếp sản xuất được phân chia theo cấp bậc phản ánh chất lượng của công nhân trong công ty, qua bảng số liệu trên ta thấy ngoài số lượng tăng chất lượng cũng được nâng lên rõ rệt như với bậc 1 giảm 158 người bậc 2 tăng 42 người, bậc 3 tăng 45 người, bậc 4 tăng 26 người, bậc 5 tăng 61 người. Điều này cho thấy Công ty đã chú trọng vào tuyển chọn cũng như đào tạo nâng cao tay nghề thường xuyên cho công nhân để đáp ứng được với điều kiện hiện nay (điều kiện của khách hàng, của thị trường). Số công nhân gián tiếp sản xuất và cán bộ quản lý của Công ty năm 2000 tăng 16 người sovới năm 1999 trong đó chủ yếu tăng Đại học, cao đẳng (tăng 9 người) diều này chứng tỏ Công ty đã nâng cao chất lượng quản lý để hiệu quả SXKD được nâng lên. Cùng với chú trọng nâng cao số lượng chất lượng lao động, Công ty đã nâng cao thu nhập cho người lao động (được thể hiện ở bảng trên), điều này cho thấy Công ty đã có chính sách, chế độ cho người lao động hợp lý khuyến khích mọi người làm việc. Phần II Tình hình tài sản Công ty May 40. I. Tình hình chung về tài sản của Công ty hiện nay: Trước tiên ta có bảng phân tích tình hình tài sản công ty May 40 năm 1999 như trang sau: Năm Chỉ tiêu Đầu năm Số tiền % Cuối kỳ Số tiền % A. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn. 1. Tiền Tiền mặt tại quỹ Tiền gửi ngân hàng 2. Các khoản phải thu. 3. Hàng tồn kho. 4. Tài sản lưu động khác 5. Chi cho sự nghiệp. B. Tài sản lưu động. 1. Tài sản cố định. Nguyên giá Giá trị hao mòn luỹ kế. Tổng cộng tài 11.905.989 53,94 3.741.742.141 94.765.528 3.646.976.613 2.818.245.431 5.281.469.005 37.992.412 26.450.000 10.166.245.666 46.06 10.166.245.666 21.013.112.337 (10.846.866.671) 22.072.144.655 11.014.648.622 50,85 2.657.823.744 120.269.455 2.537.563.289 5.490.468.983 2.638.078.504 146.212.391 822.356.000 10.644.767.999 49.15 1o.644.767.999 23.625.572.170 (12.980.804.171) 21.659.416.621 Đơn vị tính : đồng Xuất phát từ nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng Công ty luôn chú trọng việc huy động vốn để sanr xuất kinh doanh. Trên cơ sở các quan hệ tài chính của Công ty và vốn được ngân sách Nhà nước cấp ban đầu cung như tình hình thực tế hoạt động ở mỗi thời kỳ Công ty đã có két cấu tài sản theo yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Do hoạt động sản xuất ngày càng phát triển mạnh, nên kết cấu về tài sản của Công ty cũng có sự thay đổi về số lượng cũng như tỷ trọng. Điều này được thể hiện qua bảng sau: STT Chỉ tiêu 1998 1999 1 Tài sản cố định 10.166 10644 Tỷ trọng (%) 46,06 49,16 2 Tài sản lưu động 11.905 11.014 Tỷ trọng (%) 53,94 50,85 3 Tổng tài sản 22.071 21,658 Thông qua số liệu trên ta thấy tài sản cố định năm 1999 tăng so với năm 1998 là do Công ty đã bổ sung thêm một số thiết bị chuyên dùng nhằm nâng cao tính năng cung như sử dụng tài sản cố định của Công ty. Tài sản lưu động năm 1999 giảm so với năm 1998 do Công ty giải quyết được lượng nguyên vạt liệu tồn kho, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của Công ty không để ứ động vốn, đẩy nhanh được vòng quay của vốn. Một số chỉ tiêu về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 – Tài sản cố định/ Tổng số tài sản % – Tài sản lưu động/ Tổng số tài sản % 46,06% 53,94% 49,15% 50,85% – Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu % – Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn % 3,05% 11,75% 2,09% 13,17% Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản 55,05% 50,09% – Khả năng thanh toán + khả năng thanh toán chung Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn + Khả năng thanh toán nhanh Tiền hiện có/ Nợ ngắn hạn 1,433 0,8 2,842 2,16 Qua số liệu trên ta thấy tình hình tài chính của Công ty tương đối tốt + Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản. Năm 1998 là 55,05% nhưng đến năm 1999 chỉ còn 50,9% giảm 4,15% so với năm 1998. Điều này chứng tỏ việc thanh toán công nợ của Công ty đã có nhiều tiến bộ. Công ty đã đốn đốc và quản lý công việc thanh toán với khách hàng kịp thời, không để nợ quá hạn, nâng cao uy tín của Công ty với các bạn hàng trong việc thanh toán. Khả năng thanh toán năm 1999 là 2,842% cao hơn so với năm 1998, đièu này cho thấy mức độ dự trữ năm 1999 thấp hơn so với năm 1998 có thể do Công ty có chính sách hợp lý về tiêu thụ và hàng sản xuất ra tiêu thụ được ngay. Với khả năng thanh toán năm 1999 cao như vậy bảo đảm cho Công ty nâng cao uy tín với khách hàng trong việc thanh toán; Công ty luôn đảm bảo tốt việc thánh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của Công ty. Tình hình tài chính của Công ty rất tốt. – Xét khả năng thánh toán nhanh. Năm 1999 tỷ lệ thanh toán nhanh cao hơn nhiều so với năm 1998. Năm 1998 chỉ đạt mức 0,8% nhưng đến năm 1999 mức tỷ lệ này đạt 2,16%. Nguyên nhân năm 1999 các khoản phải thu của Công ty cao hơn nhiều so với năm 1998 mặt khác số lưoựng hàng tồn kho của doanh nghiệp lại giảm. Năm 1998 là 5.281 triệu đồng. Năm 1999 chỉ còn là 2.638 triệu đồng. Chứng tỏ Công ty đã có chính sách quản lý tài chính tốt. – Xét bố chí cơ cấu: Tài sản cố định năm 1999 đã tăng hơn so với năm 1998 là do Công ty đầu tư thêm máy móc thiết bị mới nhằm hiện đại hoá dây truyền công nghệ, đây là hướng phát triển tốt đẹp của Công ty. Tài sản lưu động có giảm là do Công ty giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, lượng tồn kho ít. – Xét khả năng sinh lời: Mức tỷ lệ lợi nhuận/ doanh thu năm 1999 thấp hơn so với năm 1998. Năm 1998 là 3,05% nhưng năm 1999 là 2,02%. Nguyên nhân này là do doanh thu năm 1999 tăng gần gấp đôi so với năm 1998 nhưng tốc độ tăng giá vốn hàng bán lại tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng doanh thu dẫn đến lãi gộp của Công ty giảm xuống. Mặt khác, Công ty luôn chú trọng việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp dẫn đến lợi nhuận sau thuế năm 1999 là 1.399 triệu cao hơn so với năm 1998. _ Tỷ suất lợi nhuận/ vốn năm 1999 cao hơn năm 1998 chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn tự có là rất tốt. Như vậy thông qua hàng loạt chỉ tiêu đanh giá khái quát trên ta thấy được tình hình hoạt động của công ty năm 1999 là tương đối tốt, đối với tất cả các mặt, các lĩnh vực sử dụng tài sản và bố trí cơ cấu tài sản hợp lý của Công ty. II. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty 1. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:  Cơ cấu tài sản cố định: Việc đánh già có cấu tài sản cố định có một ý nghĩa quan trọng khi đánh già hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty. Nó cho ta biết, những nét sơ bộ về công tác đầu tư dài hạn của Công ty. Đánh giá cơ cấu tài sản Công ty qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng. S TT TSCĐ bình quân Năm 1998 Nguyên Khấu Giá trị giá hao luỹ còn lại kế Năm 1999 Nguyên Khấu Giá trị giá hao luỹ còn lại lại 1 Nhà cửa Tỷ trọng (%) 3.727 2.172 1.555 17,74 20,1 15,3 3.727 2.330 1.397 15,76 18,02 13,18 2 Máy móc thiết bị Tỷ trọng (%) 15.905 7.916 7.989 75,4 72,9 78,6 18.518 9.732 8.786 78,4 74,9 82,5 3 Phương tiện vận tải. Tỷ trọng (%) 1.011 642 369 4,8 5,9 3,6 1.011 729 284 4,28 5,6 2,67 4 Dụng cụ quản lý Tỷ trọng (%) 368 116 252 1,76 1,1 2,5 368 192 176 1,56 1,48 1,65 5 Tổng số 21.011 10.846 10.165 23.624 12.981 10.643 Trong năm 1999 Công ty đã dùng vốn khấu hao và vay vốn ngân hàng để đầu tư 35 thiết bị chuyên dùng của ngành May như máy bổ cơi túi, máy dán, máy nhân mác với giá trị tài sản là 3.003 triệu đồng, đồng thời Công ty thanh lý một số máy móc thiết bị lạc hậu không sử dụng được tận dụng thu khoản tiền là 391 triệu đồng. Có thể nói năm 1999 việc thu hồi tài sản cố định đã được Công ty chú ý. Việc xác định phương pháp khấu hao Công ty sử dụng phương pháp khấu hao tuyến tính. Công ty căn cứ vào khung thời gian tối đa và tối thiểu được Bộ tài chính quy định trong quyết đinhj 1062. Đây là phương pháp khoa học và hợp lý.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của Công ty. Do đó cần phải phân tích riêng hiệu quả sử dụng TSCĐ để xem tài sản cố định được sử dụng như thế nào, thấy những mặt được và hạn chế trong việc sử dụng tài sản cố định tại Công ty. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định thông qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm 1998 1999 Chênh lệch 99/98 +/- % 1 Doanh thu thuần 38.772 66.944 28.172 172,66 2 Lợi nhuận ròng 1.157 1.339 182 115,73 3 Nguyên giá bình quân TSCĐ 21.011 23.624 2.613 112,4 4 Hiệu suất sử dụng TSCĐ 1,84 2,83 0,99 153,8 5 Doanh lợi TSCĐ 0.055 0,056 0,001 101,82 Thông qua bảng trên ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định tăng qua các năm. Năm 1998 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuấ kinh doanh tạo ra 1,84 đồng doanh thu. Năm 1999 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra 2,83 đồng doanh thu hơn năm 1998 là 0,99 đồng và số tương đối là 53,8%. Đồng thời cũng thông qua bảng trên ta thấy được mức doanh lợi TSCĐ năm 1999 cao hơn so với năm 1998. Trong năm 1999 Công ty đầu tư thêm một số máy móc chuyên dùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Đây là một vấn đề rất đúng đắn của Công ty. Do đặc thù của ngành may mặc, nên tỷ trọng máy móc thiết bị luân chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tài sản cố định của Công ty. Máy móc trong ngành may tỷ lệ khấu hao rất nhanh thông qua số liệu ta thấy mặc dù máy móc thiết bị khấu hao chiếm gần một nửa so với nguyên giá TSCĐ nhưng Công ty vẫn khai thác và sử dụng tốt. Tuy nhiên xét về lâu dài, để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty, tăng năng lực sản xuất. Công ty nên có kế hoạch đầu tư thích đáng cho tài sản cố định, đặc biệt là máy móc trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, có như vậy mới có thể phát triển được trong tương lai, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảo chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. 2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động:  Cơ cấu tài sản lưu động tại Công ty May 40 STT TSLĐ bình quân Năm 1998 Trị giá % Năm 1999 Trị giá % 1 Vốn bằng tiền 3.741 31,42 2.657 24,12 2 Dự trữ 5.281 44,36 2.638 23,95 3 Phải thu 2.818 23,68 5.490 49,83 4 TSLĐ khác 65 0,54 229 2,1 5 Tổng cộng 11.905 100 11.014 100 Thông qua bảng trên ta thấy nhìn chung năm 1999 tổng cộng TSLĐ bình quân giảm so với năm 1998. Năm 1998 là 11.905 triệu đồng nhưng năm 1999 chỉ còn là 11.014 triệu đồng giảm 891 triệu đồng. Nhưng cơ cấu tỷ trọng các khoản trong TSLĐ có sự thay đổi rõ rệt. Năm 1998 dự trữ chiếm 44,36% trong tổng TSLĐ. Nhưng năm 1999 chiếm 23,95% điều này chứng tỏ sự nỗ lực cố gắng của Công ty trong công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời khoản phải thu năm 1999 cao hơn rất nhiều so với năm 1998. Năm 1998 khoản phải thu là 2.818 triệu đồng thì đến năm 1999 khoản phải thu là 5.490 triệu đồng, tăng 2.672 triệu đồng. Điều này chứng tổ với sự gia tăng phức tạp khi mở rộng sản xuất kinh doanh và tính cạnh tranh treen thị trường ngày một khó khăn thì công tác thanh toán của Công ty đã gặp nhiều trở ngại. Nếu với tư cách người mua Công ty trở nên ưu thế hơn thì với tư cách là người bán, Công ty đã phải chấp nhận việc chậm trễ thanh toán của khách hàng với khối lượng lớn. Do vậy Công ty phải xây dựng kế hoạch cụ thể để tiến hành thu hồi các khoản nợ của khách hàng không nên chậm trễ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của Công ty. Trong cơ cấu tài sản lưu động của Công ty thì tỷ trọng của vốn bằng tiền giảm mạnh năm 1998 vốn bằng tiền chiếm 31,42% Nhưng đến năm 1999 vốn bằng tiền chỉ chiếm 24,12% số giảm tuyệt đốib là 1.084 triệu đồng. Nhưng xét về khả năng thanh toán nhanh của Công ty như đã phân tích ở trên thì việc giảm lượng tiền hiện tại không gây trở ngại nhiều cho công tác thanh toán của Công ty. Nhìn một cách chung thì ta thấy trong năm 1999 có cấu tài sản lưu động của Công ty có sự thay đổi lớn so với năm 1998 song bên cạnh những mặt được thì Công ty có những mặt hạn chế cần phải khắc phục đó là không nên để chô khách hàng nợ quá nhiều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp mà chỉ xét đến hiệu quả sử dụng tài sản cố ddịnh thì hẳn là chưa đủ hay nói cách khác là chưa chính xác. Tuỳ thuộc vào tính chất loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà sự hoạt động của tài sản lưu động đối với quá trình inh doanh có khác nhau. Vai trò của tài sản lưu động là cực kỳ quan trọng và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có tính chất quyết định tới hiệu quả sử dụng tài sản của doang nghiệp. Công ty muốn hoạt động sản xuất kinh doanh tốt thì cần phải biết sử dụng hợp lý và hiệu quả tài sản lưu động, kinh doanh lãi hay lỗ phụ thuộc nhiều vào khả năng sử dụng tài sản đó. Để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh đòi hỏi Công ty phải tăng nhanh vòng quay của vốn tức là giảm số ngày của một vòng luân chuyển, có như vậy hoạt đọng sản xuất kinh doanh mới linh hoạt đồng thời vốn lưu động được sử dụng nhiều lần cho sản xuất kinh doanh. Làm được điều này tức là Công ty đã sử dụng hiệu quả vốn lưu động. Thông qua các chỉ tiêu của tài sản lưu động ta xác định được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động như bảng sau. Đơn vị: triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Chênh lệch +/- % 1 Doanh thu thuần 38.772 66.944 28.172 172,66 2 Lợi nhuận ròng 1.157 1.339 182 115,7 3 Tài sản lưu động bình quân 11.905 11.014 – 891 92,5 4 Số vòng quay TSLĐ 3,16 (vòng) 6,078 (vòng) 2,818 186,4 5 Thời gian một vòng luân chuyển 110 ngày 59 ngày 51 ngày 6 Mức doanh lợi TSLĐ 0,097 0,121 0,024 124,7 Trong năm 1999 tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động rất nhanh năm 1998 số vòng quay TSLĐ chỉ đạt 3,26 vòng trong khi đó số vòng quay năm 1999 đạt 6,078 vòng đây thực sự là cố gắng rất lớn của Công ty. Về mức doanh lợi của TSLĐ. Để đánh giá chính xác và đầy đủ mà hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ta cần phân tích và đánh giá thêm chỉ tiêu mức doanh lợi của tài sản lưu động. Chỉ tiêu này rất quan trọng vì mọi hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung đều hướng tới lợi nhuận. Qua bảng tên ta thấy Năm 1998 1đồng tài sản lưu động tạo ra 0,097 đồng lợi nhuận. Năm 1999 1đồng tài sản lưu động tạo ra 0,121đồng lợi nhuận. Như vậy năm 1999 Công ty đã sử dụng tốt tài sản lưu động tăng nhanh tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động là cố gắng rất lớn của Công ty. 3. Đánh giá chung về tình hình sử dụng tài sản của Công ty a. Những kết quả đạt được Thông qua một loạt chỉ tiêu kinh tế đánh giá cho thấy trong năm vừa qua Công ty làm ăn có lãi và hoàn thành tốt mọi chi tiêu kế hoạch do sở công nghiệp Hà Nội đề ra thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Công tác quản lý và sử dụng tài sản ở Công ty đã được chú trọng nhiều hơn trước, các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản đều cao hơn các năm. Tuy tốc độ tăng còn thấp nhưng chiều hướng nhìn chung là tốt. Doanh thu thuần năm 1999 đạt 66.944 triệu đồng và lợi nhuận ròng tăng 15,7% so với năm 1998 khẳng định rằng Công ty làm ăn có hiệu quả. Khả năng thanh toán của Công ty luôn được đảm bảo tốt, năm 1998 khả năng thanh toán chung chỉ đạt 1,433 thì năm 1999 đạt mức 2,842 điều này tạo điều kiện cho Công ty nâng cao được uy tín đối với khách hàng khi kí kết hợp đồng với Công ty. b. Hạn chế. Nhìn một cách chung tuy rằng hiệu quả sử dụng của Công ty hằng năm đều tăng nhưng so với tiềm năng của Công ty, với mục tiêu chung mà lãnh đạo Công ty đặt ra thì vẫn còn thấp. Mặc dù năm 1999 Công ty đã đầu tư nhiều thêm trang thiết bị chuyên dùng hiện đại song sự đầu tư này thấp. Doanh lưọi về tài sản cố định của Công ty tăng nhưng so với ngành may mặc ở nước ta còn thấp, Công ty còn để các khoản phải thu quá lớn, dễ dẫn đến tình trạng khó khăn về tình hình tài chính. 3. Hoạt động quản lý chất lượng của công ty Trong cơ chế thị trường, chất lượng luôn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty luôn luôn coi việc nâng cao chất lượng là một trong những chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh cơ bản, nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường và phạm vi ảnh hưởng của mình. Và vì vậy, hoạt động quản lý chất lượng luôn luôn được coi là một trong những hoạt động hàng đầu, trọng tâm của doanh nghiệp. Trên cơ sỏ thị trường, khách hàng, mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng, doanh nghiệp đã đề ra được chính sách và mục tiêu chất lượng phù hợp. Đó là : – Chính sách chất lượng : Công ty May 40 cam kết luôn luôn bảo đảm mọi nguồn lực để sản xuất và cung cấp những sản phẩm có chất lượng như thoả thuận với khách hàng. – Mục tiêu chất lượng : Kiểm soát chặt chẽ chất lượng trong các giai đoạn sản xuất nhằm bảo đảm sản phẩm đạt yêu cầu của khách hàng. Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ, công ty thường xuyên tổ chức, hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới do ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất, nhằm bảo đảm chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. Công ty cũng luôn tổ chức hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết, không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất diễn ra một cách liên tục. Để kiểm tra chất lượng của sản phẩm, công ty đang sử dụng 2 công cụ thống kê là : biểu đồ Paretto và biểu đồ xương cá để xác định các nguyên nhân gây ra sự không phù hợp với chất lượng sản phẩm, đề ra và đánh giá hiệu quả. Để tìm ra những nguyên nhân của sự không phù hợp này, công ty bắt đầu từ việc sử dụng một biểu thống kê các nguyên nhân không phù hợp từ biên bản, các phàn nàn của khách hàng. Song song với các hoạt động trên, các hoạt động về đổi mới, cảI tiến chất lượng sản phẩm cũng liên tục được diễn ra. Công ty luôn luôn tổ chức sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức đào tạo cho nhân viên, giúp cho nhân viên tiếp cận được nhanh chóng các kỹ thuật mới : như cho xem các băng hình kỹ thuật được chuyển từ Nhật về…Hàng năm công ty đều tổ chức một lần hoạt động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng được nâng cao, thúc đẩy được tinh thần về chất lượng trong mỗi nhân viên của công ty. Bên cạnh hoạt động cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng thì vấn đề đổi mới cũng được công ty hết sức coi trọng. Trong những năm vừa qua, công ty đã đầu tư hàng chục tỷ đồng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất : Máy may Joky, máy trải cắt vải tự động của Pháp (đầu quý một năm 2000)…Từ đó chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng được nâng cao, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Dự kiến vào đầu quý II năm nay, công ty sẽ cho tiến hành xây dựng một phân xưởng may sơ mi, đây là một quyết định của công ty trong việc mở rộng và chiếm lĩnh thị phần của mình. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng về mọi mặt, năm 2000 công ty đã được tổ chức quốc tế cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002- 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Công Ty
  • Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Kiến Thức Chuyên Ngành Nhà Hàng Khách Sạn
  • Chức Năng Bộ Phận Buồng Phòng Trong Khách Sạn Quan Trọng Không?
  • Học Nghiệp Vụ Về Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Buồng Phòng Trong Khách Sạn
  • Tìm Hiểu Nhiệm Vụ Và Chức Năng Của Công Ty

    --- Bài mới hơn ---

  • Để Doanh Nghiệp Nhà Nước Tiếp Tục Giữ Vững Vị Trí “đầu Tàu” Của Nền Kinh Tế
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo Ở Nước Ta
  • Xem Xét Tách Việc Biên Soạn, Xuất Bản Sgk Khỏi Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục
  • Quản Lý Nhà Nước Về Gd
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 9 (Có Đáp Án): Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Phần 2).
  • Sẽ có những lúc bạn nghe người ta dùng thuật ngữ “công ty” có lúc lại dùng từ “doanh nghiệp”, tuy nhiên bạn không cần quá hoang mang về vấn đề này lắm đâu. Vì thực chất, công ty cũng chính là một loại hình doanh nghiệp và trong nhiều trường hợp hai thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau, việc dùng hai thuật ngữ này lẫn lộn có thể chấp nhận được vì bản chất khá tương tự nhau. Công ty được xem là một trong những phát minh thể chế quan trọng nhất của loài người. Trên thế giới, công ty được phát minh ra từ rất lâu và phát triển rất nhiều các định dạng, biến thể khác nhau. Đến hiện nay, công ty là mô hình phổ biến nhất trên thế giới là thường thực hiện chức năng của một tổ chức kinh doanh.

    Ở Việt Nam, các loại hình công ty được quy định cụ thể tại Luật doanh nghiệp 2014, cụ thể các các loại hình công ty phổ biến như sau:

    – Công ty cổ phần

    – Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên)

    – Doanh nghiệp tư nhân

    – Công ty hợp danh

    Bên cạnh các doanh nghiệp tư nhân thì Luật doanh nghiệp 2014 cũng có quy định về các doanh nghiệp thuộc nhà nước, do đó bạn đừng nhầm lẫn công ty chỉ thuộc về tư nhân.

    chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp sẽ được quy định cụ thể trong Điều lệ công ty dựa trên các quy định của pháp luật mà quan trọng nhất là Luật doanh nghiệp 2014. Do đó, mỗi công ty sẽ có những chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với lĩnh vực hoạt động, quy mô công ty.

    2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty

    + Tổ chức mua bán, sản xuất, phân phối, xuất nhập khẩu các mặt hàng.

    + Công ty còn có chức năng hợp tác đầu tư với các công ty khác nhằm mở rộng thị trường, phát huy một cách tối ưu hiệu quả kinh doanh nhằm hướng tới mục đến cao nhất là lợi nhuận công ty.

    + Nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động trong công ty, từ đó đóng góp cho nguồn ngân sách nhà nước,

    + Chức năng tạo mối liên hệ với khách hàng thông qua kinh doanh trực tiếp, tạo mối liên hệ với các đối tác uy tín tăng hiệu quả làm việc công ty.

    + Đăng ký kinh doanh và kinh doanh theo đúng các ngành nghề đã đăng ký trong giấy đăng ký thành lập doanh nghiệp.

    + Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách và tạo nguồn vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh

    + Xây dựng các kế hoạch, chính sách của công ty theo chiến lược lâu dài và định hướng hằng năm, hằng quý của công ty.

    + Mở rộng liên kết với các cơ sở kinh tế, doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm tăng cường hợp tác quốc tế.

    + Thực hiện các chế độ cho người lao động theo đúng quy định pháp luật cũng như nội quy công ty như đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình độ, tay nghề, hỗ trợ các chính sách xã hội đúng đắn và kịp thời như chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các hình thức khen thưởng, kỷ luật, thực hiện các biện pháp về an toàn vệ sinh lao động,…

    + Thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo đúng quy định pháp luật như kê khai thuế, nộp thuế,..

    + Không ngừng đổi mới phương thức sản xuất và trang thiết bị sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức, đem lại hiệu quả kinh doanh cao.

    Bài viết trên đã giúp bạn hiểu thêm về công ty nói chung cũng như chức năng và nhiệm vụ của công ty. Nếu không muốn quá gò bó khi làm việc trong các cơ quan nhà nước thì hãy cân nhắc làm việc trong các công ty, là cơ hội để bạn phát triển bản thân, cọ xát với thế giới bên ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xem Xét Lại Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Doanh Nghiệp Nhà Nước Có Vai Trò Quan Trọng Trong Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Quản Lý Nhà Nước Các Doanh Nghiệp
  • Phân Định Rõ Quản Lý Nhà Nước Và Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Đề Án Quản Lý Nhà Nước Về Du Lịch
  • Luận Văn Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Tài Nguyên Môi Trường
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Sở Tài Nguyên Và Môi Trường
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phầntraphaco
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Tại Công Ty Toyota Hoàn Kiếm
  • Đề Tài Phân Tích Kết Quả Kinh Doanh Của Công Ty Và Công Tác Quản Trị Của Công Ty Toyota Việt Nam
  • Luận văn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40 phần i Lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu bộ máy quản lý, sản xuất của công ty I. quá trình hình thành và phát triển của công ty may 40. 1. Quá trình hình thành: Vào năm 1955 do yêu cầu cấp bách của tiền phương, Tổng cục Hậu Cần – Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn sản xuất quân dụng với nhiệm vụ may trang phục cho bộ đội phục vụ tiền tuyến. Với 30 đồng chí hầu hết từ quân đội chuyển sang là lực lượng đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng xưởng quân dụng 40. Năm 1961, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đoàn sản xuất quân dụng chuyển thành Xí nghiệp May X40 được thành lập dựa trên nền tảng là phân xưởng quân dụng 40 là một đơn vị sản xuất công nghiệp quốc doanh và được Tổng cục Hậu Cần bàn giao sang Sở Công nghiệp Hà Nội quản lý, đơn vị đã không ngừng cố gắng nỗ lực vươn lên. Chính vì vậy đến ngày 4/ 5/ 1994 căn cứ vào quyết định số 741/ QĐUB của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đổi tên Xí nghiệp may X40 thành công ty may 40 với nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ cho nhu cầu trong nước và nước ngoài. 2. Quá trình phát triển: Từ năm 1955 – 1960: Xí nghiệp X40 là đơn vị hạch toán kinh tế do Sở công nghiệp Hà Nội quản lý. Lúc này tổng số cán bộ công nhân viên là 280 người với 80 máy may và 488 m2 nhà xưởng. Năm 1961 – 1965: Xí nghiệp may X40 thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất. Trong thời gian này, Xí nghiệp đóng trên địa bàn Cầu Mới – Thượng Đình – Hà Nội (nay là công ty giầy HN). Xí nghiệp là một đơn vị hạch toán với 7 phòng ban nghiệp vụ và 3 ngành sản xuất (ngành quân dụng, quân hàm và mũ). Trong thời gian này, xí nghiệp đã vinh dự được đón chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngày 20 /4 /1963. Vì vậy từ đó đến nay trở thành ngày truyền thống của đơn vị. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1966 – 1975): để có thể phục vụ tốt nhất cho kháng chiến nên Xí nghiệp đã chia ra làm 5 cơ sở nhỏ để đi sơ tán nơi gần nhất cánh Hà Nội 12 km và nơi xa nhất là 40 km. Tuy nhiên, vào thời kỳ này quy mô của doanh nghiệp lớn mạnh hơn so với kỳ trước, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong xây dựng nhà xưởng, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên, trau dồi tư tưởng cho anh chị em công nhân làm cho họ tin tưởng vào cuộc đấu tranh tất thắng của dân tộc. ở nơi sơ tán không có điện phải chuyển toàn bộ máy móc sang đạp chân và làm ca trong ánh đèn dầu, sản phẩm cũng thay đổi theo yêu cầu cấp bách của chiến trường. Tuy đứng trước những khó khăn to lớn như vậy nhưng xí nghiệp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không ngừng mở rộng sản xuất nâng số máy may lên 250 cái với 700 cán bộ công nhân viên và sản xuất 500 loại mặt hàng. Sản phẩm chủ yếu thời kỳ này là áo pháo, bạt xe tăng, bạt công binh, áo tên lửa… phục vụ cho chiến trường. Từ năm 1975, để thích ứng với nhiệm vụ của những năm khôi phục đất nước, xí nghiệp đã chuyển từ nơi sơ tán về địa điểm 80 Hạ Đình – Thanh Xuân ngày nay. Tại đây xí nghiệp đã xây dựng 12000 m2 nhà xưởng, tuyển chọn thêm nhiều công nhân để sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước từ những bộ comple, áo măngtô phục vụ cho cán bộ Việt Nam ra công tác học tập ở nước ngoài, nhưng bên cạnh đó đã có hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu của xí nghiệp là quần áo bảo hộ lao động với tỷ trọng là 30% tổng sản lượng và thị trường xuất khẩu của xí nghiệp là Liên Xô chủ yếu thông qua các hiệp định kinh tế. Thời kỳ này xí nghiệp có một lượng công nhân khá đông 1300 cán bộ công nhân viên, với lực lượng này xí nghiệp đã không ngừng vươn lên và hoàn thiện mình đáp ứng được nhiệm vụ cấp trên giao cho. Từ năm 1983, Xí nghiệp May X40 đổi tên thành Xí nghiệp May 40. Hoạt động sản xuất của xí nghiệp vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và phục vụ quốc phòng. Đồng thời, hoạt động xuất khẩu vẫn thông qua các hiệp định kinh tế với tỉ trọng như những năm trước và thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là Tiệp Khắc và Liên Xô. Từ đó đến năm 1990, trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển. Xí nghiệp May 40 đã không ngừng đi lên và luôn hoàn thành xuẩt sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Năm 1991, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xí nghiệp May 40 được thành lập lại DNNN ngày 10/ 11/ 92 theo công văn số 2765/ QĐUB của UBND Thành phố Hà Nội, xí nghiệp đã chuyển sang thời kỳ tự hạch toán. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của công ty do may móc thiết bị lạc hậu, trình độ công nhân thấp không đáp ứng được nhu cầu thời kỳ mới. Thêm vào đó thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty là các nước Đông Âu đang có nhiều biến động. trước khó khăn tô lớn như vậy, lãnh đạo xí nghiệp và toàn thể cán bộ công nhân viên vẫn quyết tâm ổn định sản xuất, phát triển sang thị trường mới. Nhờ lòng quyết tâm đó và những chính sách đổi mới của Đảng, Nhà Nước xí nghiệp đã dần khắc phục được khó khăn và đầu tư cho sự phát triển tương lai của mình. Năm 1994, Xí nghiệp May 40 được chuyển đổi tên thành Công ty May 40 theo quyết định số 741/ QĐUB ngày 04/ 05/ 1994 với tên giao dịch quốc tế là HaNoi Garmentex No40. Trong những năm từ 1994 – 1999, Công ty May 40 đã mạnh dạn đầu tư hơn 20 tỷ đồng để nâng cấp và mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc chuyên dụng nhằm mở rộng sản xuất, đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thị trường trong và ngoài nước. Năm 1997, nhờ bố chí hợp lý có cấu tổ chức và bộ máy quản lý, công ty đã đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đã góp phần tạo công ăn việc làm và đảm bảo đời sống cho công nhân lao động của Công ty được ổn định. Năm 1998, sản phẩm may mặc của công ty đã được thị trường EU, Mỹ, Canada và Nhật Bản chấp nhận. Năm 2000 Có thể nói sau những năm thực hiện đổi mới. Công ty May 40 đã có những yếu tố của một đơn vị công nghiệp tương đối hiện đại, thích ứng với thị trường thế giới, bước đầu đã có thị trường làm hàng gia công ổn định, đời sống người lao động ngày càng được cải thiện. ii. cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. 1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận: 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: giám đốc Phó giám đốc kế Phó giám đốc XNK, Phó giám đốc hoạch sản xuất tiêu thụ nội địa kỹ thuật phân xưởng cắt phòng kế toán – tài vụ phân xưởng thêu phòng kỹ thuật công nghệ – kcs phòng tclđ – phân xưởng may 1 bảo vệ phòng khvt – phân xưởng May 2 xnk phân xưởng may 3 phòng hcqt – y tế phân xưởng may 5 phân xưởng may 6 1.2 Trách nhiệm của ban giám đốc công ty: Giám đốc công ty có trách nhiệm tổ chức, chỉ huy các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm biệm pháp khai thác và sử dụng hợp lý khả năng khai thác của công ty nhằm hoàn thành các chỉ tiêu được giao và các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng. Sử dụng hợp lý các tài sản được giao một cách có hiệu quả. Tạo điều kiện cho CBCNV thực hiện tốt quyền làm chủ tập thể, phát huy tính sáng tạo của CNVC trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất cũng như tham ra quản lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy của công ty cũng như các hoạt động kinh tế. Các phó giám đốc quản lý, theo dõi, điều hoà, phối hợp nhằm đảm bảo nhịp nhàng, ăn khớp. Thiết lập sự thống nhất trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh từ phó giám đốc đến các phòng ban, phân xưởng, tổ sản xuất. 1.3 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban: a. Chức năng: Phòng ban là các đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ, làm tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, tổ chúc đời sống, giữ gìn trật tự an ninh. Các phòng ban không có quyền chỉ huy sản xuất nhưng có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc kế hoạch, tiến độ sản xuất, quy trình công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và các mặt quản lý chuyên môn. b. Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban: Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản xuất, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và giúp việc cho giám đốc. Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm cụ thể luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành nhịp nhàng. Công ty có 5 phòng ban chức năng bao gồm: phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu, phòng tổ chức – bảo vệ, phòng kỹ thuật công nghệ – KCS, phòng hành chính quản trị – Ytế.  Phòng kế toán tài vụ: Thực hiện theo đúng pháp lệnh về kế toán và thống kê của Nhà nước ban hành. Có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức hợp lý công tác thống kê, kế toán tài chính, công tác ghi chép số liệu ban đầu và thông tin kinh tế, xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch tài chính tổ chức phân tích hoạt động kinh tế theo định kỳ, tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và nội bộ từng phân xưởng trong Công ty. Phản ánh tình hình thực hiện chỉ tiêu SXKD, hiệu quả sản xuất kinh doanh và xây dựng các dự án đầu tư để phát triển Công ty.  Phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu: Là phòng chịu trách nhiệm từ phần đầu đến phần cuối của quá trình sản xuất. Tham mưu cho giám đốc trong việc ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế, làm mọi thủ tục xxuất nhập khẩu vật tư, hàng hoá. Tổ chức giao nhận và bảo quản, mua bán lượng vật tư hàng hoá cần thiết trong quá trình sản xuất, cấp phát vật tư phục vụ kịp thời sản xuất. Tổ chức chỉ đạo theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, tổ chức quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm công ty.  Phòng tổ chức – bảo vệ: Tham mưu cho giám đốc công ty về tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh. Tổ chức hợp lý lao động, xây dựng kế hoạch lao động và tiền lương, tổ chứccông tác cán bộ, tổ chức theo dõi và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương, nghiên cứu áp dụng các hình thức trả lương, thưởng phạt phù hợp nhằm kích thích và nâng cao hiệu quả lao động, quản lý lao động tiền lương, xác định mức lao động tiên tiến nhằm phù hợp với tình hình sản xuất, thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động. Bảo vệ tốt tài sản của công ty, đảm bảo an toàn lao động cũng như an ninh trật tự trong toàn công ty.  Phòng kỹ thuật công nghệ – KCS: Nghiên cứu, thiết kế, chế thử các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và thị hiếu người tiêu dùng. Xây dựng và kiêmt tra việc thực hiện các quy trình công nghệ đối với tất cả các sản phẩm được sản xuất. Xây dựng định mức tiêu hao vật tư phù hợp với yêu cầu sản phẩm theo định mức, yêu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích cho công ty. Thiết kế, chế thử các dụng cụ gá lắp phục vụ sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, lập kế hoạc sửa chữa thiết bị của công ty. Tổ chức hợp lý đội ngũ kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra việc thực hiện quy trình công nghệ.  Phòng hành chính quản trị – Ytế: Tổ chức hợp lý công tác hành chính, văn thư, sửa chữa nhỏ nhà cửa và phương tiện quản lý. Tổ chức khám chữa bệnh cho CBCNV, kết hợp với các đơn vị quản lý ngày công, BHXH của CBCNV. 2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ 2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất, chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của phân xưởng  Đặc điểm tổ chức sản xuất: Công ty May 40 sản xuất theo quy mô vừa, nên công ty đã bố trí sản xuấ theo phân xưởng sản xuất cho phù hợp với loại hình và tổ chức sản xuát. Công ty gồm 5 phân xưởng may, một phân xưởng cắt và một phân xưởng thêu. Trong mỗi phân xưởng sản xuất được tổ chức thành các tổ sản xuất, xắp xếp theo một trình tự hợp lý, mỗi công nhân thực hiện một hoặc một số bước công nghệ nhất định. Các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch đặt ra hàng tháng của công ty. Sản phẩm chủ yếu của công ty là sản xuất gia công hàng may mặc xuất khẩu với kiểu mã đa dạng, phong phú như quần áo trượt tuyết, quần áo thể thao, áo jacket… với tỷ trọng may mặc hàng xuất khẩu chiếm từ 95% – 98%. Ngoài ra Công ty còn nhận sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác trong và ngoài nước.  Chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của các phân xưởng: a. Chế độ quản lý: Thực hiện phân bổ hướng dẫn và kiểm tra các tổ dây chuyền sản xuất nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty giao. Nghiên cứu phân tích, phát hiện và đề xuất các biệm pháp chưa hợp lý trong sản xuất và quản lý của đơn vị mình. b. Chức năng và nhiệm vụ: Phân xưởng là nơi trực tiếp làm ra sản phẩm của công ty; là nơi thực hiện chế độ, pháp luật của Nhà nước; nội quy, quy định của công ty; là nơi giao dục, rèn luyện lao động và thực hiện quyền làm chủ tập thể của CNVC trong phân xưởng sản xuất; là nơi tổ chức sản xuất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch mà công ty giao cho. Phân xưởng chịu sự chỉ đạo của ban giám đốc mà trực tiếp là phó giám đốc kỹ thuật. Phân xưởng hoạt động theo nội quy quản lý của công ty, có trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh chỉ đạo của giám đốc và chính sách của Đảng và Nhà Nước. Phân xưởng là nơi trực tiếp sử dụng, giữ gìn bảo quản mọi thiết bị, tài sản của công ty, tổ chức sử dụng hợp lý lượng vật tư có hiệu quả nhất, là nơi trực tiếp quản lý lao động. 2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ: Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty May 40 là quy trình công nghệ kiểu phức tạp chế biến liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Đặc điểm sản xuất sản phẩm của Công ty là sản xuất hàng loạt, sản phẩm hoàn thành nhập kho là kết quả của một quá trinhg chế biến liên tục từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất đến khi hoàn thành sản phẩm là quy trình khép kín không thể gián đoạn về mặt kỹ thuật. Đầu tiên là xuất nguyên vật liệu cho phân xưởng cắt, cắt bán thành phẩm. Sau đó tổ chức dây chuyền sản xuất từ bán thành phẩm và vật liệu phụ theo từng công đoạn chi tiết sản phẩm. Sản phẩm sản xuất xong phải được bộ phận KCS kiểm tra sau đó mới được nhập kho thành phẩm. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất ra những sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu. Vì vậy để tạo điệu kiện thuận lợi cho việc điều hành sản xuất và chủ động sản xuất các mã hàng của Công ty, các bộ phận thuộc phân xưởng may có nhiệm vụ thực hiện quy trình công nghệ như sau: – Nhận mẫu mã, tài liệu kỹ thuật, quy cách, kích thước sản phẩm từ phòng kỹ thuật cùng với định mức nguyên liệu, phụ liệu, khảo sát mẫu may chuẩn. Thết kế dây chuền sản xuất cho từng loại sản phẩm, nghiên cứu bảng tính thời gian chi tiết sản phẩm, may thử bấm giờ để so sánh chính xác nhằm chia công đoạn, bộ phận để sản xuất và tính lượng sản phẩm. Nghiên cứu nhiệt độ là ép, độ co nguyên liệu, màu sắc giặt tẩy nguyên phù liệu. Lập bảng phối mầu nguyên phù liệu của sản phẩm. Nghiên cứu các thông số, kích thước các thùng catton, bao bì đai nẹp, chữ số, trọng lượng cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng của sản phẩm. – Tổ chức giác mẫu và cắt bán thành phẩm. Làm mẫu mỏng, mẫu catton bán thành phẩm, mẫu sang dấu, mẫu may sản phẩm, mẫu cắt chi tiết sản phẩm. Trên cơ sở đó phân xưởng cắt nhận nguyên liệu từ kho theo phiếu xuất kho của Công ty và theo đúng yêu cầu kỹ thuật như mầu sắc, số lượng, khổ vải, loại vải để cắt bán thành phẩm và ép là sản phẩm đầy đủ, đồng bộ theo quy trình sản xuất, giao bán thành phẩm cho phân xưởng may theo phiếu của phòng KH – XNK. Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty May 40 gồm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật, giai đoạn cắt may, giai đoạn hoàn thiện và đóng gói sản phẩm. + Giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật: Giai đoạn này gồm thiết kế mỹ thuật, vé mẫu thiết kế bản giác cho các loại sản phẩm với các cơ, vóc khổ vải khác nhau đảm bảo sự chính xác cao bằng máy móc thiết kế giác mẫu kỹ thuật vi tính của pháp. Tiết kiệm được lao động, tiết kiệm được vật tư sử dụng, hạ định mức vật tư từ 1,5% – 2% góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và hàng năm tiết kiệm được hàng nghìn mét vải các loại. + Giai đoạn cắt may: Công ty sử dụng các máy chuyên dùng cắt và may. Công ty đã đầu tư vào 1 kim có trương trình cắt chỉ, đầu tư máy 2 kim tự động, đính cúc, thừa khuyết cao cấp, đảm bảo chất lượng cao và tăng năng suất lao động. + Giai đoạn hoàn thiện: Đầu tư bộ bàn là hơi, bàn hút ẩm chân không phục vụ cho việc hoàn thiện sản phẩm trước khi đóng gói, làm đẹp và tăng chất lượng sản phẩm. Ta có sơ đồ quy trình sản xuất trang sau: sơ đồ quy trình công nghệ Thiết kế mẫu Thiết kế bản Chuẩn bị vật Giai đoạn chuẩn bị Chế thử sản giác cho px tư theo biểu phẩm cắt XĐ định giao vải trên mức vật tư bàn cắt Là chi tiết Cắt bán Giai đoạn cắt thêu may sản thành phẩm thêu may phẩm theo bản giác kỹ thuật Giai đoạn hoàn thiện Là hơi toàn Kiểm tra Kho bộ sản phẩm đóng gói Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ Công ty thường xuyên tổ chức hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới cho ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. KCS thường xuyên kiểm tra việc cắt bán thành phẩm để đảm bảo không hụt, lẹm. Tổ chức mạng lưới kiểm tra sản phẩm, sản phẩm 100%. Hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất được liên tục. 3. chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. a. chức năng: + Chuyên sản xuất hàng may mặc, dệt len, dệt theu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. + Nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc ngành may phục vụ cho nhu cầu sản xuất. + Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu của các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước. + Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất, mở đại lý, văn phòng đại diện, bán và giới thiệu sản phẩm của công ty và của các đơn vị trong và ngoài nước. b. Nhiệm vụ: + Sản xuất kinh doanh hàng may mặc và trên cơ sở đó phải luôn luôn nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. + Độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động. + Phải có trách nhiệm khai thác, bảo đảm và phát triển nguồn vốn của Nhà nước giao phó. 4. thị trường hiện tại của công ty. Trong giai đoạn hiện nay Công ty có thị trường chủ yếu ở Đức, Nhật, Canada với khách hàng như GEMINI,MAIER, NORTHLAND, BIGPACK, ALPINUS, …ở mỗi thị trường tiêu thụ mỗi loại sản phẩm riêng như ở Đức tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao. ở Nhật quần áo bảo hộ lao động, sơ mi, áo khoác nữ. Canada tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao… Mỗi loại thị trường có mỗi khó khăn, thuận lợi khác nhau như ở thị trường nhật thuận lợi là không cần hạng ngạch, gần vân chuyển dễ, nhưng ít sản phẩm còn ở thị trường Đức, Canada thì thiếu hạng ngạch xuât khẩu nhưng tiêu thụ với khối lượng lớn. Khó khăn chung vì Công ty gia công nguyên vật liệu nhập do bạn hàng cung cấp nên khó khăn trong việc thục hiện tiến độ sản xuất. Hiện nay Công ty ngoài gia công hiện nay còn góp vốn mua nguyên phụ liệu ngoài gia công đơn thuânf, góp vải chỉ với khác hàng để gia công. Một khó khăn nữa khi làm gia công Công ty còn nhận nhiều mẫu mã nên khó khăn trong việc sản xuất. Năm 2001 ngoài gia công đơn thuần Công ty còn góp vốn làm hợp đồng bán sản phẩm. Còn ở thị trường trong nước công ty chỉ chiếm một phần rất nhỏ năm 1999 doanh thu chỉ 100 triệuđ năm 2000 doanh thu là 250 triệuđ có tham ra hội trợ triển lãm năm 2001 Công ty có kế hoạch đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa. iii. đặc điểm về lao động của công ty trong những năm gần đây. 1. Đặc điểm về cơ cấu lao động: Do yêu cầu ngày càng phát triển dẫn tới việc phải mở rộng quy mô sản xuất vì vậy đòi hỏi số lượng lao động ngày càng nhiều và chất lượng của lao động phải ngày một nâng cao, để đáp ứng yêu cầu này hàng năm Công ty đều tuyển thêm lao động mới và mở nhiều khoá học để đào tạo nâng cao trình độ tay nghề Qua bảng số liệu sau ta có thể thấy rõ: Tên chỉ tiêu Đơn vị năm 1999 năm 2000 a. Cán bộ quản lý, phục vụ – Đại học, cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp b. Công nhân trực tiếp sản xuất Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 c. Tổng lao động bình quân năm – Nam – Nữ người nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt nt 186 48 19 119 1057 346 242 121 191 157 1243 236 1007 202 57 20 125 1075 188 286 166 217 218 1277 243 1034 c. Thu nhập bình quân người/ tháng nghìn đồng 700 770 Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy số lao động trung bình năm 2000 tăng hơn so với năm 1999 là 34 người chứng tỏ rằng Công ty ngày càng lớn mạnh, làm ăn có hiệu quả và ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải tổ chức có cấu lao động sao cho phù hợp cân đối với sự phát triển của Công ty. Mỗi năm khi tiến hành xấy dựng kế hoạch sản xuất Công ty tiến hành lập kế hoạch tuyển dụng lao động và chủ động có cấu lao động theo kế hoạch. – Năm 1999: Số lao động trực tiếp sản xuất 1057 người chiếm 85,1%. Số lao động gián tiếp là 186 người chiếm 14.9%. – Năm 2000: Số lao động trực tiếp sản xuất là 1075 người chiếm 84,2%. Số lao động gián tiếp là 202 người chiếm 15,8%. Qua số liệu ở trên cho thấy rằng đa số cán bộ công nhân viên trong Công ty là nữ đây cũng là đặc thù của ngành may nói chung thu hút lao động nữ với số lượng lớn do đó cũng ít nhiều ảnh hưởng tới sản xuất, khó khan trong việc quản lý ngày công. Mặt khác số công nhân trực tiếp sản xuất được phân chia theo cấp bậc phản ánh chất lượng của công nhân trong công ty, qua bảng số liệu trên ta thấy ngoài số lượng tăng chất lượng cũng được nâng lên rõ rệt như với bậc 1 giảm 158 người bậc 2 tăng 42 người, bậc 3 tăng 45 người, bậc 4 tăng 26 người, bậc 5 tăng 61 người. Điều này cho thấy Công ty đã chú trọng vào tuyển chọn cũng như đào tạo nâng cao tay nghề thường xuyên cho công nhân để đáp ứng được với điều kiện hiện nay (điều kiện của khách hàng, của thị trường). Số công nhân gián tiếp sản xuất và cán bộ quản lý của Công ty năm 2000 tăng 16 người sovới năm 1999 trong đó chủ yếu tăng Đại học, cao đẳng (tăng 9 người) diều này chứng tỏ Công ty đã nâng cao chất lượng quản lý để hiệu quả SXKD được nâng lên. Cùng với chú trọng nâng cao số lượng chất lượng lao động, Công ty đã nâng cao thu nhập cho người lao động (được thể hiện ở bảng trên), điều này cho thấy Công ty đã có chính sách, chế độ cho người lao động hợp lý khuyến khích mọi người làm việc. Phần II Tình hình tài sản Công ty May 40. I. Tình hình chung về tài sản của Công ty hiện nay: Trước tiên ta có bảng phân tích tình hình tài sản công ty May 40 năm 1999 như trang sau: Năm Chỉ tiêu Đầu năm Số tiền % Cuối kỳ Số tiền % A. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn. 1. Tiền Tiền mặt tại quỹ Tiền gửi ngân hàng 2. Các khoản phải thu. 3. Hàng tồn kho. 4. Tài sản lưu động khác 5. Chi cho sự nghiệp. B. Tài sản lưu động. 1. Tài sản cố định. Nguyên giá Giá trị hao mòn luỹ kế. Tổng cộng tài 11.905.989 53,94 3.741.742.141 94.765.528 3.646.976.613 2.818.245.431 5.281.469.005 37.992.412 26.450.000 10.166.245.666 46.06 10.166.245.666 21.013.112.337 (10.846.866.671) 22.072.144.655 11.014.648.622 50,85 2.657.823.744 120.269.455 2.537.563.289 5.490.468.983 2.638.078.504 146.212.391 822.356.000 10.644.767.999 49.15 1o.644.767.999 23.625.572.170 (12.980.804.171) 21.659.416.621 Đơn vị tính : đồng Xuất phát từ nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng Công ty luôn chú trọng việc huy động vốn để sanr xuất kinh doanh. Trên cơ sở các quan hệ tài chính của Công ty và vốn được ngân sách Nhà nước cấp ban đầu cung như tình hình thực tế hoạt động ở mỗi thời kỳ Công ty đã có két cấu tài sản theo yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Do hoạt động sản xuất ngày càng phát triển mạnh, nên kết cấu về tài sản của Công ty cũng có sự thay đổi về số lượng cũng như tỷ trọng. Điều này được thể hiện qua bảng sau: STT Chỉ tiêu 1998 1999 1 Tài sản cố định 10.166 10644 Tỷ trọng (%) 46,06 49,16 2 Tài sản lưu động 11.905 11.014 Tỷ trọng (%) 53,94 50,85 3 Tổng tài sản 22.071 21,658 Thông qua số liệu trên ta thấy tài sản cố định năm 1999 tăng so với năm 1998 là do Công ty đã bổ sung thêm một số thiết bị chuyên dùng nhằm nâng cao tính năng cung như sử dụng tài sản cố định của Công ty. Tài sản lưu động năm 1999 giảm so với năm 1998 do Công ty giải quyết được lượng nguyên vạt liệu tồn kho, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của Công ty không để ứ động vốn, đẩy nhanh được vòng quay của vốn. Một số chỉ tiêu về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 – Tài sản cố định/ Tổng số tài sản % – Tài sản lưu động/ Tổng số tài sản % 46,06% 53,94% 49,15% 50,85% – Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu % – Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn % 3,05% 11,75% 2,09% 13,17% Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản 55,05% 50,09% – Khả năng thanh toán + khả năng thanh toán chung Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn + Khả năng thanh toán nhanh Tiền hiện có/ Nợ ngắn hạn 1,433 0,8 2,842 2,16 Qua số liệu trên ta thấy tình hình tài chính của Công ty tương đối tốt + Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản. Năm 1998 là 55,05% nhưng đến năm 1999 chỉ còn 50,9% giảm 4,15% so với năm 1998. Điều này chứng tỏ việc thanh toán công nợ của Công ty đã có nhiều tiến bộ. Công ty đã đốn đốc và quản lý công việc thanh toán với khách hàng kịp thời, không để nợ quá hạn, nâng cao uy tín của Công ty với các bạn hàng trong việc thanh toán. Khả năng thanh toán năm 1999 là 2,842% cao hơn so với năm 1998, đièu này cho thấy mức độ dự trữ năm 1999 thấp hơn so với năm 1998 có thể do Công ty có chính sách hợp lý về tiêu thụ và hàng sản xuất ra tiêu thụ được ngay. Với khả năng thanh toán năm 1999 cao như vậy bảo đảm cho Công ty nâng cao uy tín với khách hàng trong việc thanh toán; Công ty luôn đảm bảo tốt việc thánh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của Công ty. Tình hình tài chính của Công ty rất tốt. – Xét khả năng thánh toán nhanh. Năm 1999 tỷ lệ thanh toán nhanh cao hơn nhiều so với năm 1998. Năm 1998 chỉ đạt mức 0,8% nhưng đến năm 1999 mức tỷ lệ này đạt 2,16%. Nguyên nhân năm 1999 các khoản phải thu của Công ty cao hơn nhiều so với năm 1998 mặt khác số lưoựng hàng tồn kho của doanh nghiệp lại giảm. Năm 1998 là 5.281 triệu đồng. Năm 1999 chỉ còn là 2.638 triệu đồng. Chứng tỏ Công ty đã có chính sách quản lý tài chính tốt. – Xét bố chí cơ cấu: Tài sản cố định năm 1999 đã tăng hơn so với năm 1998 là do Công ty đầu tư thêm máy móc thiết bị mới nhằm hiện đại hoá dây truyền công nghệ, đây là hướng phát triển tốt đẹp của Công ty. Tài sản lưu động có giảm là do Công ty giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, lượng tồn kho ít. – Xét khả năng sinh lời: Mức tỷ lệ lợi nhuận/ doanh thu năm 1999 thấp hơn so với năm 1998. Năm 1998 là 3,05% nhưng năm 1999 là 2,02%. Nguyên nhân này là do doanh thu năm 1999 tăng gần gấp đôi so với năm 1998 nhưng tốc độ tăng giá vốn hàng bán lại tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng doanh thu dẫn đến lãi gộp của Công ty giảm xuống. Mặt khác, Công ty luôn chú trọng việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp dẫn đến lợi nhuận sau thuế năm 1999 là 1.399 triệu cao hơn so với năm 1998. _ Tỷ suất lợi nhuận/ vốn năm 1999 cao hơn năm 1998 chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn tự có là rất tốt. Như vậy thông qua hàng loạt chỉ tiêu đanh giá khái quát trên ta thấy được tình hình hoạt động của công ty năm 1999 là tương đối tốt, đối với tất cả các mặt, các lĩnh vực sử dụng tài sản và bố trí cơ cấu tài sản hợp lý của Công ty. II. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty 1. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:  Cơ cấu tài sản cố định: Việc đánh già có cấu tài sản cố định có một ý nghĩa quan trọng khi đánh già hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty. Nó cho ta biết, những nét sơ bộ về công tác đầu tư dài hạn của Công ty. Đánh giá cơ cấu tài sản Công ty qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng. S TT TSCĐ bình quân Năm 1998 Nguyên Khấu Giá trị giá hao luỹ còn lại kế Năm 1999 Nguyên Khấu Giá trị giá hao luỹ còn lại lại 1 Nhà cửa Tỷ trọng (%) 3.727 2.172 1.555 17,74 20,1 15,3 3.727 2.330 1.397 15,76 18,02 13,18 2 Máy móc thiết bị Tỷ trọng (%) 15.905 7.916 7.989 75,4 72,9 78,6 18.518 9.732 8.786 78,4 74,9 82,5 3 Phương tiện vận tải. Tỷ trọng (%) 1.011 642 369 4,8 5,9 3,6 1.011 729 284 4,28 5,6 2,67 4 Dụng cụ quản lý Tỷ trọng (%) 368 116 252 1,76 1,1 2,5 368 192 176 1,56 1,48 1,65 5 Tổng số 21.011 10.846 10.165 23.624 12.981 10.643 Trong năm 1999 Công ty đã dùng vốn khấu hao và vay vốn ngân hàng để đầu tư 35 thiết bị chuyên dùng của ngành May như máy bổ cơi túi, máy dán, máy nhân mác với giá trị tài sản là 3.003 triệu đồng, đồng thời Công ty thanh lý một số máy móc thiết bị lạc hậu không sử dụng được tận dụng thu khoản tiền là 391 triệu đồng. Có thể nói năm 1999 việc thu hồi tài sản cố định đã được Công ty chú ý. Việc xác định phương pháp khấu hao Công ty sử dụng phương pháp khấu hao tuyến tính. Công ty căn cứ vào khung thời gian tối đa và tối thiểu được Bộ tài chính quy định trong quyết đinhj 1062. Đây là phương pháp khoa học và hợp lý.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của Công ty. Do đó cần phải phân tích riêng hiệu quả sử dụng TSCĐ để xem tài sản cố định được sử dụng như thế nào, thấy những mặt được và hạn chế trong việc sử dụng tài sản cố định tại Công ty. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định thông qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm 1998 1999 Chênh lệch 99/98 +/- % 1 Doanh thu thuần 38.772 66.944 28.172 172,66 2 Lợi nhuận ròng 1.157 1.339 182 115,73 3 Nguyên giá bình quân TSCĐ 21.011 23.624 2.613 112,4 4 Hiệu suất sử dụng TSCĐ 1,84 2,83 0,99 153,8 5 Doanh lợi TSCĐ 0.055 0,056 0,001 101,82 Thông qua bảng trên ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định tăng qua các năm. Năm 1998 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuấ kinh doanh tạo ra 1,84 đồng doanh thu. Năm 1999 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra 2,83 đồng doanh thu hơn năm 1998 là 0,99 đồng và số tương đối là 53,8%. Đồng thời cũng thông qua bảng trên ta thấy được mức doanh lợi TSCĐ năm 1999 cao hơn so với năm 1998. Trong năm 1999 Công ty đầu tư thêm một số máy móc chuyên dùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Đây là một vấn đề rất đúng đắn của Công ty. Do đặc thù của ngành may mặc, nên tỷ trọng máy móc thiết bị luân chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tài sản cố định của Công ty. Máy móc trong ngành may tỷ lệ khấu hao rất nhanh thông qua số liệu ta thấy mặc dù máy móc thiết bị khấu hao chiếm gần một nửa so với nguyên giá TSCĐ nhưng Công ty vẫn khai thác và sử dụng tốt. Tuy nhiên xét về lâu dài, để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty, tăng năng lực sản xuất. Công ty nên có kế hoạch đầu tư thích đáng cho tài sản cố định, đặc biệt là máy móc trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, có như vậy mới có thể phát triển được trong tương lai, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảo chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. 2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động:  Cơ cấu tài sản lưu động tại Công ty May 40 STT TSLĐ bình quân Năm 1998 Trị giá % Năm 1999 Trị giá % 1 Vốn bằng tiền 3.741 31,42 2.657 24,12 2 Dự trữ 5.281 44,36 2.638 23,95 3 Phải thu 2.818 23,68 5.490 49,83 4 TSLĐ khác 65 0,54 229 2,1 5 Tổng cộng 11.905 100 11.014 100 Thông qua bảng trên ta thấy nhìn chung năm 1999 tổng cộng TSLĐ bình quân giảm so với năm 1998. Năm 1998 là 11.905 triệu đồng nhưng năm 1999 chỉ còn là 11.014 triệu đồng giảm 891 triệu đồng. Nhưng cơ cấu tỷ trọng các khoản trong TSLĐ có sự thay đổi rõ rệt. Năm 1998 dự trữ chiếm 44,36% trong tổng TSLĐ. Nhưng năm 1999 chiếm 23,95% điều này chứng tỏ sự nỗ lực cố gắng của Công ty trong công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời khoản phải thu năm 1999 cao hơn rất nhiều so với năm 1998. Năm 1998 khoản phải thu là 2.818 triệu đồng thì đến năm 1999 khoản phải thu là 5.490 triệu đồng, tăng 2.672 triệu đồng. Điều này chứng tổ với sự gia tăng phức tạp khi mở rộng sản xuất kinh doanh và tính cạnh tranh treen thị trường ngày một khó khăn thì công tác thanh toán của Công ty đã gặp nhiều trở ngại. Nếu với tư cách người mua Công ty trở nên ưu thế hơn thì với tư cách là người bán, Công ty đã phải chấp nhận việc chậm trễ thanh toán của khách hàng với khối lượng lớn. Do vậy Công ty phải xây dựng kế hoạch cụ thể để tiến hành thu hồi các khoản nợ của khách hàng không nên chậm trễ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của Công ty. Trong cơ cấu tài sản lưu động của Công ty thì tỷ trọng của vốn bằng tiền giảm mạnh năm 1998 vốn bằng tiền chiếm 31,42% Nhưng đến năm 1999 vốn bằng tiền chỉ chiếm 24,12% số giảm tuyệt đốib là 1.084 triệu đồng. Nhưng xét về khả năng thanh toán nhanh của Công ty như đã phân tích ở trên thì việc giảm lượng tiền hiện tại không gây trở ngại nhiều cho công tác thanh toán của Công ty. Nhìn một cách chung thì ta thấy trong năm 1999 có cấu tài sản lưu động của Công ty có sự thay đổi lớn so với năm 1998 song bên cạnh những mặt được thì Công ty có những mặt hạn chế cần phải khắc phục đó là không nên để chô khách hàng nợ quá nhiều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp mà chỉ xét đến hiệu quả sử dụng tài sản cố ddịnh thì hẳn là chưa đủ hay nói cách khác là chưa chính xác. Tuỳ thuộc vào tính chất loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà sự hoạt động của tài sản lưu động đối với quá trình inh doanh có khác nhau. Vai trò của tài sản lưu động là cực kỳ quan trọng và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có tính chất quyết định tới hiệu quả sử dụng tài sản của doang nghiệp. Công ty muốn hoạt động sản xuất kinh doanh tốt thì cần phải biết sử dụng hợp lý và hiệu quả tài sản lưu động, kinh doanh lãi hay lỗ phụ thuộc nhiều vào khả năng sử dụng tài sản đó. Để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh đòi hỏi Công ty phải tăng nhanh vòng quay của vốn tức là giảm số ngày của một vòng luân chuyển, có như vậy hoạt đọng sản xuất kinh doanh mới linh hoạt đồng thời vốn lưu động được sử dụng nhiều lần cho sản xuất kinh doanh. Làm được điều này tức là Công ty đã sử dụng hiệu quả vốn lưu động. Thông qua các chỉ tiêu của tài sản lưu động ta xác định được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động như bảng sau. Đơn vị: triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Chênh lệch +/- % 1 Doanh thu thuần 38.772 66.944 28.172 172,66 2 Lợi nhuận ròng 1.157 1.339 182 115,7 3 Tài sản lưu động bình quân 11.905 11.014 – 891 92,5 4 Số vòng quay TSLĐ 3,16 (vòng) 6,078 (vòng) 2,818 186,4 5 Thời gian một vòng luân chuyển 110 ngày 59 ngày 51 ngày 6 Mức doanh lợi TSLĐ 0,097 0,121 0,024 124,7 Trong năm 1999 tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động rất nhanh năm 1998 số vòng quay TSLĐ chỉ đạt 3,26 vòng trong khi đó số vòng quay năm 1999 đạt 6,078 vòng đây thực sự là cố gắng rất lớn của Công ty. Về mức doanh lợi của TSLĐ. Để đánh giá chính xác và đầy đủ mà hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ta cần phân tích và đánh giá thêm chỉ tiêu mức doanh lợi của tài sản lưu động. Chỉ tiêu này rất quan trọng vì mọi hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung đều hướng tới lợi nhuận. Qua bảng tên ta thấy Năm 1998 1đồng tài sản lưu động tạo ra 0,097 đồng lợi nhuận. Năm 1999 1đồng tài sản lưu động tạo ra 0,121đồng lợi nhuận. Như vậy năm 1999 Công ty đã sử dụng tốt tài sản lưu động tăng nhanh tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động là cố gắng rất lớn của Công ty. 3. Đánh giá chung về tình hình sử dụng tài sản của Công ty a. Những kết quả đạt được Thông qua một loạt chỉ tiêu kinh tế đánh giá cho thấy trong năm vừa qua Công ty làm ăn có lãi và hoàn thành tốt mọi chi tiêu kế hoạch do sở công nghiệp Hà Nội đề ra thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Công tác quản lý và sử dụng tài sản ở Công ty đã được chú trọng nhiều hơn trước, các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản đều cao hơn các năm. Tuy tốc độ tăng còn thấp nhưng chiều hướng nhìn chung là tốt. Doanh thu thuần năm 1999 đạt 66.944 triệu đồng và lợi nhuận ròng tăng 15,7% so với năm 1998 khẳng định rằng Công ty làm ăn có hiệu quả. Khả năng thanh toán của Công ty luôn được đảm bảo tốt, năm 1998 khả năng thanh toán chung chỉ đạt 1,433 thì năm 1999 đạt mức 2,842 điều này tạo điều kiện cho Công ty nâng cao được uy tín đối với khách hàng khi kí kết hợp đồng với Công ty. b. Hạn chế. Nhìn một cách chung tuy rằng hiệu quả sử dụng của Công ty hằng năm đều tăng nhưng so với tiềm năng của Công ty, với mục tiêu chung mà lãnh đạo Công ty đặt ra thì vẫn còn thấp. Mặc dù năm 1999 Công ty đã đầu tư nhiều thêm trang thiết bị chuyên dùng hiện đại song sự đầu tư này thấp. Doanh lưọi về tài sản cố định của Công ty tăng nhưng so với ngành may mặc ở nước ta còn thấp, Công ty còn để các khoản phải thu quá lớn, dễ dẫn đến tình trạng khó khăn về tình hình tài chính. 3. Hoạt động quản lý chất lượng của công ty Trong cơ chế thị trường, chất lượng luôn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty luôn luôn coi việc nâng cao chất lượng là một trong những chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh cơ bản, nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường và phạm vi ảnh hưởng của mình. Và vì vậy, hoạt động quản lý chất lượng luôn luôn được coi là một trong những hoạt động hàng đầu, trọng tâm của doanh nghiệp. Trên cơ sỏ thị trường, khách hàng, mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng, doanh nghiệp đã đề ra được chính sách và mục tiêu chất lượng phù hợp. Đó là : – Chính sách chất lượng : Công ty May 40 cam kết luôn luôn bảo đảm mọi nguồn lực để sản xuất và cung cấp những sản phẩm có chất lượng như thoả thuận với khách hàng. – Mục tiêu chất lượng : Kiểm soát chặt chẽ chất lượng trong các giai đoạn sản xuất nhằm bảo đảm sản phẩm đạt yêu cầu của khách hàng. Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ, công ty thường xuyên tổ chức, hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới do ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất, nhằm bảo đảm chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. Công ty cũng luôn tổ chức hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết, không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất diễn ra một cách liên tục. Để kiểm tra chất lượng của sản phẩm, công ty đang sử dụng 2 công cụ thống kê là : biểu đồ Paretto và biểu đồ xương cá để xác định các nguyên nhân gây ra sự không phù hợp với chất lượng sản phẩm, đề ra và đánh giá hiệu quả. Để tìm ra những nguyên nhân của sự không phù hợp này, công ty bắt đầu từ việc sử dụng một biểu thống kê các nguyên nhân không phù hợp từ biên bản, các phàn nàn của khách hàng. Song song với các hoạt động trên, các hoạt động về đổi mới, cảI tiến chất lượng sản phẩm cũng liên tục được diễn ra. Công ty luôn luôn tổ chức sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức đào tạo cho nhân viên, giúp cho nhân viên tiếp cận được nhanh chóng các kỹ thuật mới : như cho xem các băng hình kỹ thuật được chuyển từ Nhật về…Hàng năm công ty đều tổ chức một lần hoạt động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng được nâng cao, thúc đẩy được tinh thần về chất lượng trong mỗi nhân viên của công ty. Bên cạnh hoạt động cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng thì vấn đề đổi mới cũng được công ty hết sức coi trọng. Trong những năm vừa qua, công ty đã đầu tư hàng chục tỷ đồng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất : Máy may Joky, máy trải cắt vải tự động của Pháp (đầu quý một năm 2000)…Từ đó chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng được nâng cao, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Dự kiến vào đầu quý II năm nay, công ty sẽ cho tiến hành xây dựng một phân xưởng may sơ mi, đây là một quyết định của công ty trong việc mở rộng và chiếm lĩnh thị phần của mình. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng về mọi mặt, năm 2000 công ty đã được tổ chức quốc tế cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002- 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Đề Tài Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Công Ty Tnhh Lâm Nghiệp Hà Thanh
  • Công Ty Lâm Nghiệp Đa Chức Năng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Tiền Lương Quốc Gia Là Gì?
  • Tài Liệu Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Tài Nguyên Môi Trường
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Sở Tài Nguyên Và Môi Trường
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phầntraphaco
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Tại Công Ty Toyota Hoàn Kiếm
  • Luận văn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40 phần i Lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu bộ máy quản lý, sản xuất của công ty I. quá trình hình thành và phát triển của công ty may 40. 1. Quá trình hình thành: Vào năm 1955 do yêu cầu cấp bách của tiền phương, Tổng cục Hậu Cần – Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn sản xuất quân dụng với nhiệm vụ may trang phục cho bộ đội phục vụ tiền tuyến. Với 30 đồng chí hầu hết từ quân đội chuyển sang là lực lượng đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng xưởng quân dụng 40. Năm 1961, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đoàn sản xuất quân dụng chuyển thành Xí nghiệp May X40 được thành lập dựa trên nền tảng là phân xưởng quân dụng 40 là một đơn vị sản xuất công nghiệp quốc doanh và được Tổng cục Hậu Cần bàn giao sang Sở Công nghiệp Hà Nội quản lý, đơn vị đã không ngừng cố gắng nỗ lực vươn lên. Chính vì vậy đến ngày 4/ 5/ 1994 căn cứ vào quyết định số 741/ QĐUB của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đổi tên Xí nghiệp may X40 thành công ty may 40 với nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ cho nhu cầu trong nước và nước ngoài. 2. Quá trình phát triển: Từ năm 1955 – 1960: Xí nghiệp X40 là đơn vị hạch toán kinh tế do Sở công nghiệp Hà Nội quản lý. Lúc này tổng số cán bộ công nhân viên là 280 người với 80 máy may và 488 m2 nhà xưởng. Năm 1961 – 1965: Xí nghiệp may X40 thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất. Trong thời gian này, Xí nghiệp đóng trên địa bàn Cầu Mới Thượng Đình – Hà Nội (nay là công ty giầy HN). Xí nghiệp là một đơn vị hạch toán với 7 phòng ban nghiệp vụ và 3 ngành sản xuất (ngành quân dụng, quân hàm và mũ). Trong thời gian này, xí nghiệp đã vinh dự được đón chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngày 20 /4 /1963. Vì vậy từ đó đến nay trở thành ngày truyền thống của đơn vị. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1966 – 1975): để có thể phục vụ tốt nhất cho kháng chiến nên Xí nghiệp đã chia ra làm 5 cơ sở nhỏ để đi sơ tán nơi gần nhất cánh Hà Nội 12 km và nơi xa nhất là 40 km. Tuy nhiên, vào thời kỳ này quy mô của doanh nghiệp lớn mạnh hơn so với kỳ trước, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong xây dựng nhà xưởng, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên, trau dồi tư tưởng cho anh chị em công nhân làm cho họ tin tưởng vào cuộc đấu tranh tất thắng của dân tộc. ở nơi sơ tán không có điện phải chuyển toàn bộ máy móc sang đạp chân và làm ca trong ánh đèn dầu, sản phẩm cũng thay đổi theo yêu cầu cấp bách của chiến trường. Tuy đứng trước những khó khăn to lớn như vậy nhưng xí nghiệp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không ngừng mở rộng sản xuất nâng số máy may lên 250 cái với 700 cán bộ công nhân viên và sản xuất 500 loại mặt hàng. Sản phẩm chủ yếu thời kỳ này là áo pháo, bạt xe tăng, bạt công binh, áo tên lửa… phục vụ cho chiến trường. Từ năm 1975, để thích ứng với nhiệm vụ của những năm khôi phục đất nước, xí nghiệp đã chuyển từ nơi sơ tán về địa điểm 80 Hạ Đình – Thanh Xuân ngày nay. Tại đây xí nghiệp đã xây dựng 12000 m2 nhà xưởng, tuyển chọn thêm nhiều công nhân để sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước từ những bộ comple, áo măngtô phục vụ cho cán bộ Việt Nam ra công tác học tập ở nước ngoài, nhưng bên cạnh đó đã có hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu của xí nghiệp là quần áo bảo hộ lao động với tỷ trọng là 30% tổng sản lượng và thị trường xuất khẩu của xí nghiệp là Liên Xô chủ yếu thông qua các hiệp định kinh tế. Thời kỳ này xí nghiệp có một lượng công nhân khá đông 1300 cán bộ công nhân viên, với lực lượng này xí nghiệp đã không ngừng vươn lên và hoàn thiện mình đáp ứng được nhiệm vụ cấp trên giao cho. Từ năm 1983, Xí nghiệp May X40 đổi tên thành Xí nghiệp May 40. Hoạt động sản xuất của xí nghiệp vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và phục vụ quốc phòng. Đồng thời, hoạt động xuất khẩu vẫn thông qua các hiệp định kinh tế với tỉ trọng như những năm trước và thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là Tiệp Khắc và Liên Xô. Từ đó đến năm 1990, trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển. Xí nghiệp May 40 đã không ngừng đi lên và luôn hoàn thành xuẩt sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Năm 1991, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xí nghiệp May 40 được thành lập lại DNNN ngày 10/ 11/ 92 theo công văn số 2765/ QĐUB của UBND Thành phố Hà Nội, xí nghiệp đã chuyển sang thời kỳ tự hạch toán. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của công ty do may móc thiết bị lạc hậu, trình độ công nhân thấp không đáp ứng được nhu cầu thời kỳ mới. Thêm vào đó thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty là các nước Đông Âu đang có nhiều biến động. trước khó khăn tô lớn như vậy, lãnh đạo xí nghiệp và toàn thể cán bộ công nhân viên vẫn quyết tâm ổn định sản xuất, phát triển sang thị trường mới. Nhờ lòng quyết tâm đó và những chính sách đổi mới của Đảng, Nhà Nước xí nghiệp đã dần khắc phục được khó khăn và đầu tư cho sự phát triển tương lai của mình. Năm 1994, Xí nghiệp May 40 được chuyển đổi tên thành Công ty May 40 theo quyết định số 741/ QĐUB ngày 04/ 05/ 1994 với tên giao dịch quốc tế là HaNoi Garmentex No40. Trong những năm từ 1994 – 1999, Công ty May 40 đã mạnh dạn đầu tư hơn 20 tỷ đồng để nâng cấp và mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc chuyên dụng nhằm mở rộng sản xuất, đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thị trường trong và ngoài nước. Năm 1997, nhờ bố chí hợp lý có cấu tổ chức và bộ máy quản lý, công ty đã đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đã góp phần tạo công ăn việc làm và đảm bảo đời sống cho công nhân lao động của Công ty được ổn định. Năm 1998, sản phẩm may mặc của công ty đã được thị trường EU, Mỹ, Canada và Nhật Bản chấp nhận. Năm 2000 Có thể nói sau những năm thực hiện đổi mới. Công ty May 40 đã có những yếu tố của một đơn vị công nghiệp tương đối hiện đại, thích ứng với thị trường thế giới, bước đầu đã có thị trường làm hàng gia công ổn định, đời sống người lao động ngày càng được cải thiện. ii. cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. 1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận: 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: giám đốc Phó giám đốc kế hoạch sản xuất Phó giám đốc XNK, tiêu thụ nội địa Phó giám đốc kỹ thuật phân xưởng cắt phòng kế toán – tài vụ phân xưởng thêu phòng tclđ bảo vệ phân xưởng may 1 phòng khvt xnk phân xưởng May 2 phân xưởng may 3 phòng hcqt y tế phân xưởng may 5 phân xưởng may 6 1.2 Trách nhiệm của ban giám đốc công ty: phòng kỹ thuật công nghệ – kcs Giám đốc công ty có trách nhiệm tổ chức, chỉ huy các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm biệm pháp khai thác và sử dụng hợp lý khả năng khai thác của công ty nhằm hoàn thành các chỉ tiêu được giao và các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng. Sử dụng hợp lý các tài sản được giao một cách có hiệu quả. Tạo điều kiện cho CBCNV thực hiện tốt quyền làm chủ tập thể, phát huy tính sáng tạo của CNVC trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất cũng như tham ra quản lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy của công ty cũng như các hoạt động kinh tế. Các phó giám đốc quản lý, theo dõi, điều hoà, phối hợp nhằm đảm bảo nhịp nhàng, ăn khớp. Thiết lập sự thống nhất trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh từ phó giám đốc đến các phòng ban, phân xưởng, tổ sản xuất. 1.3 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban: a. Chức năng: Phòng ban là các đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ, làm tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, tổ chúc đời sống, giữ gìn trật tự an ninh. Các phòng ban không có quyền chỉ huy sản xuất nhưng có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc kế hoạch, tiến độ sản xuất, quy trình công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và các mặt quản lý chuyên môn. b. Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban: Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản xuất, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và giúp việc cho giám đốc. Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm cụ thể luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành nhịp nhàng. Công ty có 5 phòng ban chức năng bao gồm: phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu, phòng tổ chức – bảo vệ, phòng kỹ thuật công nghệ – KCS, phòng hành chính quản trị – Ytế.  Phòng kế toán tài vụ: Thực hiện theo đúng pháp lệnh về kế toán và thống kê của Nhà nước ban hành. Có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức hợp lý công tác thống kê, kế toán tài chính, công tác ghi chép số liệu ban đầu và thông tin kinh tế, xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch tài chính tổ chức phân tích hoạt động kinh tế theo định kỳ, tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và nội bộ từng phân xưởng trong Công ty. Phản ánh tình hình thực hiện chỉ tiêu SXKD, hiệu quả sản xuất kinh doanh và xây dựng các dự án đầu tư để phát triển Công ty.  Phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu: Là phòng chịu trách nhiệm từ phần đầu đến phần cuối của quá trình sản xuất. Tham mưu cho giám đốc trong việc ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế, làm mọi thủ tục xxuất nhập khẩu vật tư, hàng hoá. Tổ chức giao nhận và bảo quản, mua bán lượng vật tư hàng hoá cần thiết trong quá trình sản xuất, cấp phát vật tư phục vụ kịp thời sản xuất. Tổ chức chỉ đạo theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, tổ chức quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm công ty.  Phòng tổ chức – bảo vệ: Tham mưu cho giám đốc công ty về tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh. Tổ chức hợp lý lao động, xây dựng kế hoạch lao động và tiền lương, tổ chứccông tác cán bộ, tổ chức theo dõi và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương, nghiên cứu áp dụng các hình thức trả lương, thưởng phạt phù hợp nhằm kích thích và nâng cao hiệu quả lao động, quản lý lao động tiền lương, xác định mức lao động tiên tiến nhằm phù hợp với tình hình sản xuất, thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động. Bảo vệ tốt tài sản của công ty, đảm bảo an toàn lao động cũng như an ninh trật tự trong toàn công ty.  Phòng kỹ thuật công nghệ – KCS: Nghiên cứu, thiết kế, chế thử các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và thị hiếu người tiêu dùng. Xây dựng và kiêmt tra việc thực hiện các quy trình công nghệ đối với tất cả các sản phẩm được sản xuất. Xây dựng định mức tiêu hao vật tư phù hợp với yêu cầu sản phẩm theo định mức, yêu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích cho công ty. Thiết kế, chế thử các dụng cụ gá lắp phục vụ sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, lập kế hoạc sửa chữa thiết bị của công ty. Tổ chức hợp lý đội ngũ kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra việc thực hiện quy trình công nghệ.  Phòng hành chính quản trị – Ytế: Tổ chức hợp lý công tác hành chính, văn thư, sửa chữa nhỏ nhà cửa và phương tiện quản lý. Tổ chức khám chữa bệnh cho CBCNV, kết hợp với các đơn vị quản lý ngày công, BHXH của CBCNV. 2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ 2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất, chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của phân xưởng  Đặc điểm tổ chức sản xuất: Công ty May 40 sản xuất theo quy mô vừa, nên công ty đã bố trí sản xuấ theo phân xưởng sản xuất cho phù hợp với loại hình và tổ chức sản xuát. Công ty gồm 5 phân xưởng may, một phân xưởng cắt và một phân xưởng thêu. Trong mỗi phân xưởng sản xuất được tổ chức thành các tổ sản xuất, xắp xếp theo một trình tự hợp lý, mỗi công nhân thực hiện một hoặc một số bước công nghệ nhất định. Các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch đặt ra hàng tháng của công ty. Sản phẩm chủ yếu của công ty là sản xuất gia công hàng may mặc xuất khẩu với kiểu mã đa dạng, phong phú như quần áo trượt tuyết, quần áo thể thao, áo jacket… với tỷ trọng may mặc hàng xuất khẩu chiếm từ 95% – 98%. Ngoài ra Công ty còn nhận sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác trong và ngoài nước.  Chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của các phân xưởng: a. Chế độ quản lý: Thực hiện phân bổ hướng dẫn và kiểm tra các tổ dây chuyền sản xuất nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty giao. Nghiên cứu phân tích, phát hiện và đề xuất các biệm pháp chưa hợp lý trong sản xuất và quản lý của đơn vị mình. b. Chức năng và nhiệm vụ: Phân xưởng là nơi trực tiếp làm ra sản phẩm của công ty; là nơi thực hiện chế độ, pháp luật của Nhà nước; nội quy, quy định của công ty; là nơi giao dục, rèn luyện lao động và thực hiện quyền làm chủ tập thể của CNVC trong phân xưởng sản xuất; là nơi tổ chức sản xuất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch mà công ty giao cho. Phân xưởng chịu sự chỉ đạo của ban giám đốc mà trực tiếp là phó giám đốc kỹ thuật. Phân xưởng hoạt động theo nội quy quản lý của công ty, có trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh chỉ đạo của giám đốc và chính sách của Đảng và Nhà Nước. Phân xưởng là nơi trực tiếp sử dụng, giữ gìn bảo quản mọi thiết bị, tài sản của công ty, tổ chức sử dụng hợp lý lượng vật tư có hiệu quả nhất, là nơi trực tiếp quản lý lao động. 2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ: Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty May 40 là quy trình công nghệ kiểu phức tạp chế biến liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Đặc điểm sản xuất sản phẩm của Công ty là sản xuất hàng loạt, sản phẩm hoàn thành nhập kho là kết quả của một quá trinhg chế biến liên tục từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất đến khi hoàn thành sản phẩm là quy trình khép kín không thể gián đoạn về mặt kỹ thuật. Đầu tiên là xuất nguyên vật liệu cho phân xưởng cắt, cắt bán thành phẩm. Sau đó tổ chức dây chuyền sản xuất từ bán thành phẩm và vật liệu phụ theo từng công đoạn chi tiết sản phẩm. Sản phẩm sản xuất xong phải được bộ phận KCS kiểm tra sau đó mới được nhập kho thành phẩm. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất ra những sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu. Vì vậy để tạo điệu kiện thuận lợi cho việc điều hành sản xuất và chủ động sản xuất các mã hàng của Công ty, các bộ phận thuộc phân xưởng may có nhiệm vụ thực hiện quy trình công nghệ như sau: – Nhận mẫu mã, tài liệu kỹ thuật, quy cách, kích thước sản phẩm từ phòng kỹ thuật cùng với định mức nguyên liệu, phụ liệu, khảo sát mẫu may chuẩn. Thết kế dây chuền sản xuất cho từng loại sản phẩm, nghiên cứu bảng tính thời gian chi tiết sản phẩm, may thử bấm giờ để so sánh chính xác nhằm chia công đoạn, bộ phận để sản xuất và tính lượng sản phẩm. Nghiên cứu nhiệt độ là ép, độ co nguyên liệu, màu sắc giặt tẩy nguyên phù liệu. Lập bảng phối mầu nguyên phù liệu của sản phẩm. Nghiên cứu các thông số, kích thước các thùng catton, bao bì đai nẹp, chữ số, trọng lượng cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng của sản phẩm. – Tổ chức giác mẫu và cắt bán thành phẩm. Làm mẫu mỏng, mẫu catton bán thành phẩm, mẫu sang dấu, mẫu may sản phẩm, mẫu cắt chi tiết sản phẩm. Trên cơ sở đó phân xưởng cắt nhận nguyên liệu từ kho theo phiếu xuất kho của Công ty và theo đúng yêu cầu kỹ thuật như mầu sắc, số lượng, khổ vải, loại vải để cắt bán thành phẩm và ép là sản phẩm đầy đủ, đồng bộ theo quy trình sản xuất, giao bán thành phẩm cho phân xưởng may theo phiếu của phòng KH – XNK. Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty May 40 gồm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật, giai đoạn cắt may, giai đoạn hoàn thiện và đóng gói sản phẩm. + Giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật: Giai đoạn này gồm thiết kế mỹ thuật, vé mẫu thiết kế bản giác cho các loại sản phẩm với các cơ, vóc khổ vải khác nhau đảm bảo sự chính xác cao bằng máy móc thiết kế giác mẫu kỹ thuật vi tính của pháp. Tiết kiệm được lao động, tiết kiệm được vật tư sử dụng, hạ định mức vật tư từ 1,5% – 2% góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và hàng năm tiết kiệm được hàng nghìn mét vải các loại. + Giai đoạn cắt may: Công ty sử dụng các máy chuyên dùng cắt và may. Công ty đã đầu tư vào 1 kim có trương trình cắt chỉ, đầu tư máy 2 kim tự động, đính cúc, thừa khuyết cao cấp, đảm bảo chất lượng cao và tăng năng suất lao động. + Giai đoạn hoàn thiện: Đầu tư bộ bàn là hơi, bàn hút ẩm chân không phục vụ cho việc hoàn thiện sản phẩm trước khi đóng gói, làm đẹp và tăng chất lượng sản phẩm. Ta có sơ đồ quy trình sản xuất trang sau: sơ đồ quy trình công nghệ Thiết kế mẫu vật Giai đoạn chuẩn bị Giai đoạn cắt thêu may Thiết kế bản Chế thử sản phẩm giác cho px cắt XĐ định mức vật tư Là chi tiết thêu may sản phẩm Cắt bán thành phẩm theo bản giác kỹ thuật Giai đoạn hoàn thiện Là hơi toàn bộ sản phẩm Kiểm tra đóng gói Chuẩn bị tư theo biểu giao vải trên bàn cắt Kho Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ Công ty thường xuyên tổ chức hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới cho ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. KCS thường xuyên kiểm tra việc cắt bán thành phẩm để đảm bảo không hụt, lẹm. Tổ chức mạng lưới kiểm tra sản phẩm, sản phẩm 100%. Hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất được liên tục. 3. chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. a. chức năng: + Chuyên sản xuất hàng may mặc, dệt len, dệt theu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. + Nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc ngành may phục vụ cho nhu cầu sản xuất. + Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu của các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước. + Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất, mở đại lý, văn phòng đại diện, bán và giới thiệu sản phẩm của công ty và của các đơn vị trong và ngoài nước. b. Nhiệm vụ: + Sản xuất kinh doanh hàng may mặc và trên cơ sở đó phải luôn luôn nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. + Độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động. + Phải có trách nhiệm khai thác, bảo đảm và phát triển nguồn vốn của Nhà nước giao phó. 4. thị trường hiện tại của công ty. Trong giai đoạn hiện nay Công ty có thị trường chủ yếu ở Đức, Nhật, Canada với khách hàng như GEMINI,MAIER, NORTHLAND, BIGPACK, ALPINUS, …ở mỗi thị trường tiêu thụ mỗi loại sản phẩm riêng như ở Đức tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao. ở Nhật quần áo bảo hộ lao động, sơ mi, áo khoác nữ. Canada tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao… Mỗi loại thị trường có mỗi khó khăn, thuận lợi khác nhau như ở thị trường nhật thuận lợi là không cần hạng ngạch, gần vân chuyển dễ, nhưng ít sản phẩm còn ở thị trường Đức, Canada thì thiếu hạng ngạch xuât khẩu nhưng tiêu thụ với khối lượng lớn. Khó khăn chung vì Công ty gia công nguyên vật liệu nhập do bạn hàng cung cấp nên khó khăn trong việc thục hiện tiến độ sản xuất. Hiện nay Công ty ngoài gia công hiện nay còn góp vốn mua nguyên phụ liệu ngoài gia công đơn thuânf, góp vải chỉ với khác hàng để gia công. Một khó khăn nữa khi làm gia công Công ty còn nhận nhiều mẫu mã nên khó khăn trong việc sản xuất. Năm 2001 ngoài gia công đơn thuần Công ty còn góp vốn làm hợp đồng bán sản phẩm. Còn ở thị trường trong nước công ty chỉ chiếm một phần rất nhỏ năm 1999 doanh thu chỉ 100 triệuđ năm 2000 doanh thu là 250 triệuđ có tham ra hội trợ triển lãm năm 2001 Công ty có kế hoạch đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa. iii. đặc điểm về lao động của công ty trong những năm gần đây. 1. Đặc điểm về cơ cấu lao động: Do yêu cầu ngày càng phát triển dẫn tới việc phải mở rộng quy mô sản xuất vì vậy đòi hỏi số lượng lao động ngày càng nhiều và chất lượng của lao động phải ngày một nâng cao, để đáp ứng yêu cầu này hàng năm Công ty đều tuyển thêm lao động mới và mở nhiều khoá học để đào tạo nâng cao trình độ tay nghề Qua bảng số liệu sau ta có thể thấy rõ: Tên chỉ tiêu Đơn vị năm 1999 năm 2000 a. Cán bộ quản lý, phục vụ – Đại học, cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp b. Công nhân trực tiếp sản xuất Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 người nt nt nt nt nt nt nt nt nt 186 48 19 119 1057 346 242 121 191 157 202 57 20 125 1075 188 286 166 217 218 c. Tổng lao động bình quân năm – Nam – Nữ nt nt nt 1243 236 1007 1277 243 1034 c. Thu nhập bình quân người/ tháng nghìn đồng 700 770 Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy số lao động trung bình năm 2000 tăng hơn so với năm 1999 là 34 người chứng tỏ rằng Công ty ngày càng lớn mạnh, làm ăn có hiệu quả và ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải tổ chức có cấu lao động sao cho phù hợp cân đối với sự phát triển của Công ty. Mỗi năm khi tiến hành xấy dựng kế hoạch sản xuất Công ty tiến hành lập kế hoạch tuyển dụng lao động và chủ động có cấu lao động theo kế hoạch. – Năm 1999: Số lao động trực tiếp sản xuất 1057 người chiếm 85,1%. Số lao động gián tiếp là 186 người chiếm 14.9%. – Năm 2000: Số lao động trực tiếp sản xuất là 1075 người chiếm 84,2%. Số lao động gián tiếp là 202 người chiếm 15,8%. Qua số liệu ở trên cho thấy rằng đa số cán bộ công nhân viên trong Công ty là nữ đây cũng là đặc thù của ngành may nói chung thu hút lao động nữ với số lượng lớn do đó cũng ít nhiều ảnh hưởng tới sản xuất, khó khan trong việc quản lý ngày công. Mặt khác số công nhân trực tiếp sản xuất được phân chia theo cấp bậc phản ánh chất lượng của công nhân trong công ty, qua bảng số liệu trên ta thấy ngoài số lượng tăng chất lượng cũng được nâng lên rõ rệt như với bậc 1 giảm 158 người bậc 2 tăng 42 người, bậc 3 tăng 45 người, bậc 4 tăng 26 người, bậc 5 tăng 61 người. Điều này cho thấy Công ty đã chú trọng vào tuyển chọn cũng như đào tạo nâng cao tay nghề thường xuyên cho công nhân để đáp ứng được với điều kiện hiện nay (điều kiện của khách hàng, của thị trường). Số công nhân gián tiếp sản xuất và cán bộ quản lý của Công ty năm 2000 tăng 16 người sovới năm 1999 trong đó chủ yếu tăng Đại học, cao đẳng (tăng 9 người) diều này chứng tỏ Công ty đã nâng cao chất lượng quản lý để hiệu quả SXKD được nâng lên. Cùng với chú trọng nâng cao số lượng chất lượng lao động, Công ty đã nâng cao thu nhập cho người lao động (được thể hiện ở bảng trên), điều này cho thấy Công ty đã có chính sách, chế độ cho người lao động hợp lý khuyến khích mọi người làm việc. Phần II Tình hình tài sản Công ty May 40. I. Tình hình chung về tài sản của Công ty hiện nay: Trước tiên ta có bảng phân tích tình hình tài sản công ty May 40 năm 1999 như trang sau: Năm Đầu năm Chỉ tiêu Số tiền Cuối kỳ % Số tiền % A. Tài sản lưu 11.905.989 động và đầu tư ngắn hạn. 1. Tiền Tiền quỹ mặt 53,94 3.741.742.141 11.014.648.622 2.657.823.744 tại 94.765.528 120.269.455 Tiền gửi ngân 3.646.976.613 hàng 2. Các khoản 2.818.245.431 phải thu. 3. Hàng tồn 5.281.469.005 kho. 2.537.563.289 4. Tài sản lưu 37.992.412 động khác 146.212.391 5. Chi cho sự 26.450.000 nghiệp. 822.356.000 B. Tài sản lưu 10.166.245.666 động. 5.490.468.983 2.638.078.504 46.06 10.644.767.999 1. Tài sản cố 10.166.245.666 định. 1o.644.767.999 Nguyên giá 23.625.572.170 21.013.112.337 Giá trị hao mòn (10.846.866.671) luỹ kế. (12.980.804.171) Tổng cộng tài 21.659.416.621 22.072.144.655 50,85 49.15 Đơn vị tính : đồng Xuất phát từ nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng Công ty luôn chú trọng việc huy động vốn để sanr xuất kinh doanh. Trên cơ sở các quan hệ tài chính của Công ty và vốn được ngân sách Nhà nước cấp ban đầu cung như tình hình thực tế hoạt động ở mỗi thời kỳ Công ty đã có két cấu tài sản theo yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Do hoạt động sản xuất ngày càng phát triển mạnh, nên kết cấu về tài sản của Công ty cũng có sự thay đổi về số lượng cũng như tỷ trọng. Điều này được thể hiện qua bảng sau: STT 1 2 3 Chỉ tiêu 1998 1999 Tài sản cố định 10.166 10644 Tỷ trọng (%) 46,06 49,16 Tài sản lưu động 11.905 11.014 Tỷ trọng (%) 53,94 50,85 Tổng tài sản 22.071 21,658 Thông qua số liệu trên ta thấy tài sản cố định năm 1999 tăng so với năm 1998 là do Công ty đã bổ sung thêm một số thiết bị chuyên dùng nhằm nâng cao tính năng cung như sử dụng tài sản cố định của Công ty. Tài sản lưu động năm 1999 giảm so với năm 1998 do Công ty giải quyết được lượng nguyên vạt liệu tồn kho, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của Công ty không để ứ động vốn, đẩy nhanh được vòng quay của vốn. Một số chỉ tiêu về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu – Tài sản cố định/ Tổng số tài sản % 46,06% Năm 1999 49,15% – Tài sản lưu động/ Tổng số tài sản % – Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu % 53,94% 3,05% 50,85% 2,09% 11,75% 55,05% 13,17% 50,09% – Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn % Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản Năm 1998 – Khả năng thanh toán + khả năng thanh toán chung Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn 1,433 2,842 + Khả năng thanh toán nhanh Tiền hiện có/ Nợ ngắn hạn 0,8 2,16 Qua số liệu trên ta thấy tình hình tài chính của Công ty tương đối tốt + Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản. Năm 1998 là 55,05% nhưng đến năm 1999 chỉ còn 50,9% giảm 4,15% so với năm 1998. Điều này chứng tỏ việc thanh toán công nợ của Công ty đã có nhiều tiến bộ. Công ty đã đốn đốc và quản lý công việc thanh toán với khách hàng kịp thời, không để nợ quá hạn, nâng cao uy tín của Công ty với các bạn hàng trong việc thanh toán. Khả năng thanh toán năm 1999 là 2,842% cao hơn so với năm 1998, đièu này cho thấy mức độ dự trữ năm 1999 thấp hơn so với năm 1998 có thể do Công ty có chính sách hợp lý về tiêu thụ và hàng sản xuất ra tiêu thụ được ngay. Với khả năng thanh toán năm 1999 cao như vậy bảo đảm cho Công ty nâng cao uy tín với khách hàng trong việc thanh toán; Công ty luôn đảm bảo tốt việc thánh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của Công ty. Tình hình tài chính của Công ty rất tốt. – Xét khả năng thánh toán nhanh. Năm 1999 tỷ lệ thanh toán nhanh cao hơn nhiều so với năm 1998. Năm 1998 chỉ đạt mức 0,8% nhưng đến năm 1999 mức tỷ lệ này đạt 2,16%. Nguyên nhân năm 1999 các khoản phải thu của Công ty cao hơn nhiều so với năm 1998 mặt khác số lưoựng hàng tồn kho của doanh nghiệp lại giảm. Năm 1998 là 5.281 triệu đồng. Năm 1999 chỉ còn là 2.638 triệu đồng. Chứng tỏ Công ty đã có chính sách quản lý tài chính tốt. – Xét bố chí cơ cấu: Tài sản cố định năm 1999 đã tăng hơn so với năm 1998 là do Công ty đầu tư thêm máy móc thiết bị mới nhằm hiện đại hoá dây truyền công nghệ, đây là hướng phát triển tốt đẹp của Công ty. Tài sản lưu động có giảm là do Công ty giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, lượng tồn kho ít. – Xét khả năng sinh lời: Mức tỷ lệ lợi nhuận/ doanh thu năm 1999 thấp hơn so với năm 1998. Năm 1998 là 3,05% nhưng năm 1999 là 2,02%. Nguyên nhân này là do doanh thu năm 1999 tăng gần gấp đôi so với năm 1998 nhưng tốc độ tăng giá vốn hàng bán lại tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng doanh thu dẫn đến lãi gộp của Công ty giảm xuống. Mặt khác, Công ty luôn chú trọng việc giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp dẫn đến lợi nhuận sau thuế năm 1999 là 1.399 triệu cao hơn so với năm 1998. _ Tỷ suất lợi nhuận/ vốn năm 1999 cao hơn năm 1998 chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn tự có là rất tốt. Như vậy thông qua hàng loạt chỉ tiêu đanh giá khái quát trên ta thấy được tình hình hoạt động của công ty năm 1999 là tương đối tốt, đối với tất cả các mặt, các lĩnh vực sử dụng tài sản và bố trí cơ cấu tài sản hợp lý của Công ty. II. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty 1. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:  Cơ cấu tài sản cố định: Việc đánh già có cấu tài sản cố định có một ý nghĩa quan trọng khi đánh già hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty. Nó cho ta biết, những nét sơ bộ về công tác đầu tư dài hạn của Công ty. Đánh giá cơ cấu tài sản Công ty qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng. S TSCĐ bình quân Năm 1998 Năm 1999 TT Nguyên Khấu Giá trị Nguyên Khấu Giá trị giá hao luỹ còn lại giá hao luỹ còn lại kế lại 1 Nhà cửa 3.727 2.172 1.555 3.727 2.330 1.397 Tỷ trọng (%) 17,74 Máy móc thiết bị 15.905 20,1 7.916 15,3 7.989 15,76 18,02 18.518 9.732 13,18 8.786 Tỷ trọng (%) 75,4 Phương tiện vận 1.011 tải. 72,9 642 78,6 369 78,4 1.011 74,9 729 82,5 284 4 Tỷ trọng (%) Dụng cụ quản lý 4,8 368 5,9 116 3,6 252 4,28 368 5,6 192 2,67 176 5 Tỷ trọng (%) Tổng số 1,76 21.011 1,1 2,5 1,56 1,48 1,65 10.846 10.165 23.624 12.981 10.643 2 3 Trong năm 1999 Công ty đã dùng vốn khấu hao và vay vốn ngân hàng để đầu tư 35 thiết bị chuyên dùng của ngành May như máy bổ cơi túi, máy dán, máy nhân mác với giá trị tài sản là 3.003 triệu đồng, đồng thời Công ty thanh lý một số máy móc thiết bị lạc hậu không sử dụng được tận dụng thu khoản tiền là 391 triệu đồng. Có thể nói năm 1999 việc thu hồi tài sản cố định đã được Công ty chú ý. Việc xác định phương pháp khấu hao Công ty sử dụng phương pháp khấu hao tuyến tính. Công ty căn cứ vào khung thời gian tối đa và tối thiểu được Bộ tài chính quy định trong quyết đinhj 1062. Đây là phương pháp khoa học và hợp lý.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của Công ty. Do đó cần phải phân tích riêng hiệu quả sử dụng TSCĐ để xem tài sản cố định được sử dụng như thế nào, thấy những mặt được và hạn chế trong việc sử dụng tài sản cố định tại Công ty. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định thông qua bảng sau: Đơn vị: Triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm Chênh lệch 1 2 3 Doanh thu thuần Lợi nhuận ròng Nguyên giá bình quân TSCĐ 1998 1999 38.772 66.944 1.157 1.339 21.011 23.624 4 5 Hiệu suất sử dụng TSCĐ Doanh lợi TSCĐ 1,84 0.055 2,83 0,056 99/98 +/% 28.172 172,66 182 115,73 2.613 112,4 0,99 0,001 153,8 101,82 Thông qua bảng trên ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định tăng qua các năm. Năm 1998 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuấ kinh doanh tạo ra 1,84 đồng doanh thu. Năm 1999 1đ vốn TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra 2,83 đồng doanh thu hơn năm 1998 là 0,99 đồng và số tương đối là 53,8%. Đồng thời cũng thông qua bảng trên ta thấy được mức doanh lợi TSCĐ năm 1999 cao hơn so với năm 1998. Trong năm 1999 Công ty đầu tư thêm một số máy móc chuyên dùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Đây là một vấn đề rất đúng đắn của Công ty. Do đặc thù của ngành may mặc, nên tỷ trọng máy móc thiết bị luân chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tài sản cố định của Công ty. Máy móc trong ngành may tỷ lệ khấu hao rất nhanh thông qua số liệu ta thấy mặc dù máy móc thiết bị khấu hao chiếm gần một nửa so với nguyên giá TSCĐ nhưng Công ty vẫn khai thác và sử dụng tốt. Tuy nhiên xét về lâu dài, để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty, tăng năng lực sản xuất. Công ty nên có kế hoạch đầu tư thích đáng cho tài sản cố định, đặc biệt là máy móc trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, có như vậy mới có thể phát triển được trong tương lai, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảo chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. 2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động:  Cơ cấu tài sản lưu động tại Công ty May 40 STT 1 2 3 4 5 TSLĐ bình quân Vốn bằng tiền Dự trữ Phải thu TSLĐ khác Tổng cộng Năm 1998 Trị giá 3.741 5.281 2.818 65 11.905 % 31,42 44,36 23,68 0,54 100 Năm 1999 Trị giá 2.657 2.638 5.490 229 11.014 % 24,12 23,95 49,83 2,1 100 Thông qua bảng trên ta thấy nhìn chung năm 1999 tổng cộng TSLĐ bình quân giảm so với năm 1998. Năm 1998 là 11.905 triệu đồng nhưng năm 1999 chỉ còn là 11.014 triệu đồng giảm 891 triệu đồng. Nhưng cơ cấu tỷ trọng các khoản trong TSLĐ có sự thay đổi rõ rệt. Năm 1998 dự trữ chiếm 44,36% trong tổng TSLĐ. Nhưng năm 1999 chiếm 23,95% điều này chứng tỏ sự nỗ lực cố gắng của Công ty trong công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời khoản phải thu năm 1999 cao hơn rất nhiều so với năm 1998. Năm 1998 khoản phải thu là 2.818 triệu đồng thì đến năm 1999 khoản phải thu là 5.490 triệu đồng, tăng 2.672 triệu đồng. Điều này chứng tổ với sự gia tăng phức tạp khi mở rộng sản xuất kinh doanh và tính cạnh tranh treen thị trường ngày một khó khăn thì công tác thanh toán của Công ty đã gặp nhiều trở ngại. Nếu với tư cách người mua Công ty trở nên ưu thế hơn thì với tư cách là người bán, Công ty đã phải chấp nhận việc chậm trễ thanh toán của khách hàng với khối lượng lớn. Do vậy Công ty phải xây dựng kế hoạch cụ thể để tiến hành thu hồi các khoản nợ của khách hàng không nên chậm trễ ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của Công ty. Trong cơ cấu tài sản lưu động của Công ty thì tỷ trọng của vốn bằng tiền giảm mạnh năm 1998 vốn bằng tiền chiếm 31,42% Nhưng đến năm 1999 vốn bằng tiền chỉ chiếm 24,12% số giảm tuyệt đốib là 1.084 triệu đồng. Nhưng xét về khả năng thanh toán nhanh của Công ty như đã phân tích ở trên thì việc giảm lượng tiền hiện tại không gây trở ngại nhiều cho công tác thanh toán của Công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Công Ty Tnhh Lâm Nghiệp Hà Thanh
  • Công Ty Lâm Nghiệp Đa Chức Năng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Tiền Lương Quốc Gia Là Gì?
  • Tập Đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex)
  • Đề Tài Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Luận Văn Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Hiện Tại Của Công Ty May 40
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Tài Nguyên Môi Trường
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Sở Tài Nguyên Và Môi Trường
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phầntraphaco
  • Luận văn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40 phần i Lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu bộ máy quản lý, sản xuất của công ty I. quá trình hình thành và phát triển của công ty may 40. 1. Quá trình hình thành: Vào năm 1955 do yêu cầu cấp bách của tiền phương, Tổng cục Hậu Cần – Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn sản xuất quân dụng với nhiệm vụ may trang phục cho bộ đội phục vụ tiền tuyến. Với 30 đồng chí hầu hết từ quân đội chuyển sang là lực lượng đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng xưởng quân dụng 40. Năm 1961, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đoàn sản xuất quân dụng chuyển thành Xí nghiệp May X40 được thành lập dựa trên nền tảng là phân xưởng quân dụng 40 là một đơn vị sản xuất công nghiệp quốc doanh và được Tổng cục Hậu Cần bàn giao sang Sở Công nghiệp Hà Nội quản lý, đơn vị đã không ngừng cố gắng nỗ lực vươn lên. Chính vì vậy đến ngày 4/ 5/ 1994 căn cứ vào quyết định số 741/ QĐUB của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đổi tên Xí nghiệp may X40 thành công ty may 40 với nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm may mặc phục vụ cho nhu cầu trong nước và nước ngoài. 2. Quá trình phát triển: Từ năm 1955 – 1960: Xí nghiệp X40 là đơn vị hạch toán kinh tế do Sở công nghiệp Hà Nội quản lý. Lúc này tổng số cán bộ công nhân viên là 280 người với 80 máy may và 488 m2 nhà xưởng. Năm 1961 – 1965: Xí nghiệp may X40 thực hiện kế hoach 5 năm lần thứ nhất. Trong thời gian này, Xí nghiệp đóng trên địa bàn Cầu Mới – Thượng Đình – Hà Nội (nay là công ty giầy HN). Xí nghiệp là một đơn vị hạch toán với 7 phòng ban nghiệp vụ và 3 ngành sản xuất (ngành quân dụng, quân hàm và mũ). Trong thời gian này, xí nghiệp đã vinh dự được đón chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngày 20 /4 /1963. Vì vậy từ đó đến nay trở thành ngày truyền thống của đơn vị. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1966 – 1975): để có thể phục vụ tốt nhất cho kháng chiến nên Xí nghiệp đã chia ra làm 5 cơ sở nhỏ để đi sơ tán nơi gần nhất cánh Hà Nội 12 km và nơi xa nhất là 40 km. Tuy nhiên, vào thời kỳ này quy mô của doanh nghiệp lớn mạnh hơn so với kỳ trước, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong xây dựng nhà xưởng, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên, trau dồi tư tưởng cho anh chị em công nhân làm cho họ tin tưởng vào cuộc đấu tranh tất thắng của dân tộc. ở nơi sơ tán không có điện phải chuyển toàn bộ máy móc sang đạp chân và làm ca trong ánh đèn dầu, sản phẩm cũng thay đổi theo yêu cầu cấp bách của chiến trường. Tuy đứng trước những khó khăn to lớn như vậy nhưng xí nghiệp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không ngừng mở rộng sản xuất nâng số máy may lên 250 cái với 700 cán bộ công nhân viên và sản xuất 500 loại mặt hàng. Sản phẩm chủ yếu thời kỳ này là áo pháo, bạt xe tăng, bạt công binh, áo tên lửa… phục vụ cho chiến trường. Từ năm 1975, để thích ứng với nhiệm vụ của những năm khôi phục đất nước, xí nghiệp đã chuyển từ nơi sơ tán về địa điểm 80 Hạ Đình – Thanh Xuân ngày nay. Tại đây xí nghiệp đã xây dựng 12000 m2 nhà xưởng, tuyển chọn thêm nhiều công nhân để sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước từ những bộ comple, áo măngtô phục vụ cho cán bộ Việt Nam ra công tác học tập ở nước ngoài, nhưng bên cạnh đó đã có hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu của xí nghiệp là quần áo bảo hộ lao động với tỷ trọng là 30% tổng sản lượng và thị trường xuất khẩu của xí nghiệp là Liên Xô chủ yếu thông qua các hiệp định kinh tế. Thời kỳ này xí nghiệp có một lượng công nhân khá đông 1300 cán bộ công nhân viên, với lực lượng này xí nghiệp đã không ngừng vươn lên và hoàn thiện mình đáp ứng được nhiệm vụ cấp trên giao cho. Từ năm 1983, Xí nghiệp May X40 đổi tên thành Xí nghiệp May 40. Hoạt động sản xuất của xí nghiệp vẫn chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và phục vụ quốc phòng. Đồng thời, hoạt động xuất khẩu vẫn thông qua các hiệp định kinh tế với tỉ trọng như những năm trước và thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là Tiệp Khắc và Liên Xô. Từ đó đến năm 1990, trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển. Xí nghiệp May 40 đã không ngừng đi lên và luôn hoàn thành xuẩt sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Năm 1991, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xí nghiệp May 40 được thành lập lại DNNN ngày 10/ 11/ 92 theo công văn số 2765/ QĐUB của UBND Thành phố Hà Nội, xí nghiệp đã chuyển sang thời kỳ tự hạch toán. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của công ty do may móc thiết bị lạc hậu, trình độ công nhân thấp không đáp ứng được nhu cầu thời kỳ mới. Thêm vào đó thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty là các nước Đông Âu đang có nhiều biến động. trước khó khăn tô lớn như vậy, lãnh đạo xí nghiệp và toàn thể cán bộ công nhân viên vẫn quyết tâm ổn định sản xuất, phát triển sang thị trường mới. Nhờ lòng quyết tâm đó và những chính sách đổi mới của Đảng, Nhà Nước xí nghiệp đã dần khắc phục được khó khăn và đầu tư cho sự phát triển tương lai của mình. Năm 1994, Xí nghiệp May 40 được chuyển đổi tên thành Công ty May 40 theo quyết định số 741/ QĐUB ngày 04/ 05/ 1994 với tên giao dịch quốc tế là HaNoi Garmentex No40. Trong những năm từ 1994 – 1999, Công ty May 40 đã mạnh dạn đầu tư hơn 20 tỷ đồng để nâng cấp và mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc chuyên dụng nhằm mở rộng sản xuất, đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của thị trường trong và ngoài nước. Năm 1997, nhờ bố chí hợp lý có cấu tổ chức và bộ máy quản lý, công ty đã đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đã góp phần tạo công ăn việc làm và đảm bảo đời sống cho công nhân lao động của Công ty được ổn định. Năm 1998, sản phẩm may mặc của công ty đã được thị trường EU, Mỹ, Canada và Nhật Bản chấp nhận. Năm 2000 Có thể nói sau những năm thực hiện đổi mới. Công ty May 40 đã có những yếu tố của một đơn vị công nghiệp tương đối hiện đại, thích ứng với thị trường thế giới, bước đầu đã có thị trường làm hàng gia công ổn định, đời sống người lao động ngày càng được cải thiện. ii. cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. 1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận: 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: giám đốc Phó giám đốc kế Phó giám đốc XNK, Phó giám đốc hoạch sản xuất tiêu thụ nội địa kỹ thuật phân xưởng cắt phòng kế toán – tài vụ phân xưởng thêu phòng kỹ thuật công nghệ – kcs phòng tclđ – phân xưởng may 1 bảo vệ phòng khvt – phân xưởng May 2 xnk phân xưởng may 3 phòng hcqt – y tế phân xưởng may 5 phân xưởng may 6 1.2 Trách nhiệm của ban giám đốc công ty: Giám đốc công ty có trách nhiệm tổ chức, chỉ huy các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm biệm pháp khai thác và sử dụng hợp lý khả năng khai thác của công ty nhằm hoàn thành các chỉ tiêu được giao và các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách hàng. Sử dụng hợp lý các tài sản được giao một cách có hiệu quả. Tạo điều kiện cho CBCNV thực hiện tốt quyền làm chủ tập thể, phát huy tính sáng tạo của CNVC trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất cũng như tham ra quản lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy của công ty cũng như các hoạt động kinh tế. Các phó giám đốc quản lý, theo dõi, điều hoà, phối hợp nhằm đảm bảo nhịp nhàng, ăn khớp. Thiết lập sự thống nhất trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh từ phó giám đốc đến các phòng ban, phân xưởng, tổ sản xuất. 1.3 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban: a. Chức năng: Phòng ban là các đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ, làm tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, tổ chúc đời sống, giữ gìn trật tự an ninh. Các phòng ban không có quyền chỉ huy sản xuất nhưng có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc kế hoạch, tiến độ sản xuất, quy trình công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và các mặt quản lý chuyên môn. b. Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban: Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản xuất, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và giúp việc cho giám đốc. Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm cụ thể luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành nhịp nhàng. Công ty có 5 phòng ban chức năng bao gồm: phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu, phòng tổ chức – bảo vệ, phòng kỹ thuật công nghệ – KCS, phòng hành chính quản trị – Ytế.  Phòng kế toán tài vụ: Thực hiện theo đúng pháp lệnh về kế toán và thống kê của Nhà nước ban hành. Có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức hợp lý công tác thống kê, kế toán tài chính, công tác ghi chép số liệu ban đầu và thông tin kinh tế, xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch tài chính tổ chức phân tích hoạt động kinh tế theo định kỳ, tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và nội bộ từng phân xưởng trong Công ty. Phản ánh tình hình thực hiện chỉ tiêu SXKD, hiệu quả sản xuất kinh doanh và xây dựng các dự án đầu tư để phát triển Công ty.  Phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu: Là phòng chịu trách nhiệm từ phần đầu đến phần cuối của quá trình sản xuất. Tham mưu cho giám đốc trong việc ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế, làm mọi thủ tục xxuất nhập khẩu vật tư, hàng hoá. Tổ chức giao nhận và bảo quản, mua bán lượng vật tư hàng hoá cần thiết trong quá trình sản xuất, cấp phát vật tư phục vụ kịp thời sản xuất. Tổ chức chỉ đạo theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, tổ chức quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm công ty.  Phòng tổ chức – bảo vệ: Tham mưu cho giám đốc công ty về tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh. Tổ chức hợp lý lao động, xây dựng kế hoạch lao động và tiền lương, tổ chứccông tác cán bộ, tổ chức theo dõi và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương, nghiên cứu áp dụng các hình thức trả lương, thưởng phạt phù hợp nhằm kích thích và nâng cao hiệu quả lao động, quản lý lao động tiền lương, xác định mức lao động tiên tiến nhằm phù hợp với tình hình sản xuất, thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động. Bảo vệ tốt tài sản của công ty, đảm bảo an toàn lao động cũng như an ninh trật tự trong toàn công ty.  Phòng kỹ thuật công nghệ – KCS: Nghiên cứu, thiết kế, chế thử các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và thị hiếu người tiêu dùng. Xây dựng và kiêmt tra việc thực hiện các quy trình công nghệ đối với tất cả các sản phẩm được sản xuất. Xây dựng định mức tiêu hao vật tư phù hợp với yêu cầu sản phẩm theo định mức, yêu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích cho công ty. Thiết kế, chế thử các dụng cụ gá lắp phục vụ sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, lập kế hoạc sửa chữa thiết bị của công ty. Tổ chức hợp lý đội ngũ kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra việc thực hiện quy trình công nghệ.  Phòng hành chính quản trị – Ytế: Tổ chức hợp lý công tác hành chính, văn thư, sửa chữa nhỏ nhà cửa và phương tiện quản lý. Tổ chức khám chữa bệnh cho CBCNV, kết hợp với các đơn vị quản lý ngày công, BHXH của CBCNV. 2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ 2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất, chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của phân xưởng  Đặc điểm tổ chức sản xuất: Công ty May 40 sản xuất theo quy mô vừa, nên công ty đã bố trí sản xuấ theo phân xưởng sản xuất cho phù hợp với loại hình và tổ chức sản xuát. Công ty gồm 5 phân xưởng may, một phân xưởng cắt và một phân xưởng thêu. Trong mỗi phân xưởng sản xuất được tổ chức thành các tổ sản xuất, xắp xếp theo một trình tự hợp lý, mỗi công nhân thực hiện một hoặc một số bước công nghệ nhất định. Các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch đặt ra hàng tháng của công ty. Sản phẩm chủ yếu của công ty là sản xuất gia công hàng may mặc xuất khẩu với kiểu mã đa dạng, phong phú như quần áo trượt tuyết, quần áo thể thao, áo jacket… với tỷ trọng may mặc hàng xuất khẩu chiếm từ 95% – 98%. Ngoài ra Công ty còn nhận sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác trong và ngoài nước.  Chế độ quản lý, chức năng nhiệm vụ của các phân xưởng: a. Chế độ quản lý: Thực hiện phân bổ hướng dẫn và kiểm tra các tổ dây chuyền sản xuất nhằm thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty giao. Nghiên cứu phân tích, phát hiện và đề xuất các biệm pháp chưa hợp lý trong sản xuất và quản lý của đơn vị mình. b. Chức năng và nhiệm vụ: Phân xưởng là nơi trực tiếp làm ra sản phẩm của công ty; là nơi thực hiện chế độ, pháp luật của Nhà nước; nội quy, quy định của công ty; là nơi giao dục, rèn luyện lao động và thực hiện quyền làm chủ tập thể của CNVC trong phân xưởng sản xuất; là nơi tổ chức sản xuất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch mà công ty giao cho. Phân xưởng chịu sự chỉ đạo của ban giám đốc mà trực tiếp là phó giám đốc kỹ thuật. Phân xưởng hoạt động theo nội quy quản lý của công ty, có trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh chỉ đạo của giám đốc và chính sách của Đảng và Nhà Nước. Phân xưởng là nơi trực tiếp sử dụng, giữ gìn bảo quản mọi thiết bị, tài sản của công ty, tổ chức sử dụng hợp lý lượng vật tư có hiệu quả nhất, là nơi trực tiếp quản lý lao động. 2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ: Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty May 40 là quy trình công nghệ kiểu phức tạp chế biến liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Đặc điểm sản xuất sản phẩm của Công ty là sản xuất hàng loạt, sản phẩm hoàn thành nhập kho là kết quả của một quá trinhg chế biến liên tục từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất đến khi hoàn thành sản phẩm là quy trình khép kín không thể gián đoạn về mặt kỹ thuật. Đầu tiên là xuất nguyên vật liệu cho phân xưởng cắt, cắt bán thành phẩm. Sau đó tổ chức dây chuyền sản xuất từ bán thành phẩm và vật liệu phụ theo từng công đoạn chi tiết sản phẩm. Sản phẩm sản xuất xong phải được bộ phận KCS kiểm tra sau đó mới được nhập kho thành phẩm. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất ra những sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu. Vì vậy để tạo điệu kiện thuận lợi cho việc điều hành sản xuất và chủ động sản xuất các mã hàng của Công ty, các bộ phận thuộc phân xưởng may có nhiệm vụ thực hiện quy trình công nghệ như sau: – Nhận mẫu mã, tài liệu kỹ thuật, quy cách, kích thước sản phẩm từ phòng kỹ thuật cùng với định mức nguyên liệu, phụ liệu, khảo sát mẫu may chuẩn. Thết kế dây chuền sản xuất cho từng loại sản phẩm, nghiên cứu bảng tính thời gian chi tiết sản phẩm, may thử bấm giờ để so sánh chính xác nhằm chia công đoạn, bộ phận để sản xuất và tính lượng sản phẩm. Nghiên cứu nhiệt độ là ép, độ co nguyên liệu, màu sắc giặt tẩy nguyên phù liệu. Lập bảng phối mầu nguyên phù liệu của sản phẩm. Nghiên cứu các thông số, kích thước các thùng catton, bao bì đai nẹp, chữ số, trọng lượng cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng của sản phẩm. – Tổ chức giác mẫu và cắt bán thành phẩm. Làm mẫu mỏng, mẫu catton bán thành phẩm, mẫu sang dấu, mẫu may sản phẩm, mẫu cắt chi tiết sản phẩm. Trên cơ sở đó phân xưởng cắt nhận nguyên liệu từ kho theo phiếu xuất kho của Công ty và theo đúng yêu cầu kỹ thuật như mầu sắc, số lượng, khổ vải, loại vải để cắt bán thành phẩm và ép là sản phẩm đầy đủ, đồng bộ theo quy trình sản xuất, giao bán thành phẩm cho phân xưởng may theo phiếu của phòng KH – XNK. Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty May 40 gồm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật, giai đoạn cắt may, giai đoạn hoàn thiện và đóng gói sản phẩm. + Giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật: Giai đoạn này gồm thiết kế mỹ thuật, vé mẫu thiết kế bản giác cho các loại sản phẩm với các cơ, vóc khổ vải khác nhau đảm bảo sự chính xác cao bằng máy móc thiết kế giác mẫu kỹ thuật vi tính của pháp. Tiết kiệm được lao động, tiết kiệm được vật tư sử dụng, hạ định mức vật tư từ 1,5% – 2% góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và hàng năm tiết kiệm được hàng nghìn mét vải các loại. + Giai đoạn cắt may: Công ty sử dụng các máy chuyên dùng cắt và may. Công ty đã đầu tư vào 1 kim có trương trình cắt chỉ, đầu tư máy 2 kim tự động, đính cúc, thừa khuyết cao cấp, đảm bảo chất lượng cao và tăng năng suất lao động. + Giai đoạn hoàn thiện: Đầu tư bộ bàn là hơi, bàn hút ẩm chân không phục vụ cho việc hoàn thiện sản phẩm trước khi đóng gói, làm đẹp và tăng chất lượng sản phẩm. Ta có sơ đồ quy trình sản xuất trang sau: sơ đồ quy trình công nghệ Thiết kế mẫu Thiết kế bản Chuẩn bị vật Giai đoạn chuẩn bị Chế thử sản giác cho px tư theo biểu phẩm cắt XĐ định giao vải trên mức vật tư bàn cắt Là chi tiết Cắt bán Giai đoạn cắt thêu may sản thành phẩm thêu may phẩm theo bản giác kỹ thuật Giai đoạn hoàn thiện Là hơi toàn Kiểm tra Kho bộ sản phẩm đóng gói Để đảm bảo thực hiện tốt quy trình công nghệ Công ty thường xuyên tổ chức hướng dẫn cách giải chuyền các mặt hàng mới cho ban quản đốc phân xưởng, tổ trưởng, tổ phó sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm. KCS thường xuyên kiểm tra việc cắt bán thành phẩm để đảm bảo không hụt, lẹm. Tổ chức mạng lưới kiểm tra sản phẩm, sản phẩm 100%. Hướng dẫn và xử lý các sai phạm kỹ thuật và đề xuất kịp thời hướng giải quyết không gây ách tắc sản xuất, đảm bảo cho sản xuất được liên tục. 3. chức năng và nhiệm vụ hiện tại của công ty May 40. a. chức năng: + Chuyên sản xuất hàng may mặc, dệt len, dệt theu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. + Nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị máy móc ngành may phục vụ cho nhu cầu sản xuất. + Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu của các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước. + Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất, mở đại lý, văn phòng đại diện, bán và giới thiệu sản phẩm của công ty và của các đơn vị trong và ngoài nước. b. Nhiệm vụ: + Sản xuất kinh doanh hàng may mặc và trên cơ sở đó phải luôn luôn nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. + Độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động. + Phải có trách nhiệm khai thác, bảo đảm và phát triển nguồn vốn của Nhà nước giao phó. 4. thị trường hiện tại của công ty. Trong giai đoạn hiện nay Công ty có thị trường chủ yếu ở Đức, Nhật, Canada với khách hàng như GEMINI,MAIER, NORTHLAND, BIGPACK, ALPINUS, …ở mỗi thị trường tiêu thụ mỗi loại sản phẩm riêng như ở Đức tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao. ở Nhật quần áo bảo hộ lao động, sơ mi, áo khoác nữ. Canada tiêu thụ áo Jacket, quần áo thể thao… Mỗi loại thị trường có mỗi khó khăn, thuận lợi khác nhau như ở thị trường nhật thuận lợi là không cần hạng ngạch, gần vân chuyển dễ, nhưng ít sản phẩm còn ở thị trường Đức, Canada thì thiếu hạng ngạch xuât khẩu nhưng tiêu thụ với khối lượng lớn. Khó khăn chung vì Công ty gia công nguyên vật liệu nhập do bạn hàng cung cấp nên khó khăn trong việc thục hiện tiến độ sản xuất. Hiện nay Công ty ngoài gia công hiện nay còn góp vốn mua nguyên phụ liệu ngoài gia công đơn thuânf, góp vải chỉ với khác hàng để gia công. Một khó khăn nữa khi làm gia công Công ty còn nhận nhiều mẫu mã nên khó khăn trong việc sản xuất. Năm 2001 ngoài gia công đơn thuần Công ty còn góp vốn làm hợp đồng bán sản phẩm. Còn ở thị trường trong nước công ty chỉ chiếm một phần rất nhỏ năm 1999 doanh thu chỉ 100 triệuđ năm 2000 doanh thu là 250 triệuđ có tham ra hội trợ triển lãm năm 2001 Công ty có kế hoạch đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa. iii. đặc điểm về lao động của công ty trong những năm gần đây. 1. Đặc điểm về cơ cấu lao động: Do yêu cầu ngày càng phát triển dẫn tới việc phải mở rộng quy mô sản xuất vì vậy đòi hỏi số lượng lao động ngày càng nhiều và chất lượng của lao động phải ngày một nâng cao, để đáp ứng yêu cầu này hàng năm Công ty đều tuyển thêm lao động mới và mở nhiều khoá học để đào tạo nâng cao trình độ tay nghề Qua bảng số liệu sau ta có thể thấy rõ: Tên chỉ tiêu Đơn vị năm 1999 năm 2000 a. Cán bộ quản lý, phục vụ – Đại học, cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp b. Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Lâm Nghiệp Hà Thanh
  • Công Ty Lâm Nghiệp Đa Chức Năng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Tiền Lương Quốc Gia Là Gì?
  • Tập Đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex)
  • Download Luan Van: Hoat Dong Tieu Thu San Pham O Cong Ty Cao Su Sao Vang
  • Giải Pháp Erp Cho Ngành May Mặc Và Dệt May

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Quản Lý Tồn Kho Cho Cửa Hàng Thời Trang
  • Nho Quan Nhiều Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo
  • Bàn Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Vùng Tây Bắc
  • Tp.hcm: Giải Pháp Cho Vấn Nạn Kẹt Xe
  • Giải Pháp Cho Kẹt Xe Ở Ngã 6 Gò Vấp
  • Bản chất của các doanh nghiệp dệt may đó là ảnh hưởng của mùa vụ, nhu cầu toàn cầu biến động, hạn chế năng lực xử lý, chi phí vận hành cao và nhiều yếu tố khác là một thử thách thực sự cho công ty bạn. Giải pháp Infor được cung cấp cho các tập đoàn và nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may đã giúp Infor đạt được sự hiểu biết sâu sắc về những thách thức mà các doanh nghiệp may mặc đang phải đối mặt.

    Giải pháp ERP được xây dựng dựa trên thực tiễn và chức năng toàn diện cho công ty dệt may, không chỉ quản lý kinh doanh của công ty bạn thông suốt mà còn giúp doanh nghiệp đổi mới, phát triển và làm hài lòng khách hàng của công ty bạn trong mọi cơ hội kinh doanh.

    Cho dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động sản xuất từ bông-đến-sợi, từ sợi-đến-vải hoặc từ vải-đến-may hoặc sản xuất tất cả, Infor ERP có tất cả mọi thứ doanh nghiệp cần để quản lý hoạt động kinh doanh từ đầu đến cuối.

    Đánh bại các mùa vụ

    Không để tồn kho quá nhiều cũng không phải nói không với bất kỳ khách hàng khi có yêu cầu. Chỉ cần lên kế hoạch một cách hiệu quả.

    Doanh nghiệp của bạn không cần phải lo lắng về tính chất mùa vụ của chu kỳ mua sắm của ngành công nghiệp dệt may. Đơn giản chỉ cần sử dụng hệ hống ERP để lập kế hoạch tốt hơn và vượt qua những lợi ích cho khách hàng của công ty bạn.

    • Tính năng phong phú trong Module quản lý mua sắm, hỗ trợ quá trình mua nguyên liệu của công ty bạn ngay từ việc tìm ra đúng nhà cung cấp để mua hàng
    • Quản lý mối quan hệ của công ty bạn với các nhà cung cấp, thiết lập quy trình công việc và tự động kích hoạt đơn đặt hàng để giảm thời gian mua sắm. Giảm rủi ro và đảm bảo nguyên liệu được thông suốt để hỗ trợ hoạt động sản xuất liên tục của nhà máy
    • Lập kế hoạch mua sắm nguyên liệu cho tháng, quý, và hàng năm – để tận dụng lợi thế của các mùa giá thấp

    Hợp lý hóa sản xuất

    Quản lý quá trình sản xuất đầu cuối. Giảm lead time

    Giải pháp ERP cho ngành may mặc đã được phát triển để tạo ra các động lực mới cho quá trình sản xuất dệt may. Doanh nghiệp bạn có thể quản lý quá trình sản xuất được tốt hơn, hiện đại hơn với các tiện ích tốt nhất được xây dựng riêng cho ngành công nghiệp dệt may.

    • Hỗ trợ quá trình sản xuất độc đáo
    • Quản lý bản ghi tồn kho của các hoạt động đầu vào và đầu ra cho tốc độ xử lý khác nhau
    • Theo dõi lô hàng trong suốt quá trình sản xuất. Theo dõi lô theo nhiều thuộc tính: theo kiểu, màu sắc, kích thước, theo dãy và chất lượng sản phẩm
    • Lấy dữ liệu theo thời gian thực của hệ thống sản xuất và quản lý đình trệ sản xuất tốt hơn
    • Ước tính chi phí của sản phẩm và lập kế hoạch cho ra giá thành cạnh tranh
    • Dự toán ngày giao hàng bằng cách sử dụng chức năng lập kế hoạch mở rộng của hệ thống Infor

    Ở phía trên hàng tồn kho của công ty bạn

    Quản lý hàng tồn kho của công ty bạn tốt hơn. Hãy chuẩn bị tốt hơn cho biến động thị trường.

    Với phần mềm ERP, công ty bạn có thể quản lý biến động về nhu cầu được tốt hơn thông qua việc lập kế hoạch hiệu quả và kỹ thuật quản lý hàng tồn kho.

    • Hợp lý hóa các quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp bạn và quản lý thời gian giao hàng tốt hơn với MPS, MRP II và APS
    • Quản lý nhu cầu thay đổi tức thì trong thời gian thực thông qua các thông tin từ hệ thống ERP
    • Sử dụng kiểm kê vật lý và kiểm đếm định kỳ để có được độ chính xác chặt chẽ giữa kho thực tế và kho hệ thống
    • Lấy thông tin trực tuyến về giá trị tồn kho và quản lý tài chính của doanh nghiệp.
    • Phân tích hiệu suất hàng tồn kho bằng việc sử dụng ký hiệu ABC, XYZ và phân tích BI

    Trao quyền cho doanh nghiệp của bạn với công nghệ đẳng cấp thế giới

    • Phân tích chi phí của doanh nghiệp bạn ở nhiều cấp độ. Giám sát chi phí biến đổi, chi phí cố định, chi phí nhà máy, để kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động
    • Có được dự báo lợi nhuận chính xác hơn với các bộ dữ liệu tin cậy
    • Sử dụng Module bảo trì nhà máy để giảm sự cố và loại bỏ tắc nghẽn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
    • Tích hợp giải pháp của bạn với hệ thống thu thập dữ liệu trong thời gian thực để đảm bảo nhập dữ liệu chính xác và nhanh chóng

    Danh sách hách hàng ngành may đã sử dụng Infor ERP

    Quý doanh nghiệp có nhu cầu trang bị phần mềm ERP, vui lòng liên hệ qua số 0977 207 122 để được tư vấn. Hoặc nhấp vào nút ĐĂNG KÝ bên cạnh. ĐĂNG KÝ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả
  • Giải Pháp Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả Cho Shop Thời Trang
  • Giải Pháp Cho Người Hút Thuốc Lá Thụ Động
  • Ngăn Chặn Tình Trạng Hút Thuốc Lá Trong Học Sinh, Sinh Viên: Cần Thực Hiện Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Ngăn Ngừa Hút Thuốc Lá Trong Thanh Thiếu Niên
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Kế Toán Trưởng Công Ty

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Chức Năng Của Kế Toán Trưởng
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Kế Toán Trưởng Và Những Điều Cần Biết
  • Tổng Hợp Nhiệm Vụ Của Kế Toán Công Nợ Phiên Bản Đầy Đủ Nhất!
  • Mô Tả Công Việc Của Nhân Viên Kế Toán Công Nợ
  • Nguyên Tắc, Vai Trò & Nhiệm Vụ Kế Toán Công Nợ Phải Thu
  • 1. Kế toán trưởng là ai? Tại sao doanh nghiệp lại cần kế toán trưởng?

    Kế toán trưởng hay còn gọi là kế toán quảng trị, là người được ủy thác nhận nhiệm vụ kế toán quản trị của một tổ chức, doanh nghiệp. Kế toán trưởng là người đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định tài chính của một tổ chức. Họ là người được bổ nhiệm làm trưởng phòng kế toán, quản lý bộ phận kế toán cũng như phụ trách quản lý tất cả các nhân viên kế toán của doanh nghiệp, cơ quan đó.

    Kế toán trưởng có sẽ phụ trách tất các các nhân viên kế toán cấp dưới như kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết. Chức năng nhiệm vụ của kế toán trưởng theo luật kế toán Việt Nam đó là mỗi công ty hoạt động đều cần phải có bộ máy kế toán, phải có kế toán nhân viên và kế toán trưởng. Nếu không có kế toán nhân viên và kế toán trưởng công ty đó sẽ phải thực hiện hợp động dịch vụ kế toán, kiểm toán với một công ty dịch vụ kế toán khác để thuê cho mình một kế toán trưởng. Nếu không, doanh nghiệp đó sẽ bị xử phạt vì vi phạm hành chính luật kế toán khi không tuân thủ các quy định kế toán như tổ chức bộ máy kế toán, lập báo cáo tài chính, nộp báo cáo tài chính, hay thuê dịch vụ kế toán từ bên ngoài, …

    Chức năng nhiệm vụ quyền hạn của kế toán trưởng không phải là lớn nhất trong doanh nghiệp tuy nhiên nó tác động không nhỏ đến sự phát triển cũng như quá trình hoạt động của tổ chức doanh nghiệp đó. Vị trí, vai trò của kế toán trưởng sẽ thay đổi tùy thuộc vào cơ cấu đặc điểm doanh nghiệp. Tuy không nắm quyền lực cao nhất những kế toán trưởng có vị trí quan trọng trong tổ chức, doanh nghiệp.

    Kế toán trưởng sẽ chịu trách nhiệm cho những sắp xếp, phát triển và hoạt động của hệ thống kế toán của doanh nghiệp. Họ là những người thiết kế các khung và báo cáo kiểm soát tài chính doanh nghiệp. Mục đích cơ bản của vị trí trưởng kế toán đó là hỗ trợ lãnh đạo tối đa hóa lợi nhuận hoặc giảm thiểu tổn thất. Sự phát triển của kế toán quản trị đã đưa ra một cách tiếp cận mới cho chức năng của kế toán. Mục tiêu chính của kế toán quản trị như sau:

    – Lập kế hoạch và những hoạch định chính sách: Lập kế hoạch bao gồm dự báo trên cơ sở thông tin có sẵn, đặt mục tiêu; khung chính sách xác định các khóa học hành động thay thế và quyết định chương trình hoạt động.

    – Diễn giải các thông tin kế toán cho cấp trên của mình: Trưởng kế toán sẽ thông báo, trình bày các thông tin về tài chính doanh nghiệp cho cấp quản lý cao hơn. Các thông tin này sẽ được trình bày một cách dễ hiểu, khoa học nhưng đầy đủ nhất để những nhà quản lý điều hành nắm vững được tình hình tài chính doanh nghiệp.

    – Kiểm soát tài chính: với những công cụ kế toán, kiến thức, … cùng rất nhiều kỹ năng khác kế toán trưởng sẽ chịu trách nhiệm kiểm soát tài chính doanh nghiệp trong phạm vi quyền hạn của mình. Đồng thời, kế toán trưởng cũng sẽ cung cấp các công cụ để kiểm soát và điều phối tổng thể các hoạt động kinh doanh.

    – Quản lý ngân quỹ : bộ phận tài chính kế toán thiết lập chính sách quản lý ngân quỹ được áp dụng bởi tất cả những ai tiếp xúc với tiền mặt hoặc tiền mặt tương đương. Bao gồm trong quản lý ngân quỹ là những thứ như mức độ rủi ro có thể được giả định bởi công ty tại bất kỳ thời điểm nào. Các chức năng kho bạc thường được quản lý bởi trợ lý giám đốc tài chính trong khi giám đốc tài chính hoặc giám đốc tài chính xử lý các khía cạnh kế toán tài chính.

    – Ngăn chặn các gian lận tài chính có thể xảy ra: kế toán trưởng nói riêng và các nhân viên kế toán nói chung có vai trò lớn trong việc ngăn chặn gian lận trong một tổ chức. Quản lý hàng đầu một mình không thể chiến thắng trong cuộc chiến chống gian lận. Tất cả các tay phải minh bạch, rõ ràng được trình bày đầy đủ, dễ hiểu nhất và điều này được hỗ trợ bởi đội ngũ kế toán trong đó có kế toán trưởng.

    – Tuyển nhân dụng viên kế toán và tài chính : không nên tuyển nhân viên kế toán và tài chính cho bộ phận quản lý nhân sự vì có nhiều kiến thức chuyên môn mà những người trong nghề mới nắm được. Chính vì vậy, tuyển dụng nhân sự kế toán sẽ được trưởng phòng kế toán cũng như một số nhân viên trong bộ phận này thực hiện. Họ có thể có kỹ năng tuyển dụng, lựa chọn và ghi chép các công cụ, tuy nhiên, họ cũng cần phối hợp với bộ phận nhân sự để đảm bảo các khâu của quy trình tuyển dụng.

    2. Chức năng nhiệm vụ của kế toán trưởng công ty là gì?

    Kế toán trưởng có vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng trong việc quản trị doanh nghiệp. Vậy vai trò và chức năng đó là gì?

    2.1. Vai trò của kế toán trưởng là gì?

    Kế toán trưởng hay còn được gọi là kiểm soát viên, được coi là một quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp vì kế toán trưởng có trách nhiệm thu thập thông tin quan trọng, cả trong và ngoài công ty. Các chức năng của kế toán trưởng đó là:

    – Kế toán trưởng sẽ nghiên cứu các báo cáo, số liệu kinh doanh, tài chính, … để so sánh hiệu suất với kế hoạch và tiêu chuẩn hoạt động và báo cáo và giải thích kết quả hoạt động cho tất cả các cấp quản lý và chủ sở hữu của doanh nghiệp.

    Chức năng này bao gồm xây dựng và quản lý chính sách kế toán và tổng hợp các hồ sơ thống kê và đăng lại đặc biệt theo yêu cầu.

    – Giám sát và phối hợp chuẩn bị báo cáo cho các cơ quan Chính phủ.

    – Bảo đảm tài chính đảm bảo cho các tài sản của doanh nghiệp thông qua nội bộ đầy đủ; kiểm soát và bảo hiểm thích hợp.

    – Kế toán trưởng liên tục đánh giá các lực lượng kinh tế và xã hội và ảnh hưởng của chính phủ, và giải thích ảnh hưởng của họ đối với kinh doanh.

    2.2. Nhiệm vụ và trách nhiệm của kế toán trưởng là gì?

    – Việc cài đặt và giải thích tất cả các hồ sơ kế toán của doanh nghiệp.

    – Việc chuẩn bị và giải thích báo cáo tài chính và báo cáo của tập đoàn.

    – Kiểm toán liên tục tất cả các tài khoản và hồ sơ của công ty bất cứ nơi nào.

    – Việc tổng hợp chi phí phân phối.

    – Việc tổng hợp chi phí sản xuất.

    – Tổng hợp số lượng hàng tồn kho

    – Chuẩn bị và giải thích tất cả các hồ sơ và báo cáo thống kê của tập đoàn.

    – Với tư cách là kế toán trưởng, họ kết hợp với các cán bộ và trưởng phòng khác, về ngân sách hàng năm bao gồm tất cả các hoạt động của tập đoàn đệ trình lên Hội đồng quản trị trước khi bắt đầu năm tài chính.

    – Sự xác nhận hiện tại là các tài sản của tập đoàn được bảo hiểm đúng và đầy đủ.

    – Việc duy trì hồ sơ đầy đủ của các khoản chiếm dụng được ủy quyền và xác định rằng tất cả các khoản tiền được sử dụng theo đó được hạch toán đúng. Sự xác nhận hiện tại rằng các giao dịch tài chính được bao phủ trong biên bản của Hội đồng quản trị và ủy ban điều hành được thực hiện và ghi lại đúng cách.

    – Duy trì hồ sơ đầy đủ của tất cả các hợp đồng và cho thuê.

    – Thống kê, quản lý các giấy tờ thu chi của doanh nghiệp như: séc, giấy ghi nợ và các công cụ chuyển nhượng khác của công ty đã được ký bởi thủ quỹ hoặc các nhân viên khác như đã được ủy quyền bởi luật pháp của công ty hoặc thời gian hình thành đến thời gian được chỉ định bởi Hội đồng quản trị. Việc kiểm tra tất cả các lệnh bảo đảm cho việc rút chứng khoán khỏi kho tiền của tập đoàn và xác định rằng việc rút tiền đó được thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định do Hội đồng quản trị thiết lập theo thời gian.

    – Chuẩn bị hoặc phê duyệt các quy định hoặc thông lệ tiêu chuẩn, được yêu cầu để đảm bảo tuân thủ các mệnh lệnh của các quy định được ban hành bởi các cơ quan chính phủ hợp pháp.

    Hy vọng rằng thông qua bài viết này bạn đã nắm rõ được chức năng nhiệm vụ của kế toán trưởng là gì cùng những thông tin bổ ích về vị trí kế toán trưởng hay kế toán quản trị, kiểm soát viên tài chính này cho mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán
  • Chức Năng Của Tiền Lương Và Nhiệm Vụ Kế Toán Tiền Lương
  • Các Công Việc Của It Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Bản Mô Tả Công Việc Nhân Viên It Khách Sạn
  • Nhiệm Vụ Và Chức Năng Các Phòng Ban Trong Công Ty

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Sử Dụng Đồng Hồ Vạn Năng Dạng Số
  • Tìm Hiểu Về Cổng Aux Trên Loa Bluetooth
  • Aux Là Gì ? Hướng Dẫn Cách Kết Nối Cổng Aux Như Thế Nào
  • Kết Nối Cổng Aux Là Gì?
  • Khay Nạp Giấy Tự Động Adf Là Gì?
  • Bí quyết trị nhân viên cứng đầu

    Có lẽ một trong những công việc khó khăn nhất của người quản lý là đối phó đối với nhân viên cứng đầu. Là một người  sếp mới bạn đang…

    Xem tiếp

    Làm thế nào để sáng tạo trong công việc?

    Bất kỳ người sếp nào cũng không chỉ muốn nhân viên của mình là một người làm việc chăm chỉ, nghe lời và thực thi răm rắp các công việc…

    Xem tiếp

    Muốn tăng lương phải làm sao?

    Bạn đã làm việc thật tốt và thấy mình xứng đáng với việc được tăng lương. Hãy can đảm lên. Chuẩn bị thật tốt với những lời đề nghị khéo…

    Xem tiếp

    Giải pháp và chiến lược phát triển nguồn nhân lực

    Để phát triển, doanh nghiệp cần có trong tay kết quả phân tích hiện trạng nguồn nhân lực và có chiến lược phát triển nguồn nhân lực lâu dài và…

    Xem tiếp

    Đánh lừa ứng viên khi đi phỏng vấn

    Tất cả các ứng viên tham gia đều phải trả lời các câu hỏi của người phỏng vấn, tuy nhiên có những người rất thành công, có người lại phải…

    Xem tiếp

    Phương pháp đào tạo nhân sự trong doanh nghiệp

    Đào tạo nhân sự trong DN là một khâu vô cùng quan trọng. Với công tác này, các Dn có thể đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho…

    Xem tiếp

    Những sai lầm trong quản lý nhân sự tại doanh nghiệp

    Sử dụng nguồn lực con người – tài sản vô giá của doanh nghiệp – một cách phù hợp với chiến lược và sự phát triển của công ty đang…

    Xem tiếp

    Kỹ năng trả lời phỏng vấn

    Muốn thành công trong cuộc phỏng vấn, bạn không chỉ phải trang bị kiến thức đầy đủ mà kỹ năng trả lời phỏng vấn cũng rất quan trọng. Trên thực…

    Xem tiếp

    Những câu hỏi sáng giá cho nhà tuyển dụng nhân sự

    Bất cứ công ty nào, doanh nghiệp hay đơn vị nào cũng mong muốn tìm được những ứng viên sáng giá và đủ năng lực cho vị trí mà họ…

    Xem tiếp

    Nhiệm vụ và chức năng các phòng ban trong công ty

    Với mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào mô hình khác nhau sẽ có những phòng ban khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản các doanh nghiệp đều có những phong…

    Xem tiếp

    Các tiêu chí đánh giá nhân viên

    Với mỗi công ty, việc đánh giá kết quả công việc hàng tháng, quý, năm không bao giờ bỏ sót việc đánh giá nhân viên theo hiệu quả công việc…

    Xem tiếp

    Chức năng và nhiệm vụ của phòng tổ chức hành chính

    Có người cho rằng, công việc của nhân viên hành chính văn phòng đơn giản là ngồi bàn giấy với hồ sơ, sắp xếp và ghi chép. Trong tiềm thức của nhiều…

    Xem tiếp

    Học hành chính văn phòng ra làm gì?

    Mọi người quan tâm học hành chính văn phòng ra làm gì?  

    Hành chính văn phòng là bộ phận không thể thiếu trong mỗi cơ quan doanh nghiệp, đây là…

    Xem tiếp

    Học nghề quản trị nhân sự ra làm gì?

    Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hay tổ chức. Do đó việc quản trị tốt nhân sự để phục vụ phát…

    Xem tiếp

    Học hành chính nhân sự ở đâu tốt nhất?

    Học hành chính nhân sự ở đâu tốt nhất?

    Với sự phát triển nhanh như hiện nay, có thể nói quản lý hành chính nhân sự đã và đang trở thành một…

    Xem tiếp

    Làm sao để giải quyết mâu thuẫn trong doanh nghiệp

    Một thống kê của các nhà nghiên cứu Mỹ cho thấy, một nhà quản lý trung bình dùng 21% thời gian trong tuần để giải quyết các mâu thuẫn và…

    Xem tiếp

    Bí quyết của để trở thành nhà quản lý giỏi

    Nhiều người xem vị trí quản lý như một mục tiêu nghề nghiệp, vị trí quản lý luôn là niềm mong mỏi của nhiều nhân viên công sở. Và dù…

    Xem tiếp

    Bạn sẽ quản lý nhân sự như thế nào?

    Bạn là nhà quản lý? Bạn đang lựa chọn cho mình một phong cách quản lý hoàn hảo để áp dụng với tất cả các nhân viên của mình? Đừng…

    Xem tiếp

    Hành chính văn phòng và những khái niệm cơ bản

    1. Ngành hành chính văn phòng là gì?

    Hành chính văn phòng bao gồm những công việc hàng ngày như quản lý công tác lễ tân, khánh tiết, đưa đón và tiếp…

    Xem tiếp

    Cơ hội cho nghề quản trị nhân sự

    Thu hút và giữ chân những nhân viên có đủ tiêu chuẩn nhất và sắp xếp những công việc thích hợp nhất với họ là một điều hết sức quan trọng…

    Xem tiếp

    Ứng dụng 3 học thuyết vào quản lý nhân sự

    Có nhiều học thuyết của Khổng Tử… được ứng dụng vào đời sống thực tế. Bên cạnh đó có những học thuyết kinh điển của phương Tây cũng được áp…

    Xem tiếp

    Quản lý nhân sự – nghề “HOT” hiện nay

    Đối với mỗi doanh nghiệp, cũng như kế toán thì quản lý nhân sự chính là bộ phận không thể thiếu. Công việc của bộ phận nhân sự không chỉ nhiều mà…

    Xem tiếp

    Quản trị nhân sự – Doanh nghiệp nào cũng cần

    Với sự phát triển nhanh như hiện nay, có thể nói quản trị nhân sự đã và đang trở thành 1 nghề HOT mà bất cứ ngành nào, lĩnh vực…

    Xem tiếp

    Lỗi dễ gặp của người quản trị nhân sự

    Quản trị nhân sự là nghề đòi hỏi không chỉ là kinh nghiệm mà còn là sự khéo léo, khả năng nhìn nhận và xử lý tình huống phát sinh tốt……

    Xem tiếp

    Nghệ thuật quản lý nhân sự bạn cần biết

    Người ta thường ví người quản lý nhân sự là những người cần có nghệ thuật. Mỗi nhân viên có một tính cách khác nhau, do đó, người quản lý…

    Xem tiếp

    Bí quyết quản trị nhân sự tốt nhất

    Quản trị nhân sự là bộ phận vô cùng quan trọng đối với bất cứ công ty nào dù mô hình to hay nhỏ. Tuy nhiên, việc quản trị nhân…

    Xem tiếp

    Cách quản lý nhân sự hiệu quả

    Mỗi doanh nghiệp đều có cách quản lý nhân sự khác nhau và phù hợp với văn hóa doanh nghiệp. VNNP Edu xin gửi đến học viên những cách quản…

    Xem tiếp

    Đào tạo quản trị nhân sự

    Có thể nói, nhân lực chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của doanh nghiệp, một doanh nghiệp thành công…

    Xem tiếp

    Quản trị nhân sự và những điều cần chú ý

    Nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hay tổ chức. Do đó việc khai thác tốt nguồn lực này để phục…

    Xem tiếp

    Bí quyết cho ngành đào tạo quản lý nhân sự

    Bí quyết cho ngành đào tạo quản lý nhân sự

    Giả sử một ngày nào đó, bạn mệt mỏi với chuyện kinh doanh và muốn nhường quyền điều hành, khi đó…

    Xem tiếp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Phòng Chức Năng Là Gì?
  • Chức Năng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Học Tiếng Pháp Dùng Từ Điển Gì?
  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công – Quy Định Và Thực Tiễn Ở Việt Nam
  • Chuyên Đề 25: Nâng Cao Năng Lực Kiểm Soát Viên Doanh Nghiệp
  • Nhiệm Vụ Và Chức Năng Của Phòng Nhân Sự Là Gì Trong Công Ty?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Phòng Nhân Sự?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Hành Chính Nhân Sự
  • Công Việc Và Chức Năng Của Phòng Quản Lý Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Của Phòng Nhân Sự Trong Công Ty
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Trong Công Ty
  • Công việc và chức năng của phòng nhân sự trong công ty

    Nhân sự là một trong những nguồn lực chính của doanh nghiệp. Vậy, vai trò, nhiệm vụ, chức năng của phòng nhân sự trong doanh nghiệp được nhìn nhận như thế nào?

    1. Họach định nguồn nhân lực

    * Theo dõi và đánh giá tình hình nguồn nhân lực.

    * Thống kê nhu cầu nhân sự.

    * Dự báo nhu cầu nhân sự tương lai trong công ty (3 tháng/lần) trên cơ sở những qui trình sản xuất đã được lập kế hoạch, những thay đổi và những nhân tố khác.

    * Xây dựng các chương trình và kế hoạch nguồn nhân lực cho công ty.

    Tư vấn, tham mưu cho Chi nhánh/các phòng ban/phân xưởng

    Đề xuất thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực

    Kiểm soát

    Lập kế hoạch và tuyển dụng

    • Phối hợp với các phòng ban trong công ty để lâp kế hoạch nguồn nhân lực: theo dõi thông tin nhân lực toàn công ty, đưa ra bảng mô tả công việc chuẩn hóa cho từng vị trí nhân viên, lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự.
    • Tham vấn, giám sát quá trình tuyển dụng.
    • Hoạch định những chính sách phù hợp thu hút người tài cho công ty.
    • Kết hợp cùng các phòng ban khác tổ chức tuyển dụng những vị trí thiếu cho công ty.

    Đào tạo và phát triển nhân lực

    • Đảm nhiệm công việc tổ chức hướng dẫn các nhân viên mới hội nhập với công việc. Thường công ty chỉ đào tạo ngắn hạn cho nhân viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết phục vụ cho công ty.
    • Xác định nhu cầu đào tạo và lựa chọn hướng phát triển, đào tạo theo yêu cầu công ty.
    • Xây dựng, quyết định chương trình đào tạo cho người lao động tại doanh nghiệp phát triển nghề nghiệp của họ. Với các chương trình đạo như những khóa học dài hạn trên 3 tháng, chức năng của phòng nhân sự trong doanh nghiệp là xem xét nguyện vọng và quyết định có hỗ trợ học phí cho nhân viên không.

    Đánh giá hiệu quả

    Bộ phận quản lý nhân sự khuyến khích nhân viên trong tổ chức chung tay làm việc cùng nhau, giúp họ phát huy hết tiềm năng, đồng thời đưa ra các gợi ý để giúp người nhân viên cải thiện hiệu quả của mình.

    Nhân sự cũng là người thường xuyên giao tiếp với nhân viên để cung cấp cho họ những phản hồi cần thiết về hiệu quả làm việc và giúp nhân viên xác định rõ vai trò của mình

    Duy trì không khí làm việc

    Đây là một chức năng quan trọng của bộ phận quản lý nhân sự vì hiệu suất của nhân viên trong tổ chức phần lớn bị ảnh hưởng bởi không khí hoặc văn hóa làm việc chung.

    Điều kiện làm việc tốt là một trong những lợi ích mà nhân viên có thể mong chờ từ một bộ phận quản lý nhân sự hiệu quả. Môi trường an toàn, sạch sẽ và lành mạnh có giúp nhân viên phát huy tốt nhất khả năng của mình. Không khí làm việc thân thiện cũng gia tăng sự hài lòng cho nhân viên.

    Thông tin, dịch vụ nhân sự

    – Trưởng phòng nhân sự cũng cần tạo dựng các mối quan hệ tốt với các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước như Sở kế hoạch đầu tư, cảnh sát khu vực, cơ quan phòng cháy chữa cháy..

    Quản trị tiền lương – tiền thưởng và chế độ chính sách, BHYT, BHXH

    Chiến lược, chính sách – Chức năng của Phòng nhân sự

    Kiểm soát việc chấm công và thực hiện thống nhất việc tính lương, chế độ phụ cấp, khen thưởng cho CBNV trong toàn công ty.

    Về mặt đào tạo và phát triển nhân lực

    – TPNS tổ chức hướng dẫn các nhân viên mới hội nhập với công việc. Thường công ty chỉ đào tạo ngắn hạn cho nhân viên các kỹ năng và kiến thức cần thiết phục vụ cho công ty.

    – Xác định nhu cầu đào tạo và lựa chọn hướng phát triển, đào tạo theo yêu cầu công ty.

    – Xây dựng, quyết định chương trình đào tạo cho người lao động tại doanh nghiệp phát triển nghề nghiệp của họ.

    Văn thư lưu trữ

    Chiến lược,chính sách

    * Quản lý các loại hồ sơ trong văn phòng.

    * Tiếp nhận công văn đến và và- sổ công văn đến.

    * Cho số các quyết định.

    * Và- sổ công văn đi.

    * Soạn thảo và lưu các thông báo.

    * Soạn thảo các loại văn bản trong phòng (danh sách nhân viên nhận đồng phục, hợp đồng lao động…).

    Thực hiện, phối hợp với các phòng ban phân xưởng/chi nhánh

    Chức năng của Phòng nhân sự – Tư vấn, tham mưu

    Tư vấn cho các phàng ban cách thức tiếp nhận công văn đến và cách thức chuyển công văn đi.

    Kiểm soát

    * Kiểm soát việc cấp phát các loại vật dụng.

    * Kiểm soát giấy tờ, biểu mẫu, hồ sơ, tài liệu.

    My My – Tổng hợp và chỉnh sửa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Là Gì? Mô Tả Công Việc Hàng Ngày
  • Mẫu Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Nhân Sự
  • Ma Trận Phân Công Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Phòng Ban Trong Bộ Máy Quản Lý
  • 5 Chức Năng Của Phòng Nhân Sự Trong Doanh Nghiệp Cơ Bản Nhất
  • Phòng Nhân Sự Gồm Những Bộ Phận Nào Và Chức Năng Mỗi Vị Trí
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100