Top 10 # Chức Năng Xã Hội Của Giao Tiếp Là Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

Giao tiếp phi ngôn ngữ là cách gửi và nhận thông điệp từ những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những thao tác của từng bộ phận trên cơ thể như cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng điệu, dáng đứng, khoảng cách…

Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ

Trong xã hội hiện đại, nhất là công việc kinh doanh, giao tiếp phi ngôn ngữ lại có tầm quan trọng rất lớn. Nó giúp cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ cơ thể. Đồng thời, giao tiếp phi ngôn ngữ cũng giúp chúng ta hiểu rõ đối tác mà ta đang tiếp cận để đưa ra những định hướng đúng đắn.

Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ còn được thể hiện trong những tình huống khi chúng ta tiếp xúc lần đầu với một người khác. Ngoài việc để ý các cử chỉ, điệu bộ và nội dung của người đối diện, bạn còn phải học cách đọc và hiểu ý nghĩa của những chúng. Từ đó, bạn sẽ có được kinh nghiệm, giúp bạn nhận biết được người đối diện, nhận ra chính mình và học cách kiểm soát bản thân trong giao tiếp tốt hơn.

Những điều cần lưu ý về giao tiếp phi ngôn ngữ

Ở mỗi quốc gia, mỗi cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ mang những ý nghĩa khác nhau. Và nó khiến bạn phải chủ động tìm hiểu về văn hóa giao tiếp của họ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

Nụ cười được xem là vũ khí lợi hại mang đến sự thoải mái, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp nụ cười lại có nhiều ý nghĩa khác. Nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người châu Á. Và với người Nhật, họ cười để thể hiện lòng kính trọng hoặc che giấu sự buồn phiền.

Với chúng ta, lắc đầu có nghĩa là không, gật đầu là có, thì với đất nước Hy Lạp hay Bulagria, bạn sẽ không khỏi bất ngờ khi thấy mọi thứ đều ngược lại hoàn toàn. Gật đầu trong văn hóa của họ là “không” còn lắc đầu lại mang ý nghĩa là “Có”. Vì thế, hãy cẩn thận khi sử dụng cử chỉ của cái để tránh gây ra những hiểu nhầm ngớ ngẩn.

Khoảng cách giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những ý nghĩa khác biệt. Nếu như ở Trung Đông, các nước Mỹ Latinh, người nói chuyện có xu hướng gần nhau để thể hiện sự thân mật, thì ở Mỹ hay một vài nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa hơn để thể hiện sự tôn trọng.

Đối với quan niệm của người châu Âu, khi trò chuyện và nhìn chăm chăm vào người đối diện sẽ thể hiện sự thành thật, không cố che giấu điều gì đó. Ngược lại, ở các nước châu Á, nhìn vào người đối diện sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khác.

Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu rõ giao tiếp phi ngôn ngữ là gì cũng như tầm quan trọng của nó. Mong rằng bạn sẽ vận dụng thật tốt vào cuộc sống và công việc hằng ngày!

Chức Năng Giao Tiếp

A. It’s my pleasure. B. I don’t know what time that person comes.

C. I’d love to come. What time? D. Do you have time for some gossip?

A. Maybe I’m not going to the doctor’s. B. Not very well. Thanks.

C. Maybe you should take a rest. D. Not bad. I’m not going to the doctor’s.

A. Of course, not for me. B. No, I can’t help you now.

C. No, those aren’t mine. D. No, I can manage them myself.

A. It’s interesting to travel to Manchester. B. It depends on how to go.

C. I always go by train. D. I don’t like to go by train.

A. Could you do me a favour? B. Oh, dear. What a nice shirt!

C. May I help you? D. White, please!

A. I’ll have a soup, please. B. There’s a great restaurant at the corner of the street.

C. I usually eat lunch at twelve. D. Twelve would be convenient.

A. Nothing special B. You’re welcome.

C. It’s very expensive. D. I don’t think so. I’m teaching all summer.

A. I love it. B. My brother gave it to me.

C. It was a gift from my brother. D. I always put it there.

A. It’s too late now. B. Pretty busy, I think.

C. By bus, I think. D. No, I’ll not be busy.

A. No, I’ll just use a frying pan. B. No, I’ll just use chopsticks.

C. No, I’ll just use a can opener. D. No, I’ll use a cooker.

A. Thanks, that’s nice of you to say so. B. Thanks. Have a nice trip.

C. I’m fine, thanks. D. I know. I have trouble controlling my temper.

A. I’m sorry I can’t. Let’s go now. B. Sure. I’d love to.

C. Sure. But please be careful with it. D. I’m sorry. I’m home late.

A. Do you smoke? B. What’s the matter?

C. Anything else? D. Well, you should stop smoking.

A. Yes, I used to play tennis. B. I don’t play very often.

C. No, I don’t play very well. D. Pretty well, I think.

A. Did you watch the live show last weekend? B. Did you do anything special last weekend?

C. Did you have a great time last weekend? D. Did you go anywhere last weekend?

A. No, I went there with my friends. B. That sounds nice, but I can’t.

C. Don’t worry. I’ll go there. D. I did, but I didn’t stay long.

A. What would you like? B. It’s very kind of you to help me.

C. Would you like anything else? D. What kind of food do you like?

A. A fashion hat B. It depends on the situation.

C. Several times. D. I think it’s OK.

A. No problem. B. Don’t worry. I’m all right.

C. I usually drive home at five. D. It’s me.

A. I’m afraid she’s not here at the moment. B. No, she’s not here now.

C. She’s leaving a message to you now. D. Yes, I’ll make sure she gets it.

A. Yes, he really wants to get ahead. B. Yes, he’s quite gentle.

C. Really? I’ve never seen him lie. D. Right. He ‘s so quiet.

A. Yes, it’s the most expensive. B. What an expensive dress!

C. You are paying for the brand. D. That’s a good idea.

A. Yes, it’s hard to think of the answers. B. Yes, I wish she’d hurry up.

C. Yes, she would know the answers. D. Yes, she speaks too quickly.

A. It’s my favourite sport. B. I worked.

C. Do you like it? D. Would you like to come with me?

A. He always comes late. He is not very well. B. Thank you. Good bye.

C. I’m afraid he is not in. Can I take a message? D. I’m afraid not. He works very hard.

A. It has good facilities. B. It’s convenient to see it.

C. You can find it very convenient. D. You can see it from the back.

A. I think it is bad condition. B. I can’t see anything.

It’s a little hot in here. D. It’s a good idea.

A. Great. Let’s go. B. I’m not a real fan of hers.

C. Don’t mention it. D. Thanks. I’d love to.

A. What do you think of tennis? B. Do you like sports?

C. Do you prefer tennis or badminton? D. How often you play tennis?

A. How are you? B. Are you feeling OK?

C. Is there anything wrong? D. What’s the matter?

A. Probably to the beach. B. The beach is nice, isn’t it?

C. Probably I won’t think of. D. I have a four-day vacation.

A. Can I help you? B. Why is it so expensive?

C. What is it? D. What’s wrong with it?

A. I get a high salary, you know. B. I want to be a doctor, I guess.

C. I work in a bank. D. It’s hard work, you know.

A. It depends on what it is. B. What’s it like?

C. No, thanks. D. I’m afraid I won’t come.

A. I’m not sure. Really? B. I will, the first thing in the afternoon.

C. I’m with you there. D. I can get a paper for you right now.

A. I know. He is a good manager. B. Sure. He will do that.

C. I know. He must like green. D. He’d rather do that.

Chức Năng Xã Hội Gia Đình Là Gì ?

Khái niệm gia đình:Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người,một thiết chế văn hóa-xã hội đặc thù,được hình thành và tồn tại phát triển trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyế thống,quan hệ nuôi dưỡng vá giáo dục…giữa các thành viên

Chức năng xã hội Gia đình bao gồm:

Các chức năng tái sản xuất ra con người.

Chức năng giáo dục

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm

1. Các chức năng tái sản xuất ra con người.

Đây là chức năng riêng của gia đình, nhằm duy trì nòi giống, cung cấp sức lao động xã hội, cung cấp công dân mới, người lao động mới, thế hệ mới đảm bảo sự phát triển liên tục và trường tồn của xã hội loài người.

Chức năng này đáp ứng yêu cầu xã hội và nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng khi thực hiện chức năng này cần dựa vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia và sự gia tăng dân số để có chính sách phát triển nhân lực cho phù hợp. Đối với nước ta, chức năng sinh đẻ của gia đình đang được thực hiện theo xu hướng hạn chế, vì trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, dân số đông.

2. Chức năng giáo dục

Nội dung giáo dục gia đình bao gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, nhân cách, thẩm mỹ… phương pháp giáo dục gia đình cũng đa dạng, song chủ yếu bằng phương pháp nêu gương, thuyết phục về lối sống, gia phong của gia đình truyền thống. Chủ thể giáo dục gia đình chủ yếu là cha mẹ, ông bà đối với con cháu, cho nên giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục.

Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hổ trợ, bổ sung cho gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, giáo dục gia đình có vai trò quan trọng được coi là thành tố của nền giáo dục xã hội chung. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế được.

3. Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Đây là chức năng cơ bản của gia đình, bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thỏa mãn các yêu cầu của mỗi thành viên và của gia đình. Sự tồn tại của hình thức gia đình còn phát huy một cách có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn, sức lao động của từng gia đình, tăng thêm của cải cho gia đình và cho xã hội.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với sự tồn tại của nền kinh tế thành phần, các gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ. Đảng và nhà nước đề ra chính sách kinh tế – xã hội, tạo mọi điều kiện cho các gia đình làm giàu chính đáng từ lao động của mình. Ở nước ta hiện nay, kinh tế gia đình được đánh giá đúng với vai trò của nó. Đảng và nhà nước có những chính sách khuyến khích và bảo vệ kinh tế gia đình. Vì vậy mà đời sống của gia đình và xã hội đã được cải thiện đáng kể.

Thực hiện chức năng kinh tế tốt sẽ tạo tiền đề và cơ sở vật chất cho tổ chức đời sống gia đình.

Việc tổ chức đời sống gia đình chính là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên và thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, đời sống vật chất của mỗi thành viên được đảm bảo sẽ nâng cao sức khỏe của các thành viên đồng thời cũng duy trì sắc thái, sở thích riêng của mỗi người.

Thực hiện tốt tổ chức đời sống gia đình không những đảm bảo hạnh phúc gia đình, hạnh phúc của từng cá nhân mà còn góp vào sự tiến bộ của xã hội.

4. Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm

Đây là chức năng có tính văn hóa – xã hội của gia đình. Chức năng này kết hợp với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Trong gia đình mọi thành viên đều có quyền và nghĩa vụ thi hành các chức năng trên, trong đó người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng bởi họ đảm nhận một số thiên chức không thể thay thế được. Vì vậy, việc giải phóng phụ nữ được coi là mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cần phải được bắt đầu từ giáo dục.

* Tóm lại, gia đình thông qua việc thi hành các chức năng vốn có của mình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Các chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Việc phân chia chúng là tương đối. Cấn tránh tư tưởng coi trọng chức năng này, coi nhẹ chức năng kia, hoặ tư tưởng hạ thấp chức năng gia đình. Mọi quyết định tuyệt đối hóa, đề cao quá mức hay phủ nhận hạ thấp vai trò của gia đình đều là sai lầm.

Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng

Các mục tiêu của truyền thông . Tất cả mọi người biết về nhu cầu cơ bản của một người – nước, thực phẩm, giấc ngủ, an toàn, họ rất coi trọng. Các nhu cầu được liệt kê là cho nhân loại một nguồn hoạt động sinh học bình thường. Nhưng mọi người cũng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe tâm lý. Tầm quan trọng lớn trong vệ sinh của cá nhân là giao tiếp. Từ lâu, người ta đã chứng minh rằng nếu một người được tạo điều kiện để cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài và không có cơ hội giao tiếp, anh ta sẽ dần trở nên mất cân bằng về tinh thần. Do đó, chúng tôi phải dành tầm quan trọng do chất lượng truyền thông của chúng tôi. Nhờ có chúng, con người trở thành những sinh vật xã hội, không chỉ là những sinh vật. Tương tác trong giao tiếp làm cho nó có thể đạt được một số mục tiêu cá nhân.

Mục đích của việc giao tiếp với người khác thường là họ biết chính xác lý do tại sao họ cần giao tiếp với người đặc biệt này.

Nội dung của mục tiêu và phương tiện giao tiếp điền vào ý nghĩa của chính quá trình giao tiếp. Đó là, nội dung của mục đích và phương tiện giao tiếp, tâm lý học giải thích như sau: đây là những gì mọi người tiếp xúc và làm thế nào nó xảy ra. Thông qua giao tiếp kinh doanh, mọi người học cách hiểu kinh tế xã hội, quan hệ thị trường hoạt động như thế nào. Những người trong giao tiếp kinh doanh, ở trong một cấu trúc phân cấp, ở một mức độ nhất định, tuân theo một người hoặc ra lệnh cho người khác, nhận thức rõ về các mối quan hệ xã hội phức tạp và điều này góp phần xã hội hóa của họ trong xã hội. Nhân viên của công ty có được kinh nghiệm về kiến ​​thức về tất cả các quy trình phối hợp trong xã hội, họ có thể thấy cách thay đổi các điều kiện để đạt được thành công lớn hơn với những thay đổi này, để đạt được tất cả các mục tiêu.

Mục tiêu và mục tiêu của truyền thông

Mọi người bằng cách này hay cách khác, liên tục, đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định. Mục tiêu trong công việc, trong học tập, trong các cuộc thi, cũng là mục tiêu giao tiếp của mọi người. Do một người là một sinh vật, được thiết lập theo cách tập thể, nên anh ta chỉ cần một cuộc đối thoại, anh ta muốn có một cuộc nói chuyện chân tình, không có lý do rõ ràng, và anh ta thực sự tin rằng theo cách này anh ta không có mục tiêu, sau đó Không có kết quả cuối cùng từ cuộc trò chuyện. Nhưng trên thực tế, ngay cả mong muốn thông thường chỉ nói chuyện cũng là một mục tiêu, hay đúng hơn là tự nó kết thúc, để giao tiếp vì mục đích giao tiếp (với người thân, bạn bè). Có lẽ, một lý do đơn giản như vậy là rất quan trọng, bởi vì ở đây một người không sử dụng người khác để đạt được mục tiêu cụ thể của mình, nhưng nhận được niềm vui từ chính quá trình này.

Các mục tiêu của truyền thông là gì? Các mục tiêu khác đang được hiện thực hóa trong giao tiếp, nói chung đơn giản là có rất nhiều trong số chúng, có lẽ nó không thể đơn giản gọi tên tất cả, bạn chỉ có thể khái quát, vì mục tiêu là một ý tưởng cụ thể hướng dẫn một người trong hành động, hành động, suy nghĩ của mình.

Tâm lý học phân chia các mục tiêu chính của giao tiếp thành cá nhân và nhóm, xã hội, thẩm mỹ, nhận thức, sinh học.

Trong quá trình giao tiếp cá nhân, một người chia sẻ các vấn đề, quan điểm, kinh nghiệm của mình và trả lại tất cả – chờ đợi sự hỗ trợ, chấp nhận, hiểu biết, chỉ cần một phản ứng như vậy sẽ là mục đích của giao tiếp này đối với anh ta. Có những người giao tiếp với người khác để khẳng định cá tính, sự vượt trội và sự thống trị của họ. Họ cố tình cư xử khiêu khích, và ngay khi họ nhận thấy rằng người đối thoại phản ứng theo cách cần thiết cho họ (ngạc nhiên, sợ hãi, bỏ đi, bị lạc) – họ vui mừng, vì họ đã đạt được mục tiêu. Nhiều người tìm kiếm sự cứu rỗi, giúp đỡ và bảo vệ trong việc giao tiếp với người khác, một số người, ngược lại, xem mục tiêu của họ là giúp mọi người không quan tâm (lòng vị tha).

Mục đích của giao tiếp có thể là làm quen, mong muốn liên lạc với một người vì sự thông cảm hoặc lợi ích. Khi tìm kiếm một đối tác cho trò chơi, mọi người cũng được yêu cầu liên lạc.

Thế giới vi mô của mỗi người là ngôi đền của tất cả những suy nghĩ của anh ta, tạo ra sự tự chủ và độc đáo của mỗi đối tượng. Do đó, trong khi giao tiếp với mọi người, không thể phủ nhận thực tế là các đặc điểm đặc trưng của một người ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp. Nếu những người đối thoại không thể nhận thức được nhau một cách bình thường và đầy đủ, thông qua sự thù địch lẫn nhau cá nhân, họ sẽ rất khó đạt được một số mục tiêu chung. Nhưng, khi những cá nhân loại bỏ định kiến ​​của chính họ, bước qua cái tôi của chính họ, tuy nhiên vẫn duy trì một kênh liên lạc, họ có cơ hội cùng nhau tạo ra sức mạnh phi thường. Năng lượng của hai người hợp nhất và trở thành một và mạnh mẽ, và nếu đó là một nhóm, thì sự tích lũy của tất cả năng lượng của họ tạo thành một lực rất lớn. Nhờ một quá trình như giao tiếp, mọi người đã học cách sống cùng nhau, phát triển và tồn tại trong tự nhiên, và các mục tiêu của nhóm đã đạt được, và nhu cầu của mỗi cá nhân được đáp ứng.

Mục tiêu của giao tiếp phụ thuộc trực tiếp vào loại quan hệ giữa các đối tượng: sư phạm – giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, về mặt mục tiêu này là dạy và học, mục tiêu quản lý (cấp dưới và sếp), doanh nhân – người bán có sản phẩm và người tiêu dùng, mục tiêu sẽ mang lại lợi ích chung cho họ, y tế – bác sĩ đã giúp đỡ và bệnh nhân đã nhận nó và nhiều người khác.

Tùy thuộc vào đặc điểm của cuộc trò chuyện, có thể có các mục tiêu và phương tiện giao tiếp khác nhau . Nếu tiếp xúc giữa mọi người xảy ra trực tiếp, họ sử dụng lời nói, nét mặt, đối tượng ngẫu hứng để cải thiện hình dung của những gì đã được nói. Nếu gián tiếp, sau đó họ liên lạc qua một cuộc trò chuyện qua điện thoại, SMS, thư từ.

Do đó, các chức năng và mục tiêu của giao tiếp bổ sung cho nhau và đã hoàn thành một số chức năng của giao tiếp, một mục tiêu nhất định được thỏa mãn.

Mục đích của giao tiếp kinh doanh

Trong giao tiếp kinh doanh, mục đích của giao tiếp có hình thức đàm phán.

Khi các vấn đề lao động được giải quyết, giải pháp của họ trở thành mục tiêu của toàn đội và vì điều này, mỗi nhân viên, với tư cách là một đối tượng của truyền thông, phải nỗ lực riêng. Do đó, điều rất quan trọng là tất cả những người tham gia giao tiếp đều là những người có cùng trình độ để giảm thiểu rủi ro hiểu lầm giữa họ. Vòng tròn của các chuyên gia giải quyết các vấn đề kinh doanh sẽ có thể đưa công ty lên mức cao nhất. Nếu một người nào đó không biết gì về các hoạt động của công ty, bằng cách nào đó rơi vào vòng tròn này, anh ta sẽ không đặt mục tiêu của nhóm là cải thiện tổ chức và thúc đẩy nó lên một cấp độ mới, do đó, anh ta sẽ có thể làm suy yếu danh tiếng của công ty và gây nhầm lẫn nhân viên.

Trước toàn thể nhân viên và toàn bộ công ty, các mục tiêu chính của truyền thông là đảm bảo các điều kiện tối ưu cho các giải pháp sản xuất và tổ chức các hoạt động đối tượng chung. Những mục tiêu này được mô tả rất rộng, có những mục tiêu cụ thể hơn, những mục tiêu truyền thông như vậy đang tạo ra văn hóa doanh nghiệp, thúc đẩy nhân viên, tạo ra sản phẩm, tạo ra dịch vụ mới, phát triển ý tưởng, thành lập một nhóm làm việc, tuyển dụng nhân viên, giảng viên, đào tạo và nhiều người khác. Và, tất nhiên, trong tất cả các quá trình này, các đối tác tương tác, vì vậy một mục tiêu quan trọng khác là tạo ra bầu không khí thân thiện và ngăn ngừa xung đột.

Ngay cả khi một nhóm được thành lập tốt và chặt chẽ trong tổ chức, nếu mọi người biết rằng họ đang hành động vì lợi ích chung của công ty, thì bất kỳ nhân viên nào, tuy nhiên, có thể, là một cá nhân có quan điểm và thái độ cá nhân. Quan điểm cá nhân, là một phần của cuộc sống của nhân viên, được thể hiện trên thái độ của anh ta đối với công việc và hoạt động lao động. Đó là, là một yếu tố của một nhóm người, cũng là một cá nhân, do đó, anh ta có thể theo đuổi các mục tiêu cá nhân.

Mỗi nhân viên muốn được bảo vệ, đặc biệt nếu công việc của anh ta có nguy cơ đến tính mạng của anh ta (thợ mỏ, lính, nhân viên của Bộ khẩn cấp), trong những trường hợp như vậy, khi tiến hành một cuộc trò chuyện kinh doanh, anh ta có thể yêu cầu bảo vệ thêm.

Trong giao tiếp với cấp trên, một nhân viên cấp dưới có thể, được hướng dẫn bởi mục tiêu cải thiện tình hình tài chính và chất lượng cuộc sống, yêu cầu tăng lương. Nhiều khả năng đạt được mục tiêu này sẽ đưa ra một số hành động nhất định vì lợi ích của tổ chức, điều này sẽ được coi là một lý do để tăng lương hoặc phát hành tiền thưởng. Cùng với việc tăng lương, một nhân viên thường được yêu cầu tăng mức độ công việc, nâng anh ta lên một cấp độ mới, mở rộng quyền hạn và giảm áp lực phân cấp. Khi một người đã đạt được mục tiêu tăng vị trí và tiền lương của mình, anh ta đồng thời đảm bảo một vị thế và uy tín mới cho chính mình, tìm cách tăng thẩm quyền của mình.

Ngay cả khi tuân theo các quy tắc và truyền thống được hình thành bởi công ty đối với một loại tương tác nhất định trong giao tiếp, mỗi nhân viên sẽ làm mọi việc dựa trên lợi ích và lợi ích của riêng họ. Điều này thường xảy ra khi một nhân viên không chắc chắn về công ty của mình và không sợ mất vị trí của mình.

Trong quá trình giao tiếp kinh doanh, có sự ảnh hưởng lẫn nhau liên tục, thích ứng với nhau và thay đổi lợi ích, vì vậy những người tham gia truyền thông cho đối thủ của họ cơ hội lựa chọn, trong khi hành động vì lợi ích cá nhân của họ. Khi bản chất của lợi ích thay đổi, thái độ của các bên thay đổi, họ thay đổi hành vi, để họ đồng ý với các nhân viên khác. Trên thực tế, ở đây, cơ chế giao tiếp kinh doanh của nhân viên được kết luận – mục tiêu của riêng họ đạt được bằng các phương tiện tối thiểu. Điều chính là một cách tiếp cận hợp lý trong quá trình này, sau đó các mục tiêu cá nhân và nhóm sẽ được thỏa mãn. Một người, đã học được từ những sai lầm của chính mình, sẽ dựa vào kinh nghiệm có được, và sẽ tốt hơn nếu đánh giá ưu và nhược điểm của các giải pháp cho các vấn đề.

Trong các mối quan hệ kinh doanh, điều cũng xảy ra là những người ở cấp cao nhất giúp đỡ những người thấp hơn, muốn kéo họ lên và làm cho công ty thành công hơn. Nhưng cũng có những người giả vờ rằng họ muốn tốt hơn, nhưng thực tế họ làm hại nhân viên của mình và cố gắng sống sót khỏi công ty, đôi khi để chọn vị trí của họ, đôi khi thông qua động cơ cá nhân.

Để đạt được các mục tiêu của giao tiếp kinh doanh trong tổ chức, cần phải tạo ra các điều kiện thông qua tiềm năng sáng tạo của nhân viên. Nhân viên chuyên môn, sở hữu điều này, quản lý của công ty sẽ dễ dàng hơn nhiều so với các yêu cầu của cấp dưới và điều phối các mục tiêu và lợi ích cá nhân của họ với mục tiêu của công ty.

Lượt xem: 13 093