Top #10 ❤️ Chức Năng Xã Hội Hoá Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Bưu Điện Văn Hoá Xã Góp Phần Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Ở Nông Thôn

Nhiều Nét Mới Trong Đào Tạo Kỹ Năng Quản Lý Và Bán Hàng Nâng Cao Cho Nhân Viên Bđ

Hội Nghị Toàn Quốc Về Điểm Bưu Điện

Bài Dự Thi Giải Búa Liềm Vàng Lần Thứ Iv

Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam

Những Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt

Trong những năm qua, bên cạnh việc xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần ở nông thôn nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.Mô hình điểm Bưu điện Văn hoá xã là một trong những giải pháp để cụ thể hoá chủ trương nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần ở nông thôn của Nhà nước ta, là sự kết hợp liên ngành giữa các đơn vị ngành Bưu điện, ngành Văn hoá Thông tin, ngành Tư pháp nhằm đưa ánh sáng văn hoá, kiến thức pháp luật, nối liền thông tin nhằm xoá đi khoảng cách không gian giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo&hellip

Nhiều điểm BĐVHX đã tổ chức thành công mô hình Câu lạc bộ bạn đọc với hàng chục hội viên tham gia, chủ nhiệm Câu lạc bộ là nhân viên của điểm BĐVHX. Với sáng kiến của mô hình này, chúng ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc và tăng cường biện pháp quản lý sách, kích thích, khuyến khích nhu cầu đọc sách. Việc kết hợp giữa kinh doanh và phục vụ ngày càng được quan tâm chỉ đạo để phát huy thế mạnh của điểm BĐVHX.

Theo sự chỉ đạo của Tổng công ty, Bưu điện thành phố đã tuyển lựa một số con em ở tại địa phương để hợp đồng làm việc ở Bưu điện Văn hoá xã, việc này góp phần giải quyết việc làm cho con em địa phương.

Ngoài ra, Bưu điện thành phố đã phối hợp cùng với Hội LHTN thành phố tổ chức Hội nghị triển khai chương trình ” Phổ cập tin học, nối mạng tri thức cho thanh thiếu niên Việt Nam”, chương trình ” Một triệu giờ đồng hành “……, Sau các khoá tập huấn, các nhân viên đã ứng dụng tốt kiến thức được học vào công việc thực tế. Do vậy, chất lượng dịch vụ, tinh thần phục vụ đã được nâng cao và đạt hiệu quả rõ rệt, sản lượng doanh thu Bưu chính Viễn thông năm sau cao hơn năm trước, doanh thu trung bình một tháng của hầu hết các điểm là dưới 1 triệu, 2 điểm doanh thu trên 1 triệu rưỡi, 1 điểm có doanh thu trên 2 triệu ( doanh thu chủ yếu là doanh thu cước điện thoại ).

Việc triển khai dịch vụ Internet tại các điểm Bưu điện Văn hoá xã đã tạo điều kiện cho nhân dân vùng nông thôn có điều kiện tiếp xúc, sử dụng các dịch vụ mới. Bưu điện thành phố đã chỉ đạo hỗ trợ phương tiện, nguồn lực phục vụ phổ cập tin học cho thanh thiếu niên, cung cấp giáo trình, hỗ trợ đường truyền Internet để tạo điều kiện cho thanh thiếu niên đến truy cập miễn phí định kỳ vào các ngày thứ ba và thứ năm hàng tuần tại 13 điểm BĐVHX với thời gian 180 phút/lần, 2 lần/tuần/điểm.

Bước Chuyển Của Điểm Bưu Điện

Công Tác Văn Hóa Ở Cấp Xã, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Tiêu Chuẩn Đối Với Cán Bộ Văn Hóa Xã

Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa

Nhiệm Vụ Của Công Chức Văn Hóa

Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs

Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs

Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx

Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất

Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc

Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của

mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một

trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh

công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công

của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải

pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định.

Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập

quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức

lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

I- Lí do chọn đề tài.

1) Cơ sở lí luận:

Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn

nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận

lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi

mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát

triển Giáo dục.

Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ

” Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền,

các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có

trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ,

nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

1

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong

cộng đồng, từng tập thể”.

Thành uỷ, uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Ninh cũng đã có nghị quyết, văn

bản chỉ đạo đúng đắn về công tác giáo dục, trong đó có vấn đề đẩy mạnh công tác

xã hội hoá giáo dục, xoá phòng học cấp 4, tăng cường công tác giáo dục đạo đức

trong cộng đồng.

Mặt khác kết luận Hội nghị TW 6 Khoá IX càng khẳng định – Đẩy nhanh sự

nghiệp GD-ĐT để nhanh chóng đưa đất nước ta đi lên Công nghiệp hoá – Hiện đại

hoá và Hội nhập.

Nội dung chủ yếu của Xã hội hoá giáo dục gồm:

– Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo dục trở

thành một nền giáo dục cho mọi người. Tác động mạnh mẽ việc nhận thức của

nhân dân về công tác giáo dục.

– Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế

hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục gia đình – nhà trường – xã hội. Tăng cường trách

nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế

– xã hội, cá nhân đối với giáo dục.

– Đa dạng hoá các loại hình giáo dục.

– Tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách, khai thác triệt để và sử dụng có

hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát huy giáo dục.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục phổ thông cần phải có cơ sở vật chất ,

thiết bị, phương tiện đảm bảo việc dạy và học trong nhà trường.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

2

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

3

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

như tăng cường cơ sở vật chất , đảm bảo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện

là hết sức cần thiết và quan trọng. Một mặt trường THCS Đáp Cầu lo củng cố xây

dựng đội ngũ giáo viên, phát huy nội lực mặt khác trường chủ trương gắn nhà

trường với cộng đồng – Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục (XHHGD) tạo ra

một địa bàn mọi người dân tham gia công tác giáo dục nhất là giáo dục đạo đức cho

học sinh, tạo cho nhà trường môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn. Đồng thời

giúp trường có thêm cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học, nhằm nâng cao chất

lượng giáo dục toàn diện, đưa trường THCS Đáp Cầu từng bước vươn lên đáp ứng

với tình hình giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

II- Mục đích nghiên cứu.

Tìm ra các giải pháp để tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục nhằm xây

dựng địa bàn khu dân cư của trường có môi trường giáo dục tốt, đồng thời tăng

cường cơ sở vật chất trong trường đáp ứng yêu cầu đổi mới.

III- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

Với đề tài này, tập trung nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục trên địa bàn

phường Đáp Cầu và trường THCS Đáp Cầu – Thành phố Bắc Ninh. Trên hai lĩnh

vực:

– Giáo dục đạo đức học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

trong trường THCS Đáp Cầu.

– Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo môi trường giáo dục lành

mạnh, thân thiện, an toàn trong trường THCS Đáp Cầu.

IV- Nhiệm vụ của đề tài:

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

4

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

1. Xem xét thực trạng công việc giáo dục đạo đức ở khu dân cư, của chính

quyền địa phương, của hộ gia đình. Đưa ra những biện pháp làm cho cộng đồng xã

hội, nhận rõ lợi ích và trách nhiệm của mình đối với giáo dục đạo đức học sinh. Từ

đó có giải pháp phối hợp chặt chẽ giáo dục “Nhà trường, gia đình , xã hội” trong

việc giáo dục đạo đức.

2. Thiết lập và xây dựng được quy trình để từng bước xây dựng cơ sở vật

chất để có đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu đổi mới giáo dục và sự phát

triển kinh tế xã hội của địa phương.

Xác định được đối tượng nào trong cộng đồng có khả năng tham gia vào xây

dựng và phát triển giáo dục.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, xây dựng phong trào xã hội hoá giáo dục

trong nhà trường THCS Đáp Cầu đưa ra phương pháp phù hợp với đặc điểm của

địa bàn giáo dục. Từ đó phát huy sức mạnh của mỗi con người và hạn chế những

yếu kém trong công tác xã hội hoá giáo dục. Mất đoàn kết trong từng nhóm nhằm

xây dựng một cộng đồng dân cư phường có trách nhiệm và vì mục đích giáo dục

chung .

– Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2008 đến tháng 3/2010

– Địa điểm: Trường THCS Đáp Cầu – thành phố Bắc Ninh

V- Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh công

tác xã hội hoá giáo dục, một cách năng động sáng tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại

trong hoàn thành mục tiêu giáo dục.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

5

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÔNG

TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS

I-Một số quan niệm về xã hội hoá giáo dục trong trường THCS:

Ngành giáo dục luôn khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội

tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình

độ được học thường xuyên, học suốt đời, tiến tới một xã hội học tập.

Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định

tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Thực trạng nhức nhối của nền giáo dục

Việt Nam hiện nay – nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của Việt Nam – đặt ra vấn

đề phải cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một những giải pháp được đặt

ra sôi nổi nhất. Phải khẳng định, xã hội hoá giáo dục là tinh thần, là nội dung quan

trọng nhất của cải cách giáo dục, đảm bảo sự thành công của cải cách giáo dục.

Nhiều người có tâm huyết quan tâm nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cho

chương trình xã hội hoá giáo dục nhưng thực tế chưa ghi nhận được thành công

nào. Xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý

hơn.

Xã hội hoá giáo dục có ý nghĩa là nhà nước phải tạo ra không gian xã hội,

luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng

có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng

giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội. Xã hội hoá giáo dục, do đó, cần phải

chỉ ra vai trò của xã hội trong sự nghiệp xã hội hoá giáo dục. Nói cách khác, xã hội

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

6

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

7

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRONG

TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU NHỮNG NĂM QUA

I/ Khái quát tình hình chung:

Trường THCS Đáp Cầu là một trường của phường nghèo trong các phường

của Thành phố Bắc Ninh. Trong năm qua công tác xã hội hóa giáo dục đã được

quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao chỉ dừng lại ở việc tạo điều kiện cho học sinh

đến trường một cách thuận lợi. Đặc biệt đối với học sinh nghèo xã hội hoá giáo dục

giúp đỡ các em còn gặp nhiều khó khăn.

Việc nhận thức của nhân dân về việc giáo dục đạo đức và việc học tập của

con em trong những năm qua còn hạn chế, nhận thức của các bậc phụ huynh và của

một số ít cán bộ có điều kiện thường tìm cách chuyển trường cho con, em mình đi

học trường khác.

Là phường nghèo nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục thấp, bên cạnh đó

việc đóng góp của nhân dân gặp khó khăn, số học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó

khăn chiếm tỷ lệ cao: năm học 2008 – 2009 tỷ lệ 12,5%; năm 2009 – 2010 tỷ lệ

10,5% học sinh khó khăn.

Bên cạnh những khó khăn trên có những thuận lợi nhất định Đảng Uỷ,

UBND phường quan tâm đến phong trào giáo dục địa phương, các cấp các ngành

đã có nhận thức đúng về công tác giáo dục.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

8

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Chính vì thế công tác xã hội hóa giáo dục cần được quan tâm để đảm bảo

cho học sinh được đến trường dù ở hoàn cảnh nào, không để học sinh vì kinh tế mà

phải bỏ học đồng thời tạo nguồn quỹ khuyến học khuyến tài, động viên học sinh

vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức cũng như đầu tư thêm cơ sở vật chất

cho nhà trường đảm bảo môi trường giáo dục theo mục tiêu cải cách giáo dục đề ra

trong giai đoạn hiện nay.

II/ Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục trường THCS Đáp Cầu qua

2 năm học 2008 – 2010.

Từ năm 2004 sau khi trường THCS Đáp Cầu được công nhận trường chuẩn

quốc gia, dưới sự lãnh đạo của UBND phường, và UBND thị xã Bắc Ninh thực

hiện dự án du lịch sông Cầu, cải tạo môi trường và sự chuyển đổi của kinh tế thị

trường đã ảnh hưởng đến đời sống, nguồn thu nhập công ăn việc làm của người dân

phường Đáp Cầu.

Sự phân hóa chênh lệch về kinh tế rõ rệt, một số hộ giàu lên, một số hộ thu

nhập kém trở thành hộ nghèo, đa số các hộ trong phường có thu nhập thấp đã ảnh

hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hoá giáo dục trên địa bàn. Thể hiện ở những

mặt sau :

– Một số gia đình mải lo về kinh tế không quan tâm đến việc giáo dục con

em, dẫn đến tình trạng học sinh lười học, ý thức đạo đức xuống cấp.

– Việc đóng góp cho con em đến trường theo quy định của nhà nước gặp

nhiều khó khăn.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

9

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

– Công tác xã hội hoá về việc giáo dục đạo đức học sinh trong cộng đồng dân

cư cũng như xã hội hoá về cơ sở vật chất trang thiết bị cho nhà trường gặp những

khó khăn.

Chính vì vậy, cần phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục mà chủ yếu trên

hai mặt :

Một là : Xã hội hoá về công tác giáo dục đạo đức làm cho nhân dân nhận

thức được việc học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh trong thời đại hiện nay là

rất cần thiết là sự đầu tư chính đáng, là con đường xoá đói giảm nghèo, phòng

chống tệ nạn xã hội hiệu quả nhất.

Hai là : Thay đổi phương thức, hình thức hoạt động vận động nhân dân tạo

nguồn tài chính cho việc xã hội hoá cơ sở vật chất nhà trường. Từ đó bổ sung trang

thiết bị cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Đồng thời xây dựng cảnh

quan nhà trường khang trang sạch đẹp tạo ra môi trường học tập an toàn, thân thiện.

Đứng trước nhiệm vụ của năm học, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục và

yêu cầu ngày càng cao việc nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh. Ban giám

hiệu nhà trường xác định nhiệm vụ vận động nhân dân và các doanh nghiệp cũng

như toàn nhân dân tham gia công tác xã hội hoá giáo dục là hết sức quan trọng và

cần thiết, không thể thiếu được trong nhà trường THCS.

Trong hai năm học 2008 – 2010 chi bộ Đảng, ban giám hiệu trường THCS

Đáp Cầu đã xác định lấy công tác xã hội hoá giáo dục là công tác quan trọng để

nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường. Với các nội dung cụ thể

sau:

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

10

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

11

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

III. Phân tích nguyên nhân, kết quả đạt được, những tồn tại thiếu sót và

những bất cập trong công tác xã hội hoá giáo dục.

* Kết quả:

Trong hai năm học: 2008 – 2009; 2009 – 2010 với sự quan tâm của chi bộ

Đảng, của Ban giám hiệu nhà trường phong trào xã hội hoá giáo dục đã đạt được

một số kết quả đáp ứng được cho sự phát triển giáo dục địa phương thể hiện qua

một số kết quả đạt được sau:

1. Nhận thức của giáo viên:

Qua phong trào xã hội giáo dục các đồng chí cán bộ, giáo viên trong nhà

trường đã nhận thức được việc cần phải tăng cường công tác liên hệ chặt chẽ với

địa phương gia đình để giáo dục đạo đức học sinh. Từ đó, đã thực hiện tốt các hoạt

động xã hội chính trị của địa phương và có những phương pháp tiếp cận giáo dục

đạo đức học sinh cá biệt theo phương pháp mới đó là tìm hiểu hoàn cảnh học sinh,

từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp trên cơ sở lấy tình thương trách nhiệm

với học sinh với cộng đồng.

2. Về nhận thức của nhân dân:

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục cải tiến phương pháp, hình thức hoạt

động về việc giáo dục trong cộng đồng dân cư, đã thu hút được đông đảo quần

chúng nhân dân tham gia giáo dục đạo đức học sinh, các bậc phụ huynh kết hợp

chặt chẽ với nhà trường hơn, thái độ của phụ huynh đến trường có nhận thức đúng

đắn, về việc học tập rèn luyện đạo đức của con em mình. Hiện tượng bất hợp tác

của phụ huynh để giáo dục học sinh không còn.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

12

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Trong hai năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010 nhờ làm tốt công tác xã hội hoá

giáo dục đạo đức học sinh đã chuyển biến rõ rệt không có học sinh vi phạm pháp

luật, không có học sinh bỏ học vì lý do kinh tế, khó khăn. Chất lượng đạo đức được

nâng lên số học sinh có đạo đức khá, tốt tăng hơn so với năm trước. Các em học

sinh ngoan hơn, chăm học hơn, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên từng

bước.

3. Về cơ sở vật chất:

Qua việc hoạt động về xã hội hoá giáo dục của nhà trường đã tạo ra được

nguồn kinh phí, đầu tư thêm trang thiết bị cho nhà trường, tạo ra một môi trường

giáo dục an toàn, thân thiện. Các nhà doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đã có tấm

lòng giúp đỡ nhà trường làm cho nhà trường ngày càng khang trang hơn.

Qua hai năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010 công tác xã hội hoá giáo dục đã

giúp nhà trường có hệ thống tường rào, cửa xếp bảo vệ chắc chắn tạo ra cho nhà

trường có môi trường an toàn. Hội cha mẹ học sinh đã tiến hành khuyên góp các

nhà hảo tâm cải tạo khu vệ sinh sạch sẽ đảm bảo đủ tiêu chuẩn học đường, cải tạo

xây dựng vườn trường tạo ra cảnh quan sư phạm và chỗ vui chơi giải trí cho học

sinh. Nhờ có công tác xã hội hoá giáo dục mà học sinh có bàn ghế học tập khang

trang đúng quy cách và bổ sung các trang thiết bị dạy học cho nhà trường.

Tổng kinh phí trong hai năm do công tác xã hội hoá giáo dục đạt được:

97.000.000đ

4. Về khuyến học, khuyến tài:

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

13

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Xã hội hoá giáo dục đã giúp nhà trường tạo ra nguồn kinh phí khen thưởng

hàng năm thúc đẩy học sinh phấn đấu và động viên được các thầy cô giáo, các học

sinh trong trường phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình và vươn lên trong học

tập.

Từ công tác xã hội hoá giáo dục mà hội cha mẹ học sinh đã gây được quỹ

khuyến học, khuyến tài và thưởng cho học sinh hàng năm trị giá trên 15 triệu

đồng/1năm thúc đẩy được phong trào học tập của các em và động viên được các

học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức. Vị

thế nhà giáo được nâng cao trong cộng đồng dân cư phường.

5. Quản lý học sinh:

Việc quản lý học sinh ngoài giờ đến trường đã được các cấp chính quyền khu

phố quan tâm tác động mạnh mẽ đến gia đình học sinh. Từ đó, đã ngăn chặn được

các tệ nạn xã hội đã xâm nhập vào học sinh, vào học đường, các hiện tượng bạo lực

không xảy ra.

Qua công tác xã hội hoá giáo dục việc quản lý học sinh, giáo dục học sinh tại

địa phương đã đạt được những kết quả đáng kể không có học sinh nào vi phạm

pháp luật, và tệ nạn xã hội.

* Nguyên nhân:

Có kết quả trên là nhờ có sự nhận thức đúng đắn của cấp uỷ, ban giám hiệu

nhà trường, của chi bộ, của công đoàn và của hội đồng nhà trường. Đó là kết quả

của sự quan tâm chỉ đạo của Phòng giáo dục, của UBND phường và nhân dân địa

phương với sự nghiệp giáo dục.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

14

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

15

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Còn một số phụ huynh nhận thức còn thấp về việc giáo dục con em mình

phần nào đã gây khó khăn cho công tác xã hội hoá giáo dục.

CHƯƠNG III:

NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐẶT RA TRONG VIỆC XÂY DỰNG

PHONG TRÀO XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU

I/ Phương hướng thực hiện công tác xây dựng phong trào xã hội hoá

giáo dục:

Qua sự đánh giá, nghiên cứu về địa bàn dân cư, tình hình kinh tế địa phương

phường Đáp Cầu và tập thể sư phạm trường THCS Đáp Cầu, bản thân nhận thấy

cần phải có định hướng lâu dài trong việc xây dựng kế hoạch cho công tác xã hội

hoá giáo dục.

Một là, thay đổi nhận thức trong giáo viên về việc xã hội hoá giáo dục tuyên

truyền sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh” và cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung chống tiêu cực trong thi cử,

bệnh thành tích trong giáo dục, học sinh ngồi nhầm chỗ, đạo đức nhà giáo. Trong

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

16

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

đó cần chú trọng và là trọng tâm trong việc xây dựng tập thể sư phạm đó là đạo đức

nhà giáo. Nhà giáo ngoài đạo đức, lối sống lành mạnh còn phải có tâm nghề

nghiệp, phải có tình thương đối với học sinh, phải có ý thức phấn đấu vươn lên làm

chủ kiến thức, không ngừng tu dưỡng rèn luyện tay nghề và thực sự là tấm gương

để học sinh noi theo. Từ đó, nâng cao vị thế của người giáo viên trong nhân dân,

tạo niềm tin tưởng với phụ huynh học sinh.

Hai là, phải xây dựng một tập thể có lòng nhân ái, vị tha, biết đặt lợi ích của

người học trong các giờ giảng dạy cũng như hoạt động giáo dục. Từ đó, kết hợp

chặt chẽ với các phụ huynh học sinh cùng nhau tìm biện pháp, kết hợp giáo dục.

Ba là, công tác tham mưu với Đảng Uỷ, UBND phường, với các cấp chính

quyền khu dân cư là việc làm rất cần thiết, được mở thành hội nghị bàn bạc thống

nhất cùng với nhà trường chịu trách nhiệm với việc giáo dục đạo đức học sinh.

Bốn là, thông qua công tác xã hội hoá giáo dục cần chú trọng xây dựng nhà

trường trở thành trung tâm văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, tăng cường sự

lãnh đạo của đảng, thực hiện sự liên kết giữa các lực lượng giáo dục trong toàn

phường như công đoàn, đoàn thanh niên, hội cha mẹ học sinh, hội đồng giáo dục…

Để tạo ảnh hưởng tích cực đối với giáo dục và đào tạo, xây dựng môi trường nhà

trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp, kỉ cương dạy – học đến các mối quan

hệ bên trong nhà trường và quan hệ bên ngoài nhà trường với xã hội, tổ chức tốt

các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động xã hội, tổ chức các diễn đàn giáo dục, thu

thập ý kiến đóng góp của nhân dân về công tác giáo dục từ đó có các biện pháp

khắc phục những hạn chế trong giáo dục, truyền thụ kiến thức cho học sinh.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

17

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

18

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Xây dựng xã hội hóa giáo dục

trong trường THCS Đáp Cầu” trong hai năm 2008 – 2009, 2009 – 2010 đã giúp bản

thân tôi thu hoạch được một số kết quả sau:

– Thấm nhuần lời dạy của Bác “muốn làm được việc phải dựa vào dân, phải

biết đặt lợi ích của dân lên trên lợi ích cá nhân”, “Dễ ngàn lần không dân cũng

chịu, Khó vạn lần dân liệu cũng xong” vì vậy, muốn làm tốt công tác giáo dục tại

địa phương phường Đáp Cầu phải dựa vào dân. Do đó, đẩy mạnh phong trào xã hội

hoá giáo dục, phải phù hợp với xu thế phát triển của địa phương, phải được sự ủng

hộ của quần chúng nhân dân về các chủ trương phương pháp thực hiện.

– Dự đoán được các khó khăn xảy ra khi thực hiện cuộc vận động xã hội hoá

giáo dục trên địa bàn nhiều dân cư cần phải dựa vào những nhân tố tích cực có

nhận thức đúng về sự nghiệp giáo dục địa phương, để làm nòng cốt thúc đẩy phong

trào và tuyên truyền trong nhân dân.

– Qua việc thực hiện xã hội hóa giáo dục địa phương cho thấy việc kết hợp

giữa “nhà trường – xã hội – gia đình” là một chủ trương đúng đắn đã được thực hiện

từ lâu song cần phải thay đổi phương pháp, hình thức hoạt động cho phù hợp với

tình hình kinh tế, chính trị và sự phát triển của xã hội hiện nay. Kết hợp giữa đổi

mới phương pháp giảng dạy, đạo đức nhà giáo với việc xã hội hoá giáo dục nâng

cao chất lượng giáo dục toàn diện mới đạt hiệu quả.

2. Những kiến nghị thông qua việc thực hiện đề tài:

– Người lãnh đạo nhà trường phải chủ động tham mưu với Đảng Uỷ, UBND

Phường và các cấp chính quyền địa phương.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

19

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu

2010

Hai năm học 2008 –

– Giáo viên chủ nhiệm cần có thời gian để xuống thăm gia đình học sinh và

phải thực hiện các hoạt động chính trị xã hội ở địa phương.

– Mở lớp tuyên truyền về giáo dục giới tính nhằm giúp phụ huynh có phương

pháp giáo dục con em mình một cách khoa học.

– Cần có những cam kết trách nhiệm về quản lý học sinh với các tổ trưởng,

trưởng khu dân phố mà Đảng Uỷ, UBND phường phải đứng ra tổ chức thực hiện.

Ngày nay, đất nước ta trong thời kì đổi mới nền kinh tế ngày càng phát triển

mạnh mẽ, cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, khoa học kĩ thuật

ngày càng phát triển. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là động lực thúc đẩy

có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước. Bác Hồ nói: “Nhiệm vụ của

cô giáo, thầy giáo rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần

chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ, xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật

tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với

nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi

nhiệm vụ đó”. Bác còn nói: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự

nghiệp cách mạng to lớn của Đảng của nhân dân”.

Để hoàn thành được nhiệm vụ trong công tác đào tạo nhân tài, nâng cao chất

lượng giáo dục toàn diện thực hiện mục tiêu giáo dục của Bộ giáo dục đề ra. Các

nhà trường cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng tập thể nhà giáo văn

hoá với việc kết hợp ba lực lượng giáo dục, để tiến hành các biện pháp giáo dục

đạo đức học sinh theo phương pháp giáo dục mới, mà lợi ích người học được đặt

lên trên hết. Vì vậy, việc nâng cao “kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” của đội

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

20

Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả

Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo

Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0

Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình

Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Tuyên Truyền Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật Trên Địa Bàn Thành Phố Trà Vinh

Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư

Vai Trò Của Luật Sư Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay

Vị Trí Vai Trò Và Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập 1)

Chức Năng Xã Hội Của Công Chứng Viên

Công Chứng Viên Là Gì? Những Điều Nên Biết Về Công Chứng Viên

Khẳng Định Vị Thế, Vai Trò Của Công Chứng Viên

Chức năng xã hội của Luật sư trong hoạt động tố tụng chính là thiên chức và sứ mệnh của Luật sư trong việc khẳng định những giá trị cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Chức năng này không phải tự nhiên mà có, bởi lẽ về bản chất, hoạt động hành nghề Luật sư trước hết phản ánh nhu cầu của các chủ thể về trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Qua quá trình phát triển của nghề Luật sư, điều dễ nhận thấy là nghề Luật sư được hình thành từ cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công xã hội. Chính từ hành động chống lại những bất công trong xã hội có giai cấp mà hình ảnh Luật sư xuất hiện như sự hiện diện của một đấng cứu thế, phản ánh ước vọng khát khao của các tầng lớp nhân dân về công bằng, dân chủ. Do đó, hoạt động của Luật sư không thể tách rời với các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và mô hình tố tụng hình sự của mỗi quốc gia. Từ đó có thể thấy, các quan hệ pháp luật điều chỉnh chính là những tiền đề để nghề Luật sư tồn tại và phát triển.

Chức năng xã hội được quy định tại Điều của Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 như sau:

“Điều 3. Chức năng xã hội của luật sư [3]

Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.”

Vì vậy, chức năng xã hội của Luật sư được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý của các chủ thể trong xã hội một cách minh bạch, giúp những chủ thể này nhận biết chân thực và chính xác các nhu cầu chính đáng của mình. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật sư khi tham gia tố tụng là phải tuân thủ pháp luật, có kỹ năng, kỷ luật, có trình độ chuyên môn, tận tâm với khách hàng và còn phải là người có tấm lòng yêu thương con người, một lòng vì chính nghĩa, tin tưởng vào công bằng xã hội. Khi tham gia tố tụng, Luật sư được xem như người soi đường chỉ lối giúp phân định tính đúng sai trong xử sự của chủ thể nhằm đáp ứng mục tiêu phân xử công bằng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Với định hướng, xây dựng phát triển Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW chính là điều khẳng định nghề Luật sư trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay như một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Khi nói tới chức năng xã hội của Luật sư nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng, cần đặt vị trí Luật sư trong các mối quan hệ chi phối đến hoạt động nghề nghiệp và xem xét các yếu tố này trong tổng thể các giá trị của sự phát triển dân chủ, quan niệm về sự công bằng, văn minh cũng như các thành tố khác tạo nên xã một xã hội dân chủ. Hoạt động của Luật sư trong tố tụng thời gian qua đã góp phần mang đến cho xã hội nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng những giá trị dân chủ, thông qua sự bình đẳng trong tranh tụng, đề xuất yêu cầu, đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Chức năng xã hội của Luật sư còn được thể hiện thông qua hoạt động hành nghề trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, công dân nơi vùng xa, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn hay hoạt động trợ giúp pháp lý theo chỉ định của cơ quan tố tụng.

Như vậy, có thể khẳng định yếu tố tín nhiệm đối với nghề Luật sư luôn là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi quá trình phấn đấu không ngừng trong tiến trình hoạt động hành nghề. Luật sư luôn phải ý thức được trách nhiệm xã hội của nghề nghiệp, luôn đảm bảo lấy việc phụng sự công lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng làm tôn chỉ thực hiện hoạt động nghề nghiệp, thực hiện trên cơ sở pháp luật, lấy uy tín làm gốc. Đây chính là yêu cầu nội tại, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình và hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ Luật sư.

nguồn chúng tôi

” Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012

Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư Trong Hoạt Động Tố Tụng

Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập1)

Chức Năng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Được Giao Giám Sát Người Hưởng Án Treo

Làm Sao Để Nhận Biết Thực Phẩm Chức Năng Thật

Top Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Hàng Đầu

Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội

Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay

Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học

Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý

10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung

Theo quan niệm mácxít, nhà nước vừa có chức năng xã hội – chính trị, vừa có chức năng xã hội – dân sự. Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về vấn đề này là cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần: Nhận thức và xử lý đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa các chức năng của nhà nước; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân.

1. Cuộc cách mạng vĩ đại về lý luận – tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triển, đã đem lại quan niệm khoa học về nhà nước và chức năng của nhà nước trên nhiều bình diện, đặc biệt là mối quan hệ giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự trong kiện toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm mácxít khẳng định rằng, nhà nước chỉ xuất hiện khi đời sống xã hội đòi hỏi và đảm bảo đủ điều kiện để nhà nước hoạt động. Trong thực tiễn lịch sử, điều kiện cần và đủ cho sự hình thành nhà nước là sự phát triển sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định, cho phép xã hội có của dư. Khi xã hội tạo được của dư tất yếu sinh ra chế độ tư hữu, lúc đó, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Đặc trưng của nhà nước trước hết là thực hiện sự quản lý theo lãnh thổ; đồng thời, quản lý xã hội bằng pháp luật. Quyền lực nhà nước được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội và phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định: “Trước hết, bất cứ quyền lực chính trị nào ban đầu đều dựa trên một chức năng kinh tế, xã hội… Hai là, … tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật. Như vậy, giữa quyền lực chính trị và phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và phát triển kinh tế được đẩy nhanh hơn, hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, khi đó trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế”(1). Chức năng xã hội của nhà nước được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận dưới nhiều góc độ, song đều xuất phát từ nguyên tắc giai cấp của nhà nước. Trong các luận giải của mình về nhà nước, các ông đã phân tích sự vận động biện chứng của hai lớp nhà nước chính trị và nhà nước xã hội. Đó là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng khách quan giữa nhà nước chính trị và nhà nước xã hội, mà tập trung nhất là đời sống kinh tế. Bí mật của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, nhà nước tách ra thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội. Song, “không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định, quyết định nhà nước”(2).

Dưới góc độ phương pháp luận mácxít, nhà nước không chỉ thực hiện sự thống trị của giai cấp, tức chức năng xã hội – chính trị, mà còn thực hiện chức năng công cộng, tức chức năng xã hội – dân sự. Hai chức năng đó tuy khác nhau nhưng biểu hiện cùng một bản chất do tính quy định của nó. “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là phương thức tồn tại của nhà nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước”(3). Như vậy, nhà nước là tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị chính trị.

Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chức năng xã hội – chính trị có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nó đòi hỏi phải tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của nhà nước bằng nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử – cụ thể; bằng tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính lôgíc biện chứng trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp; bằng tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân. Mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, là đảm bảo tốt hơn sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Để giữ vững định hướng chính trị đối với tất cả các quan hệ xã hội, việc thực hiện chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ sở lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân; tuân theo sự dẫn dắt, định hướng, chế ước của các quan hệ xã hội – chính trị. Định hướng xã hội – chính trị của nhà nước phải được giữ vững trong quá trình thực hiện chức năng xã hội – dân sự, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn xã hội càng phù hợp với nhau thì các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự càng phát triển theo hướng tích cực. Định hướng xã hội – chính trị chỉ đứng vững khi bản thân nó không tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ nền tảng đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội dân sự. Nhân dân đóng góp cho nhà nước bao nhiêu về phương diện xã hội – chính trị thì nhà nước cũng phải thoả mãn bấy nhiêu yêu cầu của họ về phương diện xã hội – dân sự. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải loại bỏ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng không chỉ vì lý do chính trị, mà cả lý do khoa học.

Để tiếp cận đúng mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải tuân thủ nguyên tắc về sự thống nhất giữa vai trò của quần chúng nhân dân và người lãnh đạo. Cơ sở khoa học của nguyên tắc này xuất phát từ lý luận và thực tiễn của mối liên hệ hữu cơ giữa cá nhân với xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Nhà nước thực hiện các chức năng của nó không chỉ thông qua vai trò của cộng đồng xã hội, mà còn thông qua vai trò hoạt động tích cực của cá nhân, đặc biệt là người lãnh đạo chủ chốt.

Trên cơ sở phương pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xem xét các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước luôn được đặt trong mối liên hệ với xã hội dân sự. Thực hiện tốt vấn đề này không chỉ nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước với đời sống xã hội dân sự.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn luôn đòi hỏi việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị phải dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu xã hội dân sự; trong đó, nhu cầu thiết yếu nhất là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, phương thức thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân bằng nhà nước chủ yếu phải là mở rộng dân chủ. Pháp quyền chỉ đứng vững và hiệu quả khi thực hiện bằng dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là hiện thân tối ưu của các hình thức dân chủ hoá. Dù trình độ dân chủ phát triển đến đâu, tính chất dân chủ ấy như thế nào thì nó vẫn phải được pháp chế hoá bằng luật pháp. Để thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, phải phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự.

Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện một cách đa dạng trên nhiều nội dung và ở mọi lĩnh vực xã hội, trong đó những nội dung quan trọng cần khẳng định là các mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, các Nghị quyết Trung ương chuyên đề, như Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (6 – 1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII (6 – 1997) Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh và Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 7, khoá VIII (8 -1999) Về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước… được các ngành, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định xã hội – chính trị, thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội – dân sự. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã tạo nền tảng vật chất vững chắc để Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển và quan hệ chặt chẽ hơn với đời sống xã hội dân sự, không gây nên những biến động lớn làm đảo lộn đời sống xã hội dân sự, không có sự tranh giành quyền lực chính trị trong nội bộ cơ quan quyền lực. Đồng thời, tạo cơ sở cho Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của mình.

Trong thời đại toàn cầu hoá, xu hướng luật pháp hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng rất lớn và tích cực đối với việc thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước ta. Điều này biểu hiện ở vai trò ngày càng tăng của nhân tố pháp quyền, sự quan tâm hơn của nhà nước đến vấn đề con người và đời sống xã hội, sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kỹ năng, kỹ thuật tổ chức nhà nước cũng có những nét mới, hợp lý, như sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật quốc tế, lý thuyết về liên minh quốc hội và liên minh chính phủ…

Ngoài những thành tựu to lớn và cơ bản trên, việc thực hiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự của Nhà nước ta trong thời gian qua không tránh khỏi một số bất cập, chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

Nguyên nhân chủ quan

Chúng ta chưa nhận thức và vận dụng đúng, thậm chí vi phạm những nguyên lý cơ bản về mối liên hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước. Trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cơ sở, có lúc, có nơi, chúng ta còn tách rời chức năng xã hội – dân sự với chức năng chính trị – xã hội; quá nhấn mạnh, tuyệt đối hoá hoặc là chức năng xã hội – chính trị, hoặc là chức năng xã hội – dân sự. Đặc biệt, chưa nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu của sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta chưa luận giải đúng nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối liên hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa nhận thức và vận dụng đúng phương thức chuyển hoá của việc thực hiện sự thống nhất chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được mối quan hệ hữu cơ vững chắc giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Công tác xây dựng, tổ chức đảng “chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ “còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, “lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ”. ” Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng“(4). Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ; thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà và chậm được đổi mới, hiệu lực thi hành pháp luật yếu. Kỹ thuật tổ chức hành chính cả về phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể và hội quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới…(5). Văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn thấp.

Nguyên nhân khách quan

Điểm xuất phát kinh tế của nước ta còn thấp, các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được tạo lập đồng bộ. Thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển. Những tàn dư văn hoá – xã hội, như lề thói độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, gia đình chủ nghĩa và việc thiếu một mặt bằng văn hoá pháp luật, văn hoá dân chủ cao… đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước.

Mặt khác, các thế lực đế quốc và lực lượng chống cộng hiện đang cấu kết với nhau, lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những biện pháp thâm độc và nguy hiểm của chúng trước hết tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai con đường phát triển xã hội; rằng, “không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế” và kích động phải thực hiện “tư nhân hoá”, “đa nguyên chính trị”… Thực chất là chúng muốn chia rẽ Đảng với Nhà nước, Đảng và Nhà nước với nhân dân; tách quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhằm phá hoại sự thống nhất trong thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

3. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, cần nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước; luận giải một cách khoa học nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối quan hệ cũng như sự chuyển hoá giữa các chức năng đó. Đồng thời, phân tích một cách khách quan những nhân tố tác động đến sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước. Để có thể xử lý đúng đắn và khoa học sự tác động đó, cần xem xét nó một cách toàn diện, hệ thống, vừa theo tính chất, vừa theo những lát cắt đồng đại.

Hai là, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, ” thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là lực lượng sản xuất của xã hội, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Giữa các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ và có sự tương tác biện chứng với nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khía cạnh xã hội – chính trị. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là khía cạnh xã hội – dân sự. Đó cũng là những biện pháp quan trọng nhất để nâng cao không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thắt chặt mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đời sống xã hội dân sự, nhân tố quyết định sự phát triển thống nhất giữa các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước.

Ba là, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Đây là biện pháp không thể thiếu để duy trì và phát triển sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều phải thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.

Tóm lại, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước”, “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” và tích cực “đấu tranh chống tham nhũng”(7) – như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.

Đã xem: 4304

Thời gian đăng: Thứ sáu – 02/02/2018 11:34

Người đăng: Phạm Quang Duy

Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới

Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội

Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn

Lý Thuyết Mạng Lưới Xã Hội Trong Nghiên Cứu Tin Đồn

Biến Đổi Cơ Cấu Và Chức Năng Gia Đình. Đề Cương Môn Học

🌟 Home
🌟 Top