Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Các Biện Pháp Tránh Thai Và Ưu Nhược Điểm Của Từng Loại
  • Ưu Nhược Điểm Của Các Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến Hiện Nay
  • 8 Phương Pháp Phòng Tránh Thai An Toàn, Ưu Và Nhược Điểm
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Và Cơ Chế Tác Dụng
  • Tìm Hiểu Về Phim Tránh Thai Vcf
  • I. MỤC TIÊU:

    1. Kiến thức:

    Phân tích được nội dung cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong kế hoạch hóa gia đình.

    Nhận biết được những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên.

    Giải thích được cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai và các nguyên tắc cần tuân thủ để có thể tránh thai.

    2. Kĩ năng:

    Rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế.

    Các KNS cơ bản được giáo dục:

    + Thu thập và xử lí thông tin khi đọc SGK, quan sát tranh ảnh.

    + Ra quyết định.

    + Kĩ năng từ chối: từ chối những lời rủ rê quan hệ tình dục sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn.

    + ứng phó với những tình huống ép buộc, dụ dỗ, lừa gạt quan hệ tình dục.

    3. Thái độ:

    GD ý thức bảo vệ mình tránh mang thai ngoài ý muốn.

    II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:

    GV: Một số dụng cụ tránh thai như bao cao su, vòng tránh thai, viên uống tránh thai.

    III. PHƯƠNG PHÁP:

    – Nêu và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, vấn đáp, tìm tòi, động não.

    IV. TỔ CHỨC DAY HỌC:

    1. Kiểm tra bài cũ (4 phút)

    + Thế nào là thụ tỉnh? Thụ thai? Điều kiện xảy ra sự thụ tỉnh và thụ thai?

    2. Khởi động (1 phút)

    Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS khi tìm hiểu về các biện pháp tránh thai.

    Cách tiến hành “Mang thai ngoài ý muốn sẽ dẫn đến những hậu quả xấu có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần. Vậy có những biện pháp nào để tránh mang thai? Chúng ta nghiên cứu bài hôm nay”.

    3. Các hoạt động dạy học (35 phút)

    Hoạt động 1 (12 phút) Tìm hiểu ý nghĩa của việc tránh thai

    – Mục tiêu: HS phân tích được nội dung cuộc vận động sình đẻ có kế hoạch trong kế hoạch hóa gia đình.

    – CTH:

    – GV nêu câu hỏi:

    + Hãy phân tích ý nghĩa của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong kế hoạch hóa gia đình?

    + Thực hiện cuộc vận động đó bằng cách nào?

    + Cuộc vận động đó có ý nghĩa gì? Cho biết lí do?

    + Điều gì sẽ xảy ra khi có thai ở tuổi còn đang đi học?

    – GV nhận xét chốt kiến thức.

    I. Ý nghĩa của việc tránh thai

    – Đảm bảo sức khỏe người mẹ.

    – Nâng cao chất lượng cuộc sống.

    – Đối với hoc sinh không có con sớm để không ảnh hưởng tới sức khỏe học tập và tinh thần.

    Hoạt động 2: (9 phút) Tìm hiểu những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên

    -CTH:

    – GV yêu cầu:

    + Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên là gì?

    + Cần làm gì để tránh mang thai ngoài ý muốn hoặc tránh nạo phá thai ở tuổi vị thành niên?

    – GV nhận xét chốt kiến thức.

    II. Những nguy cơ khỉ có thai ở tuổi vị thành niên

    – Có thai ở tuổi vị thành niên là nguyên nhân tăng nguy cơ tử vong và gây nhiều hậu quả xấu.

    Hoạt động 3: (14 phút) Tìm hiểu những cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    – Mục tiêu: Giải thích được cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai và các nguyên tắc cần tuân thủ để có thể tránh thai.

    – Đồ dùng: Một sổ dụng cụ tránh thai như bao cao su, vòng tránh thai, viên uổng tránh thai.

    – CTH:

    III. Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    – Nguyên tắc tránh thai:

    + Ngăn trứng chín và rụng.

    + Tránh không để tinh trùng gặp trứng.

    + Chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh.

    – Biện pháp tránh thai:

    + Sử dụng bao cao su, viên uống tránh thai.

    + Đặt vòng tránh thai.

    + Đình sản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cho Con Bú Vô Kinh
  • Hiệu Quả Của Tránh Thai Bằng Phương Pháp Vô Kinh Cho Con Bú
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Bú Vô Kinh
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Con Bú Vô Kinh Có An Toàn Không?
  • Biện Pháp Tránh Thai Vô Kinh Cho Con Bú
  • Bài 63. Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Sinh Học 8
  • Sinh Học 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • Đặt Vòng Tránh Thai Có Tăng Cân Không?
  • Đâu Là Loại Thuốc Tránh Thai Không Tăng Cân?
  • Sợ Tăng Cân, Nám Da Vì Uống Thuốc Tránh Thai
  • 1. Ý nghĩa của việc tránh thai

    Để thực hiện việc tránh thai, sinh đẻ có kế hoạch ở nước ta đang thực tích cực thực hiện cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình

    – Để thực hiện cuộc vận động chúng ta phải:

    + Tuyên truyền cho mọi người biết đến cuộc vận động.

    + Tuyên truyền cho mọi người hiểu vì sao không nên kết hôn sớm và mỗi vợ chồng chỉ nên có từ 1 – 2 con.

    + Biện pháp cần sử dụng để tránh thai: sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, uống thuốc tránh thai sau mỗi lần quan hệ …

    – Ý nghĩa của cuộc vận động:

    + Giúp mỗi gia đình chỉ có từ 1 – 2 con đảm đảm đầy đủ điều kiện nuôi dạy con cái tốt nhất

    + Đảm bảo cuộc sống gia đình hạnh phúc, ấm no

    + Giảm áp lực dân số đối với Việt Nam và thế giới

    + Đảm bảo nền kinh tế phát triển, các chế độ phúc lợi: học tập, bệnh viện, vui chơi, giải trí, lương hưu … được tốt nhất

    – Nếu khi còn ở tuổi đang đi học mà có thai thì sẽ gây rất nhiều khó khăn: ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lí, học tập, gia đình, cuộc sống …

    2. Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên

    – Ở các bạn nữ, khi có kinh lần đầu chứng tỏ là các bạn đã có khả năng có thai, nếu không biết giữ gìn và có các biện pháp phòng tránh thì có thể mang thai ngoài ý muốn.

    – Mang thai ngoài ý muốn khi còn quá trẻ là 1 trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ tử vong vì:

    + Tỉ lệ sẩy thai, đẻ con non cao do tử cung chưa phát triển đầy đủ để mang thai đến đủ tháng và thường sót rau, băng huyết, nhiễm khuẩn …

    + Nếu sinh con thì con sinh ra thường nhẹ cân, tỉ lệ tử vong cao hơn.

    – Ngoài ra, khi mang thai ở tuổi đang đi học còn ảnh hưởng đến học tập, địa vị xã hội, công tác, gia đình, cuộc sống …

    * Lưu ý: nếu đã lỡ mang thai mà không muốn sinh con thì cần xử lí và giải quyết sớm ở những cơ sở có trang thiết bị tốt, cán bộ có chuyên môn vững vàng.

    + Thai dưới 6 tuần tuổi có thể hút, càng chậm chễ, thai càng to nguy cơ rạn nứt cổ tử cung càng cao.

    + Thai lớn, nhau thai bám chắc vào niêm mạc tử cung nên nạo phá thai thường gây sót rau hoặc thủng tử cung.

    * Hậu quả của việc nạo phá thai:

    – Dính buồng tử cung

    – Tắc vòi trứng gây vô sinh hoặc chửa ngoài dạ con

    – Tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo (thường là nguyên nhân gây vỡ cổ tử cung khi chuyển dạ ở lần sinh sau).

    * Cần có các biện pháp tránh mang thai ngoài ý muốn

    – Cần có 1 tình bạn trong sáng, lành mạnh, tránh quan hệ tình dục trong độ tuổi còn đi học

    – Nếu xảy ra việc quan hệ tình dục thì phải sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn: sử dụng bao cao su, uống thuốc tránh thai …

    3. Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    Dựa vào những điều kiện để sự thụ tinh có thể xảy ra và trứng đã được thụ tinh có thể phát triển thành thai, ta có thể nêu được một số nguyên tắc cần thực hiện để tránh thai như:

    II. Hướng dẫn trả lời câu hỏi SGK

    Câu 1: Nêu những nguy cơ có thể xảy ra do nạo hút thai ở tuổi vị thanh niên ?

    – Nạo hút thai thường dẫn đến nguy cơ :

    – Rạn tử cung, thủng tử cung

    – Dính buồng tử cung, tắc vòi trứng gây vô sinh

    – Chửa ngoài dạ con (tử cung) do tắc vòi trứng, dính tử cung

    – Gây sẹo ở thành tử cung là nguyên nhân gây vỡ tử cung khi chuyển dạ ở những lần sinh sau rất nguy hiểm tính mạng

    Câu 2: Thai nghén ở tuổi vị thanh niên có tác hại gì cho bản thân, gia đình và xã hội ?

    Thai nghén ở tuổi vị thanh niên có tác hại gì cho bản thân

    – Sức khoẻ giảm sút

    – Có nguy cơ nhiễm trùng, ảnh hưởng đến sự sinh con sau này

    – Ảnh hưởng đến học tập, vị thế xã hội, công tác sau này

    – Trẻ sinh ra thường không đủ khối lượng theo tiêu chuẩn và có tỉ lệ tử vong cao

    – Người mẹ ở tuổi vị thành niên chưa đủ tri thức để nuôi dạy trẻ, ngoài ra cơ sở vật chất dành cho đứa trả cũng không được đảm bảo

    Thai nghén ở tuổi vị thành niên có tác hại cho gia đình :

    – Gia đình bị mang tiếng xấu

    – Gánh nặng vật chất cho gia đình

    Thai nghén ở tuổi vị thành niên có tác hại cho xã hội :

    – Góp phần làm bùng nổ dân số

    – Gánh nặng cho xã hội về mặt chăm sóc sức khoẻ, giáo dục,…

    Câu 3: Sau khi học xong chương XI (Sinh sản), là một học sinh, theo em cần phải làm gì để tránh mang thai ngoài ý muốn hoặc tránh nạo phá thai ở tuổi vị thành niên ? Em có suy nghĩa như thế nào khi học sinh THCS được học về vấn đề này ?

    * Để tránh mang thai ngoài ý muốn hoặc tránh nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cần :

    – Giữ quan hệ tình bạn lành mạnh

    – Có ý thức giữ gìn, bảo vệ bản thân

    – Phải nắm vững điều kiện cần cho sự thụ tinh, thụ thai để tránh mang thai hoặc nạo phá thai.

    * Suy nghĩ của em khi học sinh THCS được học về vấn đề này là :

    – Giúp cho các em nắm được khái niệm về thụ tinh, thụ thai cũng như những điều kiện của sự thụ tinh, thụ thai

    – Giải thích được hiện tượng kinh nguyệt từ đó có ý thức giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt

    – Biết được những nguy có có thai ở tuổi vị thành niên. Giải thích được cơ sở khoa học của các biện pháp tránh hai, từ đó xác định các nguyên tắc cần tuân thủ để có thể tránh thai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Các Biện Pháp Tránh Thai Sinh 8
  • 12 Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Nhất Thời Đại
  • Vòng Tránh Thai Iud Và Ius
  • Dù Biện Pháp Tránh Thai Này Tốn Ít Thời Gian Nhưng Lại Khiến Chị Em Cảm Thấy Lo Lắng Về “chuyện Ấy”
  • Những Điều Cần Biết Trước Khi Đặt Vòng Tránh Thai Iud
  • Sinh Học 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặt Vòng Tránh Thai Có Tăng Cân Không?
  • Đâu Là Loại Thuốc Tránh Thai Không Tăng Cân?
  • Sợ Tăng Cân, Nám Da Vì Uống Thuốc Tránh Thai
  • Làm Sao Để Hạn Chế Tăng Cân Khi Dùng Thuốc Tránh Thai?
  • Đặt Vòng Tránh Thai Có Tăng Cân Không? Phụ Khoa Đông Phương
  • Tóm tắt lý thuyết

    1.1. Ý nghĩa của việc tránh thai

    Để thực hiện việc tránh thai, sinh đẻ có kế hoạch ở nước ta đang thực tích cực thực hiện cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình

    • Để thực hiện cuộc vận động chúng ta phải:
      • Tuyên truyền cho mọi người biết đến cuộc vận động.
      • Tuyên truyền cho mọi người hiểu vì sao không nên kết hôn sớm và mỗi vợ chồng chỉ nên có từ 1 – 2 con.
      • Biện pháp cần sử dụng để tránh thai: sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, uống thuốc tránh thai sau mỗi lần quan hệ …
    • Ý nghĩa của cuộc vận động:
      • Giúp mỗi gia đình chỉ có từ 1 – 2 con đảm đảm đầy đủ điều kiện nuôi dạy con cái tốt nhất
      • Đảm bảo cuộc sống gia đình hạnh phúc, ấm no
      • Giảm áp lực dân số đối với Việt Nam và thế giới
      • Đảm bảo nền kinh tế phát triển, các chế độ phúc lợi: học tập, bệnh viện, vui chơi, giải trí, lương hưu … được tốt nhất
    • Nếu khi còn ở tuổi đang đi học mà có thai thì sẽ gây rất nhiều khó khăn: ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm sinh lí, học tập, gia đình, cuộc sống …

    1.2. Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên

    • Ở các bạn nữ, khi có kinh lần đầu chứng tỏ là các bạn đã có khả năng có thai, nếu không biết giữ gìn và có các biện pháp phòng tránh thì có thể mang thai ngoài ý muốn.
    • Mang thai ngoài ý muốn khi còn quá trẻ là 1 trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ tử vong vì:
      • Tỉ lệ sẩy thai, đẻ con non cao do tử cung chưa phát triển đầy đủ để mang thai đến đủ tháng và thường sót rau, băng huyết, nhiễm khuẩn …
      • Nếu sinh con thì con sinh ra thường nhẹ cân, tỉ lệ tử vong cao hơn.
    • Ngoài ra, khi mang thai ở tuổi đang đi học còn ảnh hưởng đến học tập, địa vị xã hội, công tác, gia đình, cuộc sống …

    * Lưu ý: nếu đã lỡ mang thai mà không muốn sinh con thì cần xử lí và giải quyết sớm ở những cơ sở có trang thiết bị tốt, cán bộ có chuyên môn vững vàng.

    • Thai dưới 6 tuần tuổi có thể hút, càng chậm chễ, thai càng to nguy cơ rạn nứt cổ tử cung càng cao.
    • Thai lớn, nhau thai bám chắc vào niêm mạc tử cung nên nạo phá thai thường gây sót rau hoặc thủng tử cung.

    * Hậu quả của việc nạo phá thai:

    • Dính buồng tử cung
    • Tắc vòi trứng gây vô sinh hoặc chửa ngoài dạ con
    • Tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo (thường là nguyên nhân gây vỡ cổ tử cung khi chuyển dạ ở lần sinh sau).

    * Cần có các biện pháp tránh mang thai ngoài ý muốn

    • Cần có 1 tình bạn trong sáng, lành mạnh, tránh quan hệ tình dục trong độ tuổi còn đi học
    • Nếu xảy ra việc quan hệ tình dục thì phải sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn: sử dụng bao cao su, uống thuốc tránh thai …

    1.3. Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    Dựa vào những điều kiện để sự thụ tinh có thể xảy ra và trứng đã được thụ tinh có thể phát triển thành thai, ta có thể nêu được một số nguyên tắc cần thực hiện để tránh thai như:

    Thuốc tránh thai Bao cao su

    Một số loại vòng tránh thai Que cấy ngừa thai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Sinh Học 8
  • Bài 63. Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • Lý Thuyết Các Biện Pháp Tránh Thai Sinh 8
  • 12 Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Nhất Thời Đại
  • Vòng Tránh Thai Iud Và Ius
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bạn Giải Giùm Mình Mấy Câu Này Nha, Mấy Bạn Biết Làm Câu Nào Thì Chỉ Câu Đó Nhe. Cám Ơn Mấy Bạn Nhiều!!!câu 1: Tế Bào Trong Cơ Thể Có Chức Năng Gì?câu2: Tim Có Cấu Tạo Như Thế Nào?câu3: Nguyên Nhân Của Sự Mỏi Cơ? Các Biện Pháp Phòng Chống Mỏi Cơ?câu4: Thành Phần Hoá Học Của X
  • Bài 10. Hoạt Động Của Cơ
  • Giúp Với Ạ Câu 1: Cấu Tạo Tế Bào Câu 2: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Nơ Ron Câu 3: Tính Chất Của Cơ ? Nguyên Nhân Gây Mỏi Cơ ? Biện Pháp Chống Mỏi Cơ. Câu 4: Tính
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất
  • Những Cách Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất
  • Bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    I – Bài tập nhận thức kiến thức mới

    Bài tập 1 (trang 158 VBT Sinh học 8):

    1. Hãy phân tích ý nghĩa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong kế hoạch hóa gia đình.

    2. Thực hiện cuộc vận động đó bằng cách nào?

    3. Cuộc vận động đó có ý nghĩa gì? Cho biết lí do?

    4. Điều gì sẽ xảy ra nếu có thai ở tuổi còn đang đi học?

    Trả lời:

    1. Sinh đẻ có kế hoạch mang lại nhiều lợi ích cho mọi thành viên trong gia đình và cho đất nước.

    – Sinh đẻ có kế hoạch giúp nâng cao được chất lượng cuộc sống cả vật chất và tinh thần đối với mọi thành viên trong gia đình như dễ cải thiện điều kiện kinh tế, có điểu kiện chăm lo sức khoẻ, học hành, giải trí…

    – Đối với xã hội, sinh đẻ có kế hoạch làm giảm áp lực gây ra đối với phát triển kinh tế, xã hội, tài nguyên môi trường.

    2. Thực hiện cuộc vận động bằng cách: tuyên truyền vận động không kết hôn sớm, mỗi gia đình chỉ nên có 1 – 2 con, cần áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp (sử dụng bao cao su khi quan hệ, uống thuốc tránh thai sau mỗi lần quan hệ).

    3. Ý nghĩa: Mỗi gia đình chỉ có từ 1 – 2 con có điều kiện nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, phát triển được kinh tế gia đình và xã hội.

    4. Nếu có thai ở tuổi còn đang đi học:

    + Làm ảnh hưởng đến tâm lí, chưa chuẩn bị tâm lí làm mẹ khi còn nhỏ tuổi.

    + Ảnh hưởng đến việc học.

    + Dễ bị vô sinh, băng huyết, nhiễm khuẩn và thường sót rau.

    Bài tập 2 (trang 159 VBT Sinh học 8): Cần phải làm gì để tránh mang thai ngoài ý muốn hoặc phải phá nạo thai ở tuổi vị thành niên?

    Trả lời:

    Để tránh tình trạng trên, cần phải :

    – Tránh quan hệ tình dục ở tuổi học sinh, giữ tình bạn trong sáng và lành mạnh để không ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, tới học tập và hạnh phúc trong tương lại.

    – Hoặc phải bảo đảm tình dục an toàn (không mang thai hoặc không bị mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục) bằng sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn.

    Bài tập 3 (trang 159 VBT Sinh học 8):

    1. Dựa vào những điều kiện cần cho sự thụ tinh có thể xảy ra và trứng đã được thụ tinh có thể phát triển thành thai, hãy thử nêu lên những nguyên tắc cần thực hiện để có thể tránh thai.

    2. Thực hiện mỗi nguyên tắc có thể có những biện pháp nào? Nêu rõ ưu, nhược điểm của mỗi biện pháp mà em từng nghe nói.

    Trả lời:

    1. Muốn tránh thai là không cho sự thụ tinh xảy ra, hoặc trứng thụ tinh không thể làm tổ trong thành tử cung được (không thụ thai được).

    Những nguyên tắc cần thực hiện:

    – Ngăn trứng chín và rụng.

    – Tránh không cho tinh trùng gặp trứng để thụ tinh.

    – Chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh để không thể thụ thai.

    2. Tuỳ thuộc các nguyên tắc có thê có những biện pháp:

    – Sử dụng viên thuốc tránh thai để ngăn trứng chín và rụng.

    – Sử dụng bao cao su hoặc màng ngăn âm đạo hoặc ở những người đã có đủ số con quy định có thể “đình sản bằng thắt ống dẫn tinh hoặc ống dẫn trứng để tránh cho tinh trùng không gặp được trứng để thụ tinh.

    – Sử dụng dụng cụ tránh thai (dụng cụ tử cung) để ngăn trứng làm tổ trong thành từ cung…

    II – Bài tập tóm tắt và ghi nhớ kiến thức cơ bản

    Bài tập (trang 160 VBT Sinh học 8): Hãy tự tóm tắt nội dung cơ bản của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, nguyên tắc cần vận động.

    Trả lời:

    Nội dung cơ bản của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, nguyên tắc cần vận động:

    – Không đẻ sớm (đặc biệt ở tuổi vị thành niên).

    – Không đẻ dày, đẻ nhiều.

    – Muốn tránh thai cần nắm vững các nguyên tắc:

    + Ngăn trứng chín và rụng

    + Tránh không để tinh trùng gặp trứng

    + Chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh

    III – Bài tập củng cố, hoàn thiện kiến thức

    Bài tập 1 (trang 160 VBT Sinh học 8): Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên. Phải làm gì để điều đó không xảy ra?

    Trả lời:

    * Những ảnh hưởng của việc có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là :

    – Dễ sảy thai hoặc đẻ non do tử cung chưa phát triển đầy đủ.

    – Con khi đẻ ra thường nhẹ cân, khó nuôi, dễ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao.

    – Nếu phải nạo thai dễ dẫn đến vô sinh vì dính tử cung, tắc vòi trứng hoặc chửa ngoài dạ con, tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo gây vỡ tử cung khi chuyển dạ lần sau.

    – Phải bỏ học, ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp.

    * Để tránh rơi vào tình trạng trên, cần phải :

    – Tránh quan hệ tình dục ở tuổi học sinh, giữ tình bạn trong sáng và lành mạnh để không ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, tới học tập và hạnh phúc trong tương lai.

    – Hoặc phải bảo đảm tình dục an toàn (không mang thai hoặc không bị mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục) bằng sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn.

    Bài tập 2 (trang 160 VBT Sinh học 8): Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lí đối với việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì? Làm thế nào để tránh được?

    Trả lời:

    – Hậu quả:

    + Làm ảnh hưởng đến tâm lí, chưa chuẩn bị tâm lí làm mẹ khi còn nhỏ tuổi.

    + Ảnh hưởng đến việc học.

    + Dễ bị vô sinh, băng huyết, nhiễm khuẩn và thường sót rau.

    – Biện pháp:

    + Tránh quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị thành niên.

    + Sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn khi quan hệ tình dục.

    Bài tập 3 (trang 161 VBT Sinh học 8): Hãy liệt kê các phương tiện sử dụng để tránh thai theo bảng sau:

    Trả lời:

    Cách ngăn có thai

    Phương tiện sử dụng

    Có ưu, nhược điểm gì ?

    Ngăn không cho trứng chín và rụng

    Viên thuốc tránh thai

    Que cấy ngừa thai

    – Tránh thai hiệu quả

    – Đắt tiền

    Ngăn trứng thụ tinh

    Tính ngày trứng rụng

    Bao cao su

    Triệt sản nữ

    Triệt sản nam

    – Ngăn không cho tinh trùng gặp trứng

    Ngăn sự làm tổ của trứng (đã thụ tinh)

    Dụng cụ tránh thai (dụng cụ tử cung – vòng tránh thai)

    Các bài giải vở bài tập Sinh học lớp 8 (VBT Sinh học 8) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 10: Hoạt Động Của Cơ
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Việc Sử Dụng Đồ Dùng, Thiết Bị Môn Vật Lý Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Thiết Bị Dạy Học Và Sửa Chữa Đồ Dùng Dạy Học Bộ Môn Vật Lí Ở Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Vật Lí 7 Ở Vùng Đặc Biệt Khó Khăn.
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử
  • Biện Pháp Rèn Luyện Và Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Hiệu Quả: Kỷ Luật Kết Hợp Với Tình Yêu Thương
  • Khắc Phục Khó Khăn, Tiếp Tục Đẩy Mạnh Công Tác Phòng Chống, Khống Chế Bệnh Dịch Tả Lợn Châu Phi
  • Bài 6: Các Nước Châu Phi
  • Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Hiệu Quả
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường
  • Giáo dục là nền tảng xây dụng xã hội,là tiền đề quy định sự phồn vinh của đất nước. trong sức mạnh đó của giáo dục thì ngoài sức mạnh của tri thức khoa học còn là sức mạnh của việc tạo lập nhân cách con người giáo dục tạo con người có đủ sức mạnh đủ tài để xây dựng đất nước . Việc dạy học sinh ở bậc tiểu học rất quan trọng trong quá trình giáo dục. tuy nhiên, cùng với sự phát triển như huyền thoại của đất nước với những thành tựu về khoa học công nghệ ,đó là thành quả của quá trình hội nhập với thế giới. Điều này dẫn đến mặt tích cực. Cùng với sự tiến bộ về mặt khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, giáo dục…nhưng cùng đưa đến những thách thức, trong đó giáo dục nói chung, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng đang đứng trước những nguy cơ bị tệ nạn xã hội xâm lấn. Nền kinh tế thị trườngcũng làm thay đổi xã hội: Các bậc làm cha làm mẹ cuốn vào vòng xoay của cơ chế thị trường nên không quan tâm đến việc dạy dỗ, không quan tâm đến sự trưởng thành của con cái.

    Là một giáo viên dạy tiểu học, tôi luôn lo lắng trăn trở với vấn đề làm sao để rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả. Tôi mạnh dạn chon đề tài: “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” với mong muốn đưa những điều tôi tâm đắc đã được thử nghiệm trong quá trình giảng dạy lớp 4 để góp phần nhỏ bé của mình vào tiếng nói chung của sự nghiệp giáo dục nước nhà.

    Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học nói chung và kiến thức lớp 4 nói riêng. Đồng thời qua đó giáo dục, uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười học… trở thành người có ích cho xã hội sau này.

    Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa đúng, chưa có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt…. Qua đó, giúp cho các em định hướng được hành vi, ý nghĩa của cuộc sống, đạt được hiệu quả trong học tập.

    Các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp, có hành vi xấu, hay gây gỗ, chửi thề, nói tục, ý thức học tập không có, kết quả học tập yếu kém, lười học tập và không biết vâng lời thầy cố, bố, mẹ ….

    – Tập trung nghiên cứu một số học sinh lớp 4D3 ở Trường Tiểu học …….. có hành vi đạo đức chưa tốt, kết quả học tập yếu kém, có thái độ không hợp tác.

    – Tìm hiểu gia cảnh của từng em học sinh cá biệt trong lớp, cùng gia đình theo dõi, nhắc nhở, giáo dục và tạo các điều kiện tốt nhất để các em học sinh đó tham gia học tập và các phong trào do lớp và nhà trường tổ chức.

    – Nắm được thực trạng của một số học sinh cá biệt lớp 4D3 ở Trường Tiểu học …….. , từ đó có phương pháp giáo dục, rèn luyện để tạo cơ hội cho các em tiến bộ hơn, học tập tốt hơn và trở thành học sinh có giáo dục, có trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt.

    – Định hướng nguyên nhân học sinh trở thành học sinh cá biệt.

    – Quan sát, theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các em học sinh cá biệt trong lớp. ( trước, trong và sau áp dụng các biện pháp giáo dục).

    – Trao đổi trực tiếp với gia đình, phụ huynh của các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp 4D3, đề xuất những biện pháp áp dụng cho từng em học sinh.

    – Tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của từng học sinh để đưa ra biện pháp giải quyết.

    Hiện nay Đảng, nhà nước yêu cầu đổi mới trong sự nghiệp giáo dục để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đang sống trong thời đại có sự tiến bộ mạnh mẽ về khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin toàn cầu. Việc này đặt ra cho từng con người phải phấn đấu nổ lực vươn lên trong cuộc sống để không lạc hậu với thời cuộc. Từng bước theo kịp tốc độ phát triển của thời đại. Đối với thế hệ trẻ trong nhà trường ngoài nhiệm vụ cung cấp kiến thức phổ thông cho học sinh

    Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ phổ thông, chính vì thế chúng ta cần phải coi trọng việc xây dựng và giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt để lớn lên các em sẽ sớm hoàn thiện mình hơn và trở thành một con người có ích cho xã hội. Để thực hiện được vấn đề này không phải dễ mà cần phải có một quá trình và dựa vào mỗi một giáo viên chúng ta.

    Việc dạy học và giáo dục con người vừa mang tính khoa học ,vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật.Đối tượng giáo dục của người giáo viên tiểu học là trẻ em. Sự phát triển của các em đang ở phía trước.Trong quá trình điều khiển sự phát triển của các em,người giáo viên cũng như những người lớn tuổi luôn luôn gặp và giải quyết các vấn đề,tình huống xảy ra.

    Quy trình sư phạm tổng thể là một quá trình diễn ra cùng lúc hai quá trình cơ bản khác: Đó là quá trình giáo dục và quá trình dạy học. Hai quá trình này luôn luôn tác động lẫn nhau, chúng có mối quan hệ biện chứng lâu dài và phức tạp. (theo tâm lí lứa tuổi tiểu học).Chính vì vậy, người giáo viên ngoài việc dạy học giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản còn là một người mẹ hiền luôn tận tuỵ với những đứa con bé bỏng yếu ớt của mình.

    Nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn của xã hội. Cùng với xu thế hội nhập sự phát triển của thế giới, của đất nước bên cạnh quá trình hội nhập được tiếp cận với tinh hoa văn hóa nhân loại, sự phát triển của công nghệ thông tin,đưa vị thế nước ta ngày càng tiến gần hơn với đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới thì còn là sự xâm nhập của nền kinh tế thị trường kéo theo tệ nạn xã hội, văn hóa xấu…dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục nhân cách con người Việt Nam, nhất là với thế hệ trẻ .

    Nếu như chúng có môi trường vui chơi, giải trí lành mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì các em sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt.

    Để rèn luyện cho học sinh cá biệt đòi hỏi người giáo viên phải có bản lĩnh, tính dứt khoát, sự quan tâm đồng đều đến học sinh mình phụ trách. Bên cạnh đó người giáo viên còn phải có tấm lòng bao dung, nhân hậu, biết yêu thương học sinh như con mình . xem những hành vi, thái độ chưa đúng của học sinh là vấn đề cần giải quyết . người giáo viên có thái độ chuẩn mực nhẹ nhang nhắc nhở ,dìu dắt các em từng bước nhận thức vấn đề,cải thiện hành vi dần hoàn thiện bản thân.

    Việc áp dụng đề tài “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” theo tôi là việc cần thiết để hướng tới một nền giáo dục toàn diện, nhất là việc giáo dục học sinh cá biệt ở bậc Tiểu học đứng trước một số thực trạng :

    * Thuận lợi: Trường Tiểu Học …….. Địa bàn dân cư đông kinh tế văn hóa xã hội phát triển mạnh. Nhà trường luôn được sự quan tâm của các cấp, đặc biệt là phụ huynh học sinh. Đa số các em học sinh trong lớp có ý thức tốt trong học tập và rèn luyện. Bản thân tôi đang được trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 4 vì vậy tôi có điều kiện áp dụng, trải nghiệm và theo dõi thực tế hiệu quả của đề tài qua các đối tượng học sinh quen thuộc.

    * Khó khăn: Học sinh với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều hoàn cảnh sống khác nhau, chỗ ở rải rác ở các thôn buôn không tập trung. Một số gia đình không quan tâm đến việc giáo dục con em mà hoàn toàn phó mặc cho nhà trường. Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường và xã hội có quá nhiều biến động. Tất cả những vấn đề trên là khó khăn cho việc thực hiện đề tài.

    Một số đối tượng đã được nhắc đến trong phần thực trạng có sự thay đổi trong quá trình học tập và rèn luyện.

    * Hạn chế: Một số giáo viên chưa thực sự hiểu bản chất vấn đề để áp dụng đề tài.

    Số lượng học sinh chưa thực sự tiếp cận tốt với phương pháp giáo dục của giáo viên.

    Tôi sớm tìm hiểu và nắm được tình hình học sinh của lớp mình ngay từ đầu năm nhận lớp. Hiểu được từng đối tượng học sinh như: tính tình, sở thích,…và hoàn cảnh gia đình của mỗi em. Từ đó để có kế hoạch dạy học và giáo dục một cách cụ thể.

    Sự nhẹ nhàng ân cần quan tâm sẽ giúp giáo viên tiếp cận vối các em, hiểu rõ nguyên nhân hơn để tìm cách tháo gỡ những vướng mắc từ phía các em cũng như gia đình đưa ra biện pháp hưu hiệu để thay đổi sự phát triển nhân cách mới cho từng học sinh.

    Giáo viên không nên xúc phạm đến học sinh, gặp gỡ riêng để tâm sự với các em về cách nghĩ và sự mong muốn của mình từ các em.

    Quan tâm giúp đỡ là vấn đề quyết định của người giáo viên trong việc rèn luyện học sinh cá biệt. Tạo lòng tin cho các em không đem những điều tâm sự của các em ra làm trò đùa vui cười trước lớp.

    Quán triệt sự kì thị giữa học sinh trong lớp với các em, tạo cho các em môi trường tin yêu.

    Tạo sự tin tưởng cho học sinh chia sẻ với các em những vấn đề các em gặp rắc rối ở gia đình và xã hội bên ngoài.

    Thường xuyên chấm chữa bài để nắm bắt kết quả học tập của học sinh, kịp thời tuyên dương khen thưởng.

    Nắm thông tin cần thiết ở từng giai đoạn để xem xét kết quả và hướng tiến bộ của học sinh cùng bàn bạc với phụ huynh điều chỉnh những tồn tại mà học sinh còn mắc phải.

    Giáo viên phải biết động viên khen thưởng – phê bình kịp thời, chính xác sẽ tạo cho học sinh tính hăng say, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp cũng như của nhà trường.

    Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Bởi học sinh cá biệt thường có những biểu hiện chống đối hay biểu hiện “chơi ngông” với những người quan tâm không đúng mức hoặc quá mức tạo cho các em. Bản thân tôi thành công trong vấn đề nhìn nhận để tiếp cận với các em này thực ra các em đáng thương hơn là đáng ghét.

    Giáo viên tỏ thái độ tin tưởng giao nhiệm vụ cho các em cá biệt về đạo đức, rèn luyện cho học sinh cá biệt về học tập mang tính vừa sức.

    Giáo viên khen ngợi học sinh có tiến bộ dù chỉ rất nhỏ nhưng hạn chế tối đa sự chỉ trích,chê bai trước đám đông hay tập thể. Những vấn đề tái phạm hay khiển trách chỉ tâm sự những mong muốn của mình với các em như một người bạn để các em thấy không bị xúc phạm xem đó như vấn đề bí mật và dần dần tự sửa đổi (với học sinh cá biệt sự chỉ trích hay trách phạt trước tập thể không làm hiệu quả điều mong muốn mà chỉ có tác dụng ngược lại).

    Không tỏ thái độ thương hại mà người giáo viên cần tỏ thái độ mong muốn sự hợp tác hay giúp đỡ của học sinh cá biệt đó đối với mình.

    Giáo dục học sinh trong lớp biết tôn trọng bạn bè.

    Tạo được mối quan hệ gần gũi với phụ huynh học sinh, để từ đó có được thông tin hai chiều giữa phụ huynh học sinh với giáo viên và ngược lại.

    Nắm bắt sự chuyển biến của học sinh từ phía gia đình, không nên áp đặt con em theo một chiều hướng bảo thủ,dành thời gian quan tâm chăm sóc con cái nhiều hơn với những đứa trẻ cá biệt về đạo đức cũng như đưa ra giải pháp giúp đỡ trẻ yếu kém trong học tập. Bởi giáo dục là vấn đề của cả gia đình nhà trường và xã hội.

    Trong năm học 2013-2014 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4D3 Trường Tiểu học Dlieya. Đây là lớp mà các đối tượng học sinh ở rải rác các thôn, buôn : như thôn Trung Hòa nằm ngay trung tâm xã đối tượng là con gia đình buôn bán nhỏ nhà ở tạm bợ, thuê mướn, thôn Ea Kênh học sinh là dân tộc phía Bắc chuyển vào, Buôn Yun là buôn có hoàn cảnh khó khăn vùng III,chủ yếu là dân tộc Ê đê – bố mẹ đa phần ít học nên không quan tâm đến việc học hành của con cái. Ngoài ra còn có các buôn Yoh, buôn Kmang, buôn Yuk,riêng buôn Ksơr thành phần học sinh cá biệt về đạo đức cao, do ảnh hưởng một số thanh niên lêu lỏng.

    Từ những vấn đề trên cần có những giải pháp để uốn nắn:

    * Xác định hoàn cảnh, lí do học sinh cá biệt vi phạm xây dựng biện pháp giáo dục:

    Xây dựng qui chế lớp học làm tiêu chí cho việc đánh giá cho toàn lớp học, theo dõi và đánh giá khách quan cho từng học sinh tạo tiền đề để học sinh cá biệt cảm nhận sự công bằng của giáo viên, đây là kim chỉ nam cho việc rèn luyện và giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng.

    Bố trí chổ ngồi hợp lí tạo sự gần gũi giữa học sinh và giáo viên nhờ học sinh khá giỏi hỗ trợ về mặt học tập.

    Giao công việc học tập cho các em ở mức vừa phải không quá sức, tạo hứng thú tăng dần cho học sinh. Học sinh tự đánh giá mức độ tiến bộ cho nhau, cải thiện vấn đề tồn tại ở các em.

    Điển hình em Nguyễn Thành Lợi: có biểu hiện đầu năm không hợp tác trong học tập, hay bỏ học về giữa buổi và biểu hiện thái độ văng tục,xúc phúc phạm cô giáo. Qua nhiều lần tiếp xúc gia đình em Lợi đưa ra giải pháp vừa cương vừa nhu khuyến khích động viên kịp thời. Đến nay em đã có những biểu hiện tiến bộ không còn những hành vi trên và hòa nhập cùng tập thể xây dựng góp ý trong giờ học.

    Em Phạm Thị Anh Đào: lầm lì ít nói có thái độ không hợp tác thường xuyên không làm bài tập hay đưa ra hàng loạt lí do. Gia đình buôn bán ở chợ rất bận rộn việc quan tâm con cái chủ yếu bằng tiền nên việc học của em Đào ngày một yếu hơn. Tiếp xúc với gia đình đưa ra giải pháp. Qua một thời gian rèn luyện cùng sự giúp đỡ của bạn bè trong lớp Đào đã có những biểu hiện tích cực trong học tập, hòa đồng với bạn bè chào hỏi thầy cô và những người lớn tuổi.

    Đa phần là con dân tộc Ê đê tại chỗ gia đình thuần nông hạn chế về ngôn ngữ học thức hạn chế, là con hộ nghèo, chủ yếu chỉ lo kiếm ăn không quan tâm đến việc dạy dỗ con cái.Thực hiện các biện pháp:

    – Giám sát việc học hành của các ở lớp và ở nhà, tổ trưởng kiểm tra sách vở bài tập các em hoàn thành chưa nếu vì chưa hiểu giáo viên giảng lại và giúp đỡ.

    – Giáo viên khi giảng bài dành các câu hỏi dễ cho các em yếu để kích thích tích học tập tự lực, khen ngợi kịp thời tạo sự hưng phấn.

    – Là các em vừa học yếu vừa mắc khuyết điểm về hành vi.cần đưa ra biện pháp giải quyết:

    – Phối hợp với gia đình để các em tránh tiếp xúc nhiều với những bạn không đi học, lêu lỏng những vấn đề xã hội như hút thuốc, uống rượu…

    – Cho các em đảm nhiệm vai trò,chức vụ trong lớp đưa các em hòa đồng cùng các bạn để học sinh cảm nhận mọi người tin yêu và cần mình.từ đó các em dần ý thức và tiến bộ.

    – Giáo viên tuyên dương khen thưởng kịp thời, cũng như nhắc nhở những vấn đề học sinh chưa tiến bộ trong mỗi trường hợp các em vừa mắc phải đối với học sinh dân tộc tiểu số giáo viên cần giúp các em phân biệt đúng sai. Bởi các em có thể chỉ là những hành vi bắt chước, đua đòi không phân biệt hay dở, đúng sai.

    – Đề ra cho mỗi học sinh cá biệt quy chế mới. Sau mỗi tuần sinh hoạt cho học sinh tự đánh giá, học sinh khác nhận xét sự tiến bộ, giáo viên nhận xét lại và nhận định tuyên dương. Từ đó các em tự nhận thức và dần tiến bộ.

    – Cùng với ân cần giúp đỡ các em tiến bộ giáo viên cần thể hiện tính cương quyết, dứt khoát nghiêm khắc phê bình những hành vi quá đà hoặc tái phạm, yêu cầu học sinh hứa hẹn về sửa đổi trong thời gian kế tiếp, ghi chép lại như bản cam kết danh dự để học sinh dựa làm tiêu chí phấn đấu.

    – Nêu một số gương mặt học sinh cá biệt phấn đấu tốt cho các em làm mục tiêu phấn đấu, qua đó thấy được bản than các em có giá trị cho gia đình cũng như cho xã hội.

    * Trong mỗi giờ sinh hoạt mỗi ngày đầu giờ giáo viên giúp đỡ các em tháo gỡ những khó khăn trong học tập (bài tập khó giáo viên giảng lại) tiếp cận gần gũi là vấn đề then chốt trong việc rèn luyện học sinh cá biệt.

    Giao nhiệm vụ cho học sinh khá giỏi giúp đỡ các em hòa đồng với bạn bè (thông thường học sinh cá biệt hay bị bạn bè tách rời không tiếp cận hoặc sợ gặp phải phiền phức).

    Cùng với ân cần giúp đỡ các em tiến bộ giáo viên cần thể hiện tính cương quyết, dứt khoát nghiêm khắc phê bình những hành vi quá đà hoặc tái phạm, yêu cầu học sinh hứa hẹn về sửa đổi trong thời gian kế tiếp, ghi chép lại như bản cam kết danh dự để học sinh dựa làm tiêu chí phấn đấu.

    Nhờ phụ huynh giúp đỡ giám sát hành vi của các em ở nhà, ở môi trường xã hội, giám sát thời gian biểu của học sinh tránh lêu lỏng.

    Tính từ đầu năm áp dụng các biện pháp giáo dục nêu trên cho đến cuối học kỳ I năm học ……….., kết quả như sau:

    Đầu năm có 14 em học lực loại yếu, đến hết học kỳ I chỉ còn 4 em chiếm tỉ lệ 12%, giảm 32,4 % so với đầu năm.đa phần các em đã có ý thức học tập, chăm chú nghe giảng, phát biểu trong giờ học, về nhà làm bài và học bài đầy đủ: .. đến cuối kỳ I đã vươn lên ở mức học trung bình. Đa số các em đã biết thực hiện những phép tính toán cơ bản, đọc thông, viết đúng chính tả.Bên cạnh những tiến bộ vượt bậc vẫn còn những em yếu do tiếp thu chậm viết sai nhiều như em ……

    – Đầu năm có 4 em, đến nay không còn em nào thuộc dạng cá biệt về đạo đức. Các em đã biết vâng lời, không còn nói tục, chửi thề tại trường học, không còn tình trạng đánh nhau. Một số em từ là học sinh có đạo đức kém biết chào hỏi thầy cô và người lớn tuổi, không còn hành vi lỗ mãng.

    : ……………. không còn thái độ bất kính thầy cô, tham gia nghiêm túc các nội quy của lớp, hòa đồng cùng bạn bè,được bạn bè tín nhiệm và bầu làm tổ trưởng phụ trách việc kiểm tra sách vở của cả tổ.

    …… tiến bộ nhiều trong cách đọc, riêng em Đào viết chính tả tiến bộ vượt bậc.

    Trong quá trình giảng dạy nhiều năm cũng như thời gian thực hiện đề tài hơn một học kì ,bản thân tôi tương đối thành công về mặt giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt. Các em có hành vi chưa tốt cơ bản đã tiến bộ rõ rệt,nhận thức đúng trong việc học tập và vui chơi, có tiến bộ trong các buổi học, xung phong phát biểu, trao đổi nói chuyện bạn bè có tính thân thiện và hòa nhã,cải thiện nhiều trong cách viết chính tả, đọc và làm toán. Tuy nhiên, việc giáo dục không phải là điều làm được trong thời gian ngắn mà cả một quá trình cần nhiều thời gian và công sức, phải phối kết hợp nhiều lực lượng và các thành phần cùng tham gia, phải biết kết hợp nhiều phương pháp để giáo dục học sinh. Để các em sẽ là chủ tương lai của đất nước theo lời Bác Hồ: ” Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang, sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ ở công học tập của các cháu”

    – Giáo viên chúng ta cần thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, làm gương nhằm giúp các em hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống. Nếu bản thân giáo viên xem nhẹ những việc làm trên thì khó hình thành giáo dục học sinh cá biệt. Cần gắn liền từ gia đình – nhà trường – xã hội một cách hài hòa khắc phục từng bước khó khăn.

    – Với đề tài “Biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào tiếng nói chung của giáo dục, hy vọng rằng giáo dục địa phương nói riêng và nền giáo dục nói chung sẽ toàn diện hơn…

    – Mong được sự quan tâm của ban giám hiệu tổ bộ môn.

    – Đề tài áp dụng rộng rãi.

    – Mong được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để đề tài đạt hiệu quả cao trong quá trình áp dụng vào thực tiễn.

    Để đào tạo một con người tương đối hoàn thiện (có kiến thức và phẩm chất đạo đức tốt) tôi mong rằng Ban giám hiệu nhà trường, các cơ quan ban ngành cùng với hội cha mẹ học sinh quan tâm, tạo mọi điều kiện hơn nữa (về cả tinh thần và vật chất) cho chúng tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

    Tôi xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học Hiệu Quả
  • Đô Thị Hóa Những Hạn Chế Cần Khắc Phục
  • Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Đô Thị Bền Vững Tại Việt Nam
  • An Giang: Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Chính Sách Giải Quyết Việc Làm
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài. Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon
  • 7 Giải Pháp Để Mạng Xã Hội Có Tính Xã Hội Hơn
  • Làm Thế Nào Để Trẻ Sử Dụng Mạng Xã Hội Một Cách An Toàn?
  • Hãy Sử Dụng Mạng Xã Hội Một Cách Văn Minh!
  • Làm Sao Để Sử Dụng Mạng Xã Hội Hiệu Quả?
  • Thực tế việc giáo dục KNS đã được đưa vào mục tiêu cụ thể từng môn học, bài học, tiết học RKNS cụ thể mỗi tuần 1 tiết. Để giáo dục KNS có hiệu quả cao, theo tôi chúng ta cần tổ chức tốt các biện pháp sau:

    + Biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp: GV cần dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở thân thiện của lớp, của trường. Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy KNS giao tiếp, trao đổi, ứng sử với mọi người xung quanh cho các em. Giúp HS biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác, biết đặt câu hỏi với thầy cô giáo và người lớn các vấn đề chưa hiểu rõ, biết nói ra chủ kiến, chính kiến của mình.

    +Biện pháp rèn kĩ năng tự chăm sóc bản thân: HS tiểu học cần có khả năng chăm sóc bản thân: tự lập trong việc mặc quần áo, đi giày dép, ăn uống, vệ sinh cá nhân… Ngoài ra HS Tiểu học cần phân biệt những loại thực phẩm an toàn và những loại thực phẩm có hại cho sức khỏe, đồng thời cũng phỉa biết ăng các loại thực phẩm có đủ chất cho sự phát triển cơ thể.

    + Biện pháp rèn luyện kĩ năng qua môn đạo đức : giảng dạy môn Đạo đức, nhất là hình thành các hành vi đạo đức ở tiết 2. Giáo dục kĩ năng sống môn đaọ đức nhằm bước đầu trang bị cho các em kĩ năng sống cần thiết ở lứa tuổi tiểu học giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với những người thân trong gia đình với thầy cô giao, bạn bè và những người xung quanh, cộng đồng, quê hương, đất nước và môi trường thiên nhiên. Thông qua giáo dục kĩ năng sống của môn đạo đức giúp các em bước đầu biết sống tích cực, chủ động, lành mạnh, tự tin, biết hợp tác, có kỉ luật, có mục đích, có kế hoạch, sống gọn gàng ngăn nắp. Giáo dục các em trở thành người con ngoan trong gia đình, là học sinh tích cực trong nhà trường là công dân tốt của xã hội. GVCN làm tốt công tác kiểm tra đánh giá phân loại hạnh kiểm của HS.

    : giúp HS kiềm chế cảm xúc làm chủ bản thân, trang bị cho các em khả năng vượt qua sợ hãi, kiềm chế sự nóng giận.nên trong năm học chỉ để một em làm lớp trưởng qua đó giúp các em tự tin và chủ động công việc mạnh bạo hơn trong giao tiếp. Với học sinh tiểu học, thầy cô giáo là người mẹ hiền thứ hai của các em, các em luôn luôn nghe lời dạy bảo và làm theo những gì thầy cô dạy, thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức, nhất là tấm gương về các ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục KNS cho HS sẽ khó hơn khi chính thầy cô không phải là một tấm gương.năng cho học sinh. Chẳng hạn như để các em được thay mặt lớp trực đánh giá, nhận xét thêm phần giao lưu với toàn trường qua các tiết mục văn nghệ, kể chuyện, câu đố, trò chơi… do chính các em đứng ra tổ chức dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của GVCN.+ Tổ chức các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, các cuộc thi bằng các hình thức như Rung chuông vàng, Đối mặt…; Hàng năm nhà trường tổ chức cho các em tham quan, dã ngoại, du lịch như cha ông ta đã nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.+ Kĩ năng kiềm chế cảm xúc của bản thân

    + GVhướng dẫn các em có ý thức trong các buổi chào cờ đầu tuần. Từ đó đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục trong tuần, triển khai kế hoạch tuần tới của BGH nhà trường mà cần thay đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các kỹ

    + Xây dựng trường, lớp xanh-sạch-đẹp-an toàn. Trong đó cần chú trọng tạo môi trường tự nhiên gần gũi với cuộc sống như trồng vườn cây thuốc nam, các câu khẩu hiệu ở các cây xanh, bồn hoa để thông qua đó mà giáo dục ý thức BVMT ở các em. Ngoài ra, nhà trường cần phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường để cùng góp phần giáo dục KNS cho các em.* Để thực hiện được các biện pháp trên GV cần;

    Dạy KNS cho HS Tiểu học trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết. Ngoài các hoạt động ngoại khóa hay trong các tiết chào cờ đầu tuần thì giáo viên cần lồng ghép trong từng bộ môn như giáo dục Đạo đức, Tiếng Việt, TN và XH… .Thời lượng dạy kĩ năng sống hiện nay còn hạn hẹp nên các em chưa được trang bị dạy đủ các kĩ năng sống. Đó là điều còn khó khăn và lúng túng cho giáo viên trong việc rèn kĩ năng sống cho HS.

    + GVCN phải làm tốt công tác chủ nhiệm mà nhà trường phân công, thường xuyên thay đổi các hình thức sinh hoạt lớp, luân phiên nhau cho các em làm lớp trưởng, tổ trưởng, không

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Lớp 2
  • Bàn Về Giải Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Để Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp
  • Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1
  • Khai Thác Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Gắn Với Phát Triển Du Lịch
  • Giải Sinh Lớp 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học Lớp 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • Các Cách Tránh Thai Không Dùng Thuốc
  • Xuất Tinh Ngoài Âm Đạo Và Các Cách Tránh Thai Không Dùng Thuốc
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Khi Đang Cho Con Bú
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Thông Dụng Cực Kỳ An Toàn Khi Đang Cho Con Bú
  • Giải Sinh lớp 8 Bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai Bài 1 (trang 163 sgk Sinh học 8): Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên. Phải làm gì để điều đó không xảy ra? Lời giải: * Những ảnh hưởng của việc có thai sớm, …

    Giải Sinh lớp 8 Bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    Bài 1 (trang 163 sgk Sinh học 8): Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên. Phải làm gì để điều đó không xảy ra?

    Lời giải:

    * Những ảnh hưởng của việc có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là:

    – Dễ sảy thai hoặc đẻ non.

    – Con khi đẻ ra thường nhẹ cân, khó nuôi, dễ nhiễm bệnh ;

    – Nếu phải nạo thai dễ dẫn đến vô sinh vì dính tử cung, tắc vòi trứng, chửa ngoài dạ con.

    – Phải bỏ học, ảnh hưởng đến tiền đồ, sự nghiệp.

    * Để tránh rơi vào tình trạng trên, cần phải:

    – Tránh quan hệ tình dục ở tuổi học sinh, giữ tình bạn trong sáng và lành mạnh để không ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, tới học tập và hạnh phúc trong tương lai.

    – Hoặc phải bảo đảm tình dục an toàn (không mang thai hoặc không bị mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục) bằng sử dụng bao cao su.

    Bài 2 (trang 198 sgk Sinh học 8): Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lí đối với việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì? Làm thế nào để tránh được?

    Lời giải:

    Hậu quả

    Làm ảnh hưởng đến tâm lí

    Ảnh hưởng đến việc học, chưa chuẩn bị tâm lí làm mẹ khi còn nhỏ so với tuổi

    Dễ bị vô sinh

    Biện pháp

    Tránh quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị thành niên

    Sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn

    Bài 3 (trang 198 sgk Sinh học 8): Hãy liệt kê các phương tiện dùng để tránh thai theo mẫu ở bảng sau:

    Lời giải:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Thuốc Tránh Thai Hàng Ngày Đúng Cách
  • Các Cách Ngừa Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Phổ Biến Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Hiệu Quả Và An Toàn Nhất
  • Giải Bài Tập Sinh Học Lớp 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Cách Tránh Thai Không Dùng Thuốc
  • Xuất Tinh Ngoài Âm Đạo Và Các Cách Tránh Thai Không Dùng Thuốc
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Khi Đang Cho Con Bú
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Thông Dụng Cực Kỳ An Toàn Khi Đang Cho Con Bú
  • Tuyên Truyền Các Bptt Hiện Đại
  • Giải bài tập Sinh học lớp 8 bài 63 SGK Sinh học lớp 8 bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai Giải bài tập Sinh học lớp 8 bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai được VnDoc sưu tầm và đăng tải, …

    Giải bài tập Sinh học lớp 8 bài 63 SGK

    Sinh học lớp 8 bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    Giải bài tập Sinh học lớp 8 bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai được VnDoc sưu tầm và đăng tải, tổng hợp lý thuyết và lời giải của các câu hỏi trong sách giáo khoa nằm trong chương trình giảng dạy môn Sinh học lớp 8. Hi vọng rằng đây sẽ là những tài liệu hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập của quý thầy cô và các bạn học sinh.

    Bài 63: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

    Bài 1 (trang 198 sgk Sinh học 8): Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên. Phải làm gì để điều đó không xảy ra?

    Lời giải:

    *Những ảnh hưởng của việc có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là:

    – Dễ sảy thai hoặc đẻ non do tử cung chưa phát triển đầy đủ.

    – Con khi đẻ ra thường nhẹ cân, khó nuôi, dễ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao.

    – Nếu phải nạo thai dễ dẫn đến vô sinh vì dính tử cung, tắc vòi trứng hoặc chửa ngoài dạ con, tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo gây vỡ tử cung khi chuyển dạ lần sau.

    – Phải bỏ học, ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp.

    *Để tránh rơi vào tình trạng trên, cần phải:

    – Tránh quan hệ tình dục ở tuổi học sinh, giữ tình bạn trong sáng và lành mạnh để không ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, tới học tập và hạnh phúc trong tương lại.

    – Hoặc phải bảo đảm tình dục an toàn (không mang thai hoặc không bị mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục) bằng sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sinh Lớp 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Thuốc Tránh Thai Hàng Ngày Đúng Cách
  • Các Cách Ngừa Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Phổ Biến Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Chữ viết là một trong những phương tiện giao tiếp của con người, là công cụ thứ hai của ngôn ngữ trong tất cả các cấp học. Khi xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu nhận thức càng vươn xa: Không chỉ dừng lại là tín hiệu của ngôn ngữ mà còn phải viết đẹp. Nét chữ đầu đời không chỉ ghi lại quá trình tiếp thu tri thức mà nó còn phản ánh được bản chất bên trong của nó: Tính cẩn thận, tính kỹ luật, yêu cái đẹp… như tục ngữ đã từng đúc kết “Nét chữ, nết người”.

    Năm học 2013 – 2014 tôi được nhà trường giao nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 3A. Theo chỉ tiêu được giao phải đạt chuẩn 24/25 học sinh lên lớp. Nắm được tầm quan trọng của chữ viết và chỉ tiêu phải thực hiện tôi đã đi sâu nghiên cứu, tìm giải pháp “Rèn chữ viết” cho học sinh. Bởi thông qua chữ viết giúp giáo viên đánh giá học sinh chính xác hơn thông qua thông tư 32: Một học sinh giỏi, tiên tiến hay được lên lớp khi các em đạt chuẩn về mọi mặt trong đó có chữ viết. Theo quyết định số: 31/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chữ viết trong trường Tiểu học, mẫu chữ được áp dụng trong trường tiểu học từ năm học 2002-2003, nhiều em đã nhận biết, viết mẫu chữ ngay từ hồi lớp 1, lớp 2 nhưng chữ của các em vẫn viết sai, kích thước chưa đúng, chưa đều, dấu thanh đặt sai vị trí, viết hoa tùy tiện và viết chậm. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học môn Tiếng Việt và các môn học khác. Nếu học sinh đọc nhanh, lưu loát giúp các em hiểu bài vững, tiếp nhận được nhiều tri thức thì viết đúng mẫu, viết nhanh, đẹp sẽ giúp các em có điều kiện ghi chép bài học tốt hơn. Vậy việc “Rèn chữ viết cho học sinh” là tất yếu. Rèn chữ viết không chỉ là ngày một ngày hai mà rèn lâu dài, rèn suốt cuộc đời. Rèn chữ viết không chỉ là nhiệm vụ của trò mà là trách nhiệm của giáo viên, phụ huynh và sự quan tâm của toàn xã hội. Rèn chữ viết không chỉ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa chữ Việt mà nó còn góp phần quảng bá chữ Việt.

    Thực chất “rèn chữ” là “rèn người” như sinh thời thủ tướng Pham Văn Đồng đã nói: ” Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”. Đó là lý do tôi chọn đề tài: Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3.

    Chữ viết không dành riêng cho bất cứ một môn học nào mà chữ viết là tổng hòa của tất cả các môn học. Tuy vậy do đặc trưng bộ môn, nội dung, thời gian, thời lượng nên tôi đã chọn 2 môn học Tập viết và Chính tả làm nòng cốt cho việc rèn chữ. Ngoài rèn chữ ở lớp tôi luôn khuyến kích các em rèn chữ viết ở nhà, tổ chức rèn ngoại khoá. Dù là rèn trong giờ học chính khóa hay ngoại khóa thì tôi luôn hướng học sinh: viết từ dễ đến khó, chậm đến nhanh; từ viết đúng, viết thành thạo đến viết đẹp, đến viết chữ nét thanh, nét đậm, sáng tạo chữ viết. Để sát sao từng đối tượng học sinh, qua theo dõi hằng ngày và kết quả các đợt khảo sát để có biện pháp rèn cụ thể như sau:

    – Đầu giờ mỗi tiết học tôi luôn cho học sinh tự kiểm tra, chuẩn bị đồ dùng phục vụ cho mỗi môn học để sẵn dưới hộp bàn.

    – Trước khi viết phải kiểm tra phấn, bút lau khô (bơm ½ sức chứa), thử bút vào giấy nháp, khi dừng viết nhớ vặn nắp vào (chưa nên dùng bút bi). Khăn kê tay không để sát dòng chữ đang viết dễ gây nhòe mực. Dùng bút chì gạch chân lỗi chính tả, đọc lại chữ đã viết. . .

    Tôi rèn cho các em thói quen thể hiện những động tác thể dục nhẹ nhàng trước khi viết hoặc sau khi bàn tay mỏi bằng cách: Hai bàn tay đan vào nhau, xoay tròn 4-5 lượt để khi viết dễ di chuyển bút.

    b.2. Biện pháp thứ hai: Rèn viết đúng, viết thành thạo, viết đẹp.

    b.2.1. Viết đúng kích thước, hình dáng

    – Để giúp học sinh tái hiện lại kích thước, hình dáng các chữ cái viết thường, chữ số, dấu thanh và đặc biệt là chữ cái viết hoa. Các em được củng cố lại kiến thức qua giờ học Tập viết: Nêu cấu tạo và cách viết chữ trước khi viết; điểm đặt bút, dừng bút ở vị trí nào trong dòng kẻ? Không chỉ là lý thuyết suông mà phải kết hợp chữ viết mẫu của giáo viên trên bảng lớp: Viết chậm, đúng theo quy tắc viết chữ và đẹp để đủ sức thuyết phục. Viết kết hợp phân tích các chữ cái trong các từ, câu ứng dụng. Để giảm dần tính tự ti, rụt rè mọi hoạt động tôi luôn ưu tiên học sinh yếu, đối tượng hay mắc lỗi, phát huy năng khiếu chữ viết cho những học sinh viết đẹp để những học sinh khác noi theo.

    – Nhiều học sinh viết đúng kích thước mà tại sao chữ vẫn chưa đẹp bởi hình dáng các con chữ chưa đạt. Tôi hướng dẫn các em khi viết phải tuân thủ quy trình, kỹ thuật viết chữ, không nhấc bút tùy tiện để các con chữ có nét cong kín không tròn, nét hất có góc nhọn, trên nét chữ nổi vân.

    b.2.2. Viết đúng vị trí dấu thanh, dấu câu.

    * Dấu thanh, dấu câu viết không đúng hình dạng, đặt tùy tiện làm giảm đi tính thẩm mĩ của bài viết. Bởi vậy tôi cho các em tái tạo lại những kiến thức cơ bản, cụ thể thông qua các ví dụ trong giờ học:

    + Dấu thanh thường đặt ở âm chính của vần trong chữ ghi tiếng, đặt cân đối (hà, cá…)

    + Trường hợp chữ ghi tiếng có nguyên âm đôi ở phần vần thì dấu thanh đặt ở con chữ thứ 2 của nguyên âm đôi ( rượu, miến, luồn. . . ), nếu không có âm cuối thì đặt ở con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi( mía, múa).

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các chữ ghi tiếng mà phần vần có dấu phụ( â, ă) thì viết hơi cao và hơi lệch phía phải của dấu mũ (trồng, cắm, lấn. . . ).

    * Dấu câu không đơn thuần đánh dấu về mặt ngữ pháp của câu mà là sự quy định chuẩn mực nói, viết và biểu hiện kỹ năng nắm vững ngôn ngữ. Khi viết các em phải thể hiện đúng hình dạng, đặt sau chữ vừa viết (bằng 1/3 khoảng cách so với khoảng cách giữa chữ ghi tiếng này với chữ ghi tiếng kia).

    * Để sớm khắc phục nhanh lỗi về dấu thanh, dấu câu tôi luôn căn dặn các em: Nắm vững kỹ thuật viết và cẩn thận khi đặt bút viết.

    b.2.3. Viết liền mạch, đều nét, đúng khoảng cách.

    * Rèn chữ viết cho các em không chỉ phải biết cấu tạo của từng chữ cái mà còn phải biết tạo ra chữ viết và sử dụng chữ viết. Khi viết chữ phải đảm bảo mối liên hệ giữa âm và chữ, tổ hợp các chữ cái để ghi âm tiết, các chữ cái phải viết nối với nhau tạo thành chữ ghi tiếng. Để làm được điều đó, tôi đã tiến hành khâu ” Học đến đâu, hành đến đấy; lý thuyết đi đôi với thực hành”. Cho các em nắm vững kỹ thuật viết chữ: kỹ thuật nối nét, lia bút, rê bút gồm những nhóm chữ.

    – Liên kết hai đầu: Chữ cái đứng sau có nét nhọn đầu( u, y, i, t. . . ), nét tròn đầu ( n, m). Ví dụ: Chữ ” An, Kim. . . ”

    – Liên kết một đầu:

    + Chữ cái đứng trước có liên kết, chữ cái đứng sau không có liên kết. Bởi vậy khi viết đến điểm dừng bút của của chữ cái đứng trước cần ” lia bút” đến điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau rồi viết. Ví dụ: Chữ H¶i. . .

    + Chữ cái đứng trước không có nét liên kết, chữ cái đứng sau có nét liên kết. Khi viết đến điểm dừng bút của chữ cái đứng trước thì lia bút đến điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau, hoặc rê bút tạo nét phụ và viết tiếp theo quy trình viết liền mạch. Ví dụ: Chữ ¤ng, . . .

    – Không có liên kết: Cả hai chữ đứng cạnh nhau không có nét liên kết nên khi viết cần có độ doãng bằng 1/3 đơn vị giữa hai con chữ

    Để viết liền mạch tôi luôn nhắc các em phải biết phối hợp các liên kết các nét của các con chữ để nét không bị gãy, không bị rời rạc, tuân thủ nguyên tắc viết chữ, lựa chọn viết chữ đứng hay chữ nghiêng phải viết đều nét. Trước khi viết học sinh phải hiểu được ý nghĩa của từ, nhận ra điểm xuất phát, điểm nối, điểm dừng bút rồi mới thực hành viết.

    * Thông thường các em chưa nắm vững và chưa ước lượng được khoảng cách khi viết. Nên khi thực hành viết các em cần tập thói quen cẩn thận, ước lượng từ chữ ghi tiếng này với chữ ghi tiếng kia bằng “1 đơn vị” rồi mới đặt bút.

    Ví dụ: Khi hướng dẫn viết từ “Lãn Ông”, (ở tuần 21 Tập viết 3 Tập 2) học sinh thấy được ” Lãn Ông” là tên riêng của một người và biết được các vị trí liên kết chữ tạo bởi các chỗ nối:

    – Chữ ” Lãn”: Từ chữ “L”viết tiếp chữ “a” thực hiện bằng nét nối một đầu. Từ chữ “a” viết tiếp chữ “n” bằng nét nối hai đầu.

    Chữ “Ông”: Chữ ” Ô” không có nét liên kết nên khi vừa viết xong chữ cái trước thì điểm đặt bút của chữ “n” chạm vào chữ “Ô”, thực hiện liên kết một đầu hai chữ cái ” n” và “g”

    – Khoảng cách chữ “Lãn” và chữ “Ông” bằng 1 đơn vị: L·n ¤ng

    b.2.4. Viết đúng chính tả:

    Xuất phát từ nguyên nhân thường viết sai lỗi chính tả trên, tôi đã cho các em:

    * Nắm nguyên tắc, luật viết chính tả.

    * Luyện viết những từ ngữ khó (từ thường mắc lỗi ở các bài trước, từ các phát âm không chuẩn) vào giấy nháp, bảng con, phát âm lại từ vừa viết thành thạo trước khi viết vào vở.

    * Thực hành viết vào vở: Mỗi cụm từ, câu giáo viên đọc 3 lần ( lần 1- các em lắng nghe, lần 2- các em viết, lần 3- các em soát lỗi), đặc biệt khi đọc tôi luôn nhấn mạnh, đọc chậm các từ khó.

    Dù cùng một lúc phối kết hợp rèn các kĩ năng viết đúng, đẹp, thành thạo thì tôi luôn chỉ cho học sinh thấy được những lỗi các em thường mắc và có hướng khắc phục. Ví dụ: Khi viết một đoạn trích trong bài Chính tả “Hội vật”

    (Tiếng Việt 3, Tập 2), tôi đã dùng hai hình ảnh để các em so sánh và nhận thấy:

    Kết hợp các thao tác trên, sau một thời gian ngắn học sinh đã tiến bộ rõ rệt. Các em không ngần ngại trong mỗi giờ học Chính tả hay giờ học Tập viết như trước đây nữa.

    b.3. Biện pháp thứ ba: Rèn viết chữ nét thanh, nét đậm; sáng tạo chữ viết.

    Việc khảo sát chữ viết, theo dõi hằng ngày và biện pháp rèn viết đúng là cơ sở để tuyển chọn nhóm đối tượng học sinh có năng lực. Với những học sinh này tôi không cần hướng dẫn tỉ mĩ như các em khác vì các em đã viết đúng theo mẫu chữ. Chính vì thế tôi cho các em thổi hồn vào trong từng nét của chữ bằng hình thức luyện viết:

    – Viết chữ nét thanh, nét đậm: Khi viết nét bút đưa lên rê nhẹ tay hơn nét đưa xuống

    – Viết chữ sáng tạo: Là những chữ cái đã viết đúng mẫu chữ, tạo thêm những nét phụ khác. Ví dụ: Viết sáng tạo chữ cái viết hoa: An, H¶i.

    b.4. Biện pháp thứ tư: Lựa chọn bút viết phù hợp với đối tượng học sinh

    Ngay từ đầu năm học, tôi đã tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp của lớp. Qua việc nắm bắt chữ viết và thể trạng học sinh là cơ sở để lựa chọn bút viết. Những học sinh chữ viết còn gãy nét, nguệch ngoạc chứng tỏ tay cầm bút còn yếu, hiếu động, chưa cẩn thận dễ thay đổi ngòi bút khi dịch chuyển nên tôi hướng dẫn các em nên dùng loại bút có kích thước vừa phải, nhẹ, ngòi bút tròn hoặc bút nước (bút chữ A). Còn đối tượng có chữ viết rắn rỏi, trơn nét, thể trạng khỏe mạnh nên dùng loại bút có ngòi mài để khi viết dễ tạo chữ có nét thanh, nét đậm. Kết hợp khen ngợi trong giờ sinh hoạt lớp tôi đã phân tích để học sinh thấy rõ nên sử dụng bút bơm mực để sử dụng lâu dài, tiết kiệm về kinh tế, tiện lợi khi mong muốn rèn luyện chữ viết.

    b.5. Biện pháp thứ năm: Tổ chức thi viết chữ đẹp:

    Cứ mỗi tháng tôi tổ chức viết chữ đẹp ở lớp 1 lần và kết hợp kiểm tra vở viết của các em nhằm uốn nắn, động viên khuyến khích các em . Đây là cơ hội các em học hỏi trao đổi kinh nghiệm, khám phá những bài viết đẹp. Bài viết đẹp ấy được công khai kết quả và gắn ở góc học tập và là một trong những tiêu chí thi đua trong tháng. Học sinh đạt kết quả cao trong các cuộc thi tôi đã khuyến khích các em bằng những món quà nhỏ ” Một số đồ dùng học tập”.

    Với hình thức đó, phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp đã dấy lên và mang lại hiệu quả cao trong phong trào thi viết chữ đẹp cấp huyện: Năm học 2012 – 2013 có 2 học sinh đạt giải nhì cấp huyện. Năm học 2013-2014 có 2 học sinh đạt giải nhất cấp trường: Phan Nữ Tố Trinh và Đinh Vi Anh Đào.

    b.6. Biện pháp thứ sáu: Vai trò của giáo viên

    – Người ta thường bảo “Nét chữ nết người, cô (thầy) nào trò nấy”. Không có đồ dùng trực quan nào thay thế được và có hiệu quả hơn chữ viết của giáo viên. Nên khi viết bất cứ ở đâu: viết vở, chấm bài, lời nhận xét hay bảng lớp tôi luôn tuân thủ nguyên tắc ” phải cẩn thận- phải đẹp”. Giáo viên rèn chữ viết đẹp không chỉ là tấm gương sáng cho học sinh noi theo mà còn tạo niềm tin cho phụ huynh và đồng nghiệp của mình.

    – Rèn viết chữ cho học sinh nhỏ tuổi là một việc làm không đơn giản. Bởi tri giác của các em thiên về nhận biết tổng quát, tính hiếu động, thiếu kiên trì mà viết được chữ thì người viết phải cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ và đòi hỏi sự khéo léo cẩn thận nên tôi luôn rèn mình tính kiên trì, chu đáo và đưa cái tâm vào trong từng con chữ. Mặc dầu mẫu chữ viết đã có sẵn nhưng tôi luôn học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu, khám phá những bài viết đã từng đạt giải.

    * Với suy nghĩ và quá trình “Khổ công tôi luyện” tôi đạt giải ba thi viết chữ đẹp cấp huyện năm 2011,

    Đồng hành với sự nghiệp “trồng người”, gánh nặng trên đôi tay giáo viên là trang giấy, nhân cách của mỗi học sinh. Việc rèn chữ viết không phải trong ngày một ngày hai, một sáng một chiều. Thực chất “rèn chữ” là “rèn người”, là khổ công tôi luyện “tâm thành tài”. Nếu mọi người cùng đồng tâm hợp sức, nắm được cốt lõi bên trong của việc rèn chữ, kiên trì rèn chữ thì sẽ có một xã hội phát triển cao về văn hóa chữ viết, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

    * Bài học kinh nghiệm

    + Đối với giáo viên:

    – Mỗi giáo viên cần gắn lương tâm trách nhiệm của mình vào mỗi cá thể học sinh, vào từng nét chữ viết. Thổi “văn hóa chữ viết đẹp” vào tâm hồn, đạo đức lối sống của học sinh.

    – Giáo viên cần: Nói rõ, viết đúng, đẹp, biết sáng tạo, sửa bài cẩn thận, chu đáo để chinh phục được đồng nghiệp và nhân dân. Nghiên cứu các bài viết đã từng đạt giải.

    – Biết phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp rèn chữ thích hợp “sai ở đâu sửa ở đấy, học đi đôi với hành”. Hiểu được tâm lý, sức khỏe, chất lượng chữ viết để động viên khuyến khích kịp thời, lựa chọn bút viết phù hợp đối tượng học sinh với hoàn cảnh thực tế.

    – Phối hợp với phụ huynh để rèn thói quen, nền nếp viết chữ, giữ vở sạch.

    – Duy trì thường xuyên các cuộc thi viết chữ đẹp. Sáng tạo trong việc trao phần thưởng để gây sự hứng thú, tạo tâm lý thoải mái, ham muốn rèn chữ của học sinh.

    – Cần quan tâm việc rèn chữ viết ở tất cả các môn học, phối hợp linh hoạt với các môn học khác. Không chờ đến các tiết học Tập Viết hay Chính tả mới nhắc nhở rèn chữ viết.

    + Đối với học sinh:

    – Có ý thức tự rèn thói quen nền nếp viết chữ, rèn chữ, tinh thần thi đua học hỏi, cầu tiến.

    – Tuyệt đối không được viết chữ nét phăng như người lớn: mất nét, mất dấu. . .

    – Không được nhờ người khác viết hộ.

    Bấm vào đây để tải về

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Tính Mạnh Dạn Tự Tin Cho Trẻ Lớp 5 Tuổi C Trường Mầm Non Phú Lạc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Tính Mạnh Dạn Trong Giao Tiếp Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Nêu Biện Pháp Rèn Luyện Để Xương Phát Triển Cân Đối
  • Giải Bài Tập Sinh Học 8
  • Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Như Thế Nào?
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán Lớp 4
  • Bài Tham Luận Về Giải Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 5
  • Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Học Sinh Viết Đúng Chính Tả, Đúng Quy Tắc, Đúng Âm
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 4
  • 1

    PHÒNG GIÁO DỤC XUYÊN MỘC

    TRƯỜNG TH HUỲNH MINH THẠNH

    *******************************

    ĐỀ TÀI:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN HỌC SINH YẾU

    MƠN TỐN LỚP 3

    Người viết: Lê Thị Tuy

    Đơn vị : Trường tiểu học Huỳnh Minh Thạnh

    Nân học: 2010 – 2011

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lí do chọn đề tài:

    Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đất nước ta đang

    tiến hành cuộc cách mạng tồn diện trên mọi lĩnh vực với mục tiêu cơng

    nghiệp hố, hiện đại hố đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới giáo

    dục là một trong những trọng tâm của sự đổi mới.

    Với quan niệm giáo dục là quốc sách hàng đầu, như báo cáo chính trị của

    đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định:”Phát triển giáo và đào

    tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hố,

    hiện đại hố đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ

    bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng

    cao chất lượng giáo dục tồn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học…”

    Sự đổi mới của giáo dục nhằm tạo ra những con người tồn diện có phẩm

    chất đạo đức, có sức khoẻ, có tri thức và năng động sáng tạo.

    Vậy để giáo dục học sinh phát triển tồn diện về mọi mặt đó là trách

    nhiệm của những người làm cơng tác giáo dục nói chung, của giáo viên nói

    riêng.

    Như chúng ta biết mơn to¸n chiÕm mét vÞ trÝ v” cïng quan träng v× học

    tốt mơn tốn gióp cho häc sinh phát triển tồn diện về mọi mặt. Ngoµi ra häc

    tèt m”n to¸n häc sinh míi cã ®iỊu kiƯn ®Ĩ häc tèt nh÷ng m”n häc kh¸c.

    Kiến thức của mơn tốn là có tính chất kế thừa và xâu chuỗi. Kế thừa từ

    bài học này đến bài học khác, từ lớp học dưới đến lớp học trên. Nếu các em

    bị mất căn bản về kiến thức mơn tốn thì các em sẽ chán học, khơng thích học

    dẫn đến ngày càng học yếu so với trình độ chung của cả lớp.

    Một lớp học thì tất yếu phải có các đối tượng: giỏi, khá, trung bình,

    yếu. Điều này mỗi giáo viên đều nhận thức được một cách rõ ràng hơn ai

    hết và đồng thời mỗi giáo viên đều có phương pháp dạy, có những kinh

    nghiệm để áp dụng vào việc giảng dạy và giáo dục học sinh để đạt kết quả.

    Ai trong mỗi giáo viên chúng ta đều hiểu rằng việc giảng dạy và giáo dục

    luôn luôn đi đôi với nhau. Để giúp đỡ học sinh yếu nói chung và học sinh

    yếu mơn tốn nói riêng là việc làm hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên

    chúng ta.

    Vậy làm thế nào để giáo dục học sinh yếu mơn tốn đạt hiệu quả luôn

    là nổi băn khoăn suy nghó của người giáo viên nói riêng và của những

    người làm công tác giáo dục nói chung? Đó cũng chính là lý do để tôi

    nghiên cứu đề tài này.

    2

    1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:

    Nghề dạy học là một nghề thật đặc biệt đó là giáo dục con người .Sản

    phẩm của giáo dục là đào tạo cho xã hội những con người có trình độ, có

    phẩm chất đạo đức. Bởi thế đội ngũ thầy cô giáo chúng ta phải có lòng yêu

    nghề, mến trẻ, đặc biệt là một tấm gương tự học và sáng tạo. Có trách nhiệm

    cao với sự nghiệp giáo dục. Không nên chạy theo bệnh thành tích mà luôn đặt

    chất lượng giáo dục học sinh lên hàng đầu. Không để tình trạng HS ngồi nhầm

    lớp.Trong giảng dạy luôn chú trọng đến những đối tượng học sinh học yếu

    trong học tập để từ đó giáo viên đưa ra những biện pháp kịp thời, linh hoạt,

    phù hợp giúp cho các em tiến bộ theo kịp các bạn trong lớp.

    Học sinh yếu môn toán là những học sinh bị hổng kiến thức. Chính vì thế

    mà việc tiếp thu bài của các em thật là khó khăn. Lúc đó các em sẽ chán học,

    lơ là trong học tập. Vì thế khi giáo viên giảng bài các em không hiểu, các em

    ngồi nói chuyện, làm việc riêng trong lớp. Thậm chí còn quậy phá trêu chọc

    các bạn xung quanh.

    Để các em yếu toán không có tư tưởng chán học, mà có ý thức hơn trong

    việc học của mình ngày một tiến bộ trong học tập, đó là điều mà giáo viên

    đứng lớp chúng tôi phải tìm ra những phương pháp mới, tối ưu nhất để giáo

    dục học sinh.

    II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU

    1. Mục đích nghiên cứu:

    – Nhằm thực hiện thành công kế hoạch của nhà trường trong năm học

    2010 – 2011.

    – Giúp học sinh yêu toán củng cố kiến thức cơ bản, bổ trợ những kiến thức

    bị hổng từ các lớp dưới.

    – Giúp học sinh có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh

    thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kĩ luật.

    – Việc thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu một số biện pháp giúp đỡ học sinh

    yếu kém để học sinh có kết quả học tập cao hơn, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém

    trong học tập môn toán .

    – Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu

    ban. Thực hiện tốt “Nói không với HS ngồi nhầm lớp”

    2. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu lí luận.

    – Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn.

    – Phương pháp hội thảo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm.

    – Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

    III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

    1. Đối tượng nghiên cứu:

    3

    Đề tài nghiên cứu biện pháp rèn luyện học sinh yếu mơn tốn lớp 3

    trường tiểu học Huỳnh Minh Thạnh.

    2. Phạm vi nghiên cứu:

    Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn luyện đối với đối

    tượng học sinh yếu mơn tốn ở lớp 3, những yếu tố ảnh hưởng tới đối tượng

    này.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I. Thực trạng:

    1. Thuận lợi:

    – Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường.

    – Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ cho việc dạy và học.

    – Só số học sinh trong lớp lý tưởng (24 em).

    – Trường học hai buổi nên cũng có điều kiện để rèn học sinh.

    2. Khó khăn:

    * Tình hình học sinh:

    – Còn một số em chưa tự giác trong học tập, ham chơi, không thích học.

    – Chưa mạnh dạn trong học tập, thiếu tự tin.

    – Học sinh lười suy nghĩ, còn trơng chờ thầy cơ giải giúp, vốn kiến thức cơ

    bản lớp dưới còn hạn chế.

    – Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên khơng bền.

    – Học vẹt, khơng có khả năng vận dụng kiến thức.

    – Yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết ( cộng, trừ, nhân, chia).

    * Phụ huynh học sinh:

    – Phần lớn phụ huynh thuộc 3 thôn: Phước Tiến, Phước An, Xóm Rẫy.

    Đây là những thôn chiếm nhiều hộ nghèo nhất của thò trấn Phước Bửu, do

    các hộ này không có nghề nghiệp ổn đònh, chủ yếu là làm mướn, làm

    biển… Vì kinh tế rất khó khăn nên chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn

    đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.

    – Nhận thức và thái độ của một số phụ huynh trong việc hợp tác với giáo

    viên chủ nhiệm chưa cao.

    II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1. Những biện pháp đã sử dụng rèn học sinh yếu mơn tốn lớp 3:

    – Điều tra đối tượng học sinh yếu

    – Phân loại học sinh ( giỏi, khá, trung bình, yếu – kém )

    – Tìm hiểu ngun nhân dẫn đến học sinh học yếu.

    – Lập kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo cho từng học sinh yếu.

    – Thực hiện tốt công tác giảng dạy đối với đối tượng học sinh yếu.

    – Sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng HS yếu.

    – Tổ chức tiết học có các trò chơi nhằm gây hứng thú cho các em học tập.

    4

    – Thường xun kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, điều chỉnh

    biện pháp rèn luyện phù hợp với sự tiến bộ của HS.

    – Có các hình thức tun dương, khen thưởng kịp thời, phù hợp khi các HS

    yếu tiến bộ.

    – Phối hợp với phụ huynh học sinh có con học yếu để cùng nhau bàn

    biện pháp rèn luyện ở lớp, ở nhà, nhắc nhở các em đi học chun cần.

    2. Các biện pháp giải quyết vấn đề:

    Để giáo dục học sinh yếu mơn tốn chúng ta không kể nguyên nhân do

    đâu, rèn luyện học sinh yếu mơn tốn là việc làm cần thiết, không nóng vội,

    có lộ trình hợp lý, có kế hoạch riêng cho từng học sinh, có biện pháp hiệu

    quả và kòp thời. Người giáo viên phải hiểu sâu sắc các em. Từ đó mới có

    thể đặt ra những tác động sư phạm thích hợp và cụ thể với từng đối tượng

    học sinh.

    Với kinh nghiệm giảng dạy 5 năm ở khối 3 tơi đã áp dụng nhiều biện pháp

    khác nhau để rèn học sinh yếu mơn tốn và thu được nhiều kết quả tốt.

    Việc đầu tiên:

    2.1 Phân loại học sinh :

    Để nắm được tình hình học sinh trong lớp của mình phụ trách:

    +Thông qua nghiên cứu lí lòch học sinh giáo viên sẽ nắm được hoàn cảnh

    gia đình, nghề nghiệp của phụ huynh, gia đình đông con hay ít con, phụ

    huynh có quan tâm giáo dục con cái hay không, đòa bàn cư trú của các em,…

    +Thông qua nghiên cứu hồ sơ của học sinh như: Học bạ, sổ liên lạc, khảo

    sát chất lượng học sinh đầu năm, qua 1 tuần thực dạy tôi sẽ phân loại học

    sinh lớp mình ra các đối tượng HS như sau :

    1.Học sinh học tốn giỏi .

    2. Học sinh hoc tốn khá.

    3.Học sinh học tốn trung bình .

    4.Học sinh học tốn yếu.

    + Sau khi phân loại được trình độ HS trong lớp và nắm bắt được các em học

    yếu mơn tốn GV lại tìm hiểu xem HS yếu phần nào trong mơn tốn giáo viên

    lại tiếp tục phân loại các em yếu tốn thành những đối tượng sau :

    -Yếu trong thực hiện tính nhân, chia, cộng ,trừ .

    -Yếu về yếu tố hình học.

    – Yếu về yếu tố thống kê.

    – Yếu về đại lượng và đo đại lượng

    – Yếu trong giải tốn .

    – Yếu tất cả các kiến thức nêu trên.

    5

    2.2 Tìm hiểu ngun nhân dẫn đến học sinh yếu mơn tốn :

    Có các nguyên nhân sau:

    – Do hoàn cảnh gia đình khó khăn không ai quản lý, đôn đốc các em

    trong học tập.

    – Do các em chưa có ý thức học tập ham chơi, chưa nhận thức được vai

    trò học tập.

    – Các em mất căn bản ở lớp dưới.

    – Học sinh tiếp thu bài kém .

    – Do học sinh thụ động trong học tập .

    – GV sử dụng các phương pháp giảng dạy chưa phù hợp với HS.

    – Gia đình không quan tâm đến việc học tập của các em.

    Từ những nguyên nhân trên tôi xác đònh đâu là nguyên nhân chính đối

    với từng học sinh yếu mơn tốn để có phương pháp và hình thức để rèn luyện

    phù hợp với từng học sinh.

    2.3 Tìm hiểu hồn cảnh gia đình của các em:

    – Hồn cảnh của mỗi em đều khác nhau. Phần lớn cha mẹ học sinh của lớp

    khơng có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, nhiều phụ huynh phải đi làm xa

    nhà gởi con cái cho người thân chăm sóc. Vì vậy cuộc sống gia đình gặp rất

    nhiều khó khăn, chưa tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho con em họ khi

    đến trường. Có em học yếu mơn tốn là do cha mẹ khơng quan tâm đến việc

    học của con em mình mà chỉ lo kiếm sống hằng ngày. Có em vì gia đình bất

    hạnh hoặc gia đình q đơng anh em.Có em yếu là do lười học, cha mẹ khơng

    quan tâm đến các em. Vì vậy GV quan tâm nắm bắt hồn cảnh gia đình của

    từng em để có những biện pháp áp dụng cho phù hợp .

    2.4 Giáo viên lập k ế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo cho từng học sinh yếu

    mơn tốn:

    Lập kế hoạch cụ thể, chi tiết phụ đạo cho từng học sinh yếu mơn tốn là

    điều cần thiết để theo dõi và rèn luyện các em. Qua đó giáo viên đánh giá

    được kết quả rèn luyện của học sinh mình trong từng thời gian ngắn. Nếu

    học sinh chưa có sự tiến bộ chúng ta có thể thay đổi biện pháp rèn luyện

    hoặc tăng cường thêm một số biện pháp khác. Ta không nên nóng vội, rèn

    học sinh yếu không chỉ một ngày, hai ngày,…mà cả một thời gian dài. Tùy

    theo đối tượng học sinh yếu của lớp mình phụ trách để chúng ta lập kế

    hoạch phụ đạo học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Rèn Học Sinh Yếu Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Năng Khiếu Bơi Lội
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yêu Thích Và Học Tốt Môn Lịch Sử Lớp 4 5
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100