Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh

--- Bài mới hơn ---

  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Số lượt đọc bài viết: 44.470

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? – Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh ngang bằng: thường chứa các từ: như, giống như, tựa như. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • So sánh không ngang bằng: không bằng, chẳng bằng, hơn… Ví dụ: “Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh giữa các đối tượng cùng loại: Ví dụ: Cô giáo em như là người mẹ
    • So sánh giữa các đối tượng khác loại: Ví dụ: Lông con mèo như một cục bông gòn
    • So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: Ví dụ: Thân em như quả ấu gai
    • So sánh cái trừu tượng với cái cụ thể: Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24 Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25 Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

      a) Hình ảnh so sánh được thể hiện qua:
      b) Sự vật được so sánh:
      c) Giữa các sự vật so sánh có nét giống nhau:
      d) Tác dụng của biện pháp so sánh: làm nổi bật cái được nói đến, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt

    • Khoẻ như voi, khỏe như hổ
    • Đen như mực, đen như cột nhà cháy
    • Trắng như bông, trắng như tuyết
    • Cao như núi, cao như cây sào

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    • Những ngọn cỏ…., y như có nhát dao vừa lia qua
    • Hai cái răng ….. như hai lưỡi liềm máy làm việc.
    • Cái chàng Dế Choắt….. như một gã nghiện thuốc phiện.
    • Đã thanh niên rồi …… như người cởi trần mặc áo ghi-lê.
    • Đến khi định thần lại……., như sắp đánh nhau.
    • Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    • Càng đổ dần …….như mạng nhện.
    • … ở đó tụ tập …..như những đám mây nhỏ.
    • … cá nước bơi hàng đàn ….. như người bơi ếch .
    • … trông hai bên bờ, rừng đước …. như hai dãy trường thành vô tận
    • Những ngôi nhà ……như những khu phố nổi.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

    Biện pháp tu từ so sánh

    Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

    I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ví dụ :

    – Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

    (Đoàn Giỏi)

    Trong như tiếng hạc bay qua,

    Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

    (Nguyễn Du)

    – Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    (Tô Hoài)

    2. Cấu tạo của phép so sánh

    So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

    – Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

    – Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

    – Từ so sánh.

    – Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

    Ta có sơ đồ sau đây :

    Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

    + Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

    + Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

    – Như có sắc thái giả định.

    – Là có sắc thái khẳng định.

    -Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

    + Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

    Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

    (Tế Hanh)

    3. Các kiểu so sánh

    Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

    a) So sánh ngang bằng

    Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

    Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

    Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

    (Tố Hữu)

    b) So sánh hơn kém

    Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

    Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

    (Tục ngữ)

    Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

    Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

    – Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

    4. Tác dụng của so sánh

    + So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

    Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    (Ca dao)

    + So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

    Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

    (Trần Đăng Khoa)

    Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

    II. – BÀI TẬP 1.

    Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

    “Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

    (Đoàn Giỏi)

    2. Trong câu ca dao :

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

    b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

    c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

    3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

    a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

    b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

    4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

    5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

    6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

    a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

    b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

    7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

    Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

    – Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

    – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

    10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

    Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

    a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

    b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

    11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

    Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

    (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề : Biện Pháp So Sánh – Lớp 3
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2022
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 11 Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình Ii
  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2
  • Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương
  • Biện pháp so sánh là gì?

    So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? –  Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    So sánh sự vật với sự vật

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Sự vật 1 (sự vật được so sánh)

    Từ so sánh

    Sự vật 2 (sự vật để so sánh)

    Ngôi nhà

    như

    Tòa lâu đài

    Mái tóc

    như

    Chổi lông gà

    Cảnh bình minh

    Tự như

    Bức tranh mùa xuân

    So sánh sự vật với con người

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Đối tượng 1

    Từ so sánh

    Đối tượng 2

    Đứa trẻ (con người)

    như

    Nụ hoa chớm nở (sự vật)

    Mẹ em (con người)

    Như là

    Bảo bối thần kỳ (sự vật)

    Cậu thanh niên (con người)

    Giống như

    Ngọn núi sừng sững (sự vật)

    Thân em (con người)

    như

    Tấm lụa đào

    So sánh đặc điểm của 2 sự vật

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Sự vật 1

    Đặc điểm so sánh

    Từ so sánh

    Sự vật 2

    Tiếng suối

    trong

    như

    Tiếng hát

    Cánh đồng lúa

    Vàng ươm

    như

    dải lụa

    Các ngón tay

    Tròn đầy

    Như là

    Nải chuối

    So sánh âm thanh với âm thanh

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Âm thanh 1

    Từ so sánh

    Âm thanh 2

    Tiếng chim

    như

    Tiếng sáo

    Tiếng hát

    như

    Tiếng họa mi

    Tiếng trống

    như

    tiếng sấm

    So sánh hoạt động với hoạt động

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Sự vật/ con người 1

    Hoạt động 1

    Từ so sánh

    Hoạt động 2

    Sự vật 2

    Vũ công

    Điệu múa

    Tựa như

    Xòe (cánh)

    Con thiên nga

    Con sóc

    Chạy

    như

    bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24

    a)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Trẻ em

    như

    Búp trên cành

    Rừng đước

    Dựng lên cao ngất

    như

    Dãy tường thành vô tận

    b)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Chí lớn cha ông

    Trường Sơn

    Lòng mẹ

    Bao la sóng trào

    Cửu Long

    Con người

    Không chịu khuất

    như

    Tre mọc thẳng

    Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    (Nguồn: www.youtube.com)

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1
  • Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô
  • Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Đẹp Cho Học Sinh Lớp 1
  • De Tai ” Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Học Biện Pháp Thi Công Miễn Phí Với Lương Trainer
  • Biện Pháp Thi Công Các Công Trình Xây Dựng
  • Tổng Hợp Tài Liệu, Bản Vẽ Mẫu Về Biện Pháp Thi Công
  • Biện Pháp Thi Công Là Gì? 5 Bước Trình Tự Thi Công Công Trình
  • Hướng Dẫn Uống Thuốc Tránh Thai Hằng Ngày Đúng Cách
  • Tên đề tài

    Phuong phỏp d?y h?c “Bi?n phỏp tu t? so sỏnh” cho h?c sinh l?p 6 theo hu?ng tớch h?p v tớch c?c.

    Các biện pháp tu từ nói chung và tu từ so sánh nói riêng là một nội dung tri thức chuyên sâu mang tính chất sáng tạo, phục vụ trực tiếp và đắc lực cho việc học văn. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn là học sự phát hiện và rung cảm với cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật. Sự phát hiện và rung cảm này bắt đầu bằng ngôn từ và thông qua ngôn từ. Do đó văn học và Tiếng Việt có mối quan hệ khăng khít với nhau. Dạy Tiếng Việt vừa để làm công cụ tư duy giao tiếp vừa cung cấp tri thức chuyên sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ phục vụ cho việc cảm thụ, lý giải và bình giá đúng đắn, tinh tế, sâu sắc các giá trị nghệ thuật.

    Qua đó, học sinh học Tiếng Việt được vững chắc hơn và hiệu quả hơn khi học văn. Đúng như lời khẳng định của GS-TS. Lê A trong cuốn “phương pháp dạy học Tiếng Việt” – NXB GD-2001-trang 10: “kết hợp hài hoà giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao cho hai môn Văn và Tiếng Việt”.

    Trên tinh thần này, tổ chức dạy tốt biện pháp tu từ so sánh sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương và năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách sinh động, giàu hình ảnh trong giao tiếp cho học sinh.

    Xuất phát từ lí do trên tôi xin mạnh dạn trình bày một vài ý kiến xem như là ý kiến của bản thân đã trải qua thực nghiệm giảng dạy về dạy học biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực. Mong góp phần bé nhhỏ của mình vào việc đổi mới PPDH Ngữ văn nói chung và dạy học phần tu từ về từ nói riêng theo hướng tích hợp và tích cực trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ XXI khi mà “giáo dục là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai”. (Đỗ Mười).

    II – Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo hướng tích hợp tích cực.

    Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đai đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng từ lâu và có hiệu quả lớn. Vận dụng dạy học ở Việt Nam, tích hợp bước đầu được hiểu là: Phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình dạy học riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau. Chương trình môn Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là làm sao kết hợp được thật tốt việc hinhd thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết (hiểu theo nghĩa rộng) vốn là hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực.

    Việc cải tiến chương trình Ngữ Văn theo hướng tích hợp có ssự vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhưng trước hết xuất phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam. Trên 2o năm qua, việc tách môn Văn thành ba phần môn đã dem lại một số kinh nghiệm nhất định nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế không nhỏ, nhất là bậc THCS. Nên việc tích hợp này là cần thiết và đáp ứng yêu cầu phát triển toàn xã hội.

    Dạy học biện pháp tu từ phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực giáo viên cần khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi để đạt hiệu quả cao.

    Còn xét về thực trạng hiện nay: chương trình SGK Ngữ văn lớp 6 đac rõ ràng cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực. Về thời lượng cho từng bài còn phải bàn thêm cho thật cân đối và hợp lý với chương trình và phù hợp với hoàn cảnh đa diện của học sinh. Đặcc biệt là các biện pháp tu từ về từ cần chú ý thêm về thời lượng và cách thực hành tạo lập trong nói và viết cho học sinh .

    Thực trạng đội ngũ giáo viên Ngữ văn hiện nay ở THCS về số lượng, chất lượng khiến chúng ta không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Trong một số nhà trường THCS còn song song tồn tại giáo viên ở nhiều hệ đào tạo khác nhau. Vì vậy, việc giảng dạy không đồng đều, ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách học tập của học sinh và chất lượng chung. Hiện nay có hai thái cực trái ngược nhau: Những giáo viên có tâm huyết đã đi sâu tìm tòi và thực thi dạy theo hướng tích hợp và tích cực đã có kết quả bước đầu. Một só giáo viên vẫn dạy học theo thói quen cũ: Giáo viên chạy theo chương trình, tách rời chuyên môn, lo truyền thụ kiến thức bằng loói thuyêts trình hoặc chứng minh cho các khái niệm. Học sinh chir có một nhiệm vụ ghi chép thụ động để về học thuộc, làm bài tập đối phó qua loa.

    So sánh tu từ bộc lộ phong cách sáng tạo của tác giả: mỗi nhà văn có tư duy nghệ thuật riêng, thế giới nghệ thuật riêng, phương thức diễn đạt riêng tạo nên phong cách tác giả. Dựa trên vốn từ vựng Tiếng Việt, nha văn cho mình vốn từ riêng mang đậm dấu ấn cá nhân. So sánh tu từ cũng nằm trong quy luật ấy.

    ở mỗi tác giả, hình ảnh đưa ra làm chuẩn so sánh đều mang tính điển hình. Qua so sánh tu từ, người ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về người sử dụng. Có tác giả ưa dùng so sánh tu từ mang tính phát hiện của trí tuệ. Có tác giả ưa sự mộc mạc, chân chất, chính xác mà vẫn tràn đầy cảm xúc yêu thương.

    Chẳng hạn: Trong thơ Tố Hữu, so sánh tu từ thường là những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên như: Trái đất, trường sơn, biển cả, núi sông . khắc hoạ lên vóc dáng to lớn, đẹp đẽ, giàu sức sống, khí thế cao cả mạnh mẽ và tấm lòng thuỷ chung trong sáng của con người.

    “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

    Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

    Chỉ biết quên mình cho hết thảy

    Như dòng sông chảy nặng phù sa”.

    Còn đây là so sánh nghệ thuật của Chế Lan Viên với những hình ảnh giàu nhận thức lý trí:

    “Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc

    Khi lòng ta đã hoá những con tàu

    Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”

    Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì người thường không nhận ra, không nhìn thấy. Cả hai tác giả, với sự sáng tạo riêng đã xây dựng những hình tượng thẫm mỹ bằng phương thức so sánh nghệ thuật. Hai cách so sánh đều có nhưng nét độc đáo riêng, đặc sắc và thể hiện phong cách mỗi tác giả.

    Học sinh lấy một ví dụ bất kỳ. Chẳng hạn:

    “Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với trời xanh”

    (Đồng Xuân Lan).

    Giáo viên có thể tiến hành bước 1 sau khi kiểm tra bài cũ của học sinh, để chuyển tiếp vào bài mới với việc hình thành khái niệm.

    Bước 2: Giúp học sinh phân tích các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm so sánh. Để thực hiện công việc này có thể sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để hình thành khái niệm so sánh.

    Ví dụ: Khi hình thành khái niệm so sánh, giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm so sánh trong các ngữ liệu đã cho? chỉ ra cơ sở để có thể so sánh như vậy? So sánh như thế nhằm mục đích gì? So sánh với ví dụ khác cũng sử dụng phép so sánh? Rút ra kết luận về so sánh?

    Em hãy trả lời các câu hỏi và làm bài tập sau đây:

    Có mấy kiểu so sánh thường gặp? Em hãy cho ví dụ và chỉ rõ từng kiểu so sánh đó?

    2. Chỉ rõ và phân tích giá trị tu từ của phép so sánh được sử dụng trong đoạn văn sau:

    “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quoai hàm bạnh ra, cặp mắt nẩy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”.

    (Trích “Quê nội”- Võ Quảng)

    3. Em hãy viết một đoạn văn trong đó sử dụng cả hai kiểu so sánh đã học?

    * Phiếu 3:

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Mong em vui lòng điền dấu (X) mỗi ý kiến mà em đồng ý:

    Hoạt động nhóm trong giờ học Tiếng Việt khi học các biện pháp tu từ giúp em:

    A. Tạo thêm nhiều hứng thú trong học tập ( ).

    B. Tiếp thu bài dễ dàng, củng cố và khắc sâu kiến thức tốt ( ).

    C. Thực hiện đúng và nhanh các nhiệm vụ giao tiếp ( ).

    * Phiếu 4

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Việc phân tích, đánh giá giá trị tu từ so sánh giúp em:

    A. Nhận diện nhanh, chính xác phép tu từ so sánh ( ).

    B. Phân tích và đánh giá được giá trị tu từ của phép tu từ so sánh ( ).

    C. Mong muốn được nói, viết các câu, đoạn sử dụng phép so sánh ( ).

    Em hãy đánh dấu (X) vào mỗi ý kiến em đồng ý.

    C. Kết luận:

    Đổi mới PP nhằm nâng cao chất lượng day và học là một nhiệm vụ quan trọng của ngành GD hiện nay.Vận dụng PPDH theo hướng tích hợp và tích cực vào việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 6 chính là thực hiện đổi mới về PPDH trong nội dung một bài cụ thể. Thực hiện PPDH các biện pháp tu từ về phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ vâưn 6 theo hướng tích hợp và tích cực ngoài việc dựa trên những cơ sở lí luận còn cần quan tâm đến mối quan hệ hữu cơ giữa PPDH với mục tiêu, nội dung dạy học và PPDH là một thành tố của quá trình dạy học.

    Đổi mới PPDH theo hướng tích cực và tích hợp là một quá trình lâu dài và phải được thực hiện ở tất cả các lớp học, các môn học, các cấp học. Nhưng việc đổi mới có thể thực hiện được ngay đối với GV môn Ngữ văn khi dạy biện pháp tu từ ở phần Tiếng Việt lớp 6 nếu như mỗi GV trong từng tiết học giúp HS hoạt động nhiều hơn, nhất là được suy nghĩ và giao tiếp nhiều hơn. Khi đó,lớp học qua nhiều cách học khác nhau sẽ là nơi biến quá trình học thành niềm vui thích với nhiều “sản phẩm” sáng tạo của GV và HS. Và chắc chắn HS sẽ tự tin để tham gia vào các hoạt động học tập và giao tiếpcộng đồng.Đó cũng là con đường nối liền nhà trường với xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tự Tình 2
  • Tự Tình ( Bài Ii )
  • Bài Thơ Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tự Tình 2
  • 9 Phương Pháp Tránh Thai Hiệu Quả Nhất
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Thuật Ngữ Về Phép Liệt Kê
  • Cô Kiều Anh – giáo viên Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục Hocmai sẽ hệ thống lại lý thuyết cũng như có những lưu ý nhằm giúp học sinh nắm chắc biện pháp tu từ so sánh để phát huy trí tưởng tượng về hình ảnh và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong các bài tập làm văn.

    Trong chương trình tiếng Việt lớp 3, học sinh đã được làm quen với hai biện pháp tu từ rất quan trọng là so sánh và nhân hoá. Trong đó, là biện pháp tu từ sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng khả năng gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

    I. Biện pháp tu từ so sánh

    1. Cấu trúc của phép so sánh:

    *Mẹo: Để nhận biết phép so sánh : Xác định từ so sánh, thường là những từ “là”, “như”

    Ví dụ: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    (Vũ Tú Nam)

    – Sự vật được so sánh ở đây là “mặt biển”

    – Phương diện so sánh là “sáng trong” .

    – Từ so sánh: “như”, nằm giữa vế một và vế hai

    – Sự vật dùng để so sánh: “tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    Trong nhiều trường hợp, “phương diện so sánh” có thể không xuất hiện trong câu.

    Cách 2: Chia theo từ so sánh

    Nếu phân biệt dựa trên từ so sánh thì câu so sánh được phân ra hai loại là: so sánh ngang bằng và so sánh hơn kém.

    So sánh ngang bằng sẽ sử dụng như từ so sánh như: “như”; “tựa như”; “như là”; “giống như”; “chẳng khác gì”…

    Vd: Cô giáo giống như người mẹ thứ hai của em

    So sánh hơn kém sẽ sử dụng những từ so sánh như: “hơn”; “kém”;”chẳng bằng”; “không bằng”…

    VD: Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Vì vậy đối với cách chia như này, học sinh cần xác định từ so sánh trước, dựa vào đó phân loại câu vào so sánh ngang bằng hoặc so sánh hơn kém

    Mời cha mẹ và học sinh tham khảo video bài giảng tại: https://www.youtube.com/watch?v=bjTwEJMq8ls

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • 1.1. Lí do chọn đề tài.

    Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện, nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học, nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quan trọng là sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giao tiếp đa dạng trong xã hội.

    Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3.

    Môn Tiếng Việt lớp 3 nằm trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như nghe – nói – đọc – viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.

    Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.

    Trong chương trình Tiểu học hiện nay, phân môn Luyện từ và câu lớp 3, không có bài học riêng về kiến thức, chỉ trình bày các kiến thức (về từ gồm cả thành ngữ, tục ngữ về lao động sản xuất, văn hoá, xã hội, bảo vệ Tổ quốc; kiến thức về ngữ pháp như từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất; Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm. Học sinh nhận biết sơ giản về các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá ) học sinh cần làm quen và nhận biết thông qua các bài tập thực hành. Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động và gần gũi hơn. Để viết được những câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có sự quan sát tinh tế và kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công của tác phẩm mà trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ để làm nên điều đó . Vì vậy dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 là trên cơ sở lấy quan điểm giao tiếp làm định hướng cơ bản và dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành làm bài tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

    Xuất phát từ đó mà tôi chọn đề tài: Giúp học sinh lớp 3 học tốt ” biện pháp tu từ so sánh ” trong phân môn Luyện từ và câu.

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    Tiếng Việt cùng với môn Toán là môn học quan trọng ở Tiểu học. Nó chiếm nhiều thời gian trong quá trình học tập, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức về mảng nghĩa của từ. Đặc biệt là các hình ảnh so sánh là một trong những nội dung mới và khó đối với học sinh. Học sinh hay nhầm lẫn về hình ảnh so sánh và nhân hóa. Vậy để giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt hơn trong phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã đưa ra một số biện pháp nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    Tôi chọn học sinh lớp 3B làm đối tượng nghiên cứu trong năm học 2022-2019 tại nơi tôi công tác.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Đọc, tham khảo, nghiên cứu tài liệu.

    – Quan sát học sinh và giáo viên khi dạy phân môn luyện từ và câu trong khi đi dự giờ.

    – Điều tra, khảo sát thực tế.

    – Thực nghiệm.

    – Thống kê, so sánh đối chiếu.

    – Kiểm tra, đánh giá.

    2. NỘI DUNG .

    2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

    Thế nào là so sánh? So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc có nét tương đồng, có dấu hiệu chung nào đó nhằm tăng sức gợi cảm hoặc diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của sự vật, sự việc.

    Trong thực tế có 2 loại so sánh là so sánh tu từ và so sánh luận lý.

    So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh. Mục đích của so sánh tu từ nhằm diễn tả một cách sinh động đặc điểm của sự vật, sự việc.

    So sánh luận lý nhằm mục đích xác lập sự tương đương giữa 2 đối tượng.

    Mặt khác, Nội dung chương trình học Luyện từ và câu lớp 3 về phần so sánh được học trong 10 tiết ở các tuần ở tuần 1,3,5,7,9,10,15,18 của học kỳ 1 với 22 bài tập khác nhau. Nội dung “so sánh” được dạy kèm với các nội dung khác. Có bài chỉ dạy một nội dung về so sánh (bài 5) nhiều bài do kết hợp với các nội dung khác như:

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu: “Ai là gì ?” trong 4 tiết.

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu “ Ai làm gì ?” trong 2 tiết

    So sánh được dạy cùng nội dung Danh từ (chỉ sự vật) trong 4 tiết

    Riêng tuần 9 có thêm nội dung “Từ ngữ về quê hương”

    Ở lớp 3, học sinh vẫn chỉ đang ở cuối giai đoạn của một quá trình nhận thức nên nội dung dạy học so sánh không có tiết lý thuyết riêng phần hình thành kiến thức được cung cấp thông qua hệ thống bài tập. Các bài tập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau.

    Việc hiểu và tìm đúng các hình ảnh so sánh giúp học sinh làm bài tập một cách chính xác, tránh những cách hiểu khác nhau. Vậy cần có một số biện pháp đưa ra để giúp học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    2.2.1. Về việc dạy của giáo viên.

    Theo quy trình dạy học phân môn Luyện từ và câu, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nắm kiến thức. Tuy nhiên do thời lượng một tiết có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ, phân biệt biện pháp tu từ so sánh trong các bài học được. Do đó sau các bài học về so sánh học sinh chỉ nắm được kiến thức một cách riêng biệt. Đôi khi trong dạy học các nội dung này giáo viên có lúc bí từ ( hạn chế về vốn từ) khi lấy thêm ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để giúp học sinh phân biệt biện pháp tu từ so sánh với các mạch kiến thức khác.

    2.2.2. Về việc học biện pháp tu từ so sánh của học sinh.

    Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực

    quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế.

    Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về so sánh tu từ học sinh tiếp thu và làm bài tập nhanh hơn về so sánh lí luận, có lẽ bởi so sánh lí luận trừu tượng hơn so sánh tu từ.

    Đặc biệt khi làm bài tập biện pháp tu từ so sánh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài tập chưa đạt yêu cầu. Các em chưa nắm được yêu cầu cơ bản như: cách nhận diện sự vật, nhận diện về đặc điểm của sự vật được đem ra so sánh, từ thể hiện sự so sánh sao cho phù hợp.

    Để kiểm tra khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh tôi đã cho học sinh lớp 3B làm bài tập sau:

    Đề bài:

    Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn sau:

    a) Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành

    b) Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    c) Trường Sơn: chí lớp ông cha

    Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

    d) Mảnh trăng non đầu tháng lơ lửng giữa trời như một cánh diều.

    Kết quả khảo sát:

    Tổng số

    học sinh

    Số học sinh

    trả lời đúng

    Số học sinh

    trả lời sai

    Số học sinh

    không trả lời được

    25 em

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    10

    40

    10

    40

    5

    20

    Chỉ có 10 em trả lời đúng, 10 em chưa xác đinh được các hình ảnh so sánh, còn 5 em không hiểu gì.

    Đứng trước thực trạng trên, bản thân tôi rất trăn trở. Làm thế nào để giúp học sinh có thể nhận biết được biện pháp so sánh trong quá trình học tập. Bản thân tôi đã đưa ra một số biệp pháp để giúp các em nhận biết được biện pháp so sánh như sau:

    2.3. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    2.3.1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về biện pháp tu từ so sánh.

    a) Về nội dung, yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng.

    *) Néi dung vÒ “biện pháp so sánh” trong phân môn Luyện từ và câu ë ch­¬ng tr×nh Tiếng Việt lớp 3.

    Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: “Luyện từ và câu”. Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 – Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài với các nội dung sau:

    – So sánh: Sự vật – Sự vật.

    Ví dụ: Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành.

    – So sánh: Sự vật – Con người.

    Ví dụ: Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    – So sánh: Âm thanh – Âm thanh.

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ, bóng lòng hoa.

    – So sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Ví dụ: Con voi đen lông mượt

    Chân đi như đạp đất.

    *) Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng:

    – Tìm được những sự vật được so sánh với nhau câu văn, câu thơ.

    – Tìm được hình ảnh so sánh trong câu văn, câu thơ.

    – Nhận biết được các từ chỉ sự so sánh.

    – Nắm được các kiểu so sánh: So sánh hơn kém ; so sánh sự vật với con người ; so sánh âm thanh với âm thanh ; so sánh hoạt động với hoạt động.

    – Nêu được các từ so sánh.

    – Điền từ ngữ vào câu có hình ảnh so sánh.

    b) Biện pháp tu từ so sánh:

    So sánh là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó, để hiểu rõ hơn đối tượng được nói đến.

    So sánh bao gồm:

    – Đối tượng được so sánh

    – Phương diện so sánh

    – Từ biểu thị quan hệ so sánh ( như, như thể, như là, giống, giống như, tựa như, không khác gì, bằng, là, chẳng bằng )

    – Đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    So sánh có tác dụng như sau:

    – Về nhận thức: Qua so sánh, đối tượng nói đến được hiểu rõ hơn.

    – Về biểu cảm: Hình ảnh so sánh làm tăng thêm tính biểu cảm cho câu văn.

    Bài tập về so sánh có hai loại nhỏ :

    – Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh

    – Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh

    2.3.2. H­íng dÉn häc sinh c¸ch häc tõng m¹ch kiÕn thøc vÒ so sánh th«ng qua c¸c bµi tËp cô thÓ.

    Sách Tiếng Việt lớp 3 không trực tiếp giới thiệu khái niệm so sánh ( với tư cách là một biện pháp tu từ ) cho học sinh, mà thông qua hàng loạt bài tập, dần dần hình thành ở học sinh khái niệm này. Hình thức bài tập thường là nêu câu văn, câu thơ, đoạn văn trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong câu văn, câu thơ, đoạn văn ấy.

    Chính vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh thông qua các bài tập cụ thể.

    a) Kiểu so sánh: Sự vật – Sự vật.

    Dạng bài tập này được cung cấp đan xen trong 4 tuần : Tuần 1, 3 , 9 và 15 với các bài tập cụ thể như sau:

    * Ví dụ:

    a. “Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành”

    (Huy Cận)

    b. “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    (Vũ Tú Nam)

    c. “Cánh diều như dấu á

    Ai vừa tung lên trời”

    (Lương Vĩnh Phúc)

    d. “Ơ cái dấu hỏi

    Trông ngộ ngộ ghê

    Như vành tai nhỏ

    Hỏi rồi lắng nghe”

    (Phạm Như Hà) – (Bài tập SGK-trang 8)

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    Thanh Hải

    b. Em yêu nhà em

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa sao xuyến nở

    Như mây từng chùm.

    Tô Hà

    c. Mùa đông

    Trời là cái tủ ướp lạnh

    Mùa hè

    Trời là cái bếp là nung

    Lò Ngân Sủn

    d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

    Đất nước ngàn năm.

    (Bài tập SGK-trang 25)

    Bài 3 : Ghi lại những sự vật được so sánh với nhau trong những câu sau :

    a. Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ, sáng long lanh. ( Ngô Quân Miện)

    b. Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn.

    (Ngô Quân Miện)

    c. Người ta thấy con rùa lớn, đầu to như trái bưởi, nhô lên khỏi mặt nước.

    (Bài tập SGK-trang 69)

    Cách dạy loại bài tập này, trước hết giáo viên cho một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập. Các em khác vừa nghe, vừa nhìn vào bài tập trong sách giáo khoa. Ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ nhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn. Sau bước nhận biết sơ bộ đó, giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào phân tích từng trường hợp, tìm các sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh so sánh theo yêu cầu của bài tập.

    Với dạng bài tập này tôi thường hướng dẫn học sinh làm theo các bước sau :

    – Đọc yêu cầu bài tập. Lưu ý đọc toàn bộ bài tập

    – Hướng dẫn HS phân tích yêu cầu.

    + Bài tập yêu cầu làm gì ?

    + Để tìm được các sự vật, hình ảnh được đem ra so sánh em cần làm gì ?

    (Đọc kĩ yêu cầu và các câu văn câu thơ đề tìm các sự vật, các hình ảnh được đem ra so sánh)

    – Tìm sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh được so sánh.

    Lưu ý HS : Đã gọi là so sánh thì phải có ít nhất 2 sự vật hoặc 2 hình ảnh trở lên được đem ra để so sánh.

    – Kết luận : Giáo viên kết luận và phân tích rõ để HS hiểu và tự làm lại được bài tập nếu sai.

    Theo cách làm này HS sẽ tìm được những sự vật hoặc những hình ảnh được so sánh với nhau theo yêu cầu của bài tập : Cụ thể là :

    1. Bài tập 2 – trang 8

    a. hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành.

    b. mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng lồ.

    c. cánh diều được so sánh với dấu á.

    d. dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ.

    Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với “Hoa đầu cành” hay vì sao nói “Mặt biển” như “tấm thảm khổng lồ”? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn:

    + Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

    + Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.

    + Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.

    + Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai.

    Hai bàn tay

    Hoa đầu cành

    Dấu hỏi

    Vành tai

    2. Bài tập 1 – trang 25

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    b. Hoa sao xuyến nở như mây từng chùm.

    c. Trời là cái tủ ướp lạnh / Trời là cái bếp lò nung

    d. Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng

    3. Bài tập 2 – trang 69

    a. Hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ

    b. Cầu Thê Húc cong cong như con tôm

    c. Đầu (con rùa) to như trái bưởi

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Nhận biết được sự vật hoặc hình ảnh được đem ra so sánh.

    – Để so sánh được cần phải có ít nhất hai sự vật hoặc hai hình ảnh trở lên trong cùng một ví dụ.

    – Từ để so sánh trong kiểu so sánh sự vật với sự vật là: như, là, tựa

    b) Kiểu so sánh hơn kém:

    Bước đầu sách giáo khoa chỉ cung cấp cho HS làm quen với kiểu so sánh này nên có rất ít trong chương trình.

    Ví dụ : Bài tập – trang 42, 43

    Tìm các hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau :

    a. Bế cháu ông thủ thỉ

    – Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    (Phạm Cúc)

    b. Ông trăng tròn sáng tỏ

    Soi rõ sân nhà em

    Trăng khuya sáng hơn đèn

    Ơi ông trăng sáng tỏ

    (Trần Đăng Khoa)

    Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    (Trần Quốc Minh)

    Ở phần này khi kết luận cần cho HS nhận biết được các từ so sánh trong các khổ thơ để khắc sâu cho HS và giúp HS dễ dàng nhận biết được đó chính là kiểu so sánh hơn kém.

    Từ các bước làm trên HS tìm được các hình ảnh so sánh và kiểu so sánh cụ thể là :

    Hình ảnh so sánh

    Kiểu so sánh

    a. Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    hơn kém

    ngang bằng

    ngang bằng

    b. Trăng khuya sáng hơn đèn

    hơn kém

    c.Những ngôi sao thức chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    hơn kém

    ngang bằng

    Lưu ý: Trong câu “Trăng khuya sáng hơn đèn” HS sinh gạch dưới từ trăng hoặc cả cụm từ trăng khuya đều được xem là đúng. Hay trong câu

    “Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    HS có thể gạch dưới Những ngôi sao hay Những ngôi sao thức ngoài kia, mẹ hay mẹ đã thức vì chúng con đều được. Điều quan trọng là trong mỗi cụm từ đều có các từ nòng cốt : trăng, những ngôi sao, mẹ là được.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Các hình ảnh được so sánh trong câu thơ.

    – Các từ so sánh: là – hơn – chẳng bằng

    – Kiểu so sánh: hơn kém, ngang bằng.

    c) Kiểu so sánh: Sự vật – Con người.

    Dạng của mô hình so sánh này là:

    A như B: + A có thể là con người.

    + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    Với kiểu so sánh này tôi hướng dẫn HS nắm được yêu cầu của đề bài; tìm các hình ảnh so sánh; nhận biết về kiểu so sánh.

    a. Trẻ em như búp trên cành

    Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan

    (Hồ Chí Minh)

    b. Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với rời xanh

    (Đồng Xuân Lan)

    c. Cây pơ-mu đầu dốc

    Im như người lính canh

    Ngựa tuần tra biên giới

    Dừng đỉnh đèo hí vang

    (Nguyễn Thái Vận)

    d. Bà như quả ngọt chín rồi

    Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng.

    (Võ Thanh An)

    Với dạng bài tập này học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được “Vì sao?”. Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:

    Giáo viên cho học sinh xem ảnh chụp búp trên cành và giải thích thêm:

    Trẻ em” giống như “búp trên cành”. Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống, chứa chan niềm hy vọng.

    Cây pơ- mu cao lơn đứng hiên ngang như người lính dũng cảm đứng canh gác giữa bầu trời.

    “Bà” sống đã lâu, tuổi đã cao giống như “quả ngọt chín rồi” đều phát triển đến độ già dặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi khắc sâu cho HS về:

    – Các hình ảnh so sánh có trong câu thơ, câu văn, chỉ rõ cho HS biết hình ảnh nào chỉ sự vật hình ảnh nào chỉ người.

    – Từ so sánh là từ như

    – Kiểu so sánh: Sự vật với con người

    d) Kiểu so sánh: Âm thanh – Âm thanh:

    Mô hình này có dạng sau:

    A như B: + A là âm thanh thứ 1.

    + B là âm thanh thứ 2.

    * Ví dụ: Bài tập 2 – trang 80

    a. “Côn Sơn suối chảy rì rầm

    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

    (Nguyễn Trãi)

    b. Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    c. Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng. Chim đầu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. (Đoàn Giỏi)

    Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ “như”. Chẳng hạn:

    Âm thanh thứ nhất

    Từ so sánh

    Âm thanh thứ hai

    Tiếng suối

    Tiếng suối

    Tiếng chim

    như

    như

    như

    tiếng đàn cầm

    tiếng hát xa

    tiếng xóc những rổ tiền đồng

    Lưu ý: GV giải thích cho HS hiểu những gì ta chỉ có thể nghe được mà không cầm nắm được đó chính là âm thanh.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi vừa củng cố và mở rộng cho HS về:

    – Xác định được từ chỉ âm thanh có trong câu thơ, câu văn.

    – Từ so sánh: như

    – Kiểu so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh

    đ) Kiểu so sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Mô hình này có dạng như sau:

    + A như B.

    * Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + “Con trâu đen lông mượt

    Cái sừng nó vênh vênh

    Nó cao lớn lênh khênh

    Chân đi như đạp đất”

    (Trần Đăng Khoa)

    + “Cau cao, cao mãi

    Tàu vươn giữa trời

    Như tay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phép Tu Từ So Sánh Ôn Từ Và Câu Ở Lớp 3, 4, 5.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩn Dụ Là Gì? Có Mấy Kiểu Ẩn Dụ. Lấy Ví Dụ Các Loại
  • Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Phóng Đại Là Gì? Tìm Hiểu Về Phóng Đại Là Gì?
  • Soạn Bài Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối
  • Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối
  • Lời cảm ơn

    Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp

    đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn cùng các giảng viên trong khoa Sư phạm

    Tiểu học – Mầm non, sự quan tâm và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà

    trường.

    Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Mai Thị Liên

    Giang, người luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để

    em hoàn thành tốt đề tài này.

    Mặc dù đề tài đã hoàn thành nhưng không thể không tránh khỏi những

    thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên góp ý, bổ sung để

    đề tài được hoàn thiện hơn.

    Cuối cùng, em kính chúc quý thầy cô giáo dồi dào sức khỏe, hạnh phúc

    và thành công trong sự nghiệp trồng người.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Quảng Bình, tháng 5 năm 2022

    Tác giả

    Nguyễn Thị Phương Thúy

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

    và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công

    bố trong bất kỳ công trình nào.

    Quảng Bình, tháng 5 năm 2022

    Tác giả khóa luận

    Nguyễn Thị Phương Thúy

    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

    1. GV: Giáo viên

    2. HS: Học sinh

    3. LT&C: Luyện từ và câu

    4. SGK: Sách giáo khoa

    5. SS: So sánh

    6. THCS: Trung học cơ sở

    7. TTSS: Tu từ so sánh

    8. TV: Tiếng Việt

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………………………. 1

    2. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………… 2

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………… 4

    4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………….. 5

    5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………….. 5

    6. Đóng góp của đề tài ………………………………………………………………………… 6

    7. Cấu trúc đề tài ………………………………………………………………………………… 6

    CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG

    MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3, 4, 5 ………………………………………………………… 7

    1.1. Cơ sở lí luận ………………………………………………………………………………… 7

    1.1.1. Khái niệm về phép tu từ so sánh ……………………………………………….. 7

    1.1.2. Phân loại phép tu từ so sánh ……………………………………………………. 10

    1.1.3. Cấu tạo của phép tu từ so sánh ………………………………………………… 11

    1.1.4. Giá trị biểu đạt của so sánh tu từ ……………………………………………… 19

    1.2. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………………………………… 22

    1.2.1. Môc tiªu cña viÖc d¹y häc phÐp tu tõ so s¸nh ë lớp 3, 4, 5. ………….. 22

    1.2.2. Các dạng bài tập sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở

    lớp 3, 4, 5. ……………………………………………………………………………………. 23

    1.2.2. Nhận xét về các bài tập sử dụng phép tu từ so sánh trong môn Tiếng

    Việt ở lớp 3, 4, 5. …………………………………………………………………………… 24

    CHƯƠNG 2. PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ

    VÀ CÂU Ở LỚP 3, 4, 5 ………………………………………………………………………. 25

    2.1. Khái quát về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu qua hệ

    thống bài tập ……………………………………………………………………………………. 26

    2.2. Tìm hiểu các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ

    và câu……………………………………………………………………………………………… 39

    2.2.1. Nhóm bài tập nhận biết phép tu từ so sánh ………………………………… 40

    2.2.2. Nhóm bài tập vận dụng phép tu từ so sánh ………………………………… 45

    2.2.3. Nhận xét 2 nhóm bài tập nhận biết và vận dụng phép tu từ so sánh ở

    lớp 3, 4, 5. ……………………………………………………………………………………. 50

    CHƯƠNG 3. PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG CÁC PHÂN MÔN KHÁC

    Ở LỚP 3, 4, 5 …………………………………………………………………………………….. 54

    3.1.Phép tu từ so sánh trong phân môn Tập đọc ở lớp 3, 4, 5…………………….54

    3.1.1. Thống kê các hình ảnh so sánh trong các văn bản Tập đọc ở lớp 3, 4,

    5. ………………………………………………………………………………………………… 55

    3.1.2. Vẻ đẹp của các hình ảnh so sánh trong các bài Tập đọc ở lớp 3, 4, 5.

    …………………………………………………………………………………………………… 83

    3.2. So sánh tu từ với phân môn Tập làm văn ở lớp 3, 4, 5 ………………………. 86

    3.2.1. Các bài tập Tập làm văn ở lớp 3, 4, 5 có thể vận dụng phép tu từ so

    sánh …………………………………………………………………………………………….. 87

    3.3.2. Tìm hiểu các dạng bài tập phép tu từ so sánh trong phân môn Tập làm

    văn…………………………………………………………………………………………….. 101

    3.3. Phép tu từ so sánh trong phân môn Kể chuyện ở lớp 3, 4, 5 …………….. 109

    3.3.1. Thống kê các bài kể chuyện có hình ảnh so sánh ở lớp 3, 4, 5…….. 109

    3.3.2. Tác dụng của hình ảnh so sánh trong phân môn Kể chuyện ở lớp 3, 4,

    5. ………………………………………………………………………………………………. 120

    3.4. Đánh giá chung về 3 phân môn: Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện trong

    Môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5. ……………………………………………………………. 122

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 124

    TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………. 126

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những bộ môn giữ

    vai trò đặc biệt quan trọng. Tiếng Việt cung cấp kiến thức phổ thông về ngôn

    ngữ, về những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ… Mặt khác, Tiếng Việt hình thành kỹ

    năng, kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống của người học sinh. Do đó, môn Tiếng

    Việt có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng

    lực hoạt động ngôn ngữ thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn

    kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Với tính chất là môn học đặc thù, ngoài việc cung

    cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt nhằm phát triển năng lực

    trí tuệ, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, đồng thời môn học này

    còn hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp. Ngoài ra, việc

    dạy học tiếng Việt làm cho đời sống của mỗi con người ngày càng thay đổi theo

    chiều hướng tích cực và việc làm nên những thay đổi đó không thể không kể đến

    sự góp phần quan trọng của phép tu từ so sánh trong việc dạy học Tiếng Việt.

    Trong cuộc sống hằng ngày, khi trò chuyện, giao tiếp với những người

    xung quanh không ai không một lần sử dụng phép tu từ so sánh. “So sánh” là

    “cách nói” rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo

    văn chương. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể,

    những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe… So

    sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất,

    có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng

    tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người, giúp con người

    cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn.

    So sánh là một trong những phép tu từ phổ biến, là phương thức quan

    trọng trong việc diễn tả thế giới ngoại cảnh và thế giới nội tâm của con người.

    So sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ đến người

    đọc, mặt khác làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động và diễn đạt được mọi

    sắc thái biểu cảm cũng như bộc lộ tâm tư tình cảm một cách tế nhị và kín đáo.

    Phép tu từ so sánh gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn

    chương, góp phần mở mang tri thức, phát triển các năng lực trí tuệ, phát huy tính

    1

    tích cực trong việc viết văn, làm phong phú về tâm hồn, rèn luyện ý thức và lòng

    yêu mến sự giàu đẹp của tiếng Việt.

    Xuất phát từ vai trò và tác dụng của phép tu từ so sánh, từ mục tiêu của

    môn Tiếng Việt ở Tiểu học, ngay từ lớp 1, các bài học của sách giáo khoa đã

    đưa vào khá nhiều hình ảnh so sánh… Tuy nhiên, đến lớp 3 học sinh mới chính

    thức được học về phép tu từ so sánh và việc dạy phép tu từ so sánh cho học sinh

    ở lớp 3 cũng là cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép tu từ

    so sánh ở lớp 4, 5.

    Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt được xây dựng qua hệ thống bài

    tập. Qua bài tập học sinh sẽ hiểu bản chất của so sánh như khái niệm, cấu trúc,

    tác dụng, … trong phân môn Luyện từ và câu. Mục đích là góp phần hình thành

    cho học sinh những kỹ năng hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ. Không chỉ trong

    phân môn Luyện từ và câu mà trong các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Kể

    chuyện cũng sử dụng so sánh như một biện pháp nghệ thuật. So sánh trong các

    phân môn này khơi dậy sự hứng thú học tập, làm tăng giá trị biểu cảm của ngôn

    ngữ giúp học sinh giải mã những tác phẩm văn chương. Tuy nhiên mỗi phân

    môn đều có cách sử dụng so sánh khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm

    đó là phát triển tư duy và rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt.

    Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phép tu từ so sánh

    trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5″ làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của

    mình.

    2. Lịch sử vấn đề

    Là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến, so sánh tu từ đã được đề cập

    nhiều trong các sách văn phạm tiếng Việt trước đây và trong các giáo trình

    phong cách học tiếng Việt sau này. Trong các công trình này, so sánh tu từ mặc

    dầu được khảo sát ở những mức độ nông sâu khác nhau nhưng hầu như không

    hề có những quan niệm khác biệt để có thể gây ra những tranh luận đáng kể về

    học thuật.

    Theo tác giả Nguyễn Thế Truyền, phép tu từ so sánh xuất hiện cách đây

    2.500 năm, ngay từ khi chưa hình thành lí luận Tu từ học. Cho đến nay, trong

    phong cách học hiện đại, gần như mọi nhiệm vụ miêu tả và phân loại phép so

    2

    Tiểu học – Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Long Đại học Quảng

    Bình (2012); Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học – Khóa luận

    tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Phương Đại học Quảng Bình (2013).

    Hai khóa luận này đã trang bị kiến thức về so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đồng thời

    tập trung nghiên cứu khả năng sử dụng trong các bài tập đọc và đi sâu vào tìm

    hiểu về hệ thống các bài tập cũng như vẻ đẹp của việc sử dụng phép tu từ so

    sánh trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học.

    Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu một số tài liệu qua Internet:

    – Hiểu và dạy học phép tu từ so sánh – Sáng kiến kinh nghiệm của giáo

    viên Nguyễn Thị Thu trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm (2009 – violet.vn): Bài

    viết đề cập đến khái niệm, cấu trúc, yêu cầu, các yếu tố và các kiểu so sánh,

    đồng thời tìm hiểu dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Tiếng Việt ở

    trường THCS.

    – Rèn kỹ năng nhận biết phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 – Sáng kiến

    kinh nghiệm của giáo viên Vũ Túy Phương trường Tiểu học B Trực Đại – Nam

    Định (2009 – violet.vn): Bài viết đề cập đến cách dùng từ so sánh, phân biệt,

    biết cách so sánh tu từ, đồng thời đưa ra các phương pháp rèn luyện học sinh kỹ

    năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3.

    – Rèn kỹ năng cảm thụ văn học qua một số biện pháp tu từ – Sáng kiến

    kinh nghiệm của giáo viên Nguyễn Thị Thúy trường THCS Tam Hưng – Thanh

    Oai – Hà Nội (2010 – Luanvan.com): Bài viết hướng dẫn học sinh cách cảm thụ

    văn học qua các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ, … với các

    dạng bài tập nhằm giúp học sinh làm nổi bật nội dung và ý nghĩa của các tác

    phẩm trong quá trình học và làm bài tập.

    Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào đề cập đến phép tu từ so sánh,

    tuy nhiên chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể về

    phép tu từ so sánh trong tất cả các phân môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5.

    Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của các tác

    giả đi trước, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng

    Việt ở lớp 3, 4, 5″.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    4

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Phép tu từ so sánh trong môn Tiếng

    Việt ở lớp 3, 4, 5.

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

    – Các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu

    ở lớp 3, 4, 5.

    – Phép tu từ so sánh trong các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm

    văn ở lớp 3, 4, 5.

    4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    4.1. Mục đích nghiên cứu

    Đề tài khảo sát một số dạng bài tập về phép tu từ so sánh cho học sinh lớp

    3, 4, 5 phù hợp với mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt. Mặt khác, đề tài tổng hợp

    kiến thức về phép tu từ so sánh và biểu hiện của nó trong môn Tiếng Việt ở lớp

    3, 4, 5.

    4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải giải quyết được những

    nhiệm vụ cơ bản:

    – Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về phép tu từ so sánh nhằm tìm hiểu

    khái niệm, xây dựng cấu trúc và nội dung về phép tu từ so sánh trong môn Tiếng

    Việt ở lớp 3, 4, 5.

    – Giới thiệu, miêu tả và xây dựng một số dạng bài tập như phân tích mục

    tiêu, ý nghĩa và cách thức tổ chức thực hiện các bài tập.

    – Phân tích một số ví dụ trong các phân môn Luyện từ và câu, Tập đọc,

    Kể chuyện và Tập làm văn để làm rõ vẻ đẹp và khả năng ứng dụng của biện

    pháp tu từ so sánh.

    – Nêu phương hướng triển khai một số dạng bài tập vào quá trình thực

    hiện dạy học ở lớp 3, 4, 5. Đề tài phải trình bày được phương hướng triển khai

    một số dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5

    nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.

    5. Phương pháp nghiên cứu

    5

    Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử

    dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

    5.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp

    Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, bản

    chất, cấu trúc so sánh, từ đó nắm vững bản chất của phép tu từ so sánh trong

    môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5. Đồng thời phương pháp này còn được dùng trong

    khi phân tích một số văn bản nghệ thuật.

    5.2. Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết

    Phương pháp này được sử dụng trong quá trình khái quát cách hiểu về so

    sánh, các bài tập có sử dụng hình ảnh so sánh trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5.

    5.3. Phương pháp thống kê – phân loại

    Phương pháp thống kê – phân loại được dùng trong liệt kê, phân loại hệ

    thống bài tập, phân loại hệ thống so sánh nhằm đưa ra những con số chính xác

    về các dạng bài tập so sánh và số lượng bài tập so sánh trong sách Tiếng Việt ở

    lớp 3, 4, 5. Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo.

    6. Đóng góp của đề tài

    – Đề tài góp phần tìm hiểu thêm và khắc sâu giá trị của hệ thống so sánh

    trong chương trình Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5.

    – Đề tài miêu tả và xây dựng một số dạng bài tập về phép tu từ so sánh

    trong môn Tiếng Việt ở lớp 3, 4, 5 giúp học sinh phát triển được vốn ngôn ngữ

    cũng như cách sử dụng so sánh mang lại giá trị biểu đạt cao.

    – Nếu thành công, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên, phụ huynh

    và học sinh trong dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học. Ngoài ra, đề tài còn là một

    tài liệu bổ ích cho công tác học tập, giảng dạy của bản thân chúng tôi.

    7. Cấu trúc đề tài

    Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

    đề tài gồm có 3 chương:

    Chương 1. Cơ sở khoa học của phép tu từ so sánh trong môn Tiếng Việt ở

    lớp 3, 4, 5.

    Chương 2. Phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, 4, 5.

    Chương 3. Phép tu từ so sánh trong các phân môn khác ở lớp 3, 4, 5.

    6

    CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÉP TU TỪ SO SÁNH

    TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3, 4, 5

    1.1. Cơ sở lí luận

    Tiếng Việt cũng như mọi ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc bao gồm ba

    bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Người Việt trong giao tiếp đã lựa chọn

    và sử dụng các phương tiện thuộc ba bộ phận này một cách đặc biệt nhằm đáp

    ứng được những yêu cầu giàu âm hưởng, đậm chất tạo hình và súc tích về nội

    dung. Việc vận dụng một cách đặc biệt các phương tiện ngôn ngữ ở trong từng

    thứ tiếng là không giống nhau. Sự khác nhau đó trước hết bị quy định bởi cấu

    trúc của từng ngôn ngữ, sau nữa là do sự chi phối của từng đặc điểm tâm lý,

    truyền thống và phong tục tập quán của từng dân tộc.

    Những vấn đề xoay quanh ngôn ngữ luôn được các nhà nghiên cứu tranh

    luận, trong đó có phong cách về từ vựng – ngữ nghĩa. Và so sánh là một trong

    bảy phương tiện từ vựng – ngữ nghĩa thường gặp.

    Là một trong các biện pháp phong cách, so sánh có thể xem là thước đo,

    là cơ sở cho sự bình giá về khả năng diễn đạt của người nói. So sánh góp phần

    rèn luyện và phát triển tư duy của con người, là mảnh đất màu mỡ cho mọi cá

    nhân thể hiện tài năng sáng tạo, bản sắc riêng của mình trong diễn đạt. Chính vì

    vậy, tăng cường cho học sinh sử dụng so sánh là một trong những biện pháp để

    phát triển ngôn ngữ cho người học.

    1.1.1. Khái niệm về phép tu từ so sánh

    Trong giao tiếp hằng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để

    câu nói thêm phần thuyết phục như: “Lan cao hơn mẹ”, “Mưa như trút nước”…

    Thậm chí trong kho tàng thành ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữ

    dưới dạng so sánh: “Xấu như ma”, “Đen như cột nhà cháy”… Việc dùng thủ

    pháp so sánh giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn về những phương diện nào

    đó của sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vấn đề được đề cập

    đến.

    So sánh tu từ được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm nhiều bởi đây

    là biện pháp nghệ thuật có thể giúp người ta bày tỏ được trạng thái tâm lí, tâm tư

    7

    tình cảm, cảm xúc một cách tế nhị, tinh tế. Xung quanh vấn đề về phép tu từ so

    sánh có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phép tu từ so sánh như các

    hình thức so sánh, cấu tạo của so sánh, các kiểu so sánh, … Những kết quả đạt

    được cho thấy sự khám phá về phép tu từ so sánh hết sức phong phú. Tuy nhiên

    bên cạnh kết quả đó còn tồn tại không ít vấn đề còn đang bàn cãi, tranh luận do

    còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu. Ngay trong khái niệm

    về so sánh cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể nêu ra một vài khái niệm

    tiêu biểu về so sánh như sau:

    “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật, sự việc ra đối chiếu về một

    mặt nào đó với sự vật, sự việc khác nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác

    quan có thể nhận biết được, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt”

    . “So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với

    sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tạo nên một hình ảnh cụ thể hàm súc

    cho sự diễn đạt. Nghĩa là đem cái chưa biết, chưa rõ đối chiếu với cái đã biết để

    qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết” .

    Tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa ở giáo trình phong cách học

    Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: ” So sánh là phương thức diễn đạt

    tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một

    nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong

    nhận thức của người đọc, người nghe.” .

    Đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất phải kể đến tác giả Lê Bá Hán. Ông nêu:

    “So sánh là phương thức biểu đạt bằng ngôn ngữ từ một cách hình tượng dựa

    trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi

    bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện

    tượng kia”

    VÝ dô:

    Hå nµy réng h¬n c¸i ®Çm ë lµng

    (TV3, t.1, tr.131)

    Nòi tre đâu chịu mọc cong

    Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

    (Tre Việt Nam – Nguyễn Duy – TV4, t.1, tr.41 – NXB GD, 2012)

    Các cách so sánh này gọi là so sánh logic. Cơ sở của phép so sánh logic là

    dựa trên tính đồng nhất, đồng loại của các sự vật, hiện tượng và mục đích của sự

    so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng.

    1.1.2.2. So sánh tu từ

    So s¸nh tu tõ (cßn gäi: so s¸nh h×nh ¶nh) lµ mét biÖn ph¸p tu tõ trong ®ã

    ng−êi ta ®èi chiÕu c¸c sù vËt víi nhau miÔn lµ gi÷a c¸c sù vËt cã mét nÐt t−¬ng

    ®ång nµo ®ã ®Ó gîi ra h×nh ¶nh cô thÓ, nh÷ng c¶m xóc thÈm mü trong nhËn thøc

    ng−êi ®äc, ng−êi nghe.

    VÝ dô:

    Bµ nh− qu¶ ngät chÝn råi

    Cµng thªm tuæi t¸c, cµng t−¬i lßng vµng

    (TV3, t.1, tr.7)

    10

    Ở vÝ dô trªn, “bà” ®−îc vÝ nh− qu¶ ngät ®· chÝn, bµ cµng cã tuæi th× t×nh

    c¶m cña bµ cµng s©u s¾c, cµng ngät ngµo nh− qu¶ chÝn trªn c©y. Víi sù so s¸nh

    nµy, ng−êi ch¸u ®· thÓ hiÖn ®−îc t×nh c¶m yªu th−¬ng, quý träng cña m×nh ®èi

    víi bµ.

    Nh− vËy, điểm khác nhau cơ bản giữa hai kiểu so sánh này là tính hình

    tượng, tÝnh biÓu c¶m vµ tÝnh dÞ lo¹i cña sù vËt. Ở so sánh logic, cái được so sánh

    và cái so sánh là hai đối tượng cùng loại mà mục đích của sự so sánh này là xác

    lập sự tương đương giữa hai đối tượng. Còn trong so sánh tu từ, các đối tượng

    được đưa ra so sánh có thể cùng loại, có thể khác loại. Mục đích của so sánh này

    là nhằm diễn tả một cách có hình ảnh đặc điểm của đối tượng. Trên thực tế, có

    rất nhiều câu diễn đạt sự so sánh nhưng so sánh tu từ là phải ” nhằm diễn tả hình

    ảnh một lối tri giác mới mẽ về đối tượng”, tức là phép so sánh đó phải đạt đến

    một hình thức ổn định và có một giá trị nội dung nhất định.

    Mỗi một hình thức diễn đạt thích ứng với một hoàn cảnh, giao tiếp cụ thể.

    Việc lựa chọn cách diễn đạt là do nội dung, mục đích và hoàn cảnh giao tiếp quy

    định. Cũng như so sánh khi phân loại cần dựa vào mục đích của sự so sánh giúp

    học sinh cảm nhận tác phẩm bằng nghệ thuật ngôn từ.

    1.1.3. Cấu tạo của phép tu từ so sánh

    Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh. Theo các tác giả Đinh

    Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong cuốn giáo trình phong cách học Tiếng

    Việt, hình thức đầy đủ nhất của một phép tu từ so sánh gồm 4 yếu tố:

    + Yếu tố 1: Cái so sánh

    + Yếu tố 2: Cơ sở so sánh

    + Yếu tố 3: Mức độ so sánh

    + Yếu tố 4: Cái được so sánh

    Ví dụ:

    Mẹ về như nắng mới

    (Mẹ vắng nhà ngày bão – Đặng Hiển – TV 3, t.1, tr.32 – NXB GD, 2012)

    Yếu tố 1

    Yếu tố 2

    Yếu tố 3

    Yếu tố 4

    Mẹ

    Về

    như

    nắng mới

    11

    Trong đó, đặc điểm của từng yếu tố được trình bày cụ thể như sau:

    – YÕu tè 1: Lµ c¸i so s¸nh, ®©y lµ yÕu tè ®−îc hoÆc bÞ so s¸nh tïy theo

    viÖc so s¸nh lµ tÝch cùc hay tiªu cùc.

    Có thể khẳng định, về nguyên tắc bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có

    thể đem ra so sánh:

    + Được so sánh là người, sự vật, ví dụ:

    Mẹ về như nắng mới

    Sáng ấm cả gian nhà

    (Mẹ vắng nhà ngày bão – Đặng Hiển – TV 3, t.1, tr.32 – NXB GD, 2012)

    Trăng hồng như qủa chín

    Lửng lơ lên trước nhà

    (Trăng ơi… từ đâu đến ? – Trần Đăng Khoa – TV 4, t.2, tr.107 – NXB GD, 2012)

    + Được so sánh là hành động, ví dụ:

    Thấy anh như thấy mặt trời

    Chói chang ngó khó, trao lời khó trao

    (Ca dao)

    + Được so sánh là thuộc tính, ví dụ:

    Trong như tiếng hạc bay qua

    Đục như tiếng suối mới sa nữa vời.

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    – Yếu tố 2: Là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng

    thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò thể hiện

    thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem

    như tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị. Khi trong cấu trúc so sánh

    vắng yếu tố phương diện thì phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng

    giữa yếu tố được so sánh và yếu tố so sánh, từ đó mới có thể xác định được là đã

    thực hiện sự so sánh về phương diện nào.

    – Yếu tố 3: Là mức độ so sánh hay còn gọi là từ so sánh thường được diễn

    tả ở mức độ ngang bằng như nhau và đây được xem là yếu tố đơn giản nhất

    12

    trong cấu trúc so sánh, bao gồm các từ so sánh, từ là và cặp từ hô ứng bao

    nhiêu… bấy nhiêu.

    Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: “như, tựa, tựa như, như là,

    như thể,…”.

    Ví dụ:

    Cổ tay em trắng như ngà

    Con mắt em liếc như là dao cau

    (Ca dao)

    Từ “là” trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ như, nhưng sắc

    thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Như có sắc thái giả định, chỉ sự tương đồng về

    một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan, là có sắc thái khẳng định sự

    đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan.

    Ví dụ:

    Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay

    (Quê hương – Đỗ Trung Quân – TV 3, t.1, tr.79 – NXB GD, 2012)

    Dạng này rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu giới thiệu. Bởi lẽ, cả

    hai kiểu câu này đều có từ “là”:

    Ví dụ:

    a) Ngựa là con vật chạy rất nhanh.

    b) Trường học là ngôi nhà thứ hai của em.

    Hai câu trên, câu b là câu so sánh còn câu a là câu giới thiệu. Mặc dù hai

    câu trên đều có từ “là” theo định nghĩa trên thì câu a là câu so sánh nhưng câu

    so sánh không phải có từ so sánh là đủ mà còn có vế so sánh. Câu a nếu chữa

    thành câu “Ngựa phi nhanh như bay” thì đó là câu so sánh, vì vậy khi gặp các

    dạng bài tập này phải cẩn thận, xem xét cho kỹ nếu không sẽ bị nhầm lẫn hoặc

    dễ bị “lừa”.

    13

    – Yếu tố 4: Là cái được so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.

    Đây là yếu tố được xem là quan trọng nhất, không thể thiếu vắng được trong

    một phép so sánh vì nếu không có vế chuẩn thì không có so sánh. Không có vế

    được so sánh thì so sánh trở thành ẩn dụ. Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả

    của quá trình quan sát, liên tưởng của người nói, nó là kết quả có chọn lọc của

    người sử dụng, chính nó làm nên tính độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của

    từng cá nhân. Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu tố này có một số cấu trúc sau:

    + Nêu lên tên gọi sự vật được dùng làm chuẩn.

    Ví dụ: Má đào, tóc mây, mũi dọc dừa, mặt chữ điền, con mắt lá răm, lông

    mày lá liểu, ngón tay búp măng,…

    + Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn, ví dụ:

    Hồn tôi là một vườn hoa lá

    Rất đậm hương và rộn tiếng chim

    (Tố hữu)

    Tình anh như nước dâng cao

    Tình em như giải lụa đào tẩm hương

    (Ca dao)

    + Thể hiện nhiều sự vật khác nhau, ví dụ:

    Hồn tôi giếng ngọt trong veo

    Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

    (Nguyễn Bính)

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    (Ca dao)

    Thực tế cho thấy có rất nhiều dạng so sánh, khi xem xÐt phÐp so s¸nh,

    dựa vào cấu trúc hay ngữ nghĩa mà có thể chia thành các dạng sau đây:

    Thứ nhất: Dùa vµo cÊu tróc, cã thÓ chia ra c¸c d¹ng so s¸nh nh− sau:

    D¹ng 1: PhÐp so s¸nh ®Çy ®ñ 4 yÕu tè:

    §©y lµ d¹ng so s¸nh chuÈn v× nã cã ®Çy ®ñ c¶ 4 yÕu tè: c¸i so s¸nh, c¬ së

    so s¸nh, møc ®é so s¸nh vµ c¸i ®−îc so s¸nh.

    14

    VÝ dô:

    ¤ng hiÒn nh− h¹t g¹o

    1

    2

    3

    4

    Bµ hiÒn nh− suèi trong

    1

    2

    3

    4

    (TV3, t.1, tr.117)

    Không phải khi nào cũng dùng đầy đủ 4 yếu tố của so sánh. Để làm cho

    lời văn gọn gàng, rắn rỏi, cụ thể, sinh động, đem đến cho người đọc ấn tượng

    mới mẻ và sâu sắc về đối tượng được miêu tả, ngoài phép so sánh đầy đủ 4 yếu

    tố trên còn có dạng khuyết một số yếu tố.

    D¹ng 2: So s¸nh v¾ng yÕu tè 1:

    §©y lµ d¹ng so s¸nh khuyÕt yÕu tè 1, tøc lµ kh”ng cã c¸i so s¸nh. C¸i so

    s¸nh lµ g×, ®iÒu ®ã phô thuéc vµo sự phát hiện tinh tế và kh¶ n¨ng liªn t−ëng cña

    ng−êi ®äc, ng−êi nghe.

    VÝ dô:

    Chßng chµnh nh− nãn kh”ng quai

    Nh− thuyÒn kh”ng l¸i nh− ai kh”ng chång.

    (Ca dao)

    D¹ng so s¸nh nµy cã rÊt nhiÒu trong thµnh ng÷ so s¸nh: ®”ng nh− héi, xÊu

    nh− ma, lÆng nh− tê, ngät nh− ®−êng, sÇu nh− d−a, trong nh− th¹ch, s¹ch nh−

    s−¬ng…

    D¹ng 3: So s¸nh v¾ng yÕu tè 2:

    So s¸nh v¾ng yÕu tè 2 cßn gäi lµ so s¸nh ch×m, tøc lµ so s¸nh kh”ng cã c¬

    së so s¸nh. Th”ng th−êng, khi bít c¬ së so s¸nh th× phÇn thuyÕt minh miªu t¶ ë

    c¸i ®−îc so s¸nh sÏ râ rµng h¬n. Ngoµi ra, nã cßn t¹o ®iÒu kiÖn cho sù liªn t−ëng

    réng r·i, ph¸t huy sù s¸ng t¹o cña ng−êi ®äc, ng−êi nghe h¬n lµ so s¸nh cã ®ñ 4

    yÕu tè. D¹ng so s¸nh nµy kÝch thÝch sù lµm viÖc cña trÝ tuÖ vµ t×nh c¶m nhiÒu h¬n

    ®Ó cã thÓ x¸c ®Þnh ®−îc nh÷ng nÐt gièng nhau gi÷a 2 ®èi t−îng ë 2 vÕ vµ tõ ®ã

    nhËn ra ®Æc ®iÓm cña ®èi t−îng ®−îc miªu t¶.

    VÝ dô:

    §©y con s”ng nh− dßng s÷a mÑ

    (Vàm Cỏ Đông – Hoài Vũ – TV 3, t.1, tr.106 – NXB GD, 2012)

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Tìm Hiểu Và Vận Dụng Một Số Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Ở Tiểu Học
  • Nhân Mùa Vu Lan 2022::ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa
  • Đề Thi Bán Kì Ngữ Văn Lớp 10
  • Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy
  • Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Thơ Lưu Quang Vũ

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh: Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Và Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên Vi Phạm Pháp Luật, Bảng Giá 12/2020
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Tiet 3Bai 6Bien Phap Su Dung Cai Tao Va Bao Vedat Ppt
  • Bài 58. Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Lý Thuyết Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên Sinh 9
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    ===***===

    NGUYỄN THỊ THƢƠNG

    BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH

    TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ

    HÀ NỘI, 2022

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    ===***===

    NGUYỄN THỊ THƢƠNG

    BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH

    TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ

    TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

    TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng

    HÀ NỘI, 2022

    LỜI CẢM ƠN

    Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ

    của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, trƣờng Đại học Sƣ

    phạm Hà Nội 2. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô, đặc biệt

    là tới cô giáo TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng – ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo tận

    tình để tôi hoàn thành khóa luận này.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2022

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thƣơng

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan khóa luận “Biện pháp tu từ so sánh trong thơ Lƣu

    Quang Vũ” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của

    những ngƣời đi trƣớc, dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của cô giáo TS. Đỗ Thị

    Thu Hƣơng. Khóa luận này không trùng với bất kì công trình, tài liệu

    nghiên cứu nào đã đƣợc công bố trƣớc đó. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn

    trách nhiệm.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2022

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thƣơng

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………………………… 1

    2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………….. 2

    2.1. Nghiên cứu so sánh tu từ từ góc độ phong cách học ………………………… 2

    2.2. Nghiên cứu so sánh tu từ trong thơ Lƣu Quang Vũ …………………………. 5

    3. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………………………… 6

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………………………… 6

    5. Đối tƣợng nghiên cứu …………………………………………………………………….. 6

    6. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………….. 6

    7. Phƣơng pháp nghiên cứu ………………………………………………………………… 6

    8. Đóng góp của khóa luận …………………………………………………………………. 7

    9. Bố cục của khóa luận ……………………………………………………………………… 7

    NỘI DUNG …………………………………………………………………………………………. 8

    CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ……………………………………………………………… 8

    1.1. Biện pháp tu từ so sánh ………………………………………………………………… 8

    1.1.1. Khái niệm …………………………………………………………………………….. 8

    1.1.2. Cấu tạo của biện pháp so sánh tu từ …………………………………………. 8

    1.1.3. Phân loại …………………………………………………………………………….. 10

    1.1.4. Hiệu quả của các biện pháp tu từ so sánh ……………………………….. 12

    1.2.Vài nét về nhà thơ Lƣu Quang Vũ………………………………………………… 12

    1.2.1. Cuộc đời …………………………………………………………………………….. 12

    1.2.1.1. Gia đình và quê hƣơng ………………………………………………………. 12

    1.2.1.2. Bản thân ………………………………………………………………………….. 13

    1.2.2. Sự nghiệp ……………………………………………………………………………. 14

    1.2.3. Phong cách thơ Lƣu Quang Vũ ……………………………………………… 16

    CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH SO SÁNH TRONG THƠ LƢU

    QUANG VŨ ………………………………………………………………………………………. 18

    2.1. Kết quả khảo sát thống kê …………………………………………………………… 18

    2.2. Nhận xét kết quả thống kê ………………………………………………………….. 18

    2.3. Phân tích kết quả thống kê ………………………………………………………….. 19

    2.3.1. So sánh ngang bằng ……………………………………………………………… 19

    2.3.1.1. Mô hình “A nhƣ B” …………………………………………………………… 19

    2.3.1.2. Mô hình “A là B” ……………………………………………………………… 27

    2.3.1.3. Mô hình “A nhƣ B1,B2,…, Bn” …………………………………………….. 31

    2.3.1.4. Mô hình “A là B1, B2,…, Bn”………………………………………………. 35

    2.3.1.5. Mô hình “Nhƣ BA” …………………………………………………………… 39

    2.3.1.6. Mô hình “A-B” (từ so sánh bị triệt tiêu) ………………………………. 40

    2.3.2. So sánh không ngang bằng ……………………………………………………. 41

    2.3.2.1. Mô hình “A thua B” ………………………………………………………….. 42

    2.3.2.2. Mô hình”A hơn B” ……………………………………………………………. 43

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 45

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Văn chƣơng là nghệ thuật ngôn từ, điều đó quả thực là đúng đắn. Tác

    phẩm văn học là bức tranh phản ánh cuộc sống nhƣng không phải là sự sao

    chép cuộc sống một cách nô lệ, nó đƣợc tạo nên bởi những gì tinh túy nhất,

    đẹp đẽ nhất của cuộc đời. Thông qua tác phẩm văn học, ngƣời nghệ sĩ muốn

    bộc lộ tƣ tƣởng, tình cảm, cảm xúc của mình trƣớc cuộc đời, trƣớc thế giới

    vạn vật.

    Sức mạnh của tác phẩm văn chƣơng chính là ở việc vận dụng ngôn ngữ

    một cách điêu luyện, tài hoa của mỗi nhà văn, nhà thơ. Tuy nhiên, trong thực

    tế, lớp vỏ ngôn ngữ thì hữu hạn mà tình cảm, cảm xúc thì vô hạn. Để giải

    quyết mâu thuẫn ấy, ngƣời nghệ sĩ ngôn từ luôn biết cách tìm đến và khai thác

    năng lực biểu cảm đặc biệt của các phƣơng tiện và biện pháp tu từ để biểu

    hiện tối ƣu ý tƣởng nghệ thuật của mình. Trong nhiều phƣơng tiện và biện

    pháp tu từ tiếng Việt thì so sánh đƣợc coi là biện pháp tu từ đƣợc sử dụng

    rộng rãi và có giá trị nghệ thuật to lớn. Chính vì vậy, việc tìm hiểu biện pháp

    tu từ so sánh là một hƣớng tiếp cận đúng để chúng ta thấy cái hay cái đẹp của

    tác phẩm văn học và tài năng của ngƣời nghệ sĩ dƣới cái nhìn từ góc độ ngôn

    ngữ nghệ thuật.

    Trong văn chƣơng, biện pháp tu từ so sánh đƣợc ngƣời nghệ sĩ sử dụng

    với tần số cao để biểu hiện những cảm xúc, những suy nghĩ, đánh giá của

    mình trƣớc sự vật, sự việc thể hiện trong tác phẩm. Từ đó giúp ngƣời đọc hiểu

    rõ hơn về bản chất, đặc điểm của sự vật, sự việc, nhận thức một cách sâu sắc

    và biểu cảm về đối tƣợng chƣa biết. Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu về biện pháp

    nghệ thuật này trong thơ là một nhiệm vụ cần thiết đối với những ngƣời dạy

    và học Ngữ văn nói chung.

    1

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    1.2. Phần lớn mọi ngƣời biết đến Lƣu Quang Vũ với tƣ cách là một nhà

    viết kịch tài hoa, nổi tiếng với các vở nhƣ: Hồn Trƣơng Ba da hàng thịt, Tôi

    và chúng ta, Ông không phải bố tôi… . Song ít ai biết rằng thơ mới chính là

    địa hạt, là miền sâu thẳm, là đời sống của Lƣu Quang Vũ. Có thể nói rằng đọc

    thơ Lƣu Quang Vũ có cảm giác ông viết kịch để sống với mọi ngƣời và làm

    thơ để sống với riêng mình, chính mình. Hay nhƣ nhà thơ Vũ Quần Phƣơng,

    ngƣời thơ cùng thế hệ với Lƣu Quang Vũ: “Thơ mới là nơi anh kí thác nhiều

    nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng đƣợc thời gian”. Thậm chí

    Bằng Việt còn cho rằng: “Dù nhiều ngƣời nhận định kịch của Lƣu Quang Vũ

    vƣợt xa hơn thơ anh ấy nhƣng tôi vẫn tin rằng trong kịch của Lƣu Quang Vũ

    đầy chất thơ”.

    So sánh là biện pháp tu từ không chỉ đƣợc sử dụng phổ biến trong văn

    học Việt Nam – văn học dân gian mà trong thơ hiện đại, biện pháp so sánh lại

    đƣợc vận dụng với nhiều sắc diện mới. Lƣu Quang Vũ – một nhà thơ luôn

    muốn cảm nhận cuộc sống trong cái tƣờng tận của không gian, của thời gian

    và của mỗi sự việc thƣờng nhật. Có thể nói, so sánh là một biện pháp nghệ

    thuật đặc sắc và chủ đạo trong thơ Lƣu Quang Vũ khiến cho thơ Lƣu Quang

    Vũ giàu tính tạo hình.

    Xuất phát từ hai lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp tu từ so

    sánh trong thơ Lƣu Quang Vũ” chọn đề tài này, chúng tôi nhằm tự trang bị và

    rèn luyện cho mình năng lực nghiên cứu khoa học, kĩ năng tƣ duy và phân

    tích vấn đề, góp phần vào công việc học tập và giảng dạy sau này.

    2. Lịch sử vấn đề

    2.1. Nghiên cứu so sánh tu từ từ góc độ phong cách học

    Ở lĩnh vực ngôn ngữ, đặc biệt là lĩnh vực phong cách học xem xét về

    biện pháp tu từ so sánh phải kể đến tác giả sau:

    2

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Tác giả Đinh Trọng Lạc trong giáo trình ” Phong cách học tiếng Việt”

    đã dành những trang viết, dành cả một chuyên mục về biện pháp so sánh tu

    từ. Tác giả viết: Trong văn chƣơng, so sánh là phƣơng thức tạo hình phƣơng

    thức gợi cảm. Nói đến văn chƣơng là nói đến so sánh… A-Phơrăngxơ một lần

    định nghĩa ” Hình tƣợng là gì? Chính là sự so sánh…” Gô-lúp “Hầu nhƣ bất

    cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh”.

    Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì ngƣời thƣờng

    không nhìn ra; không nhận thấy”. Không phải ngẫu nhiên mà Chế Lan Viên

    khen thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ” Một vị chủ tịch nƣớc mà có đƣợc một

    so sánh: Tiếng suối trong nhƣ tiếng hát xa”. . Nếu nói so sánh nói chung thì điều ấy có lý. Nhƣng không phải

    mọi so sánh đều cụ thể, đều lấy một hình ảnh cụ thể hơn để miêu tả một hình

    ảnh chƣa đƣợc cụ thể.

    Chẳng hạn:

    – Vui nhƣ mở cờ trong bụng

    – Xanh nhƣ chàm đổ

    Các thành ngữ trên có vẻ là cụ thể.

    Hoặc:

    – Trong nhƣ tiếng hạc bay qua

    (Nguyễn Du)

    – Tiếng hát trong nhƣ suối Ngọc Tuyền

    Êm nhƣ gió thoảng cung tiên

    (Thế Lữ)

    Nào ai đã một lần thấy hạc bay qua, “suối Ngọc Tuyền”, “cung tiên”…

    để mà nói cụ thể. Ở đây chỉ là sự gợi cảm và hứng thú đƣợc một lần bay bổng

    3

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    trong tƣởng tƣợng. Ấy vậy mà vẻ đẹp chiếm lĩnh tâm hồn ta làm cho hình

    tƣợng thêm đẹp, ta có cảm giác thêm cụ thể mà thôi. Ngôn ngữ nghệ thuật là

    ngôn ngữ của sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp ta bay vào thế

    giới của cái đẹp, của tƣởng tƣợng hơn là đến ngƣỡng của logic học.

    Tác giả còn viết “Tìm đƣợc một điều so sánh đâu có phải dễ dàng, vì

    đó là tâm hồn, tài năng nghệ thuật”

    Theo Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa: Phƣơng

    thức so sánh là một hình thức biểu hiện đơn giản nhất của lời nói hình ảnh. Về

    mặt hình thức, so sánh khác với tất các cách chuyển nghĩa, ở chỗ bao giờ

    cũng gồm có hai đối tƣợng lập thành hai vế, các đối tƣợng này có thể là sự

    vật, tính chất hay hành động. Hai đối tƣợng đƣợc gắn với nhau để tạo nên một

    hình thức so sánh.

    Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” định

    nghĩa nhƣ sau: “So sánh là phƣơng thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối

    chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tƣơng đồng nào đó để

    gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của ngƣời

    đọc, ngƣời nghe”

    Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, trong trƣờng hợp này chúng tôi

    chọn định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc.

    1.1.2. Cấu tạo của biện pháp so sánh tu từ

    So sánh thực chất là sự đối chiếu giữa một hình ảnh này hoặc hình ảnh

    kia hay một vài hình ảnh khác không giống nhau về phạm trù nhƣng dựa vào

    liên tƣởng mà ngƣời ta có thể tìm ra những nét tƣơng đồng nào đó về mặt

    8

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    nhận thức hoặc tâm lý. Một phép so sánh đúng đắn nhất bao giờ cũng phải

    thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

    – Đối tƣợng đƣa ra so sánh là khác loại.

    – Giữa hai đối tƣợng phải có nét tƣơng đồng để so sánh.

    So sánh bao giờ cũng phải dựa vào hai đối tƣợng khác phạm trù nhau

    tạo thành hai vế: Vế A và vế B. Giữa hai vế bao giờ cũng có từ làm công cụ

    so sánh.

    Mô hình cấu tạo chung: A x B (x là từ so sánh)

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ

    tiếng Việt” thì mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh bao gồm 4 yếu tố:

    – Yếu tố 1: Yếu tố đƣợc hoặc bị so sánh tùy theo so sánh là tích cực hay

    tiêu cực.

    -Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động

    có vai trò nêu rõ ràng biện pháp so sánh.

    – Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.

    – Yếu tố 4: Yếu tố đƣợc đƣa ra làm chuẩn để so sánh.

    Nhƣng trên thực tế, nhiều mô hình chung A x B không có đầy đủ cả 4

    yếu tố trên, chính vì vậy mà biện pháp so sánh đƣợc chia ra làm : So sánh tu

    từ nổi và so sánh tu từ chìm.

    + So sánh tu từ nổi:

    Nét tƣơng đồng, cơ sở của sự so sánh đƣợc thể hiện ra bằng những từ

    ngữ cụ thể mà ngƣời đọc và ngƣời nghe dễ nhận thấy.

    Ví dụ:

    Các chóp mái đều lƣợn rập rờn nhƣ các nếp sóng bạc đầu.

    (Nguyễn Tuân)

    + So sánh tu từ chìm:

    9

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Nét tƣơng đồng, cơ sở của sự so sánh không đƣợc thể hiện ra bằng

    những từ ngữ cụ thể mà ngƣời đọc và ngƣời nghe tự liên hội để tìm ra.

    So sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tƣởng rộng rãi hơn so với

    so sánh tu từ nổi, nó tác động đến sự tƣởng tƣợng của trí tuệ và tình cảm

    nhiều hơn để tìm tòi và phát hiện đƣợc nét giống nhau giữa các đối tƣợng của

    hai vế.

    Ví dụ:

    Gái thƣơng chồng, đƣơng đông buổi chợ…

    (Ca dao)

    1.1.3. Phân loại

    Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ tiếng

    Việt”, căn cứ vào từ ngữ dùng làm yếu tố thể hiện quan hệ so sánh, có thể

    chia ra các hình thức so sánh sau đây:

    + Yếu tố thứ 3 là từ “nhƣ” (tựa nhƣ, chừng nhƣ…)

    + Yếu tố thứ 3 là từ hô ứng (bao nhiêu…bấy nhiêu)

    + Yếu tố thứ 3 là từ “là”

    Nếu thay từ “là” bằng từ “nhƣ” thì nội dung cơ bản không thay đổi chỉ

    thay đổi về sắc thái ý nghĩa từ sắc thái khẳng định chuyển sang sắc thái giả

    định.

    Theo giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” do Đinh Trọng Lạc chủ

    biên, so sánh tu từ đƣợc phân chia theo các hình thức sau:

    + Hình thức đầy đủ gồm cả 4 yếu tố của phép so sánh tu từ.

    + Đảo ngƣợc trật tự so sánh.

    + Bớt cơ sở, thuộc tính so sánh. Thông thƣờng, khi bớt cơ sở so sánh thì đƣợc

    thuyết minh miêu tả ở phần đƣợc so sánh.

    + Bớt từ so sánh.

    + Thêm “bao nhiêu”, “bấy nhiêu”.

    10

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    + Dùng từ “là” làm từ so sánh. Đây là loại so sánh ẩn dụ, gọi nhƣ vậy là vì

    “là” có chức năng liên hệ so sánh ngầm mà không phải “là” trong kiểu câu

    tƣờng giải khái niệm.

    Sách giáo khoa Ngữ văn 6, chƣơng trình cơ bản phân chia so sánh

    thành hai loại:

    + A nhƣ B (so sánh ngang bằng)

    + A không nhƣ (hơn, kém, không bằng) B (so sánh không ngang bằng)

    Trên cơ sở phân loại của các tác giả đi trƣớc, chúng tôi tiến hành phân

    loại so sánh tu từ thành các loại sau đây:

    – So sánh ngang bằng gồm các kiểu sau:

    + A nhƣ B

    + A nhƣ B1, B2,…, Bn

    + A cũng nhƣ B

    + A tựa B

    + A là B

    + A là B1, B2,…, Bn

    + A B (Từ so sánh bị triệt tiêu)

    + Nhƣ BA

    + A bao nhiêu B bấy nhiêu

    – So sánh không ngang bằng gồm các kiểu sau:

    + A thua B

    + A hơn B

    Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Bằng con đƣờng so

    sánh, nhà văn có thể phát hiện ra rất nhiều đặc điểm, thuộc tính của một đối

    tƣợng, hiện tƣợng. Do đó, so sánh là biện pháp nghệ thuật quan trọng, góp

    phần tạo cho ngƣời đọc những ấn tƣợng thẩm mĩ hết sức phong phú.”

    Pao-lơ đã tổng kết: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức” (theo Đinh

    Trọng Lạc)

    Một cách khái quát, biện pháp tu từ so sánh giúp chúng ta có thể hiểu

    một cách sâu sắc và toàn diện về sự vật, sự việc. So sánh tu từ làm tăng thêm

    tính gợi hình ảnh và tính biểu cảm cho câu văn câu thơ. Đồng thời, so sánh

    cũng là một biện pháp để giúp chúng ta bày tỏ lòng yêu ghét, khen chê, thái

    độ khẳng định hoặc phủ định đối với sự vật.

    Do chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm cùng với sự cấu tạo

    đơn giản cho nên so sánh đƣợc dùng nhiều trong phong cách ngôn ngữ sinh

    hoạt hằng ngày, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ

    thuật.

    1.2.Vài nét về nhà thơ Lƣu Quang Vũ

    1.2.1. Cuộc đời

    1.2.1.1. Gia đình và quê hương

    Lƣu Quang Vũ sinh ngày 17/4/1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa,

    tỉnh Phú Thọ nhƣng quê gốc ở thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Ông là

    con trai nhà viết kịch Lƣu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh. Có thể nói, gia

    đình và quê hƣơng chính là cái nôi nuôi dƣỡng tài năng Lƣu Quang Vũ nảy

    nở và phát triển.

    Cha ông – nhà viết kịch Lƣu Quang Thuận đồng thời cũng là một nhà

    thơ tài hoa. Chính ông là một tính cách thơ đằm thắm, dạt dào và mặn mà nhƣ

    biển Đà Nẵng quê ông. Lƣu Quang Vũ mang nợ thơ từ trong huyết thống.

    Ngay thuở mới lên năm, lên sáu nhà thơ Lƣu Quang Thuận đã sớm phát hiện

    12

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    ra tâm hồn đa cảm, tài hoa nơi đứa con trai đầu lòng của mình, và ông “đã tin

    chắc rằng sau này lớn lên con trai của mình sẽ trở thành thi sĩ”. (Lƣu Quang

    Vũ – Thơ và đời)”. Còn mẹ ông là một ngƣời phụ nữ tần tảo, đảm đang, giàu

    lòng yêu thƣơng và đức hy sinh. Bà đã để lại trong tâm trí Lƣu Quang Vũ

    những hình ảnh ngọt ngào của tuổi thơ “mải chơi trốn học”, “những tối mẹ

    ngồi khâu lại áo”. Đó là những kỉ niệm một thời không thể quên đã in dấu

    trong các sáng tác của Lƣu Quang Vũ sau này.

    Hình thành nên diện mạo và phong cách thơ Lƣu Quang Vũ còn bởi

    vùng trung du Bắc Bộ – thôn Chu Hƣng “ấm những ngày gian khổ khó quên

    nhau”. Chính ở nơi đây, Lƣu Quang Vũ đƣợc sinh ra trong mối tình nồng

    thắm của cha mẹ và sự yêu thƣơng, bao bọc của làng xóm. Vì thế cái tên

    “Chu Hƣng” đi vào trong thơ Lƣu Quang Vũ một cách rất giản dị tự nhiên

    không chỉ nhƣ một địa danh, một nơi chôn nhau cắt rốn mà còn nhƣ nguồn

    cội sáng tạo đời thơ Lƣu Quang Vũ.

    1.2.1.2. Bản thân

    Tuổi thơ Lƣu Quang Vũ sống cùng cha mẹ tại Phú Thọ. Khi hòa bình

    lặp lại (1954) gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.

    Từ 1965 đến 1970, Lƣu Quang Vũ nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng

    phòng không không quân. Đây là thời kì thơ Lƣu Quang Vũ bắt đầu nở rộ

    Từ 1970 đến 1978, ông xuất ngũ và làm đủ thứ nghề để mƣu sinh, làm

    ở xƣởng cao su Đƣờng sắt, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải Phóng, chấm

    công cho một đội cầu đƣờng, vẽ pa – nô, áp phích…

    Từ 1978 đến 1988, Lƣu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí sân khấu,

    băt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” (đƣợc trao

    tặng Huy chƣơng Vàng Hội diễn viên sân khấu năm 1980).

    13

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Lƣu Quang Vũ kết hôn hai lần. Lần thứ nhất với diễn viên điện ảnh Tố

    Uyên năm 1969. Hai ngƣời li dị năm 1972. Ông kết hôn lần hai với nữ sĩ

    Xuân Quỳnh năm 1973.

    Giữa lúc tài năng đang độ chín, Lƣu Quang Vũ qua đời trong một tai

    nạn ô tô trên quốc lộ 5 tại Hải Dƣơng, cùng với ngƣời bạn đời là nhà thơ

    Xuân Quỳnh và con trai Lƣu Quỳnh Thơ (29/8/1988).

    Cuộc sống của Lƣu Quang Vũ tuy ngắn ngủi nhƣng ông đã sống và làm

    việc hết mình, đã có những đóng góp không nhỏ cho đời sống văn học dân tộc

    ở nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, kịch… Thơ Lƣu Quang Vũ không chỉ bay

    bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Các vở kịch, truyện

    ngắn, thơ của Lƣu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng nhƣ in

    đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông.

    Năm 2000, Lƣu Quang Vũ đƣợc trao tặng giải thƣởng Hồ Chí Minh về

    Văn học nghệ thuật.

    1.2.2. Sự nghiệp

    Thiên hƣớng và năng khiếu nghệ thuật của Lƣu Quang Vũ đã sớm bộc

    lộ từ nhỏ.

    Năm 13 tuổi, cậu bé Vũ đã giành đƣợc giải thƣởng của thành phố về cả

    văn và họa.

    Năm 17 tuổi, Lƣu Quang Vũ nhập ngũ, đƣợc biên chế về biên chủng

    phòng không không quân. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong cuộc đời

    anh. Anh sáng tác rất nhiều thơ. Chùm thơ đầu tay: “Gửi tới các anh, Lá bƣởi

    lá chanh, Đêm hành quân” đƣợc in trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Và đặc

    biệt, bằng sự xuất hiện trên văn đàn với phần thơ “Hƣơng cây” in chung với

    Bằng Việt trong tập thơ “Hƣơng cây – Bếp lửa” khi anh tròn 20 tuổi thì Lƣu

    Quang Vũ nhanh chóng đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà thơ trẻ tài năng

    đầy triển vọng.

    14

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hình Ảnh Và Biện Pháp So Sánh Trong Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ Tiếng Hát Con Tàu Của Chế Lan Viên
  • Phân Tích Hình Ảnh So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Phân Tích Các Hình Ảnh So Sánh Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học Hay Nhất
  • Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Sự Kín Đáo Trong Chính Sách Bảo Hộ Thương Mại Của Mỹ
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Số lượt đọc bài viết: 48.281

    Mục đích của biện pháp tu từ là gì? – So với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ giúp tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm.

    Bên cạnh việc nắm được khái niệm biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ về vai trò của biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật. Trong tiếng Việt, hình thức của biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng. Hầu hết trong các văn bản nghệ thuật đều rất chú trọng sử dụng biện pháp tu từ để tăng tính nghệ thuật cho tác phẩm.

    Trong một đoạn văn, có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau tùy mục đích biểu đạt, biểu cảm của tác giả. Việc sử dụng biện pháp tu từ góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân trong tác phẩm.

    Một số biện pháp tu từ về từ

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ bao gồm biện pháp tu từ về từ và biện pháp tu từ về cấu trúc. Bạn không chỉ biết được biện pháp tu từ là gì mà cũng cần lưu tâm đến các hình thức của tu từ. Biện pháp tu từ về từ rất phong phú, thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm:

    • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ so sánh là gì? So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt. Các phép so sánh đều lấy cái cụ thể để so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn. Việc này giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
    • Biện pháp so sánh còn giúp cho câu văn gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng hơn. Mục đích của sự so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau. Mà để nhằm diễn tả hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh động.
    • Trong cách nói thường ngày người Việt Nam thường dùng biện pháp so sánh để ví von: Đẹp như tiên giáng trần, hôi như cú, vui như tết, xấu như ma…Còn trong nghệ thuật, biện pháp so sánh được sử dụng như biện pháp tu từ với thế mạnh đặc biệt khi gợi hình, gợi cảm. Đôi khi là có những so sánh bất ngờ, thú vị, góp phần cụ thể hóa được những điều hết sức trừu tượng, khó cân đo, đong đếm.

    Cấu tạo của một phép so sánh gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu nhận biết phép so sánh

    Dấu hiệu của phép so sánh: để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    • Có chứa các từ so sánh như: như, giống như, như là, bao nhiêu….bấy nhiêu, không bằng….
    • Nội dung: có 2 sự vật có điểm tương đồng được so sánh với nhau

    Ví dụ về biện pháp so sánh

    Trẻ em như búp trên cành

    Các kiểu so sánh thường gặp

    • So sánh bao gồm: so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng
    • So sánh ngang bằng: So sánh ngang bằng còn gọi là so sánh tương đồng, thường được thể hiện qua các từ như là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu…bấy nhiêu. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • hông bằng, chẳng bằng… Ví dụ: “So sánh không ngang bằng: So sánh không ngang bằng còn gọi là so sánh tương phản, thường sử dụng các từ như hơn, hơn là, kém, kém gì, k Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ nhân hóa là gì? Đây là một trong các biện pháp tu từ ngữ âm với cách gọi, cách tả con vật, cây cối, đồ vật … bằng những từ ngữ được dùng để gọi hoặc tả con người như hành động, suy nghĩ, tính cách.

    Tác dụng của biện pháp nhân hóa

    Nhân hóa khiến sự vật, sự việc trở nên sinh động, gần gũi với đời sống con người. Biện pháp nhân hóa cũng đem lại cho lời thơ, văn có tính biểu cảm cao.

    Phân loại biện pháp nhân hóa

    • Dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi vật (ví dụ: chị ong, chú gà trống, ông mặt trời,…)
    • Dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của con người để chỉ hoạt động, tính chất của vật. Ví dụ: “Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm” (Tre Việt Nam).
    • Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người. Ví dụ: trâu ơi, chim ơi,….
    • Ẩn dụ hình thức: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về hình thức, ở hình thức này, người viết giấu đi một phần ý nghĩa
    • Ẩn dụ cách thức: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về hình thức, thông qua hình thức này người nói, người viết có thể đưa được nhiều hàm ý vào trong câu
    • Ẩn dụ phẩm chất: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về phẩm chất, tính chất
    • Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là hình thức miêu tả tính chất, đặc điểm của sự vật được nhận biết bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ sử dụng cho giác quan khác . Ví dụ: Trời nắng giòn tan.
    • Những bông kim ngân như thắp lên niềm hi vọng về tương lai tươi sáng.
    • Hình ảnh miền Nam luôn trong trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ hoán dụ là gì? Hoán dụ là một trong các biện pháp tu từ dùng để gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm khác; giữa chúng có quan hệ gần gũi với nhau, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt.

    Những hình thức của hoán dụ

    Các kiểu hoán dụ được sử dụng phổ biến là:

    • Lấy 1 bộ phận để gọi toàn thể: Ví dụ: anh ấy là chân sút số một của đội bóng.
    • Dùng vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng: Ví dụ: Cả khán đài hò reo, cổ vũ cho đội tuyển Việt Nam – Trường hợp này “khán đài” mang nghĩa là những người ngồi trên khán đài
    • Dùng dấu hiệu sự vật để gọi sự vật: Ví dụ: cô gái có mái tóc màu hạt dẻ đang đứng một mình dưới mưa.
    • Dùng những cái cụ thể để nói về cái trừu tượng.
    • Cứ mỗi độ hè đến thì những màu áo xanh lại đến những miền khó khăn, xa xôi.
    • Cả phòng đang lắng nghe một cách chăm chú thầy giảng bài.
    • Là một trong các biện pháp tu từ sử dụng biện pháp lặp đi lặp lại nhiều lần một từ ngữ hoặc cả câu một cách có nghệ thuật.
    • Tác dụng: sử dụng điệp ngữ vừa giúp nhấn mạnh nhằm làm nổi bật ý. Vừa tạo nên âm hưởng và nhịp điệu cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, hay đoạn thơ. Bên cạnh đó, còn vừa gợi cảm xúc mạnh trong lòng người đọc.

    Các hình thức của phép điệp ngữ

    “Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho”. (Ca dao)

      Điệp ngữ cách quãng: là việc lặp lại một cụm từ, mà theo đó các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp.
      Điệp ngữ nối tiếp: là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    Ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ

    • Biện pháp nói quá là một trong các biện pháp tu từ dùng cách nói phóng đại mức độ, tính chất, của sự vật hay hiện tượng được miêu tả. Nói quá còn được gọi là khoa trương, phóng đại, cường điệu, ngoa ngữ.,…thường được sử dụng trong khẩu ngữ, thông tấn, văn chương.
    • Tác dụng: B iện pháp nói quá dùng để nhấn mạnh, gây ấn tượng hơn về điều định nói hay tăng sức biểu cảm cho sự diễn đạt. Biện pháp nói quá được dùng nhiều trong các PC như: khẩu ngữ, văn chương, thông tấn.

    Ví dụ về biện pháp nói quá

    Tác dụng của biện pháp nói quá

    Sự kết hợp của nói quá với phóng đại nhằm mục đích làm tăng sức biểu cảm, sự sinh động, sự cụ thể hơn để đem lại hiệu quả cao hơn cho lời nói, câu văn.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là gì? Nói giảm, nói tránh là một trong các biện pháp tu từ và ví dụ thường gặp trong đời sống. Nói giảm nói tránh là cách nói giảm nhẹ quy mô, tính chất, mức độ của sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc dùng cách diễn đạt khác với tên gọi vốn có của nó.

    Ví dụ về phép nói giảm nói tránh

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi” – Tố Hữu

    Tác dụng của phép nói giảm nói tránh

    Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi”

    • Tạo nên một cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển. Nhằm tăng sức biểu cảm cho lời thơ, lời văn.
    • Giảm mức độ, tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ hay nặng nề trong những trường hợp cần phải lảng tránh do nguyên nhân từ tình cảm.
    • Thể hiện thái độ nhã nhặn, lịch sự của người nói, sự quan tâm, tôn trọng của người nói đối với người nghe. Và góp phần tạo cách nói năng đúng mực của người có giáo dục, có văn hoá.

    Biện pháp tu từ là gì? Chơi chữ là gì? Đây là một trong các biện pháp tu từ được vận dụng linh hoạt các đặc điểm về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp của Tiếng Việt. Nhằm tạo ra những cách hiểu bất ngờ, thú vị cho người đọc. Chơi chữ được sử dụng nhiều trong văn trào phúng, câu đối,..

    Tác dụng: Biện pháp chơi chữ thường được dùng để nhằm tạo sắc thái dí dỏm và hài hước làm cho sự diễn đạt trở nên hấp dẫn, thú vị. Biện pháp này thường được dùng để châm biếm, đả kích hoặc đùa vui.

    Ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ

    Các hình thức chơi chữ thường gặp

    Biện pháp kiệt kê trong khái niệm chính là sự nối tiếp, sắp xếp của các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau để diễn tả các khía cạnh, hay tư tưởng tình cảm một cách rõ ràng, đầy đủ và sâu sắc đến người đọc và người nghe.

    Biện pháp liệt kê được sử dụng trong nhiều loại văn bản khác nhau. Để nhận biết phép liệt kê, bạn có thể quan sát trong bài viết sẽ có nhiều từ hay cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và hay cách nhau bởi dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy.

    Ví dụ về biện pháp liệt kê

    • Ví dụ về liệt kê theo từng cặp: Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loại quả như xoài, ổi, hồng xiêm và bưởi.
    • Ví dụ về liệt kê tăng tiến: Gia đình em gồm nhiều người như em, anh trai em, bố mẹ và ông bà.

    Các kiểu liệt kê thường gặp

    • Theo cấu tạo
      • Liệt kê theo từng cặp.
      • Liệt kê không theo từng cặp.
    • Theo ý nghĩa
      • Liệt kê tăng tiến.
      • Liệt kê không theo tăng tiến.

    Phép tương phản trong khái niệm có nghĩa là tạo ra những cảnh tượng, những hành động hay những tính cách trái ngược nhau, từ đó nhằm làm nổi bật nội dung, tư tưởng của tác giả hay của chính tác phẩm.

    Ví dụ như trong tác phẩm “Sống chết mặc bay”.

    • Sự tuyệt vọng khốn cùng của nhân dân trước sự thịnh nộ của thiên nhiên khi chống lại bão lũ.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Thời Tiết Đà Nẵng Quanh Năm
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Phòng Trừ Sinh Vật Hại Bằng Biện Pháp Sinh Học
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại Bằng Biện Pháp Sinh Học
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học * Tin Cậy
  • phương pháp rèn luyện học sinh về kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Đó chính là mục đích của đề tài này. 2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tìm hiểu nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp nghệ thuật so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. Bước đầu giúp học sinh biết cảm thụ những cái hay trong thơ ca và qua đó bồi đắp tình yêu tiếng Việt cho các em. Tìm hiẻu những thuận lợi khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy và học biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt lớp 3 tại trường Tiểu học Xuân Lãnh 1. 3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Tất cả học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Xuân Lãnh 1. - Các phương pháp chỉ đạo của hội đồng khoa học trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 - Tập thể giáo viên trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 4.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA BẢN THU HOẠCH - Tầm quan trọng của biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. - Tìm hiểu các phương pháp dạy học biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. - Nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học cụ thể là học sinh khối lớp 3 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I 1.1CƠ SỞ LÝ LUẬN: Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học.Nếu học tốt bộ môn này các am sẽ viết văn, đặt câu chau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sàn lọc để dưa hình ảnh hay vào trong bài viết, lời nói. Nhưng tình hình thưc tế của trường tiểu học Xuân Lãnh 1 nói chung và học sinh khối lớp 3 nói riêng: vốn tiếng Việt dùng trong giao tiếp của các em còn hạn chế, khả năng cảm nhận các biện pháp nghệ thuật trong thơ văn chưa cao. Vì vậy khi đặt câu, viết văn hay khi diễn đạt bằng ngôn ngữ chưa hay lắm, lời nói chưa hấp dẫn được người nghe. Nên việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học tôt môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Cụ thể hơn là giúp các em cảm nhận và sử dụng biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là hết sức cần thiết. 1.2 CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3: Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có các dạng bài tập về biện pháp tu từ sau: 1.2.1 Nhận biết biện pháp tu từ: 1.2.2 Bước đầu sử dụng biện pháp tu từ vào việc dùng từ đặt câu 1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU: Để hướng dẫn học sinh lớp 3 làm các bài tập về biện pháp tu từ so sánh, giáo viên thường sử dụng phương pháp dạy học sau: 1.3.1 Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập 1.3.2 Giáo viên giúp học sinh chữa một phần bài tập để làm mẫu 1.3.3 Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài. 1.3.4 Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét , trao đổi về kết quả, rút ra những điểm cần ghi nhớ. Tóm lại để bồi dưỡng học sinh lớp 3 thói quen dùng từ, đặt câu thành thạo, có ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hoá trong giao tiếp, lựa chọn hình ảnh hay vào trong bài viết, lời nói để lôi cuốn người đọc, người nghe. Và sự ham thích học tiếng Việt của em. Thì đòi hỏi người giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp để giúp các em học tốt hơn biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3. Đó là cơ sở để tôi chọn đề tài nghiên cứu này. CHƯƠNG II 2.1 TTHỰC TRẠNG: 2.1.1. VỀ SÁCH GIÁO KHOA: 2.1.2. VỀ GIÁO VIÊN: Người giáo viên còn gặp khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt. Đặc biệt với điểm trường Tiểu học Xuân Lãnh1 là một điểm trường miền núi nên những khó khăn nêu trên của giáo viên càng khó khăn hơn. 2.1.3. VỀ PHÍA HỌC SINH: Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Vốn kiến thức văn học của học sinh còn nghèo .Một số em chưa có khả năng nhận biết về nghệ thuật, học sinh chỉ mới biết các sự vật một cách cụ thể. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh tu từ rất khó khăn. Nhất là học sinh trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 ít có điều kiện giao lưu học hỏi , tiếp cận với những tác phẩm văn hoc như: truyện, thơ và những cái hay trong giao tiếp của cộng đồng. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần hướng dẫn một cách tỉ mỉ, cụ thể, rõ ràng, gần gũi với tư duy thực tế của học sinh. Qua khảo sát chất lượng đầu năm về kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh của học sinh lớp 3A trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 năm học 2010 - 2011 tôi đã thu được kết quả như sau: Tổng số học sinh lớp 3A là 30 em: Số học sinh đạt yêu cầu về nhận biết tu từ so sánh : 10/30 học sinh chiếm tỉ lệ 33,3% Số học sinh chưa có kỹ năng nhận biết tu từ so sánh : 15/30 học sinh chiếm tỉ lệ 50% Số học sinh không nhận biết tu từ so sánh: 5/30 học sinh chiếm tỉ lệ 16,7% Đây là một thực trạng mà đòi hỏi người giáo viên phải hết sức nổ lực trong việc lựa chọn phương pháp dạy học để thoát khỏi thực trạng này. CHƯƠNG III 3.1 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH: Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng nghiên cứu biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của chương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy. Kiến thức về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài ở các tuần: Tuần 1,3,5,7, 10,12,15 và tuần ôn tâp 18. 3.2 NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ: 3.2.1 Dạy đúng quy trình : Để học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh . Bất cứ một bài tập nào, GV cần làm theo các yêu cầu sau: - Đọc kỹ đề bài - Xác định đúng yêu cầu của bài - Phân tích yêu cầu của bài - Học sinh làm bài - So sánh đối chiếu kết quả của học sinh với đáp án ( HS phải lí giải được đáp án của mình ) - GV phải giải thích cho học sinh rõ vì sao có đáp án đó . * Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8): Tìm sự vật được so sánh trong khổ thơ sau: Ơ cái dấu hỏi Trông ngộ ngộ nghê Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe - Giáo viên yêu cầu HS đọc yêu cầu của đề - Giải thích cho học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật. - HS gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật vào SGK - Học sinh trình bày ( Giáo viên có thể hỏi vì sao để học sinh giải thích lí do lại sao em chọn từ đó ) - Giáo viên đưa ra đáp án Sự vật so sánh Từ so sánh Sự vật so sánh Cái dấu hỏi như vành tai nhỏ + Giáo viên có thể vẽ lên bảng hoặc giải thích cho học sinh hiểu Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. (Giáo viên có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn). * Chú ý : Phương pháp này có hiệu quả nhất là sử dụng khi tìm hiểu bài . 3.2.2 Dạy biện pháp so sánh tích hợp vào các môn học: 3.2.2.1 Tích hợp trong môn Tiếng Việt : Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt , giáo viên cần lồng ghép giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau. Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em" SGK Tiếng Việt 3 tập I (Trang 7). Trong bài này có rất nhiều hình ảnh tu từ so sánh giáo viên cần nhấn mạnh để gây hứng thú cho tiết tiếp theo của môn: "Luyện từ và câu". Giáo viên có thể cho học sinh tìm các câu thơ có sử dụng biện pháp tu từ so sánh . Ví dụ 2 : Khi dạy bài Tập đọc " Cửa Tùng ", để giải thích từ ngữ (chiếc thau đồng ,bờ biển Cửa Tùng) GV có thể cho học sinh tìm câu văn có sử dụng biện pháp so sánh . Học sinh sẽ rất dễ dàng tìm ra câu : - Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển . - Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. Với những câu văn hay như thế, học sinh đã tìm được thì sẽ nhớ rất lâu và sẽ áp dụng tốt trong việc viết văn của nình . 3.2.2.2 Tích hợp Biện pháp tu từ so sánh qua các môn học khác : 3.2.2.2.1 Dạy Tự nhiên xã hội : Khi dạy bài " Các thế hệ trong gia đình'' Giáo viên có thể cho học sinh tìm những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những ngưòi thân trong gia đình . Học sinh đại trà tìm tự do . Học sinh giỏi , giáo viên có thể yêu cầu cao hơn( có sử dụng biện pháp so sánh ) - Anh em như thể tay chân - Con hơn cha là nhà có phúc - Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra 3.2.2.2.2 Dạy Toán : Tích hợp biện pháp so sánh khi dạy Toán qua các dạng về nhiều hơn , ít hơn , Điền dấu , =., So sánh số lớn gấp mấy lần số bé ,Số bé bằng một phần mấy số lớn 3.2.3 Dạy theo mô hình : Bài tập về so sánh lớp 3 được chia làm 2 dạng: Dạng 1: Bài tập theo mẫu(Bài tập nhận biết ). Trọng tâm Dạng 2: Bài tập sáng tạo ( Bài tập vận dụng ) 3.2.3.1 Dạng 1 : Giúp học sinh nhận biết các từ chỉ sự vật so sánh . Dạng bài tập này rất đơn giản. Chủ yếu là nhận biết các sự vật so sánh thông các bài tập . Dạng này chiếm đa số trong chương trình . Nó được xây dựng dựa trên 4 mô hình sau:. a) Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật. b) Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người. c) Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động. d) Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh. Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh vững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới . Dựa vào các mô hình như ta vừa phân tích . 3.2.3 .1.1 Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật: Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so sánh (như, là , giống , tựa, chẳng bằng ...) Mô hình này có các dạng sau: A như B. A là B. A chẳng bằng B + Tìm hiểu dạng A như B Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyên suốt đến cuối chương. "Hai bàn tay em Như hoa đầu cành" (Huy Cận) "Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch" (Vũ Tú Nam) "Cánh diều như dấu á Ai vừa tung lên trời" (Phạm Như Hà) Để làm tốt bài tập này, học sinh phải phát hiện các từ chỉ sự vật được so sánh từ đó học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên . + Có 2 phương án Phương án 1: Gạch chân các từ chỉ sự vật so sánh trong các câu trên bằng bút chì vào SGK Phương án 2: Giáo viên phát phiếu học tập nhóm đôi. Các nhóm điền vào phiếu Câu Sự vật 1 Từ so sánh Sự vật 2 a) Hai bàn tay như hoa đầu cành b) Mặt biển như tấm thảm khổng lồ c) Cánh diều như dấu " á" Học sinh trình bày : + "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành" + "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ". + "Cánh diều" so sánh với "dấu á" + "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ". Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn: + Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa. + Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp. + Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á. (Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á") + Tìm hiểu dạng A là B: Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu giới thiệu . Bởi lẽ, cả 2 kiểu câu này đều có từ " là " * Ví dụ :(Bài 1c, d trang 24,25): Tìm các hình ảnh so sánh trong câu : c/ Mùa đông Trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè Trời là cái bếp lò nung d) Những đêm trăng sáng , dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng . Trong trường hợp này, cần phải cho học sinh xác định từ chỉ sự vật trong câu thơ : ( trời mùa đông - tủ ướp lạnh ), ( trời mùa hè - bếp lò nung) Giáo viên giải thích cho học sinh điểm tương đồng giữa các từ chỉ sự vật được so sánh . Trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh Trời mùa hè nóng như bếp lửa lò nung Trong câu : Mẹ tôi là giáo viên ( từ là có tác dụng giới thiệu. Trong trường hợp này , học sinh phải hiểu nghĩa của từ và của câu ) 3.2.3 .1.2 Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người. Dạng cuả mô hình so sánh này là: + Dạng A như B: + A có thể là con người. + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh. "Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan" (Hồ Chí Minh) "Bà như quả ngọt chín rồi Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng". (Võ Thanh An) Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được"Vì sao?". Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn: "Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng. "Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng. + Dạng A là B: Ví dụ : Bài tập 1/ trang 42,43( phương pháp dạy như mô hình 1) Svật 1 (người) Svật 2(Svật ) "Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng" Svật 2( Svật ) Svật 2( người ) + Dạng A chẳng bằng B: * Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu : Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Đem nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời Trần Quốc Minh Dạng bài tập này chỉ cần học thực hiện được hai yêu cầu : - Xác định sự vật so sánh ( ngôi sao - mẹ ) , ( mẹ - ngọn gió ) - Xác định từ so sánh ( Chẳng bằng , là ) Xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh so sánh . 3.2.3 .1.3 Mô hình 3:So sánh: Hoạt động - Hoạt động. Mô hình này có dạng như sau: + A x B. + A như B. * Ví dụbài tập 2 /trang 98: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + "Con trâu đen lông mượt Cái sừng nó vênh vênh Nó cao lớn lênh khênh Chân đi như đạp đất" (Trần Đăng Khoa) + "Cau cao, cao mãi Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi" (Ngô Viết Dinh) Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn: + Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như". + Hoạt động " Vươn" của tàu lá dừa giống hoạt động " vẫy" tay của con người 3.2.3 .1.4 Mô hình 4:So sánh: Âm thanh - Âm thanh: Mô hình này có dạng sau: A như B: + A là âm thanh thứ 1. + B là âm thanh thứ 2. Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn: + "Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai" (Nguyễn Trãi) Âm thanh của "Tiếng suối" được so sánh với âm thanh của "Tiếng đàn cầm" qua từ "như". 3.2.3.2 Dạng 2 : Bài tập sáng tạo Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh . Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn.tuy nhiên , dạng bài tập này trong SGK rất ít . Nó tập trung ở cuối chương trình HKI gồm 2 bài tập . 3.2.3.2 1: Nhìn tranh đặt câu Tương tự Bài tập 3/SGKtrang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau : Ví dụ : Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh Xe ô tô lao nhanh như tên bắn . Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng. Cây thông cao như ngọn tháp . Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng . Thỏ thì hiền hơn báo. 3.2.3.2 2: Dạng bài tập điền khuyết : Ví dụ : Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ trống : Công cha nghĩa mẹ được so sánh như..., như... Trời mưa, đường đất sét trơn như... Ơ thành phố có nhiều toà nhà cao như .... Ở mỗi câu , giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để cho học sinh có thể tìm nhiều từ cần điền . Ví dụ : a) như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn chảy, như sông như biển b) như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu ... núi ,những ngọn tháp ... Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy , nhất là các tiết Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự hai dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức . Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ sơ sánh như : Tựa, giống , giống như , không thua, không khác. ( So sánh bằng ) và các từ hơn ,kém, thua , chẳng bằng ( so sánh hơn kém ). 3.2.4 Trò chơi học tập : Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đó chơi là phương tiện , học là mục đích . Thông qua hình thức chơi mà học ,học sinh sẽ được hoạt động , tự củng cố kiến thức .Tuy nhiên, muốn tổ chức trò chơi có hiệu quả , cần xác định mục đích của trò chơi, hình thức chơi cũng phải đa dạng, cách chơi cần phải đơn giản, dễ hiểu. Ví dụ : Trò chơi " Thử tài so sánh" Mục đích: - Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cum từ có hình ảnh so sánh đúng . Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng , liên tưởng về hoạt động hay đặc điểm, tính chất ...của sự vật. Chuẩn bị : - Làm các bộ phiếu bằng giấy ( Kích thước : 3 x 4 cm) - Mỗi bộ phiếu gồm 3-5 từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm, màu sắc ... của sự vật ( Tuỳ thời gian chơi, nội dung bài học ) . Lớp 3 chủ yếu là từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm , tính chất Ví dụ : + Bộ phiếu A( 5 từ chỉ hoạt động,trạng thái) : Đọc , viết cười ,nói , khóc ( Dành cho Tiết 7: ôn tập từ chỉ trạng thái , tính chất ) + Bộ phiếu B ( 5 từ chỉ màu sắc )Trắng , xanh, đỏ, vàng , đen ( Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh ) + Bộ phiếu C ( 5 từ chỉ đặc điểm , tính chất ): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm( Dành cho tiết 14 , 17: ôn tập từ chỉ đặc điểm ) - Phiếu được gấp tư để "bốc thăm" - Cử trọng tài, thư kí theo dõi cuộc thi . Tiến hành : Trọng tài để một bộ phiếu lên bàn cho học sinh xụng phong lên thử tài so sánh ( 1 bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người "thử tài"). Học sinh 1 (HS1) lên "bốc thăm", mở phiếu đọc từ cho các bạn nghe rồi nêu thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó. Ví dụ: HS1: "bốc thăm" được từ trắng - Có thể nêu cum từ so sánh: trắng như tuyết, trắng như vôi, ( hoặc : trắng như trứng gà bóc ). Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai + Đúng được bao nhiêu kết quả được bấy nhiêu điểm . + Trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có điểm . Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài .Hết 5 phiếu thì về chỗ , thư kí công bố kết quả . Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1 người có tài so sánh cao nhất là người thắng cuộc. Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên . Cũng có thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu . Mỗi phiếu chỉ cần nêu 1 cụm từ . Người thứ không được nêu lặp cụm từ của người trước . Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu và tiến hành theo nhóm . Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng . 1/ Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh nêu ở mục chuẩn bị Bộ phiếu A: ( 5 từ chỉ hoạt động, trạng thái) Đọc : Đọc như đọc kinh, đọc như rên rỉ, đọc như cuốc kêu, đọc như nói thầm ... Viết : viết như gà bới , viết như giun bò , viết như rồng bay phượng múa, viết như in,... Cười : cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ , cười như mếu, ... Nói : nói như khướu, nới như vẹt, nói như Trạng Quỳnh, nói như thánh tướng ,... Khóc : khóc như mưa, hkhóc như ri, hkhóc như cha chết , ... Bộ phiếu B ( 5 phiếu từ chỉ màu sắc ): Trắng : trắng như trứng gà bóc , trắng như tuyết , trắng như vôi, trắng như bột lọc , trắng như ngà voi ,... Xanh: xanh như tàu lá, xanh như pha mực, xanh như nước biển ... Đỏ : Đỏ như máu , đỏ như son, đỏ như gấc , đỏ như mận chín , đỏ như ớt , đỏ như quả cà chua,... Đen : đen như than, đen như gỗ mun, đèn như cột nhà cháy , đen như bồ hóng , đen như quạ , đen như cuốc ,... Vàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100