Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số
  • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • (GLO)- Những năm qua, công tác giải quyết việc làm của tỉnh ta đã đạt được những kết quả khả quan. Hàng năm, bình quân toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho khoảng 24.000 lao động bước vào độ tuổi lao động. Tuy nhiên, thực tế con số này chưa đánh giá thực chất tình hình lao động được giải quyết việc làm mới hàng năm của tỉnh.

    Giải quyết việc làm là biện pháp hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho người lao động. Trên thực tế, tỷ lệ lao động thất nghiệp trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 4,7% (năm 2003) xuống còn 2,7% (năm 2014). Số lao động được tạo việc làm hàng năm luôn tăng: nếu năm 2003 toàn tỉnh mới giải quyết việc làm cho lao động bước vào độ tuổi lao động là 17.000 người thì đến cuối năm 2014 số lao động được giải quyết việc làm mới là 24.000 người. Hiện nay, tỷ lệ lao động không có việc làm rất thấp. Bên cạnh đó, trình độ lao động bước vào độ tuổi lao động ngày càng được nâng cao, nhờ đó thu nhập ngày công của người lao động cũng được nâng cao.

    Ảnh: Đinh Yến

    Có việc làm và tăng thu nhập sẽ giúp người lao động có khả năng đáp ứng những nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần, giúp người lao động tiếp cận được với cơ sở y tế, giáo dục với chất lượng tốt, nâng cao vị thế trong xã hội, hòa nhập với môi trường xung quanh. Tuy nhiên, những năm qua, thống kê số người lao động bước vào độ tuổi lao động được giải quyết việc làm mới chỉ mang tính chung chung chưa sát thực tế, bởi khó có thể đánh giá con số chính xác lao động hàng tháng và hàng năm được giải quyết việc làm mới là bao nhiêu, chúng ta chỉ có thể đánh giá con số cụ thể lao động thất nghiệp, vì số lao động thất nghiệp hiện nay đang được Nhà nước hỗ trợ chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp. “Vì việc đánh giá số lao động được giải quyết việc làm hàng năm có lẽ là chưa đúng với thực tế, do đó, trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV không còn đề cập đến chỉ tiêu giải quyết việc làm hàng năm”-ông Đinh Xuân Lịch-Trưởng phòng Lao động Việc làm-Sở Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết.

    Trong thời gian tới, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội xác định công tác giải quyết việc làm là một trong 10 nhóm nhiệm vụ chính. Tuy nhiên, để công tác này đi vào thực chất, tỉnh cần tiếp tục có những cơ chế chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động gắn với quy hoạch kinh tế-xã hội, các chương trình phát triển kinh tế, ngành nghề và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương.

    Cụ thể, mục tiêu từ nay đến năm 2021, toàn tỉnh vẫn cần tiếp tục phấn đấu bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mới cho trên 24.000 lao động bước vào độ tuổi lao động. Để thực hiện đạt mục tiêu, ông Lê Văn Thành-Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, đề xuất: Giải pháp quan trọng nhất cần tập trung thời gian tới là tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển thị trường lao động cạnh tranh và chất lượng cao. Vì chất lượng lao động là một trong những điều kiện để có thể cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Chất lượng lao động thể hiện ở nhiều khía cạnh: thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật và người lao động cũng cần phải hiểu pháp luật, tinh thần chấp hành kỷ luật, văn hóa ứng xử trong công việc mang tính chuyên nghiệp cao. Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhằm giúp người lao động có khả năng nắm bắt được cơ hội việc làm, đáp ứng yêu cầu công việc và ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động.

    Đi đôi với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì việc phát triển mạng lưới dạy nghề gắn với nâng cao chất lượng dạy nghề, giải quyết việc làm và thực hiện xã hội hóa công tác dạy nghề cũng rất quan trọng. Theo đó, tỉnh cần phát huy hơn nữa hiệu quả sàn giao dịch việc làm và các phiên giao dịch việc làm lưu động để tạo cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tập trung một số nước truyền thống, như: Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào và Campuchia. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm thông qua vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Ban hành những chính sách khuyến khích xã hội hóa trong hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động và tích cực đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác đào tạo nghề đối với các đối tượng, như: thanh niên, lao động nông thôn, phụ nữ, lao động có điều kiện khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Quyết Liệt Để Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Làm Gì Giúp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Tỉnh Quảng Nam, Hay
  • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm Ở Nước Ta Hiện Nay​​​​​?

    --- Bài mới hơn ---

  • “công Thức” Cho Trường Học Hạnh Phúc
  • Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • 3 Tiêu Chí Cốt Lõi Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc Tại Trường Mẫu Giáo Quế Thuận
  • Sáu Biện Pháp Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Ở Tuyên Quang
  • Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

    Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh:

    Ở khía cạnh cung – cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên, dưới 70%. Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc.

    Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế. Sự kiểm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ. Chưa phát huy được vai trò của “tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động. Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội.

    Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp. Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao. Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi.

    Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém. Hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm giao dịch lớn đạt hiệu quả khu vực. Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên 3.000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm.

    Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập. Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như “chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”…

    Phương hướng giải quyết vấn đề việc làm

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra mục tiêu: “Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động… Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%… Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”.

    Kinh nghiệm 25 năm đổi mới cho thấy, muốn tạo nhiều việc làm và khả năng thu hút lao động lớn cần phải tăng cường đầu tư và mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chế biến và dịch vụ phục vụ đời sống dân sinh.

    Giải quyết vấn đề lao động – việc làm phải đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực lao động cả nước, phục vụ tốt yêu cầu từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Biện Pháp “áp Giải”, “dẫn Giải” Trong Bltths Năm 2021
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2021
  • Cách Hiểu Đúng Về “áp Giải” Và “dẫn Giải” Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Hiện Hành
  • Phân Biệt Áp Giải Với Dẫn Giải
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Trách Nhiệm Của Nhà Nước Trong Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Những Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Gia Tăng Dân Số Hiên Nay?
  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • · Trong cơ chế thị trường, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động (NLĐ) và quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Nhà nước không và không thể trực tiếp sắp xếp việc làm cho từng người lao động như trong thời kỳ bao cấp mà bằng các chính sách vĩ mô, nhà nước chỉ tạo ra những cơ hội, những đảm bảo về mặt pháp lý và thực tiễn để NLĐ tìm được việc làm. BLLĐ cũng chỉ sử dụng thuật ngữ “chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển việc làm” để xác định trách nhiệm giải quyết việc làm của nhà nước được quy định như sau:

    · Thứ nhất, Nhà nước định ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm năm và hàng năm. Chỉ tiêu việc làm mới có thể hiểu là số lao động mới cần tuyển thêm vào làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế do nhu cầu mới thành lập hoặc mở rộng thêm về quy mô và các mặt hoạt động, sắp xếp lại lao động. Có thể nói, định ra chỉ tiêu việc làm mới là bước đầu tiên trong chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ. Dựa vào chỉ tiêu việc làm mới, nhà nước có thể đánh giá được cung – cầu của thị trường lao động. Từ đó, nhà nước có các kế hoạch phát triển kinh tế để tạo ra việc làm mới, đồng thời quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề để đảm bảo cầu đủ cho cung và cung đáp ứng được cầu.

    · Thứ hai, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo ra việc làm cho NLĐ. Để thực hiện chính sách này, Nhà nước đề ra hai giải pháp sau:

    · Một là, hỗ trợ NLĐ để họ tự tạo việc làm, hỗ trợ NLĐ tìm kiếm việc làm trong nước hoặc nước ngoài và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ.

    · Hai là, tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra việc làm cho NLĐ bằng các biện pháp cụ thể.

    · Thứ ba, Nhà nước lập chương trình việc làm và quỹ Quốc gia về việc làm để hỗ trợ tạo ra việc làm cho NLĐ.

    · Chương trình việc làm có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định các chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ. Theo quy định của pháp luật, chương trình việc làm chỉ được thực hiện ở địa phương (cấp tỉnh).

    · Quỹ quốc gia về việc làm được thành lập để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

    · Thứ tư, Nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm.

    · Tổ chức dịch vụ việc làm có vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ, để vận hành thị trường hàng hóa sức lao động. Việc nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm là một trong những giải pháp “cung” gặp đúng “cầu”, góp phần giải quyết việc làm cho NLĐ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bước Để Nắm Vững Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Mà Bạn Cần Biết
  • Tiểu Luận Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Để Duy Trì Sĩ Số Và Đảm Bảo Chuyên Cần Ở Học Sinh Bậc Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Góp Phần Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Cấp Tiểu Học
  • Công Văn 317/cctthc Về Hướng Dẫn Biện Pháp Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính Do Tổ Công Tác Chuyên Trách Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Của Thủ Tướng Chính Phủ Ban Hành
  • Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Định Của Ngành Tòa Án – Những Bất Cập, Hạn Chế Và Đề Xuất Sửa Đ�

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông Tại Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Nhiều Cách Làm Hiệu Quả Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii
  • 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2021
  • Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2021
  • Hội Nghị Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • (Tham luận của Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 – 16/4/2013)

    Tòa án với tư cách là cơ quan duy nhất trong hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Từ việc áp dụng các quy định của pháp luật trong công tác xét xử các vụ việc thuộc nhiệm vụ của mình, Tòa án góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của Nhà nước đến nhân dân,… Qua đó, đóng góp quan trọng đến công tác tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm xét xử, tác động đến chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nói riêng và Nhà nước ta nói chung.

    Luật Hôn nhân và Gia đình (sau đây viết tắt là Luật HNGĐ) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2001. Sau hơn mười hai năm thi hành, Luật HNGĐ đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bảo đảm ổn định cuộc sống gia đình trong xã hội phát huy truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nâng cao vai trò trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tôn trọng và chấp hành các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

    Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án cho thấy, một số quy định của Luật HNGĐ không phù hợp với thực tiễn, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác, có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), có những quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, có những quy định chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có những vấn đề mới phát sinh trong xã hội chưa được pháp luật về hôn nhân và gia đình điều chỉnh,…

    Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin đề cập những vướng mắc, bất cập của một số quy định của Luật HNGĐ. Những vướng mắc bất cập này được tổng hợp nghiên cứu qua quá trình tổng kết thực tiễn thi hành Luật HNGĐ năm 2000 trong công tác xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án các cấp trên phạm vi toàn quốc. Qua đó đưa ra một số kiến nghị đề xuất sửa đổi, bổ sung đối với Luật HNGĐ.

    I. Tình hình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án

    Qua việc tổng hợp số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày 01-9-2000 đến ngày 30-9-2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 3.143.746 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình. Trong đó số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý). Ngành Tòa án đã thực hiện tốt quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cụ thể như sau Số liệu thống kê hàng năm của ngành Tòa án – Vụ Thống kê tổng hợp TANDTC.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Chiến Lược Quốc Phòng, Chiến Lược Quân Sự Việt Nam
  • Đề Cương Giới Thiệu Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu, Bia Năm 2021.
  • Các Biện Pháp Để Triển Khai Luật Phòng Chống Tác Hại Của Bia Rượu
  • Dân Số Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Tọa Đàm Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Kết Luận 62 Của Bộ Chính Trị (Khóa X)
  • Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Tốt Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ Cấp Ủy Trong Tình Hình Mới
  • Văn Phòng Tỉnh Ủy Nâng Cao Vai Trò, Trách Nhiệm Tham Mưu Phục Vụ Lãnh Đạo Tỉnh Ủy
  • Nâng Cao Chất Lượng Quản Trị Văn Phòng Thời Công Nghiệp 4.0
  • Đề Tài Công Tác Quản Trị Văn Phòng Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh Quảng Bình
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Tại Trường Thpt Lê Hồng Phong
  • TÓM TẮT:

    Sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (AEC), tỉnh Quảng Bình đã rất quan tâm giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho người dân. Nắm bắt xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, tính đến năm 2021, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tư vấn về việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động cho trên 36.000 lượt người, có 3.350 lao động được tuyển dụng đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Hàng năm, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về hơn 200 tỷ đồng, đã góp phần giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Bài viết nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết lao động, việc làm của một số địa phương trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình.

    Từ khóa: Asean, lao động, việc làm, tỉnh Quảng Bình, kinh nghiệm.

    1. Đặt vấn đề

    Trong những năm gần đây, do có sự di chuyển lao động trong khu vực AEC, kinh tế người dân tỉnh Quảng Bình được cải thiện, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về góp phần giúp bà con nhân dân xây dựng, chỉnh trang nhà ở, mua sắm ngư cụ, đầu tư máy móc sản xuất nông nghiệp, phát triển mô hình chăn nuôi. Đồng thời, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Bình phát triển đúng hướng.

    Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Tham gia AEC, người lao động của tỉnh có thể phải chịu những bất lợi do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, thậm chí phá sản, dẫn đến lao động bị mất việc làm. Chất lượng nguồn nhân lực lao động của Quảng Bình chưa cao, quá trình đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động AEC và nhu cầu xã hội, sức hút lao động trong các doanh nghiệp khá khiêm tốn do quy mô nhỏ lại vừa thiếu. Tỷ lệ người đi xuất khẩu lao động ở các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia ở lại bất hợp pháp còn cao, đã ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động trong nước nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng khi muốn đi xuất khẩu lao động vào thị trường này.

    Chính vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề lao động và việc làm ở tỉnh Quảng Bình trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cần có sự nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, khách quan và toàn diện về những tác động của việc gia nhập AEC.

    2. Nội dung

    2.1. Lao động, việc làm Việt Nam trước khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

    Ngày 10 tháng 11 năm 2014, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 1287/QĐ-TCTK về Điều tra lao động việc làm năm 2021. Mục đích của cuộc điều tra nhằm thu thập các thông tin về tình trạng tham gia thị trường lao động năm 2021 của những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam làm cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao động, việc làm, thất nghiệp và thu nhập của người lao động. Qua đó giúp các cấp, các ngành đánh giá và so sánh sự biến động của thị trường lao động, làm căn cứ xây dựng, hoạch địnhchính sách phát triển nguồn nhân lực, kế hoạch hoạt động đầu tư, sản xuất, kinhdoanh phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường lao động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Đồng thời, có cáchtiếp cận và áp dụng khuyến nghị mới của Tổ chức Lao động Quốc tế về lao độngvà việc làm, đặc biệt là “lao động chưa sử dụng hết” vào thực tiễn Việt Nam. Sốliệu được tổng hợp theo quý cho cấp toàn quốc; vùng và năm cho cấp tỉnh, thành phố.

    2.2. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương và bài học cho tỉnh Quảng Bình

    2.2.1. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương

    2.2.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Trị

    Tỉnh Quảng Trị là địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng trong giải quyết vấn đề lao động, việc làm sau khi Việt Nam gia nhập AEC. Năm 2021, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Trường Trung cấp nghề Quảng Trị, Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến các chính sách và tư vấn về việc làm, xuất khẩu lao động; hội nghị tập huấn về kỹ năng, phương pháp phân tích thông tin thị trường lao động ở một số cụm xã. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị cũng tập trung thực hiện các nội dung, giải pháp để hỗ trợ người lao động các xã, vùng ven biển trong việc định hướng, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, như: Tổ chức đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; chỉ đạo tổ chức sàn giao dịch việc làm tại các xã, cụm xã ven biển; phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức tuyên truyền, tuyển dụng lao động đi xuất khẩu lao động tại các xã, đặc biệt là các xã ven biển.

    Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã tổ chức điều tra, khảo sát thông tin về nhu cầu học nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, chuyển đổi sinh kế của các hộ gia đình thuộc 16 xã vùng biển bị ảnh hưởng do môi trường sinh thái biển bị ô nhiễm. Kết quả là năm 2021, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm cho khoảng 10.600 lượt lao động (đạt 112 % kế hoạch), trong đó có 6.312 lượt lao động làm việc trong tỉnh, 2.809 lượt lao động làm việc ngoài tỉnh và 1.479 lao động làm việc ở ngoài nước (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Lào và các thị trường khác), tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm còn 3,6% (4). Năm 2021, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm mới cho 14.012 lao động (đạt 133,4% kế hoạch), trong đó xuất khẩu lao động 2.926 người.

    2.2.1.2.Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

    Ở Bình Dương, trong 6 tháng đầu năm 2021, hoạt động tư vấn việc làm đã thu hút 1.276 doanh nghiệp và 42.378 lao động tham gia. Tỉnh cũng đã giải quyết việc làm cho 25.692 lao động. Các trường, cơ sở dạy nghề ở Bình Dương trong năm 2021 đã tuyển sinh gần 32.000 học viên và đào tạo nghề cho 1.481 lao động. Tính đến năm 2021, đã tư vấn giới thiệu việc làm cho 123.622 người lao động; số người lao động được giới thiệu việc làm là 84.798 người; số người lao động nhận được việc làm là 45.342người. Đến cuối năm 2021, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã tiếp nhận thông tin tuyển dụng lao động của 3.905 doanh nghiệp, với nhu cầu tuyển dụng 178.336 lao động; trong đó có 127.032 lao động phổ thông – chiếm tỷ lệ 71,2%; 51304 lao động chuyên môn và lao động kỹ thuật – chiếm tỷ lệ 28,8%. Tổ chức sàn giao dịch việc làm trực tiếp, sàn trực tuyến, sàn giao dịch việc làm online. Tính đến hết tháng 10/2019, Trung tâm tổ chức tổng cộng 39 sàn giao dịch việc làm, vượt 44,4% chỉ tiêu đăng ký đầu năm. Cụ thể, đã tổ chức 34sàn trực tiếp tại trụ sở (24 sàn định kỳ từ lần thứ 202 đến 225 và 10 sàn mở rộng); 04 sàn tại các trường đại học, cao đẳng, địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, 01 phiên giao dịch việc làm online.

    Về công tác xuất khẩu lao động: Các doanh nghiệp tuyển chọn lao động đi làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài, trên địa bàn tỉnh có 30 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Đài Loan: 8 người, Nhật Bản: 21 người, Ma Cao: 1 người). Có 15 lao động đạt kết quả tuyển chọn, chờ xuất cảnh đi Hàn Quốc (IPS) theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc; 01 lao động đi làm việc tại Nhật Bản theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Xác nhậncho Công ty CP Nhân Lực Hoàng Hà tư vấn, tuyển chọn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Triển khai việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động khi đi làm việc cũng như các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại Đài Loan. Trong năm 2021, 60 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng qua Chương trình phi lợi nhuận và chương trình lợi nhuận (doanh nghiệp có chức năng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

    2.2.2. Bài học giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cho tỉnh Quảng Bình

    Một là, chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Bình cần hoàn thiện thể chế về lao động- xã hội theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

    Chủ động nghiên cứu Công ước cơ bản của ILO (đặc biệt là 3 Công ước cơ bản về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động, xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc). Nghiên cứu các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động – xã hội mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở đó tư vấn, xây dựng chính sách lao động, việc làm cho Quảng Bình phù hợp với khu vực và quốc tế. Áp dụng các phương pháp tiếp cận, tiêu chí đánh giá về lao động – xã hội theo thông lệ quốc tế và khu vực. Chủ động dự báo, xử lý kịp thời các vấn đề lao động – xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, thực thi các cam kết quốc tế. Lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế về lao động – xã hội theo yêu cầu hội nhập quốc tế.

    Hai là, tăng cường truyền thông, phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức.

    Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương hội nhập AEC và quốc tế về lĩnh vực lao động- xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng cổng thông tin điện tử hội nhập quốc tế về lao động- xã hội. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức hội nhập AEC và quốc tế về lao động – xã hội trong các ban, ngành, cơ quan, doanh nghiệp, người lao động của tỉnh Quảng Bình, nhằm nâng cao nhận thức về nhu cầu, nội dung, cơ hội và thách thức trong hội nhập AEC, trong việc thực hiện các cam kết với AEC, tạo đồng thuận và tăng cường trách nhiệm, có hành động thống nhất thực hiện các hoạt động và hợp tác quốc tế.

    Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Tập trung vào đổi mới giáo dục – đào tạo, dạy nghề địa phương, trong đó chú trọng việc xác định lại cơ cấu đào tạo; hoàn thiện thể chế, gắn kết đào tạo với nhu cầu thị trường lao động trong nước và AEC với tham gia của doanh nghiệp; tăng cường liên kết, tham gia vào “chuỗi giá trị đào tạo toàn cầu hoặc khu vực AEC”. Đào tạo theo đơn “đặt hàng” của doanh nghiệp, của thị trường theo các tiêu chuẩn năng lực trong AEC.

    Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động trong tỉnh. Năm là, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

    Kết nối cung – cầu lao động hiệu quả. Tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường lao động, bao gồm thị trường trong tỉnh Quảng Bình nói riêng và trong nước nói chung để giới thiệu và chắp nối việc làm với thị trường lao động AEC. Đặc biệt, tăng cường và nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu lao động của thị trường AEC. Đổi mới và đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp, đảm bảo phân luồng học sinh hiệu quả ngay từ cấp trung học cơ sơ và trung học phổ thông. Tổ chức lại và nâng cao năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm nhằm tăng cường sự liên kết, chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau trong công tác cung ứng và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp.

    Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh. Tôn trọng và bảo vệ quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện quyền thương lượng tập thể thực chất. Nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra lao động trong tiếp nhận, xử lý thông tin, xử lý tranh chấp lao động để đáp ứng các cam kết trong AEC.

    Sáu là, thúc đẩy di cư lao động an toàn và hiệu quả. Hỗ trợ cho lao động di chuyển (dỡ bỏ các rào cản về hành chính, tạo liên thông các dịch vụ xã hội cơ bản, liên thông bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…). Đối với lao động Quảng Bình làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, cần tiếp tục khắc phục; lao động bỏ trốn (bảo đảm cho người lao động về nước đúng hạn) và tái hòa nhập tốt vào thị trường lao động; liên kết và tạo dựng mạng lưới an sinh xã hội, chuyển tiền về nước an toàn và sử dụng hiệu quả, giảm các tiêu cực trong tuyển dụng.

    3. Kết luận

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học và xã hội, cho phép nước ta tận hưởng được những điều kiện thuận lợi nhất để vươn mình lên một tầm cao mới.

    Sự kiện này tạo ra cơ hội lớn cho tỉnh Quảng Bình trong việc giải quyết vấn đề lao động, việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động sang thị trường AEC. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được, lao động của tỉnh Quảng Bình cũng sẽ phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn khi chất lượng nguồn lực lao động còn thấp. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng, đánh giá đúng chất lượng, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động của tỉnh Quảng Bình đáp ứng yêu cầu các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động trong AEC hiện nay là hết sức cần thiết.

    1. Quốc hội (2012). Bộ Luật Lao động.
    2. Quốc hội (2016). Bộ Luật Điều ước quốc tế.
    3. Quốc hội (2013). Bộ Luật việc làm số 38/2013/QH13.
    4. Quốc hội (2006). Bộ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật số 72/2006/QH11.
    5. Bộ Công Thương – Vụ Chính sách thương mại đa biên (2016), Cộng đồng kinh tế ASEAN – Cơ hội và thách thức với Việt Nam, vn/tin-tuc…/cong-dong-kinh-te-asean–co-hoi-va-thach-thuc-voi-viet-na
    6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Hà Nội.

    ExperienceMaster. Phan Thi Thu Ha in resolving labour and employment issues of some localities in the context of Vietnam’s participation in ASEAN and some lessons for Quang Binh Province

    Faculty of Law, Quang Binh Unviersity

    Keywords: ASEAN, labor, employment, Quang Binh Province, experience.

    [Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 17, tháng 7 năm 2021]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2021)
  • Nâng Cao Phẩm Chất Đạo Đức Cách Mạng Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Học Viện Lục Quân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tăng Cường Đạo Đức Cách Mạng Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Thực Trạng Về Đạo Đức Và Trách Nhiệm Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Tỉnh Đắk Nông
  • Vận Dụng Giá Trị Tác Phẩm “đạo Đức Cách Mạng” Vào Xây Dựng Đạo Đức Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Giảm Hội Họp Để Tập Trung Giải Quyết Công Việc Và Đi Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Bớt Hội Họp, Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Cơ Quan, Tổ Chức Hiện Nay
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Giảm Hộ Nghèo
  • Bạc Liêu: Nhiều Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo
  • Một Số Giải Pháp Giảm Nghèo Tại Tp. Trà Vinh
  • Giải Pháp Kéo Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo
  • Lãnh đạo thị trấn Hùng Sơn (Đại Từ) đến thăm, động viên gia đình người có công với cách mạng trên địa bàn.

    Ông Lê Kim Phúc: Đây là vấn đề đã được bàn đến khá nhiều. Cần khẳng định rằng, họp là cần thiết và những cuộc họp trong cơ quan, tổ chức đa phần là bổ ích, nếu không họp thì nhiều vấn đề không được làm sáng tỏ và giải quyết triệt để. Nhưng việc gì cũng phải họp, việc gì cũng đưa ra bàn và họp quá nhiều sẽ gây lãng phí thời gian, tiền bạc, nhân lực… và đáng lo hơn nữa là sẽ tạo ra chỗ dựa cho bệnh “thiếu trách nhiệm” trong lãnh đạo, quản lý. Thực tế là có quá nhiều cuộc họp nên một số cơ quan, đơn vị không đủ lãnh đạo đi dự trong cùng một buổi. Đặc biệt là cấp cơ sở – nơi tiếp nhận nhiều nội dung của cấp trên để triển khai trong nhân dân, rồi một cán bộ tham gia nhiều “vai” nên phải dự nhiều cuộc họp dẫn đến công tác điều hành nhiệm vụ chuyên môn, giải quyết công việc, đi cơ sở bị ảnh hưởng.

    P.V: Vậy, để hạn chế hội họp, nhất là những cuộc họp không cần thiết, huyện Đại Từ đã khắc phục như thế nào, thưa ông?

    P.V: Để nâng cao chất lượng mỗi cuộc họp, đạt được hiệu quả như mong muốn, theo ông cần bảo đảm những yếu tố gì?

    P.V: Không chỉ với cán bộ chủ chốt và phòng ban chuyên môn cấp huyện, chủ trương giảm hội họp đã lan tỏa và được các xã, thị trấn trên địa bàn thực hiện ra sao, thưa ông? P.V: Từ thực tế ở huyện Đại Từ, ông có đề xuất gì, nhất là về vấn đề thể chế để giảm họp, tăng hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính?

    Ông Lê Kim Phúc: Chủ trương giảm và lồng ghép các cuộc họp đem lại hiệu quả thiết thực và tạo sự đồng thuận cao. Đặc biệt với cấp xã, thị trấn là đơn vị hành chính cuối cùng trực tiếp với nhân dân nên càng cần phải giảm họp để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tiếp dân và bám sát cơ sở. Các xã, thị trấn của Đại Từ đã tích cực giảm họp, nhất là lồng ghép các cuộc họp như: Sơ kết, tổng kết của đảng bộ, HĐND, UBND cơ bản cùng một báo cáo đánh giá; hội nghị MTTQ và các đoàn thể, hội nghị các hội đặc thù… Đối với cấp cơ sở có một yếu tố thuận lợi cho chủ trương giảm và lồng ghép các cuộc họp là thành phần các hội nghị đa số trùng lặp.

    Ông Lê Kim Phúc: Để giảm họp, tăng hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, tôi có một số đề xuất sau: Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về chế độ hội họp, trước hết là bổ sung vào Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức quy định việc tổ chức hội họp trong hoạt động công vụ, thực hiện chức trách và nhiệm vụ được giao của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra để các quy định về hội họp bảo đảm thực hiện nghiêm túc. Tiếp tục đẩy mạnh phân công, phân cấp giữa các cấp, các ngành và quy định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, không chồng chéo. Một việc chỉ giao cho một cơ quan làm đầu mối chủ trì thực hiện, các cơ quan khác làm nhiệm vụ phối hợp. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hội họp, nhất là họp trực tuyến, phòng họp không giấy tờ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Lượng Hàng Tồn Kho
  • Giải Pháp Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả & An Toàn
  • Triển Khai Nhiều Giải Pháp Giảm Lượng Hàng Tồn Kho
  • Để Giảm Hút Thuốc Lá: Cần Biện Pháp Mạnh!
  • Những Giải Pháp Đẩy Mạnh Thực Thi Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Biện Pháp Chủ Yếu Để Giải Quyết Tình Trạng Thiếu Việc Làm Ở Nông Thôn Nước Ta Hiện Nay Là

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Ở Nông Thôn
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 55: Ô Nhiễm Môi Trường (Tiếp Theo)
  • Vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm.
  • 7.vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra? Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm. 8.bằng Cách Nào Con Người Có Thể Sử Dụng Tài Nguyên Thiển Nhiên Một Cách Tiết Kiệm Và Hợp Lí?
  • Ẩn Dụ Là Gì? Các Hình Thức Ẩn Dụ? Phân Biệt Ẩn Dụ Với Biện Pháp Khác
  • Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Phát biểu nào sau đây không đúng với ngành trồng lúa của đồng bằng sông Cửu Long
    • Cây công nghiệp lâu năm của nước ta chủ yếu là
    • Đất feralit ở nước ta là loại đất thích hợp nhất để phát triển
    • Nghề nuôi tôm ở nước ta phát triển mạnh nhất ở vùng
    • Vùng nào sau đây của nước ta có số lượng đô thị nhiều nhất cả nước
    • Nơi nào sau đây không thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ
    • Phát biểu nào sau đây đúng với nông nghiệp hàng hóa ở nước ta
    • Cho bảng số liệu: Dân số và số dân thành thị nước ta giai đoạn 1995-2014 Năm
    • Căn cứ vào Atlat trang 18, cho biết trâu được nuôi nhiều nhất ở vùng nào sau đây
    • Vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta là
    • Căn cứ vào Atlat Địa Lý Việt Nam trang 19, hãy cho biết loại cây công nghiệp nào sau đây không phải là sản phẩm chuyên
    • Thu nhập bình quân của người lao động nước ta thuộc loại thấp so với thế giới là do
    • Hãy cho biết quy mô dân số nước ta năm 2007?
    • Thành phần kinh tế nào vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta
    • Đô thị đầu tiên của nước ta là
    • Cho bảng số liệu sau Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm ở nước ta giai đoạn 2000- 2014
    • Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 19, cho biết cây công ngiệp nào sau đây không phải
    • Căn cứ vào Atlat địa lí Việt Nam trang 15, các đô thị loại 2 ở đồng bằng Sông Cửu Long (năm 2007) là
    • Căn cứ vào Atlat Địa Lý Việt Nam trang 20, cho biết tỉnh nào sau đây có sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất cả
    • Cho biểu đồ sauBiểu đồ trên thể hiện nội dung nào sau đây?
    • Đặc điểm nền nông nghiệp cổ truyền là
    • Đặc điểm đặc trưng nhất của nền nông nghiệp nước ta là
    • Đô thị nào sau đây của nước ta không trực thuộc trung ương
    • Sự phân bố dân cư nước ta chưa hợp lí đã ảnh hưởng lớn đến việc
    • Phải phân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng trên phạm vi cả nước là vì
    • Nước ta có nhiều thành phần dân tộc, vấn đề khó khăn lớn nhất cần giải quyết hiện nay là
    • Biện pháp làm cho năng suất lúa tăng nhanh là
    • Để khai thác tài nguyên và sử dụng tối đa nguồn lao động của đất nước cần phải
    • Căn cứ vào Atlat Địa Lý Việt Nam trang 18, cho biết bò được nuôi nhiều nhất ở vùng nào sau đây
    • Cây nào sau đây không thuộc cây công nghiệp hàng năm?
    • Cho bảng số liệu: Dân số Việt Nam qua các năm
    • Thuận lợi chủ yếu để nuôi trồng thủy sản ở nước ta là
    • Căn cứ vào Atlat địa lí Việt Nam trang 15, quy mô dân số các đô thị sau đây ở vùng đồng bằng Sông Hồng
    • Ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta thường phân bố ở
    • Biện pháp chủ yếu để giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay là
    • Để giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta, hướng nào sau đây là không hợp lí
    • Nghề nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh nhất ở các vùng
    • Vùng nào sau đây có giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất cả nước
    • Đặc điểm nào sau đây không phải là đặc điểm của đô thị hóa ở nước ta
    • Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong khu vực I có xu hướng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Tư Duy Giải Quyết Vấn Đề Trong Việc Làm Hiệu Quả 100%
  • Các Bước Giải Quyết Vấn Đề Hiệu Quả
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Sinh Viên Tốt Nghiệp Tại Các Trường Đại Học, Cao Đẳng Tỉnh Nghệ An
  • Biện Pháp Nào Làm Giảm Tỉ Lệ Gia Tăng Dân Số, Giảm Sức Ép Tới Môi Trường Tự Nhiên?
  • Đề Tài Vai Trò Của Hiệu Trưởng Trường Thcs Với Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục Ở Địa Phương
  • Kỹ Năng Tư Duy Giải Quyết Vấn Đề Trong Việc Làm Hiệu Quả 100%

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chủ Yếu Để Giải Quyết Tình Trạng Thiếu Việc Làm Ở Nông Thôn Nước Ta Hiện Nay Là
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Ở Nông Thôn
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 55: Ô Nhiễm Môi Trường (Tiếp Theo)
  • Vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm.
  • 7.vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra? Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm. 8.bằng Cách Nào Con Người Có Thể Sử Dụng Tài Nguyên Thiển Nhiên Một Cách Tiết Kiệm Và Hợp Lí?
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề là gì?

    Theo các nhà tâm lý học, tư duy là dạng hoạt động trí não cao nhất của con người. Tư duy làm cái cốt lõi, tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo.

    Trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày, nếu không có kỹ năng tư giải quyết việc làm thì bạn sẽ mãi đứng yên trên con đường sự nghiệp của mình mà không có những bước tiến, những đột phá để thăng tiến nhanh. Kỹ năng giải quyết vấn đề cũng chính là cách để bạn khẳng định khả năng và vị thế của mình trong xã hội. Tư duy giải quyết vấn đề sẽ tạo nên sự khác biệt, biết tối ưu hóa những lợi thế của loài người so với tất cả các sinh vật khác có mặt trên trái đất này.

    Chính vì vậy, bất cứ ai cũng nên học tập, rèn luyện để nâng cao khả năng tư duy sáng tạo để có những biện pháp giải quyết vấn đề việc làm tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất. Đừng bao giờ ngồi yên chờ mọi việc được giải quyết theo tự nhiên hoặc chờ người khác giải quyết mà hãy vận động trí óc của mình, suy nghĩ và tìm câu trả lời cho câu hỏi: làm thế nào để giải quyết công việc một cách nhanh nhất, tối ưu nhất. Đó cũng chính là những lúc bạn đang rèn luyện kỹ năng tư duy giải quyết vấn đề.

    Một số kỹ năng tư duy giải quyết vấn đề hiệu quả 100%

    Tập trung vào giải pháp

    Theo kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng nếu bạn không tập trung vào vấn đề, bạn sẽ không thể nào tìm ra được giải pháp. Khi phân tích đề tìm giải pháp, bạn đừng bao giờ chỉ chú ý vào những hạn chế, khuyết điểm để đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề và ra quyết định. Hãy nhìn nhận, đánh giá cả những ưu điểm để tìm ra giải pháp kích thích được sự phát triển của ưu điểm.

    Nhìn nhận vấn đề một cách trung lập

    Chúng ta không nên coi vấn đề mình đang gặp phải là một rào cản, chướng ngại vật không thể vượt qua được mà hãy suy nghĩ đơn giản rằng có một yếu tố hay điều gì đó hoạt động không hiệu quả và bạn cần tìm một yếu tố khác thay thế vào nhờ kỹ năng quản lý công việc hiệu quả.

    Bạn hãy thử tiếp cận vấn đề một cách trung lập với tư duy giải quyết vấn đề đúng đắn mà không so đo, tính toán quá nhiều, cũng tránh sự dao động do ý kiến đa chiều của những người xung quanh. Tuy nhiên, bạn cần phải lắng nghe ý kiến của họ để phân tích đúng sai và đưa ra biện pháp giải quyết vấn đề việc làm của mình.

    Lật ngược vấn đề

    Thông thường chúng ta thường tư duy theo chiều thuận là chủ yếu, tức là từ vấn đề tư duy để đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề. Vì thế mà chúng ta có thể bỏ qua rất nhiều biện pháp khả thi khác. Hãy cố gắng thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, nhìn nhận mọi thứ bằng cách lật ngược vấn về, đưa ra nhiều phương pháp và so sánh phương pháp với những gì bạn đã từng làm được. Có thể cách giải quyết đó có vẻ không mấy khả quan nhưng bạn sẽ có được một hướng tiếp cận mới độc đáo hơn, kích thích tư duy phát triển hơn nữa.

    Sử dụng ngôn ngữ tích cực

    Sử dụng những ngôn ngữ tích cực giúp cho não bộ của chúng ta được kích thích suy nghĩ theo hướng sáng tạo và khuyến khích. Vì vậy khi tư duy giải quyết vấn đề, chúng ta nên tránh những từ ngữ hạn chế và tiêu cực như “Sai lầm khi…”, “Tôi không cho rằng”, “Điều này không thể”…

    Đơn giản hóa mọi việc

    Chúng ta thường hay làm phức tạp mọi thứ hơn, làm mọi thứ trở nên rối loạn. Khi đó, chúng ta sẽ không thể tìm ra cách giải quyết hoặc cách giải quyết đưa ra không hiệu quả. Hãy cố gắng đơn giản hóa vấn đề cần giải quyết bằng cách loại bỏ những chi tiết vụn vặn và chúng ta sẽ tìm ra giải pháp đơn giản, rõ ràng và nhanh chóng nhờ kỹ năng giải quyết vấn đề chuyên nghiệp.

    Tư duy theo hướng mở

    Cùng một vấn đề, bạn hãy nghĩ đến nhiều con đường để giải quyết nó để có nhiều lựa chọn hơn. Chắc chắn rằng khi có nhiều lựa chọn hay biện pháp giải quyết vấn đề việc làm sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

    chúng tôi tự hào là trang web đi đầu trong việc cung cấp các khóa học giúp bạn có được kỹ năng tư duy logic tốt và hiệu quả để giải quyết tốt các vấn đề. Bạn chưa tự tin ở khả năng tư duy của mình, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và lựa chọn khóa học phù hợp. Mọi thông tin chi tiết về khóa học, xin anh chị vui lòng liên hệ theo:

    SĐT: 093648 6633-02438 238 720 Email: [email protected] Địa chỉ: 13 Nguyễn Chế Nghĩa, P. Hàng Bài, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bước Giải Quyết Vấn Đề Hiệu Quả
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Sinh Viên Tốt Nghiệp Tại Các Trường Đại Học, Cao Đẳng Tỉnh Nghệ An
  • Biện Pháp Nào Làm Giảm Tỉ Lệ Gia Tăng Dân Số, Giảm Sức Ép Tới Môi Trường Tự Nhiên?
  • Đề Tài Vai Trò Của Hiệu Trưởng Trường Thcs Với Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục Ở Địa Phương
  • Chăm Sóc Trẻ Có Hoàn Cảnh Khó Khăn
  • Đề Tài Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 2).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 4).
  • Bài 11: Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm
  • Giải Pháp Thực Hiện Chính Sách Hỗ Trợ Tạo Việc Làm Cho Người Lao Động Và Các Nhóm Lao Động Đặc Thù
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 11
  • Câu 1: phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động. I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Việc làm có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân, xã hội và đất nước. Việc là tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình người lao động, tạo ra của cải vật chất, từ đó giúp ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội. giải quyết việc làm luôn là một chính sách quan trọng của mỗi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, dân số đông và tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động chiếm 52%. Hằng năm có 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Để thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm đòi hỏi sự tham gia nỗ lực của Nhà nước, các tổ chức xã hội, người lao động và người sử dụng lao động. Khái niệm việc làm được ghi nhận chính thức về mặt pháp lý trong bộ luật lao động (BLLĐ). Tại điều 13 BLLĐ quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Sự quy định cụ thể khái niệm việc làm trên phạm vi toàn xã hội, từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc ban hành và áp dụng pháp luật lao động, góp phần hoàn thiện pháp luật lao động, ổn định quan hệ việc làm, tạo điều kiện cho việc quản lý và đánh giá hiện trạng việc làm, từ đó nhà nước có chính sách giải quyết việc làm hiệu quả hơn. Giải quyết việc làm là việc 1 quốc gia thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, đảm bảo được đời sống, thu nhập của người lao động góp phần phát triển kinh tế ổn định, vững mạnh, lâu bền. giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với những nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. II.CÁC BIỆN PHÁP NHẰM HỖ TRỢ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG. Với ý nghĩa to lớn của việc làm và giải quyết việc làm, để nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động, Nhà nước quy định một số biện pháp pháp lý sau: Xây dựng chương trình việc làm Đây là một trong những biện pháp để Chính phủ thực hiện việc điều tiết, tạo việc làm mới và giải quyết việc làm cho người lao động. Nội dung chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, nội dung hoạt động, nguồn tài chính, thời gian, các giải pháp. Việc lập chương trình việc làm nhằm bảo đảm cho mọi người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc tiến tới có việc làm đầy đủ, thông qua đó giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội. Chương trình việc làm được triển khai trên 2 hướng cơ bản, đó là tạo việc làm mới thông qua việc thức đẩy phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm và duy trì, đảm bảo việc làm cho người lao động. Trong đó hướng thứ nhất được xác định là hướng cơ bản và quan trọng nhất. Theo quy định của BLLĐ, chương trình việc làm của địa phương do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xây dựng và được Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp phê duyệt. Việc xây dựng các chương trình việc làm và các biện pháp để thực hiện các chương trình này là cơ sở đầu tiên để tiến hành giải quyết việc làm cho người lao động. 2.Lập quỹ giải quyết việc làm. Để giải quyết việc làm, BLLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về lập quỹ giải quyết việc làm. Qũy giải quyết việc làm bao gồm: quỹ giải quyết việc làm ở trung ương (quỹ Quốc gia về giải quyết việc làm); quỹ giải quyết việc làm ở địa phương; quỹ giải quyết việc làm cho người tàn tật và các quỹ chuyên dụng khác. Qũy Quốc gia về việc làm đóng vai trò hạt nhân trong quá trình giải quyết việc làm quốc gia. Lập quỹ quốc gia về giải quyết việc làm từ các nguồn trích một tỉ lệ nhất định trong ngân sách Nhà nước; một phần từ nguồn thu do đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, từ sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ các nước cho giải quyết việc làm. Qũy được sử dụng trên nguyên tắc bảo tồn và tăng trưởng; trước hết cho vay với lãi suất nâng đỡ hoặc bảo tồn giá trị cho vay đói với hộ tư nhân, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp tạo được chỗ làm việc mới hoặc thu hút thêm lao động; trợ giúp các chương trình, dự án tạo việc làm; các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm; trung tâm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sử dụng lao động. Hàng năm, Bộ Lao động thương binh và xã hội cùng Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch nhà nước tính toán nguồn quỹ trình Chính phủ quyết định. Qũy giải quyết việc làm địa phương được hình thành từ các nguồn sau: ngân sách địa phương do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác. Hàng năm, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có căn cứ vào khả năng ngân sách địa phương, nhu cầu giải quyết việc làm và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, bố trí một phần kinh phí trong dự toán ngân sách địa phương để lập quỹ việc làm địa phương, trình HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Qũy giải quyết việc làm địa phương được sử dụng làm vốn cho vay giải quyết việc làm theo đúng mục tiêu của chương trình giải quyết việc làm của địa phương và hỗ trợ cho giải quyết việc làm của cấp huyện. 3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm Nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động không chỉ là nhu cầu tự thân mà còn là yêu cầu khách quan. Có nghề nghiệp là điều kiện tiên quyết để người lao động tìm được việc làm ổn định. Đào tạo nghề vì thế mà ngày càng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Quan điểm đào tạo nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm được đặc biệt nhấn mạnh trong kết luậ của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI về giáo dục và đào tạo “phải đặc biệt nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, mở rộng đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp trên nền học vấn Trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở”. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo ra nguồn nhân lực kỹ thuật có sức khỏe, đọa đức tốt, có ý thức kỷ luật, có trình độ kỹ thuật cao, có khả năng thực hành để sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm ổn định, tự tọa ra việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường đồng thời đáp ứng được mục tiêu giải quyết việc làm cho người học nghề. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân có đủ điều kiện tham gia dạy nghề cho những đối tượng có nhu cầu. Các hình thức đào tạo nghề gắn với tạo việc làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm, đào tạo nghề sử dụng lao động, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và đào tạo nghề dự phòng ở các doanh nghiệp, đào tạo nghề cho người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. 4. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Ở nước ta hiện nay, với khoảng trên 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động mỗi năm, trong điều kiện khả năng của nền kinh tế có hạn, số chỗ làm mới không đủ để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động này, chính vì vậy, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một biện pháp của chương trình lao động, việc làm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo. Tính đến hết tháng 12/2009, cả nước đưa gần 75.000 người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài, đạt 83% kế hoạch. Việt Nam hiện có gần 450.000 lao động đang làm việc có thời hạn tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ. Mỗi năm, lao động ở nước ngoài gửi về cho thân nhân ở trong nước 1,6 đến 2 tỷ USD. Với mong muốn hợp tác với tất cả các nước tren tinh thần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi, chúng ta đã và đang thực hiện tốt hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, coi đây là một trong những kênh quan trọng, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho người dân, đem lại cơ hội lớn trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài. Tổ chức giới thiệu việc làm. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để giải quyết việc làm. Tổ chức giới thiệu việc làm là cầu nối giữa những người lao động và người sử dụng lao động, có vai trò tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động. Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn việc làm cho người lao động những công việc phù hợp với khả năng của người lao động; tuyển lao độngt heo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động. Các tổ chức giới thiệu việc làm tuy không trực tiếp tạo ra việc làm nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc đưa việc làm đến với người lao động, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển thị trường lao động, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, tạo thuận lợi phát triển các hoạt động giao dịch trên thực tế. Đến nay đã có 150 trung tâm giới thiệu việc làm và hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, hàng năm tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng triệu lượt người. Các hội chợ việc làm, phiên chợ việc làm, tháng việc làm, điểm hẹn việc làm, sàn giao dịch việc làm… được tổ chức thường xuyên, tích cực gắn kết với người lao động và người sử dụng lao động; đã đưa thông tin tới tận người lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo cơ hội cho người lao động có khả năng tìm việc làm và có việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng của bản thân. Ngoài các biện pháp trên, Nhà nước còn có chính sách khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, khuyến khích sử dụng lao động và tự do hợp đồng. Cho phép các đơn vị sử dụng lao động được quyền tự do tuyển dụng lao động trên cơ sở nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị. Người lao động đợc quyền tự do thiết lập quan hệ lao động trên cơ sở hợp đồng. Nhà nước cũng có chính sách khuyến khích đầu tư nhằm phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động. Đồng thời nhà nước còn thực hiện hàng loạt các biện pháp như thực hiện chính sách dân số, phân bổ dân cư, cơ cấu lại lực lượng lao động, xóa đói giảm nghèo gắn với giải quyết việc làm… III. KẾT LUẬN Trong những năm qua, từ việc áp dụng các biện pháp trên, Nhà nước đã giải quyết được rất nhiều việc làm cho người lao động. Việc này có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong phát triển kinh tế gia đinh nói riêng, kinh tế đất nước nói chung, góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Thực Trạng Việc Làm Hiện Nay Ở Nước Ta Và Đề Ra Biện Pháp Giải Quyết Câu Hỏi 76769
  • Làm Sao Giảm Tai Nạn Giao Thông?
  • Hãy Đề Xuất 1 Số Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông?
  • Thực Hiện Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Ở Đoan Hùng
  • Giải Pháp Mới Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Trình Bày Thực Trạng Việc Làm Hiện Nay Ở Nước Ta Và Đề Ra Biện Pháp Giải Quyết Câu Hỏi 76769

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 2).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 4).
  • Bài 11: Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm
  • Giải Pháp Thực Hiện Chính Sách Hỗ Trợ Tạo Việc Làm Cho Người Lao Động Và Các Nhóm Lao Động Đặc Thù
  • Đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam luôn là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan, và đặc biệt là Nhật Bản. Là bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất vì thế mà việc phát triển nguồn nhân lực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Viện Khoa học Lao động và xã hội, tỉ lệ thất nghiệp của cả nước tính đến hết tháng 6 – 2014 ở khoảng 1,84%, nằm trong top những nước có tỉ lệ thất nghiệp thấp trên thế giới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam đang có tình trạng việc làm ổn định cho người dân. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới ( World Bank), thì nước ta đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kĩ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác. Trong khi tồn tại một nghịch lý đó là cử nhân, thạc sĩ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động. Từ con số 72.000 người không có việc làm tăng lên đến 162.000 người trong đầu năm nay, trong đó, nhóm người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 60% tổng số lao động thất nghiệp, nhóm có bằng đại học và trên đại học chiếm gần 17%. Như vậy, so với thế giới, Việt Nam thuộc diện có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhưng đối với tình hình lao động việc làm trong nước thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao. Trong khi đó, các dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực của doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam là trên 16.300 dự án, với tổng số vốn đầu tư thực tế khoảng 238 tỷ USD đã tạo ra không ít việc làm cho người lao động.

    Như vậy, để khắc phục hiện trạng trên, nước ta phải có một số giải pháp như sau:

    + Đẩy mạnh các chính sách giáo dục – đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ, đẩy mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo.

    + Phát triển các trường dạy nghề để đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của việc học hỏi, nâng cao trình độ, tay nghề.

    + Hỗ trợ học phí cho các học viên về các ngành nghề mà các DN Nhật Bản cần nhưng ít người được học như cơ khí.

    + Phát triển mạng lưới thông tin thị trường, giới thiệu các cơ sở tuyển dụng việc làm cho người Nhật như trang chúng tôi đến đông đảo người lao động, giúp họ dễ dàng tìm được việc thích hợp.

    + Xây dựng chế độ tiền lương, chính sách chăm sóc sức khỏe cho nhân viên một cách hợp lý. Cần có chế độ thưởng, phạt công khai, rõ ràng theo năng lực và thành tích cá nhân như các DN Nhật áp dụng cho nhân viên của mình sẽ tạo động lực cho nhân viên phát huy hết khả năng mà họ đang có.

    Như vậy, với những hướng giải quyết đơn giản như trên nhưng có thể trong tương lai gần Việt Nam sẽ thu hút them được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa để trở thành một nước có nền kinh tế phát triển đứng vào hàng ngũ các nước công nghiệp trên thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Sao Giảm Tai Nạn Giao Thông?
  • Hãy Đề Xuất 1 Số Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông?
  • Thực Hiện Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Ở Đoan Hùng
  • Giải Pháp Mới Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Giải Pháp Nào Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50