Trình Bày Thực Trạng Việc Làm Hiện Nay Ở Nước Ta Và Đề Ra Biện Pháp Giải Quyết Câu Hỏi 76769

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 2).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11 Bài 11 (Có Đáp Án): Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm (Phần 4).
  • Bài 11: Chính Sách Dân Số Và Giải Quyết Việc Làm
  • Giải Pháp Thực Hiện Chính Sách Hỗ Trợ Tạo Việc Làm Cho Người Lao Động Và Các Nhóm Lao Động Đặc Thù
  • Đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam luôn là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan, và đặc biệt là Nhật Bản. Là bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất vì thế mà việc phát triển nguồn nhân lực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Viện Khoa học Lao động và xã hội, tỉ lệ thất nghiệp của cả nước tính đến hết tháng 6 – 2014 ở khoảng 1,84%, nằm trong top những nước có tỉ lệ thất nghiệp thấp trên thế giới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam đang có tình trạng việc làm ổn định cho người dân. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới ( World Bank), thì nước ta đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kĩ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác. Trong khi tồn tại một nghịch lý đó là cử nhân, thạc sĩ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động. Từ con số 72.000 người không có việc làm tăng lên đến 162.000 người trong đầu năm nay, trong đó, nhóm người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 60% tổng số lao động thất nghiệp, nhóm có bằng đại học và trên đại học chiếm gần 17%. Như vậy, so với thế giới, Việt Nam thuộc diện có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhưng đối với tình hình lao động việc làm trong nước thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao. Trong khi đó, các dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực của doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam là trên 16.300 dự án, với tổng số vốn đầu tư thực tế khoảng 238 tỷ USD đã tạo ra không ít việc làm cho người lao động.

    Như vậy, để khắc phục hiện trạng trên, nước ta phải có một số giải pháp như sau:

    + Đẩy mạnh các chính sách giáo dục – đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ, đẩy mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo.

    + Phát triển các trường dạy nghề để đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của việc học hỏi, nâng cao trình độ, tay nghề.

    + Hỗ trợ học phí cho các học viên về các ngành nghề mà các DN Nhật Bản cần nhưng ít người được học như cơ khí.

    + Phát triển mạng lưới thông tin thị trường, giới thiệu các cơ sở tuyển dụng việc làm cho người Nhật như trang chúng tôi đến đông đảo người lao động, giúp họ dễ dàng tìm được việc thích hợp.

    + Xây dựng chế độ tiền lương, chính sách chăm sóc sức khỏe cho nhân viên một cách hợp lý. Cần có chế độ thưởng, phạt công khai, rõ ràng theo năng lực và thành tích cá nhân như các DN Nhật áp dụng cho nhân viên của mình sẽ tạo động lực cho nhân viên phát huy hết khả năng mà họ đang có.

    Như vậy, với những hướng giải quyết đơn giản như trên nhưng có thể trong tương lai gần Việt Nam sẽ thu hút them được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa để trở thành một nước có nền kinh tế phát triển đứng vào hàng ngũ các nước công nghiệp trên thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Sao Giảm Tai Nạn Giao Thông?
  • Hãy Đề Xuất 1 Số Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông?
  • Thực Hiện Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Ở Đoan Hùng
  • Giải Pháp Mới Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Giải Pháp Nào Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Đề Tài Đề Tài Một Vài Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Giảm Thiểu Học Sinh Lưu Ban Trong Trường Th Nvx

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Vùng Dtts
  • Skkn – Biện Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Pcgd Đúng Độ Tuổi
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phổ Cập Giáo Dục Và Xóa Mù Chữ
  • Chuyên Đề: “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giáo Dục Hướng Nghiệp”
  • Đổi Mới Quản Lý Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một số GV trẻ có trình độ đại học, được đào tạo chính quy nên việc cập nhật các vấn đề về chuyên môn, xã hội nhạy bén; GV năng động, hoạt bát và tiên phong trong mọi hoạt động.

    Gắn kết các thành viên trong đơn vị thành một khối đoàn kết cùng phấn đấu cho mục tiêu chung của tập thể để đạt được kết quả giáo dục tương đối tốt.

    Một số GV bằng lòng với những gì đã làm được, chưa có sự đầu tư chất lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn không cao. Một số GV chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy- học; có suy nghĩ yên phận thủ thường.

    Học sinh có tham gia các phong trào nhưng kết quả rất thấp.

    2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

    Trong những năm gần đây nhờ sự chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT, sự quan tâm phối hợp của địa phương và sự chỉ đạo linh hoạt của Ban giám hiệu nhà trường. Tập thể sư phạm đoàn kết. Cán bộ quản lý và giáo viên có nhiều cơ hội bồi dưỡng trau dồi thêm năng lực quản lý cũng như năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt sau khi Thông tư 30/2014 được áp dụng thì hiệu quả trong giáo dục được nâng lên: Việc nhận xét đánh giá HS rất đa dạng phong phú; đặc biệt việc nhận xét HS bằng lời khiến GV phải suy nghĩ trăn trở tìm những câu từ nhận xét, đánh giá HS sao cho gần gũi, dễ hiểu, cụ thể nhất nhưng không làm tổn thương HS, không có sự so sánh giữa các HS với nhau lại khích lệ thế mạnh của HS để các em phát triển thế mạnh, khắc phục được nhược điểm. Như vậy càng tăng thêm tình cảm thầy trò, gắn kết giữa các HS với nhau (HS nhận xét đánh giá HS); việc đánh giá HS trở nên khách quan, đảm bảo tính chân thực cao. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế sau:

    – Về giáo viên

    + Do tuổi cao nên khả năng vận dụng phương pháp mới; ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế.

    + Có GV chưa thật sự tâm huyết với nghề vì điều kiện gia đình khó khăn về kinh tế; nặng về hủ tục sinh con một bề (Năm học 2013- 2014 có tới 3 GV sinh con thứ 3); Còn nặng về việc chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần cho gia đình…

    + Khả năng nhận thức của GV không đồng đều; Ý thức trách nhiệm, tự giác của một số GV chưa cao, chưa chịu khó rèn luyện và học hỏi kinh nghiệm, làm việc chưa hết khả năng,Những GV này tự mặc cảm mình kém cỏi nên không phấn đấu, họ tự nghĩ nếu có cố gắng thì cũng vẫn thua các bạn đồng nghiệp và cũng chẳng bao giờ được ai khenvà cứ như vậy họ càng ngày càng chán nản, xa đà xuống dốc.

    – Đa số phụ huynh HS của trường đều làm nông nghiệp nên thu nhập thấp, kinh tế gia đình tạm ổn vả lại thời gian cũng không rảnh nên ít có điều kiện cho con cái được đi giao lưu học hỏi ở ngoài xã hội. Chính vì thế mà đại đa các em đều nhút nhát, kĩ năng giao tiếp chậm, điều này có ảnh hưởng một phần chất lượng giáo dục.

    2.5.Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.

    – Phân tích biện pháp chỉ đạo của Ban giám hiệu đối với giáo viên

    Đồng chí Hiệu trưởng nhà trường là người có bản lĩnh, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý giáo dục; đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo tập thể hội đồng sư phạm đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Trong hai năm qua nhà trường đều đạt danh hiệu tập thể lao động Tiên tiến. Tuy nhiên trong công tác chỉ đạo vẫn còn một lỗ hổng nhỏ mà ban giám hiệu làm chưa làm triệt để dẫn đến hiệu quả công tác quản lý chưa cao đó là: Công tác kiểm tra lại chưa kỹ; Đôi khi trong giải quyết công việc còn nặng về tình cảm. Động viên GV có thành tích cao trong hoạt động giáo dục bằng vật chất còn chậm, hạn chế.

    -Trình độ chuyên môn, nhận thức của giáo viên

    Trường có đủ về số lượng GV và GV bộ môn, 100% GV có trình độ đạt chuẩn, trong đó GV trên chuẩn đạt 85%. Đội ngũ GV có năng lực chuyên môn tương đối đồng đều, vững vàng nhiệt tình trong giảng dạy và các hoạt động khác của nhà trường, có đạo đức tốt, tác phong sư phạm nhà giáo chuẩn mực, chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hầu hết các đồng chí GV đều nắm rõ mục tiêu của giáo dục tiểu học, gương mẫu, nhiệt tình trong các hoạt động giảng dạy.

    Trường có 10/22 GV đã tham gia dự thi và đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Bên cạnh đó có 20% GV mới ra trường tuổi nghề còn ít, tuổi đời còn trẻ chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy và công tác; một bộ phận GV có tuổi đời cao, có thâm niên trong nghề nghiệp, tuy nhiệt tình trong công tác nhưng chưa phát huy hết nội lực bản thân, chưa đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực chuyên môn là:

    Thứ nhất, một vài GV trong trường, kinh tế gia đình còn khó khăn, chồng làm nông nghiệp hoặc làm nghề tự do lại phải nuôi nhiều con ăn học (con riêng của chồng, con riêng của vợ và con chung).

    Thứ hai, đa số GV nữ, đang trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ, sinh con một bề nên phải chịu hủ tục lạc hậu có con trai, con gái mới là gia đình có phúc. GV sinh con một bề đã phải sinh con thứ 3 (3 GV).

    Thứ ba, có GV nhiều năm liền chỉ dạy có một khối lớp đó chính là một trong nguyên nhân dẫn đến sự mai một kiến thức toàn cấp; có GV từ lúc ra trường cho đến khi về nghỉ hưu cũng chỉ dạy một khối lớp. Vì vậy họ thụ động trong quá trình phê và tự phê; khi dự giờ đồng nghiệp những giáo viên này thường không có ý kiến về chuyên môn (vì tôi không bao giờ dạy lớp đó). Như vậy càng cực kỳ khó khăn cho việc phân công chuyên môn.

    -Thực trạng về thiết bị phục vụ cho giảng dạy của trường TH Nguyễn Viết Xuân

    Trường có hai điểm trường, tuy nhiên số HS tại điểm lẻ lại nhiều hơn trong điểm chính, mà số HS được học Tin học chỉ có điểm chính (phòng máy đặt tại điểm chính). Trường có 2 máy tính xách tay; Một dành cho kế toán; một dành cho chuyên môn. Máy dành cho hoạt động chuyên môn do cài đặt quá nhiều phần mền vả lại sử dụng đã lâu năm nên thường xuyên bị lỗi, hiện không còn sử dụng được. Mỗi lần chuyên môn đi tập huấn hay thực hiện các chuyên đề tại trường đều phải đi mượn máy của GV. Mặt khác thiết bị dùng để nghe phụ vụ cho môn Tiếng Anh cũng không rõ âm thanh nên đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy- học.

    – Chất lượng đại trà thấp, tỷ lệ học sinh lưu ban cao

    Do phương pháp dạy học của giáo viên.

    Do một phần gia đình quan tâm chưa đúng mức đến con em. Vì một số em do bố mẹ đi làm ăn xa nên đã gửi con cho ông bà nuôi nên ông bà có tâm lý chiều cháu thái quá.

    Các em ít có điều kiện được đi giao lưu nên rất nhút nhát, không dám thể hiện mình.

    3. Giải pháp, biện pháp:

    Biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn, GV thay đổi ý thức, thái độ, nhận thức, tình cảm trong công việc.

    Biện pháp chỉ đạo làm thay đổi nhận thức của HS để nâng cao tinh thần học tập góp phần nâng cao chất lượng.

    3.1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

    Các biện pháp giúp Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng năng lực GV đạt hiệu quả; GV nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nâng cao ý thức tự học, tự rèn, tự sáng tạo; nâng cao chất lược giáo dục của đơn vị và tạo uy tín trong nhân dân.

    Giúp cho Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch chỉ đạo sát với thực tế để đạt hiệu quả quản lý cao.

    Giúp HS định hướng đúng mục đích học tập, tạo động cơ học tập bên trong.

    3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

    Chất lượng giáo dục trong nhà trường có được là kết quả hội tụ của rất nhiều các yếu tố nhưng trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến một số nội dung sau:

    – Phương pháp quản lý, chỉ đạo của ban giám hiệu( Phần cứng là lãnh đạo, chỉ đạo theo văn bản chỉ đạo của cấp trên; Phần mềm: chỉ đạo thông qua các kỹ năng của cuộc sống như: sự cảm thông, thấu hiểu, chia sẻ,

    – Chất lượng đội ngũ giáo viên (Năng lực, phẩm chất đạo đức nhà giáo, kỹ năng sư phạm trong giảng dạy, phương pháp giảng dạy)

    – Tác động đến ý thức học tập của học sinh.

    * 1. Phương pháp quản lý, chỉ đạo của ban giám hiệu

    Việc làm này đòi hỏi Ban giám hiệu luôn đi đầu trong mọi hoạt động để làm gương cho đội ngũ GV. Xác định đây là việc khó nhưng không thể không làm, mà coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cùng với sự cộng tác của các thành viên, tổ khối trưởng. 

    – Thành lập một số tổ tư vấn hỗ trợ các hoạt động giáo dục: 

    – Truyền cảm hứng

    Không phải người lãnh đạo phải giỏi toàn diện; giỏi hơn giáo viên mà nhà quản lý phải giỏi truyền cảm hứng cho GV, thổi vào con người họ những ước mơ, hoài bão tốt đẹp để họ tự cảm thấy đó là trách nhiệm mình phải làm để xứng đáng với những gì tập thể, nhân dân mong đợi.

    Quản lý, lãnh đạo bằng tấm gương của mình để thu phục mọi người. chính vì vậy Ban giám hiệu luôn chấp hành nghiêm theo quy chế chuyên môn trong đó kể cả những việc nhỏ nhất như là: trang phục đồng phục hay giờ giấc làm việc. Bản thân tôi không dung túng, bao che cho bất kỳ một trường hợp nào vi phạm quy chế chuyên môn; nghiêm khắc xử lý hợp tình, hợp lý. Ví dụ, nếu thấy một GV đi muộn giờ thì tôi nhắc nhở luôn, nếu GV làm được việc tốt thì tuyên dương kịp thời. Nếu GV chậm giờ quá 10 phút, trước tiên là tôi sắp xếp tìm GV khác đứng lớp trong thời gian GV đó chưa đến lớp hoặc tự mình đứng lớp thay. Sau đó sắp xếp thời gian hợp lý (giờ ra chơi hay cuối buổi) tôi ân cần hỏi han lý do và tư vấn, khuyên họ chân tình chứ không phải lập biên bản trướcTôi phải tìm hiểu rõ các nguyên nhân để khuyên răn hoặc ngăn chặn nhẹ nhàng bằng nhân tâm của chính mình chứ không nên áp đặt một chiều. Những việc tương tự như vậy xẩy ra đều được giải quyết theo cách này chứ không có sự thiên vị một ai.

    Trong những việc làm thường xuyên của tôi là luôn luôn giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp với đội ngũ GV và HS. Trong quá trình đó tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm trong giao tiếp, chỉ đạo:

    + Luôn giữ lời hứa: Nói là làm; làm thì làm đến nơi. Nếu vô tình hoặc cố ý quên hay bỏ qua điều mình đã nói (hứa) thì khiến cấp dưới mất đi lòng tin và rõ ràng, giá trị của người lãnh đạo sẽ giảm đi rất lớn.

    + Luôn công bằng: nếu có sự thiên vị dù cố ý hay vô tình cũng đều có thể hủy hoại danh tiếng rất nhanh.

    + Luôn tin tưởng: Tin tưởng đội ngũ GV, nhân viên; tin vào đội ngũ tổ khối trưởng, tổ tư vấn các hoạt động chuyên môn đó chính là những nhân tố giúp việc tốt là những người bạn, người đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị.

    + Trung thực: Luôn trung thực trong công việc, trong cuộc sống. Sự không thẳng thắn luôn bị phát hiện dù sớm hay muộn và điều tồi tệ hơn là làm mất đi lòng tin.

    Tóm lại: bản thân tôi luôn luôn động viên, khuyến kích sự lao động sáng tạo của mọi người, luôn tạo một môi trường làm việc thân thiện cho mọi người; thuyết phục mọi người cam kết hoàn thành công việc đúng thời hạn và đáp ứng được chất lượng cao công việc đề ra.

    * 2. Bồi dưỡng chất lượng cho đội ngũ giáo viên

    – Tham mưu với hiệu trưởng phân công chuyên môn dựa theo năng lực sở trường và theo chiều hướng phát triển để có cơ sở bồi dưỡng thành hạt nhân nòng cốt. Hàng năm, cuối năm học tập thể hội đồng sư phạm đánh giá xếp loại cán bộ, viên chức trong nhà trường. Bản thân tôi đã dựa vào kết quả đó để tham mưu với hiệu trưởng trong việc phân công chuyên môn sao cho vừa đảm bảo tính phát triển của cá nhân và tính hiệu quả trong toàn đơn vị.

    + Mỗi tổ khối chọn ít nhất từ 1-2 GV có chuyên môn vững vàng của toàn cấp, chí ít là có chuyên môn vững vàng của khối đó để làm nòng cốt. Những GV này họ kèm cặp, giúp đỡ những GV trong tổ về chuyên môn cũng như các hoạt động giáo dục khác. Người có nhiều kinh nghiệm tạo điều kiện giúp đỡ người có ít kinh nghiệm họ cùng chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như trong các hoạt động giáo dục, nhằm giúp cho mỗi GV có cơ hội phát triển, học hỏi lẫn nhau. Tạo cơ hội cho GV được khám phá bản thân. Ví dụ: Những GV chuyên làm công tác chủ nhiệm khối lớp 3, nay được chuyển sang làm công tác chủ nhiệm khối lớp 4; những GV chuyên dạy thay nay được giao làm công tác chủ nhiệm lớp,Tất nhiên lúc đầu họ sẽ gặp một chút khó khăn song được chuyên môn nhà trường, tổ khối trưởng hỗ trợ, dần họ cũng đã quen, tự tin và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    – Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn

    + Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đều được sinh hoạt luân phiên một trong 3 tổ chuyên môn của trường. Với mục đích nhằm bồi dưỡng quán triệt sâu sắc thêm các chỉ thị nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ năm học của các cấp quản lý giáo dục nhất là nhiệm vụ năm học của cấp Tiểu học làm cho mỗi một GV nắm được nhiệm vụ trọng tâm của năm học từ đó nâng cao nhận thức tầm quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, học tập trong năm học.

    Tổ chức tốt bồi dưỡng thường xuyên từng chu kì cho GV theo các modun đã đăng kí (Tập huấn tập trung, tự học, tự bồi dưỡng) 

    Tổ chức đánh giá, bình xét thi đua trong tổ thật khách quan, công bằng trước khi đưa lên hội đồng thi đua nhà trường đánh giá xếp loại.

    + Bồi dưỡng -kĩ năng dạy học trên lớp

    Chỉ đạo dự giờ thăm lớp theo hướng cắt lát kết hợp khảo sát HS. Đây là hoạt động mang tính chất thường xuyên của tất cả GV, HS. Dự giờ thăm lớp giúp người dự nhận thấy được ưu điểm của đồng nghiệp để học hỏi và những sai sót để tránh. Dự giờ có chỉ định trước hoặc dự giờ đột xuất, dự hết tiết hoặc dự một, hai, hoạt động, sau khi dự giờ xong người dự nhận xét ưu, khuyết điểm góp ý theo tiêu chí đánh giá xếp loại giờ dạy đã quy định và góp ý cho người dạy để họ phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại. Thông qua dự giờ của GV mà tổ tư vấn góp ý bồi dưỡng giúp đỡ cho giáo viên về kĩ năng dạy học trên lớp, đặc biệt sự linh hoạt của giáo viên trong việc sử dụng các phương pháp dạy học theo đặc trưng từng bộ môn, đồng thời giúp cho GV biết lựa chọn hình thức dạy học cho phù hợp theo đối tượng HS của lớp mình.

    + Chỉ đạo các tổ sinh hoạt theo chiều sâu; thực hiện các tiết chuyên đề mà GV trong khối yêu cầu, những khó khăn trong quá trình giảng dạy cần được tháo gỡ.

    Cách 1: Lợi dụng nhân tài trong khối để cùng Ban giám hiệu chuẩn bị nội dung và tổ chức chuyên đề. Ví dụ chọn GV dạy giỏi cấp huyện thực hiện chuyên đề nội dung Phương pháp quan sát, lập dàn ý chi tiết cho tiết tập làm văn tả cảnh hoặc chuyên đề về dạy thực hành tiết dạy kể chuyện chứng kiến hoặc tham gia của lớp 5;

    Cách 2: Tổ chức chuyên đề theo cụm. Các trường trong cụm phối hợp với nhau chọn nội dung, hình thức tổ chức phù hợp với địa phương, với GV để thực hiện chuyên đề, cụ thể năm học 2014- 2021 trường đã tổ chức một tiết chuyên đề cấp cụm về việc nhận xét, đánh giá HS theo Thông tư 30/2014, được Phòng giáo dục huyện đánh giá là khá chi tiết. Bên cạnh đó tập thể sư phạm nhà trường được dự giờ các trường trong cụm về các kỹ năng soạn giáo án điện tử, Ngoài ra trong sinh hoạt tổ còn thường xuyên chia sẻ những câu chuyện có thật, những tình huống sư phạm mà đồng nghiệp mắc phải trong giảng dạy, trong làm công tác chủ nhiệm; những câu từ nhận xét đánh giá HS cụ thể để mọi người ý kiến trao đổi. Cách sinh hoạt này giúp giáo viên phát huy hơn tính tích cực của bản thân, mạnh dạn hơn, nêu cao tinh thần học hỏi, tinh thần phê và tự phê.

    – Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá

    Kiểm tra đánh giá nhằm giúp giáo viên phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại. Kiểm tra với nhiều nội dung như: giáo án, dự giờ, xem vở ghi của HS, khảo sát chất lượng theo từng đối tượng HS. Hình thức kiểm tra cũng phải phong phú: kiểm tra thường xuyên theo quy định, kiểm tra đột xuất (đối với những GV ý thức chưa cao). Trong năm 2014- 2021 đã tổ chức kiểm tra chuyên đề được 239 lượt tăng hơn so với năm học 2013- 2014 là 10 lượt Không tính số lượt tư vấn chia sẻ ngoài kiểm tra.

    Trong quá trình kiểm tra, tổ kiểm tra (nay gọi là ban kiểm tra nội bộ) đã chỉ ra những ưu điểm, tồn tại của người được kiểm tra; tư vấn những việc phải làm ngay sau kiểm tra và những công việc sẽ phải làm để đáp ứng yêu cầu công việc; không nhận xét chung chung, cào bằng làm thủ tiêu ý chí phấn đấu của những GV có năng lực và ý thức trách nhiệm cao. Đặc biệt đã chú trọng đến việc kiểm tra lại để thấy được mức độ tiến bộ của người được kiểm tra. Qua đó có thể khen ngợi sự tiến bộ của họ khi họ đã chấp hành đúng theo yêu cầu của ban kiểm tra nhằm khích lệ tinh thần phấn đấu vươn lên trong mỗi GV.

    - Sử dụng các biện pháp kinh tế sư phạm và tâm lý xã hội

    Cuối cùng, một yếu tố không thể thiếu được là động viên, khen thưởng kịp thời và thích đáng với những thành tích của GV dạy giỏi và GV chủ nhiệm giỏi. Chúng tôi đã mạnh dạn phiên cách đánh giá của HS theo Thông tư 30/2014 sang đánh giá GV; trong tập thể GV, người nào có cố gắng vươn lên trong quá trình tự học, tự rèn, phấn đấu trở thành GV dạy giỏi, tập thể lớp có nhiều HS giỏi phải được tuyên dương khích lệ khịp thời, thậm chí có phần thưởng xứng đáng nhằm nhân rộng điển hình trong đơn vị. Phần thưởng tuy nhỏ nhưng có tác dụng động viên rất lớn, thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy và học. Để các thầy cô giáo yên tâm, gắn bó hết mình với nghề nghiệp, đem hết khả năng và trí tuệ phục vụ cho công tác giảng dạy, bồi dưỡng HS học tập đạt kết quả cao

    Mỗi GV đều có hoàn cảnh gia đình với những thuận lợi và khó khăn riêng. Vì vậy, với khả năng và trách nhiệm của mình vừa là phó hiệu trưởng vừa là trưởng ban nữ công công đoàn nhà trường, tôi đặc biệt quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi nhất để động viên, khích lệ GV yên tâm, phấn khởi hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngoài ra nhà trường còn kết hợp chặt chẽ với ban đại diện cha mẹ HS để thưởng cho những GV giỏi và HS giỏi nhân dịp cuối năm. Phần thưởng đối với GV và HS rất có ý nghĩa; nhưng ý nghĩa hơn cả là khi được Ban giám hiệu sướng tên mình trước tập thể và nêu lên những thành tích, những mặt ưu điểm đó chính là niểm tự hào, kiêu hãnh trước HS, trước phụ huynh, tạo động lực lớn để GV, HS phấn đấu trong công tác dạy-học.

    * 3. Tác động đến ý thức học tập của học sinh.

    – Chỉ đạo bộ phận hoạt động ngoài giờ lên lớp lập kế hoạch chi tiết tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chủ điểm, lồng ghép một số nội dung giáo dục như: giáo dục kỹ năng sống, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục an toàn thực phẩm; tổ chức các buổi thi dưới dạng rung chuông vàng với gói câu hỏi về các nội dung kiến thức trong chương trình.

    – Bản thân luôn tham gia giao lưu với HS thông qua các buổi chào cờ đầu tuần, Hoạt động tập thể Thông qua một số câu hỏi giao lưu với HS phần nào tôi có thể đánh giá được GV nhận xét đánh giá HS hàng ngày, biết được việc học tập của các em có thực sự thoải mái không ? Mỗi ngày đến trường có là một ngày vui không ? Qua việc sinh hoạt định kỳ như thế mà HS toàn trường (cả 2 điểm trường) đều biết và nhớ tên tôi; các em còn đặt cho tôi cái tên mới đó là  “cô vui tính”.

    – Chỉ đạo GV chủ nhiệm trực tiếp ôn tập cho những HS năng khiếu, nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất: mở của phòng máy v

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng Tại Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Tình Hình Mới Hiện Nay
  • Những Đột Phá Cần Có Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Bậc Trung Học
  • Thực Hiện Có Hiệu Quả Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo Trên Địa Bàn Tỉnh Nghệ An
  • Những Biện Pháp Được Cho Phép Để Di Chuyển Các Sản Phẩm Là Ký Chủ Của Ruồi Đục Trái Queensland (Qfly) Trong Phạm Vi Tiểu Bang

    --- Bài mới hơn ---

  • An Toàn Lao Động Và Những Biện Pháp Cần Biết Để Đảm Bảo An Toàn Trong Lao Động
  • Công Tác An Toàn Lao Động, Vệ Sinh Lao Động Tại Các Đơn Vị Trực Thuộc Bộ Y Tế, Một Số Vấn Đề Cần Quan Tâm – Vihema
  • An Toàn Lao Động Trong Xây Dựng
  • Quy Trình Thi Công Ép Cừ Larsen (Sheet Pile) Bằng Robot
  • Bảo Vệ Trẻ Em Khỏi Bạo Hành
  • 1. Các loại trái cây ký chủ phải thỏa mãn một trong các biện pháp xử lý hay biện pháp thu hoạch như sau:

    1.1. Phải được xử lý bằng cách trử lạnh ở mức độ:

    • 0°C ± 0.5°C tối thiểu 14 ngày; HOẶC
    • 1–3°C ± 0.5°C tối thiểu 16 ngày (14 ngày đối với chanh các loại).

    1.2. Được xử lý xông hơi bằng methyl bromide (qui chuẩn ICA04) ở một trong các tỉ lệ theo như giấy phép #80718 do APVMA cấp như sau:

    • Ở 17.0°C–20.9°C liều lượng 40 g/m3 trong 2 giờ;
    • Ở 21.0°C–31.9°C liều lượng 32 g/m3 trong 2 giờ.

    1.3. Được xử lý bằng cách nhúng vào dung dịch dimethoate theo như giấy phép #87164 do APVMA cấp.

    1.4. Được xử lý bằng cách phun ướt đẫm bằng dung dịch dimethoate theo như giấy phép #87164 do APVMA cấp.

    1.5. Được thu hoạch ở giai đoạn thành thục chuyên biệt sau đây cho từng loại sản phẩm ký chủ:

    • Chuối: Thu lúc thành thục (đủ già) nhưng còn xanh.
    • Đu đủ và các loại đu đủ lai: Thu lúc non xanh hoặc già xanh
    • Chanh núm và hồng đen: Thu lúc già nhưng còn xanh
    • Lựu, mít, nhãn, chôm chôm: Thu hoạch không được làm nức vỏ
    • Bơ (giống Hass Lamb Hass): trái phải còn cứng chắc

    Các xử lý hóa chất phải được áp dụng theo nhản hướng dẫn hoặc theo hướng dẫn trên giấy phép của cơ quan quản lý thuốc trừ sâu và thuốc thú y (APVMA)

    2. Cây và trái là ký chủ của ruối đục trác Qfly phải được đóng thùng, bảo quản và vận chuyển trong điều kiện bảo đảm kín để đáp ứng một trong các biện pháp sau đây:

    2.1. Thùng không có lổ thông hơi;

    2.2. Thùng có lổ thông hơi thì lổ thông hơi phải có lưới che loại lổ lưới tối đa 1.6mm;

    2.3. Thùng có lổ thông hơi phải có lớp túi lót hay tấm lót che các lổ thông hơi.

    2.4. Thùng, bin, thùng sắp trên ba-lệt phải được quấn kín bằng màng ni-lon, bạt ni-lon, vải bố, lưới mùng hay các loại vật liệu bao phủ khác có canh chỉ tối đa 1.6mm;

    2.5. Nhà xưởng, kho lạnh, xe cộ vận chuyển hay các cơ sở phải đảm đóng kín không kẻ hở hay bấy kỳ lối xâm nhập nào lớn hơn 1.6mm

    Các loại ký chủ và có khả năng là ký chủ của ruồi đục trác Queensland (Qfly)

    Tải danh sách ký chủ của Qfly

    DISCLAIMER: This Vietnamese translation is done by Truyen Vo – Regional development Officer at VegetablesWA. This document is an unofficial translation provided for information purposes only:

     

    LƯU Ý SỬ DỤNG: Phần dịch tiếng Việt do Võ Thế Truyền – Chuyên viên phát triển nông thôn, Hiệp hội rau màu Tây Úc – thực hiện. Tài liệu này là một bản dịch không chính thức cho mục đích cung cấp thông tin mà thôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Tổ Chức Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Môn Ngữ Văn Khối 6 Ở Trường Thcs Đông Nam– Đông Sơn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Hỗ Trợ Giúp Học Sinh Học Tốt Phân Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Phương Pháp Ôn Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn
  • Biện Pháp Tu Từ Và Phương Tiện Tu Từ Thường Gặp Ôn Thi Thpt Quốc Gia Văn
  • 3. Rèn Luyện Cơ Thể Cho Trẻ Bằng Các Yếu Tố Tự Nhiên
  • Sau Khi Quan Hệ Nên Ăn Gì Để Không Mang Thai? Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tránh Thai Chophụ Nữ Tiền Mãn Kinh
  • Câu 1 Đọc Đoạn Thơ Sau Và Thực Hiện…
  • Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12 – Ngữ Liệu Thơ
  • Chơi Chữ Trong Lời Nói Và Văn Chương
  • Nghệ Thuật Chơi Chữ Trong Quảng Cáo Tiếng Việt Và Tiếng Anh
  • Hỏi: “Cháu năm nay 20 tuổi, cháu đã có bạn trai. Mấy hôm trước cháu với bạn trai có quan hệ tình dục nhưng lỡ không sử dụng biện pháp tránh thai. Khi tìm hiểu thông tin trên mạng, cháu có được biết là một số thực phẩm cũng có tác dụng trong việc tránh thai sau khi quan hệ. Bác sĩ cho cháu hỏi điều này có đúng không ạ? Và nếu đúng thì quan hệ xong ăn gì để tránh thai ạ ? Cháu xin cảm hơn!”  (Nguyễn Vân, 20 tuổi, Bắc Ninh)

    Sau khi quan hệ ăn gì để không mang thai?

    Tỏi – Thực phẩm tránh thai hữu hiệu

    Sau khi quan hệ nên ăn gì để không mang thai thì tỏi là một thực phẩm bạn cần biết. Tỏi được biết đến giống như một loại thuốc kháng sinh từ thiên nhiên, giúp diệt khuẩn, ngăn ngừa vi khuẩn rất tốt cho sức khỏe. Đặc biệt, nếu ăn tỏi ở mức độ vừa phải, nó còn giúp gia tăng tinh binh, cải thiện chất lượng tinh trùng hiệu quả ở nam giới. 

    Tuy nhiên, đối với nữ giới, sau khi quan hệ ăn tỏi sẽ tác động đến thời gian sống của tinh trùng và giúp làm giảm khả năng thụ thai.

    Tránh thai bằng cách sử dụng cà phê đen

    Có thể bạn chưa biết, tuy cà phê là thức uống giúp bạn tỉnh táo hơn, nhưng trong nó có chứa chất làm hạn chế tốc độ di chuyển, cũng như sự kìm hãm của tinh trùng đến gặp trứng, dẫn tới việc khó thụ thai. 

    Chính vì thế, nếu bạn muốn thực hiện cách tránh thai bằng thực phẩm đơn giản, hiệu quả thì cà phê là gợi ý lý tưởng. Tuy nhiên các chuyên gia sinh sản thường khuyên chị em phụ nữ không nên quá lạm dụng uống cà phê để đảm bảo cho sức khỏe sinh sản sau này.

    Đậu phụ- tránh thai tự nhiên bằng món ăn

    Đậu phụ là món ăn chứa nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe con người chúng ta. Đặc biệt đậu phụ còn là thực phẩm tránh thai an toàn mang lại hiệu quả cao không kém các loại thuốc tránh thai khẩn cấp khác.

    Đậu phụ có tác dụng làm suy giảm tinh trùng, không cho tinh trùng tiếp xúc với trứng và làm giảm chức năng hoạt động của dương vật.

    Rau ngót là thực phẩm tránh thai hiệu quả

    Sau khi quan hệ nên ăn gì để không mang thai thì rau ngót chính là đáp án cho bạn. Trong rau ngót có chứa một lượng lớn Papaverin – một chất có tác dụng thúc đẩy cơ trơn của mạch máu, co thắt tử cung, nên dễ dẫn tới sảy thai.

    Chính vì vậy, các chuyên gia cũng cho biết, sử dụng nhiều rau ngót có thể làm giảm khả năng thụ thai của nữ giới sau khi quan hệ tình dục. Nữ giới có thể uống nước rau ngót sống sau khi quan hệ, hoặc ăn rau ngót hàng ngày.

    Đu đủ xanh

    Có nghiên cứu của các chuyên gia chỉ ra rằng các hoạt chất Papain có trong trái đu đủ xanh có tác dụng ức chế hormone Progesterone – một loại hormone rất cần thiết cho quá trình thụ thai. Ngoài ra hoạt chất papain còn có hạn chế sự phát triển của màng tế bào phôi thai, từ đó giúp chị em giảm được nguy cơ có thai ngoài ý muốn.

    Uống nước dừa sau khi quan hệ giúp tránh thai hiệu quả

    Theo các chuyên gia, sau khi quan hệ uống nước dừa khiến cho tử cung bị lạnh, dẫn đến khó thụ thai.

    Nhiều bạn trẻ hiện nay đang sử dụng nước nước dừa để thụt rửa âm đạo, vì cho rằng như vậy sẽ không mang thai. Chuyên gia khuyến cáo, việc can thiệp này chỉ có thể thụt rửa ở bên ngoài, chứ không thể diệt tinh trùng khi đã lọt sâu vào bên trong. Phương pháp này có nguy cơ gây tổn thương cho cơ quan sinh dục. Việc thụt rửa hoặc bôi chất nào đó không rõ dược chất vào âm đạo có thể gây viêm âm đạo, thậm chí ung thư.

    Lưu ý khi lựa chọn thực phẩm ngừa thai

    Bạn Vân thân mến, thực phẩm ngừa thai chỉ có khả năng hỗ trợ hạn chế khả năng thụ thai, không phải yếu tố tiên quyết giúp ngừa thai hiệu quả nhất. Sử dụng các loại thực phẩm này vài lần chưa thể đảm bảo không còn khả năng thụ thai.

    Khi sử dụng thực phẩm tránh thai, tùy vào tình trạng và tiền sử bị bệnh của mỗi người, bạn không nên lạm dụng quá mức để tránh các tác dụng phụ.

    Các biện pháp tránh thai an toàn hiện nay

    Dùng bao cao su

    Có thể nói dùng bao cao su là biện pháp ngừa thai mà bạn cần biết có độ an toàn và hiệu quả tương đối cao. Hiện nay, có rất nhiều loại bao cao su cho bạn lựa chọn, với kích thước và hình dáng khác nhau. Có những loại bao mỏng, bao có gai,…. giúp làm tăng hưng phấn trong khi giao hợp.

    Tránh thai bằng cách xuất tinh ngoài

    Khi người đàn ông gần lên đỉnh, hãy đưa cậu nhỏ ra ngoài và xuất tinh bên ngoài âm đạo. Việc này nhằm ngăn cản việc tinh trùng di chuyển tới gặp trứng.

    Tuy nhiên, nếu bạn không xuất ngoài kịp thời, chỉ cần một lượng tinh trùng nhỏ cũng có thể làm tăng khả năng mang thai. Vì thế phương pháp tránh thai này phù hợp với những người có kinh nghiệm “giường chiếu”, biết kiểm soát cảm xúc bản thân trong khi “yêu” tốt.

    Quan hệ ngày an toàn để tránh thai

    Đây được xem là cách tránh thai tự nhiên, hiệu quả tốt nhất và cũng được áp dụng nhiều nhất. Nữ giới cần cập nhật chu kỳ kinh nguyệt của bản thân, nắm rõ thời gian quan hệ an toàn nhằm giảm thiểu khả năng thụ thai xuống ở mức tối thiểu.

    Đặt vòng tránh thai

    Ngoài các biện pháp ngừa thai như dùng bao cao su khi quan hệ, dùng màng chắn âm đạo, thực hiện xuất tinh ra ngoài,… Một biện pháp ngừa thai an toàn mà chị em có thể áp dụng là thực hiện đặt vòng tránh thai. 

    Đặt vòng tránh thai là việc các bác sĩ sẽ đưa một vật nhỏ, có hình dạng chữ T vào bên trong âm đạo của bạn gái để cản trở việc trứng được thụ tinh và làm tổ. Phương pháp này có chi phí tương đối, nhưng hiệu quả cao, dễ sử dụng và không có cảm giác mang vật lạ trong người. Hơn nữa, đặt vòng không làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này, khi muốn sinh con bạn chỉ cần tháo vòng ra.

    Uống thuốc tránh thai

    Đây cũng là cách phòng tránh mang thai ngoài ý muốn phổ biến. Tuy nhiên đối với người chưa lập gia đình, nên hạn chế sử dụng thuốc tránh thai, đặc biệt là thuốc tránh thai khẩn cấp. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp 3
  • Hoãn Thi Hành Quyết Định Phạt Tiền, Giảm, Miễn Tiền Phạt
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính (Phần I)
  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 1)
  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 2)
  • Đất Để Trồng Rau: 3 Biện Pháp Cải Tạo Đơn Giản Hiệu Quả Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Cải Tạo Đất Trồng Lúa Mang Lại Hiệu Quả Cao
  • Đất Chua, Đất Trung Tính Và Đất Kiềm Là Gì ?
  • Chọn Lựa Giữa Đất Thịt Và Đất Dinh Dưỡng Trong Trồng Trọt
  • Quan Tâm Cải Tạo Diện Tích Chè Trung Du Già Cỗi
  • Kỹ Thuật Cải Tạo Nương Chè Thái Nguyên
  • 1. Tiêu chí đánh giá loại đất để trồng rau chất lượng

    Đất trồng rau chất lượng là như thế nào? Đối với những gia đình không có nhiều diện tích để làm vườn trồng rau riêng thì đất chất lượng là điều vô cùng cần thiết. Nhằm cung cấp nguồn dinh dưỡng để cây sinh trưởng tốt nhất. Đất chất lượng ở đây là sạch, tốt; cụ thể như sau:

    • Có chứa các thành phần các nguyên tố đa vi lượng, thành phần hữu cơ bổ trợ cho việc phát triển của rau.

    • Không chứa hàm lượng kim loại nặng, không có sâu bệnh, không dư lượng thuốc trừ sâu hoặc ẩn chứa phân hóa học.

    • Theo kinh nghiệm dân gian, đất màu mỡ thường có nhiều giun ở bên dưới các lớp đáy. Nếu bạn có ý định trồng rau trên sân thượng, ban công thì nên chọn đất thịt, đất phù sa, đất cát pha.

    2. Cách làm đất để trồng rau Hà Nội tại nhà

    Đất để trồng rau cần được xử lý cẩn thận, để đảm bảo bổ sung đủ các dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng và loại bỏ mầm mống bệnh hại. Muốn có được hỗn hợp đất chất lượng tốt nhất thì bạn có thể tham khảo cách làm mà My Garden hướng dẫn sau:

    2.1. Chuẩn bị nguyên vật liệu cần thiết

    • Đất tự nhiên:

      Đất ở ngoài đồng ruộng, vườn; khi lấy về cần phơi khô ngoài nắng và dùng vôi bột để loại bỏ mầm bệnh. Hoặc mua

      đất trồng rau Hà Nội

      đóng gói sẵn có bán tại các cửa hàng. 

    • Giá thể:

      Muốn có hỗn hợp đất trồng rau chất lượng thì chắc chắn cần bổ sung giá thể. Bao gồm xơ dừa, tro trấu, vỏ trấu, vỏ đậu, vỏ lạc, xỉ than, giấy carton cắt vụn,… Chúng là những thành phần có tác dụng làm cho đất trở nên tơi xốp, tăng khả năng giữ ẩm.

    • Phân hữu cơ:

      Đây là loại phân bón được khuyên dùng, do chứa có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết để rau phát triển nhanh. Phân hữu cơ có nguồn gốc từ phân gia súc, gia cầm; tàn dư thân, lá cây; phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp; chất thải từ sinh hoạt, sản xuất.

    • Khay chậu, thùng xốp:

      Bạn nên mua sản phẩm

      chậu ghép thông minh

      chuyên dùng để trồng rau sạch. Với tấm lót thoáng khí, độ bền cao, lắp đặt dễ dàng mà giá thành lại hợp lý nên mẫu chậu này được đa phần người thành phố chọn để trồng rau. 

    2.2. Cách trộn đất trồng rau như thế nào?

    Đất để trồng rau sạch yêu cầu cần phải có độ tơi xốp, thoáng khí, giữ ẩm tốt và giàu chất dinh dưỡng. Cách trộn đất để trồng rau nhìn chung đều tiến hành như sau: Lấy 50% đất, 30% giá thể và 20% phân bón hữu cơ trộn đều lên với nhau. Tiếp theo, bạn đem ủ hỗn hợp này trong khoảng 1 tháng để chất lượng đất đạt được mức yêu cầu. Tùy thuộc vào từng giống rau mà bạn có thể điều chỉnh tỷ lệ thành phần cho phù hợp.

    3. Các biện pháp cải tạo đất để trồng rau sạch

    Đất trồng rau dù có tốt đến đâu thì sau quá trình sử dụng cũng cạn kiệt dinh dưỡng và cần được cải tạo. Nếu bạn không làm điều đó thì những vụ rau tiếp theo sẽ không thể cho năng suất cũng như chất lượng như mong muốn. Việc cải tạo đất trồng rau đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực như:

    • Đảm bảo rau sạch, an toàn cho người sử dụng.

    • Cung cấp nguồn dinh dưỡng cho hạt giống nảy mầm nhanh và cây sinh trưởng tốt.

    • Tăng cường sức đề kháng, giúp cây phòng trừ được sâu bệnh gây hại.

    • Nâng cao năng suất thu hoạch, bạn sẽ luôn có nguồn rau xanh dồi dào cho bữa ăn hàng ngày.

    Vậy làm thế nào để cải tạo đất? Dựa vào kinh nghiệm thực tế và kiến thức chuyên môn, My Garden đã tổng kết được 3 phương pháp thực hiện. Đó là sử dụng phân bón vi sinh, phân hữu cơ và phân giun quế. Cụ thể như sau:

    3.1. Cải tạo đất bằng phân bón vi sinh

    Phân bón vi sinh có ưu điểm không gây nóng cho đất, tốt cho cây. Việc kết hợp loại phân này cùng đất trồng sẽ kích thích bộ rễ phát triển, giúp cây khỏe và tăng năng suất. Cách để cải tạo đất để trồng cây bằng phân bón vi sinh: Trộn 1 bao phân vi sinh 10dm3 + 1 bao nitrat. Số lượng này phù hợp với khoảng 9 chậu trồng rau cỡ lớn hoặc 15 chậu loại nhỏ hơn hoặc 10 thùng xốp.

    3.2. Cải tạo đất để trồng rau bằng phân hữu cơ

    Trường hợp đất trồng bị bạc màu theo thời gian thì bạn nên sử dụng phân bón hữu cơ để khôi phục đất. Thường mọi người hay dùng phân bò đã qua xử lý, bởi nó có khả năng giúp đất tơi xốp trở lại. Cách làm: Trộn 1 bao phân bò 10dm3 + 1 bao đất nitrat 5dm3. Số lượng nguyên liệu này dành cho 5 thùng xốp trồng rau hoặc 5 chậu lớn hoặc 8 chậu cây cỡ nhỏ.

    3.3. Cải tạo đất trồng rau bằng phân giun quế

    So với những loại phân bón khác thì phân giun quế có giá thành cao hơn. Thế nhưng, nếu so với hiệu quả nó mang lại trong việc cải tạo đất thì giá đó hoàn toàn xứng đáng. Phân giun quế góp phần quan trọng trong việc tiêu hủy các chất hữu cơ tồn đọng lại trong quá trình trồng rau trước đó. Bản thân nó chứa rất nhiều dưỡng chất để đất trồng màu mỡ, tơi xốp. Cách thực hiện: Trộn 1 bao phân giun quế 10kg + 1 bao đất nitrat. Áp dụng với khoảng 10 thùng xốp trồng rau hoặc 12 chậu cây to hoặc 15 chậu nhỏ.

    MỌI CHI TIẾT XIN LIÊN HỆ

    Hotline 0916.818.526 hoặc để lại thông tin để được tư vấn miễn phí.

    CHI NHÁNH CỬA HÀNG MY GARDEN:

    • CS1: Số 113, Khương Đình, P. Hạ Đình, Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội.

    • CS2: Số 1, Trần Nguyên Đán, Khu đô thị Định Công, P. Định Công, Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội.

    • CS3: Số 354, Kim Giang, P. Đại Kim, Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Biện Pháp Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất, Vì Nông Nghiệp Bền Vững
    • Bón Vôi: Giải Pháp Canh Tác Bền Vững Cho Đồng Bằng Sông Cửu Long
    • Hiệu Quả Bất Ngờ Khi Cải Tạo Đất Bằng Phân Trùn Quế
    • Suy Giảm Chất Lượng Đất: Hiện Trạng, Nguyên Nhân & Giải Pháp
    • Giải Pháp Xử Lý Cây, Đất Bị Nhiễm Mặn
    • Garena Đưa Ra Những Biện Pháp Mạnh Để Chống Hack Free Fire

      --- Bài mới hơn ---

    • Vất Vả Hành Trình Chống Hack Ngay Tháng Thứ 3
    • Revit Biện Pháp Thi Công
    • Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Tăng Dân Số Tự Nhiên Hiệu Quả
    • Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
    • Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông: Bắt Đầu Từ Đâu? – Cdc Bắc Giang
    • Trong 3 năm trở lại đây, Free Fire trở thành một game nhập vai chiến đấu thu hút nhiều người chơi Việt Nam. Cộng đồng yêu thích Free Fire ỏ Việt Nam đông đảo không thua kém bất kì game nào. Hiện nay, vị thế có thể sánh ngang với các tựa game như PUBG mobile hay Mobile Legends. Nhưng một vấn nạn mà bất kì tựa game nào cũng có thể mắc phải đó là hack game. Lợi dụng những sơ hở trong cài đặt phần mềm, nhiều tài khoản đã nâng cấp nhanh chóng, lấy đi những tính năng cao cấp của game. Điều này làm cho khâu quản lý của nhà phát hành không được ổn định. Cũng như những người chơi bình thường không cảm thấy công bằng. Mới đây, nhà phát hành Free Fire là Garena đã đưa ra những biện pháp chống hack game.

      Sự thành công vang dội của Free Fire ở Việt Nam

      Trong năm 2021 thị trường game công nghệ có nhiều khởi sắc đáng kể nhờ dịch bệnh. Theo các chuyên gia nhận định, doanh thu của thị trường game mobile tăng vọt, mang lại lợi nhuận khổng lồ cho nhà đầu tư. Các tựa game như Free Fire, PUBG Mobile và Call of Duty Mobile đã đạt được thành công nhanh chóng, vang dội. Cả về người chơi lẫn số tiền game thủ chi tiêu để vận hành game.

      Thể loại phổ biến nhất hiện tại, được nhiều người chơi được cho là battle royale. Trong đó Free Fire do Garena phát hành là tựa game đi đầu. Những địa hình mô phỏng và chiến lược chiến đấu thu hút hàng triệu người chơi trên toàn thế giới. Năm ngoái, Free Fire là game mobile được tải xuống nhiều nhất trong thể loại battle royale. Trò chơi giành được giải Game Esports của năm tại Esports Awards 2021.

      Vấn nạn hack game bằng phần mềm thứ ba

      Để chống lại điều này, Garena đã thực hiện nhiều bước và xây dựng một hệ thống chống hack trong thời gian dài. Nó có khả năng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi gian lận một cách nhanh chóng nhất. Ngoài ra, game thủ có thể thực hiện tự báo cáo những người chơi cùng khi có những biểu hiện đáng ngờ về việc sử dụng hack. Đây có thể xem là bước tiến mới trong việc bảo vệ an ninh và sự công bằng của các tài khoản trong thế giới game.

      Biện pháp mạnh loại trừ những tài khoản hack

      Tất cả tài khoản Free Fire sử dụng hack sẽ bị khóa vĩnh viễn. Thậm chí, Garena còn khóa cả IMEI thiết bị sử dụng hack. Mới đây, Garena Free Fire cũng đã cải thiện tính năng chống hack. Và đang bước đầu có những hiệu quả nhất định. Chức năng Báo cáo trong game được Garena tuyên bố xem xét kỹ lưỡng để không bỏ sót bất cứ trường hợp nào.

      – Dùng các chương trình không cho phép để có lợi thế trong game.

      – Sửa đổi các khả năng trong game để có được lợi thế không công bằng.

      – Nhân các sự cố, lỗi game để tiến hành trục lợi.

      – Bị nhiều người chơi báo cáo, đồng thời bị phát hiện khả năng bất thường khi chơi.

      – Sử dụng phiên bản trò chơi được sửa đổi hoặc trái phép.

      – Phá bỏ hệ thống chống hack Free Fire thông qua truyền dữ liệu bất hợp pháp.

      – Sử dụng các công cụ trái phép tương tác với trò chơi Free Fire.

      Động thái này khẳng định nhà phát hành Garena sẽ có những biện pháp mạnh mẽ hơn để tạo ra môi trường lành mạnh cho cộng đồng người chơi Free Fire.

      Nguồn: game4v.com

      Chia sẻ

      Facebook

      Twitter

      Pinterest

      LinkedIn

      Continue Reading

      --- Bài cũ hơn ---

    • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Chữa Cháy Khí Fm200
    • Tư Vấn Lắp Đặt, Bảo Trì Hệ Thống Fm
    • Hướng Dẫn Lắp Đặt, Vận Hành Hệ Thống Chữa Cháy Fm200
    • Phương Pháp Tính Toán Hệ Chữa Cháy Khí Fm
    • Hệ Thống Chữa Cháy Khí Fm200 – Xây Dựng Nhà Xưởng
    • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Phong Trào Thi Đua “xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Số 1 Xã Mường Than

      --- Bài mới hơn ---

    • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Tích Cực “xây Dựng Trường Học Thân Thiện
    • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
    • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Trong Trường Mầm Non
    • Một Vài Biện Pháp Giúp Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Cho Trẻ Hoạt Động Ở Trường Mầm Non Đông Hồ Thị Xã Hà Tiên
    • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Trong Và Ngoài Lớp Học
    • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THAN UYÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 XÃ MƯỜNG THAN TỔ KHỐI 5 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO THI ĐUA “XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC” Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ I XÃ MƯỜNG THAN Họ và tên người thực hiện: Đỗ Thị Hà Chức vụ: Hiệu trưởng Năm thực hiện: 2012 – 2013 1 PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài. Môi trường giáo dục luôn có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người thông qua các mối quan hệ trong xã hội, trong nhà trường, trong gia đình. Như chúng ta đã biết, trường học là cái nôi đầu tiên cho mỗi học sinh bắt đầu cuộc sống học tập, rèn luyện. Đến trường, học sinh được học hành, được tiếp thu những kiến thức, tri thức khoa học một cách có hệ thống, được rèn luyện hành vi đạo đức, có kỹ năng cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người mới. Để xây dựng môi trường giáo dục thân thiện trong trường học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị Số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013. Kế hoạch 307/KH-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013. Công văn số 71/KH- SGD&ĐT Lai Châu – Kế hoạch triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông năm học 2008-2009. Đến nay, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được triển khai thực hiện rộng khắp trong các trường phổ thông trên mọi miền của đất nước ta. Việc tổ chức phong trào sao cho hiệu quả, phù hợp với đặc thù của mỗi nhà trường là sự sáng tạo riêng của “Người quản lý” trong các đơn vị trường học. Trong gần 5 năm triển khai và thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, sau mỗi năm học với vai trò là người quản lý lãnh đạo điều hành nhà trường bản thân đã nghiêm túc đánh giá, rút kinh nghiệm về những ưu điểm, hạn chế của các giải pháp, từ đó tìm ra nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế để có các biện pháp chỉ đạo phù hợp sát với thực tế nhằm khắc phục cho các năm học tiếp theo. Trong quá trình triển khai thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhà trường đã có những bước chuyển biến tích cực: Chất lượng giáo dục được đánh giá cao, môi trường giáo dục lành mạnh an toàn. Năm học 2012-2013 nhà trường phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia mức độ I và là đơn vị tiêu biểu về phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008-2013. Để đạt được mực tiêu đó năm học này tôi quan tâm chỉ đạo các hoạt động như: Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học; hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường; xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp; sự sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa mang tính chất giáo dục cao. Trên cơ sở một số kinh nghiệm đã được đúc rút trong quá trình triển khai thực phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” những năm qua, căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, thực hiện nhiệm vụ 2 năm học, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu chuyên đề: Một số biện pháp chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở Trường Tiểu học số 1 xã Mường Than. II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. 1. Phạm vi nghiên cứu: Trường Tiểu học số 1 xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Thời gian nghiên cứu và hoàn thiện chuyên đề 3 năm học, năm học 2010-2011, năm học 2011-2012 và năm học 2012-2013. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: 40 cán bộ giáo viên, nhân viên; 438 học sinh. 2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở trường Tiểu học số 1 xã Mường Than. III. Mục đích nghiên cứu. “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong trường học để tăng cường và nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh, mang đến sự hứng thú, chủ động, tích cực trong học tập cho các em. Phát triển những kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, giúp học sinh mạnh dạn chủ động tiếp thu kiến thức, tự tin trong mọi hoạt động học tập cũng như vui chơi, xây dựng trường lớp sạch đẹp, an toàn. Trong đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo cần có cho các em học sinh, để các em cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu. Biện pháp “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là sự tích lũy những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phong trào. Đối với nhà trường: Cảnh quan nhà trường xanh, sạch và đẹp, chất lượng và hiệu quả đáp ứng đủ các tiêu chí của trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Đối với giáo viên: Sáng tạo hơn trong việc tổ chức hoạt động dạy học đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng, phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh, học sinh dễ tiếp thu kiến thức. Đối với học sinh: Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập, tu dưỡng và trong các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội. Môi trường giáo dục thân thiện, an toàn, học sinh có tinh thần thoải mái, vui vẻ trong học tập. Học sinh được rèn luyện kỹ năng học tập, kỹ năng sống thông qua hoạt động giáo dục, các trò chơi lành mạnh và bổ ích, các em tự tin hơn trong giao tiếp, biết trân trọng giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 3 PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận. Trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế hội nhập, đang tiến đến nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI, chính vì vậy đòi hỏi cần có những con người có kỹ năng tư duy cao, tự tin phát triển năng lực của mình. Phương pháp quản lý, phương pháp giáo dục cũ không thể xây dựng và phát triển cho học sinh những kỹ năng đó. Chính vì thế mỗi người quản lý, mỗi giáo viên cần đổi mới phương pháp làm việc, quản lý và dạy học theo phương pháp mới, từng bước sử dụng hiệu quả công nghệ dạy học tiên tiến, để yêu cầu trên đạt hiệu quả cần phải có những biện pháp tích cực trong việc xây dựng mô hình: “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động nhằm xây dựng trường học có chất lượng giáo dục toàn diện, hiệu quả. Các thầy giáo, cô giáo thân thiện trong giảng dạy, thân thiện trong đánh giá xếp loại kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, thể hiện sự công bằng, khách quan trong giảng dạy và giáo dục học sinh, thể hiện lương tâm, trách nhiệm của người làm công tác giáo dục đối với thế hệ học sinh, sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước. Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong môi trường giáo dục toàn diện đó, học sinh hứng thú học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thực hiện tốt học đi đôi với hành, biết rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khả năng khám phá, tư duy sáng tạo. Trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, các biện pháp đưa ra để thực hiện xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực là cơ sở để hình thành mô hình trường thân thiện, lớp thân thiện. – Xây dựng môi trường trường học thân thiện: bảo đảm các lớp học an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Học sinh tích cực tham gia tạo cảnh quan lớp học, giữ gìn vệ sinh lớp học và vệ sinh cá nhân. – Giảng dạy tích cực: Các thầy giáo, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tính tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên của học sinh, rèn luyện khả năng tự học của các em. Hiệu quả dạy và học đạt chất lượng ngày càng cao. – Rèn luyện kỹ năng học, sinh hoạt theo nhóm và kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống bằng các trò chơi học tập tích cực. – Hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh qua các tiết sinh hoạt tập thể, đoàn kết, thân thiện. – Giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc ở địa phương qua các câu chuyện kể, qua việc tham gia giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ, các gia đình có công với cách mạng ở địa phương, qua các trò chơi dân gian, qua điệu múa, câu hát. 4 Để đạt được kết quả tốt trong phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, cần phải thực hiện các biện pháp giáo dục tích cực, cụ thể hóa nội dung các công việc phù hợp với tình hình thực tế của trường, của địa phương, để xây dựng và hoàn thành được các mục tiêu mà nhiệm vụ năm học đã đề ra. Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực chính là sự cụ thể hóa của yêu cầu “Dạy tốt, học tốt” mà chúng ta đã tiến hành thực hiện trước đây, nhưng hiện nay dạy tốt không chỉ là hoạt động của cá nhân giáo viên, mà là hoạt động của tập thể các thầy giáo, cô giáo, là sự tham gia của gia đình, xã hội vào quá trình sư phạm, tạo môi trường thân thiện cho học sinh. Dạy tốt không chỉ có các thầy giáo, cô giáo là người dạy, truyền đạt những kiến thức văn hóa, những hành vi đạo đức tốt, cách ứng xử, tình đoàn kết thân ái cho học sinh, mà chính các em được trưởng thành thông qua các hoạt động tích cực trong học tập, trong hoạt động tập thể, vui chơi, múa hát, hoạt động xã hội. Các em không chỉ là đối tượng cần được giáo dục, mà các em chính là những người nuôi dưỡng và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Các em được tham gia vào các hoạt động trồng và chăm sóc cây, hoa, tạo cảnh quan cho trường, lớp học, được rèn kỹ năng sống qua các hoạt động vui chơi, học tập và lao động, qua việc chăm sóc, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ, các gia đình có công với cách mạng, ý thức giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử của địa phương, của đất nước. Những biện pháp giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trước đây còn có những mặt hạn chế như chưa phát huy được tính tích cực và chưa tạo được sự hứng thú trong học tập cho học sinh. Qua các năm 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012, 2012-2013 triển khai và thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, với những kinh nghiệm được tích lũy qua phong trào “Dạy tốt – Học tốt”, hưởng ứng phong trào thi đua này, tôi cố gắng làm tốt công tác chỉ đạo, thực hiện đổi mới trong công tác quản lý, chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các biện pháp tích cực nhằm tạo ra môi trường thân thiện trong giáo dục ở trường, phát huy cao nhất khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập cũng như kỹ năng sống cho học sinh. Từ lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. II. Thực trạng của vấn đề. Trường Tiểu học số 1 xã Mường Than được tách ra từ trường Tiểu học xã Mường Than tháng 8 năm 2010, năm học 2010-2011 trường có 18 lớp/400 học sinh; năm học 2011-2012 trường có 20 lớp/435 học sinh; năm học 2012-2013 trường có 20 lớp/438 học sinh. Chất lượng giảng dạy và các hoạt động giáo dục của trường được Phòng Giáo dục và Đào tạo đánh giá tốt. Mấy năm gần đây trường luôn đạt Danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc được Ủy Ban nhân dân huyện, Ủy Ban nhân dân tỉnh khen. Trường có nhiều chuyển biến về tất cả các hoạt động, chuyển biến về chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng đội ngũ. Tháng 1 năm 2013 trường vinh dự được đón Bằng công nhận Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Có được kết quả đó là nhờ có sự đổi mới trong công tác quản lý của người Hiệu trưởng, việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên. Trường thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua do ngành phát động, xây dựng được 5 môi trường giáo dục thân thiện, thu hút đông đảo các lực lượng trong trường và ngoài xã hội cùng tham gia vào công tác giáo dục, thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Trường phấn đấu xây dựng thành công các tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Cảnh quan nhà trường gọn gàng, sạch sẽ; Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến từ khi thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở trường Tiểu học số 1 xã Mường Than có nhiều thuận lợi để giúp tôi thực hiện tốt, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. 1. Thuận lợi: Trường Tiểu học số 1 xã Mường Than là một trường thuộc xã vùng hai, cách trung tâm huyện 4 km, giao thông đi lại thuận tiện, học sinh học tập chung tại một điểm trường. Đội ngũ giáo viên đảm bảo tỷ lệ 1,5 giáo viên/lớp, giáo viên nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và nhân dân. 2. Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi đó, nhà trường vẫn còn có đối mặt với những khó khăn nhất định như: – Chất lượng đội ngũ: Trình độ chuyên môn chưa đồng đều, việc đổi mới phương pháp dạy học của số ít cán bộ giáo viên thực hiện chưa được hiệu quả, giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện còn thấp; – Học sinh: Gần 80% học sinh là người dân tộc, nên việc nhận thức của các em cũng có những hạn chế nhất định. Đa số học sinh Tiểu học chưa xác định được rõ ràng mục đích của việc học tập là gì, nhất là học sinh ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh khá chưa cao, số lượng học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện chưa nhiều; – Cơ sở vật chất: Chưa đảm bảo về phòng học, chủ yếu là phòng học tạm, bàn ghế học sinh chưa đúng quy cách; mặt bằng sân chơi bãi tập chưa đảm bảo an toàn cho học sinh tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; trường lớp chưa đảm bảo tiêu chí xanh, sạch, đẹp, . * Nguyên nhân: Công tác quản lý chỉ đạo của ban giám hiệu chưa được khoa học, nhiều giáo viên chưa đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học chưa linh họat, hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, chưa sáng tạo, chưa phong phú. Công tác tham mưu, phối kết hợp giữa các đoàn thể trong và ngoài nhà trường chưa được thường xuyên, chưa kịp thời. Thiếu cơ sở vật chất nên trường lớp chưa khang trang, chưa sạch, chưa đẹp, chưa gọn gàng; chưa tranh thủ được sự quan tâm của các bậc phụ huynh và các tổ chức xã hội trong việc hỗ trợ vật chất cho nhà trường. Giáo viên chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động tập thể và hoạt động ngoài giờ lên lớp do đó chưa thu hút được học sinh. Việc tổ chức các 6 trò chơi dân gian, thi hát dân ca, các bài hát, các điệu múa dân tộc cho học sinh chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức chưa phát huy được khả năng tự tìm tòi, khám phá của học sinh. Các em ít được giao lưu, khi tham gia các hoạt động học tập, vui chơi còn rụt rè, thiếu tự tin, ngại giao tiếp vì vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Những năm học trước chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ của trường còn nhiều hạn chế, các phong trào thi đua đạt chất lượng không cao. Cụ thể như tỷ lệ giáo viên dạy giỏi các cấp thấp, mỗi năm số lượng giáo viên tham gia hội giảng cấp huyện ít, số giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện chỉ đạt 06 đồng chí. Chất lượng học tập của học sinh chưa đảm bảo, chất lượng mũi nhọn chưa cao. Chất lượng đội ngũ và chất lượng giáo dục hai năm học, từ khi bắt đầu phát động và thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” như sau: 3. Kết quả điểu tra thực tế: * Cán bộ giáo viên, nhân viên: Xếp loại CM Giáo viên dạy giỏi Năm học TSCBG VNV Tốt Khá TB Trường Huyện Tỉnh 2008-2009 40 14/40 (35%) 18/40 (45%) 8/40 (20%) 14/38 (36,8%) 6/38 15,8% 0 2009-2010 44 28/44 (63,6%) 10/44 (22,7%) 6/44 (13,7%) 18/40 (45%) 6/40 (5%) 0 * Học sinh: Hạnh kiểm Học lực Học sinh giỏi các cấp Năm học TS HS THĐĐ (Đ) THCĐĐ (CĐ) Giỏi Khá TB Yếu Trường Huyện Tỉnh 2008- 2009 633 (10KT) 623/623 (100%) 0 74/623 (11,9%) 105/623 (16,9%) 437/623 (70,1%) 7/623 (1,1%) 42/179 (23,7%) 4/42 (9,5%) 0 2009- 2010 680 (11KT) 669/669 (100%) 0 140/669 (20,9%) 241/669 (36,0% 284/669 (42,5%) 4/669 (0,6%) 79/381 (20,7%) 10/79 (12,7%) 3/6 (50%) Nhìn vào bảng số liệu thấy được chất lượng đội ngũ, chất lượng học sinh đã có sự chuyển biến năm sau cao hơn năm trước, có được kết quả đó là nhờ vào sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh toàn trường trong công tác giảng dạy, học tập và rèn luyện. Từ khi thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” chất lượng đó đã dần có sự chuyển biến. Những năm học gần đây, nhất là từ khi phát động và thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tich cực”. Chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng có nhiều chuyển biến. Trường luôn phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá; thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh, đánh giá công bằng, khách quan, không chạy 7 theo thành tích, dạy học sát đối tượng, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đoàn kết, thân thiện. Áp lực công việc rất lớn, kỳ vọng của phụ huynh học sinh khi gửi con em họ vào trường rất nhiều. Giữ vững uy tín của trường, góp phần vào phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Với trách nhiệm của một giáo viên, một người quản lý, tôi nghĩ mỗi chúng ta cần phải chủ động, sáng tạo, tìm các biện pháp tích cực để giảng dạy, giúp đỡ học sinh trong học tập và rèn luyện để các em có được sự tự tin về bản thân mình. Từ đó các em chủ động, hứng thú trong học tập, các em tự khẳng định mình, từng bước hoàn thiện để phát triển những kỹ năng cần thiết mà cuộc sống, xã hội yêu cầu. Trước thực trạng trên tôi đưa ra một số biện pháp chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” tại trường Tiểu học số 1 xã Mường Than. III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 1. Huy động các nguồn lực cho việc xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn. Nội dung thứ nhất trong 5 nội dung của Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT, đã nêu “Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn, là: bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp với lứa tuổi học sinh. Tổ chức để học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên. Trường có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ. Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân. Muốn thực hiện được nội dung này, việc quy hoạch để trồng cây ở trường cần hợp lý về vị trí, chọn loại cây để vừa tạo bóng mát, vẻ đẹp cho trường vừa dễ chăm sóc, cần phân công học sinh chăm sóc để tạo sự thi đua giữa các lớp. Tham mưu để thiết kế xây dựng phòng học đủ ánh sáng cho học s

      --- Bài cũ hơn ---

    • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực Tại Lớp 5 Tuổi A
    • Food Marketing: 6 Cách Thức Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả
    • 7 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Hiện Nay Ở Việt Nam
    • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
    • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
    • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục

      --- Bài mới hơn ---

    • Một Số Biện Pháp Để Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Các Lớp Bán Trú
    • Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
    • Một Số Lưu Ý Khi Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân, Béo Phì
    • Suy Dinh Dưỡng Và Thừa Cân, Béo Phì Ở Trẻ Mầm Non
    • Chế Độ Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
    • Trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt hiện nay, lạm phát đang là một vấn đề bất cập nhất mà cả thế giới quan tâm. Nó không chỉ như một bóng ma ám ảnh làm kinh hoàng tất cả các siêu cường kinh tế trên thế giới mà nó còn là mối đe dọa nguy hiểm của sự phát triển kinh tế xã hội mọi quốc gia. Bởi lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. Mà nguyên nhân sâu sa của lạm phát là do các chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước. Cụ thể ở nước ta lạm phát hiện là mối bận tâm của Chính phủ, bởi lẽ nó là một trong những thước đo mức ổn định của nền kinh tế, có tác động đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế và các biến vĩ mô khác. Tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian gần đây đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của lạm phát, và chắc chắn theo suy nghĩ của nhiều nhà kinh tế và công chúng, nguyên nhân của lạm phát trong những năm gần đây không giống với nguyên nhân lạm phát của những năm 1980 và đầu những năm 1990, mặc dù ” lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi đều là do hiện tượng tiền tệ”. Một nguyên nhân nữa mà không thể không thể đề cập đến, từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài, dẫn đến việc làm phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, tổn hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế – xã hội. Và để khắc phục những hậu quả do lạm phát gây ra, Nhà nước và Chính phủ cần phải đưa ra một số các giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế mức độ lạm phát tiền tệ trong nước. Các nhà kinh tế, các doanh nghiệp muốn thu lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới, để có thể nhạy bén trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước. Kết cấu của đề án bao gồm các nội dung sau: Phần I : Những vấn đề lý luận chung về lạm phát. Phần II :Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1989 đến nay. Phần III :Các biện pháp khắc phục lạm phát ở nước ta.

      TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

      TIN KHUYẾN MÃI

      • Thư viện tài liệu Phong Phú

        Hỗ trợ download nhiều Website

      • Nạp thẻ & Download nhanh

        Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

      • Nhận nhiều khuyến mãi

        Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

      NẠP THẺ NGAY

      DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

      --- Bài cũ hơn ---

    • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay
    • Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2021 Khoảng Mức 4%
    • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
    • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
    • Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
    • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số

      --- Bài mới hơn ---

    • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
    • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
    • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
    • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
    • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gd Đạo Đức Học Sinh Thcs
    • Bà Phạm Thị Hiền, Trưởng phòng Dân số, Chi cục DS – KHHGĐ, cho biết: Ước 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh có khoảng trên 3.300 cặp đôi đã sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại như: Đặt vòng, tiêm thuốc, sử dụng bao cao su, triệt sản. So với kế hoạch giao đạt 57,9%, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Song đối tượng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại tập trung chủ yếu ở khu vực lòng chảo Điện Biên và số ít ở các thị trấn, thị xã, các xã có điều kiện kinh tế và dân trí phát triển.

      Ông Phí Văn Dưỡng, Chi Cục phó Chi cục DS – KHHGĐ tỉnh trao đổi chuyên đề về việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại xã Nà Sáy, huyện Tuần Giáo.

      Với chỉ tiêu đã thực hiện trong 6 tháng qua thì từ nay đến hết năm số thuốc tiêm, viên uống tránh thai, dụng cụ tử cung, bao cao su… sẽ không còn đủ để cung cấp cho những đối tượng có nhu cầu. Phần vì số người sử dụng trong 6 tháng đầu năm tăng cao, trong khi đối tượng được cung cấp miễn phí các biện pháp tránh thai hiện đại năm 2014 đã bị thu hẹp, chỉ còn lại là các hộ nghèo và cận nghèo.

      Tuy nhiên, ở một số xã vùng sâu, vùng cao tỷ lệ cặp đôi sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại thấp, chưa đến 50% so với các xã khu vực lòng chảo Điện Biên. Nguyên nhân chủ yếu do người dân chưa hiểu hết được tính năng của biện pháp tránh thai hiện đại. Mặt khác, việc sử dụng viên uống tránh thai và bao cao su đòi hỏi phải đúng thời điểm và đúng cách nhưng một số người dân thường hay có thói quen chủ quan nên đã có nhiều trường hợp mang thai ngoài ý muốn.

      Cũng theo bà Phạm Thi Hiền, hiện nay đối với các cặp vợ chồng đang ở độ tuổi sinh đẻ ở các xã, bản vùng cao, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông rất ít cặp đôi sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Một mặt do hạn chế về nhận thức, mặt khác nhiều gia đình dân tộc Mông vẫn còn nặng nề về việc sinh con trai, nên những cặp đôi sinh con một bề tỷ lệ sinh con thứ 3, thứ 4 là rất cao. Còn đối với những cặp đôi là người dân tộc Thái, Khơ Mú, Lào… lại rất ít sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại bằng viên uống tránh thai hay bao cao su mà chủ yếu là dùng biện pháp dụng cụ tử cung (vòng tránh thai). Đây là biện pháp tránh thai khá phổ biến và tiện dụng, đặc biệt mang lại hiệu quả tránh thai cao (đạt tới 99%). Tuy nhiên, các bác sỹ chuyên khoa cũng cảnh báo nhược điểm lớn nhất của vòng tránh thai là nguy cơ viêm vùng chậu, hiếm muộn, thai ngoài tử cung và tụt vòng. Nếu đặt vòng tránh thai quá lâu sẽ gây ra nhiều nguy hiểm với phụ nữ.

      Trước thực tế trên, với phương châm để các đối tượng trong độ tuổi sinh sản của những xã, bản vùng cao được biết đến và sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; hàng năm Chi cục DS – KHHGĐ đã tổ chức các đợt tuyên truyền, lồng ghép các dịch vụ tránh thai hiện đại ở 10 huyện, thị xã, thành phố và một số xã, bản vùng cao và được chia làm 2 đợt; đợt 1 bắt đầu từ cuối tháng 2 đến hết 30/4; đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11. Bên cạnh đó, Chi cục DS – KHHGĐ còn phối hợp với Đội Bảo vệ Sức khỏe bà mẹ trẻ em – Kế hoạch hóa gia đình của Sở Y tế cung ứng dịch vụ tránh thai hiện đại đến với người dân.

      Ngoài ra, Chi cục DS – KHHGĐ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát bằng việc mỗi tháng về tuyến huyện 2 lần, mỗi huyện đến 2 xã nhằm tư vấn công tác dân số, hướng dẫn đội ngũ cộng tác viên dân số xã, bản; cách thu thập thông tin, số liệu, quản lý các đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; hướng dẫn cán bộ chuyên trách thực hiện truyền thông nhóm; tư vấn bình đẳng việc lựa chọn các biện pháp tránh thai hiện đại.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm
    • Những Giải Pháp Quyết Liệt Để Giảm Tai Nạn Giao Thông
    • Làm Gì Giúp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
    • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Tỉnh Quảng Nam, Hay
    • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
    • Đồ Án Đánh Giá Hiện Trạng Môi Trường Rừng Ngập Mặn Cần Giờ Và Đề Xuất Biện Pháp Quản Lý

      --- Bài mới hơn ---

    • Một Số Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Mot So Bien Phap Bao Ve Mt Ppt
    • Xác Nhận Việc Thực Hiện Các Công Trình, Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường (Bvmt) Phục Vụ Giai Đoạn Vận Hành Của Dự Án
    • Quảng Ngãi: Tăng Cường Các Biện Pháp Quản Lý Bảo Vệ Rừng
    • Tăng Cường Các Biện Pháp Quản Lý Và Bảo Vệ Rừng:tăng Cường Các Biện Pháp Quản Lý Và Bảo Vệ Rừng
    • Thái Nguyên: Tăng Cường Các Biện Pháp Quản Lý Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
    • dạng địa hình thấp thường xuyên ngập nước, thành phần chủ yếu là cát, ở nơi cửa sông có tích tụ hạt mịn bùn, sét. Hình 1.3 Hình bãi biển Cần Giờ 1.10.2 Địa mạo Nền đất huyện Cần Giờ có dạng nằm thoải, nghiêng nhẹ thuộc địa hình tích tụ. Trên đó có thể phân biệt được các đơn vị như sau: Các thành tạo giồng Giồng là tên gọi của nhân dân địa phương Nam Bộ dùng để chỉ các dải đất kéo dài có địa hình nổi cao hơn địa hình xung quanh. Giồng là các dải hoặc đồi cát do sóng biển bồi đắp dọc bờ biển qua từng giai đoạn lịch sử phát triển. Các giồng phân bố ở Lý Nhơn, Long Hòa và Cần Thạnh có dạng hơi cong, kéo dài với mặt lồi hướng ra biển. Trong đó giồng Long Hòa và Cần Thạnh kéo dài hơn 11km từ mũi Gành Rái đến mũi Đồng Tranh, bề rộng giồng thay đổi từ 0,5 – 1,5km. Với đặc điểm hình thái trên, các bề mặt giồng thường là nơi cư dân sinh sống và canh tác nông nghiệp. Hình 1.4: Các giồng cát ở xã Long Hoà Bãi bồi Phân bố ở độ cao tuyệt đối 0 – 1m. Bãi bồi được cấu tạo bởi trầm tích bở rời hiện đại gồm sét, cát, bột bề dày dao động 2 – 5m. Bề mặt bãi bồi bằng phẳng, hẹp (vài mét) kéo dài theo hướng sông. Càng về phía biển (Nhà Bè ra Cần Giờ), bề mặt bãi bồi càng được mở rộng (từ 500 – 1.000m đến hàng chục km) bị ngập nước khi thủy triều lên. Bề mặt bãi bồi bị chia cắt bởi mạng kênh rạch hiện đại và các lạch triều có dạng cành cây, dạng song song. Bảng 1.3 Diện tích đất bãi bồi ven sông, ven biển STT Xã, thị trấn Đất bãi bồi ven biển Đất bãi bồi ven sông Tổng diện tích (ha) Trong đó Tổng diện tích (ha) Trong đó DT thuê (ha) Hộ, tổ SX DT thuê (ha) Hộ, tổ SX 01 Thị trấn Cần Thạnh 2.500 605,6 57 – – – 02 Xã Long Hòa 1.500 935 41 150 27 9 03 Xã An Thới Đông – – – 50 33,17 30 04 Xã Lý Nhơn 500 277 11 70 35,56 12 05 Xã Thạnh An 500 105 13 250 190 35 Tổng cộng 5.000 1922,6 122 520 285,73 86 Các bãi triều Phân bố rộng rãi ở vùng cửa sông lớn đổ ra biển (từ cửa sông Soài Rạp đến Cù Lao Con Ó) với độ cao 0 – 1m. Bãi bồi được cấu tạo bởi trầm tích bở rời hiện đại gồm cát, bột, sét dày 2 – 5m. Bề mặt bãi bồi bằng phẳng, hẹp (0,5 – 5km) nghiêng thoải về phía biển. Đây là bề mặt trẻ nhất trong khu vực nghiên cứu, bề mặt được lộ ra khi triều rút. Do nằm ở cửa sông và ven bờ biển nên hình dạng của bãi bồi phụ thuộc vào hướng chảy và tốc độ của dòng chảy của sông và biển, hình dạng bãi bồi phụ thuộc vào hình thái của đường bờ cổ hơn nó. Ở đây có hai dạng chính: + Dạng hình tam giác có đỉnh nhô ra biển theo chiều nước của sông, đáy tam giác phụ thuộc vào đường bờ cổ hơn, có thể uốn cong ôm lấy đường bờ (như bãi triều ở vịnh Đồng Tranh). + Dạng kéo dài theo đường bờ từ mũi Đồng Tranh đến mũi Cần Giờ hoặc dải ôm lấy cù lao Phú Lợi. Bề mặt bãi bồi bị chia cắt bởi các dòng chảy từ phần đất liền ra tạo nên vách đứng. Trên bề mặt bãi bồi phân bố rải rác các bãi san hô, bãi sò với diện tích không rộng (như mũi Gành Rái, cửa sông Hà Thanh…). Bề mặt bãi triều chịu tác động manh của thủy triều và sóng vỗ bờ của biển. Đầm lầy ven biển Phân bố ở Cần Giờ có địa hình cao 0 – 1m (trung bình là 0,6m). Cấu tạo của đầm lầy là các trầm tích biển của đầm lầy biển hay hỗn hợp sông biển gồm: bột, sét, chứa tàn tích thực vật phân hủy yếu, màu xám đen, đen, bề dày trầm tích 2 – 5m. Đầm lầy có bề mặt phằng phẳng, phần lớn bị ngập nước thường xuyên, chỉ lộ một phần khi triều rút. Bề mặt đầm lầy bị chia cắt mạnh bởi mạng sông rạch hiện đại, phát triển có dạng cành cây hoặc ô mạng chằng chịt. Mức độ chia cắt ngang lớn (4 – 13 km/km2). Trắc diện ngang của rạch dạng chữ U, V còn sông lớn có dạng hình máng. Do tác động của thủy triều tạo vách dốc đứng cao 0,1 – 1m. Trên bề mặt đầm lầy, thảm thực vật nước mặn rất phát triển như: đước, mắm, ô rô, chà là, … cũng như bãi bồi cao ở đây các bề mặt này đang được con người khai phá, cải tạo và sử dụng tiềm năng của nó trong xây dựng kinh tế của huyện Cần Giờ. Dạng bờ biển Từ mũi Đồng Tranh đến mũi Cần Giờ kéo dài 12km. Trên bờ biển hiện nay có chỗ được tích tụ, chỗ bị mài mòn mà nhân tố tác động chủ yếu là quá trình sóng với tác động tương hỗ của thủy triều cộng với sự cung cấp vật liệu từ các sông đổ ra. + Kiểu bờ mài mòn: là kiểu phá hủy của sóng biển tạo nên các vách dốc dựng cao (0,5 – 1m). Các vách này kéo dày hàng chục km dọc theo đường bờ. Kiểu này phân bố ở mũi Cần Giờ Long Hòa. + Kiểu bờ tích tụ: là kết quả tích tụ các vật liệu bở rời do các sông tải ra. Các phần tích tụ có thể là các đồi cát bột chạy dọc đường bờ, thường được gọi là giồng cát bãi ngầm chạy dọc đường bờ hay bám vào các dải đất nhô ra biển như mũi nhô Lý Nhơn và mũi Cần Giơ.ø Dạng địa hình do sinh vật Bao gồm các dải than bùn và bãi tích tụ vỏ sò phân bố với điện tích hẹp. Các bãi sò phân bố dọc bờ vùng Cần Giờ rộng 10 – 20m, kéo dài hàng trăm mét. Các bãi sò này có nguồn gốc biển, tuổi, được thành tạo do sóng biển đưa các mảnh sò tích tụ lại ven bờ. 1.11 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 1.11.1 DÂN SỐ Bảng 1.4 Dân số Huyện Cần Giờ năm 2004-2005 Stt Nội dung ĐV Toàn Huyện Bình Khánh A.Thới Đông T.Thôn Hiệp Lý Nhơn Long Hòa Cần Thạnh Thạnh An 1 Dân số 31-12-2004 Ng 65.753 17.079 12.493 5.580 5.501 9.927 10.568 4.605 31-12-2005 Ng 66.866 17.384 12.669 5.682 5.587 10.033 10.889 4.622 2 Giới tính nữ Ng % 33.263 49,75 8.724 50,18 6.311 49,81 2.782 48,96 2.781 49,78 5.040 50,23 5.462 50,16 2.163 46,84 chúng tôi TẾ XÃ HỘI Về kinh tế * Tổng giá trị sản xuất toàn huyện (GCĐ.06) đạt trên 4.150 tỷ đồng, tăng 29% so năm 2007, đạt 85% kế hoạch; trong đó: – Thủy sản tăng 4%, đạt 90% kế hoạch – Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng 21%, vượt 17% kế hoạch. – Nông lâm nghiệp giảm 47%, đạt 47% kế hoạch – Giao thông bưu điện tăng 18%, đạt xấp xỉ kế hoạch – Đầu tư xây dựng tăng 87%, đạt 79% kế hoạch – Thương nghiệp dịch vụ giảm 8%, đạt 86% kế hoạch. Về văn hóa xã hội – Giải quyết việc làm cho 4.612 lượt lao động, đạt 102% kế hoạch – Huy động lao động công ích 44.696 ngày công, đạt 89% kế hoạch – Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống còn 10,1% – Học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10, đạt 94,23% – Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng mở rộng, đạt 99,52% 1.11.3 KINH TẾ Bảng 1.5 Kinh tế Huyện Cần Giờ trong năm 2006 Thành phần Kinh tế Sản lượng(Tấn) Giá trị ( tỷ đồng) Thuỷ sản – Đánh bắt xa bờ 18.500 208 – Nuôi nhuyễnthể 2.368 37 – Nuôi tôm 6.670 470 Tổng cộng 715 Nông ngiệp – Lúa 1.280 7.5 – Cây ăn trái 350 3 – Chăn nuôi 98 4.5 Tổng cộng 15 Diêm nghiệp 86.860 39 Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp 205 Thương mại-dịch vụ 2200 Du lịch 60 Giao thông – Bưu điện 207 Tổng cộng 4171 CHƯƠNG 2 RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ KHÁI NIỆM 2.1.1 Rừng ngập mặn RNM là rừng của các lồi cây nhiệt đới và cây bụi cĩ rễ mọc từ các trầm tích nước mặn nằm giữa khu vực giữa bờ biển và biển. Hoặc cĩ thể định nghĩa: RNM là kiểu rừng phát triển trên vùng đất lầy, ngập nước mặn vùng cửa sơng, ven biển, dọc theo các sơng ngịi, kênh rạch nước lợ do thủy triều lên xuống hằng ngày.Theo gốc độ sinh thái mơi trương thì rừng ngập mặn ( mangrove forest) là một trong những hệ sinh thái đất ướt đặc biệt của vùng nhiệt đới nĩi chung. Đất ướt được hiểu là vùng đầm lầy nơi cư chú của các lồi chim nước và thực vật ngập hoặc bán ngập với sự phong phú đa dạng của nĩ. Ở hệ sinh thái RNM ngồi những đặc trưng trên nĩ cịn là nơi phân bố tự nhiên của một hệ thực vật rừng với các lồi cây phổ biến như đước (rhizophora), vẹt (bruguiera), mắm (avicennia).Trong hệ thực vật này các lồi thực vật, các lồi động vật, chim thú hoang dã đã sinh sống và phát triển Khu dự trữ sinh quyển Khu dự trữ sinh quyển là các hệ sinh thái trên đất liền và các vùng ven biển được Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO cơng nhận nhằm thúc đẩy và xây dựng mối quan hệ cân bằng giữa con người và thiên nhiên. Bất kỳ một quốc gia nào cũng cĩ quyền chọn lựa các địa điểm trên lãnh thổ của mình để đề nghị UNESCO cơng nhận là khu dự trữ sinh quyển, nếu các địa điểm này thỏa mãn các tiêu chuẩn do UNESCO đặt ra. Mỗi khu dự trữ sinh quyển phải đảm bảo thực hiện đầy đủ 3 chức năng sau: Chức năng bảo tồn: Đĩng gĩp vào việc bảo tồn đa dạng cảnh quan, hệ sinh thái, lồi và di sản. Chức năng phát triển: Thúc đẩy phát triển kinh tế mà vẫn bảo vệ được mơi trường và các giá trị văn hĩa. Chức năng trợ giúp: Là nơi thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo về bảo tồn và phát triển bền vững trên phạm vi địa phương, quốc gia, khu vực và tồn cầu Về cơ cấu, khu dự trữ sinh quyển được chia làm 3 vùng cĩ mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đĩ là vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Vùng lõi: Vùng này được xác định bảo tồn lâu dài những giá trị đa dạng lồi, đa dạng hệ sinh thái và cảnh quan. Vùng lõi của các khu dự trữ sinh quyển trên khắp thế giới ở các hệ sinh thái khác nhau, như vậy trên tồn cầu chúng ta cĩ thể hình dung một bức tranh tồn cảnh về đại diện của các hệ sinh thái. Thơng thường, trong vùng này sẽ khơng cĩ hoạt động của con người, trừ các hoạt động nghiên cứu khoa học theo dõi các quá trình tự nhiên. Trong những trường hợp nhất định, người dân địa phương cĩ thể duy trì một số hoạt động rất hạn chế về khai thác cĩ tính truyền thống, đảm bảo bền vững. Vùng đệm: Vùng này được xác định xung quanh vùng lõi. Các hoạt động kinh tế ở đây được kiểm sốt giống như vùng lõi, nhưng các hoạt động sản xuất lâm, ngư nghiệp vẫn được duy trì đồng thời với việc bảo tồn các quá trình tự nhiên và đa dạng sinh vật. Các thí nghiệm khoa học cĩ mục đích bảo tồn các hệ sinh thái đã mất cũng được thực hiện trong vùng này. Vùng đệm cũng là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục, đào tạo, du lịch và giải trí. Vùng chuyển tiếp: Vùng này bao quanh tồn bộ khu bảo vệ. Các hoạt động sản xuất nơng nghiệp, khu dân cư và các hoạt động khác vẫn được duy trì. Các cơ quan bảo tồn, cộng đồng người dân, các nhà khoa học, các nhĩm văn hĩa, các cá nhân được điều phối trên cơ sở quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ mơi trường. PHÂN BỐ RỪNG NGẬP MẶN Ở VIỆT NAM RNM tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sơng Cửu Long, bán đảo Cà Mau và hai tỉnh phía Bắc là Nam Định và Thái Bình. Các tỉnh ĐBSCL diện tích RNM chưa đến 100.000 ha tập trung ở các tỉnh Cà Mau 62.554ha, Bạc Liêu 4.142 ha, Sĩc Trăng 2.943 ha, Trà Vinh 8.582 ha, Bến Tre 7.153 ha, Kiên Giang 322 ha, Long An 400 ha… Theo số liệu Bộ Nơng Nghiệp và Phát Triển Nơng Thơn cho thấy, năm 1943 diện tích RNM Việt Nam trên 400.000 ha, đến năm 1996 giảm cịn 290.000 ha và 279.000 vào năm 2006. RNM nguyên sinh tự nhiên hiện nay hầu như khơng cịn. Đa số RNM hiện nay là rừng trồng (62%) cịn lại là rừng thứ sinh nghèo hoặc rừng mới tái sinh trên bãi bồi. Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố. Theo Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bố RNM Việt Nam thành 4 khu vực với 12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh thái cho từng tiểu khu: – Khu vực I: ven biển Đơng Bắc. Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu: Tiểu khu 1: Từ Mĩng Cái đến Cửa Ơng, bờ biển dài khoảng 55 km. TK này gồm lưu vực cửa sơng Kalong, lưu vực vịnh Tiên Yên – Hà Cối và vùng ven bờ cửa sơng Tiên Yên – Ba Chẽ. Tiểu khu 2: từ Cửa Ơng đến Cửa Lục, bờ biển dài khoảng 40km. Tiểu khu 3: Từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn, bờ biển dài khoảng 55 km. – Khu vực II: ven biển đồng bằng Bắc Bộ. Khu vực này được chia làm 2 Tiểu khu Tiểu khu 1: từ mũi Đồ Sơn đến cửa sơng Văn Úc. Tiểu khu 2: từ cửa sơng Văn Úc đến cửa Lạch Trường thuộc khu vực bồi tụ của hệ thống sơng Hồng. – Khu vực III ven biển Trung Bộ từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu. Được chia làm 3 tiểu khu. Tiểu khu 1: từ Lạch Trường đến mũi Rịn. Tiểu khu 2: Từ Mũi Rịn đến mũi đèo Hải Vân Tiểu khu 3: từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu – Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ. Khu vực này được chia làm 4 Tiểu khu Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tàu đến cửa sơng Sồi Rạp (ven biển Đơng Nam Bộ). Tiểu khu 2: từ cửa sơng Sồi Rạp đến cửa sơng Mỹ Thanh (ven biển ĐBSCL). Tiểu khu 3: từ cửa sơng Mỹ Thanh đến cửa sơng Bảy Háp (ven Biển Tây Nam bán đảo Cà Mau). Tiểu khu 4: từ cửa sơng Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi, Hà Tiên (ven biển phía tây bán đảo Cà Mau) Hình 2.1 Phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam 2.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN RNM CẦN GIỜ Gồm 2 giai đọan: trước năm 1975 và sau năm 1975 đến nay. Có thể khẳng định rằng, trên Thế giới ít có nơi nào được che chắn bởi hàng chục ngàn hecta (ha) rừng ngập mặn như đô thị thành phố Hồ Chí Minh, đó là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cùng với bao công sức của con người bảo tồn và phục hồi phát triển. Ngày nay, mọi người đều biết đến vai trò lá phổi xanh của RNM Cần Giờ đối với thành phố hơn 6 triệu dân này và là KDTSQ RNM của Thế Giới. Nhận thức được điều này ta mới thấy hết quyết tâm của lãnh đạo thành phố và công sức của những người trồng rừng, bảo vệ rừng trong suốt 25 năm qua. 2.3.1. Giai đọan trước năm 1975 Trước 30/04/1975, RNM được gọi là Rừng Sác, đây là một bộ phận của Rừng Sác miền Đông Nam Bộ, với diện tích 66.611ha gồm 18 khu rừng cấm (59.616ha) và 3 khu rừng bảo vệ (6.995ha). RNM Cần Giờ che phủ một vùng 40.000ha, tán rừng dày với cây cao trên 25m, đường kính từ 25 – 40cm. Đước Đôi (Rhizophora apiculata) là loài chiếm ưu thế, Bần Đắng (Sonneratia alba), Vẹt (Bruguiera spp.), Cóc (Lumnitzera spp.), Chà là (Phoenix paludosa),… Cũng như nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, trong chiến tranh, rừng ngập mặn bị bom đạn và chất khai hoang rải khắp các cánh rừng, các đợt rải thuốc khai quang bắt đầu triển khai ở dọc trục sông Lòng Tàu sâu vào rừng mỗi bên 200m và ngày càng nhiều làm Rừng Sác hầu như bị phá hủy hòan tòan, độ che phủ chỉ còn dưới 40%. Cửa ngõ ra biển Đông của Thành phố trở thành một vùng đất chết, nghèo kiệt và hoang tàn. Từ năm 1965 đến những năm 1970, các đợt rải thuốc khai quang được tiến hành nhiều lần bằng máy bay làm cho hệ sinh thái rừng gần như bị phá vỡ hòan tòan. Năm 1978, Hệ sinh thái RNM Cần Giờ bị hủy họai hòan tòan và hầu như không còn nữa, các loài động vật rừng, tôm cá, chim, … chết hết, đời sống người dân địa phương muôn vàn khổ cực. Chỉ cách trung tâm thành phố có vài chục cây số mà đời sống người dân cách biệt, trong khi cả vùng đất là một vùng phù sa bồi tụ thuộc các cửa sông lớn. Đói nghèo, đời sống khổ cực, bệnh tật càng làm cho RNM Cần Giờ càng bị tàn phá bởi mưu sinh. 2.3.2. Giai đọan sau năm 1975 Sau 30/04/1975, RNM Cần Giờ thuộc huyện Duyên Hải tỉnh Đồng Nai, đến năm 1978 giao lại cho Thành phố với diện tích toàn huyện là 71.361ha (trong đó diện tích rừng ngập mặn và đất lâm nghiệp khoảng 34.468 ha). Khi RNM được giao lại cho Thành phố, diện tích rừng chỉ còn 4.500ha là Chà là nước (Phoenix paludosa), có hơn 10.000 ha đất trống bùn khô nứt nẻ và 5.588 ha đất lâm nghiệp có khả năng canh tác, số diện tích còn lại là thảm thực vật xơ xác gồm các loại cây lùm bụi với độ che phủ dưới 40%. Ngày 07/08/1978, UBND Thành phố đã ký Quyết định 165/QĐ-UB thành lập Lâm trường Duyên Hải (trước thuộc Ty lâm nghiệp TPHCM), sau đổi tên là Ban Quản lý rừng Phòng hộ theo Quyết định số 173/CT do Bộ Trưởng phê duyệt và là đơn vị có nhiệm vụ quản lý trực tiếp rừng. Đảng bộ, chính quyền thành phố và địa phương đã đưa ra một chương trình trồng lại rừng, từ việc phát quang lại mặt bằng, chọn giống, trồng trái giống, bao nhiêu công sức mồ hôi của nhiều nhà khoa học bỏ ra để có hơn 30.000 ha rừng xanh tốt như ngày nay. 2.3.3 Công tác trồng lại rừng Lâm trường Duyên Hải chọn cây Đước đôi (Rhizophora apiculata) để trồng lại rừng vì Đước đôi có tốc độ tăng trưởng tự nhiên nhanh nên có khả năng trồng phục hồi rừng rất nhanh và đây còn là cây có giá trị kinh tế cao nhất trong RNM. Trái giống được thu mua và vận chuyển từ tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau) vì nguồn giống tại chỗ không đủ cung ứng trong khi hầu hết đất trống bao gồm các bãi bùn đều phải được ưu tiên phủ xanh bằng trái giống hoặc cây con. Từ năm 1984, công tác trồng lại rừng đạt hiệu quả cao, rất nhiều cây được trồng để phủ xanh vùng đất: Gõ Biển (Intsia bijuga), Dà Vôi (Ceriops tagal) , Xuổi (Xylocarpus Granatum),… Trồng rừng đã khó, công tác chăm sóc rừng giúp rừng phát triển xanh tốt càng khó khăn hơn. Tỉa thưa là kỹ thuật lâm sinh cụ thể, quan trọng nhất nhằm điều khiển khoảng cách thích hợp, tạo không gian đầy đủ, kích thích tăng trưởng, phát triển và nâng cao chất lượng rừng. Sản phẩm từ việc tỉa thưa cung cấp một lượng gỗ phục vụ chất đốt và cây trong xây dựng trong Thành phố. Năm 1990, Ban quản lý rừng phòng hộ giao đất rừng bình quân 100 ha/1hộ dân và hợp đồng khoán bảo vệ rừng trong thời gian 30 năm, khi định cư trong rừng, chính quyền cấp 2 triệu để trang trải xây dựng chốt, mua sắm vật dụng dùng. Ngược lại, các hộ dân phải bảo vệ, quản lý và sử dụng đất rừng được giao theo đúng chính sách và quy chế đưa ra nhằm bảo vệ rừng. Hình 2.2: Công tác trồng lại RNM Cần Giờ những năm sau 1975 Khi rừng được phục hồi thì đời sống người dân địa phương cũng dần dần ổn định, đây chính là sự thay đổi tác động lớn đến nền kinh tế huyện Cần Giờ. Rừng Cần Giờ được phân ra thành 24 tiểu khu, mỗi tiểu khu phân ra nhiều khu và lô được các hộ dân, kiểm lâm canh giữ nghiêm ngặt. Các nhà khoa học vẫn tiếp tục bỏ sức nghiên cứu để không ngừng góp phần cho RNM Cần Giờ ngày càng phát triển xanh tốt như hôm nay, cải thiện môi trường cho thành phố và các tỉnh lân cận. Nhiều nhà Khoa học thế giới nhận định rằng, đây là rừng mới được phục hồi đẹp nhất Đông Nam Á. Tháng 02/1998, dự án thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên RNM Cần Giờ (với quy mô 38.670 ha) được phê duyệt. Đến tháng 21/01/2000, RNM Cần Giờ được UNESCO công nhận là KDTSQ Thế giới và đây cũng là KDTSQ đầu tiên của Việt Nam, trong đó có gần 24.000 ha rừng trồng và 9.000 ha rừng tự nhiên được khoanh vùng bảo vệ. Các dự án kinh tế có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống RNM thuộc khu vực bảo tồn thiên nhiên đều không được phép triển khai. Nhìn chung, công tác khôi phục và trồng lại rừng đã có tác động tích cực là tạo nên môi trường sống tốt cho động vật, đặc biệt là khôi phục lại đàn khỉ khỏang 583 con tại Lâm viên (Tiểu khu 17) (còn gọi là Đảo Khỉ) để phục vụ du khách và là nơi tham quan học tập rất bổ ích. Ngoài ra còn khôi phục được đàn cá sấu nước lợ (Crocodylus porosus) là loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng của Việt Nam và của Thế giới. Hình 2.3: Một số hình ảnh về RNM Cần Giờ ngày nay 2.4 CHỨC NĂNG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ Cho đến nay, sau gần 25 năm khôi phục và phát triển, dưới sự nỗ lực to lớn của chính quyền và nhân dân TPHCM, RNM Cần Giờ được UNESCO công nhận là KDTSQ của Thế giới, gồm 02 chức năng chính: Bảo tồn: Đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng cảnh quan và môi trường sống động vật hoang dã (đặc biệt là các loài chim nước); bảo tồn Hệ sinh thái, loài và di truyền; bảo tồn thủy vực, bãi bồi dọc bờ sông, ven biển để tái sinh tự nhiên. Phát triển: Thúc đẩy phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững môi trường, văn hóa. 2.4.1 Phân vùng Để thuận tiện cho mục đích bảo tồn và sử dụng Tài nguyên thiên nhiên, KDTSQ RNM Cần Giờ được phân chia thành 3 khu vực với mức độ bảo vệ khác nhau và có quan hệ mật thiết với nhau, đó là: Vùng lõi Là vùng được bảo vệ nghiêm ngặt, nhằm bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng về loài. Vùng này không có hoạt động của con người trừ những hoạt động mang tính chất nghiên cứu và giám sát. Trong một số trường hợp, người dân địa phương có thể duy trì hoạt động khai thác truyền thống, các lọai tài nguyên giải trí bền vững nhưng quy mô hạn chế. Vùng lõi RNM Cần Giờ với diện tích 4.721 ha gồm các tiểu khu 1, 2 , 3, 4, 6, 9, 12, 13, và 16. Với các chức năng sau: Bảo tồn Hệ sinh thái RNM Cần Giờ, rừng tự nhiên và rừng trồng; Bảo tồn cảnh quan và môi trường sống các động vật hoang dã; Bảo tồn thủy vực, bãi bồi dọc bờ sông, ven biển để tái sinh tự nhiên; Nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái có giới hạn. Vùng đệm Là vùng bao quanh vùng lõi, hình thành chức năng là tấm đệm phòng chống các hoạt động gây hại đến mục đích bảo tồn. Trong vùng có các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, ngư nghiệp được duy trì nhưng vẫn bảo tồn các quá trình tự nhiên và đa dạng sinh học. Đây là vùng có những điểm lý tưởng cho các hoạt động giáo dục, giải trí và du lịch sinh thái. Vùng đệm RNM Cần Giờ với diện tích 37.339 ha gồm các tiểu khu 1, 2, 4a, 5, 7, 8, 9, 10, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24. Với các chức năng sau: Tạo cảnh quan thiên nhiên và giá trị nhân văn phục vụ du lịch sinh thái; Mô hình lâm ngư nghiệp kết hợp thân thiện với môi trường. Vùng chuyển tiếp Vùng bao quanh bên ngoài vùng đệm, duy trì các hoạt động nông nghiệp, khu dân cư và các hoạt động khác. Vùng này có vai trò quan trọng trong việc duy trì các hoạt động kinh tế xã hội cho sự phát triển địa phương. Vùng chuyển tiếp RNM Cần Giờ có diện tích 29.310 ha gồm các khu vực còn lại và thảm cỏ dọc theo ven bờ biển Cần Giờ. Với các chức năng: Đệm xã hội: Các hoạt động sản xuất trong vùng chuyển tiếp cung cấo các loại sản phẩm, dịch vụ chủ yếu cho cư dân địa phương. Việc sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên trong khu vực này không được mâu thuẩn với mục tiêu của KDTSQ RNM Cần Giờ. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên phải được hài hòa. Đệm mở rộng: Việc quản lý và phát triển của vùng chuyển tiếp nhằm mở rộng không gian có sẵn như môi trường cho động vật hoang dã sinh sống. Hình 2.4: Bản đồ phân vùng RNM Cần Giờ 2.5 HỆ THỐNG SINH THÁI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RNM CẦN GIỜ Hệ thống sinh thái là tập hợp động, thực vật và vi sinh vật cùng sống trong một không gian nhất định, tương tác với nhau và với các thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên. Đây cũng là nguồn tài nguyên động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng do KDTSQ RNM Cần Giờ cung cấp. 2.5.1 Hệ sinh thái thực vật – Tài nguyên rừng Sự phân bố các quần xã tự nhiên tuân theo quy luật nhất định và phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ ngập triều. Thảm thực vật RNM Cần Giờ tạo thành bởi hai hệ sinh thái chính: – Hệ sinh thái rừng hỗn giao lá rộng nhiệt đới ẩm gió mùa, trong đó còn tồn tại cả những kiểu tre nứa trong quá trình diễn thế tự nhiên, nhưng do bị tàn phá mạnh nên chiếm diện tích phân bố khá nhỏ. – Hệ sinh thái rừng ngập mặn, với các kiểu quần xã điển hình cho từng thể khảm của toàn bộ vùng đất ngập triều đã được phân chia khá tỉ mỉ theo mức độ triều và kết cấu nền đất. Các quần xã này khá phức tạp và phát triển tự nhiên với các loài cây bản đị

      --- Bài cũ hơn ---

    • 10 Cách Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình Phụ Nữ Phải Ghi Nhớ
    • Pháp: 5 Biện Pháp Mới Trong Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình
    • Chống Bạo Hành Gia Đình: Cần Sự Chung Tay Của Toàn Xã Hội
    • Indonesia Với Làn Sóng Bùng Nổ Dân Số Hậu Covid
    • Thỏa Thuận Thời Gian, Biện Pháp Tổ Chức Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Khi Thi Công Trong Phạm Vi Đất Dành Đường Bộ Đối Với Đường Tỉnh Đang Khai Thác
    • Web hay
    • Guest-posts
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50